Dù Kê – loại hình ngh
thuật độc đáo của người
Khmer Nam B
Những tích truyện từ ca kch dù kê, món ăn tinh thần của người Khmer Nam B
trong suốt mấy chục năm qua đã in sâu trong đời sống chân chất, mộc mạc, vun
đắp nên tình làng nghĩa m để khẳng định, giữ gìn những nét đặc sắc riêng có của
dân tộc mình.
Dù Kê – loi hình nghthuật độc đáo ca
người Khmer Nam Bộ. Ảnh: Internet
Người Khmer ở Nam bộ vốn có nền văn hóa nghệ thuật rất độc đáo, đa dạng đã
phát triển khá lâu đời, trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời
sống xã hội ca bà con dân tộc và luôn được bảo tồn, phát huy.
Sân khu ca kịch dù kê là một sản phẩm đượcng tạo ra từ những năm 1920.
Ngay từ khi ra đời, dù kê đã được công chúng khán giả dân tộc Khmer vùng Nam
bộ đón nhận rầm rộ, không những trong khu vực ngay đất nước chùa Tháp
cũng rất ngưỡng mộ.
Nghệ thuật dù kê ca người Khmer còn có n khác gi là “Lakhôn Bassắc”, nghĩa
là kịch hát của người Khmer ở vùng sông Bassắc (sông Hậu). Theo u truyền
trong dân gian thì người sinh ra dù kê là ông Lý Cn, một người Khmer ở xã An
Ninh (thuộc tỉnh Hậu Giang ngày nay). Lý Cọn từng đi Tây học làm chủ sòng bạc
rồi mở một đoàn hát Trà Vinh.
Loại hình sân khu ca kịch dù kê của đồng bào Khmer có cốt truyện được xây
dựng trên nền nhạc ca hát, đối thoại và các hình thái diễn xuất dân gian. Tương tự
như rôbăm, tuồng tích biểu diễn của dù kê cũng được rút ra từ các trường ca ca
Ấn Độ (Ramayana và Mahabharada), những truyền thuyết, huyền thoại dân tộc
như “Linhthôn”, Mapthiđongkeo”, “Sackinhni”... đồng thời còn sử dụng cả những
tuồng tích, điển tích của các dân tộc khác như “Thạch Sanh chém chằn”, Tấm
m (của ngưi Việt); “Phàn Lê Huê – Tiết Đinh San”, “Tam Tạng thỉnh kinh”,
Tr Vương mê Đắc Kỷ” (của người Hoa)...
Đề tài và nội dung kịch bản của sân khấu dù kê rất phong phú và mang tính giáo
dục cao. Các tích truyện diễn ra trên sân khấu dù kê, về cơ bản luôn đề cao đạo
của con người. Vở diễn nào cũng mang tinh thần hướng thiện, ca ngợi cái tốt, i
đẹp, lên án cái ác, cái xấu. Cốt truyện của các vở diễn thường được rút ra từ thần
thoi, cổ tích. Các vở din truyền thống bao giờ cũng kết thúc có hậu. Người không
biết tiếng Khmer khi theo dõi diễn biến của vở dù kê vẫn có thhiểu được cốt
truyện.
Lối din dù kê tnhiên và rất thật. Đêm diễn thường bắt đầu bằng một bài hát cúng
tổ. Kế đó là hát mời các vị thần, rồi tất cả diễn viên có vai trong đêm hát ra hát
chào khán giả, biu diễn một điệu múa rồi mi vào tuồng. Vở diễn đến già nửa thì
vai hề ra i mấy câu chọc cười rồi lột cái nón đang đội, đi xung chỗ khán giả
xin tiền”. Ai cho bao nhiêu cũng được, không cho cũng không sao.
Các nhạc cụ Khmer cổ truyền thường sử dụng trênn khấu dù kê là đàn khưm,
giàn nhạc pưnpết (ngũ âm) và nhiu nhạc cụ dân tộc khác. Trung bình, thi gian
biểu diễn một vở tuồng dùi khoảng 4- 5 giờ đồng hồ.
Loại hình nghệ thuật này thường được sử dụng trong các buổi lễ như Lễ dâng
bông, tết Cl Chnăm Thmây, các đoàn dùđều tới hát làm phước ở chùa, hay
tại địa điểm cử hành lnhư Lễ đua ghe ngo để phục vụ khán giả suốt đêm đó.
Những đêm din dù kê luôn thu hút đông khán giả, có cả người Hoa và người Kinh
cùng xem. Dù kê đã góp phần làm phong phú thêm cho nghthuật sân khấu Việt
Nam.
Với sự độc đáo và hấp dẫn của nó, loại hình nghệ thuật Dù Kê hiện nằm trong danh
sách 12 di sn văn hóa phi vật thể dự kiến lập hồ sơ trình Tổ chức Giáo dục, Khoa
học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) giai đoạn 2012-2016.