1243
GIÁO DỤC NGHỆ THUẬT CHO TRẺ EM MẦM NON THEO ĐỊNH
ỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO
DỤC MẦM NON MỚI
Vũ Thị Ngọc Minh, Nguyễn Thị Trang
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
TÓM TẮT
Giáo dục nghệ thuật cho trẻ em mầm non ớng tới việc nuôi dưỡng
trkhả năng cảm nhận khám phá các giá trị thẩm mỹ bằng tâm hồn nhạy cảm
của trẻ thơ, cung cấp cho trẻ cơ hội thể hiện cảm xúc và ý ởng, làm phong phú
trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo theo cách riêng tiềm ẩn trong mỗi đa trẻ.
Chương trình Giáo dục mầm non mới đang được triển khai xây dựng theo hướng
tiếp cận năng lực. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu luận trọng
tâm, phát triển thuyết về giáo dục theo định hướng tiếp cận năng lực một cách
phù hợp với trẻ mầm non để luận bàn một số vấn đề về giáo dục nghthuật cho
trmầm non theo định hướng tiếp cận năng lực trong định ớng của Chương
trình Giáo dục mầm non; chỉ ra 3 nhóm năng lực nghệ thuật (cảm thụ nghệ thuật,
hoạt động nghệ thuật, sáng tạo nghệ thut) dựa trên cấu trúc các thành tvề sự
phát triển năng lực nghệ thuật nói chung của con người với cách chủ ththm
mỹ, đồng thời đảm bảo tính liên thông với các năng lực nghệ thuật của học sinh
được xác định trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 cấp tiểu học. Bài
viết cung cấp thông tin hữu ích cho công tác triển khai giáo dục nghệ thuật cho
trem lứa tuổi mầm non theo quan điểm của Chương trình Giáo dục mầm non
mới.
Từ khóa: Chương trình Giáo dục mầm non mới; tiếp cận năng lực; giáo
dục nghệ thuật; tr em mầm non
1. Gii thiệu
Con người vừa là chủ thcủa quá trình thưởng thức nghệ thuật, đồng thời
sử dụng nghệ thuật như là phương tiện để th hiện tình cảm, sự hiểu biết và thái
độ của bản thân đối với thế giới xung quanh. Lứa tuổi mầm non giai đon
thuận lợi để phát triển năng lực nghệ thuật thời thơ ấu khoảng thời gian
đáng chú ý để phát triển khả năng sáng tạo (Nikkola et al, 2024).
Nghệ thuật thể khuyến khích các cá nhân xã hội thay đổi quan điểm
giúp trem nhìn thế giới theo những cách mới. Nghệ thuật đồng thời cũng
1244
cung cấp cho trẻ một thứ ngôn ngữ riêng, mang dấu ấn của nhân để mỗi đứa
trthhiện hiểu biết về thế giới. Mặc vậy, nghệ thuật sgợi lên nhiều cm
xúc khác nhau trong đó thể cảm giác khó chịu, nhưng sự khó chịu của tr
khi trải nghiệm nghệ thuật thể trthành chất xúc tác để phát triển sự đồng
cảm, lòng trắc ẩn hành động. Điều đó cần thiết trong quá trình giáo dục
hình thành nhân cách con người. Nghệ thuật góp phần cung cấp cho trẻ những
cách thể hiện cảm xúc sâu sắc nhìn thế giới theo những cách mới mẻ, sáng
tạo (Chapman & O’Gorman, 2022).
Chương trình GDMN của các quốc gia hiện nay coi nghệ thuật là một lĩnh
vực học tập thiết yếu cho trẻ nhỏ. Trong bối cảnh quốc tế đó, Chương trình
GDMN mới của Việt Nam đang được Bộ Giáo dục và đào tạo triển khai nghiên
cứu y dựng theo hướng tiếp cận năng lực (theo kế hoạch, Chương trình sẽ
được thí điểm từ năm hc 2025-2026 và ban hành vào năm học 2029-2030). Từ
quan điểm tiếp cận của Chương trình GDMN mới, phần tiếp theo sẽ bàn thảo sâu
hơn về giáo dục nghệ thuật theo định hướng tiếp cận năng lực nghệ thuật sẽ
đóng góp ý gì vào quá trình phát triển năng lực của trẻ theo mục tiêu của Chương
trình GDMN mi.
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu luận phương pháp chđạo được sử dụng.
Tác giả tổng quan tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, thu thập thông tin từ
các công bố khoa học trong và ngoài nước, các báo cáo nghiên cứu. Tài liệu sau
khi tìm kiếm sẽ được phân loại, chỉ giữ lại các công bố khoa học trên các Tp
chí chuyên ngành hoặc báo cáo nghiên cứu. Quá trình đọc, hồi cứu và thông tin
được tổng hợp, phân ch theo khung với các vấn đề mà bài viết đề cập, để làm
sáng vấn đề giáo dục nghệ thuật cho trẻ theo định hướng tiếp cận năng lực
trong chương trình GDMN mi.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Định ớng tiếp cận năng lực trong Chương trình Giáo dục mầm non
mới khiến các nhà giáo dục nghĩ về cách trẻ em học nhiều hơn nội dung
dạy cho trẻ
3.1.1. Trẻ cần gì để thích ứng với cuộc sống trong thế kỷ 21?
Thế kỷ 21 thế kỷ của sự đổi mới, phát triển, trí tưởng tượng sáng tạo
không giới hạn. Các ngành trong hội đang xu hướng tự động hóa với sự
ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ hơn của công nghệ số. Trong bối cảnh đó, giáo
dục như một phương tiện quan trọng giúp chúng ta chuẩn bị cho một tương lai
bền vững hơn (Holfelder, 2019), trong đó sự chuẩn bị cho người học các knăng
1245
cần thiết mà thế kỷ 21 đòi hỏi là vô cùng quan trọng. Một câu hỏi được đặt ra là:
GDMN cần chuẩn bị cho trẻ để chúng thích ứng tốt với cuộc sống thế kỷ
21? “Kỹ năng thế k21” đã trở thành một phần từ vựng trong giáo dục. Có nhiều
quan niệm khác nhau về knăng thế kỷ 21 đã được các tổ chức như Tổ chc
Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), Tổ chức Hợp tác
Phát triển Kinh tế (OECD, 2018), Tổ chc Đối tác Knăng Thế kỷ 21 (P21)
(Nikkola cs., 2024) đề xuất. Điểm chung trong tất cả đề xuất đều đặt việc học
tập cá nhân của mỗi ngưi học vào trung tâm của các kỹ năng của thế kỷ 21 với
các khả năng về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học; kỹ năng đa văn hóa,
kỹ năng hợp tác, duy phản biện giải quyết vấn đề, sáng tạo và đổi mới,
chuẩn bị cho người học bước vào thi đi k thuật số.
Kỹ năng thế k21 gồm ba lĩnh vực chính: Knăng học tập đổi mới
(giao tiếp, hợp tác, tư duy phê phán và sáng tạo), kỹ năng đọc viết kỹ thuật số và
kỹ năng sống nhân nghề nghiệp (González-Salamanca cs., J, 2020).
Khung học tập của OECD 2030 đề xuất vấn đvề dạy học theo tiếp cận năng lực
với 3 khía cạnh chính về kiến thức, kỹ năng, thái độ những giá trcần hình
thành người học trong bối cảnh giáo viên, cha mẹ, cộng đồng và những đối tác
khác cùng tham gia vào quá trình giáo dục, tạo nên bầu không khí dân chủ, cảm
giác hạnh phúc, thoải mái được tự tin phát triển của mỗi cá nhân ngưi hc.
Hình 1. Khung học tập của OECD 2030 (Berg và cs., 2021)
Kỹ năng thế kỷ 21 đòi hỏi các nhà trường tổ chức việc học thế kỷ 21
như thế nào? OECD trong các nghiên cứu về giáo dục đến 2030 đã xác định 5
thách thức chung đối với hệ thống trường học gây cản trở hoặc hạn chế việc
chuyển những năng lực của người học vào thực tiễn giáo dục, đó là: 1) Squá
1246
tải của chương trình giáo dục, 2) Độ trvề thời gian giữa cải cách của chương
trình với việc thực hiện chương trình giáo dục; 3) Chất lượng của chương trình;
4) Thiếu công bằng/bình đẳng trong giáo dục 5) S không phù hợp của
phương pháp giáo dục và đánh giá trong giáo dục (Berg và cs., 2021).
Đối với GDMN, với quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung m”, Giáo
dục không chỉ sự chuẩn bị cho cuộc sống, giáo dục chính cuộc sống”, lớp
học ở thế kỷ 21 phải được tổ chức để tạo nên môi trường hiệu quả trong đó:
- Trem trung tâm: Một lớp học thế k21 nơi trẻ đóng vai trò
tích cực, chủ động, giáo viên hỗ trtrduy phản biện, khám phá thêm
hiểu biết mi. Lợi ích ca trẻ luôn đưc đặt lên đầu, chú trọng vào nhu cầu, khả
năng và phong cách học của mỗi trẻ. Trẻ có thphát triển các kỹ năng cần thiết
cho cuộc sống, dựa trên điểm mạnh của bản thân giáo viên s“thang đỡ”,
dẫn dắt cho quá trình học tập đó. Trọng tâm của lớp học thế k21 tạo ra các
hội trẻ được trải nghiệm trong môi trường đa dạng phát triển kỹ năng
duy, kỹ năng hội, khả năng sử dụng công nghệ (một cách phù hợp với trẻ
bối cảnh nơi quá trình giáo dục diễn ra) và các kỹ năng khác cần thiết của thế kỷ
21. Quá trình học phải do chính trẻ thực hiện, trải nghiệm theo tốc độ học, cách
học ca trẻ, với sự hỗ trtích cc từ giáo viên.
- Giáo viên là người hỗ trcho việc học của trẻ: Giáo viên chính là chìa
khóa mang lại những thay đổi trong lớp học. Giáo viên liên tục suy ngẫm, điều
chỉnh phương pháp sư phm theo hướng tích cực, đặt trẻ vào trung tâm của mt
quá trình dựa trên thuyết về việc học tập của trẻ. Giáo viên cần tôn trọng, đặt
niềm tin và khả năng của trẻ. Tận dụng chơi các trải nghiệm gắn với cuộc
sống thực của trẻ để m bối cảnh diễn ra việc dạy học dựa trên quan điểm
xuyên suốt rằng: học tập, vui chơi phát triển Quyền của mỗi trẻ em. Giáo
viên cũng thừa nhận rằng, để phát triển đầy đhài hòa nhân cách của mình,
trẻ cần được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc,
yêu thương và cảm thông.
- Chú trọng dạy tr “cách” học và tận hưng những trải nghiệm trong
quá trình khám phá thế giới xung quanh: Thay cung cấp thật nhiều, coi việc
học như quá trình “rótcàng nhiều càng tốt, làm đầy bình kiến thức, thì việc
học trong thế kỷ 21 chuyển trọng tâm sang tổ chức quá trình hướng dẫn trẻ cách
tìm tòi, khám phá, duy để có thêm hiểu biết, kỹ năng thái độ; đồng thời vận
dụng những hiểu biết đgiải quyết các tình huống thực của cuộc sống xung
quanh trẻ.
1247
3.1.2. Chương trình Giáo dục mầm non theo tiếp cận năng lực - minh họa từ
Chương trình Giáo dục mầm non của một số quốc gia Chương trình Giáo dục
mầm non mới của Việt Nam
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau: (1) Chương trình GDMN theo tiếp cận
nội dung: Theo tiếp cận này, nội dung dạy trẻ được quan tâm (trả lời câu hỏi dạy
cho trẻ cái gì?). Thiết kế của chương trình thường bắt đầu từ mục tiêu - nội dung
giáo dục (có thể mức đchi tiết khác nhau, mức chi tiết nhất đến từng “bài”,
“hoạt độnghoc “nội dung” rất cụ th) - kết quả đầu ra của quá trình giáo dục.
(2) Chương trình GDMN theo tiếp cận giá trị/năng lực: Giáo dục dựa trên năng
lực một quan điểm tiếp cận dẫn đến phương pháp dạy học quan tâm đến quá
trình học, những người học biết thể làm; giúp người học chuyển trọng
tâm từ quá trình ch y kiến thức đã được xác định sang bình diện hình thành
phát triển năng lực thực tiễn, vận dụng sáng tạo những kiến thức kinh
nghiệm thu được trong các tình huống khác nhau (Chappell cs., 2020).
Chương trình giáo dục dựa trên năng lực nhấn mạnh những gì người học có thể
làm từ những kiến thức, knăng đã học (Hà, 2022); Các hoạt động dạy học được
thiết kế tạo hội cho người học áp dụng kiến thức, knăng vào những tình
huống trong cuộc sống (Açıkgöz và cs., 2021).
Chương trình GDMN của Singapore: Trọng tâm của chương trình hướng
vào phát triển năng lực cảm xúc xã hội cho trẻ mẫu giáo trong những năm đầu
đời. Chương trình nhấn mạnh rằng “GDMN nên chuẩn bị cho trẻ em học tập suốt
đời chứ không chỉ là chuẩn bị cho việc học tiểu học”. Khung chương trình nêu
rõ các nguyên tắc và hướng dẫn chung về phương pháp sư phạm cho trẻ. Các kỹ
năng hội cảm xúc được nhấn mạnh, gồm: 1/Nhận thức bản thân, 2/ m
chủ bản thân, 3/Nhận thức xã hội, 4/ Làm chủ các mối quan hệ, 5/ Ra quyết định
trách nhiệm. Các năng lực được cho là rất cần thiết cho mỗi công dân trong
thời đại thế giới toàn cầu gồm: Kiến thức công dân, nhận thức toàn cầu k
năng giao thoa văn hóa; duy phê phán và sáng tạo; Kỹ năng giao tiếp, hợp tác
thông tin. Chương trình gồm 6 lĩnh vực học tập: Thẩm biểu hiện sáng
tạo, Khám phá thế giới, Ngôn ngvà khả năng đọc viết, Phát triển kỹ năng vận
động, Số, Phát triển tình cảm và xã hội.
Chương trình GDMN của Phần Lan, tại Thành phHelsinki: Các giá trị
nền tảng được xác định trong Chương trình Quốc gia về GDMN và các giá trị
của Thành phố Helsinki (Helsinki, 2019). Trong tất cả các giá trị năng lực cần
hình thành người học, GDMN đây đặt trọng tâm o sự trung thực, ng
bằng, đi xbình đng và cởi mở.