
TÌM HIU S GIAO LƯU VN HÓA
QUA L HI DÂN GIAN MIN ÔNG
NAM B

1
VNH3.TB4.46
TÌM HIỂU SỰ GIAO LƯU VĂN HÓA QUA
LỄ HỘI DÂN GIAN Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
ThS. Nguyễn Thị Nguyệt
Bảo tàng Đồng Nai
Đặt vấn đề
Miền Đông Nam Bộ bao gồm các tỉnh thành như: Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai,
Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. Dân cư ở miền Đông Nam
Bộ ngoài người Việt chiếm đa số, còn có các dân tộc bản địa và nhập cư như: Chơro, Mạ,
Stiêng, Cơho, Hoa, Chăm, Khơmer, Tày, Nùng, Mường… Miền Đông Nam bộ có vị trí địa
lý thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp cũng như phát triển công nghiệp, kinh tế dịch
vụ và mở mang đô thị. Những địa phương dẫn đầu cả nước về phát triển công nghiệp đều
thuộc khu vực miền Đông như: Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương và thành phố
Hồ Chí Minh chứng tỏ tiềm năng kinh tế rất phát triển đặc biệt kinh tế công nghiệp trong
thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh đó, miền Đông Nam Bộ còn nổi
tiếng về tiềm năng phát triển du lịch như du lịch biển Vũng Tàu, du lịch về nguồn và thắng
cảnh núi Bà Đen ở Tây Ninh, du lịch trên sông Đồng Nai và du lịch vườn trái cây ở Lái
Thiêu (Bình Dương)... Một trong những đặc điểm văn hóa, đó là những lễ hội dân gian
truyền thống của các dân tộc ở khu vực miền Đông Nam Bộ nổi tiếng như: lễ hội Bà Đen ở
Tây Ninh, lễ hội Dinh Cô ở Bà Rịa - Vũng Tàu, lễ hội Chùa Bà Thiên Hậu ở Bình Dương, lễ
hội mừng lúa mới của dân tộc Chơro, Mạ, Stiêng, lễ hội giỗ Tổ nghề Đá ở miếu Tổ sư ở
Đồng Nai, lễ hội Ông Bổn ở Lò chén Bình Dương, lễ hội Quan Thánh Đế ở Đồng Nai, lễ kỳ
yên đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh ở Đồng Nai, lễ hội Thiên Hậu miếu ở Đồng Nai, lễ hội Cầu
ngư ở Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh… Những lễ hội này đều mang tính đặc thù của các
dân tộc Việt, Chơro, Mạ, Stiêng, Chăm, Hoa, Khơmer… Tuy nhiên, trong từng lễ hội diễn
ra ở các cơ sở tín ngưỡng đều có sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, sự tiếp nhận văn hóa
hình thành nên đối tượng thờ tự và hình thức lễ hội của dân tộc này có ảnh hưởng văn hóa
của dân tộc khác.
Phạm vi tìm hiểu của đề tài là những lễ hội tiêu biểu tổ chức ở các cơ sở tín ngưỡng
dân gian ở miền Đông Nam Bộ.
1. Khái niệm về “Giao lưu văn hóa”
Giao lưu văn hóa hay giao lưu tiếp biến văn hóa (acculturation) là quá trình các cộng
đồng người “gặp nhau”, tiếp xúc nhau trên cơ sở đó “tiếp nhận” những giá trị văn hóa. Sự
tiếp nhận này có vai trò như là một động lực làm cho một hay nhiều yếu tố truyền thống
trong văn hóa của họ luôn được điều chỉnh, biến đổi cách tân cho thích hợp.

2
Giao lưu văn hóa (exchange culture) là khái niệm nói về một hiện tượng phổ biến
mang tính quy luật thường xuyên chi phối quá trình vận động, phát triển trong mọi nền văn
hóa dân tộc trên thế giới. Giao lưu văn hóa là hệ quả của sự tiếp xúc và là điều kiện cho sự
hội nhập của các nền văn hóa khác nhau khi có dịp gặp nhau trong bối cảnh lịch sử nhất
định. Giao lưu văn hóa chính là quá trình của sự gặp gỡ các giá trị văn hóa của dân tộc khác
nhau. Trong những điều kiện lịch sử cụ thể, sự tiếp xúc văn hóa có thể trực tiếp hoặc gián
tiếp, lâu dài hoặc ngắn ngủi, tự nhiên hoặc cưỡng bức… là những nhân tố trong quá trình
giao lưu, tiếp xúc văn hóa để hình thành nên những đặc trưng văn hóa mới, phù hợp cho cả
hai nền văn hóa ấy.
2. Những lễ hội dân gian tiêu biểu ở miền Đông Nam Bộ
Lễ hội dân gian là hệ thống những lễ hội được tổ chức mang tính chất dân dã, phổ
biến trong cộng đồng xã hội nhằm phục vụ cho nhu cầu về tâm linh của con người cầu
mong cho cuộc sống được tốt lành, may mắn.
2.1. Lễ hội núi Bà Đen- Linh Sơn Thánh mẫu (Tây Ninh)
Núi Bà Đen cách thị xã Tây Ninh 11km, có diện tích rộng 24km2 gồm ba ngọn núi là:
núi Heo, núi Phụng và núi Bà tạo thành. Núi Bà Đen cao 986m là ngọn núi cao nhất Nam
Bộ. Nhìn từ xa, do luôn được bao phủ bởi những đám mây trắng trên đỉnh núi, Bà Đen trông
giống như được khoác một tấm lụa mỏng. Trên núi, có nhiều hang động, cây cỏ xanh tươi,
nước chảy theo khe róc rách... tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình giống như một bức
tranh thủy mặc.
Rải khắp từ chân núi lên đến đỉnh là những quần thể kiến trúc gồm điện, chùa, miếu,
tháp... hầu hết đều phản ánh những đặc trưng của văn hóa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian.
Núi Bà Ðen có điện thờ Linh Sơn Thánh Mẫu (Điện Bà), bên trong có bức tượng đồng Bà
Đen - Linh Sơn Thánh Mẫu. Bên cạnh các tượng Phật còn có hệ thống các tượng thờ tín
ngưỡng dân gian như: Quan công, Tứ vị Sơn thần, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Ông
Địa, Ông Tà, Tứ vị Thiên vương. Đặc biệt hệ thống thờ Mẫu - Nữ thần đông đảo như: Cửu
Thiên Huyền nữ, Diêu Trì Kim mẫu, Thiên Hậu Thánh mẫu, Địa Mẫu, bà Chúa Xứ và cả
cậu Tài, cậu Quý, Cô Hồng, cô Hạnh và tượng Quán Thế Âm... Nhưng trung tâm vẫn là
Linh Sơn Thánh Mẫu với nơi thờ chính tại điện Bà nằm ở vị trí lưng chừng núi (độ cao
khoảng 400m).
Nói đến núi Bà Đen, người ta nghĩ ngay đến Linh Sơn An Phước tự (chùa Hang),
Linh Sơn Tiên Thạch tự, Dốc Thượng, động Huyền Môn, động Thanh Long, động Ma Ha,
hang Gió, hang Ong Hổ... Nhiều huyền thoại, truyền thuyết kể về Bà Đen nhưng phổ biến
truyền tụng trong dân gian là truyện Lý Thị Thiên Hương. Câu chuyện kể về một đôi trai tài
gái sắc ở vùng Quang Hóa (nay là huyện Tràng Bảng) nguyện ước đính hôn. Chàng trai tên
là Lê Sĩ Triệt, người con gái tên là Lý Thị Thiên Hương. Giữa buổi loạn ly, chàng Triệt lên
đường tòng quân cứu nước, nàng Hương ở nhà thủ tiết chờ chàng. Trong một lần lên núi lễ
Phật, nàng bị bọn cướp hãm vây bức hiếp. Không để thanh danh hoen ố, nàng chống trả

3
quyết liệt và nhảy xuống vực sâu quyên sinh. Dân gian truyền rằng nàng Hương rất hiển
linh, đã báo mộng cho vị sư trụ trì trên núi đem thi hài nàng về mai táng. Sau này, những
quan binh đi đánh giặc hoặc dân tình chẳng may bị lạc trên núi thường được nàng báo mộng
chỉ đường ra khỏi rừng rậm, non cao. Vì vậy trong vùng lập đền thờ Bà trên núi. Từ đó núi
có tên gọi là núi Bà Đen.
Hàng năm, vào mùa xuân từ tháng giêng kéo dài đến tháng ba chính là mùa lễ hội núi
Bà Đen hay còn gọi là hội đền Linh Sơn Thánh Mẫu. Hội đền Linh Sơn Thánh Mẫu bắt đầu
từ 20 Tết trở đi và chính hội vào ngày 15 tháng giêng âm lịch, chính lễ Vía Bà là đêm 18 và
ngày 19 tháng giêng. Đặc trưng của hội là du xuân, lễ bái cầu mong một năm thịnh vượng.
Trước ngày chính lễ, vào lúc nửa đêm, người ta tiến hành lễ "Mộc Dục" (Tắm Bà).
Lễ tắm Bà với ba lần khăn lau (phải dùng toàn khăn mới), khăn phải được xông hương, tắm
Bà bằng nước thơm nấu bởi các loại hoa: sen, lài, sứ, quế... do các lễ sĩ dâng lên. Lễ sĩ là
những thiếu nữ được chia thành cặp trong các bộ lễ phục đẹp lộng lẫy, chân bước nhẹ, nhịp
nhàng "đăng đài" theo bộ "chữ Tâm" trong tiếng nhạc lễ qua các làn điệu Xuân, Đảo Nam
Bộ.
Mỗi dịp xuân về, lễ hội núi Bà Đen lại thu hút hàng triệu lượt du khách trên khắp mọi
miền đất nước.
Ngoài ra còn một lễ Vía Bà vào ngày mồng 6 tháng 5 âm lịch. 0 giờ đêm ngày 5
tháng 5 âm lịch, diễn ra lễ Tắm Bà tại Điện thờ có màn che bên ngoài. Một số phụ nữ lớn
tuổi làm các nghi thức như: thắp hương xin phép Bà, lau Bà bằng nước dừa nấu với hoa, lá
và nước hoa, thay trang phục mới cho Bà, lễ Bà. Tắm xong, nhang đèn được thắp lên và cửa
đền rộng mở đón khách thập phương đến viếng Bà. Lễ vật cúng Bà là hương, đăng, trà, quả,
rượu, bánh...
Buổi sáng sớm ngày 6/5 Ban tổ chức làm lễ Trình Thập Cúng với 10 món lễ vật gồm:
hương, đèn, hoa, trà, quế, rượu, bánh ít chay, cặp dây chuyền, xuyến, bông tai (nữ trang
bằng vàng mã). Các lễ vật do các vị sư nhà Phật và Ban tế lễ (mặc áo thụng xanh, thắt đai
đen, mang hài và đội mũ tế) thực hiện trong tiếng nhạc lễ, trống, chiêng vang lên rộn rã...
Buổi tối biểu diễn hát Bóng rỗi (múa Mâm vàng, Mâm bạc, Mâm đồ chơi...), hát
Chặp Địa Nàng.
Ngày 6/5 âm lịch nghi lễ theo Phật giáo, các hòa thượng tụng kinh sám hối, cúng
Ngọ, thí thực cô hồn... Trước đây còn tổ chức hát Bội vào các ngày 7 và 8 tháng 5 âm lịch.
Có thể nói, lễ Vía bà Đen gồm cả hai lễ lớn vào dịp Rằm tháng giêng và ngày 6/5 âm
lịch. Lễ hội kết hợp với leo núi, vãn cảnh chùa... tạo nên hoạt động văn hóa du lịch độc đáo
ở danh lam thắng cảnh này. Lễ hội núi Bà Đen với những lễ nghi và phần hội thể hiện sự
đan xen giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu của người dân Nam Bộ.
2.2. Lễ hội đình thần Thắng Tam (Bà Rịa - Vũng Tàu)

4
Đình thần Thắng Tam là một quần thể kiến trúc gồm có ba di tích: đình Thắng Tam,
miếu Bà Ngũ Hành, lăng ông Nam Hải. Theo truyền thuyết đình thần Thắng Tam thờ chung
cả ba người đã có công xây dựng nên ba làng Thắng ở Vũng Tàu, đó là: Phạm Văn Dinh, Lê
Văn Lộc và Ngô Văn Huyền.
Chuyện kể rằng: thuở ấy hải tặc Mã Lai và Tàu Ô thường hay đột nhập cửa sông Bến
Nghé đón đường cướp bóc tiền bạc, hàng hóa, bắt cóc người trên các thuyền buôn. Để bảo
vệ thương thuyền của người Việt, vua Gia Long liền phái ba đội quân đi trên ba chiếc
thuyền. Mỗi đội quân do một viên xuất đội thống lĩnh. Khi tới bán đảo Vũng Tàu, họ đổ
quân, lập trại và đặt tên cho doanh trại, đồn binh của mình là Phước Thắng. Ba đội quân
Phước Thắng vừa làm nhiệm vụ bảo vệ bờ biển, vừa khai hoang lập làng. Chỉ trong vòng
vài năm, phần lớn hải tặc Mã Lai và Tàu Ô bị diệt trừ. Số ít còn lại không dám sách nhiễu
thương thuyền của Đại Việt nữa. Năm 1822, Minh Mạng ban chiếu khen thưởng chức tước,
phẩm hàm cho các đội quân, giải ngũ và ban thưởng những phần đất mà họ có công khai
phá. Từ ba vị trí của ba đội quân, đã dần dần hình thành nên ba làng Thắng Nhất, Thắng Nhì
và Thắng Tam.
Sau khi ba đội ông Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền chết, triều đình
đã ban sắc phong cho ba ông là những vị thần thành hoàng làng Thắng này.
Ngoài những giá trị mang ý nghĩa lịch sử, văn hoá, đình thần Thắng Tam còn bảo tồn
những lễ hội dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Hàng năm đình thần Thắng Tam
tổ chức lễ hội trong 4 ngày từ 17 đến 20 tháng 2 âm lịch. Đây là lễ hội cầu an, là thời điểm
kết thúc và mở đầu cho một mùa thu hoạch tôm cá.
Phần lễ diễn ra rất cầu kỳ: cúng tế, lễ vật tế thần, dâng hương quỳ lạy, chiêng trống,
kèn nhạc... và có rất nhiều điều kiêng kỵ như heo dùng để tế lễ phải có bộ lông cùng màu,
người có tang không được tham gia vào việc nghi thức tế lễ. Ngoài ra, phần hội có nhiều trò
vui chơi giải trí như múa lân, hát bội...
Lễ hội đình thần Thắng Tam là một hoạt động văn hoá đặc sắc của ngư dân miền
biển Vũng Tàu. Lễ hội góp phần bảo tồn và làm phong phú cho sinh hoạt văn hóa tinh thần
ở miền Đông Nam bộ trong cuộc sống hiện đại hôm nay.
2.3. Lễ hội Nghinh Cô (Bà Rịa - Vũng Tàu)
Lễ hội Nghinh Cô nằm trong hệ thống lễ hội thờ Mẫu - nữ thần tiêu biểu của ngư dân
Bà Rịa - Vũng Tàu. Nhưng đây không đơn thuần chỉ thờ nữ thần mà là sự kết hợp của lễ hội
Cầu Ngư với tục thờ cúng Thần Biển (Bà Thủy Long, cá voi của người Chăm) và tín
ngưỡng thờ Mẫu - nữ thần của cư dân địa phương.
Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10 tháng hai âm lịch, hàng chục ngàn người ở khắp
các miền quê tề tựu về Dinh Cô (thị trấn Long Hải, Bà Rịa - Vũng Tàu) tham dự lễ hội. Đây
là một trong những lễ hội lớn nhất của ngư dân ven biển Nam Bộ.

