
Trường Đại học Lao động-Xã hội Giáo trình Định mức lao động
Trang 10
Chương I
ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC
ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
I. MỨC LAO ĐỘNG VÀ CÔNG TÁC ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG.
1. Khái niệm và phân loại mức lao động.
1.1. Khái niệm.
Con người luôn tìm biện pháp làm cho quá trình lao động, quá trình sản
xuất đạt hiệu quả cao hơn, qua đó làm tăng năng suất lao động. Để đạt được điều
đó, con người không ngừng áp dụng các thành tự khoa học - kỹ thuật mới vào
trong sản xuất, chuyển giao công nghệ và tổ chức lao động chặt chẽ, khoa học.
Do vậy, cần xác định số và chất lượng lao động cần thiết để hoàn thành một đơn
vị sản phẩm hay một khối lượng công việc. Việc xác định các chỉ tiêu này sẽ
giúp nhà quản lý xác định được số lượng lao động cần thiết cho từng khâu, từng
mắt xích công việc, qua đó thực hiện tốt việc phân công và hiệp tác lao động.
Mặt khác, dựa trên những chỉ tiêu này, nhà quản lý có thể sử dụng những đòn
bẩy kích thích vật chất và tinh thần nhằm nâng cao năng suất lao động, hạ giá
thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo C. Mác, số lượng lao động được đo bằng thời gian lao động và thời
gian lao động được đo bằng những phần của thời gian như: ngày, giờ, phút. Như
vậy, tự thân những thước đo thời gian (ngày, giờ, phút) không phản ánh số
lượng lao động và không là thước đo lao động. Thời gian chỉ trở thành thước đo
lao động khi nó thể hiện số lượng lao động sống tất yếu phải hao phí để sản xuất
ra sản phẩm. Thời gian lao động tất yếu để sản xuất ra sản phẩm là thời gian cần
thiết cho bất cứ lao động nào được tiến hành với một trình độ thành thạo trung
bình và một cường độ trung bình trong những điều kiện làm việc bình thường
trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội nhất định. Trong điều kiện sản xuất mang tính
xã hội hoá, số lượng lao động tất yếu được thể hiện dưới dạng mức lao động.
Mức lao động là lượng lao động hao phí được qui định để hoàn thành một
đơn vị sản phẩm (hoặc một khối lượng công việc) đúng tiêu chuẩn chất lượng,
trong những điều kiện tổ chức - kỹ thuật nhất định.
Như vậy, mức lao động được thể hiện dưới dạng lượng lao động hao phí.
Lượng lao động hao phí này có thể được đo bằng đơn vì thời gian trên một hoặc
một nhóm người trên một đơn vì sản phẩm (hoặc khối lượng công việc); hoặc số
lượng sản phẩm trên một đơn vì thời gian trên một hoặc một nhóm người; hoặc

Trường Đại học Lao động-Xã hội Giáo trình Định mức lao động
Trang 11
số người trên một đại lượng thời gian trên một hoặc một số nơi làm việc; hoặc
số người trên một hoặc một số nơi làm việc trên một đại lượng thời gian. Với
mỗi loại thước đo, ta có một loại mức lao động. Vấn đề này sẽ được làm rõ ở
mục 1.2. dưới đây.
Chỉ khi nào lượng lao động hao phí này được quy định bởi cấp có thẩm
quyền và có hiệu lực thực hiện, kèm theo những quy định về tiêu chuẩn chất
lượng sản phẩm (công việc) và điều kiện tổ chức - kỹ thuật, nó mới trở thành
mức lao động. Khi tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm (công việc) thay đổi, hoặc
điều kiện tổ chức - kỹ thuật thay đổi so với quy định, cần xây dựng lại mức.
Mức lao động khác với năng suất lao động ở chỗ mức lao động là lượng lao
động hao phí được quy định để thực hiện, còn năng suất lao động là lượng lao
động thực tế hao phí của người lao động. Năng suất lao động có thể cao hơn,
thấp hơn hoặc bằng mức lao động, tuỳ thuộc vào sự nỗ lực, cố gắng của người
lao động và khả năng đảm bảo việc làm cho người lao động của doanh nghiệp.
1.2. Phân loại mức lao động
Mức lao động được phân thành 4 loại: mức thời gian, mức sản lượng, mức
phục vụ và mức biên chế (mức định biên).
Mức thời gian (Mtg)
Mức thời gian là lượng thời gian hao phí cần thiết được qui định cho một
hay một nhóm người lao động có trình độ nghiệp vụ thích hợp để hoàn thành
một đơn vị sản phẩm (hoặc một khối lượng công việc) đúng tiêu chuẩn chất
lượng trong những điều kiện tổ chức - kỹ thuật nhất định.
Đơn vì đo mức thời gian là giày, phút, giờ trên đơn vị sản phẩm (hoặc một
khối lượng công việc) . Người ta cũng có thể đo mức thời gian bằng giày -
người, phút - người, giờ - người trên 1 đơn vị sản phẩm hoặc một khối lượng
công việc khi xác định mức thời gian cho tập thể lao động.
Mức sản lượng (MSL)
Mức sản lượng là số lượng đơn vị sản phẩm (hoặc khối lượng công việc)
qui định cho một hay một nhóm người lao động có trình độ nghiệp vụ thích hợp
phải hoàn thành trong một đơn vị thời gian đúng tiêu chuẩn chất lượng trong
những điều kiện tổ chức - kỹ thuật nhất định.
Đơn vị đo mức sản lượng là đơn vị sản phẩm (hoặc chi tiết sản phẩm) trên
đơn vị thời gian (phút, giờ, ca), người lao động làm được nhiều hơn số lượng
đơn vị sản phẩm qui định là hoàn thành vượt mức lao động.
Mức sản lượng thường được xác định trên cơ sở mức thời gian và dùng
công thức:
MSL =
T
Mtg

Trường Đại học Lao động-Xã hội Giáo trình Định mức lao động
Trang 12
Trong đó : T là đơn vị thời gian tính trong mức sản lượng (1 giờ hay 1 ca)
Mtg là mức thời gian.
Như vậy mức sản lượng và mức thời gian là hai đại lượng tyû lệ nghịch với
nhau.
Việc xây dựng mức thời gian và mức sản lượng chỉ có thể thực hiện được
nếu quy trình công nghệ sản xuất ổn định, lặp đi lặp lại và sản phẩm sản xuất ra
có tiêu chuẩn chất lượng được quy định.
Mức phục vụ (Mpv)
Mức phục vụ là số lượng nơi làm việc, đơn vị thiết bị, diện tích sản xuất…
trong doanh nghiệp qui định cho một hay một nhóm người lao động có trình độ
nghiệp vụ thích hợp phải phục vụ trong những điều kiện tổ chức - kỹ thuật nhất
định, công việc ổn định và lặp lại có chu kỳ.
Đơn vị đo mức phục vụ là số đơn vị đối tượng phục vụ trên một hay một
nhóm người lao động.
Mức phục vụ thường được xác định trên cơ sở mức thời gian phục vụ. Mức
thời gian phục vụ là đại lượng thời gian qui đinh để thực hiện một đơn vị phục
vụ trong những điều kiện tổ chức - kỹ thuật nhất định.
Mức phục vụ được xác định để giao cho những người lao động phục vụ sản
xuất mà kết quả không đo được bằng những đơn vị đo của mức sản lượng
(chiếc, cái..) hoặc nếu đo được bằng đơn vị đo của mức sản lượng song năng
suất lao động phụ thuộc vào chế độ vận hành của máy móc (máy chạy tự động là
chủ yếu, công nhân chỉ thực hiện một số thao tác bằng tay hoặc chỉ đứng quan
sát và theo dõi máy nhằm xử lý các sự cố).
Mức biên chế (Mbc)
Mức biên chế là số lượng người lao động có trình độ nghiệp vụ thích hợp
được qui định để thực hiện một khối lượng công việc cụ thể trong những điều
kiện tổ chức - kỹ thuật nhất định.
Đơn vị đo của mức biên chế là người trên công việc. Mức này được áp
dụng trong điều kiện công việc đòi hỏi hoạt động phối hợp của nhiều người mà
kết quả không tách riêng được cho từng người, không thể xác định được mức
thời gian, mức sản lượng, mức phục vụ. Những công việc như hành chính,
nghiên cứu thị trường, nghiên cứu khoa học, quản lý nhà nước … là những công
việc đòi hỏi phải xác định mức biên chế.
Các dạng biểu hiện của mức lao động nói trên đều thể hiện sự qui định về
tiêu hao thời gian lao động cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm hay hoàn

Trường Đại học Lao động-Xã hội Giáo trình Định mức lao động
Trang 13
thành một khối lượng công việc nào đó bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng. Các
dạng biểu hiện của mức lao động ấy luôn gắn liền với những điều kiện tổ chức
kỹ thuật nhất định cuaû sản xuất, phù hợp với điều kiện tâm sinh lý của người
lao động, bảo đảm trong quá trình lao động người lao động không những sử
dụng đầy đủ và có hiệu quả công suất của máy móc, thiết bị, mà còn áp dụng
được những phương pháp làm việc tiên tiến để không ngừng nâng cao năng suất
lao động.
2. Công tác định mức lao động.
Để có được mức lao động, cần xây dựng mức. Mức đã xây dựng chỉ đưa
vào thực hiện khi đã được xét duyệt và được cấp có thẩm quyền ký ban hành.
Khi mức đã được ban hành, cần tổ chức áp dụng mức, quản lý thực hiện mức,
sửa đổi mức không phù hợp với thực tiễn hoặc mức hết hạn và dự tính áp dụng
vào sản xuất những biện pháp tổ chức - kỹ thuật có năng suất cao. Quá trình đó
gọi là công tác định mức lao động.
Công tác định mức lao động khá phức tạp đòi hỏi người cán bộ định mức
phải có trình độ nghiệp vụ vững chắc. Mặt khác, công tác định mức lao động có
quan hệ trực tiếp đến quyền lợi của người lao động, đặc biệt người lao động trực
tiếp sản xuất sản phẩm, nên khi thực hiện công tác này đòi hỏi phải có đầy đủ
các bên tham gia, đặc biệt là đại diện công đoàn và phải làm tốt công tác tư
tưởng cho người lao động.
Ngoài ra, để giúp cho việc nghiên cứu xây dựng mức, có được mức lao
động trung bình tiên tiến phải có Hội đồng định mức lao động gồm các bộ phận,
phòng ban liên quan do giám đốc chủ trì để xem xét, bổ sung cho việc xây dựng
mức lao động (do cán bộ định mức thực hiện). Bằng cách đó, mức được xây
dựng mới có độ chính xác cao.
II. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG CỦA ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG
1. Đối tượng nghiên cứu của định mức lao động
Muốn xây dựng được mức lao động, cần xác định lượng lao động hao phí
để sản xuất ra sản phẩm, có nghĩa là cần nghiên cứu quá trình sử dụng thời gian
lao động của người lao động và các phương pháp để nghiên cứu, phân tích quá
trình sử dụng thời gian lao động đó. Việc nghiên cứu đó có mục đích tiết kiệm
lượng lao động sống hao phí để sản xuất ra sản phẩm, loại bỏ các loại thời gian
lãng phí trông thấy và không trông thấy. Do vậy, đối tượng nghiên cứu của định
mức lao động là quá trình sử dụng thời gian lao động của người lao động (trong
quá trình lao động và tổ chức nơi làm việc), các phương pháp xây dựng các mức
lao động (mức thời gian, mức sản lượng, mức phục vụ, mức biên chế) và các
biện pháp sử dụng, quản lý lao động có hiệu quả.

Trường Đại học Lao động-Xã hội Giáo trình Định mức lao động
Trang 14
Định mức lao động có liên quan đến nhiều môn khoa học: tự nhiên, kinh tế,
kỹ thuật, xã hội. Khi nghiên cứu định mức lao động phải nghiên cứu nó trong
mối quan hệ với các khoa học có liên quan, đồng thời sử dụng những kết luận,
những nguyên tắc, phương pháp của các khoa học có liên quan để nghiên cứu
được toàn diện, chính xác và mang hiệu quả thiết thực.
2. Nhiệm vụ của định mức lao động.
Trong mỗi cơ sở, doanh nghiệp, việc sản xuất các loại sản phẩm được tiến
hành bằng nhiều công cụ và phương pháp khác nhau. Thời gian tiêu hao lao
động để hoàn thành một công việc (hoặc một sản phẩm hay chi tiết sản phẩm)
phụ thuộc vào nhiều yếu tố: người lao động, công cụ, đối tượng lao động… Việc
nghiên cứu đầy đủ những yếu tố nói trên để xác định mức tiêu hao thời gian cần
thiết cho một công việc (hoặc một sản phẩm) là nhiệm vụ của định mức lao
động.
Nói cách khác, nhiệm vụ của định mức lao động trong các cơ sở, doanh
nghiệp là:
Xây dựng và áp dụng trong thực tế sản xuất những mức lao động trung
bình tiên tiến, hợp lý dựa trên những điều kiện tổ chức - kỹ thuật sản xuất tiến
bộ.
Kiểm tra, xem xét những điều kiện sản xuất cụ thể và quan tâm chú yù đến
kinh nghiệm sản xuất, công tác của những người tiên tiến.
Điều quan trọng khi thực hiện công tác định mức lao động là những mức
được xây dựng phải có tính khả thi, người lao động có thể hoàn thành hoặc hoàn
thành vượt mức nếu thực hiện tốt những điều kiện tổ chức - kỹ thuật được quy
định.
3. Nội dung của định mức lao động.
Để thực hiện nhiệm vụ nói trên, nội dung cơ bản của định mức lao động
trong các cơ sở, doanh nghiệp bao gồm:
Nghiên cứu phân chia quá trình sản xuất ra các bộ phận hợp thành, xác
định kết cấu hợp lý của các bước công việc, trình tự thực hiện bước công việc,
nghiên cứu các loại thời gian được định mức và các loại thời gian không được
định mức.
Nghiên cứu đầy đủ các khả năng sản xuất, công tác ở nơi làm việc. Trước
hết nghiên cứu tình hình tổ chức nơi làm việc: trang bị nơi làm việc phù hợp với
khả năng của con người, bảo đảm các yêu cầu về vệ sinh lao động và kỹ thuật an
toàn; bố trí hợp lý nơi làm việc, tạo điều kiện cho người lao động hoạt động nhịp
nhàng, liên tục, rút ngắn độ dài của động tác, thao tác, giảm bớt sự đi lại trong
quá trình lao động. Nghiên cứu phục vụ nơi làm việc để xác định những nhân tố

