1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Nguyễn Thị Vân Anh
Nguyễn Thị Kim Ánh
GIAO TIẾP SƯ PHẠM
Mã số: A6
Chương trình bồi dưỡng Nghiệp vụ sư phạm
cho người có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp
có nguyện vọng trở thành giáo viên
trung học cơ sở, trung học phổ thông
Bình Định, 2021
2
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỌC PHẦN
1. Thông tin chung về học phần
- Tên học phần: Giao tiếp sư phm
- Mã học phần: A6
- Số tín chỉ: 02
- Các học phần học trước: Giáo dục học
- Phân giờ tín chỉ đối với các hoạt động:
+ Nghe giảng lý thuyết: 10 tiết
+ Thực hành: 40 tiết
- Khoa phụ trách học phần: Khoa Sư phạm
2.Vị trí và tính chất ca học phần
Việc giáo dục đào tạo trong nhà trường hiện nay không chỉ chú trọng đến việc
tạo ra những con người giỏi về nghề nghiệp mà còn phải hoàn thiện về nhân cách. Muốn
đạt được mục tiêu này, đòi hỏi người giáo viên học sinh phải cùng nỗ lực thực hiện
nhiệm vụ của mình. Làm được điều đó, giao tiếp phạm đóng một vai trò hết sức quan
trọng. Nhờ hoạt động sư phạm, nhà giáo dục mới tổ chức được hoạt động của mình.
Có thể nói giao tiếp sư phạm là công cụ, phương tiện của hoạt động giáo dục.
Giao tiếp phạm không chỉ điều kiện của hoạt động giáo dục mà còn nội
dung, mục đích của phương tiện giáo dục. Thông qua giao tiếp phạm, thể hình
thành học sinh cách ứng xử, giao tiếp văn hóa. Nhờ giao tiếp phạm, giáo
viên “đi sâu” vào thế giới tinh thần của học sinh, thiết lập mối quan hệ gắn với học
sinh, kích thích tính tính cực trong hoạt động của học sinh từ đó phát triển nhân cách
của học sinh.
3. Mô tả học phần
Học phần cung cấp cho người học những kiến thức bản, nền tảng về giao tiếp
phạm: Đặc trưng của giao tiếp phạm, nguyên tắc giao tiếp phạm, phong cách
giao tiếp sư phạm và các giai đoạn của giao tiếp phạm...cùng với những kiến thức về
các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp phạm để từ đó người học hình thành
phát triển năng lực giao tiếp phạm, vận dụng vào việc xử các tình huống phạm
phổ biến đối với giáo viên.
4. Mục tiêu của học phần
+ Kiến thức: Học phần nhằm trang bị cho người học những kiến thức về giao
3
tiếp phạm cơ bản, giúp người học vận dụng được những kiến thức ấy trong chính quá
trình học tập hiện tại, trong cuộc sống và trong nghề nghiệp.
+ Kĩ năng: Trang bị những kỹ năng cơ bản giúp người học vận dụng được các kỹ
năng đã được học vào thự tiễn là hoạt động giao tiếp sư phạm.
+ Thái độ, chuyên cần: Giáo dục thái độ học tập tích cực và nhu cầu vận dụng
kiến thức, kỹ năng đã học cho bản thân và nghề nghiệp.
5. Yêu cầu của học phần
Học tập, nghiên cứu học phần Giao tiếp sư phạm, người học cần:
- Hiểu được những vấn đề luận chung về giao tiếp; những nội dung cơ bản của
giao tiếp sư phạm và hình thành được những kỹ năng cơ bản của giao tiếp sư phạm.
- Tích cực, chủ động trong học tập; tích cực tương tác trong giờ học để hình
thành các kỹ năng giao tiếp; đồng thời không ngừng trau dồi, rèn luyện để nâng cao hiệu
quả giao tiếp trong nghề nghiệp cũng như trong cuộc sống.
4
QUY ƯỚC VIẾT TẮT
- Giáo viên: GV
- Học sinh: HS
- Giao tiếp: GT
- phạm: SP
- Giao tiếp sư phạm: GTSP
- Tình huống sư phạm: THSP
- Phổ thông: PT
5
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO TIẾP
1.1.Giao tiếp và quá trình giao tiếp
1.1.1.Khái niệm giao tiếp
ới góc nhìn thuyết thông tin: Giao tiếp là một quá trình dựa trên sự trao đổi
giữa hai hay nhiều người sử dụng cử chỉ, từ ngữ,... để thể hiểu thông tin được chuyển
từ người phát tin đến người nhận tin.
Dưới góc nhìn văn hóa:
- Từ cách tiếp cận Ngôn ngữ học văn hóa, hai tác giả J.C.Richard và
R.W.Schmidt cho rằng giao tiếp “Hoạt động giao lưu, tiếp xúc, trao đổi tình cảm,
tưởng, thông tin, liên kết hành động…giữa hai hoặc nhiều người”. Hoặc: “Giao tiếp
một quá trình hữu thức hay thức, hữu ý hay vô tình trong đó các tình cảm ý tưởng
được diễn tả bằng các thông điệp ngôn từ và phi ngôn từ” (Berko et al, 1989-Dẫn theo
Fangyi Lin).
- Từ cách tiếp cận Triết học - văn hóa, giao tiếp được hiểu một hoạt động của
con người mang tính người nhất, bởi đó một dạng hoạt động của ý thức nhằm góp
phần trao đổi, kế thừa, bảo lưu hoặc phát triển các gtrị văn hóa đã được sáng tạo
tích lũy trong lịch sử, để qua đó con người thể thỏa mãn các nhu cầu văn hóa tinh
thần của mình (nhận thức, sáng tạo, giao lưu…) điều kiện thiết yếu cho sự phát triển
con người và xã hội trong bất cứ môi trường hay hoàn cảnh nào.
Dưới góc nhìn tâm lý: Giao tiếp thường được xem là quá trình thông tin bao gồm
việc thực hiện và duy trì sự liên hệ giữa các cá nhân.
- Nhà tâm học hội người Anh M. Argule tả giao tiếp như quá trình ảnh
hưởng lẫn nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau. Giao tiếp thông tin được biểu hiện
bằng lời hay bằng phi ngôn ngữ từ nhiều người đến một người giống như việc tiếp xúc
thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại về mặt vật chuyển dịch
không gian.
Việt Nam, vấn đề giao tiếp được nghiên cứu từ những năm 1970 -1980 ng
có những khái niệm về giao tiếp được xác lập.
- Định nghĩa vgiao tiếp, Phạm Minh Hạc cho rằng: Giao tiếp hoạt động xác
lập vận hành các quan hệ người người đhiện thực hóa các quan hệ hội giữa
người ta với nhau.
- Theo các tác giả Nguyễn Thạc, Hoàng Anh: Giao tiếp hình thức đặc biệt cho
mối quan hệ giữa con người với con người qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm