
130
CHƯƠNG 4: QUẢN TRỊ TÀI SẢN DÀI HẠN CỦA DOANH NGHIỆP
Trong doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất, tài sản dài hạn thường
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản, vì vậy quản trị tài sản dài hạn có vai trò quan
trọng trong quản trị tài chính doanh nghiệp. Chương này tập trung giới thiệu về tài sản
dài hạn và vốn cố định của doanh nghiệp. Công cụ chủ yếu quản trị tài sản dài hạn là
các phương pháp khấu hao tài sản cố định và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng
tài sản dài hạn dựa vào báo cáo tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết
định trong việc lựa chọn phương pháp khấu hao phù hợp với quy mô, đặc thù, lĩnh vực
hoạt động của mỗi doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định, các quyết định trong
quản lý quỹ khấu hao nhằm mục tiêu tái sản xuất mở rộng tài sản dài hạn, đồng thời
quyết định trong việc lựa chọn các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài
sản dài hạn. Điểm nổi bật của chương này là giáo trình không chỉ đưa ra ba phương
pháp tính khấu hao hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng, đó là phương pháp
khấu hao đường thẳng, phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh,
phương pháp khấu hao theo sản lượng mà bổ sung một số phương pháp khấu hao nhiều
nước trên thế giới áp dụng như phương pháp MACRS, phương pháp khấu hao gấp đôi,
khấu hao theo tổng năm phù hợp với xu hướng Việt Nam trong giai đoạn áp dụng chuẩn
mực kế toán quốc tế trong các doanh nghiệp.
4.1. Tài sản dài hạn và vốn cố định
4.1.1. Tài sản dài hạn
Đê tiên hanh sản xuất kinh doanh, bên cạnh nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ… là những
yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, cần có máy móc thiết bị, nhà xưởng… là những
tài sản có giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Với mục tiêu quản
trị tốt hơn các loại tài sản trong doanh nghiệp, nhà quản trị cần phân loại tài sản trong
doanh nghiệp để tổ chức sử dụng một cách hiệu quả hơn. Tài sản trong doanh nghiệp
được phân làm 2 loại tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Mục tiêu của quản trị tài sản
dài hạn là làm thế nào đạt được hiệu quả sử dụng các tài sản này cao nhất. Để đạt được
mục tiêu này, các nhà quản trị tài chính cần phải trả lời một loạt các câu hỏi như: doanh
nghiệp nên lựa chọn phương pháp khấu hao nào thì phù hợp và có lợi? Sử dụng các chỉ
tiêu nào để đánh giá chính xác hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn, quản lý quỹ khấu hao
như thế nào để khi hết thời gian sử dụng của tài sản không chỉ tái sản xuất giản đơn mà
có thể tái sản xuất mở rộng tài sản cố định... Có rất nhiều câu hỏi được đặt ra cho công
tác quản trị tài sản dài hạn. Trong chương này chúng ta sẽ nghiên cứu một số vấn đề cơ
bản nhất trong công tác quản trị tài sản dài hạn.

131
Theo quy định hiện hành: Tài sản dài hạn là các tài sản có thời hạn thu hồi hoặc
sử dụng trên 12 tháng tại thời điểm báo cáo. Tài sản dài hạn bao gồm:
Tài sản cố định hữu hình là các loại tài sản có hình thái vật chất. Bên cạnh đó,
tài sản cố định hữu hình có thể do doanh nghiệp tự mua, tự xây dựng hoặc đi thuê dài
hạn. Ví dụ: Nhà xưởng, máy móc, phương tiện vận tải…
Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất. Tài sản cố
định vô hình thể hiện tổng giá trị mà doanh nghiệp đã đầu tư, đã chi trả, nhằm có được
các lợi ích hoặc các nguồn có tính chất kinh tế, mà giá trị của chúng xuất phát từ các đặc
quyền hoặc quyền của doanh nghiệp. Ví dụ: Quyền sử dụng đất, bằng phát minh sáng
chế, lợi thế thương mại… Tương tự với tài sản hữu hình, tài sản cố định vô hình cũng
có thể do doanh nghiệp tự mua, tự tạo ra hoặc đi thuê dài hạn.
Tài sản cố định thuê tài chính là những tài sản cố định mà doanh nghiệp thuê
từ công ty cho thuê tài chính để sử dụng trong thời gian dài (trên 12 tháng). Ví dụ: Doanh
nghiệp thuê máy móc, thiết bị để sản xuất sản phẩm; thuê văn phòng để làm việc…
Bất động sản đầu tư là các loại bất động sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp và
được doanh nghiệp sử dụng với mục đích cho thuê hoặc bán lại để kiếm lợi nhuận.
Đầu tư tài chính dài hạn là các khoản đầu tư của doanh nghiệp vào các tài sản
tài chính với mục đích sinh lời trong dài hạn (trên 12 tháng). Các loại hình đầu tư dài
hạn phổ biến bao gồm: Đầu tư chứng khoán dài hạn (Cổ phiếu, trái phiếu…), đầu tư góp
vốn liên doanh; đầu tư vào công ty con, công ty liên kết; gửi tiền tiết kiệm dài hạn…
Các khoản phải thu dài hạn là các khoản mà doanh nghiệp phải thu từ khách
hàng, đối tác trong thời hạn trên 12 tháng.
Tài sản dở dang dài hạn là các khoản chi phí đã được thực hiện cho việc xây
dựng cơ bản, sản xuất kinh doanh, nhưng công việc chưa hoàn thành và chưa đưa vào
sử dụng tại thời điểm lập báo cáo tài chính. Theo đó, tài sản dở dang dài hạn là khoản
đầu tư của doanh nghiệp vào các dự án dài hạn, thể hiện chiến lược phát triển và định
hướng tương lai của doanh nghiệp.
Tài sản dài hạn, với vai trò là sự đầu tư cho hiện tại và tương lai, thể hiện quy mô
cơ sở vật chất, tiềm lực kinh tế của mỗi doanh nghiệp trong cả hiện tại và tương lai.
Nhìn vào cơ cấu tài sản dài hạn, tỷ trọng từng loại tài sản trên tổng giá trị tài sản dài hạn,
tổng giá trị tài sản có thể như một sự cam kết đầu tư cho phát triển của doanh nghiệp và
cũng giúp nhìn xem tương lai doanh nghiệp coi trọng mảng kinh doanh nào. Ví dụ TSCĐ
hữu hình, bất động sản đầu tư thường đóng vai trò không thể thiếu, tác động lớn đến quá
trình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất, tương tự như đối với các
doanh nghiệp cho thuê mặt bằng, cung ứng dịch vụ khách sạn, lưu trú… Thông tin về
tài sản dài hạn của doanh nghiệp cũng là thông tin quan trọng giúp các nhà đầu tư, nhà
cung cấp, ngân hàng, các đối tác khác dễ dàng định giá, đưa ra các phân tích, đánh giá

132
về giá trị doanh nghiệp, tiềm lực kinh doanh, định hướng phát triển của doanh nghiệp,
từ đó cân nhắc cơ hội hợp tác.
Trong cơ cấu tài sản dài hạn của doanh nghiệp, tài sản cố định thường chiếm tỷ
trọng cao nhất, đặc biệt là trong các doanh nghiệp sản xuất. Vì vậy trong phạm vi nghiên
cứu chương 4 giáo trình này, nội dung tài sản dài hạn tập trung nghiên cứu về tài sản cố
định.
4.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, tiêu chuẩn của tài sản cố định
Căn cứ tính chất và vai trò tham gia vào quá trỉnh sản xuất của tư liệu sản xuất
thì Tài sản cố định là những tư liệu lao động có giá trị lớn và tham gia vào nhiều chu
kỳ kinh doanh, được sử dụng nhằm tạo ra lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.
Nói cách khác, Tài sản cố định là tất cả những tài sản của doanh nghiệp có giá trị
lớn, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trên 1 năm hoặc trên chu kỳ kinh doanh
(nếu chu kỳ kinh doanh lớn hơn hoặc bằng 1 năm). Hoặc có thể hiểu tài sản cố định bao
gồm những tài sản đang sử dụng, chưa được sử dụng hoặc không còn được sử dụng
trong quá trình sản xuất kinh doanh do chúng đang trong quá trình hoàn thành (máy móc
thiết bị đã mua nhưng chưa hoặc đang lắp đặt, nhà xưởng đang xây dựng chưa hoàn
thành…) hoặc do chúng chưa hết giá trị sử dụng nhưng không được sử dụng. Những tài
sản thuê tài chính mà doanh nghiệp sẽ sở hữu cũng thuộc về tài sản cố định.
Những tư liệu lao động được coi là tài sản cố định khi đồng thời thoả mãn hai
tiêu chuẩn cơ bản: Tiêu chuẩn 1: Tài sản cố định thuộc quyền kiểm soát của doanh
nghiệp. Tiêu chuẩn 2: Tài sản cố định mang lại lợi ích kinh tế trong tương lại cho doanh
nghiệp.
Theo chế độ tài chính hiện hành ở Việt Nam, các tài sản được ghi nhận là tài sản
cố định phải thoả mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn sau: Tiêu chuẩn 1: Chắc chắn thu được lợi
ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó. Tiêu chuẩn 2: Nguyên giá tài sản
phải được xác định một cách đáng tin cậy. Tiêu chuẩn 3: Tiêu chuẩn thời gian - Có thời
gian sử dụng ước tính từ 1 năm trở lên. Tiêu chuẩn 4: Tiêu chuẩn giá trị - Có giá trị từ
30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) trở lên. Như vậy, những tư liệu lao động không
đủ các tiêu chuẩn quy định trên thì được xếp vào “công cụ dụng cụ”, đó là tài sản ngắn
hạn.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, TSCĐ tham gia vào
nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, hình thái hiện vật bên ngoài của TSCĐ về cơ bản vẫn
giữ nguyên trong suốt thời gian tồn tại, hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu
của TSCĐ không thay đổi. Song TSCĐ bị hao mòn dần (hao mòn hữu hình và hao mòn
vô hình) và chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất chuyển hoá thành
vốn lao động. Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp và được bù đắp mỗi khi sản phẩm được tiêu thụ. Đồng

133
thời, TSCĐ bị hao mòn dần về mặt giá trị, phần hao mòn đó sẽ được dịch chuyển vào
chi phí sản xuất kinh doanh và giá trị hao mòn phản ánh phần giá trị đã được chuyển
vào giá trị sản phẩm của TSCĐ, nhưng quan trọng vẫn là giá trị còn lại của TSCĐ, nó
phản ánh phần giá trị của TSCĐ có khả năng luân chuyển vào giá trị sản phẩm hay phần
còn lại của TSCĐ có khả năng sinh lợi. TSCĐ của doanh nghiệp cũng được coi như bất
kỳ một loại hàng hoá thông thường khác. Vì vậy, nó cũng có đặc tính của một loại hàng
hoá có nghĩa là không chỉ có giá trị mà còn có giá trị sử dụng. Thông qua mua bán trao
đổi, TSCĐ có thể được chuyển quyền sử dụng và quyền sở hữu từ chủ thể này sang chủ
thể khác trên thị trường tư liệu sản xuất.
TSCĐ luôn gắn liền với doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại và thường
chiếm tỷ trọng lớn về mặt giá trị, vì vậy TSCĐ có tầm quan trọng lớn đối với doanh
nghiệp. Trước hết, TSCĐ phản ánh mặt bằng cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, phản
ánh quy mô của doanh nghiệp có tương xứng hay không với đặc điểm loại hình kinh
doanh mà nó tiến hành. TSCĐ luôn mang tính quyết định đối với các hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Do đặc điểm luân chuyển của mình qua mỗi chu kỳ kinh
doanh, TSCĐ tồn tại trong một thời gian dài và nó tạo ra tính ổn định trong chu kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp cả về sản lượng và chất lượng. Hơn nữa trong nền kinh tế thị
truờng, khi mà nhu cầu tiêu dùng được nâng cao thì cũng tương ứng với tiến trình cạnh
tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải làm sao
để tăng năng suất lao động, tạo ra được những sản phẩm hàng hoá, dịch vụ có chất lượng
cao, giá thành hợp lý nhằm chiếm lĩnh thị trường. Sự đầu tư không đúng mức đối với
TSCĐ cũng như việc đánh giá thấp tầm quan trọng của TSCĐ sẽ đem lại những khó
khăn cho doanh nghiệp. Khi TSCĐ không đủ năng lực để cạnh tranh với các doanh
nghiệp khác cả về chất lượng và giá thành. Điều đó có thể dẫn đến các doanh nghiệp đến
bờ vực phá sản nếu lượng vốn không đủ lớn để cải tạo đổi mới tài sản. Sự thiếu hụt các
khả năng sản xuất, khả năng về cung cấp dịch vụ sẽ giúp cho đối thủ cạnh tranh giành
mất một phần thị trường của doanh nghiệp và điều này buộc doanh nghiệp khi muốn
giành lại thị truờng khách hàng đã phải tốn kém nhiều về chi phí tiếp thị hay phải hạ giá
thành về sản phẩm và các dịch vụ cung ứng. Cuối cùng, TSCĐ còn là một một công cụ
huy động vốn khá hữu hiệu. Đối với vốn vay ngân hàng thì TSCĐ được coi là điều kiện
khá quan trọng bởi nó đóng vai trò là vật thế chấp cho món tiền vay. Trên cơ sở trị giá
của tài sản thế chấp ngân hàng mới có quyết định cho vay hay không và cho vay với
lượng là bao nhiêu. Đối với Công ty cổ phần thì độ lớn của Công ty phụ thuộc vào giá
trị TSCĐ mà Công ty nắm giữ. Do vậy quá trình huy động vốn cho doanh nghiệp bằng
cách phát hành trái phiếu hay cổ phiếu, mức độ tin cậy của nhà đầu tư chịu ảnh hưởng
khá lớn từ lượng tài sản mà Công ty hiện có và hàm lượng công nghệ có trong TSCĐ
của Công ty.

134
Nhận thức đúng đắn những đặc điểm và vai trò của tài sản dài hạn là những vấn
đề rất cơ bản để các doanh nghiệp quản lý sử dụng tài sản dài hạn đúng mục đích và
hiệu quả.
4.1.1.2. Phân loại tài sản cố định
Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ TSCĐ hiện có của doanh nghiệp theo
những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho những yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
Thông thường có một số tiêu thức phân loại chủ yếu sau:
Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế
Theo tiêu thức này thì TSCĐ được chia làm 2 loại: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô
hình.
Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể do doanh
nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Có rất nhiều tiêu thức
khác nhau để phân loại tài sản cố định hữu hình. Nếu căn cứ theo công dụng và tình hình
sử dụng của tài sản cố định thì TSCĐ hữu hình được chia thành các nhóm:
Nhóm 1: Nhà xưởng, văn phòng, kho bãi và các công trình xây dựng có mục đích
tương tự. Đặc điểm chung của nhóm này là tạo ra môi trường, không gian hoặc nơi làm
việc. Lưu ý rằng, thời gian thu hồi khấu hao của nhóm 1 thường khá dài, có thể từ 10
năm đến 30 năm, các công trình lớn có thể tính khấu hao trên 50 năm.
Nhóm 2: Máy công tác, máy móc thiết bị công nghệ, hệ thống dây chuyền và các
thiết bị lẻ. Đây là các tài sản trực tiếp tạo ra sản phẩm, có ảnh hưởng quyết định tới chất
lượng và giá thành sản phẩm. Việc quản lý tài sản này khá phức tạp vì số lượng lớn ví
dụ như trong một công ty sản xuất hay chế tạo, có thể có từ vài trăm tới hàng ngàn nhóm
thiết bị khác nhau.
Nhóm 3: Nhóm các phương tiện có chức năng vận chuyển như các phương tiện
vận tải, xe cộ.... Đặc điểm của nhóm phương tiện này là phạm vi hoạt động rộng, có thể
lưu động di chuyển qua các địa bàn khác nhau.
Nhóm 4: Thiết bị văn phòng, dụng cụ đo lường và kiểm định. Theo xu hướng
hiện đại hóa văn phòng ngày càng đòi hỏi những thiết bị tốt hơn, hiện đại hơn như máy
tính, máy in, máy photocopy... được kết nối mạng tạo điều kiện tăng năng suất và khả
năng cạnh tranh.
Nhóm 5: Tài sản cố định hữu hình khác như tranh ảnh nghệ thuật, vật kiến trúc,
bon sai, cây cảnh...
Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể, thể
hiện một lượng giá trị đã được đầu tư và phải thỏa mãn đồng thời các tiêu chuẩn của tài
sản cố định vô hình. TSCĐ vô hình có thể được hình thành từ các nguồn: Quyền sử dụng
đất có thời hạn; nhãn hiệu hàng hóa; quyền phát hành; phần mềm máy vi tính; giấy phép
và giấy phép nhượng quyền; bản quyền, bằng sáng chế; TSCĐ vô hình đang triển khai...

