Hans Robert Jauss: Lịch sử văn học là lịch sử tiếp nhận

5

PGS.TS. Huỳnh Vân

Đại học Văn hiến - Tp. Hồ Chí Minh

Cả hai đều là những lập trường cực đoan, điều mà người ta không khó bắt gặp ở

nhiều trường phái lý luận văn học phương Tây và dường như điều đó mới tạo

được cơ sở cho sự lập thuyết! Tất nhiên cả hai quan niệm đều có hạt nhân hợp

lý của nó nếu như không tuyệt đối hoá một cách phiến diện, và Jauss không sai

khi khẳng định vai trò, ý nghĩa và sự tác động của văn học nói riêng và nghệ

thuật nói chung trong đời sống xã hội. Ông chỉ không đúng khi dứt khoát quả

quyết rằng “năng lực đặc trưng của văn học trong đời sống xã hội phải tìm ở

chính cái nơi mà văn học không hoà nhập vào trong chức năng của một nghệ

thuật miêu tả”. Jauss cho rằng lịch sử văn học không nên “miêu tả một lần nữa

một cách giản đơn tiến trình lịch sử chung trong sự phản chiếu của những tác

phẩm của nó mà là phát hiện ra trong tiến trình của sự “tiến hoá văn học” cái

chức năng kiến tạo xã hội trong ý nghĩa đích thực của chức năng này, cái chức

năng được dành cho văn học đang cạnh tranh với các nghệ thuật và các lực

lượng xã hội khác trong cuộc giải phóng con người ra khỏi những trói buộc tự

nhiên, tôn giáo và xã hội” (207). Văn học theo đó đã được trao một nhiệm vụ

lớn lao mặc dù không được rõ ràng và có phần ảo tưởng bởi vì không phải

không có những tác phẩm văn học được coi là có giá trị cách tân trong nghệ

thuật nhưng không góp phần gì vào việc giải phóng ấy nếu không muốn nói có

khi còn ngược lại, và như thế không thể có ý nghĩa lịch sử.

Không chỉ dựa vào khái niệm “tầm đón đợi” được vay mượn từ Karl Mannheim

và được phát triển cho lĩnh vực văn học để giải thích “lịch sử văn học”, Jauss

còn dựa vào quan niệm “tầm của những đón đợi” của Karl R. Popper trong bài

viết Những quy luật tự nhiên và các hệ thống lý thuyết của ông này để làm cơ

sở so sánh cho sự tìm tòi của ông “nhằm xác định sự đóng góp đặc trưng của

văn học trong tiến trình chung của sự hình thành kinh nghiệm và để khu biệt

với những hình thức khác của thái độ ứng xử xã hội” cũng như nhằm “làm sáng

rõ chức năng đặc thù của văn học” (201). Chức năng đặc thù này của văn học

được Jauss xác định một cách cụ thể bằng việc cho rằng “kinh nghiệm của

người đọc có thể giải thoát anh ta ra khỏi những sự thích ứng, những định kiến

và những tình trạng ràng buộc của thực tiễn sống của anh ta bằng cách nó đòi

hỏi anh ta phải đi tới sự nhận biết mới các sự việc”. Sự “giải thoát” này nếu có

thì chắc cũng chỉ có thể xảy ra trong tư tưởng, trong nhận thức với ý nghĩa như

là một sự thắng lợi tinh thần. Nó có thể đưa lại những lợi ích nhất định cho

người đọc và làm nên giá trị nào đó cho văn học, đúng như quan niệm của

Jauss khi ông cho rằng nó “còn tiên đoán cái khả năng không được thực hiện,

mở rộng sân chơi bị giới hạn của thái độ ứng xử xã hội đến những mong ước,

những đòi hỏi và mục đích mới và như thế mở ra những con đường cho kinh

nghiệm tương lai” (202). Sự giải thoát ấy cũng có thể xảy ra trong thực tế, cũng

có thể được thực hiện trong những điều kiện xã hội nhất định, nơi mà những

chức năng đích thực, chân chính của văn học được tạo những điều kiện thuận

lợi.

Nói chung sự xác định một chức năng văn học theo cách trình bày của Jauss là

một cố gắng lý luận của ông. Nó phần nào giúp ông thoát ra khỏi quan niệm

văn học tự trị và nội tại. Nó hoàn toàn có thể được chấp nhận nếu như Jauss

không đề cao duy nhất chức năng này, không cực đoan và phiến diện để loại bỏ

các chức năng khác cũng như loại bỏ lịch sử chung ra khỏi văn học và lịch sử

văn học. Và trong chiều hướng ấy, Jauss cũng đã nhầm lẫn trong nhận thức về

lý luận văn học mácxít khi cùng nhận định là “chủ nghĩa cấu trúc văn học cũng

như trước nó khoa học văn học mácxit và khoa học văn học của chủ nghĩa hình

thức không đặt vấn đề là văn học “tự nó ngược lại đã cùng tạo nên quan niệm

về xã hội, mà đó là cái tiền đề của nó” (200). Chứng minh điều ngược lại đối

với sự quả quyết trên về lý luận văn học mácxit quả không khó. Vì nó quá rõ

ràng trong lý luận văn học đó nên ở đây có lẽ không cần thiết trình bày lại

những ý kiến của nó có liên quan đến chức năng này. Ngoài ra, Jauss cũng

không đúng khi phê phán rằng lý luận văn học mácxit “phủ nhận” là “nghệ

thuật cũng như các hình thức ý thức tương ứng như đạo đức, tôn giáo hay siêu

hình học có một lịch sử riêng” (155). Cũng không cần phải đi vào nêu các ý

kiến cụ thể mà chỉ cần nói chung rằng lý luận này chỉ không cho rằng nghệ

thuật có một “lịch sử riêng”, có một sự độc lập tuyệt đối mà chỉ có một “lịch sử

riêng” tương đối đối với lịch sử chung, một sự độc lập tương đối đối với tồn tại

xã hội và nó luôn tác động trở lại ý thức xã hội.

Bên trên chúng tôi đã cố gắng trình bày tương đối chi tiết về những ý kiến của

Jauss trong các luận điểm của ông về một “lịch sử văn học đổi mới”, một lịch

sử văn học trên cơ sở lịch sử tiếp nhận, một “lịch sử văn học của người đọc”.

So với các phương pháp viết lịch sử văn học trước đó, đây quả là một sự thay

đổi triệt để, một sự quay ngược lại với những gì đã có, thay thế nó bằng cách

viết lịch sử văn học theo mỹ học tiếp nhận và mỹ học tác động, tức là không

bắt đầu ở đoạn đầu mà bắt đầu ở đoạn cuối của tiến trình văn học. Người ta đã

nói rất đúng rằng Jauss đã đóng yên cương ngựa cho tiến trình văn học không

phải ở đầu mà là ở đuôi ngựa. Sự hy vọng “thay đổi khuôn mẫu” mà Jauss đã

rất mong muốn thực hiện trong lịch sử văn học bằng cách dịch chuyển thuật

ngữ “sự thay đổi khuôn mẫu” (Paradigmawechsel) mà Thomas Kuhn dùng để

nghiên cứu trong khoa học tự nhiên vào khoa học xã hội đã không thành công.

Manfred Naumann cho rằng ông “hoài nghi” sự dự đoán về một “buổi bình

minh của một sự “thay đổi khuôn mẫu” khoa học như vừa mới đây người ta

dự đoán và cũng hết sức hy vọng”. Ông quả quyết rằng “chẳng thấy rõ lắm

một sự thay đổi khuôn mẫu hơn là sự dao động của một con lắc”(23). Nhiều

nhà nghiên cứu văn học cùng thời với Jauss ở Tây Đức lúc bấy giờ cũng hoài

nghi không kém về khả năng của phương pháp viết lịch sử văn học dựa trên

lịch sử tiếp nhận mà chủ yếu dựa vào khái niệm tầm đón đợi và việc tái lập

tầm đón đợi đó một cách khách quan. Không ít ý kiến tỏ ra quan ngại về đề

xuất của Jauss, mà rõ ràng là ở cả hai lĩnh vực lý thuyết và thực tiễn vận dụng.

Karl Robert Mandelkow – một chuyên gia nghiên cứu về lịch sử tác động và

lịch sử tiếp nhận mà lần trước chúng tôi đã trích dẫn ý kiến của ông, cho rằng

lịch sử tiếp nhận không chỉ là lịch sử tiếp nhận của một tác phẩm mà còn

đồng thời và luôn luôn là lịch sử của chính nó, tức là “lịch sử tiếp nhận của

lịch sử tiếp nhận”, và rằng sự tuyệt đối hoá mô hình mỹ học tiếp nhận sẽ dẫn

đến “nguy cơ chạy trốn vào lối xem xét theo lịch sử tác động”, tức là việc thu

thập những bằng chứng tiếp nhận lịch sử và sự tác động đã bị tương đối hoá

của những đánh giá có thể có “dễ biến thành một thứ không lập trường”(24).

Phê bình đề xuất của Jauss về một “Lịch sử văn học như là lịch sử tiếp nhận”,

Horst Albert Glaser chỉ ra rằng đề xuất này chỉ tìm cách hiểu văn học từ

phương diện tiếp nhận có tính cách phiến diện và việc diễn đạt khác đi khái

niệm “văn cảnh lịch sử của văn học” thành khái niệm “tầm đón đợi” của trình

độ văn học không đưa lại được kết quả gì.