
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
227
GIÁ TRỊ THAM CHIẾU NỒNG ĐỘ LDL-C HUYẾT TƯƠNG
Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH KHỎE MẠNH
Phạm Văn Trân1, Hồ Thị Hằng1, Hoàng Thị Minh1
TÓM TẮT32
Mục tiêu: Nồng độ lipoprotein tỷ trọng thấp
(Low-Density Lipoprotein Cholesterol – LDL-C)
là một chỉ số sinh hóa quan trọng phản ánh nguy
cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch
vành. Nghiên cứu này nhằm xác định khoảng giá
trị tham chiếu của LDL-C trong huyết tương ở
người trưởng thành khỏe mạnh. Đối tượng và
phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt
ngang, thực hiện trên 732 người trưởng thành
khỏe mạnh khám sức khỏe tại Bệnh viện Quân y
103 từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2025. Nồng độ
LDL-C được định lượng bằng phương pháp đo
màu enzym trên hệ thống máy AU5800
(Beckman Coulter, Hoa Kỳ). Dữ liệu được xử lý
bằng phần mềm SPSS 22.0. Khoảng giá trị tham
chiếu được xác định theo phân vị 2.5th – 97.5th,
phù hợp với khuyến cáo của CLSI C28-A3. Kết
quả: Nồng độ LDL-C huyết tương dao động từ
1,5 đến 3,9 mmol/L. Giá trị trung bình là 2,94 ±
0,43 mmol/L. Giá trị tham chiếu của nồng độ
LDL-C được thiết lập chung cho người trưởng
thành khỏe mạnh là 1,98-3,65 mmo/L. Ở nam
giới trưởng thành khỏe mạnh là 1,9-3,72 mmol/
cao hơn so với ở nữ giới trưởng thành khỏe mạnh
(2,0-3,63 mmol/L) (p<0,001). Nồng độ LDL-C
có xu hướng tăng theo độ tuổi, cao nhất ở nhóm
1Bộ môn khoa Sinh hóa - Bệnh viện Quân y 103
Chịu trách nhiệm chính: Hoàng Thị Minh
Email: minh.hoang937@gmail.com
SĐT: 0904059504
Ngày nhận bài: 21-5-2025
Ngày phản biện: 28-5-2025
Ngày duyệt bài: 8-6-2025
46–65 tuổi (2,2 – 3,7 mmol/L). Sự khác biệt
nồng độ LDL-C huyết tương giữa các độ tuổi có
ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Kết luận: Khoảng
giá trị tham chiếu của nồng độ LDL-C huyết
tương ở người trưởng thành khỏe mạnh là từ 1,98
đến 3,65 mmol/L. Nam giới và người trong độ
tuổi 46-65 có nồng độ LDL-C cao hơn so với nữ
giới và người trẻ tuổi hơn.
Từ khóa: Giá trị tham chiếu LDL-C huyết
tương, người trưởng thành khỏe mạnh.
SUMMARY
REFERENCE VALUES OF PLASMA
LDL-C CONCENTRATION IN
HEALTHY ADULTS
Objective: Low-density lipoprotein
cholesterol (LDL-C) is an essential biochemical
marker reflecting the risk of cardiovascular
diseases, especially coronary artery disease. This
study aimed to establish the reference range of
plasma LDL-C levels in healthy adults. Subjects
and Methods: A cross-sectional descriptive
study was conducted on 732 healthy adults
undergoing health check-ups at the 103 Military
Hospital from March to April 2025. Plasma
LDL-C levels were quantified using an
enzymatic colorimetric method on the AU5800
system (Beckman Coulter, USA). Data were
analyzed using SPSS version 22.0. The reference
range was determined based on the 2.5th–97.5th
percentiles, following CLSI C28-A3 guidelines.
Results: Plasma LDL-C levels ranged from 1.5
to 3.9 mmol/L, with a mean value of 2.94 ± 0.43
mmol/L. The overall reference range for healthy
adults was 1.98–3.65 mmol/L. In males, the

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
228
range was 1.90–3.72 mmol/L, which was higher
than in females (2.00–3.63 mmol/L), with a
statistically significant difference (p < 0.001).
LDL-C levels tended to increase with age and
were highest in the 46–65 age group (2.2–3.7
mmol/L), with statistically significant differences
among age groups (p < 0.001). Conclusion: The
reference range of plasma LDL-C levels in
healthy adults is 1.98–3.65 mmol/L. Males and
individuals aged 46–65 have higher LDL-C
levels than females and younger individuals.
Keywords: Reference range of plasma LDL-
C concentration, healthy adults.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nồng độ lipoprotein tỷ trọng thấp (Low-
Density Lipoprotein Cholesterol – LDL-C) là
một chỉ số sinh hóa quan trọng để đánh giá
nguy cơ bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh
mạch vành (1). Các nghiên cứu dịch tễ học
và lâm sàng đã chứng minh mối liên quan
chặt chẽ giữa tăng nồng độ LDL-C và nguy
cơ xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim, đột
quỵ và tử vong tim mạch (2, 3). Do đó, LDL-
C được xem là mục tiêu điều trị then chốt
trong quản lý rối loạn lipid máu và phòng
ngừa bệnh tim mạch.
Tuy nhiên, việc diễn giải kết quả xét
nghiệm LDL-C trên lâm sàng phụ thuộc vào
khoảng giá trị tham chiếu, tức giới hạn sinh
lý bình thường ở người khỏe mạnh. Các
khoảng tham chiếu này có thể thay đổi đáng
kể giữa các quần thể do ảnh hưởng của yếu
tố di truyền, chủng tộc, giới tính, tuổi, lối
sống, chế độ ăn và đặc điểm sinh lý dân số.
Hiện nay, giá trị tham chiếu của LDL-C chưa
có sự đồng thuận giữa các tổ chức có uy tín.
Tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra ngưỡng
LDL-C cần can thiệp (tùy theo nguy cơ tim
mạch), nhưng thường lấy là 130 mg/dL (3,4
mmol/L) làm mốc nguy cơ (4). Theo NCEP
ATP III (National Cholesterol Education
Program - Adult Treatment Panel III) – Hoa
Kỳ, nồng độ LDL-C < 100 mg/dL (2.6
mmol/L) được xem là tối ưu (Optimal) và từ
100–129 mg/dL (2.6 mmol/L đến dưới 3.3
mmol/L) là gần tối ưu (5). Theo hướng dẫn
chẩn đoán và điều trị bệnh nội tiết chuyển
hóa của Bộ Y tế, khi nồng độ LDL-C > 2.58
mmol/L được xem là tăng (6). Phần lớn các
phòng xét nghiệm sinh hóa hiện nay sử dụng
khoảng tham chiếu được xây dựng từ các
nghiên cứu nước ngoài, chủ yếu ở người da
trắng, vốn có thể không phù hợp với người
Việt Nam. Tại Việt Nam, hiện chưa có nhiều
nghiên cứu quy mô lớn nhằm xây dựng giá
trị tham chiếu LDL-C đặc thù cho người
trưởng thành khỏe mạnh, theo tiêu chuẩn
thống nhất và đại diện cho cộng đồng. Việc
sử dụng giá trị tham chiếu không phù hợp có
thể dẫn đến chẩn đoán sai lệch, đánh giá sai
nguy cơ tim mạch, gây ảnh hưởng đến quyết
định điều trị. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn
và khoảng trống dữ liệu trong nước, nghiên
cứu này được thực hiện nhằm xác định
khoảng giá trị tham chiếu của nồng độ LDL-
C huyết tương ở người trưởng thành khỏe
mạnh.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực
hiện trên 732 người trưởng thành khỏe mạnh,
độ tuổi từ 18 đến 65, tham gia khám sức
khỏe định kỳ tại Bệnh viện Quân y 103 trong
khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 4 năm
2025.
Tiêu chuẩn lựa chọn: Người trưởng thành
từ 18 đến 65 tuổi. Được xác nhận là khỏe
mạnh qua hỏi bệnh và khám lâm sàng.
Không hút thuốc lá trong 6 tháng gần đây.
Không dùng thuốc hoặc thực phẩm chức

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
229
năng ảnh hưởng đến lipid máu trong 3 tháng
gần đây và đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: Có tiền sử bệnh lý:
tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp, rối
loạn lipid máu, bệnh gan, thận, tuyến giáp.
Đang điều trị bằng thuốc ảnh hưởng đến
chuyển hóa lipid. Phụ nữ đang mang thai
hoặc cho con bú. Có xét nghiệm glucose
máu, chức năng gan, thận bất thường, có tăng
nồng độ acid uric máu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Hỏi bệnh sử, khám lâm sàng.
- Mẫu máu được lấy vào buổi sáng, sau
khi đối tượng nhịn ăn từ 8–12 giờ.
- Các xét nghiệm kèm theo: cholesterol
TP, HDL-C, TG, glucose, creatinine, acid
uric, ALT, AST, GGT.
- Xét nghiệm LDL-C huyết tương được
thực hiện bằng phương pháp đo màu enzym
(end-point colorimetric assay) trên hệ thống
máy phân tích tự động AU5800 của hãng
Beckman Coulter (Hoa Kỳ) theo nguyên lý:
Cholesterol trong phân tử LDL có trong
mẫu thử sẽ được thuỷ phân bằng enzym
cholesterol esterase (CHE) và bị oxy hóa
bằng emzym cholesterol oxidase (CHO) để
tạo thành Cholest-4-en-3-one và hydrogen
peroxide (H2O2) và acid béo. Oxi hóa
hydrogen peroxide (H2O2) bởi 4-
aminoantipyrine và F-DAOS nhờ sự xúc tác
của emzym peroxidase (POD) để tạo thành
phức hợp có màu xanh. Đậm độ màu tỷ lệ
thuận với nồng độ LDL-Cholesterol có trong
mẫu thử, độ hấp thụ quang học được đo ở
bước sóng 600/700 nm, dựa vào đường
chuẩn để tính kết quả.
- Các mẫu máu được lấy theo một quy
trình thống nhất. Các chỉ số xét nghiệm
được phân tích trên hệ thống máy xét nghiệm
tự động AU5800 của hãng Beckman, Hoa
Kỳ).
- Các xét nghiệm được kiểm soát chất
lượng theo tiêu chuẩn ISO 15189:2022, đã
được đánh giá công nhận bởi Văn phòng
công nhận chất lượng Quốc gia (BoA).
2.3. Phân tích thống kê
Dữ liệu được quản lý bằng phần mềm
Microsoft Excel 2019, xử lý và phân tích
thống kê bằng SPSS phiên bản 22.0. Các giá
trị trung bình, độ lệch chuẩn, phân vị được
tính toán. Khoảng giá trị tham chiếu được
xác định theo phương pháp phân vị 2.5th và
97.5th theo khuyến cáo của CLSI C28-A3. So
sánh giữa các nhóm sử dụng phép thử
ANOVA, giá trị p < 0,05 được coi là có ý
nghĩa thống kê.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm
n
%
Giới
Nam
255
34,8
Nữ
477
65,2
Tuổi
18-35
371
50,7
36-45
244
33,3
46-65
117
16
X
± SD
36 ± 9
Nhận xét: Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 36 ± 9 (năm), độ tuổi từ 18-35
chiếm tỷ lệ cao nhất (50,7%), thấp nhất là từ 46-65 (16%); tỷ lệ nữ giới cao hơn nam giới.

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
230
3.2. Nồng độ LDL-C
Bảng 2. Nồng độ LDL-C theo tuổi và giới
LDL
(ng/L)
Chung
(n=732)
Nam1
(n=255)
Nữ2
(n=477)
Tuổi3
18-35
(n=371)
Tuổi4
36-45
(n=244)
Tuổi5
46-65
(n=117)
p
X
2,94
3,02
2,89
2,88
2,96
3.05
p1,2 < 0,001
p3,4,5 < 0,01
p3,4 < 0,05
p4,5 > 0,05
p3,5 < 0,000
SD
0,43
0,43
0,42
0,43
0,42
0,41
Min
1,5
1,5
1,7
1,5
1,7
2,0
Max
3,9
3,9
3,8
3,9
3,8
3,7
Q1
2,67
2,75
2,6
2,62
2,7
2,71
Q2
2,98
3,07
2,9
2,91
3.02
3,1
Q3
3,26
3,32
3,2
3,2
3,26
3,36
Test One-Way ANOVA
X
: giá trị trung bình; SD: độ lệch chuẩn;
Min: giá trị nhỏ nhất; Max: Giá trị lớn nhất;
Q1: tứ phân vị 1; Q2: Tứ phân vị 2; Q3: Tứ
phân vị 3.
Nhận xét: Nồng độ LDL-C huyết tương
dao động trong khoảng từ 1,5 đến 3,9
mmol/L. Giá trị trung bình nồng độ LDL-C
của đối tượng nghiên cứu là 2,94 ±
0,43mmol/L. Nồng độ LDL-C trung bình của
nam giới cao hơn nữ giới, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p < 0,001. Nồng độ LDL-
C trung bình tăng theo tuổi, cao nhất ở độ
tuổi từ 46-65, thấp nhất ở độ tuổi từ 18-35 sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.
Áp dụng phương pháp phân tích phân vị
(percentile) theo hướng dẫn CLSI C28-A3,
giá trị tham chiếu được xác định là khoảng từ
2.5th đến 97.5th.
Bảng 3. Giá trị tham chiếu của nồng độ LDL-C huyết tương
LDL (ng/L)
Chung
(n=732)
Nam
(n=255)
Nữ
(n=477)
Tuổi 18-35
(n=371)
Tuổi 36-45
(n=244)
Tuổi 46-65
(n=117)
2.5th
1,98
1,90
2,0
1,93
1,97
2,2
97.5th
3,65
3,72
3,63
3,63
3,63
3,7
Nhận xét: Giá trị 2.5th và 97.5th đối với
nồng độ LDL-C huyết tương ở người trưởng
thành khỏe mạnh lần lượt là 1,98 và 3,65
mmol/L; ở nam giới trưởng thành khỏe mạnh
là 1,9-3,72 mmol/L cao hơn so với ở nữ giới
trưởng thành khỏe mạnh (2,0-3,63 mmol/L);
Ở người trưởng thành có độ tuổi từ 46-65 là
2,2-3,7 mmol/L, cao hơn so với người trưởng
thành khỏe mạnh có độ tuổi từ 18-45.
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu này đã xác định khoảng giá
trị tham chiếu của nồng độ LDL-C huyết
tương ở người trưởng thành khỏe mạnh là từ
1,98 đến 3,65 mmol/L, áp dụng theo phương
pháp phân tích phân vị (2.5th – 97.5th
percentile) phù hợp với khuyến cáo của CLSI
C28-A3 (7). Đây là bước quan trọng trong
việc chuẩn hóa kết quả xét nghiệm. Kết quả
nghiên cứu cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê về nồng độ LDL-C huyết tương
giữa hai giới và giữa các độ tuổi, với nồng độ

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
231
LDL-C trung bình của nam giới cao hơn nữ
giới (3,02 so với 2,89 mmol/L; p < 0,001) và
tăng dần theo độ tuổi, đặc biệt ở nhóm tuổi
46–65 (trung bình 3,05 mmol/L). Xu hướng
này phù hợp với các báo cáo trước đây cho
thấy giới tính và tuổi tác có ảnh hưởng đến
chuyển hóa lipid và nguy cơ tim mạch.
Nghiên cứu của P. Jaswanth Kumar và
cộng sự (2021) tại Ấn Độ cho thấy LDL-C
huyết tương lúc đói ở người trưởng thành
khỏe mạnh dao động từ 1,46 đến 4,4 mmo/L
(56,6–170,4 mg/dL) (8). Tác giả H. Baqi và
cộng sự (2021) nghiên cứu tại Iran cũng cho
thấy nồng độ LDL-C huyết tương từ 1,5 đến
4,2 mmol/L(58,35-164,3 ng/dL), ở nam giới
cao hơn nữ giới và có xu hướng tăng theo độ
tuổi (9). Khoảng giá trị tham chiếu trong
nghiên cứu của chúng tôi có xu hướng thấp
hơn so với các nghiên cứu trên. Điều này cho
thấy tính đặc thù về chủng tộc và môi trường
sống là yếu tố quan trọng khi xây dựng
khoảng tham chiếu cho từng quần thể dân cư.
Bên cạnh đó, kết quả cũng cho thấy
nhóm tuổi 46–65 có LDL-C cao nhất (2,2 –
3,7 mmol/L), trong khi nhóm tuổi 18–35 có
LDL-C thấp hơn (1,93 – 3,63 mmol/L). Điều
này gợi ý rằng việc áp dụng cùng một
khoảng tham chiếu cho mọi lứa tuổi có thể
dẫn đến sai lệch trong đánh giá lâm sàng. Do
đó, trong tương lai, việc xây dựng khoảng
giá trị tham chiếu theo nhóm tuổi hoặc giới
tính nên được cân nhắc.
So với một số tài liệu quốc tế như hướng
dẫn của NCEP ATP III, ngưỡng LDL-C tối
ưu thường được xác định là < 2,6 mmol/L,
trong khi giá trị trên 3,3 mmol/L được xem là
cao (5). Tuy nhiên, các mốc này dựa trên tiêu
chí điều trị và phòng bệnh, không phản ánh
trực tiếp phân bố LDL-C trong cộng đồng
người khỏe mạnh. Kết quả của nghiên cứu
hiện tại phản ánh đúng thực trạng nồng độ
LDL-C trong quần thể người Việt Nam
trưởng thành, đồng thời cung cấp cơ sở để
phân biệt giữa tình trạng bình thường và rối
loạn lipid máu một cách chính xác hơn.
Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn còn một
số hạn chế nư chỉ thực hiện tại một trung
tâm y tế, chưa đánh giá các yếu tố ảnh hưởng
như BMI, khẩu phần ăn, hoạt động thể lực,
và cỡ mẫu một số nhóm tuổi còn thấp.
Những yếu tố này cần được khắc phục trong
các nghiên cứu đa trung tâm, có tính đại diện
cao hơn cho cộng đồng.
V. KẾT LUẬN
Khoảng giá trị tham chiếu của nồng độ
LDL-C huyết tương ở người trưởng thành
khỏe mạnh là từ 1,98 đến 3,65 mmol/L. Nam
giới và người lớn tuổi có nồng độ LDL-C
cao hơn so với nữ giới và người trẻ. Kết quả
này giúp nâng cao độ chính xác trong chẩn
đoán và quản lý rối loạn lipid máu, đồng thời
khẳng định sự cần thiết của việc xây dựng
khoảng giá trị tham chiếu theo từng đối
tượng dân số cụ thể.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ference BA, Ginsberg HN, Graham I, Ray
KK, Packard CJ, Bruckert E, et al. Low-
density lipoproteins cause atherosclerotic
cardiovascular disease. 1. Evidence from
genetic, epidemiologic, and clinical studies.
A consensus statement from the European
Atherosclerosis Society Consensus Panel.
Eur Heart J. 2017;38:2459-72. doi:
10.1093/eurheartj/ehx144.

