TP CHÍ Y HC VIT NAM TP 552 - THÁ NG 7 - S ĐẶC BIT - 2025
279
NHÂ N MỘT TRƯỜNG HP BNH ĐÁI HUYẾT SC T KCH PHÁ T
ĐIU TR TI BNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Thế Hiếu1, Tô n Tht Minh Trí1, Phm Th Ngọc Phương1,
Đặng Trn Hu Hiếu1, Nguyễn Thanh Sơn1, Lê Th Yến Nhi1,
Nguyn Th Thanh Minh1, Nguyễn Văn Anh1, Phm Th Phương Ni1
M TT33
M đầu: Đái huyết sc t kch phát (PNH
Paroxysmal Nocturnal Hemoglobinuria) mt
bnh huyết hc mc phi hiếm gặp, do đột
biến gen PIG A (Phosphatidylinositol Glycan
Class A), dẫn đến tan u ni mch qua trung
gian b th, suy tủy nguy huyết khi cao.
Mc nhiu tiến b trong điều tr, PNH vn
mt thách thc do biu hiện lâm sàng đa dạng
kh năng gây biến chng nng. Mc tu:
o o một trường hp PNH có suy thn cp ti
Bnh viện Trung ương Huế. Đối tượng
phương pháp nghiên cứu: Chúng i tiến nh
phâ n ch hi cu một trường hp nam 28 tui,
được chẩn đoán PNH từ m 2022, nhập vin ti
Bnh viện Trung ương Huế vi sốt cao, đau bng
tiêu chy. c t nghim u, sinh a,
nước tiu chẩn đoán hình ảnh được thc hin
để đánh giá tình trạng bnh. Chẩn đoán xác định
bng t nghim tế o ng chy (Flow
Cytometry). Kết qu: Sau 10 ln lc máu liên
tục và điều tr h tr, bnh nhâ n ci thin nh
trng suy thận và được xut vin. Kết lun: Điu
tr h tr ch cc giúp ci thiện tiên lượng trong
bi cảnh chưa tiếp cn được thuc c chế b th.
1BNH VIện Trung ương Huế
Chu trách nhim chính: Thế Hiếu
SĐT: 0914623835
Email: drthehieuvo@gmail.com
Ngà y nhn bà i: 30/04/2025
Ngà y phn bin khoa hc: 15/06/2025
Ngà y duyt bà i: 30/07/2025
T khó a: Đái huyết sc t kch phát, tan máu
ni mch, biến chng huyết khi, suy thận, điều
tr h tr, tế o dò ng chy.
SUM M ARY
A CASE OF PAROXYSMAL
NOCTURNAL HEMOGLOBINURIA
TREATED AT HUE CENTRAL
HOSPITAL
Background: Paroxysmal Nocturnal
Hemoglobinuria (PNH) is a rare acquired
hematologic disorder caused by a mutation in the
PIG-A gene, leading to complement-mediated
intravascular hemolysis, bone marrow failure,
and thrombotic complications. Despite advances
in treatment, PNH remains a challenging disease
due to its heterogeneous presentation and
potential for severe complications. Objective: To
report a case of PNH with acute kidney injury
treated at Hue Central Hospital. Subjects and
methods: A retrospective case analysis was
conducted on a 28-year-old male diagnosed with
PNH in 2022, who was admitted to Hue Central
Hospital with symptoms of high fever,
abdominal pain, and diarrhea. Clinical and
laboratory evaluations, including complete blood
count, biochemical tests, urinalysis, and imaging
studies, were performed to assess disease
progression and complications. Flow cytometry
was used to confirm the diagnosis. Results: After
10 sessions of continuous renal replacement
therapy (CRRT), the patient recovered renal
function and was discharged. Conclusion:
HI NGH KHOA HC TRUYN MÁ U HUYT HC VIT NAM LN 8
280
Supportive care plays a vital role in managing
complications in PNH patients without access to
complement inhibitors.
Keywords: Paroxysmal nocturnal
hemoglobinuria, intravascular hemolysis,
thrombotic complications, renal failure,
supportive care, flow cytometry.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
PNH một bệnh huyết học hiếm gặp
do đột biến gen PIG A trên nhiễm sắc thể
X làm thiếu hụt các Protein Neo GPI
(Glycosylphosphatidylinositol), trong đó
CD55 và CD59 là hai phân tử then chốt ngăn
cản sự hoạt hóa bổ thể trên bề mặt hồng cầu.
Thiếu hụt hai Protein này khiến hồng cầu dễ
bị tấn công bởi bổ thể, gây tan máu nội mạch
[1], [2], [3]. Các biểu hiện lâm sàng thể
nhẹ hoặc nặng, bao gồm thiếu máu mạn tính,
huyết khối, suy thận cấp. Tỷ lệ mắc bệnh rất
thấp, ước tính khoảng 1 1,5 trường
hợp/triệu dân [2], [4]. Tại Việt Nam, chưa có
số liệu cụ thể về tần suất mắc PNH, tuy nhiên
đây bệnh thường phát hiện muộn, chi phí
điều trị cao khó tiếp cận thuốc ức chế bổ
thể (Eculizumab, Ravulizumab) là thách thức
lớn. Nhận diện sớm đợt tan máu kịch phát và
xử trí biến chứng quyết định tiên lượng.
Chúng tôi báo cáo một trường hợp điển hình
PNH được theo dõi tại Bệnh viện Trung
ương Huế, với biểu hiện khởi phát cấp, đái
máu đại thể, nhiễm trùng tiêu hóa suy
thận cấp, nhằm làm đặc điểm diễn tiến
đáp ứng điều trị.
II. ĐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nam, 28 tuổi, tiền sử thiếu máu từ năm
2019, PNH được chẩn đoán từ năm 2022
bằng Flow Cytometry (thiếu hụt CD55/CD59
trên hồng cầu và bạch cầu).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Báo cáo ca lâm sàng. Thu thập thông tin
bệnh sử, triệu chứng lúc nhập viện, các xét
nghiệm huyết học sinh a nước tiểu
hình ảnh học, quá trình điều trị và đáp ứng từ
23/8/2024 đến 05/10/2024.
2.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định
PNH cổ điển dựa theo WHO: Tỷ lệ dòng
bạch cầu hạt hiếu hụt CD55 CD59 trên
50% bằng Flow Cytometry. bằng chứng
tan máu trong lòng mạch (tăng hồng cầu
lưới, tăng Bilirubin gián tiếp, tăng LDH
(Lactate Dehydrogenase), nước tiểu đỏ.
Không có tổn thương tủy xương [1].
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bệnh nhân: NGUYỄN H. N. Q.
Địa chỉ: Phường Đông Ba Thành phố
Huế.
Ngày vào viện: 15h30 - 23/8/2024.
Ngày ra viện: 05/10/2024.
Lí do vào viện: Sốt, đau bụng, tiêu chảy.
Bệnh sử
Trước nhập viện 1 ngày, bệnh nhân xuất
hiện các triệu chứng: sốt cao (39°C), đau
bụng âm vùng hạ vị, tiêu chảy lỏng 6 7
lần/ngày. Dùng thuốc h sốt không đỡ nên
nhập viện.
Tiền sử thiếu máu mạn tính từ năm 2019
thỉnh thoảng nhập viện truyền máu
uống thuốc bổ sắt, đã được xác định PNH
qua Flow Cytometry từ tháng 09/2022 tại
Nhật Bản Viện Huyết học Truyền máu
Trung ương.
TP CHÍ Y HC VIT NAM TP 552 - THÁ NG 7 - S ĐẶC BIT - 2025
281
Bảng 1. Đặc điểm tiền sử của người bệnh
9/2022
Nhật Bản
12/2022
Viện Huyết học Truyền máu
Hb (Hemoglobin) (g/l)
6,7
8,7
HC (hồng cầu) lưới %
4,48
4,45
LDH (Lactate dehydrogenase) (u/l)
1456
2852
Bilirubin toàn phần (TP) (umol/l)
Bình thường
23,1
Haptoglobulin (mg/dl)
6
3
Coombs gián tiếp, trực tiếp
(-)
(-)
Flow Cytometry
HC: CD59 thiếu 52,08%
HC: CD59 thiếu 43%
HC: CD55 thiếu 34,5%
BC (bch cu): CD59 thiếu
68,8%, BC: CD55 thiếu 76%
Khám bệnh: Thể trạng trung bình khá.
Sinh hiệu: Mạch 90 l/ph, huyết áp: 90/60
mmHg, nhiệt độ 39°C. Bệnh mệt nhiều, tiếp
xúc chậm (Glasgow 14 điểm), môi khô, lưỡi
bẩn, chi tím, lạnh m, da niêm mạc nhợt,
vàng mắt, nôn, bụng chướng căng, đau toàn
bụng, chưa tiểu tiện, chưa đại tiện lại. Các cơ
quan khác chưa phát hiện bệnh lí.
Người bệnh được đặt sonde tiểu, nước
tiểu qua sonde màu đen, thể tích khoảng 100
ml.
Cận lâm sàng
Bảng 2. Kết quả xét nghiệm lúc vào viện (23/8)
Thông số
Kết quả
Giá trị bình thường
Công thức máu
Bạch cầu (BC) (K/µl)
9,7
4 10
Hemoglobin (g/dl)
11,5
13 17
MCV (fl)
106,8
85 95
Tiểu cầu (TC) (K/µl)
109
150 450
Phết máu ngoại biên: Giảm 2 dòng máu ngoại vi hồng cầu và tiểu cầu
Chức năng đông máu
PT (Prothrombin time) (s)
16
11 13
APTT (Activated Partial Thromboplastin Time) (s)
35
26 36
Fibrinogen (g/l)
5,1
2 4
D-Dimer (ng/ml)
3658
< 500
Sinh hó a
AST (Aspartate Transaminase) (u/l)
322
< 50
ALT (Alanine Transaminase) (u/l)
54
< 50
Creatinin (μmol/l)
184,23
59 104
Bilrubin TP (μmol/l)
62,8
3,4 17,1
Bilirubin trực tiếp (μmol/l)
3,7
0 7
LDH (u/l)
1852
140 280
HI NGH KHOA HC TRUYN MÁ U HUYT HC VIT NAM LN 8
282
Procalcitonin (PCT)(ng/ml)
22 ng/ml
< 0,05
Chỉ số lọc cầu thận ước tính (eGFR) ước tính ban đầu < 15 ml/phút/1,73 m²
Nước tiểu
Hồng cầu
+++
-
Bạch cầu
++
-
Glucose
++
-
Protein
+
-
pH
Acid (4,8)
5,5 7,5
Siêu âm bụng: Ứ dịch, phù nề thành đại tràng, ruột non
Chẩn đoán: Đau bụng cấp chưa
nguyên nhân (CRNN)/Đái huyết sắc tố
CRNN/Td nhiễm khuẩn đường tiết niệu/Suy
thận cấp/Cảnh giác huyết khối tĩnh mạch sâu.
Chuyển Khoa Hồi sức ch cực
(HSTC) tiếp tục điều trị.
Quá trình điều trị
Tại khoa HSTC bệnh nhân vẫn sốt cao
liên tục, khó thở nhiều, bụng chướng căng.
Tiểu máu qua sonde khoảng 100ml/24h, tế
bào vi trùng niệu 30% hồng cầu méo mó.
Bệnh nhân được chẩn đoán theo dõi bệnh
vi mạch huyết khối Chỉ định thay huyết
tương liên tục từ 24 26/8, tuy nhiên thay
huyết tương không hiệu quả.
Hội chẩn với khoa Huyết học lâm sàng
chẩn đoán: PNH biến chứng suy thận cấp
sau nhiễm trùng nghi từ tiêu hóa. Thống nhất
phương pháp điều trị: Kháng sinh mạnh tích
cực phối hợp Corticoid liều thấp 1 mg/kg cân
nặng lọc máu liên tục. Tiếp tục cấy máu,
cấy phân, nước tiểu để tìm vi khuẩn gây
bệnh.
Ngày 5 (27/8): Bắt đầu lọc máu liên
tục. Tổng cộng 10 lần.
Bệnh nhân được làm tủy đồ (30/8):
Giảm 2 dòng tế bào máu (HC, TC), hình ảnh
đại thực bào hoạt hóa thực bào máu.
Sau mỗi lần lọc, lượng nước tiểu tăng
dần, Creatinin giảm dần (Biểu đồ 1).
Biểu đồ 1. Diễn tiến lượng nước tiểu và Creatinine
TP CHÍ Y HC VIT NAM TP 552 - THÁ NG 7 - S ĐẶC BIT - 2025
283
Biểu đồ 2. Diễn tiến của Hemoglobin và tiểu cầu
Ngoài việc lọc máu, điều trị nhiễm trùng
bằng các kng sinh: Meropenem,
Amikacin… hạ huyết áp: Nicardipin; duy trì
Corticoid liều thấp. Bệnh nhân còn được
truyền các chế phẩm máu: Hồng cầu khối,
tiểu cầu khối, duy trì Hb > 8g/dl; số lượng
tiểu cầu (TC) > 30 g/l (Biểu đồ 2).
Trong quá trình lọc u, bệnh nhân
buồn nôn, đau đầu, bụng chướng nhẹ, táo
bón, tăng huyết áp, nhưng tình trạng này
được cải thiện theo thời gian. Sau 10 lần lọc
máu, lượng nước tiểu của bệnh nhân bắt đầu
tăng, Creatinin giảm, lâm sàng ổn nên
chuyển Huyết học lâm sàng tiếp tục điều trị
15/9/2024.
Bệnh nhân được ra viện ngày 5/10 sau
hơn 40 ngày điều trị tích cực với tình trạng
lâm sàng ổn định, nước tiểu 2,5l/24h.
IV. BÀN LUẬN
Về nguyên nhân: Bệnh nhân tiền sử
bệnh PNH, vào viện sốt cao, đau bụng, đi
cầu phân lỏng 6 7 lần/ngày, nôn. Siêu âm
bụng hình ảnh dịch, phù nề thành đại
tràng, ruột non gợi ý tình trạng nhiễm trùng
đường tiêu hóa, đây được xem yếu tố khởi
phát làm bộc lộ bệnh cảnh lâm sàng của PNH
[4], [5], [6], [7].
Về phân loại bệnh: Trường hợp này
biểu hiện điển hình của PNH cổ điển với đái
huyết sắc tố, thiếu máu, tăng LDH, giảm
Haptoglobin, tăng Bilirubin gián tiếp test
Coombs â m tính [1], [2], [3], [7].
bệnh nhân chúng tôi ghi nhận sự thiếu
hụt CD55, CD59 trên c dòng hồng cầu
bạch cầu, chưa ghi nhận tổn thương tủy, phù
hợp với PNH cổ điển được ghi nhận trong y
văn. Tỷ lệ hồng cầu thiếu CD59 trong hai lần
xét nghiệm Flow Cytometry có sự chênh lệch
(52,08% và 43%). Sự khác biệt này có thể do
dao động tự nhiên của dòng PNH theo thời
gian, ảnh hưởng của truyền máu làm pha
loãng tế bào bất thường, hoặc khác biệt kỹ
thuật giữa các phòng xét nghiệm. Đáng lưu
ý, kết quả trên bạch cầu cho thấy tỷ lệ dòng
PNH cao, ít bị ảnh hưởng bởi truyền máu, do
đó phản ánh chính xác hơn kích thước dòng
bệnh. Tuy nhiên vẫn cần kiểm tra lại số
lượng CD55, CD59 hồng cầu bạch cầu lúc
chẩn đoán sinh thiết tủy xương để sự
đánh giá, theo dõi điều trị phù hợp [3],
[4], [7], [8].