
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
207
TỶ LỆ THAI PHỤ CÓ KHÁNG THỂ TPO-AB DƯƠNG TÍNH
Ở THAI KỲ QUÝ 1
Lê Thị Mai Dung1, Nguyễn Thy Khuê2, Phan Thị Hằng3,
Lê Huỳnh Cẩm Tú1, Đặng Ngọc Yến Dung3, Trương Thị Ánh Tuyết3,
Phạm Nguyễn Hữu Phúc3, Phạm Nguyên Huân3, Hứa Thị Mỹ Huyền3,
Bùi Thị Kim Tuyền3, Nguyễn Thị Hồng Nhung3, Lê Thị Mỹ Ngọc1,
Lê Thị Thu Ngân1, Nguyễn Thị Kim Ngân1, Lâm Vĩnh Niên1
TÓM TẮT29
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ TPO-
Ab dương tính và mối liên quan giữa kháng thể
TPO-Ab với các đặc điểm của thai phụ ở thai kỳ
quý 1.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng gồm 168 thai phụ mang thai từ 11 đến
13 tuần 6 ngày. Phương pháp nghiên cứu: cắt
ngang mô tả. Các đối tượng được thu thập thông
tin bao gồm tuổi mẹ, tuổi thai, các yếu tố liên
quan đến thai kỳ, tiền sử bệnh tuyến giáp, đái
tháo đường và tiền sử sinh non, thai nhẹ cân, sảy
thai, thai chết lưu. Thai phụ được xác định tình
trạng bệnh lý tuyến giáp thai kỳ hiện tại bao
gồm cường giáp và suy giáp. Thực hiện các xét
nghiệm định lượng TPO-Ab, FT4 và TSH theo
kỹ thuật miễn dịch điện hóa phát quang trên hệ
thống máy Cobas e801 của hãng Roche
Diagnostic. Phân tích số liệu trên phần mềm
SPSS statistic 27.
1Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
2Nguyên trưởng Bộ môn Nội tiết, Đại học Y
Dược Thành phố Hồ Chí Minh
3Bệnh viện Hùng Vương Thành Phố Hồ Chí Minh
Chịu trách nhiệm chính: Lê Thị Mai Dung
Email: lethimaidung@ump.edu.vn
Ngày nhận bài: 1-6-2025
Ngày phản biện: 6-6-2025
Ngày duyệt bài: 8-6-2025
Kết quả: Số thai phụ dương tính với kháng
thể TPO-Ab ở thai kỳ quý 1 là 14 ca, chiếm tỷ lệ
8,3%. TPO-Ab dương tính có liên quan đến tiền
sử mắc bệnh tuyến giáp của thai phụ. Không tìm
thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa
TPO-Ab dương tính với bệnh lý tuyến giáp vào
thời điểm hiện tại của thai kỳ cũng như các yếu
tố tuổi mẹ, BMI, tuổi thai, tiền sử đái tháo
đường, tiền sử sảy thai, thai nhẹ cân và nồng độ
FT4, TSH trong nhóm đối tượng nghiên cứu.
Kết luận: Tỷ lệ TPO-Ab ở thai phụ mang
thai từ 11 đến 13 tuần 6 ngày đến khám thai tại
Bệnh viện Hùng Vương là 8,33%. TPO-Ab
dương tính có liên quan đến tiền sử bệnh lý tuyến
giáp ở thai phụ.
Từ khóa: TPO-Ab FT4 TSH, bệnh lý tuyến
giá thai kỳ, kháng thể kháng giáp thai kỳ
SUMMARY
PREVALENCE OF TPO-AB
POSITIVITY IN PREGNANT WOMEN
DURING THE FIRST TRIMESTER
Objective: To determine the prevalence of
TPO-Ab positivity and its association with
maternal characteristics in pregnant women
during the first trimester.
Subjects and Methods: The study included
168 pregnant women at 11 to 13 weeks and 6
days of gestation, employing a cross-sectional
descriptive study design. Information was
collected on maternal age, gestational age,

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
208
factors related to pregnancy, and medical history
including thyroid disease, diabetes, and history of
preterm birth, low birth weight, miscarriage, and
stillbirth. The current thyroid condition of the
pregnant women was assessed, focusing on
hyperthyroidism and hypothyroidism.
Quantitative assays for TPO-Ab, FT4, and TSH
were performed using electrochemiluminescence
immunoassay techniques on the Cobas e801
system from Roche Diagnostics. Statistical
analysis was conducted using SPSS Statistics
version 27.
Results: The number of pregnant women
positive for TPO-Ab antibodies in the first
trimester was 14 cases, accounting for 8.3%.
Positive TPO-Ab was associated with a history
of thyroid disease in the pregnant women.
However, no statistically significant correlation
was found between positive TPO-Ab and thyroid
disease at the current stage of pregnancy, as well
as with maternal age, BMI, gestational age,
history of diabetes, history of miscarriage, low
birth weight, and levels of FT4 and TSH in the
study group.
Conclusion: The prevalence of TPO-Ab in
pregnant women at 11 to 13 weeks and 6 days
attending check-ups at Hung Vuong Hospital was
8.33%. TPO-Ab positivity was associated with a
history of thyroid disease in pregnant women.
Keywords: TPO-Ab, FT4, TSH, thyroid
disease in pregnancy, thyroid antibodies in
pregnancy.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Kháng thể kháng giáp TPO-Ab là một
dấu ấn sinh học quan trọng phản ánh các rối
loạn tự miễn đối với tuyến giáp, đặc biệt là
trong thời kỳ mang thai. Tỷ lệ dương tính với
TPO-Ab dao động từ 8% đến 27% ở phụ nữ
trong độ tuổi sinh sản2. Trong tam cá nguyệt
đầu tiên phụ nữ có mức kháng thể TPO-Ab
cao có liên quan đến biến chứng thai kỳ sớm
như sảy thai và sinh non5. Phụ nữ mang thai,
đặc biệt là những người có tiền sử rối loạn
chức năng tuyến giáp hoặc có bệnh tự miễn
cần được sàng lọc tìm TPO-Ab để theo dõi
tình trạng sức khỏe và đánh giá rủi ro đối với
các kết quả thai kỳ bất lợi. Trong nghiên cứu
này chúng tôi tiến hành khảo sát tỷ lệ TPO-
Ab dương tính ở thai phụ có tuổi thai từ 11
đến 13 tuần 6 ngày tại Bệnh viện Hùng
Vương Thành Phố Hồ Chí Minh, xem xét
mối liên quan giữa kháng thể TPO-Ab và
TSH, FT4, giữa kháng thể TPO-Ab với các
yếu tố của mẹ, tiền sử bệnh và tình trạng
tuyến giáp hiện tại của thai phụ.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm 168 thai phụ
có tuổi thai từ 11 đến 13 tuần 6 ngày đến
khám thai tại Bệnh viện Hùng Vương từ
tháng 2 đến tháng 4 năm 2025, trong đó có
119 thai phụ được thực hiện cả 3 xét nghiệm
TPO-Ab, TSH và FT4, có 49 thai phụ chỉ
làm xét nghiệm TPO-Ab.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu
cắt ngang mô tả, chọn mẫu thuận tiện.
Tiêu chí chọn mẫu: Thai phụ mang thai
từ 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày, mang thai đơn
và thụ thai tự nhiên.
Tiêu chí loại mẫu: Thai phụ đã cắt bỏ
tuyến giáp.
Thu thập dữ liệu: Các thông tin của thai
phụ bao gồm tuổi mẹ, tuổi thai, cân nặng,
chiều cao, tình trạng cao huyết áp, bệnh lý
tuyến giáp thai kỳ và tiền sử thai kỳ bất lợi
bao gồm tiền sử mắc bệnh tuyến giáp, thai
nhẹ cân, sinh non, sảy thai, thai chết lưu, gia
đình có người mắc bệnh tuyến giáp, đái tháo
đường được ghi đầy đủ vào phiếu điều tra
nghiên cứu.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
209
Thực hiện xét nghiệm: Định lượng
kháng thể TPO-Ab, FT4 và TSH trên hệ
thống máy Cobas e801 theo kỹ thuật miễn
dịch điện hóa phát quang, sử dụng thuốc thử,
hiệu chuẩn và huyết thanh kiểm tra của hãng
Roche Diagnostic.
Tiêu chuẩn đánh giá: Anti-TPO ≥ 34
IU/l => Dương tính ( ATA 2011)
Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Excel-
Microsoft 365 và SPSS statistic 27 để phân
tích số liệu.
Đạo đức nghiên cứu: Đề tài thực hiện
theo giấy “Chấp thuận của hội đồng đạo đức
trong nghiên cứu y sinh học Đại Học Y Dược
Thành Phố Hồ Chí Minh”- Số 3565/ĐHYD-
HĐĐĐ V/v chấp thuận các vấn đề đạo đức
nghiên cứu y sinh học ngày 14 tháng 11 năm
2024 và Số 1189/ĐHYD-HĐĐĐ V/v chấp
thuận các vấn đề đạo đức nghiên cứu y sinh
học ngày 28 tháng 11 năm 2023.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên
168 đối tượng có thai từ 11 tuần đến 13 tuần
6 ngày. Có gần 60% thai phụ có độ tuổi dưới
35 tuổi, 93,5% thai phụ mang thai ở tuần thứ
11và12. Thai phụ mang thai lần 1 và lần 2
chiếm 70%. Về tiền sử sản khoa chủ yếu là
tiền sử sảy thai và thai chết lưu (19%), tiền
sử bệnh tuyến giáp có 3 trường hợp (1,8%)
đều là các trường hợp cường giáp. Về tình
trạng bệnh lý tuyến giáp hiện tại của thai
phụ, chúng tôi ghi nhận có 27 ca cường giáp
(22,7%) và 20 ca suy giáp(16,8%) trong số
119 thai phụ được thực hiện cả 3 xét nghiệm
TSH, FT4 và TPO-Ab.
Không có sự khác biệt về tỷ lệ TPO-Ab
dương tính giữa các nhóm tuổi thai, tuổi mẹ,
BMI, số lần mang thai và tình trạng tăng
huyết áp ở thai phụ cũng như không tìm thấy
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ
TPO-Ab dương tính trên các nhóm thai phụ
có tiền sử sinh non, sảy thai, tiền sử gia đình
mắc bệnh tuyến giáp và tiền sử đái tháo
đường. Quan sát trên nhóm đối tượng có tiền
sử bệnh tuyến giáp chúng tôi thấy có 2 ca có
TPO-Ab dương tính trong số 3 ca có tiền sử
cường giáp, không có ca nào có tiền sử suy
giáp.
Số trường hợp thai phụ có TPO-Ab
dương tính ở nhóm thai phụ cường giáp là 3
ca (11,1%), suy giáp là 1ca (5,0%) và bình
giáp là 4 ca (5,6%), sự khác biệt không có ý
nghĩa thống kê.
Biểu đồ 1: Tỷ lệ thai phụ có TPO-Ab dương tính
Nhận xét: số thai phụ có kháng thể TPO-Ab dương tính chiếm 8,33% trong tổng số đối
tượng nghiên cứu.

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
210
Bảng 1. Nồng độ FT4 và TSH trên hai nhóm TPO-Ab dương tính và âm tính
TPO-Ab dương tính
TPO-Ab âm tính
Giá trị P
Mann-Whitney U Test
Trung vị
(khoảng tứ phân vị)
Trung vị
(khoảng tứ phân vị)
FT4 (ng/dL)
1,14 (1,06-1,318)
1,09 (0,99-1,21)
0,21
TSH (µIU/mL)
0,96 (0,10-2,10)
1,05 (0,39-1,50)
0,62
Nhận xét: Không có sự khác biệt giữa hai nhóm TPO-Ab âm tính và TPO-Ab dương tính
về giá trị trung vị nồng độ FT4 và TSH.
Bảng 2. Mối liên quan giữa TPO-Ab dương tính và các đặc điểm thai phụ ở thai kỳ
quý I
Biến số
TPO-Ab dương tính
OR thô
(KTC 95%)
Giá trị p
OR hiệu chỉnh
(KTC 95%)
Giá trị P
Tuổi mẹ
0,9 (0,38-2,09)
0,81
0,8 (0,31-2,1)
0,66
BMI
3,09 (0,36-26,1)
0,3
3,03 (0,27-33,17)
0,36
Tuổi thai
1,64 (0,71-3,82)
0,24
1,72 (0,6-4,92)
0,31
Tiền sử thai nhẹ cân
0,26 (0,02-2,66)
0,25
1,3 (0,02-58,41)
0,89
Tiền sử sinh non
0,26 (0,02-2,66)
0,25
0,29 (0,005-18,25)
0,56
Tiền sử mắc bệnh tuyến giáp
0,3 (0,12-0,7)
0,005
0,33 (0,12-0,88)
0,02
Tiền sử đái tháo đường thai kỳ
0,4 (0,04-3,79)
0,42
0,28 (0,02-3,68)
0,33
Nhận xét: Kháng thể TPO-Ab dương
tính có liên quan đến tiền sử mắc bệnh tuyến
giáp ở thai phụ (OR=0,33, KTC 95%: 0,12-
0,88). Không có mối liên quan nào giữa
TPO-Ab dương tính và các yếu tố khác trong
thai kỳ.
IV. BÀN LUẬN
❖ Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Trong số 168 thai phụ ở nghiên cứu của
chúng tôi, thai phụ có tuổi dưới 35 chiếm
nhiều nhất, tuần thai chủ yếu rơi vào tuần thứ
11 và 12 tuần. Thai phụ có tiền sử sản khoa
bất lợi và tiền sử bệnh tuyến giáp chiếm tỷ lệ
thấp. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá của
ATA chúng tôi ghi nhận tỷ lệ cường giáp là
22,7%, suy giáp là 16,8% trong số 119 thai
phụ được thực hiện cả 3 xét nghiệm TSH,
FT4 và TPO-Ab. Thai phụ có tuổi trung bình
lớn hơn so với nghiên cứu của Đỗ Thị Tuyết
Nhung và cộng sự1, về tuổi thai và tỷ lệ rối
loạn chức năng tuyến giáp gần tương đồng.
❖ Tỷ lệ TPO-Ab dương tính ở thai kỳ
quý 1
Số thai phụ có kháng thể TPO-Ab được
xác định dương tính là 14 trường hợp chiếm
tỷ lệ 8,33%. Kết quả của chúng tôi thấp hơn
so với nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Tuyết
Nhung và cộng sự1 với tỷ lệ TPO-Ab dương
tính là 14,7% do chúng tôi nghiên cứu chỉ
trong 3 tuần thai 11, 12 và 13 tuần và phân
tích mẫu trên hệ thống thiết bị khác. Tỷ lệ
TPO-Ab dương tính ở thai phụ có mức dao
động khác nhau giữa các nghiên cứu, vào
giai đoạn mang thai và chủng tộc1,3. Sự hiện
diện của TPO-Ab trong thai kỳ, đặc biệt
trong tam cá nguyệt đầu tiên đã được xác
định là một yếu tố nguy cơ tiềm tàng đối với
các biến chứng thai kỳ như sảy thai, sinh non
và rối loạn chức năng tuyến giáp6,7.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
211
Xem xét về tỷ lệ TPO-Ab dương tính
theo các yếu tố thai kỳ chúng tôi thấy tỷ lệ
cao nhất ở nhóm tuổi 18-24 tuổi (10,0%) và
trên 35 tuổi (9,4%), tuần thai 12 là 10,2% và
tuần 13 là 9,1%. Nhóm BMI >25 có tỷ lệ cao
hơn nhóm BMI <25. Thai phụ có số lần
mang thai là 4 có tỷ lệ TPO-Ab dương
(12,5%) cao hơn các trường hợp mang thai
dưới 4 lần. Các trường hợp có TPO-Ab
dương tính đều có huyết áp bình thường.
Những tỷ lệ này được quan sát trên nhóm đối
tượng nghiên cứu tuy nhiên sự khác biệt
không có ý nghĩa thống kê.
Về tiền sử thai kỳ chúng tôi tìm thấy tỷ lệ
TPO-Ab dương tính trong nhóm tiền sử bệnh
tuyến giáp cao hơn nhóm không có tiền sử
bệnh tuyến giáp. Các trường hợp có tiền sử
bệnh tuyến giáp đều là cường giáp. Tại thời
điểm nghiên cứu có 2 ca dương tính với
TPO-Ab trong đó 1 ca vẫn được xác định là
cường giáp. Tỷ lệ TPO-Ab dương tính cao
hơn ở các nhóm có tiền sử sinh non, nhẹ cân,
và tiền sử đái tháo đường, tuy nhiên sự khác
biệt này không có ý nghĩa thống kê. Về tình
trạng tuyến giáp hiện tại của thai phụ, tỷ lệ
TPO-Ab dương tính ở các nhóm cường giáp,
suy giáp và bình giáp lần lượt là 11,1%,
5,0% và 5,65 % không khác biệt có ý nghĩa
thống kê. Tác giả Đỗ thị Tuyết Nhung1 đã
tìm thấy tỷ lệ TPO-Ab dương ở nhóm suy
giáp cao hơn bình giáp. Nghiên cứu của
chúng tôi chưa tìm thấy sự khác biệt này có
thể do số trường hợp rối loạn chức năng
tuyến giáp có kháng thể TPO-Ab dương tính
trong mẫu nghiên cứu của còn thấp (có 4
trường hợp ). TPO-Ab được tìm thấy có liên
quan đến các bệnh lý suy giáp2, mặc dù vậy
trong nhóm đối tượng nghiên cứu của chúng
tôi chỉ có 1 trường hợp suy giáp nên chúng
tôi chưa tìm thấy có mối liên quan này. Có 3
trường hợp có tiền sử cường giáp, tới thời
điểm nghiên cứu có 2 ca TPO-Ab dương
tính.
❖ Mối liên quan giữa TPO-Ab và nồng
độ FT4, TSH, tiền sử bệnh lý tuyến giáp ở
thai phụ
Về nồng độ FT4, TSH chúng tôi chưa tìm
thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa
nhóm TPO-Ab dương tính và âm tính (Bảng
1). Nghiên cứu4 với cỡ mẫu lớn đã cho thấy
TPO-Ab tăng có tương quan tích cực với
nồng độ TSH trong khi thường liên quan
nghịch với nồng độ FT4.
Về mối liên quan giữa TPO-Ab dương
tính và tiền sử mắc bệnh tuyến giáp ở thai
phụ. Chúng tôi tìm thấy có mối liên quan
giữa nhóm TPO-Ab dương tính và tiền sử
bệnh tuyến giáp (OR= 0,33, p=0,02) (Bảng
2). Tỷ lệ TPO-Ab dương tính là 66,7% trong
nhóm tiền sử bệnh lý tuyến giáp so với 7,3%
trong nhóm tiền sử không mắc bệnh tuyến
giáp. Các ca có tiền sử bệnh lý tuyến giáp
đều là các trường hợp được chẩn đoán cường
giáp trước khi mang thai và đã điều trị,
ngừng uống thuốc khoảng 1 năm trở lên.
Không có ca nào có tiền sử suy giáp hay
bướu giáp trước đây và có 1 ca hiện vẫn đang
trong tình trạng cường giáp. Mối liên quan
này cho thấy các thai phụ mắc bệnh tuyến
giáp trong quá khứ có thể có mức kháng thể
TPO-Ab cao và vẫn tồn tại tới thời điểm hiện
tại.
❖ TPO-Ab và các yếu tố khác ở thai
phụ
Nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy
mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa TPO-
Ab dương tính và các yếu tố như tuổi mẹ,
BMI, tuổi thai, tiền sử đái tháo đường thai
kỳ, tiền sử sảy thai, hay thai nhẹ cân. Một số
nghiên cứu đã tìm thấy tỷ lệ TPO-Ab dương
tính cao hơn ở nhóm thai phụ có tiền sử đái
tháo đường thai kỳ2 hay nghiên cứu cho thấy
có mối liên quan đến tiền sử sảy thai, sinh
non, thai chết lưu1. Tác giả Rajput R và cộng

