
HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
406
TÌNH HÌNH NHIỄM LIÊN CẦU KHUẨN NHÓM B (GROUP B
STREPTOCOCCUS) VÀ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA CÁC THAI PHỤ
KHÁM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2023-2024
Nguyễn Lương Nhã Phương1, Ngô Minh Quân1, Nguyễn Thị Vân1,
Nguyễn Thanh Tài1, Nguyễn Văn Tân Minh1, Trần Thị Thanh Nga1
TÓM TẮT52
Đặt vấn đề: Liên cầu khuẩn nhóm B (Group
B Streptococcus: GBS) là tác nhân hàng đầu gây
nhiễm khuẩn sơ sinh khởi phát sớm. Tầm soát
GBS ở thai phụ và dự phòng kháng sinh phù hợp
là yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát nhiễm
khuẩn GBS sơ sinh.
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ
GBS dương tính ở thai phụ và đặc điểm kháng
sinh đồ của các chủng GBS phân lập được tại
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP. Hồ Chí Minh
từ năm 2023 đến 2024.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện dựa
trên dữ liệu từ hệ thống thông tin xét nghiệm của
thai phụ được tầm soát GBS tại Bệnh viện Đa
khoa Tâm Anh TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn
2023–2024. Các biến số thu thập bao gồm kết
quả nuôi cấy GBS, kháng sinh đồ, tuổi mẹ, tuổi
thai và tình trạng đái tháo đường thai kỳ. Phân
tích thống kê được tiến hành để đánh giá mối
1Trung tâm Xét nghiệm, Bệnh viện Đa khoa Tâm
Anh TP. Hồ Chí Minh
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Lương Nhã
Phương
SĐT: 0907040037
Email: phuongnln1@tahospital.vn
Ngày nhận bài: 11/08/2025
Ngày phản biện khoa học: 14/08/2025
Ngày duyệt bài: 15/08/2025
tương quan giữa các biến lâm sàng và tình trạng
GBS dương tính.
Kết quả: Tỷ lệ GBS dương tính trên thai phụ
được tầm soát là 27,2% trong năm 2023
(n=1.406) và 29,3% trong năm 2024 (n=2.468).
Trong cả hai năm, các chủng GBS cho thấy tỷ lệ
nhạy cảm cao với penicillin (100% và 99,3%),
ampicillin (100% và 99,5%) và cefazolin
(100%). Tỷ lệ nhạy cảm với clindamycin thấp
đáng kể (24,87% năm 2023 và 25,5% năm 2024).
Phân tích phân nhóm cho thấy không có mối liên
quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi mẹ, tuổi thai
hoặc đái tháo đường thai kỳ với tình trạng GBS
dương tính.
Kết luận: Tỷ lệ GBS dương tính trên thai
phụ ở mức cao, cho thấy tầm quan trọng của việc
tầm soát GBS thường quy trong thai kỳ.
Penicillin, ampicillin và cefazolin tiếp tục là các
lựa chọn kháng sinh dự phòng ưu tiên.
Clindamycin không được khuyến cáo do tỷ lệ đề
kháng cao. Không tìm thấy mối liên quan có ý
nghĩa thống kê giữa tuổi mẹ, tuổi thai hoặc đái
tháo đường thai kỳ với nguy cơ nhiễm GBS trên
thai phụ.
Từ khóa: GBS
SUMMARY
PREVALENCE AND ANTIBIOTIC
SUSCEPTIBILITY OF GROUP B
STREPTOCOCCUS IN PREGNANT
WOMEN AT TAM ANH GENERAL
HOSPITAL, HO CHI MINH CITY

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
407
Introduction: Group B Streptococcus (GBS)
is a leading cause of early-onset neonatal
infections. Routine antenatal screening for GBS
and appropriate intrapartum antibiotic
prophylaxis are critical strategies for preventing
neonatal GBS disease.
Objective: This study aimed to determine
the prevalence of GBS colonization and
characterize the antimicrobial susceptibility
patterns of GBS isolates among pregnant women
at Tam Anh TP. Ho Chi Minh General Hospital,
during the period 2023–2024.
Methods: A descriptive cross-sectional
study was conducted using data extracted from
the laboratory information system of pregnant
women screened for GBS at Tam Anh TP. Ho
Chi Minh General Hospital from 2023 to 2024.
Data collected included GBS culture results,
antibiotic susceptibility profiles, maternal age,
gestational age, and gestational diabetes mellitus
(GDM) status. Statistical analyses were applied
to assess associations between GBS colonization
and clinical variables.
Results: The prevalence of GBS
colonization was 27.2% in 2023 (n = 1,406) and
29.3% in 2024 (n = 2,468). In both years, GBS
isolates exhibited high susceptibility to penicillin
(100% and 99.3%), ampicillin (100% and
99.5%), and cefazolin (100%). However,
susceptibility to clindamycin was notably low
(24.87% in 2023 and 25.5% in 2024). Subgroup
analyses revealed no statistically significant
associations between GBS colonization and
maternal age, gestational age, or GDM status.
Conclusion: The high prevalence of GBS
colonization among pregnant women underscores
the importance of routine antenatal GBS
screening. Penicillin, ampicillin, and cefazolin
remain the first-line options for intrapartum
antibiotic prophylaxis. Clindamycin is not
recommended due to a high resistance rate. No
significant associations were identified between
GBS colonization and maternal age, gestational
age, or gestational diabetes.
Keywords: GBS
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Liên cầu khuẩn nhóm B (Group B
Streptococcus - GBS) là vi khuẩn gram
dương thường trú tại đường tiêu hóa và niệu
dục của phụ nữ, thường không gây bệnh trên
người trưởng thành. Tuy nhiên, GBS có thể
lây truyền từ mẹ sang con gây nhiễm khuẩn
sơ sinh, với các bệnh cảnh nặng như nhiễm
khuẩn huyết, viêm phổi và viêm màng não,
có tỷ lệ tử vong và di chứng thần kinh cao
nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời
[6],[7],[8].
Đường lây truyền chính của GBS là từ
mẹ sang con trong quá trình sinh qua ngả âm
đạo hoặc khi vỡ ối sớm [5],[6]. Việc tầm soát
GBS trên thai phụ bằng kỹ thuật nuôi cấy
mẫu phết âm đạo - trực tràng trong những
tuần cuối của thai kỳ (36 tuần đến 37 tuần 6
ngày) kết hợp với sử dụng kháng sinh dự
phòng khi chuyển dạ giúp giảm tỷ lệ nhiễm
khuẩn GBS sơ sinh [5]. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ
nhiễm GBS sơ sinh đã giảm đáng kể từ 1,8
ca/1000 trẻ sơ sinh vào đầu những năm 1990
xuống còn 0,26 ca/1000 trẻ sơ sinh vào năm
2010 nhờ vào chiến lược sàng lọc và điều trị
dự phòng kháng sinh hợp lý [5].
Tỷ lệ thai phụ mang GBS dao động từ
10% đến 30% tùy theo từng vùng địa lý và
quần thể nghiên cứu [5]. Khoảng 50% số trẻ
sinh qua ngả âm đạo từ các bà mẹ mang GBS
sẽ bị lây truyền trong quá trình sinh nở nếu
không có can thiệp kháng sinh dự phòng,
trong đó 1–2% trẻ sẽ phát triển thành bệnh lý
nhiễm khuẩn sơ sinh do GBS [5]. Tại Việt
Nam, một số nghiên cứu đã ghi nhận tỷ lệ
mang GBS ở thai phụ dao động trong khoảng

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
408
từ 9,2% đến 26%, với sự biến động theo địa
phương và phương pháp xét nghiệm
[1],[3],[4].
Trên cơ sở tầm quan trọng của việc sàng
lọc và dự phòng GBS trong thai kỳ, nghiên
cứu này được thực hiện với mục tiêu xác
định tỷ lệ GBS dương tính ở thai phụ được
tầm soát tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2023–
2024, đồng thời phân tích đặc điểm kháng
sinh đồ của các chủng GBS phân lập được.
Ngoài ra, nghiên cứu còn khảo sát mối liên
quan giữa tình trạng mang GBS với các yếu
tố như tuổi mẹ, tuổi thai, và tình trạng đái
tháo đường thai kỳ.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương
pháp hồi cứu, cắt ngang mô tả, sử dụng dữ
liệu được thu thập từ hệ thống dữ liệu xét
nghiệm của Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
TP. Hồ Chí Minh.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm các thai phụ
đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2023-2024,
được tầm soát GBS bằng kỹ thuật nuôi cấy
mẫu phết âm đạo – trực tràng.
Tiêu chuẩn nhận vào
Các thai phụ đến khám tại Bệnh viện Đa
khoa Tâm Anh TP. Hồ Chí Minh trong giai
đoạn 2023–2024, được thực hiện tầm soát
GBS bằng phương pháp phết âm đạo – trực
tràng, có dữ liệu lưu trữ trên hệ thống xét
nghiệm, bao gồm: tuổi mẹ, thông tin chẩn
đoán, kết quả cấy vi khuẩn và kháng sinh đồ
của chủng GBS phân lập.
Tiêu chuẩn loại trừ
Loại khỏi nghiên cứu các trường hợp thai
phụ không có đầy đủ dữ liệu trên hệ thống,
thiếu một trong các thông tin về các biến số
nghiên cứu.
Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện, bao
gồm toàn bộ các trường hợp thai phụ thỏa
tiêu chuẩn nhận vào trong khoảng thời gian
nghiên cứu. Tổng số mẫu được thu thập bao
gồm 1406 mẫu trong năm 2023 và 2468 mẫu
trong năm 2024, với tổng cộng 3874 mẫu
phân tích.
Biến số nghiên cứu
Tuổi mẹ, tuổi thai, tình trạng đái tháo
đường thai kỳ, kết quả cấy GBS
Công cụ nghiên cứu
Thu thập mẫu: Mẫu phết hậu môn - trực
tràng được thu thập từ các thai phụ được chỉ
định tầm soát GBS, sử dụng que tăm bông vô
trùng. Sau khi thu thập, que phết được bảo
quản trong môi trường vận chuyển và vận
chuyển đến phòng xét nghiệm trong vòng 2
giờ kể từ thời điểm lấy mẫu.
Nuôi cấy và phân lập vi khuẩn: Mẫu phết
được cấy vào môi trường tăng sinh Todd
Hewitt Broth có bổ sung kháng sinh (colistin
sulphate 10 mg/L và nalidixic acid 15 mg/L)
nhằm ức chế các vi khuẩn không mong
muốn. Các ống tăng sinh được ủ ở nhiệt độ
35–37°C, khí trường 5% CO₂, trong vòng
18–24 giờ. Sau khi ủ, dịch nuôi cấy được cấy
chuyển lên thạch máu và thạch MELAB
Chromogenic Strepto B (Melab, Việt Nam).
Các hộp thạch tiếp tục được ủ ở 35–37°C,
khí trường 5% CO₂ trong vòng 18–24 giờ.
Định danh và kháng sinh đồ: Các khuẩn
lạc nghi ngờ Streptococcus nhóm B được
định danh sử dụng hệ thống tự động Vitek 2
Compact (bioMérieux, Pháp). Kháng sinh đồ
được thực hiện trên cùng hệ thống. Kết quả
kháng sinh đồ được phiên giải theo tiêu
chuẩn của Viện Tiêu chuẩn Lâm sàng và
Phòng thí nghiệm Hoa Kỳ (Clinical and

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
409
Laboratory Standards Institute - CLSI), tài
liệu M100, phiên bản cập nhật hàng năm tại
thời điểm nghiên cứu.
Xử lý số liệu
Dữ liệu được nhập liệu và phân tích bằng
phần mềm SPSS 26. So sánh được thực hiện
bằng kiểm định t-test và Chi bình phương.
Mức ý nghĩa thống kê được xác định với
ngưỡng p < 0,05.
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên dữ liệu
hồi cứu từ hệ thống quản lý xét nghiệm, hoàn
toàn không can thiệp vào đối tượng nghiên
cứu. Danh tính người bệnh được bảo mật
tuyệt đối, chỉ sử dụng dữ liệu ẩn danh cho
mục đích phân tích thống kê. Nghiên cứu đã
được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y
sinh học của Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
TP. Hồ Chí Minh phê duyệt.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện trên tổng số
3.874 thai phụ được tầm soát liên cầu khuẩn
nhóm B (GBS) tại Bệnh viện Đa khoa Tâm
Anh trong giai đoạn 2023-2024, bao gồm
1406 thai phụ trong năm 2023 và 2.468 thai
phụ trong năm 2024. Tỷ lệ GBS dương tính
chung của toàn bộ quần thể nghiên cứu là
28,5% (n=1105). Tuổi mẹ trung bình của
toàn bộ mẫu nghiên cứu là 31,38 (± 4,24)
tuổi, tuổi thai trung bình tại thời điểm lấy
mẫu là 35,55 (±1,82) tuần. Tỷ lệ thai phụ có
đái tháo đường thai kỳ là 29,3% (n = 1134).
Bảng 1. Các đặc điểm của thai phụ trong nghiên cứu (n: số ca)
Đặc điểm
Năm 2023
Năm 2024
Toàn bộ mẫu
Tổng số thai phụ tầm soát GBS
1406
2468
3874
Tuổi mẹ (năm)
30,98 ± 4,26
31,60 ± 4,22
31,38 ± 4,24
Tuổi thai tại thời điểm lấy mẫu (tuần)
35,59 ± 1,72
35,53 ± 1,87
35,55 ± 1,82
Tỷ lệ thai phụ có đái tháo đường thai kỳ
26,4% (n=371)
30,9% (n=763)
29,3% (n=1134)
Tỷ lệ GBS dương tính
27,2% (n=382)
29,3% (n=723)
28,5% (n=1105)
3.1. Phân tích đặc điểm tuổi mẹ và tuổi
thai theo tình trạng nhiễm GBS
Năm 2023, tuổi mẹ trung bình của nhóm
GBS âm tính là 31,03 tuổi (95% CI: 30,76–
31,29) và nhóm GBS dương tính là 30,86
tuổi (30,47–31,26), sự khác biệt không có ý
nghĩa thống kê (p = 0,255). Tuổi thai trung
bình lần lượt là 35,62 tuần (35,52–35,72) ở
nhóm GBS âm tính và 35,53 tuần (35,34–
35,71) ở nhóm GBS dương tính, không có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,255);
tuổi thai dao động từ 17 đến 39 tuần ở cả hai
nhóm.
Năm 2024, tuổi mẹ trung bình của nhóm
GBS âm tính là 31,75 tuổi (31,56–31,95),
thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm GBS
dương tính là 31,24 tuổi (30,39–31,54) (p =
0,006). Tuổi thai trung bình ở nhóm âm tính
là 35,50 tuần (35,40–35,59) và nhóm dương
tính là 35,59 tuần (35,49–35,70), sự khác biệt
không có ý nghĩa thống kê (p = 0,947); tuổi
thai dao động từ 14 đến 39 tuần ở nhóm âm
tính và từ 12 đến 39 tuần ở nhóm dương tính.
3.2. Liên quan giữa tình trạng đái tháo
đường thai kỳ và tỷ lệ nhiễm GBS
Trong năm 2023, tỷ lệ GBS dương tính ở
nhóm thai phụ có đái tháo đường thai kỳ là
28,3%, trong khi ở nhóm không mắc đái tháo
đường thai kỳ là 24,0%. Sự khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê (p = 0,109),
không ghi nhận được mối liên quan đáng kể
giữa đái tháo đường thai kỳ và tình trạng

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
410
nhiễm GBS. Tương tự, năm 2024 ghi nhận tỷ
lệ GBS dương tính ở nhóm mắc đái tháo
đường thai kỳ là 29,9% và ở nhóm không
mắc là 28,0%, sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê (p = 0,362).
3.3. Đặc điểm kháng sinh đồ của các
chủng GBS phân lập
Bảng 2. Tính nhạy cảm kháng sinh của các chủng GBS phân lập được trên thai phụ
năm 2023 (n: số ca)
Kháng sinh
Tính nhạy cảm kháng sinh của GBS năm 2023 (Tổng số chủng: 382)
Nhạy
Trung gian
Kháng
n
%
n
%
n
%
Penicillin
382
100
0
0
0
0
Ampicillin
382
100
0
0
0
0
Cefazolin
382
100
0
0
0
0
Cefotaxime
382
100
0
0
0
0
Ceftriaxone
382
100
0
0
0
0
Clindamycin
95
25,0
11
2,9
274
72,1
Erythromycin
103
27,1
25
6,6
252
66,3
Moxifloxacin
354
92,9
5
1,3
22
5,8
Trimethoprim/
Sulfamethoxazole
368
96,8
11
2,9
2
0,5
Chloramphenicol
318
83,3
1
0,3
63
16,5
Linezolid
382
100
0
0
0
0
Tetracycline
32
8,4
0
0
347
91,6
Vancomycin
382
100
0
0
0
0
Kháng sinh đồ được phân tích trên 382
chủng GBS năm 2023 và 723 chủng năm
2024. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhạy cảm với
các kháng sinh beta-lactam (penicillin,
ampicillin, cefazolin, cefotaxime,
ceftriaxone) duy trì ở mức cao (từ 99,3% đến
100%) qua cả hai năm. Linezolid và
vancomycin đạt tỷ lệ nhạy cảm 100% ở cả
hai năm.
Tỷ lệ nhạy cảm của moxifloxacin và
trimethoprim/sulfamethoxazole lần lượt đạt
92,9% và 96,8% trong năm 2023, tăng lên
96,3% và 94,7% trong năm 2024.
Clindamycin và erythromycin ghi nhận tỷ lệ
kháng cao lần lượt là 72,1% và 66,3% năm
2023, duy trì mức kháng cao 71,7% và
64,6% năm 2024. Tetracycline có tỷ lệ kháng
rất cao, vượt trên 91% trong cả hai năm.

