
1
Hội chứng hoại tử gan tụy cấp ở
tôm nuôi nước lợ: nguyên nhân
và giải pháp phòng ngừa
Trước tình hình dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, kéo dài, Lãnh đạo Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn xác định việc tìm nguyên nhân gây bệnh và giải
pháp phòng trị là nhiệm vụ cấp bách. Bộ đã giao nhiệm vụ nghiên cứu khẩn cấp
xác định nguyên nhân, tác nhân gây bệnh hoại tử gan tụy cho các Viện Nghiên cứu
nuôi trồng thuỷ sản I, II, III, Viện Môi trường nông nghiệp và Cục Thú Y do Tổng
cục Thuỷ sản chủ trì.
Nghiên cứu có sự hợp tác của Trường Đại học Cần Thơ, Viện Công nghệ sinh học,
Viện Hải dương học và các chuyên gia bệnh và môi trường thuỷ sản : Gs. Donal
Lightner (Đại học Arizona, Hoa Kỳ), Gs. Tim Flegel (Đại Học Mahidol, Thái
Lan), Gs. Claude Boyd (Đại học Auburn, Hoa Kỳ). Báo cáo này tổng hợp những
kết quả chủ yếu, mới nhất của các nhóm nghiên cứu trong và ngoài nước về Hội
chứng hoại tử gan tuỵ ở tôm nuôi nước lợ.
1. Hội chứng hoại tử gan tụy cấp ở tôm nước lợ

2
Hội chứng gan tụy cấp tính (tên tiếng Anh là Acute Hepatopancreatic Necrosis
Syndrome - AHPNS) hay còn gọi là Hội chứng chết sớm (Early Mortality
Syndrome - EMS) xuất hiện lần đầu tiên tại Trung Quốc (2009), Việt Nam (2010),
Malaysia (2010) và Thái Lan (2012) đã gây ra những thiệt hại nặng nề cho nghề
nuôi tôm.
Tại Trung Quốc, hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính xuất hiện lần đầu năm 2009
nhưng không được chú ý. Đến năm 2011, dịch đã lan rộng ở 4 tỉnh gồm Quảng
Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến và Hải Nam (Leaño và Mohan, 2012). Tại Malaysia
AHPNS/EMS xuất hiện lần đầu vào giữa năm 2010 tại 2 bang Pahang and Joho,
sau đó lan ra các bang Sabah và Sarawak (Othman, 2012). Tại Thái Lan các mẫu
tôm chân trắng thu tại 2 tỉnh Chantaburi và Rayong vào cuối năm 2011 đầu năm
2012 cho thấy tôm có các dấu hiệu giống Hội chứng AHPNS/EMS (Prachumwat
và ctv. 2012).
Ở nước ta, hội chứng hoại tử gan tụy cấp xuất hiện tại các vùng nuôi tôm ở đồng
bằng sông Cửu long từ năm 2010. Năm 2011, 2012 dịch bệnh tiếp tục xảy ra, tập
trung tại Trà Vinh, Sóc trăng, Kiên Giang và ở một số tỉnh ven biển phía Bắc: Hải
Phòng, Quảng Ninh, Bắc Trung bộ: Thanh Hóa, Nghệ An, Nam Trung bộ: Quảng
Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.
2. Nghiên cứu Hội chứng hoại tử gan tụy ở tôm
Để xác định nguyên nhân, tác nhân gây bệnh, các nghiên cứu đã tập trung vào
những vấn đề sau : Xây dựng định nghĩa bệnh, bản đồ dịch tễ, vai trò của các yếu
tố vô sinh như nhiệt độ, độ mặn, Amonia tổng số, H2S, NH3, NO2, thuốc bảo vệ
thực vật, vai trò của các yếu tố hữu sinh như tảo độc, vi khuẩn, vi-rút, ký sinh trùng
và bacteriophage và các chế phẩm sinh học liên quan, thức ăn dùng trong nuôi tôm
đến hội chứng hoại tử gan tụy ở tôm.
Định nghĩa bệnh
Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính gây chết tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở giai
đoạn 15 - 40 ngày sau khi thả nuôi. Tôm ngừng ăn, bơi chậm, vỏ mỏng, màu tôm
nhợt nhạt. Gan tụy có biểu hiện sưng, nhũn, teo. Dựa trên biến đổi cấu trúc mô
học, 5 tiêu chí để xác định hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính là:
1. Thoái hoá cấp gan tụy.
2. Thiếu hoạt động phân bào đẳng nhiễm của tế bào có nguồn gốc từ mô phôi (tế
bào E, Embyonalzellen)

3
3. Rối loạn chức năng các tế bào trung tâm tổ chức gan tuỵ: Tế bào tiết - B
(Basenzellen), tế bào xơ - F (Fibrillenzellen), tế bào dự trữ - R (Restzellen).
4. Các tế bào có nhân lớn bất thường và sự bong tróc tế bào.
5. Giai đoạn cuối các tế bào máu tập hợp ở khoảng giữa các ống gan và nhiễm
khuẩn.
Dịch tễ hội chứng hoại tử gan tụy ở tôm
Năm 2012, hội chứng hoại tử gan tụy ở tôm nuôi xảy ra ở 19 tỉnh thành ven biển
miền Bắc, miền Trung và Nam bộ. Tổng diện tích bị bệnh theo báo cáo là 46.093
ha. Các tỉnh bị bệnh nặng nhất là Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc liêu, Cà Mau, Bến Tre
và Kiên Giang. Diện tích nuôi tôm được báo cáo bị hội chứng hoại tử gan tụy cấp
chủ yếu căn cứ vào dấu hiệu hình thái bệnh, thiếu phân tích mô bệnh học đặc trưng

4
để khẳng định, do vậy diện tích tôm nuôi ở nước ta bị hội chứng hoại tử gan tuỵ
cấp thực tế có thể sẽ ít hơn (46.903 ha) số liệu đã báo cáo ở trên.
Hội chứng hoại tử gan tụy xảy ra ở cả tôm sú và tôm thẻ chân trắng, chủ yếu ở các
vùng nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, xảy ra ở hầu hết các tháng trong năm.
Mức độ dịch bệnh trầm trọng nhất từ tháng 4 đến tháng 7, chiếm 75% tổng diện
tích báo cáo bị bệnh trong cả năm. Các vùng nuôi có độ mặn thấp tỷ lệ mắc bệnh ít
hơn so với vùng nuôi có độ mặn cao. Các tháng nhiệt độ thấp, vào mùa mưa, tỷ lệ
xuất hiện bệnh thấp hơn các tháng mùa khô, nhiệt độ cao.
Hội chứng hoại tử gạn tụy ở tôm giống
Phân tích 322 mẫu tôm giống, bao gồm: 203 mẫu tôm giống từ 53 trại sản xuất tôm
giống ở các tỉnh Phú Yên, Bình Định, Khánh Hòa và Ninh Thuận, 6 mẫu tôm
giống trước khi thả nuôi ở các tỉnh Phía Bắc và 113 mẫu tôm giống ở khu vực
đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, nhiều mẫu tôm giống nhiễm vi khuẩn. 53,8%
mẫu tôm giống thu ở các trại giống khu vực miền Trung nhiễm vi khuẩn Vibrio,
phổ biến là các loài V. parahaemolyticus, V. harveyi và V. vulnificus. Đã phát hiện
3 mẫu tôm giống bị hoại tử gan tụy cấp với các dấu hiệu mô học đặc trưng theo
định nghĩa bệnh. Số mẫu tôm khác tuy không có dấu hiệu mô bệnh học đặc trưng
của hội chứng hoại tử gan tụy cấp, nhưng khoảng 15% số mẫu tôm có dấu hiệu bất
thường ở tổ chức gan tụy. Số lượng hạt mỡ ít hơn bình thường, tế bào gan có nhân
phình to, nhân bị chia thành nhiều phần có hình dạng và kích thước khác nhau.
Thuốc bảo vệ thực vật, tảo độc và hoại tử gan tụy ở tôm
Thuốc bảo vệ thực vật phát hiện thấy trong nước và bùn đáy ở hầu hết các ao nuôi
tôm ở các địa phương phía Bắc, miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long. Đó là
Cypermethrin, Deltamethrin, Permethrin, Chlopyrifos, Fenitrothion, Hexaconazole.
Lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trong nước ao dao động từ 0,04 – 0,17 µg/L và
0,12 – 9µg/kg bùn đáy ao, tương đương, thậm chí cao hơn nồng độ thuốc bảo vệ
thực vật đã gây chết tôm giống trong điều kiện thực nghiệm.
Tồn dư thuốc bảo vệ thực vật phát hiện ở cả các ao tôm bị hội chứng hoại tử gan
tụy và ở cả ao tôm không có hội chứng hoại tử gan tụy. Nghiên cứu thực nghiệm
đánh giá ảnh hưởng của Cypermethrin (0.01-0,5 ppb trong nước và 50 – 400 ppb
trong bùn) đến hoại tử gan tụy ở tôm giống. Tuy gây tôm chết ở nồng độ rất thấp,
nhưng không thấy ở tôm chết có dấu hiệu hoại tử gan tụy cấp đặc trưng.
Phân tích thành phần và số lượng tảo độc trong các ao nuôi tôm đã phát hiện một
số loại tảo độc như Microcystis, Oscillatoria, Prorocentrum minimum …. Tuy

5
nhiên, không thấy sự khác biệt rõ rệt giữa ao tôm bị bệnh và ao tôm không bị bệnh
về thành phần và số lượng tảo độc.
Thức ăn, chế phẩm sinh học và hoại tử gan tụy ở tôm
Phân tích một số loại thức ăn nuôi tôm không thấy sự hiện diện của các loại chất
độc như Hexaconazole, Abamectin, Emamectin Benzoate trong thức ăn.
Kiểm tra 25 loại chế phẩm sinh học đang dùng khá phổ biến trong nuôi tôm cho
thấy, nhiều loại chế phẩm sinh học có chất lượng rất thấp, một số chế phẩm thậm
chí không có dòng vi sinh chính hoặc hàm lượng vi sinh vật thấp hơn rất nhiều so
với chất lượng đăng ký và công bố trên nhãn hàng hoá. Điều nguy hiểm và đáng
quan tâm là một số chế phẩm sinh học có nhiễm các vi khuẩn thuộc giống Vibrio,
có chế phẩm nhiễm vi khuẩn V. parahaemolyticus tới 3x103 CFU/g.
Ký sinh trùng, vi-rút, vi khuẩn, bacteriophage và hoại tử gan tụy ở tôm
Nghiên cứu vai trò của ký sinh trùng, vi-rút, vi khuẩn với hội chứng hoại tử gan
tụy ở tôm nuôi đã thu mẫu tôm hoại tử gan tụy từ các vùng nuôi tôm trong cả nước.
Kết quả phân tích cho thấy, không thấy ngoại ký sinh trùng ở tôm bệnh, một vài
mẫu tôm bệnh phát hiện trùng 2 tế bào. Tuy nhiên, không thấy vai trò của trùng 2
tế bào đến hoại tử gan tụy ở tôm nuôi.
Các vi-rút đã biết như WSSV, YHV, TSV, IHHNV chỉ thấy ở một vài mẫu tôm
hoại tử gan tụy, không thấy vai trò của các loại vi-rút nói trên với hội chứng hoại
tử gan tụy ở tôm.
Phát hiện nhiều vi khuẩn ở tôm bị hội chứng hoại tử gan tụy ở tất cả các vùng nuôi
tôm, trong đó vi khuẩn Vibrio chiếm thành phần chủ yếu và phổ biến nhất là các
loài V. parahaemolyticus, V. harveyi, V. vulnificus.
Nghiên cứu khả năng lây nhiễm hội chứng hoại tử gan tuỵ ở tôm, một loạt các thực
nghiệm cảm nhiễm bệnh đã được tiến hành. Tôm giống khoẻ được thí nghiệm lây
nhiễm thông qua nuôi chung với tôm bệnh, cho ăn thức ăn có trộn gan tuỵ thu từ
tôm bệnh, ngâm tôm trong môi trường có gan tuỵ thu từ tôm bệnh, tiêm dịch chiết
gan tuỵ tôm bệnh. Các thực nghiệm được tiến hành ở các nồng độ gây nhiễm khác
nhau, thời gian khác nhau. Kết quả cho thấy: Hiện tượng lây nhiễm xảy ra ở tôm
thí nghiệm, tuy nhiên mức độ lây nhiễm không cao, dường như mức độ lây nhiễm
phụ thuộc vào điều kiện môi trường. Tôm bị hội chứng hoại tử gan tụy khi được
chuyển tới môi trường nước sạch đã giảm tỷ lệ chết, có khả năng phục hồi.

