intTypePromotion=1
ADSENSE

Hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm: Thực trạng và kiến nghị

Chia sẻ: ViDoha2711 ViDoha2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

27
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết phân tích thực trạng hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm ở các khía cạnh: (i) mục đích của sự hợp tác, (ii) cơ sở pháp lý của sự hợp tác, (iii) nội dung hợp tác. Đồng thời, bài viết đưa ra một số kiến nghị về việc tiếp tục đổi mới hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm để ngăn ngừa và trấn áp tội phạm hiệu quả hơn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm: Thực trạng và kiến nghị

  1. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG PHÒNG NGỪA VÀ ĐẤU TRANH VỚI TỘI PHẠM: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ Nguyễn Thị Phương Hoa* * PGS. TS. Phó Trưởng Khoa Luật hình sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Thông tin bài viết: Tóm tắt: Từ khóa: Tội phạm, hợp tác quốc tế, dẫn Bài viết phân tích thực trạng hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và độ, tương trợ tư pháp về hình sự đấu tranh với tội phạm ở các khía cạnh: (i) mục đích của sự hợp tác, (ii) cơ sở pháp lý của sự hợp tác, (iii) nội dung hợp tác. Đồng Lịch sử bài viết: thời, bài viết đưa ra một số kiến nghị về việc tiếp tục đổi mới hợp Nhận bài : 19/08/2019 tác quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm để ngăn Biên tập : 24/08/2019 ngừa và trấn áp tội phạm hiệu quả hơn. Duyệt bài : 28/08/2019 Article Infomation: Abstract Keywords: criminals; international This article provides analysis of the international cooperation cooperation; extradition of criminal; in prevention and fights against the criminals in the following mutual legal assistance in criminal aspects: (i) purpose of cooperation, (ii) legal ground of Article History: cooperation, (iii) contents of cooperation. Also, the article provides recommendations on the continuation of international Received : 19 Aug. 2019 cooperation in prevention and fights to suppress the criminals Edited : 24 Aug. 2019 more effectively. Approved : 28 Aug. 2019 1. Hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và mở đầu hoặc điều khoản quy định về mục đấu tranh với tội phạm đích của Điều ước. Với mục đích như vậy, Mục đích của sự hợp tác nội dung của sự hợp tác thường bao gồm các Mục đích của sự hợp tác chi phối rất vấn đề: xác định các hành vi mà các quốc sâu sắc nội dung và hoạt động hợp tác cụ gia thành viên cần phải coi là tội phạm (tội thể, vì thế xác định đúng mục đích hợp tác phạm hóa), xác lập và thực hiện quyền tài quốc tế trong cuộc chiến với tội phạm rất phán, dẫn độ, tương trợ tư pháp về hình sự quan trọng. Một mục đích rất rõ ràng và và tịch thu tài sản do phạm tội mà có. được chấp nhận rộng rãi trong hợp tác quốc Mục đích thứ hai trong hợp tác quốc tế đấu tranh với tội phạm là trấn áp, xử lý tội tế về đấu tranh với tội phạm cũng rất quan phạm. Nhiều điều ước quốc tế về đấu tranh trọng là phòng ngừa tội phạm. Ngăn ngừa với tội phạm đã nêu rõ vấn đề này trong lời trước để tội phạm không xảy ra là sự kiểm 16 Số 20(396) T10/2019
  2. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT soát chủ động đối với tội phạm. Vì vậy, và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”, phòng ngừa tội phạm cũng là một mục đích “xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội quan trọng của sự hợp tác. Để đạt đến mục nhập quốc tế”.2 Trên tinh thần của Nghị đích này, nội dung hợp tác thường bao gồm quyết, Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước các vấn đề: trao đổi thông tin, nghiên cứu, quốc tế và hoàn thiện khung pháp lý quốc hỗ trợ kỹ thuật, áp dụng một số biện pháp gia để thực hiện hợp tác quốc tế đấu tranh phòng ngừa. với tội phạm. Trong thời gian qua, Việt Nam đã hợp Ký kết các điều ước quốc tế tác với các nước về cả hai mục đích đã nêu. Các quy phạm pháp luật quốc tế về Điều này có thể thấy rõ trong các khía cạnh hợp tác trong phòng ngừa và trấn áp tội sau đây. phạm không chỉ hiện diện trong các điều Thứ nhất, đối với hợp tác đa phương, ước chuyên biệt đấu tranh với tội phạm như: nội dung các điều ước quốc tế đấu tranh với Công ước của Liên hợp quốc về chống tội tội phạm thường được thiết kế để đạt đến cả phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000, hai mục đích trên. Khi gia nhập các điều ước Công ước của Liên hợp quốc về chống tham này, Việt Nam đều tham gia cả các nội dung nhũng năm 2003… Quy phạm pháp luật liên quan đến xử lý tội phạm và phòng ngừa1. quốc tế đấu tranh với tội phạm còn hiện Thứ hai, đối với hợp tác song phương, diện trong các điều ước quốc tế điều chỉnh Việt Nam đã ký kết với một số nước các các vấn đề khác nhưng chứa đựng một số Hiệp định song phương về phòng ngừa tội quy định về các hành vi bị cấm và nghĩa vụ phạm. Ví dụ: Hiệp định giữa Chính phủ của các quốc gia thành viên trong phòng, Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chống tội phạm. Ví dụ, Điều 27 Điều ước và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về hợp quốc tế về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), tác song phương nhằm loại trừ nạn buôn Điều 3 Công ước Geneva về Cải thiện điều bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em và kiện của người bị thương, bị bệnh, bị tai nạn giúp đỡ nạn nhân bị buôn bán năm 2009. trong lực lượng hải quân năm 1949 (Geneva Như vậy, Việt Nam đã xác định đúng đắn Convention II). mục đích của hợp tác quốc tế trong cuộc đấu Từ những phân tích nêu trên, có thể tranh với tội phạm. nói rằng, Việt Nam đã chủ động tham gia Cơ sở pháp lý của sự hợp tác và trở thành thành viên của nhiều điều ước Đánh giá đúng vai trò quan trọng của quốc tế chuyên biệt đấu tranh với tội phạm cơ sở pháp lý cho hoạt động hợp tác quốc cũng như những điều ước về các vấn đề tế trong cuộc đấu tranh với tội phạm, Nghị chung nhưng trong đó có chứa đựng quy quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ định về đấu tranh với tội phạm. Trong phạm Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn vi bài viết này, chúng tôi tập trung vào các thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm điều ước quốc tế chuyên biệt đấu tranh với 2010, định hướng đến năm 2020 đã khẳng tội phạm3. Những điều ước này có thể phân định: “chủ động hội nhập quốc tế”, “xây loại thành ba nhóm sau: các điều ước quốc dựng và hoàn thiện pháp luật về quốc phòng tế đa phương toàn cầu, các điều ước quốc tế 1 Ví dụ, xem Các công ước của Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy năm 1961, 1971 và 1988; Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000; Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn năm 1984; Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003. 2 Xem Tiểu Mục 2.2 Phần I, Mục và 6 Phần II Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. 3 Ở những chỗ cần thiết, tác giả sẽ đề cập đến các điều ước không chuyên biệt đấu tranh với tội phạm nhưng có nhiều nội dung liên quan đến hành vi phạm tội. Số 20(396) T10/2019 17
  3. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT đa phương khu vực và các điều ước quốc tế điều ước quốc tế của ASEAN, bao gồm một song phương4. số điều ước quan trọng như: Về các điều ước quốc tế đa phương - Điều ước quốc tế của ASEAN về toàn cầu đấu tranh với tội phạm, Việt Nam chống khủng bố năm 2007; đã là thành viên của nhiều điều ước quan - Điều ước quốc tế của ASEAN về trọng gồm: tương trợ tư pháp hình sự năm 2004; - Các điều ước đấu tranh với tội phạm - Điều ước của ASEAN về chống buôn diệt chủng, tội phạm liên quan đến nô lệ, tội bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm phạm chiến tranh, tội phạm liên quan đến 2015. bắt giữ con tin, có thể kể đến là: Điều ước về Về các điều ước quốc tế song phương, nô lệ năm 1926, Điều ước chống diệt chủng Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định song năm 1948, Các điều ước Geneva năm 1949 phương về tương trợ tư pháp hình sự và về hành vi bị cấm trong chiến tranh (liên dẫn độ, bao gồm cả các đối tác truyền thống quan đến tội phạm chiến tranh) và các Nghị như: Nga, Belarusia, Ucraina, Trung Hoa, định thư bổ sung, Điều ước quốc tế chống Cu-ba, Mông Cổ, Ba Lan, Hungari, Lào, bắt giữ con tin năm 1979; Campuchia, Indonesia, Philippines, Triều - Điều ước về phòng ngừa và chống Tiên... và các đối tác mới trong và ngoài khu các tội phạm chống lại những người được vực như: Ấn Độ, Hàn Quốc, Singapore, Tây bảo vệ quốc tế, bao gồm những người đại Ban Nha, Úc, Angeria. diện ngoại giao năm 1973; Hoàn thiện khung pháp lý quốc gia - Điều ước đấu tranh với tra tấn và các Bên cạnh việc ký kết các điều ước hành vi đối xử vô nhân đạo: Công ước của quốc tế, Việt Nam cũng thực hiện các biện Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hành vi đối xử vô nhân đạo năm 1984; pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, cụ thể: - Các điều ước đấu tranh với tội phạm khủng bố: trong lĩnh vực này hiện có 19 văn Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 đã bổ kiện bao gồm điều ước và các nghị định thư sung và hoàn thiện nhiều quy định làm kim bổ sung (trong đó 3 văn kiện gồm 1 điều ước chỉ nam cho hoạt động hợp tác quốc tế trong và 2 nghị định thư chưa phát sinh hiệu lực), đấu tranh với tội phạm. Ví dụ, khoản 2 Điều Việt Nam đã tham gia 12 điều ước trong số 17 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Công dân 16 điều ước đã có hiệu lực;5 Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.” Điều 31 Hiến pháp năm - Các điều ước đấu tranh với tội phạm 2013 quy định các quyền tư pháp hình sự. về ma túy; Thứ hai, Luật Tương trợ tư pháp năm - Điều ước đấu tranh với tội phạm 2007 cùng với các văn bản hướng dẫn thi có tổ chức xuyên quốc gia: Công ước của hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức động hợp tác quốc tế trong đấu tranh với tội xuyên quốc gia năm 2000; phạm. Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là - Điều ước quốc tế về đấu tranh với tội văn bản pháp lý đầu tiên quy định tương đối phạm tham nhũng: Công ước của Liên hợp đầy đủ về các hình thức và nội dung hợp tác quốc về chống tham nhũng năm 2003. trong đấu tranh với tội phạm gồm: dẫn độ, Về các điều ước quốc tế đa phương tương trợ tư pháp về hình sự và chuyển giao toàn cầu, Việt Nam là thành viên của các người đang chấp hành án phạt tù. 4 Thuật ngữ điều ước quốc tế được định nghĩa tại khoản 1 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế năm 2016. 5 Xem http://www.un.org/en/counterterrorism/legal-instruments.shtml [truy cập 14/6/2019] 18 Số 20(396) T10/2019
  4. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thấy người phạm tội có thể thực hiện tội được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS), phạm trên lãnh thổ của nhiều quốc gia hoặc Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Bộ luật ẩn náu trên lãnh thổ của quốc gia khác với TTHS) và các văn bản hướng dẫn thi hành nơi thực hiện tội phạm, vì vậy các nước cần cũng cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động hợp tác với nhau để dẫn độ người phạm tội hợp tác quốc tế đấu tranh với tội phạm. phục vụ cho hoạt động truy cứu trách nhiệm BLHS năm 2015 đã tội phạm hóa nhiều loại hình sự hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực hành vi nguy hiểm mà các điều ước quốc tế pháp luật. Hợp tác dẫn độ rất quan trọng đối yêu cầu quốc gia thành viên phải xác lập là với việc bảo đảm người phạm tội phải gánh tội phạm làm tiền đề cho hoạt động hợp tác. chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm họ Bộ luật TTHS năm 2015 quy định quyền, đã thực hiện cho dù họ ẩn náu ở nơi nào trên nghĩa vụ; trình tự, thủ tục và thẩm quyền của thế giới. Nhiều điều ước quốc tế áp dụng mô các cơ quan và tổ chức, cá nhân trong hoạt hình “truy cứu hoặc dẫn độ” (prosecute or động hợp tác đấu tranh với tội phạm. extradite) đối với các nước thành viên. Việt Nam đã tham gia hợp tác dẫn độ trong nhiều Nội dung hợp tác năm qua. Như trên đã nêu, nội dung hợp tác - Hợp tác tương trợ tư pháp về hình phản ánh mục đích của sự hợp tác và ngược sự: Để truy cứu trách nhiệm hình sự người lại, mục đích của sự hợp tác chi phối sâu sắc phạm tội, Nhà nước cần có chứng cứ về hành nội dung hợp tác. Khảo sát các văn bản pháp vi phạm tội của họ và theo quy định về bảo luật liên quan đến hợp tác quốc tế trong đấu đảm quyền con người trong tố tụng hình sự. tranh với tội phạm cho thấy, Việt Nam đã Nhà nước cần cung cấp cho họ những thông hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực cụ thể tin liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm sau: hình sự. Vì lẽ ấy, hợp tác tương trợ tư pháp - Hợp tác về tội phạm hóa: Tiền đề về hình sự rất quan trọng để truy cứu trách đầu tiên để các quốc gia phối hợp với nhau nhiệm hình sự người phạm tội. Việt Nam đã trong cuộc đấu tranh với tội phạm là hoạt hợp tác tích cực trong vấn đề này. động tội phạm hóa, có nghĩa là: các quốc - Hợp tác chuyển giao người đang gia thành viên phải cùng thống nhất xác chấp hành án phạt tù: Vì lý do nhân đạo, định những hành vi nguy hiểm nhất định là các nước đã hợp tác với nhau trong việc tội phạm. Một quốc gia (quốc gia được yêu chuyển giao phạm nhân đang chấp hành án cầu) không thể dẫn độ người phạm tội hoặc phạt tù trở về quê hương của họ để tiếp tục thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự cho chấp hành án. Trong nhiều điều ước quốc tế quốc gia khác (quốc gia yêu cầu) khi hành vi đa phương và hiệp định song phương, Việt liên quan không được nước sở tại coi là tội Nam đã hợp tác về vấn đề này. phạm. Đây chính là nguyên tắc tội phạm kép - Hợp tác kiểm soát tội phạm (phòng (double criminality) trong hợp tác quốc tế ngừa tội phạm): Kiểm soát tội phạm có ý đấu tranh với tội phạm. Chính vì vậy, để hợp nghĩa trong phòng ngừa sớm tội phạm. Nội tác với các nước trong cuộc đấu tranh với tội dung hợp tác này được ghi nhận trong nhiều phạm, Việt Nam đã quy định nhiều loại hành điều ước quốc tế chuyên biệt đấu tranh với vi nguy hiểm mà các điều ước quốc tế yêu tội phạm. Việt Nam đã tích cực hợp tác trong cầu các nước thành viên phải xác lập là tội lĩnh vực này và thể hiện rõ ở việc phê chuẩn phạm và nội luật hóa các điều ước quốc tế là tất cả các điều khoản về áp dụng các biện một trong những định hướng sửa đổi, hoàn pháp phòng ngừa sớm nhằm kiểm soát tội thiện BLHS. phạm của các điều ước quốc tế mà Việt Nam - Hợp tác về dẫn độ: Thực tiễn cho là thành viên. Số 20(396) T10/2019 19
  5. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT - Hợp tác hỗ trợ thông tin, kỹ thuật: Nghị định thư 2005 bổ sung Công ước về Nội dung hợp tác này vừa có ý nghĩa đối với trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại phòng ngừa và vừa có ý nghĩa đối với hoạt an toàn hành trình hàng hải, Nghị định 2005 động trấn áp tội phạm. Khảo sát các điều bổ sung về trừng trị hành vi bất hợp pháp ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia cho chống lại an toàn của các công trình cố định thấy, Việt Nam luôn sẵn sàng hợp tác trong trên thềm lục địa. Trong thời gian tới, Việt lĩnh vực này. Nam cần rà soát để tăng cường ký kết, tham - Hợp tác thành lập các tổ chức quốc gia các điều ước đấu tranh với tội phạm. tế đấu tranh với tội phạm: Trong cuộc đấu Tăng cường hợp tác về dẫn độ tranh với tội phạm, bên cạnh năng lực của Khảo sát một số điều ước quốc tế mà từng quốc gia thành viên; các quốc gia còn Việt Nam đã trở thành thành viên, chúng tôi thỏa thuận với nhau thành lập những tổ chức nhận thấy có sự khác nhau trong hợp tác về quốc tế nhất định để thực hiện việc kiểm dẫn độ. Ở một số điều ước, Việt Nam hợp soát, đấu tranh với tội phạm. Có thể kể đến tác về dẫn độ, nhưng ở một số điều ước khác một số tổ chức như: Ủy ban kiểm soát ma lại bảo lưu điều khoản về dẫn độ hoặc đưa ra túy (International Narcotics Control Board), những giới hạn nhất định trong sự hợp tác7. các Tòa án hình sự quốc tế6. Việt Nam đã Có thể lấy ví dụ: Việt Nam bảo lưu các điều hợp tác trong một chừng mực nhất định về khoản hợp tác về dẫn độ trong các Công vấn đề này, ví dụ như việc thành lập Ủy ban ước của Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy, kiểm soát ma túy theo Công ước của Liên đưa ra giới hạn khi tham gia Công ước của hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp Liên hợp quốc về chống tra tấn và trừng phạt chất ma túy và chất hướng thần năm 1988. hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác (năm 1984). 2. Tiếp tục đổi mới hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm Vào năm 1997, khi phê chuẩn các Công ước của Liên hợp quốc về kiểm soát Tăng cường tham gia các điều ước chất ma túy, Việt Nam bảo lưu điều khoản quốc tế về dẫn độ. Cụ thể, đối với Công ước của Như trên đã phân tích, Việt Nam đã Liên hợp quốc về thống nhất kiểm soát chất tham gia nhiều điều ước quốc tế đấu tranh ma túy năm 1961, Việt Nam bảo lưu điểm với tội phạm. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa b khoản 2 Điều 368. Đối với Công ước về tham gia một số điều ước quốc tế quan trọng kiểm soát các chất hướng thần năm 1971, như: Quy chế Tòa án hình sự quốc tế Rome Việt Nam bảo lưu điểm b khoản 2 Điều 229. năm 1998, Công ước 1991 về đánh dấu vật Đối với Công ước của Liên hợp quốc về liệu nổ dẻo để nhận biết, Công ước 2005 về chống buôn bán bất hợp pháp chất ma túy, trừng trị hành vi khủng bố bằng hạt nhân, Việt Nam bảo lưu Điều 610. 6 Ví dụ: Xem Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp chất ma túy và chất hướng thần năm 1988, Quy chế Tòa án hình sự quốc tế Rome năm 1988. 7 Xem https://treaties.un.org/pages/ViewDetails.aspx?src=IND&mtdsg_no=IV-9&chapter=4&lang=en#EndDec về bảo lưu của Việt Nam đối với hợp tác dẫn độ theo Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác1984. 8 https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=VI-18&chapter=6&clang=_en#EndDec [truy cập ngày 8/6/2018]. 9 https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=VI-16&chapter=6&clang=_en#EndDec [truy cập ngày 8/6/2018]. 10 https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=VI-19&chapter=6&clang=_en#18 [truy cập ngày 8/6/2018]. 20 Số 20(396) T10/2019
  6. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT Việt Nam cần gỡ bỏ các điều khoản Tóm lại, từ những góc nhìn về cơ sở bảo lưu này với những lý do sau: pháp lý cho hoạt động hợp tác quốc tế trong Thứ nhất, so sánh nền tảng pháp lý của dẫn độ, tính đồng bộ trong chính sách của Việt Nam đối với hoạt động dẫn độ vào năm Nhà nước đối với các điều ước quốc tế đấu 1997 và hiện nay, có thể nhận thấy một sự tranh với tội phạm và lợi ích quốc gia, chúng phát triển vượt bậc. Trong khi Bộ luật TTHS tôi đề nghị Việt Nam nên gỡ bỏ điều khoản năm 1988 chưa quy định về hợp tác quốc tế bảo lưu về dẫn độ đối với các Công ước của trong phòng, chống tội phạm, Bộ luật TTHS Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy. năm 2003 đã có Chương XXXVII về Dẫn Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp độ và chuyển giao hồ sơ, tài liệu, vật chứng của vụ án. Luật Tương trợ tư pháp về hình luật quốc gia tạo cơ sở pháp lý cho hoạt sự năm 2008 đã tạo ra cơ sở pháp lý vững động hợp tác quốc tế chắc cho Việt Nam trong việc hợp tác với Mặc dù Việt Nam đã có những bước các nước về tư pháp hình sự, trong đó có tiến về hoàn thiện cơ sở pháp lý của quốc hoạt động dẫn độ người phạm tội. Bộ luật gia cho hoạt động hợp tác quốc tế đấu tranh TTHS năm 2015 bổ sung Phần thứ VIII về với tội phạm, hệ thống quy phạm pháp luật Hợp tác quốc tế, trong đó bao hàm những về dẫn độ, tương trợ tư pháp về hình sự vẫn quy định về dẫn độ. Như vậy, có thể thấy còn một số điểm chưa thống nhất. Ví dụ: rằng, cho đến nay, Việt Nam đã có đầy đủ cơ quy định về căn cứ từ chối bắt buộc và tuy sở pháp lý vững chắc cho hoạt động hợp tác nghi đối với dẫn độ trong Bộ luật TTHS và quốc tế trong dẫn độ để đấu tranh hiệu quả Luật Tương trợ tư pháp; quy định về hành với tội phạm nói chung, tội phạm ma túy nói riêng. vi bị cấm trong các Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Phòng, chống mua bán người Thứ hai, đối với nhiều Công ước quốc và Luật Phòng, chống rửa tiền với hành vi tế khác như: Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc khách quan của tội phạm trong BLHS. Vì gia, Công ước của Liên hợp quốc về chống vậy, chúng tôi cho rằng, cần tiếp tục rà soát tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc để khắc phục những điểm chưa đồng bộ về chống tra tấn… mà Việt Nam phê chuẩn giữa các văn bản để tạo ra một cơ sở pháp gần đây đều không bảo lưu điều khoản về lý thống nhất cho hoạt động hợp tác quốc tế dẫn độ. Do vậy, việc bảo lưu về dẫn độ riêng trong đấu tranh với tội phạm. đối với các Công ước của LHQ về kiểm soát Ngoài ra, đối với nội dung hợp tác về chất ma túy dẫn đến tình trạng thiếu nhất tội phạm hóa, Việt Nam vẫn chưa nội luật quán và đồng bộ. hóa chính xác và đầy đủ các hành vi nguy Thứ ba, trong bối cảnh hội nhập quốc hiểm mà một số điều ước quốc tế yêu cầu tế, khu vực và sự phát triển của khoa học các quốc gia thành viên phải tội phạm hóa. công nghệ, người phạm tội không gói gọn Ví dụ, hành vi tham gia tổ chức tội phạm việc thực hiện tội phạm trong biên giới của trong Công ước chống tội phạm có tổ chức một quốc gia, mà khai thác chính những xuyên quốc gia năm 2000, hành vi tra tấn về đặc điểm của tình hình mới để thực hiện tội phạm xuyên quốc gia, đặc biệt là tội phạm tinh thần trong Công ước chống tra tấn năm về ma túy. Theo các báo cáo của UNODC về 1984 hoặc một số hành vi khủng bố trong tình hình tội phạm về ma túy thì Việt Nam các Công ước về chống khủng bố. Vì vậy, vừa là nước trung chuyển vừa là nước tiêu trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục thụ. Chính vì vậy, hợp tác trong dẫn độ sẽ rà soát và nội luật hóa đầy đủ các điều ước giúp cho Việt Nam nói riêng và các nước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia về vấn đề đấu tranh hiệu quả hơn với tội phạm. tội phạm hóa Số 20(396) T10/2019 21
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2