
Lễ hội đền Chúa xã Cổ Nhuế
Thôn Viên, xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm (Hà Nội) có chùa Anh
Linh và đền Chúa là hai di tích kiến trúc văn hóa nghệ thuật gắn
liền với sự kiện lịch sử đời Trần chống giặc Nguyên Mông, đồng
thời gắn với quá trình chiêu dân, lập ấp thành làng Việt Cổ ở xã
Cổ Nhuế với công lao sự nghiệp của công chúa Túc Trinh.
Anh Linh Tự do công chúa Túc Trinh bỏ tiền bạc ra xây dựng,
ngày đêm chăm lo Phật đạo, giáo hóa chúng sinh, dạy dân cày
cấy, lập làng Kẻ Noi (nay là xã Cổ Nhuế). Để tưởng nhớ công ơn
của Bà, nhân dân xã Cổ Nhuế thờ Bà làm Hậu phật tại chùa Anh
Linh và Thiên Phúc. Các đền, miếu trong thôn thờ Bà, lấy tên là
Tối Linh Từ và tôn Bà làm Thần Chủ.
Tương truyền, sau chiến thắng quân Nguyên lần thứ nhất (năm
Mậu Ngọ 1258), để phát triển sản xuất làm cho dân ấm no, quốc
gia hưng thịnh, Vua Trần đã xuống chiếu cho các vương hầu,
công chúa chiêu tập dân phiêu tán để khai khẩn đất hoang, mở
rộng vùng ven kinh thành Thăng Long. Theo chiếu chỉ, công chúa
Túc Trinh, con gái Vua Trần Thánh Tông (1240 -1290), đã rời
cung điện ra vùng phía tây bắc kinh thành Thăng Long. Công
chúa bỏ tiền bạc phát chẩn, cấp vốn cho dân nghèo dựng nhà, vỡ
đất cấy trồng làm ăn sinh sống, thành làng, thành xóm. Sau khi
lập làng Cổ Nhuế Viên, công chúa Túc Trinh đến làng An Nội, xã
Liên Mạc, huyện Từ Liêm để làm tiếp việc ân đức.
Sau này, ngày giỗ công chúa Túc Trinh được tổ chức ở cả hai làng
An Hội và Cổ Nhuế. Đêm 30/7 âm lịch hàng năm, làm lễ mở cửa
đền. Vào giờ Tý ngày mồng 1/8 âm lịch hàng năm, làm lễ mộc
dục và cúng thức. Lễ mộc dục do một vị bô lão trong làng đảm
nhiệm, trang phục chỉnh tề, đầu đội khăn xếp, quần trùng, áo
dài, chân đi hài vân sảo, tất cả đều màu đỏ. Vị bô lão thay mặt
cho cả dân làng làm việc ân đức với Chúa nên hết sức tuân thủ
các điều kiêng kỵ: ăn chay một tháng, không ngủ chung với phụ
nữ... Nước làm lễ mộc dục phải là nước mưa tinh khiết nấu với
ngũ vị hương. Người nấu nước ngũ vị là đàn bà và cũng phải tuân
thủ các điều kiêng cữ như vị bô lão. Trước khi làm lễ, vị bô lão

rửa tay gọi là quán tẩy, vẩy nước hoa vào người, xoa lên mặt,
đầu và hai tay, gọi là tẩy uế.
Sau khi mộc dục cho Chúa Bà, các đồ mã cũ đem đốt, dâng đồ
mới. Y phục cũ của Chúa Bà được người ta tranh nhau lấy phần
đem về để ở bàn thờ tổ tiên với ý nghĩa: có phép mầu nhiệm của
Chúa Bà, gia đình sẽ làm ăn hưng thịnh, tránh mọi điều xấu hoặc
se thành sợi buộc vào cổ tay, chân hay đeo ở cổ cho trẻ con đi
đêm không sợ ma quỷ, đêm ngủ không giật mình. Các bà già
cũng lấy một miếng vải áo của Chúa Bà khâu ở vạt áo hoặc buộc
vào tràng hạt để cầu mong sau này chết được Chúa Bà giúp sức
chầu về cảnh tây phương cực lạc.
Lễ mộc dục xong là đến lễ cúng thức, ông chủ tế đọc chúc văn,
nội dung ca ngợi công đức của công chúa Túc Trinh đối với dân
làng Cổ Nhuế từ xưa tới nay, cầu xin hồng ân của trời đất, phật,
thánh, Chúa Bà ban phúc lành cho quốc thái, dân an.
Sáng ngày mùng 1/8 âm lịch, cúng phật tại chùa Anh Linh, sau
đó về đền Chúa làm lễ khai quang, yên vị xin Chúa cúng giỗ.
Ngày giỗ Chúa gọi là cúng đối kỵ, có dâng lục cúng: hương, hoa,
trà, quả, đăng, thực. Lễ cúng thực gồm có: Cơm tẻ nấu bằng gạo
lật, muối vừng, trám đen muối, giá luộc, tương, canh đậu xanh;
sau nghi lễ cúng thực dâng chè kho, chè lam và kẹo lạc.
Trong ngày giỗ Chúa, dân hai làng Cổ Nhuế và An Nội phải tuân
thủ theo lệ: Không rước tượng Chúa đi viễn du, không đốt pháo
từ ngày 25/7 - 2/8 âm lịch. Ngày giỗ Chúa toàn dân làm cỗ chay,
ăn chay. Những sản vật trong từng nhà sản xuất được đem dâng
lễ tại đền như: mít, dừa, lựu, chuối, na, cam, mía, khoai luộc...
Ngoài ra, các gia đình, ngõ xóm nằm trên trục đường xã Cổ Nhuế
- Chèm đều sắm hoa quả, vàng, hương, đèn nến, oản, phẩm, đặt
lên một chiếc bàn con kê ngoài rìa đường, dâng lên đức Chúa Bà,
cầu xin Chúa ban phúc cho gia đình, làng xóm khỏe mạnh, làm
ăn hưng thịnh, vạn vật sinh sôi, nảy nở. Đêm ngày giỗ Chúa, tại
đền có tổ chức hát chèo, diễn tuồng, múa lân, múa rồng, đọc và
bình thơ rất sôi nổi.
Lễ hội đền Chử Đồng Tử

Lễ hội Chử Ðồng Tử hàng năm diễn ra trong 3 ngày từ ngày 10 đến ngày
12 tháng 3 âm lịch tại đền thờ Chử Ðồng Tử thuộc làng Ða Hoà, huyện
Châu Giang, tỉnh Hưng Yên, cách Hà Nội hơn 20 km.
Ðức Thánh Chử Ðồng Tử là một trong "Tứ bất tử" của người Việt- một anh
hùng văn hoá và anh hùng khai phá (chinh phục đầm lầy, mở mang nghề
nông, phát triển buôn bán...).
Sau lễ khai mạc ôn lại truyền thuyết về cuộc đời và những hoạt động của
đức thánh Chử Ðồng Tử và nhị vị phu nhân là lễ rước nước.
Ði đầu đám rước là 2 con rồng vàng lộng lẫy do 10 người điều khiển uốn
lượn theo nhịp trống phách. Ðoàn rước kiệu là đội tế nữ với xiêm y đẹp,
đủ màu sắc. Ðám rước có ban nhạc lễ, kiệu thánh, bát bửu, kíp chấp, ché
đựng nước. Ðoàn rước ngồi trên hàng chục chiếc thuyền ra đến giữa sông
múc nước đổ vào ché rồi quay về đền để làm lễ tắm tượng.
Sau lễ dâng hương là các trò vật võ, đánh gậy cờ người, múa sư tử, hát
chèo...
Lễ hội Cổ Loa
Ðịa điểm: Xã Cổ Loa, huyện Ðông Anh, Hà Nội.
Cổ Loa là di tích lịch sử nổi tiếng nằm trên địa phận
huyện Ðông Anh cách trung tâm Hà Nội khoảng 17
km về phía Tây Bắc, là một vùng thành trì lớn, một
dấu tích vật chất về kiến trúc quân sự và thành cổ
cách đây hơn 2 thiên niên kỷ. Ðây là thủ đô thứ hai
của Việt Nam, sau Phong Châu (tỉnh Phú Thọ hiện
nay - là thủ đô thời các vua Hùng).
Thành Cổ Loa gắn liền với câu chuyện An Dương Vương và Nhà nước
Âu Lạc cuối thời Hùng Vương.
Tuy phải làm chứng cho một câu chuyện buồn về sự mất cảnh giác để
nước rơi vào tay giặc, song trải qua thời gian, thành Cổ Loa vẫn luôn mãi
là niềm tự hào của người Việt Nam về lịch sử chống ngoại xâm. Hàng
năm cứ đến ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch, nhân dân Cổ Loa và khách
du lịch trên khắp mọi miền Tổ quốc lại về dâng hương tưởng niệm vua An

Dương Vương và tổ chức trọng thể lễ hội đền Cổ Loa với các cuộc thi và
trò chơi dân gian.
Làng Cổ Loa gồm 12 xóm nhưng hội Cổ Loa là của chung một cụm tám
làng (ngày trước gọi là Bát Xã) gồm: Ðài Bi, Sàn Dã, Cầu Cả, Mạch Tràng,
Văn Thượng, Thư Cưu, Cổ Loa, Xép. Cả 8 làng này đều thờ Thục Phán
nên đều tham gia tổ chức hội. Hội bắt đầu từ sáng sớm ngày 6 tháng
Giêng âm lịch.
Ngay từ sáng sớm hôm đó, các chức sắc của 8 làng đến nhà ông tiên chỉ
của làng Văn Thượng, là làng có đặc quyền soạn thảo văn tế, để rước văn
tế. Tại đây có một cái giá văn dán sẵn bài tế. Tiên chỉ và các chức sắc áo
mũ nghiêm chỉnh đến trước giá văn làm lễ rồi đám rước văn gồm có
phường bát âm đi đầu, đến các chức sắc và 8 ông tiên chỉ 8 làng cùng các
dân đinh khiêng giá văn tế, kiệu long đình, cờ lọng đi ra đền An Dương
Vương tức đền Thượng. Sân đền được bài trí cờ quạt rực rỡ cho cuộc tế
thần.
Ngoài cửa đền, có ngựa hồng, ngựa bạch (bằng gỗ) đứng chầu. Hai bên
đường đi vào đền có các giá gỗ cắm cờ quạt và lộ bộ bát bửu (các đồ thờ
cúng làm theo kiểu dáng tám loại vũ khí). Kiệu của tám xã xếp theo thứ
tự qui định. Trước đền đặt một hương án lớn, trên để hộp kính đựng đôi
hia vàng và các đồ thờ. Trước hương án lớn là một hương án nhỏ hơn
trên bày những khí giới của vua Thục như cung, kiếm, tên, nỏ. Tiếp đó
trải một hàng chiếu cạp điều để làm chỗ tế thần.
Khi đám rước tới, long đình được đặt trước hai
hương án. Cuộc tế thần được tiến hành trong nền
nhạc của phường bát âm. Tiên chỉ làng Văn
Thượng là chủ tế. Sau cuộc tế, đến lượt dân làng
vào làm lễ. Cuộc lễ kéo dài đến gần trưa mới xong.
Sau đó chuyển sang cuộc rước thần. Ði đầu cũng là cờ quạt rồi đến long
đình cùng các lộ bộ bát bửu. Tiếp theo là phường bát âm và các quan viên
đội mũ tế áo thụng, đai hia, tay bưng các vũ khí của nhà vua. Liền sau đó
là chức sắc và trai đinh xóm Chùa thuộc làng Cổ Loa khiêng long đình trên
có bài vị của nhà vua. Rồi đến chức sắc và dân của các làng khác, mỗi
làng rước kiệu của mình, với cờ quạt, phường bát âm riêng. Toàn bộ đám
rước rất dài, lại đi rất chậm, đàn sáo tưng bừng. Ðường đi bắt đầu từ đền
Thượng vòng quanh giếng Ngọc rồi theo đường chân thành Nội tới đình
Ngự Triều. Ði sau mỗi kiệu có 4 trai đinh mỗi người cầm một cây cờ đại,
vừa đi vừa múa. Tới ngã tư ở cửa điếm làng Cổ Loa kiệu làng nào quay
về làng ấy. Riêng kiệu của làng Cổ Loa thì quay vào đình Ngự Triều, được

đặt trước sân đình và dân Cổ Loa lại làm lễ thần lần nữa. Ðến lúc này là
tối mịt, hết ngày lễ hội chính nhưng đó chỉ mới là phần lễ.
Còn phần hội thì kéo dài tới rằm tháng giêng bằng nhiều trò vui. Tối ở đình
làng có đốt pháo hoa, hát ca trù, hát tuồng. Ban ngày, các cụ ông chơi bài,
đánh cờ. Các cụ bà đi lễ đình lễ chùa. Thanh thiếu niên nam nữ có trò
chơi: đánh đu, đấu vật, kéo co, leo dây, bắn cung nỏ, cờ người, thổi cơm
thi, chọi gà, đánh đáo mẹt...
Trong những ngày hội Cổ Loa, nhân dân quanh vùng cùng khách thập
phương đến xem thật đông, coi đây là dịp vui xuân có ý nghĩa.
Hội Đền Cổ Loa
Nguyễn Nhân Thống
Ðền thờ Cổ Loa còn gọi là đền Chủ hay đền vua An Dương Vương, tọa
lạc tại xã Cổ Loa, huyện đông Anh, ngoại thành Hà Nộị
Muốn trẩy hội Cổ Loa, các bạn nên đi tàu hỏa từ ga Hà Nội đến đông
Anh, xuống ga đông Kiều thì đến nơị Nếu đi bằng xe hơi thì phải qua Gia
Lâm, ca6`u đuống rẽ sang tay trái đến 15km, sau đó rẽ sang tay phải đi
vào một km nữa thì đến Cổ Loạ
Ở đây còn đi tích cái thành cổ gọi là Loa thành đắp từ thời An Dương
Vương (207-208 trước Công Nguyên. Thành đắp theo hình trôn óc nên
mới gọi là thành Ốc hay Loa thành.
Thành Cổ Loa có ba lớp, xây bằng đất. Vòng trong cùng hình chữ nhật
dài 500m, rộng 350m, ở đây có hình Cổ Loa, chùa và đền cùng mộ Mỵ
Châụ Vòng thứ ba hình trái xoan, chu vi 10 km, là tuyến phòng ngự
chính của Loa thành.
Trước khi vào thành Cổ phải đi qua cây cầu gạch bắc qua con suối nhỏ.
Tục truyền nơi đây thuở xa xưa, thần Kim Quy (Rùa Vàng) hiện ra và
dâng lên nhà vua cái móng chân rùa để dùng làm cái lẩy của nỏ thần.
Sau hai vòng ngoài, mỗi thành cách nhau chừng 200m, mới đến cổng
than`h tro cùng dẫn vào dinh Cổ Loạ Bên trái đình là mộ và đền Mỵ
Châu nấp dưới cây đa cổ thụ đình Cổ Loa cất theo lối cổ trong đơn sơ,
giản dị nhưng rất trang nghiêm. Trong hậu cung có bài vị vua An Dương
Vương làm bằng gỗ bạch đàn. Trước bài vị có tượng An Dương Vương
bằng đồng cao gần bằng người thật, đội mũ bình thiên. Còn đền Mỵ

