intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận án Tiến sĩ Ngữ văn: Ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay (qua một số trường hợp tiêu biểu)

Chia sẻ: Minh Lộ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:176

13
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hướng đến việc làm rõ thêm những vấn đề lý thuyết về nữ quyền, việc tiếp nhận ý thức nữ quyền phương Tây vào thực tiễn nghiên cứu đời sống văn học Việt Nam; việc các tác giả Việt Nam (trong trường hợp này là thơ nữ giai đoạn từ 1986 đến nay) tiếp nhận và thể hiện ý thức nữ quyền ra sao trong sáng tạo nghệ thuật trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật, từ đó hướng đến sự hình dung trên những nét tiêu biểu và đặc trưng nhất của một hệ hình thơ ca nữ Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án Tiến sĩ Ngữ văn: Ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay (qua một số trường hợp tiêu biểu)

  1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ HƢỞNG Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN NAY (QUA MỘT SỐ TRƢỜNG HỢP TIÊU BIỂU) Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số : 62 22 01 21 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. LƢU KHÁNH THƠ Hà Nội - 2016
  2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ HƢỞNG Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN NAY (QUA MỘT SỐ TRƢỜNG HỢP TIÊU BIỂU) Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số : 62 22 01 21 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. LƢU KHÁNH THƠ Hà Nội - 2016
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Nếu vi phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Nguyễn Thị Hƣởng
  4. MỤC LỤC MỞ ĐẦU …………………………………………………………. 1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ GIỚI THUYẾT VỀ NỮ QUYỀN, Ý THỨC NỮ QUYỀN …. 8 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài ……………………............ 8 1.2. Giới thuyết nữ quyền và ý thức nữ quyền…………….................... 28 Chƣơng 2: Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM TRƢỚC 1986 …………………………………………....... 42 2.1. Ý thức nữ quyền trong thơ nữ cổ điển …………………................ 42 2.2. Ý thức nữ quyền trong thơ nữ đầu thế kỷ XX ………………….... 54 2.3. Ý thức nữ quyền trong thơ nữ giai đoạn từ 1945 đến 1975 ……... 61 2.4. Ý thức nữ quyền trong thơ nữ từ 1975 đến 1985 ………………… 66 Chƣơng 3: CÁC CẤP ĐỘ THỂ HIỆN Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN NAY …………………………………………………………........ 71 3.1. Hành trình xác lập bản thể nữ ………………………………........ 72 3.2. Thiết tạo quan niệm mới về người phụ nữ …………………........ 102 3.3. Bi kịch của sự nhận thức và ý thức phản tỉnh …………………... 107 Chƣơng 4: MỘT SỐ PHƢƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN NAY ……………………………… 120 4.1. Biểu tượng thơ gắn với người phụ nữ …………………................. 120 4.2. Giọng điệu ………………………………………………………... 130 4.3. Ngôn ngữ ………………………………………………................. 140 KẾT LUẬN ……………………………………………................ 146 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ….... 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………..... 152
  5. DANH MỤC CÁC BẢNG Số Tên bảng Trang 3.1. Số lượng bài thơ nói về nhu cầu giải phóng bản năng ……… 85 3.2 Số lượng bài thơ thể hiện khao khát làm Mẹ……………….. 95 4.1. Hệ thống biểu tượng gắn với người phụ nữ………................. 121
  6. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài 1.1. Trong bối cảnh của thời đại mới, văn học nói chung, thơ nói riêng đã có những chuyển biến mạnh mẽ, trong đó, không thể không nhắc tới sự xuất hiện và khẳng định tiếng nói của đội ngũ tác giả nữ trẻ. Điều kiện giao lưu và hội nhập quốc tế, đời sống xã hội, tư tưởng, văn hóa khá cởi mở đã giúp cho họ được thể hiện bản ngã, cá tính sáng tạo độc đáo của mình. Điều này khiến cho ý thức nữ quyền xuất hiện trong văn học mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nhiều vấn đề về nữ quyền được đặt ra như quan niệm về vai trò, vị trí của người phụ nữ trong cuộc sống cũng như trong văn chương; những đặc trưng của bản thể nữ; nhu cầu và quyền lợi của người phụ nữ…thậm chí tất cả những cảm xúc đời thường, thầm kín nhất như khát vọng về tình yêu, nhu cầu giải phóng bản năng, khát vọng làm mẹ, ngay cả bi kịch của nhận thức như mất niềm tin, cảm thức về nỗi buồn và sự cô đơn…, cũng được thể hiện một cách chân xác trong sáng tác của các cây bút nữ. Trên ý nghĩa như vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu ý thức nữ quyền trong thơ trẻ đương đại, giai đoạn từ năm 1986 đến nay là việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. 1.2. Trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng, thế hệ các nhà thơ nữ trẻ giai đoạn từ 1986 đến nay đã mang đến cho đời sống văn học một tiếng nói mới mẻ, đầy đam mê và nhiệt huyết. Họ dám sống và sống hết mình cho nghệ thuật. Họ khao khát được giải phóng nội tâm, khao khát được thể hiện những suy nghĩ bản ngã hết sức riêng tư, khao khát muốn được nói ra tất cả những gì họ suy nghĩ mà trước đây có thể vì những lí do khách quan và chủ quan mà cha anh của họ đã không nhắc đến, hoặc có nhắc tới cũng chưa đầy đủ, thấu triệt. Họ chính là nguồn sinh lực dồi dào báo hiệu một tiềm năng mạnh mẽ, đầy sáng tạo cho thơ ca nước nhà. Họ sẽ là những người đưa thơ ca Việt lên một tầm cao mới, một phẩm chất mới, diện mạo mới. Trong số những sáng tác thu hút sự quan tâm của dư luận hiện nay chắc chắn chúng ta phải nhắc tới những tên tuổi như Dư Thị Hoàn, Đinh Thị Như Thúy, Tuyết Nga, Phạm Thị Ngọc Liên, Phan Thị Vàng Anh, Dạ Thảo 1
  7. Phương, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Lê Ngân Hằng, Bình Nguyên Trang, Lê Thị Mỹ Ý, Vi Thùy Linh, Lê Vi Thủy, Lê Viết Hoàng Mai, Nhật Lệ, Khương Hà, Thanh Xuân, Nguyệt Phạm, Trương Quế Chi… Trong sáng tác của họ, chúng tôi nhận thấy vấn đề ý thức nữ quyền được đề cập tới một cách khá trực diện, với muôn sắc điệu. Nghiên cứu về ý thức nữ quyền trong thơ của họ, chúng tôi cũng muốn hướng đến việc khẳng định tài năng, vị trí, bản lĩnh và phong cách thơ của các tác giả nữ giai đoạn từ 1986 đến nay, góp phần vào việc khái quát diện mạo thơ đương đại nói chung. 1.3. Số lượng những bài viết, bài nghiên cứu về thơ trẻ và ý thức nữ quyền trong thơ trẻ nói chung khá phong phú. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh nội dung, nghệ thuật và cũng mới chỉ đề cập đến một, hai hiện tượng đơn lẻ. Trong số các công trình này, cũng có ý kiến khen, thậm chí khen hết lời; lại cũng có những ý kiến phê, thậm chí phê hết lời. Ở đó, không ngoại trừ những ý kiến còn khá chủ quan, thiên về cảm tính và với các góc nhìn, quan điểm đánh giá khác nhau, đôi khi lại chưa thâm nhập được vào thế giới nghệ thuật thơ nữ trẻ đương đại. Vì vậy, việc khảo sát trên diện rộng về ý thức nữ quyền và việc thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ giai đoạn từ 1986 đến nay (qua một số trường hợp tiêu biểu) sẽ giúp chúng tôi có được một cách nhìn, một phương diện đánh giá khách quan hơn, chân xác hơn về những đóng góp của họ cho văn học dân tộc. Đồng thời qua đề tài nghiên cứu, chúng tôi cũng hướng tới việc khơi gợi những bài học, kinh nghiệm nghệ thuật khi đi tìm một con đường hội nhập trong thơ trẻ Việt Nam với thế giới. Đó là lí do mà chúng tôi đã lựa chọn vấn đề “Ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay (qua một số trường hợp tiêu biểu)” làm đề tài nghiên cứu của luận án. 2. Mục đích và nghiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hướng đến việc làm rõ thêm những vấn đề lý thuyết về nữ quyền, việc tiếp nhận ý thức nữ quyền phương Tây 2
  8. vào thực tiễn nghiên cứu đời sống văn học Việt Nam; việc các tác giả Việt Nam (trong trường hợp này là thơ nữ giai đoạn từ 1986 đến nay) tiếp nhận và thể hiện ý thức nữ quyền ra sao trong sáng tạo nghệ thuật trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật, từ đó hướng đến sự hình dung trên những nét tiêu biểu và đặc trưng nhất của một hệ hình thơ ca nữ Việt Nam giai đoạn hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: - Giới thiệu tổng quan về vấn đề nữ quyền, nữ quyền luận của phương Tây và sự du nhập lí thuyết nữ quyền luận vào văn học Việt Nam đương đại; - Khái lược về nữ quyền và sự thể hiện ý thức nữ quyền trong văn xuôi và trong thơ Việt Nam; - Sự thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn trước 1986; - Các cấp độ thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay; - Một số phương thức nghệ thuật thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu là ý thức nữ quyền trong thơ của đội ngũ các tác giả nữ tiêu biểu sau đây: (1) Dư Thị Hoàn (1946), (2) Phạm Thị Ngọc Liên (1952), (3) Tuyết Nga (1960), (4) Đinh Thị Như Thúy (1965), (5) Lê Ngân Hằng (1971), (6) Phan Huyền Thư (1972), (7) Ly Hoàng Ly (1975), (8) Bình Nguyên Trang (1977), (9) Vi Thùy Linh (1980) và (10) Trương Quế Chi (1987). 3.2. Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ đề tài của luận án, trên cơ sở giới thuyết về thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay, xét ở mặt bằng chung, có thể khẳng định về sự hình thành của một lực lượng, đội ngũ tác giả nữ trong văn học Việt Nam. Chúng tôi lựa chọn phạm vi nghiên cứu của luận án là thơ của 10 tác giả nữ tiêu biểu sau đây. Cụ thể: (1) Dƣ Thị Hoàn (1946) với tập thơ Lối nhỏ (Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng, 1988); (2) Phạm Thị Ngọc Liên (1952) với 3 tập thơ: Những vầng trăng chỉ 3
  9. mọc một mình (Nxb Trẻ, 1989), Em muốn giang tay giữa trời mà hét (Nxb Hội Nhà văn, 1992) và Thức đến sáng và mơ (Nxb Văn nghệ, 2004); (3) Tuyết Nga (1960) với 3 tập thơ: Viết trước tuổi mình (Nxb Hội Nhà văn, 1992), Ảo giác (Nxb Hội Nhà văn, 2002) và Hạt dẻ thứ tư (Nxb Hà Nội, 2008); (4) Đinh Thị Nhƣ Thúy (1965) với 3 tập thơ: Cùng đi qua mùa hạ (Nxb Văn nghệ, 2005), Phía bên kia cây cầu (Nxb Phụ nữ, 2007) và Ngày linh hương nở sáng (Nxb Hội Nhà văn, 2011); (5) Lê Ngân Hằng (1971) với 3 tập thơ: Xe chở mùa (Nxb Hội Nhà văn, 2003), Orient - Trên những vòm cây (Nxb Hội Nhà văn, 2006) và Harvest - mùa màng đọc lại nỗi đau (Nxb Hội Nhà văn, 2013); (6) Phan Huyền Thƣ (1974) với 2 tập thơ: Nằm nghiêng (Nxb Hội Nhà văn, 2002) và Rỗng ngực (Nxb Văn học, 2005); (7) Ly Hoàng Ly (1975) với 2 tập thơ là Cỏ trắng (Nxb Hội Nhà văn, 1999) và Lô lô (Nxb Hội Nhà văn, 2005); (8) Bình Nguyên Trang (1977) với 2 tập thơ Chỉ em và chiếc bình pha lê biết (Nxb Hội Nhà văn, 2003) và Những bông hoa đang thiền (Nxb Hội Nhà văn, 2012); (9) Vi Thùy Linh (1980) với 5 tập thơ: Khát (Nxb Hội Nhà văn, 1999), Linh (Nxb Thanh niên, 2000), Đồng tử (Nxb Văn nghệ, 2005), Vili in love (Nxb Văn nghệ, 2008) và Phim đôi - tình tự chậm (Nxb Thanh niên, 2010) và (10) Trƣơng Quế Chi (1987) với tập thơ Tôi đang lớn (Nxb Trẻ, 2005). 4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Phương pháp luận nghiên cứu của luận án Ngoài phương pháp luận chung của nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi xác định việc triển khai trên nguyên tắc phương pháp luận riêng sau đây: - Đặt văn học nghê thuật trong chỉnh thể kiến trúc thượng tầng để thấy được mối quan hệ và sự ảnh hưởng qua lại của văn học nghệ thuật với cơ sở hạ tầng (cơ sở kinh tế) cũng như các yếu tố khác trong hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội cùng với các thiết chế chính trị - xã hội tương ứng (chính trị, pháp luật, khoa học, triết học, đạo đức, tôn giáo,…). Cụ thể là đặt văn học mang nội dung ý thức nữ quyền trong mối quan hệ với cơ sở kinh tế cùng với hệ ý thức xã hội cũng như các thiết chế chính trị xã hội tương ứng để thấy được nguyên nhân xuất hiện cũng như 4
  10. quá trình phát triển của văn học mang nội dung ý thức nữ quyền trong nền văn học dân tộc; - Vận dụng linh hoạt lý thuyết phương Tây, cụ thể là lý thuyết nữ quyền trong nghiên cứu thực tiễn đời sống văn học Việt Nam. Chúng tôi cho rằng, việc áp dụng, vận dụng lý thuyết phương Tây để khám phá văn học dân tộc là cần thiết và có thể mang lại những kết luận khoa học lí thú và bổ ích. Tuy thế, việc vận dụng này cần linh hoạt, tránh cực đoan cứng nhắc; - Nhìn nhận các cấp độ nội dung cũng như những phương thức nghệ thuật thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay từ thực tiễn đời sống văn hóa, chính trị - xã hội của dân tộc, trong cái nhìn cũng như những khuôn khổ chế định của nền văn hóa Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Cách làm này giúp cho những vấn đề được đặt ra trong quá trình nghiên cứu sẽ trở nên khách quan và trung thực hơn, tránh thiên kiến, định kiến, hoặc ngợi ca hết lời, hoặc phê phán hết lời. 4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án Từ nguyên tắc phương pháp luận trên, để hoàn thành nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp chính sau đây: - Phương pháp thống kê - phân loại: Thống kê và phân loại các sáng tác của các tác giả nữ theo từng nội dung được triển khai trong luận án. Quá trình thống kê và phân loại được tham chiếu từ cả hai tiêu chí định lượng (ở những luận điểm, luận cứ thực sự cần thiết) và định tính để việc minh chứng cho các luận điểm có tính thuyết phục hơn. - Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: Đây là phương pháp được sử dụng xuyết suốt luận án nhằm tường giải cũng như bình luận, đánh giá giá trị thơ nữ từ phương diện thể hiện ý thức nữ quyền trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Việc phân tích được căn cứ trên cơ sở tiếp cận hệ thống chỉnh thể đơn vị tác phẩm, kết hợp với các yếu tố khác như thời đại, trào lưu, khuynh hướng và cá tính sáng tạo. 5
  11. - Phương pháp so sánh văn học: Đây là một phương pháp được sử dụng nhằm so sánh việc thể hiện ý thức nữ quyền ở từng cây bút trong phạm vi khảo sát của luận án khi chúng tôi thấy cần thiết. So sánh sẽ giúp cho người nghiên cứu thấy được rõ hơn đặc điểm cá tính sáng tạo của mỗi thi sĩ trong quá trình vận động của thơ trẻ nói chung và thơ nữ giai đoạn từ 1986 đến nay nói riêng. - Phương pháp loại hình học văn học: Loại hình học văn học hướng tới việc chỉ ra những đặc điểm chung của thơ nữ bao gồm các cấp độ nội dung cũng như một số phương thức nghệ thuật thể hiện ý thức nữ quyền. Tuy nhiên, để tránh sơ lược hóa và khiên cưỡng vấn đề, chúng tôi cũng dành sự quan tâm tới cá tính sáng tạo của từng cây bút nữ cũng như chỉ ra những điểm độc đáo ở mỗi người trên bức tranh chung của một lực lượng sáng tác trẻ. - Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Nhìn nhận, đánh giá việc thể hiện ý thức nữ quyền của thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay trong bối cảnh của lịch sử, hội nhập văn hóa quốc tế trong một vài thập niên trở lại đây, cũng như là trong sự phát triển chung của ý thức xã hội, chúng tôi vận dụng kiến thức của Lịch sử, Văn hóa học, Ngôn ngữ học, Luật học, Tâm lý học, Xã hội học… để tìm hiểu những biểu hiện của ý thức nữ quyền trong các sáng tác của các tác giả thơ nữ từ 1986 đến nay trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. 5. Đóng góp mới về khoa học của luận án 5.1. Luận án là công trình khoa học đầu tiên đặt ra và nghiên cứu một cách hệ thống về nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ năm 1986 đến nay (qua một số trường hợp tiêu biểu). Trong đó, các vấn đề lý thuyết về giới, về nữ quyền, về sự thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam trước 1986 đã được làm rõ. Đặc biệt, các cấp độ nội dung cũng như nghệ thuật của việc thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ đương đại, từ năm 1986 đến nay đã được khảo sát, mô tả và tổng kết tương đối đầy đủ. 5.2. Công trình đồng thời cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho giới nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam hiện đại. 6
  12. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án - Đề tài có ý nghĩa lý luận: Khái quát tương đối đầy đủ một số phương diện quan trọng trong lịch sử cũng như những nội dung quan trọng nhất của lý thuyết Nữ quyền phương Tây và đặc biệt là cách thức vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu thực thể văn học Việt Nam; - Đề tài cũng có ý nghĩa thực tiễn: Từ cái nhìn ý thức nữ quyền, chúng tôi đã có những nhận định, đánh giá về các cấp độ nội dung và phương thức nghệ thuật của thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay (qua một số trường hợp tiêu biểu). 7. Cấu trúc của luận án Đề tài sẽ được trình bày theo đúng quy định. Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình nghiên cứu của tác giả có liên quan đến đề tài luận án, Tài liệu tham khảo, nội dung chính được triển khai trên 4 chương: - Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và giới thuyết nữ quyền, ý thức nữ quyền (32 tr, từ tr.8 - tr.39); - Chương 2: Ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam trước 1986 (29 tr, từ tr.40 - tr.68); - Chương 3: Các cấp độ thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay (47 tr, từ tr.69 -115); - Chương 4: Các phương thức thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay (25 tr, từ tr.116 -140) 7
  13. Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ GIỚI THUYẾT VỀ NỮ QUYỀN, Ý THỨC NỮ QUYỀN 1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Cho đến nay, việc ứng dụng lí thuyết phê bình nữ quyền vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam đã được một thời gian nhất định, đó là điểm đáng ghi nhận trong nỗ lực đổi mới lí thuyết lí luận - phê bình để phù hợp với diện mạo của văn học Việt Nam thời kì đổi mới. Khảo sát hệ thống tài liệu tham khảo chúng tôi nhận thấy, việc nghiên cứu bộ phận văn học Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn của nữ quyền luận là tương đối phong phú. Tuy đã có nhiều ý kiến đề cập đến âm hưởng nữ quyền trong sáng tác của một số tác phẩm ở một vài tác giả nhưng số công trình nghiên cứu dài hơi dường như còn thưa vắng. Trước thực tế này, chúng tôi cố gắng chọn lọc và điểm lại những ý kiến được xem là xác đáng, cụ thể nhất và có tính gợi mở cho đề tài với hai nhóm ý kiến sau: (1) Nhóm ý kiến bàn về ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam và (2) Nhóm ý kiến bàn về ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam đương đại. 1.1.1. Tình hình nghiên cứu ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam Nhìn một cách tổng quan, việc nghiên cứu ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam chỉ thực sự được tiến hành từ những thập niên đầu thế kỉ XX đến nay. Xu hướng nghiên cứu này cũng có những bước phát triển thăng trầm theo ý thức xã hội cũng như thực tế phát triển của văn học nước nhà. Đối tượng nghiên cứu chủ yếu xoay quanh hai thể loại nổi bật của nền văn học là thơ và văn xuôi. Cụ thể như sau: 1.1.1.1. Từ đầu thế kỉ XX đến trước năm 1945 Đây là giai đoạn có tính chất tiên phong trong việc nghiên cứu văn học nữ cũng như ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam. Có thể kể đến công trình, bài viết của các tác giả như Phan Khôi, Manh Manh nữ sĩ (Nguyễn Thị Kiêm), Vân Hương nữ sĩ, Nguyễn Thị Hồng Đăng, Lệ Hương, Lê Thị Huỳnh Lan, Đạm Phương nữ sĩ, Phan Thị Bạch Vân... 8
  14. Phan Khôi được coi là người có đóng góp nổi bật trong việc đề cập đến dòng văn học “nữ lưu” và mối quan hệ giữa phái đẹp với văn chương qua hàng loạt bài viết đăng trên tờ Phụ nữ tân văn như: “Về văn học của phụ nữ Việt Nam” [85], “Văn học với nữ tánh” [86], “Lại nói về vấn đề văn học với nữ tánh” [87]… Trong bài viết “Văn học và nữ tánh”, ông viết: “Chúng ta có những cái tánh trầm tĩnh, nhẫn nại, dùng những cái tánh ấy mà nghiên cứu văn học, thì không có gì hạp cho bằng, có lẽ chúng ta theo nghề văn học còn dễ dàng hơn đờn ông nữa. Còn có một điều thích hiệp nữa, là văn học chuyên trọng về đường tình cảm, mà chúng ta là giống có tình cảm nhiều hơn đàn ông, thì thật là tiện lợi cho chúng ta biết mấy” [87]. Ở đây Phan Khôi đã đồng nhất phụ nữ với văn chương, bởi vì phụ nữ vốn là cái đẹp mà văn chương hướng tới. Mặt khác, học giả Phan Khôi cho rằng, với bản chất nhu mì, nhạy cảm, phụ nữ rất có tiềm năng trong sáng tác văn chương. Ý kiến này xuất phát từ cách nhìn nhận cảm tính của “tâm lí học sáng tạo văn học” mặc dù tại thời điểm đó, lí thuyết về phê bình nữ quyền ở ta vẫn chưa được xác lập. Nguyễn Thị Kiêm (với bút danh Manh Manh nữ sĩ) cũng bày tỏ quan điểm của mình khi nhìn nhận về văn học nữ qua bài viết “Nữ lưu và văn học” đăng trên Phụ nữ tân văn, số 131, ngày 26/5/1932. Trong bài viết, bà cho rằng: “… cái địa vị của đàn bà ở trong văn học cũng không phải là thấp thỏi gì, theo như nhiều người đã tưởng. Và cái ảnh hưởng của đàn bà đối với những bậc văn nhân tao sĩ cũng rất là nặng nề thâm thiết, nhờ đó mà văn học phát đạt vô cùng” [88]. Nhận định này của nữ sĩ có phần gặp gỡ với quan điểm của Phan Khôi. Điều đáng nói hơn, nhận định này xuất phát từ ý thức của một phụ nữ, dùng tiếng nói của phụ nữ để khẳng định vị thế của giới mình trong việc phát triển văn học nước nhà. Không dừng lại ở đó, bà còn cho rằng: “Những của cải tích trữ ở trong cái kho tàng đó, nếu có thể phân phát ra bằng ngọn bút đường văn, thì cái văn ấy là cái hình ảnh của nỗi lòng, khi thường, khi biến, lúc an, lúc nguy, tùy theo với sự kích thích của ngoại cảnh mà thăng trầm, mà theo với cái ca điệu của thiên nhiên mà họa vận” [88]. Đây chính là nét khác biệt của văn học mà ý thức giới quy định đã được nữ sĩ chỉ ra một cách cụ thể. 9
  15. Tuy nhiên, do xuất hiện trong bối cảnh sôi động của văn học đương thời như phong trào Thơ mới, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, cuộc tranh luận “Thơ mới thơ cũ” và do cả đối tượng nghiên cứu là văn học nữ còn hạn chế nên khuynh hướng này nhanh chóng bị chìm khuất. Phải đến những nghiên cứu về nữ quyền gần đây mới xác lập lại vai trò và đóng góp của các tác giả trên. 1.1.1.2. Từ năm 1945 đến 1975 Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, đất nước bị chia cắt nên văn học cũng như hoạt động lí luận - phê bình văn học ở giai đoạn này mang những nét đặc thù. Ở miền Bắc, do yêu cầu phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu, văn học chủ yếu mang âm hưởng sử thi và cảm hứng lãng mạn với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Có lẽ do đề cao sức mạnh cộng đồng, muôn người như một nên ý thức về giới, về thân phận cũng đồng nhất với ý thức công dân, theo đó mà vấn đề nữ quyền là điều mặc nhiên được thừa nhận lúc bấy giờ. Và trong một thời gian dài, vấn đề nghiên cứu văn học nữ, ý thức phái tính hay tiếng nói nữ quyền không thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Ở miền Nam, tình hình nghiên cứu nữ quyền trong văn học cũng hết sức mờ nhạt, mặc dù đời sống sáng tác cũng phong phú và quan điểm của nhà cầm quyền cũng tỏ ra cởi mở trong việc du nhập nhiều lí thuyết phê bình văn học phương Tây. Việc nghiên cứu văn học nữ nói chung và ý thức nữ quyền nói riêng trong giai đoạn này vẫn cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc bằng những chuyên luận dài hơi mới có thể cung cấp được một cái nhìn khách quan và chân xác về mảng sáng tác văn học nói trên. 1.1.1.3. Từ sau năm 1986 đến 1998 Vấn đề ý thức nữ quyền giai đoạn này đã được khơi gợi trở lại bởi các ý kiến của Võ Phiến, Trương Chính, Phương Lựu… Trong cuốn “Văn học miền Nam tổng quan” xuất bản tại Hoa Kì năm 1988, Võ Phiến đã đề cập đến sự tồn tại của một lối viết nữ trong văn học miền Nam giai đoạn 1954 - 1975. Ông viết: “Đứng về phương diện phái tính, văn học miền Nam thời kì 54 - 75 càng ngày càng nghiêng về nữ phái... Thoạt đầu trên văn đàn nghe tiếng ồm ồm, cuối cùng nghe ra eo éo” [152]. Với nhận định này, tác giả Võ Phiến đã tỏ ra nắm bắt được đặc trưng về thi pháp giọng điệu trong sáng tác của các nhà 10
  16. văn nữ. Đây chính là một trong những đặc trưng mà nhà nghiên cứu dùng để nhận diện phong cách nhà văn. Đó là giọng “ồn trong cái yêu” của tiểu thuyết Nguyễn Thị Hoàng, là giọng “bù lu bù loa” của tiểu thuyết Nhã Ca. Tuy nhiên, nhận định này cũng như những phân tích của Võ Phiến về khuynh hướng tiểu thuyết nữ trong văn học đô thị miền Nam vẫn chưa làm rõ được âm hưởng nữ quyền hay phái tính như một phương diện mang tính đặc thù. Trong bài viết “Nhìn nhận lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn”, đăng trên Tạp chí Văn học, số 5 năm 1990, nhà nghiên cứu Trương Chính đã đánh giá rất cao đóng góp của Tự lực văn đoàn trên vấn đề kêu gọi giải phóng phụ nữ và tự do hôn nhân. Theo ông, “Các nhà văn Tự lực văn đoàn đã công kích nhiều mặt của chế độ phong kiến, đặc biệt là luân lý phong kiến đối với phụ nữ. Họ chủ trương tự do hôn nhân, tự do yêu đương xây dựng hạnh phúc gia đình trên tình yêu đôi lứa. Họ căm thù cảnh mẹ chồng nàng dâu, họ chủ trương đàn bà trẻ được tự do cải giá, họ vạch bộ mặt giả dối, xảo quyệt của những bà mẹ ghẻ. Họ đứng về phía những người chống lại lớp người cũ. Họ đứng về phía cá nhân chống lại chế độ gia đình” [17]. Nhận định này của Trương Chính đã chỉ ra những đổi mới về cái nhìn của các nhà văn Tự lực văn đoàn trong việc bênh vực những người phụ nữ tân thời với tư tưởng tiến bộ, không cam chịu khuôn mình theo những lễ giáo phong kiến đã tỏ ra lạc hậu bấy giờ. Tuy nhiên, ý kiến của Trương Chính mới xuất phát từ việc nhận ra tư tưởng tiến bộ của văn chương Tự lực văn đoàn và ông xem người phụ nữ là hình tượng văn học trung tâm của khám phá nghệ thuật. Đáng chú ý trong giai đoạn này phải kể đến cuộc trao đổi ý kiến của các nhà nghiên cứu như Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Phạm Xuân Nguyên, Đặng Anh Đào về vấn đề văn học nữ và các tác giả nữ viết văn được đăng trên Tạp chí Văn học, số 6/1996. Các ý kiến chủ yếu làm rõ những thế mạnh và hạn chế của các cây bút nữ trong khoảng 10 năm (từ 1986 đến 1996). Tuy thế, các ý kiến mới dừng lại ở việc nhận diện đội ngũ và thành tựu văn học nữ, còn vấn đề nữ quyền vẫn chưa được bàn luận sôi nổi. Điều này chỉ thực sự được bàn đến như một vấn đề trung tâm để nghiên cứu trong bài viết của Phương Lựu với tựa đề “Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ” 11
  17. đăng trên tạp chí Tác phẩm mới, số 3/1996. Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra thể loại tự truyện là đặc trưng và chiếm ưu thế trong văn học đương thời, nó tỏ ra phù hợp với tâm lí của phái nữ. Những đặc điểm được phân tích trong bài viết này sẽ tiếp tục được Phương Lựu đào sâu phân tích trong chuyên luận “Lý luận văn học hậu hiện đại” [125] với những phác thảo diện mạo mang tính hàn lâm về lí thuyết phê bình nữ quyền. Cũng trong năm này, cuốn sách nổi tiếng Giới thứ hai của nhà nữ quyền luận người Pháp Simone de Beauvoir được dịch và giới thiệu ở Việt Nam đã tạo điều kiện cho học giả Việt được tiếp cận gần gũi với những tư tưởng nữ quyền Tây phương. Đây là một nỗ lực đáng ghi nhận của giới dịch thuật trong vai trò là cầu nối độc giả Việt Nam với những tri thức nữ quyền thế giới. Khép lại giai đoạn này, vấn đề nghiên cứu ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam nhìn chung vẫn dừng lại ở mức khiêm tốn cả về số lượng lẫn diện tiếp xúc giữa người nghiên cứu, phê bình và đối tượng của nghiên cứu, phê bình (các hiện tượng văn học). Lí do giải thích cho tình trạng này là các nhà thơ nữ thuộc thế hệ 7x, 8x - lực lượng sáng tác chủ đạo của thơ thể hiện ý thức nữ quyền vẫn chưa xuất hiện một cách rầm rộ, đông đảo như ở những giai đoạn sau. 1.1.1.4. Từ 1999 đến 2006 Chúng tôi chia sẻ với ý kiến của Nguyễn Thị Thanh Xuân khi chị cho rằng đây là “giai đoạn bùng nổ” của phê bình nữ quyền ở Việt Nam [272]. Nguyên nhân chính có thể giải thích ở đây là những nỗ lực của các trang mạng tiếng Việt ở hải ngoại như talawas.com, tienve.org, damau.org... đã liên tục giới thiệu một cách sâu rộng lí thuyết phê bình văn học nữ quyền ở Việt Nam tiêu biểu là chuyên đề “Tình yêu, tình dục và phái tính trong văn học”. Có thể kể đến các bài viết như “Nữ quyền luận” [155], Nữ quyền và đồng tính luận” [156], “Chuyện hiếp dâm và vấn đề phái tính trong văn học Việt Nam” [157] của tác giả Nguyễn Hưng Quốc; “Phụ nữ và văn chương” của Châm Khanh [81]; “Dục tính trong văn chương và vấn đề đạo đức” của Hoàng Ngọc Tuấn [239]; “Dục tính: chân móng hay đỉnh tháp văn chương” của Nguyễn Hoàng Đức [43]; “Tính dục trong văn học Việt Nam dưới 12
  18. cách nhìn của đạo lí hồn nhiên và của đạo lý học thuyết” của Nguyễn Hữu Lê [101]... Trong bài “Chuyện hiếp dâm và vấn đề phái tính trong văn học Việt Nam” [157], tác giả Nguyễn Hưng Quốc đã có những phân tích khá sắc sảo khi xem vấn đề tình dục, chuyện hiếp dâm không đơn giản là vấn đề tội phạm mà trở thành một vấn đề của phái tính trong văn học Việt Nam. Tác giả viết: “trong văn học, hiếp dâm không được mô tả như một tội phạm. Nó chỉ đơn thuần là một sự kiện, một thứ tai nạn, hay có khi, lạ lùng hơn, một thứ “may mắn” đối với nạn nhân”. Từ những dẫn chứng trong văn học Việt Nam, Nguyễn Hưng Quốc đã đề cập đến vấn đề cốt lõi của nữ quyền đó là sự khống chế ngôn ngữ của nam giới (duy dương vật luận) trong văn học mà đôi khi phía nữ giới mặc nhiên thừa nhận trong vô thức như câu chuyện hiếp dâm hay thông dâm kia. Theo đó, “người ta viết và đọc bao giờ cũng như một người nam hoặc một người nữ chứ không bao giờ như một người chung chung”. Và như vậy, muốn giải phóng được nữ giới phải giải phóng được ngôn ngữ, phải chống lại sự nam hóa trong ngôn ngữ. Trong bài viết “Phụ nữ và văn chương”, tác giả Châm Khanh đã tiến hành thống kê và đặt lại vấn đề về phê bình nữ quyền ở Việt Nam theo tiến trình từ đầu thế kỉ XX đến năm 2000. Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến nhiều nhận định của các học giả nổi tiếng đã từng nhận xét về âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam như Hoài Thanh, Phan Khôi, Võ Phiến, Đặng Anh Đào, Vương Trí Nhàn... Tác giả Châm Khanh đã đề cập đến sự cần thiết trong việc tiến hành nghiên cứu và chỉ ra nét khác biệt giữa văn học của nữ giới và nam giới [81]. Tác giả Hoàng Ngọc Tuấn đã viết một tiểu luận trong chuyên đề “Tình yêu và tình dục trong văn chương” với tựa đề “Dục tính trong văn chương và vấn đề đạo đức” [239]. Trong bài viết của mình, nhà nghiên cứu này đã đưa ra được một cái nhìn tương đối tổng quát về những chuyển biến và tiến bộ của phê bình nữ quyền. Theo ông, thoạt đầu, đề cao dục tính là tinh thần phản kháng bồng bột, về sau, các nhà văn nữ đã tỏ ra bình tĩnh hơn, sáng suốt hơn trong việc giải phóng phụ nữ khỏi 13
  19. những ràng buộc phái tính và dục tính để hướng đến những giá trị tinh thần bình dị của con người là hạnh phúc, tự do, gia đình, tình yêu, chiến tranh, đạo đức... Nguyễn Hoàng Đức đã đề cao vai trò của tình dục trong việc giải phóng phụ nữ. Trong bài “Dục tính: Chân móng hay đỉnh tháp văn chương” ông viết: “Cuộc giải phóng phụ nữ là cuộc cách mạng về nhân vị và nhân tính, nâng phái yếu lên ngang tầm bình đẳng với đàn ông, một cuộc cách mạng từ cổ chí kim chưa từng có... Hoàn toàn, có thể nói, thế kỷ XX là thế kỷ giải phóng phụ nữ, đó cũng chính là sự thiết lập tự do giới tính - và tất yếu dẫn đến tự do tình dục” [43]. Nhìn chung, phê bình nữ quyền giai đoạn này hướng đến cuộc giải phóng phụ nữ, giải phóng tình dục. Bởi lẽ, đàn bà cũng là con người, họ có quyền phát biểu khát vọng dục tính của mình, họ cũng có quyền chủ động trong đời sống tình dục. Điều này cũng dễ hiểu khi một số nữ nhà văn xây dựng những nhân vật nữ trong tác phẩm của mình luôn giành thế chủ động và sử dụng đàn ông như một thứ công cụ nhằm thỏa mãn khát vọng cá nhân và bản năng tốt đẹp. 1.1.1.5. Từ 2006 đến nay Giai đoạn này được xem là thời kì phát triển của phê bình nữ quyền ở Việt Nam. Việc vận dụng lí thuyết phê bình đã có sự thận trọng hơn, khách quan hơn. Hoạt động phê bình đã bắt đầu có sự phân hóa theo những khuynh hướng khác nhau khi tiếp cận văn học nữ ở Việt Nam, nhất là những hiện tượng của văn học Việt Nam thời kì đổi mới. Chúng tôi đồng tình với ý kiến của tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân trong công trình “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại” khi phân loại các bài viết về văn học nữ quyền trong giai đoạn này thành ba khuynh hướng là: nghiên cứu văn học nữ thiên về dục tính/sex; nghiên cứu văn học nữ thiên về nữ tính/ thiên tính nữ; nghiên cứu văn học nữ trên bình diện nữ quyền [272]. Khuynh hướng nghiên cứu văn học nữ thiên về dục tính/sex là những bài viết lấy đối tượng là yếu tố sex trong sáng tác của các cây bút nữ để nghiên cứu. Có thể dẫn ra đây một số ý kiến như sau: 14
  20. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã gọi đề tài sex trong văn học Việt Nam là “hiểm địa”, miền cấm. Trong bài “Tính dục trong văn học hôm nay”, ông xem “Cái hiểm địa ấy vừa là cánh cửa sinh ra ta mà cũng là nấm mồ chôn ta”. Từ nhận xét này, Nguyễn Huy Thiệp đã đánh giá cao các nhà văn nữ với việc khai hóa đề tài tính dục mà hiện tượng Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu là một điển hình cho văn chương viết về sex ở Việt Nam [187]. Nguyễn Vy Khanh trong bài “Tản mạn về dục tính và nữ quyền” đã lấy các sáng tác tiểu thuyết đô thị miền Nam để đưa ra khái quát như sau: “... từ cuối thập niên 1960, người viết nữ đã mạnh bạo đi xa hơn, tự tin hơn với những vấn đề phụ nữ được chính thức trương lên chữ nghĩa”. Ở một điểm khác, tác giả bài viết cho rằng: “Văn chương dục tính hay có dâm tính lại do người nữ viết hình như hấp dẫn hơn vì cũng hình như có tính tự thuật nhiều hơn. Vì từ nay, người nữ làm chủ con người, tư duy, tình cảm và cuộc đời của họ trong văn chương”. Không chỉ nhận thấy nét đổi mới trong văn học của người phụ nữ, Nguyễn Vy Khanh còn phát hiện ra sự chân thực trong văn chương của nữ giới trong sự phản ánh những rung động bên trong của con người, nhất là từ trái tim người nữ. “Xưa kia nhà văn nam viết, phân tích tâm lí mọi người thì nay các nhà văn nữ muốn phân tâm đàn ông và tự phân tâm! Một loại “văn hóa” mới, năng động và cách tân phái tính” [83]. Nhìn chung, các bài viết bước đầu đã làm rõ được vấn đề sex trong sáng tác của các nhà văn nữ đương đại. Tuy nhiên, nếu sự vận dụng không tỉnh táo sẽ dẫn đến tình trạng chỉ nhìn thấy một phương diện của vấn đề, làm nghèo nàn giá trị ý nghĩa của bộ phận văn học nữ. Khuynh hướng thứ hai tập hợp những ý kiến bàn luận đến nữ tính, thiên tính nữ trong văn học nữ như là những đặc trưng của giới quy định nội dung sáng tác của văn học nữ ở Việt Nam. Tiêu biểu phải kể đến là các bài viết: “Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại” của Nguyễn Thị Bình [11]; “Những quan niệm đương đại về giới nữ Việt Nam” của John C. Schafer [76]; “Một vài lí giải về hiện tượng tự thuật trong sáng tác văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ 1990 đến nay” của Hồ Khánh Vân [258]… 15
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2