BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Võ Thị Mỹ Thà

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

CUỘC SỐNG DÂN CƯ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Võ Thị Mỹ Thà

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

CUỘC SỐNG DÂN CƯ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Chuyên ngành : Địa lí học

Mã số

: 60 31 05 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. ĐÀM NGUYỄN THÙY DƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

- Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của tôi,

- Số liệu trong luận văn được điều tra trung thực,

- Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

Học viên

Nguyễn Võ Thị Mỹ Thà

1

LỜI CẢM ƠN

Được học hỏi và nâng cao nhận thức về Địa lí luôn là mong mỏi của bản thân tôi. Là

một học học viên cao học chuyên ngành Địa lí học, tôi đã nhận được sự quan tâm, hướng

dẫn tận tình của quý Thầy Cô Trường Đại học Sư phạm TP. HCM. Tôi xin bày tỏ lòng cảm

ơn chân thành và sâu sắc nhất đến:

TS Đàm Nguyễn Thùy Dương đã hết lòng giúp đỡ, động viên hướng dẫn tận tình cho

tôi trong thời gian thực hiện luận văn của mình.

Quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học Địa lí học K.22, những người

đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích Địa lí học để từ đó làm cơ sở cho tôi thực

hiện tốt luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các Thầy, Cô giáo Trường Đại học Sư

phạm TP. HCM đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập tại

trường.

Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, Cục Thống kê TP. Cần Thơ,

Phòng Thương mại đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm tư liệu làm luận văn.

Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt

nghiệp này.

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn

còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và các anh chị học viên.

TP. HCM, ngày…..tháng…..năm 2013

Học viên

Nguyễn Võ Thị Mỹ Thà

2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1

LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2

MỤC LỤC .................................................................................................................... 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 6

MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 7

1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 7

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 8

3. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................................ 9

4. Lịch sử nghiên cứu đề tài ............................................................................................... 9

5. Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu ............................................................... 11

6. Những đóng góp chính của đề tài ................................................................................ 14

7. Cấu trúc đề tài ............................................................................................................... 14

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ ......................................................................................................... 15

1.1. Khái niệm về chất lượng cuộc sống .......................................................................... 15

1.1.1. Quan điểm triết học về chất lượng ........................................................................ 15

1.1.2. Khái niệm chất lượng cuộc sống .......................................................................... 15

1.2. Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư .............................................. 18

1.2.1. HDI – một tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống ............................................. 18

1.2.2. Chỉ số thu nhập bình quân đầu người (GDP) ....................................................... 22

1.2.3. Chỉ số về giáo dục ................................................................................................. 26

1.2.4. Chỉ số về y tế và chăm sóc sức khỏe .................................................................... 27

1.2.5. Các tiêu chí khác ................................................................................................... 29

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư ............................................................. 32

1.3.1. Vị trí địa lý ............................................................................................................ 32

1.3.2. Các nhân tố tự nhiên ............................................................................................. 32

1.3.3. Các nhân tố kinh tế xã hội .................................................................................... 32

1.4. Thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư Việt Nam ............................................. 33

1.4.1. GDP và GDP bình quân đầu người ....................................................................... 33

1.4.2. Về chế độ dinh dưỡng ........................................................................................... 36

1.4.3. Về tuổi thọ bình quân và sức khỏe ....................................................................... 36

1.4.4. Về chế độ giáo dục ................................................................................................ 38

1.4.5. Các điều kiện về sử dụng điện, nước sinh hoạt và nhà ở ...................................... 39

3

1.4.6. Về HDI của Việt Nam .......................................................................................... 40

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ THÀNH PHỐ CẦN THƠ ......................................................................................................... 43

2.1. Khái quát về TP. Cần Thơ ........................................................................................ 43

2.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của dân cư TP. Cần Thơ ....... 43

2.2.1. Các nhân tố kinh tế - xã hội .................................................................................. 43

2.2.2. Các nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên .................................................... 55

2.3. Hiện trạng chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ .......................................... 61

2.3.1. Vấn đề lao động, việc làm, thu nhập bình quân đầu người .................................. 62

2.3.2. Vấn đề lương thực, dinh dưỡng ............................................................................ 66

2.3.3. Tiêu chí về giáo dục .............................................................................................. 69

2.3.4. Vấn đề y tế và chăm sóc sức khỏe ........................................................................ 73

2.3.5. Điều kiện sống của các hộ gia đình ...................................................................... 79

2.3.6. Mức hưởng thụ văn hóa tinh thần ......................................................................... 83

2.3.7. Vấn đề môi trường sống ....................................................................................... 85

2.4. Đánh giá tổng hợp về chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ ........................ 89

2.5. Nguyên nhân của thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ ........... 91

2.5.1. Nhận xét thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ .......................... 91

2.5.2. Nguyên nhân của thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ ................... 91

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TP. CẦN THƠ ........................................................................................... 95

3.1. Căn cứ xây dựng và định hướng các mục tiêu phát triển ...................................... 95

3.1.1. Bối cảnh khu vực và trong nước ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ ........................................................................................................................... 95

3.1.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng CLCS dân cư TP. Cần Thơ giai đoạn 2005 – 201296

3.2. Định hướng phát triển Kinh tế xã hội của TP. Cần Thơ ....................................... 97

3.2.1. Các ngành, lĩnh vực kinh tế .................................................................................. 97

3.2.2. Phát triển kết cấu hạ tầng ...................................................................................... 98

3.2.3. Định hướng phát triển các lĩnh vực xã hội với vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ. ............................................................................................ 100

3.3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ ............. 103

3.3.1. Nhóm giải pháp tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động .................. 107

3.3.2. Nhóm giải pháp xóa đói giảm nghèo .................................................................. 112

3.3.3. Nhóm giải pháp đảm bảo nhu cầu lương thực và dinh dưỡng ............................ 113

3.3.4. Nhóm giải pháp về giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực .................................... 115

4

3.3.5. Nhóm giải pháp về phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe ................................... 116

3.3.6. Nhóm giải pháp nâng cao điều kiện và môi trường sống ................................... 117

3.3.7. Nhóm giải pháp nâng cao đời sống tinh thần và an ninh xã hội ......................... 118

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 122

5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ STT

Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao 1 BOT

Câu lạc bộ 2 CLB

Chất lượng cuộc sống 3 CLCS

Đồng bằng sông Cửu Long 4 ĐBSCL

Tổng thu nhập quốc nội 5 GDP

Chỉ số phát triển con người 6 HDI

Báo cao phát triển con người 7 HDR

Virut làm suy giảm miễn dịch 8 HIV

Kinh tế xã hội 9 KTXH

Tổ chức phi chính phủ 10 NGO

Viện trợ phát triển chính thức 11 ODA

Phương pháp sức mua tương đương 12 PPP

Tài nguyên môi trường 13 TNMT

Trung học chuyên nghiệp 14 THCN

Trung học cơ sở 15 THCS

Trung học phổ thông 16 THPT

Thành phố Cần Thơ 17 TP. Cần Thơ

Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc 18 UNDP

Ngân hàng thế giới 19 WB

6

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Hiện nay, khi xã hội ngày càng phát triển về mặt kinh tế, khoa học kỹ thuật, trình độ

dân trí, thì nhu cầu của con người cũng vì vậy mà tăng cao. Nhưng không phải quốc gia có

nền kinh tế phát triển thì người dân nơi đấy sẽ có chất lượng cuộc sống cao hay khoa học kỹ

thuật và trình độ dân trí phát triển thì sẽ có chất lượng cuộc sống cao mà chất lượng cuộc

sống được nâng cao khi có hoạt động kinh tế gia tăng, người dân tiếp cận được các dịch vụ

y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng và các chỉ tiêu phản ánh điều kiện sống như: nhà ở, nước, vệ

sinh môi trường… Chính vì thế, vấn đề chất lượng cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc

sống dân cư là nội dung chủ yếu trong chiến lược phát triển con người, đã trở thành mục

tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, là vấn đề được

nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam hết sức quan tâm.

Ngoài ra, chất lượng cuộc sống dân cư còn phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã

hội của một quốc gia ở các lĩnh vực kinh tế văn hóa và phúc lợi xã hội. Đồng thời, chất

lượng cuộc sống dân cư và tăng trưởng kinh tế - xã hội có mối quan hệ khắng khít, chặt chẽ

với nhau. Chất lượng cuộc sống dân cư vừa là động lực thức đẩy tăng trưởng vừa là thướt

đo trình độ văn minh và sự phát triển của nhiều mặt của một quốc gia. Chính vì vậy nhiều

quốc gia trên thế giới không ngừng thực hiện các chính sách phát triển toàn diện về kinh tế -

xã hội để nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, nhằm khẳng định vị trí của mình trên

trường quốc tế.

Ngay từ những năm đầu xây dựng đất nước Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến

việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ VII của Đảng (năm 1991) đã khẳng định “Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với

mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con

người. Kết hợp hài hòa giữa sự phát triển kinh tế và sự phát triển xã hội; giữa đời sống vật

chất và đời sống tinh thần của nhân dân…” [20]. Vì vậy, chất lượng cuộc sống dân cư trong

những năm gần đây đã tăng lên đáng kể, thể hiện qua các chỉ tiêu về chất lượng cuộc sống

dân cư. Chẳng hạn, chỉ số phát triển con người - HDI) của Việt Nam đã tăng từ 0,690 điểm

(năm 2000) lên 0,725 điểm (năm 2009), tuổi thọ bình quân tăng cao từ 68,3 tuổi (2000) lên

72,8 tuổi (năm 2009) Tuổi thọ tăng phản ánh mức sống dân cư và công tác chăm sóc sức

khoẻ cho nhân dân được triển khai tốt. Ngoài ra, công tác xoá đói giảm nghèo thực hiện tốt

7

được thế giới đánh giá cao; các lĩnh vực giáo dục, nhà ở, điện, nước, văn hóa – thể thao phát

triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Nhìn chung, đời sống vật chất và tinh thần của

người dân đã được nâng lên rất nhiều trong thời gian qua, nhưng vẫn còn ở mức thấp, chênh

lệch mức sống còn cao giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng trong cả nước, đặc biệt là

các vùng sâu, vùng xa, miền núi. Mặt khác nếu so sánh với các nước khác trong khu vực và

thế giới chất lượng cuộc sống của dân cư nước ta còn rất thấp.

Thành phố Cần Thơ là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương, là thành phố đô

thị loại 1 của cả nước và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long.

Nền kinh tế của thành phố trong những năm qua có nhiều chuyển biến rõ nét trong quá trình

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đời sống của người dân cũng được nâng cao. Cùng với quá trình

hội nhập kinh tế của đất nước nền kinh tế TP. Cần Thơ ngày một đi lên từ đó cuộc sống

người dân ngày càng được nâng cao về mọi mặt. Song nếu so sánh với các địa phương khác

trong cả nước thì mức sống của người dân TP. Cần Thơ vẫn chưa cao, có sự chênh lệch giữa

các quận, huyện trong thành phố. Do đó, nghiên cứu thực trạng chất lượng cuộc sống của

dân cư và tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống người dân ở thành phố Cần

Thơ là đều cần thiết. Với ý nghĩa trên, bản thân mong muốn góp phần làm sáng tỏ thêm cơ

sở lý luận và thực tiễn về vấn đề chất lượng cuộc sống ở địa bàn TP. Cần Thơ nên đã chọn

đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ” để làm đề tài nghiên

cứu cho luận văn tốt nghiệp.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục tiêu của đề tài

Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống để vận dụng vào nghiên cứu thực

trạng chất lượng cuộc sống dân cư của TP. Cần Thơ. Từ đó, làm cơ sở khoa học để đề ra

những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư TP. Cần Thơ từ

nay đến năm 2020.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có những nhiệm vụ sau:

- Đúc kết những cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư.

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ.

- Phân tích thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ thời kì 2004 – 2010.

- Tìm ra những kết quả và hạn chế trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống dân cư

TP. Cần Thơ.

8

- Đề xuất một số định hướng và tìm ra những giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao

chất lượng cuộc sống của dân cư TP. Cần Thơ đến năm 2020.

3. Phạm vi nghiên cứu

3.1. Về không gian

Bắt đầu từ 1/1/2004 Tỉnh Cần Thơ được chia thành TP. Cần Thơ trực thuộc Trung

Ương và tỉnh Hậu Giang. Đề tài nghiên cứu địa bàn TP. Cần Thơ.

3.2. Về thời gian

Thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ từ năm 2004 - 2011 và đề xuất

định hướng và giải pháp đến năm 2020.

3.3. Về nội dung

Giới hạn tiếp cận chất lượng cuộc sống trên cơ sở khảo sát, điều tra những chỉ tiêu cơ

bản phản ánh chất lượng cuộc sống của dân cư TP. Cần Thơ: chỉ số thu nhập bình quân đầu

người, chỉ số về dinh dưỡng, chỉ số về giáo dục, chỉ số về y tế và chăm sóc sức khỏe và các

chỉ tiêu phản ánh điều kiện sống (nhà ở, nước, vệ sinh môi trường v.v…)

Trọng tâm của luận văn là nghiên cứu, phân tích thực trạng chất lượng cuộc sống, đề

xuất các giải pháp phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của TP. Cần

Thơ trên cơ sở số liệu thống kê từ năm 2005 – 2012.

4. Lịch sử nghiên cứu đề tài

4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học và các tổ chức nghiên cứu về chất lượng cuộc

sống. Vào cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, một nhà dân số học người Ấn

Độ (R.C Sharma) đề cập đến chất lượng cuộc sống trong tác phẩm “Dân số, tài nguyên, môi

trường và chất lượng cuộc sống”, nghiên cứu mối tương tác giữa chất lượng cuộc sống dân

cư với quá trình phát triển dân cư, phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Theo ông, chất

lượng cuộc sống là sự đáp ứng đầy đủ về các yếu tố vật chất và tinh thần cho người dân.

Năm 1990, UNDP (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc) đã đưa ra hệ thống các

chỉ tiêu đánh giá về phát triển con người – HDI (Human Development Index) dựa trên

những chỉ tiêu cơ bản về thu nhập, sức khỏe, tri thức và được coi là 3 mặt cơ bản phản ánh

chất lượng cuộc sống. Hệ thống các chỉ tiêu này đã phản ánh cách tiếp cận mới, có tính hệ

thống hơn, đã coi “phát triển con người là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của con người để

đạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con người. Điều

9

này bao hàm hai khía cạnh chính là mở rộng các cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa

chọn của con người nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, bền vững. ”[1]

4.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư có vai trò rất quan trọng trong quá trình

phát triển kinh tế xã hội của đất nước và ngày càng được chú trọng hơn trong giai đoạn hiện

nay. Chính tầm quan trọng đó mà từ trước đến nay, mức sống dân cư đã được Tổng cục

Thống kê, Ủy ban kế hoạch hóa nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Ngân hàng thế

giới cùng với sự trợ giúp của UNDP tiến hành điều tra khảo sát qua 4 cuộc Tổng điều tra

mức sống dân cư Việt Nam qua các năm 1992 – 1993, 1997 – 1998, 2001 – 2004, 2007 –

2008. Các cuộc điều tra này cung cấp những thông tin về thu nhập, chỉ tiêu và các tiêu chí

khác về mức sống củ các hộ gia đình Việt Nam qua các năm 1993, 1998, 2004, 2008, 2009,

2010. Mỗi cuộc điều tra sẽ thấy rõ sự thay đổi mức sống của dân cư Việt Nam qua các năm,

sự tiến bộ vượt bậc của Việt Nam trong việc giảm nghèo và nâng cao mức sống. Những số

liệu này chứng tỏ tính hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách của các cơ quan phát triển

của chính phủ trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, các cuộc tổng điều tra này chỉ dừng lại

trong việc khảo sát mức sống dân cư Việt Nam bằng những số liệu cụ thể, chưa đi sâu phân

tích mức sống một địa phương nào trong cả nước.

Tại Việt Nam, từ những năm cuối thế kỷ XX đã có nhiều công trình liên quan đến

chất lượng cuộc sống đã được công bố: “Các chỉ số phát triển con người” của Nguyễn

Quán (1995), “Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1992 -1993”, “Điều tra mức sống dân

cư Việt Nam 1997 – 1998”, “Phân hóa giàu nghèo và tác động của yếu tố học vấn đến nâng

cao mức sống cho người dân Việt Nam” (2003) của tập thể các tác giả Đỗ Thiên Kính,

Phùng Đức Tùng, Hồ Sĩ Cúc, Nguyễn Bùi Linh, Bùi Thái Quyên, Hoàng Văn Kình, Lê Thị

Thanh Loan, Nguyễn Phong. Các công trình này đã phân tích các vấn đề có liên quan đến

chất lượng cuộc sống dân cư như: thu nhập của người dân, trình độ dân trí, chất lượng y tế,

giáo dục và thông qua đó khẳng định về sự cải thiện chất lượng cuộc sống của các hộ gia

đình Việt Nam theo thời gian.

Công trình nghiên cứu: “Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001- Đổi mới và

sự nghiệp phát triển con người” của tập thể hơn 30 nhà khoa học do Trung tâm Khoa học

xã hội và nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội) thực hiện đã tổng quan toàn bộ

sự phát triển con người năm 2001, trong đó quan tâm đến HDI theo vùng và tỉnh, thành phố.

10

Đến những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu đã có sự quan tâm, tìm hiểu đối với

mức sống, chất lượng cuộc sống dân cư của địa phương. Đó là: “Diễn biến mức sống dân

cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyển đổi

nền kinh tế Việt Nam nhìn tự thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” [11] của PGS.TS Nguyễn

Thị Cành, tác giả đã trình bày và đi sâu phân tích cụ thể và chi tiết về việc làm, thu nhập và

chi tiêu của dân cư TP. Hồ Chí Minh. Đây có thể xem là công trình có ý nghĩa chiến lược

đầu tiên về phân tích thực trạng mức sống dân cư ở một địa phương. Bên cạnh, tiếp cận mức

sống dân cư ở địa phương còn có Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ “Chất lượng cuộc sống dân cư

tỉnh Bình Thuận – Thực trạng và giải pháp” của Bùi Vũ Thanh Nhật, luận văn tốt nghiệp

thạc sĩ “Giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư huyện Ninh Phước” của Phan

Thị Xuân Hằng, Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai hiện trạng và giải pháp của

Nguyễn Thị Linh đã đề cập đến cách tiếp cận này. Trong luận văn các tác giả đã tìm hiểu,

nghiên cứu mối quan hệ biện chứng trong sự phát triển kinh tế xã hội của các địa phương.

Cùng với những giá trị tích cực đạt được, đề tài cũng chỉ ra những tồn tại cần giải quyết để

ngày càng cải thiện chất lượng cuộc sống dân cư. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những kiến

nghị và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư.

Như vậy, có thể thấy rằng, mảng đề tài mức sống và nâng cao chất lượng cuộc sống

của dân cư trong những năm qua, đã được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều phạm vi và góc

độ khác nhau. Tuy nhiên, việc tiếp cận một cách trực tiếp, tổng thể chất lượng cuộc sống

dân cư của thành phố Cần Thơ còn rất ít. Từ thực tế trên, một mặt cho phép đề tài “Giải

pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư thành phố Cần Thơ” kế thừa những thành quả

của các công trình trước đó, nhưng đồng thời cũng sẽ là cơ hội cho đề tài có thể tiếp tục đưa

ra những ý kiến và kết quả nghiên cứu của mình để bổ sung thêm vào lĩnh vực nghiên cứu

đời sống dân cư dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội.

5. Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1. Hệ quan điểm nghiên cứu

5.1.1. Quan điểm hệ thống

Quan điểm này được sử dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu. Sự phát triển kinh

tế xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư ở từng tỉnh, thành phố trong mỗi

quốc gia cần phải được đặt trong mối quan hệ cụ thể với toàn bộ hệ thống lãnh thổ quốc gia.

Đó là cơ sở đầu tiên giúp cho việc tiếp cận và phân tích vấn đề một cách có hệ thống. Vì

vậy, việc nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư TP. Cần Thơ phải được đặt trong mối

11

liên hệ với vùng Đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước. Bản thân chất lượng cuốc sống

của TP. Cần Thơ cũng là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố qua lại.

5.1.2. Quan điểm tổng hợp – lãnh thổ

Chất lượng cuộc sống không chỉ là cuộc sống vật chất mà còn tập hợp nhiều yếu tố

như dân trí, văn hóa, giáo dục… Do vậy, việc nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư TP.

Cần Thơ cần phải dựa trên phân tích, đánh giá tổng hợp của nhiều yếu tố liên quan.

Các yếu tố về tự nhiên và kinh tế xã hội của từng khu vực, từng huyện, quận có bản

sắc riêng. Vì vậy, nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư TP. Cần Thơ phải tìm hiểu

trên quan điểm tổng hợp – lãnh thổ. Qua đó, làm rõ nguyên nhân của sự khác biệt để phân

tích và đánh giá thực trạng của người dân ở TP. Cần Thơ đúng đắn hơn. Mặt khác, cũng cần

phải thấy được khả năng phát triển kinh tế của từng huyện, thành phố mà đề xuất những

phương hướng, giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội một cách có hiệu quả trong thời kì

tới.

5.1.3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Phân tích chất lượng cuộc sống dân cư trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam

và TP. Cần Thơ trong quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ làm rõ được bản chất của vấn đề theo

một chuỗi thời gian.

5.1.4. Quan điểm sinh thái – phát triển bền vững

Môi trường sống và chất lượng cuộc sống của dân cư có mối quan hệ mật thiết và

hữu cơ với nhau. Môi trường sống có ảnh hưởng trục tiếp đến chất lượng cuộc sống của dân

cư, đặc biệt là sức khỏe và tuổi thọ của người dân. Vì vậy, khi nghiên cứu chúng ta cần xem

môi trường như là một bộ phận của chất lượng cuộc sống của dân cư.

Sự tồn tại và phát triển của loài người đảm bảo sự phát triển bền vững của môi

trường sinh thái. Việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc

sống phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững mới đảm bảo tính ổn định lâu dài. Vì vậy,

mối quan hệ giữa tự nhiên và sự phát triển xã hội là vấn đề cần giải quyết của bất kì một đề

tài nghiên cứu nào.

5.2. Các phương pháp nghiên cứu

5.2.1. Phương pháp phân tích tổng hợp

Đây là phương pháp quan trọng, xuyên suốt cả quá trình nghiên cứu của đề tài,

phương pháp được sử dụng để hệ thống lại các tri thức về bức tranh chung của đối tượng và

khách thể nghiên cứu. Quá trình làm đề tài cần tiến hành thu thập, phân tích và tổng hợp tài

12

liệu, số liệu thống kê của các cơ quan, qua sách, báo, tạp chí, các nghiên cứu đã được công

bố của các cơ quan, ban ngành của TP. Cần Thơ.

5.2.2. Phương pháp thống kê

Trên cơ sở nguồn tư liệu thu thập được từ các công trình của các tác giả đi trước như:

sách, báo, tạp chí, văn bản, các báo cáo, luận văn, luận án…chúng tôi tổng hợp, thống kê lại

nhằm xử lý kết quả nghiên cứu theo chủ đề khác nhau để từ đó có những nhận định ban đầu

về tình hình phát triển kinh tế xã hội, văn hóa, đặc biệt là quy mô dân số, cơ cấu nguồn lao

động.

5.2.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Nghiên cứu Địa lý kinh tế - xã hội không thể thiếu phương pháp bản đồ, biểu đồ.

Những kết quả có được như đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, phân tích thực trạng theo

ngành và theo lãnh thổ…nếu được phản ánh lên bản đồ, biểu đồ sẽ được thể hiện cụ thể,

trực quan và toàn diện hơn. Thông qua đó sẽ dễ dàng so sánh, phân tích mối liên hệ giữa các

yếu tố cấu thành chất lượng cuộc sống giữa các địa phương trong TP. Cần Thơ.

5.2.4. Phương pháp thực địa

Thực địa là phương pháp nền của ngành Địa lý học. Tư liệu thu được bằng phương

pháp thực địa hiện nay được xem là nguồn tư liệu tốt nhất dành cho các tác giả muốn tìm

kiếm một sự hiểu biết theo quan điểm toàn diện về văn hóa và tình trạng sinh sống của con

người. Trong quá trình nghiên cứu thực địa, ghi chép là cứ liệu thông tin không thể thiếu,

bởi vì nó đánh dấu bước đầu về những điều mới phát hiện của người nghiên cứu. Ghi chép

là công việc bắt buộc của người nghiên cứu nhằm giúp họ lưu giữ, phân tích, lý giải thông

tin một cách chính xác, khoa học và nó cũng là cơ sở minh chứng cho những lập luận sau

này của người nghiên cứu.

5.2.5. Phương pháp thu thập tài liệu

Nghiên cứu chất lượng cuộc sống trong một thời gian dài là vấn đề phức tạp và mang

tính đa chiều, liên quan đến nhiều khía cạnh. Vì vậy, tất cả các số liệu thống kê về điều kiện

tự nhiên và kinh tế xã hội từ cấp quận, huyện của TP. Cần Thơ đều là những dữ liệu phục vụ

cho việc nghiên cứu của đề tài. Để phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài đạt hiệu quả cao

thì các số liệu cần được hệ thống hóa để tránh những thiếu sót sau này.

Nguồn dữ liệu thu thập bao gồm từ nhiều nguồn khác nhau: Niên giám thống kê, số

liệu qua các báo cáo và các sổ sách lưu trữ tại các cơ quan, thống kê qua các tài liệu từ khảo

sát thực địa.

13

6. Những đóng góp chính của đề tài

Công trình nghiên cứu về chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ không chỉ mang

ý nghĩa khoa học mà còn ý nghĩa thực tiễn cao.

- Kế thừa, bổ sung và cập nhật cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân

- Làm rõ được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của dân cư TP. Cần

Thơ

- Nghiên cứu hiện trạng chất lượng cuộc sống của dân cư TP. Cần Thơ theo các chỉ

tiêu lựa chọn

- Đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân

cư TP. Cần Thơ

7. Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận

văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư

Chương 2. Thực trạng chất lượng cuộc sống của dân cư TP. Cần Thơ

Chương 3. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư TP.

Cần Thơ

14

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG

CUỘC SỐNG DÂN CƯ

1.1. Khái niệm về chất lượng cuộc sống

1.1.1. Quan điểm triết học về chất lượng

Theo quan điểm triết học, chất lượng là tính xác định bản chất nào đó của sự vật,

hiện tượng, tính chất mà nó khẳng định nó chính là cái đó chứ không phải là cái khác hoặc

cũng nhờ nó mà tạo ra sự khác biệt với một khách thể khác. Chất lượng còn được hiểu như

là một sự đạt được một mức hoàn hảo mang tính chất tuyệt đối.

Chất lượng là một cái gì đó mà làm cho mọi người mỗi khi nghe thấy đều nghỉ ngay

đến sự hoàn mỹ tốt nhất, cao nhất, tuyệt vời của sản phẩm hay dịch vụ.

Tóm lại, có thể hiểu chất lượng có nghĩa là có ích trong cuộc sống con người, sự thỏa

mãn nhu cầu của cuộc sống con người.

1.1.2. Khái niệm chất lượng cuộc sống

Mỗi giai cấp và tầng lớp trong xã hội có một quan niệm riêng về CLCS, nó bao hàm

nhiều khía cạnh khác nhau và các khía cạnh của CLCS đều rất quan trọng. Tuy nhiên, có

một số xã hội nhấn mạnh vào khía cạnh này nhiều hơn khía cạnh khác. Chẳng hạn như ở xã

hội theo Chủ nghĩa Duy vật sẽ nói rằng kinh tế là quan trọng nhất, ngược lại xã hội hiện đại

có thể nhấn mạnh hơn về khía cạnh chính trị, văn hóa, tinh thần. Chính vì vậy, niềm tin và

giá trị của cá nhân ảnh hưởng tới định nghĩa của một xã hội về CLCS.

CLCS thực sự khó tiếp cận vì nó phụ thuộc vào hệ giá trị, cơ sở văn hóa của mỗi

quốc gia và cả thời gian nghiên cứu cũng làm cho các quan niệm về CLCS trở nên đa dạng.

Tuy nhiên, dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội có thể hiểu CLCS như sau:

CLCS là sự phản ánh, sự đáp ứng những nhu cầu xã hội, trước hết là những nhu cầu

vật chất cơ bản tối thiểu của con người. Mức đáp ứng càng cao thì CLCS càng cao.

Mặt khác CLCS, còn được mở rộng hơn chia thành 2 nhóm cơ bản: vật chất và tinh

thần. Do vậy, CLCS là điều kiện sống được cung cấp đầy đủ về nhà ở, giáo dục, dịch vụ y

tế, lương thực thực phẩm, vui chơi giải trí cho mọi người để thỏa mãn nhu cầu ngày càng

cao của họ về những vấn đề trên. Điều kiện này làm cho con người dễ dàng đạt được sự

hạnh phúc, an toàn cho gia đình, khỏe mạnh về vật chất và tinh thần.

15

Bên cạnh đó, CLCS còn được gắn liền với môi trường và sự an toàn của môi trường.

Một cuộc sống sung túc là cuộc sống được đảm bảo bởi những nguồn lực cần thiết, như cơ

sở hạ tầng hiện đại, các điều kiện vật chất và tinh thần đầy đủ. Đồng thời con người phải

được sống trong môi trường tự nhiên trong lành, bền vững, không bị ô nhiểm, một môi

trường xã hội lành mạnh và bình đẳng, không bị ảnh hưởng bởi các vấn nạn xã hội. Do đó,

CLCS phản ánh đặc trưng cơ bản của một xã hội văn minh có trình độ phát triển cao nhất về

mọi mặt.

Theo R.C.Sharma, tác giả của cuốn sách nổi tiếng: "Dân số, tài nguyên, môi trường

và chất lượng cuộc sống". thì CLCS là một khái niệm phức tạp, nó đòi hỏi sự thỏa mãn

cộng đồng chung xã hội, cũng như những khả năng đáp ứng được nhu cầu cơ bản của chính

bản thân xã hội. Ông đã định nghĩa: "Chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng

(hạnh phúc hoặc thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được

coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con người. Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm

giác được hài lòng với những gì mà con người có được. Nó như là cảm giác của sự đầy đủ

hay là sự trọn vẹn của cuộc sống. Theo R.C.Sharma thì mức sống của mỗi cá nhân, gia đình

và cộng đồng xã hội được coi là yếu tố quan trọng để tạo ra CLCS.

Trong xã hội hiện đại, khái niệm CLCS thường được đồng nhất với khái niệm thoải

mái tối ưu. Trong đó, mối quan tâm chính của việc nâng cao CLCS là tạo ra một trạng thái

thoải mái về vật chất và tinh thần, là tăng cường thời gian nghỉ ngơi. Sự tối ưu hóa mức độ

thoải mái được thể hiện trong sự đa dạng hóa các sản phẩm tiêu dùng mà mỗi cộng đồng xã

hội, mỗi gia đình hay mỗi cá nhân có được. Sự "thoải mái tối ưu" đó "không có sự phân biệt

mức độ giữa các tầng lớp, sự ngăn cách bởi sự sang hèn, hay địa vị trong xã hội".

Nội dung khái niệm CLCS đã được Wiliam Bell mở rộng toàn diện hơn, như gắn

quan niệm CLCS với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, sinh thái… Theo ông, CLCS

được đặc trưng bởi 12 điểm:

(1) An toàn thể chất cá nhân;

(2) Sung túc về kinh tế;

(3) Công bằng trong khuôn khổ pháp luật;

(4) An ninh quốc gia;

(5) Bảo hiểm lúc già yếu và đau ốm;

(6) Hạnh phúc tinh thần;

(7) Sự tham gia vào đời sống xã hội;

16

(8) Bình đẳng về giáo dục, nhà ở, nghỉ ngơi;

(9) Chất lượng đời sống văn hóa;

(10) Quyền tự do công dân;

(11) Chất lượng môi trường kỹ thuật (giao thông vận tải, nhà ở, thiết bị sinh hoạt,

thiết bị giáo dục, y tế);

(12) Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm".

Trong đó, ông đã nhấn mạnh nội dung "An toàn" và đã khẳng định CLCS được đặc

trưng bằng sự an toàn của môi trường (nhân tạo) trong môi trường tự nhiên trong lành và

môi trường xã hội lành mạnh. Một cuộc sống sung túc là cuộc sống đảm bảo bởi những

nguồn lực cần thiết cho nhu cầu của con người. Đồng thời con người phải được sống trong

môi trường tự nhiên trong lành, không bị ô nhiểm, môi trường xã hội lành mạnh và bình

đẳng, không bị ảnh hưởng bởi các tệ nạn xã hội.

Nói tới CLCS là phải nói tới sự tổng hợp của cả bốn nhân tố: một là, nhân tố kinh tế

(GDP - tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người); hai là, giáo dục thông qua các tiêu

chí về xóa nạn mù chữ và số năm học bình quân; ba là, sức khỏe con người thông qua tuổi

thọ bình quân và bốn là, nhân tố môi trường (bao gồm, môi trường tự nhiên, môi trường xã

hội và môi trường kỹ thuật). Như vậy, bốn nhân tố kinh tế - giáo dục - sức khỏe - môi

trường là hạt nhân cơ bản để tạo nên CLCS của mổi cộng đồng, quốc gia và dân tộc. Điểm

chung dễ nhận thấy trong các quan niệm về CLCS đều gắn liền với yếu tố tăng trưởng kinh

tế. Việc nâng cao CLCS của con người trong bất cứ xã hội nào luôn gắn với một quan hệ

trực tiếp giữa phát triển kinh tế, sản xuất hàng hoá với phúc lợi cộng đồng một quốc gia. Và

do vậy, CLCS thường được xác định thông qua các chỉ tiêu kinh tế.

Mặt khác, khái niệm CLCS còn được mở rộng hơn. Nó chính là "Điều kiện sống

được cung cấp đầy đủ nhà ở, giáo dục, dịch vụ y tế, lương thực, vui chơi giải trí cho nhu

cầu của con người. Điều kiện này dễ làm cho con người đạt được hạnh phúc, an toàn gia

đình, khỏe mạnh về vật chất và tinh thần". [25]

Nếu học vấn cao, sức khỏe dồi dào và mức sống no đủ, giàu có là nội dung phát triển,

thì phải chăng tội phạm, tệ nạn xã hội là phản phát triển. Điều này cho thấy, CLCS không

những đòi hỏi làm cho kinh tế, giáo dục, y tế phát triển, môi trường tự nhiên trong lành, mà

còn phải đẩy lùi tội phạm và tệ nạn xã hội, tạo sự lành mạnh cho xã hội. Một khái niệm

mang tính chất đơn giản hơn nhằm đánh giá CLCS là vấn đề phát triển của con người. Theo

UNDP, “ phát triển con người” là quá trình nâng cao nâng lực các cộng đồng và cá nhân, sự

17

gia tăng cơ hội cho mọi người để có thể tiếp cận với các điều kiện sống và điều kiện học tập

tốt hơn. Phát triển con người phải đảm bảo tính bền vững, bình đẳng và nâng cao vị thế của

nó. Vấn đề phát triển con người được cải thiện sẽ là điều kiện cho con người cải thiện cuộc

sống của mình và tạo ra sự kết hợp các nguồn vật chất và nguồn vốn con người có hiệu quả

hơn.

Như vậy, có thể hiểu CLCS là sự phản ánh, sự đáp ứng những nhu cầu của xã hội,

trước hết là nhu cầu về vật chất cơ bản tối thiểu của con người. Mức đáp ứng càng cao thì

CLCS càng cao. Bên cạnh đó, CLCS còn được gắn liền với môi trường và sự an toàn của

môi trường.

Từ sự phân tích trên, có thể đi đến khái niệm về CLCS như sau: chất lượng cuộc

sống thể hiện ở mức sung túc về kinh tế, con người có giáo dục, sống khỏe mạnh và trường

thọ, được sống trong môi trường tự nhiên, xã hội, nhân tạo an toàn, bình đẳng và được tôn

trọng.

1.2. Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư

CLCS là một vấn đề định tính hơn là vấn đề định lượng, và đánh giá CLCS là vấn đề

phức tạp, rất khó có chỉ tiêu nào có tính chất tổng hợp để đo lường và so sánh về CLCS.

Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi đánh giá CLCS thông qua một số chỉ tiêu liên quan

như thu nhập bình quân đầu người, giáo dục, y tế, vấn đề điều kiện sống, môi trường sống

của con người và chỉ tiêu có tính chất thay thế đó là vấn đề phát triển con người ( HDI).

1.2.1. HDI – một tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống

Con người là tài nguyên quý giá nhất, là mục tiêu hướng tới của mọi hoạt động kinh

tế - xã hội của mỗi quốc gia và thế giới. Việc lựa chọn các tiêu chí phản ánh sự phát triển

con người có ý nghĩa rất quan trọng. Trước đây người ta thường dựa vào các tiêu chí

GDP/người hoặc GNI/người để phân chia thành các nhóm nước giàu và nghèo. Tuy nhiên,

thực tế cho rằng, không phải bất cứ nước nào có thu nhập cao thì trình độ dân trí đều cao,

chú ý đến vấn đề chăm sóc sức khỏe và phúc lợi xã hội của con người. Ngược lại, nhiều

quốc gia thu nhập bình quân đầu người chỉ ở mức trung bình, thấp, đời sống vật chất còn

nhiều khó khăn nhưng lại quan tâm đến mục tiêu giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe cho

người dân. Từ những năm 1990, Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) đưa

ra chỉ số phát triển con người HDI (Human Development Index), chỉ số nghèo khổ cho con

người ở các nước đang phát triển HPI (Human Poverty Index), chỉ số phát triển giới GDI

18

(Gender related Development Index). Trong khuôn khổ đề tài này cho rằng chỉ số HDI là

tổng hợp và phù hợp nhất để đánh giá CLCS dân cư TP. Cần Thơ.

HDI là chỉ số tổng hợp đo lường CLCS như là kết quả của sự phát triển KTXH của

một quốc gia đối với sự cải thiện đời sống dân cư. Chỉ số này được đo lường dựa trên sự

tính toán tổng hợp các thành tựu ở 3 khía cạnh cơ bản của phát triển con người như: sống

lâu và khỏe mạnh, tiếp cận với tri thức, và một mức sống tốt.

Một cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh được đo bằng tuổi thọ trung bình dự kiến từ lúc

sinh.

Kiến thức của dân cư được đo bằng tỷ lệ người biết chữ (với trọng số 2/3) và tỷ lệ

2

=

G

+ ba 3

nhập học các cấp (Tiểu học, THCS, THPT và Đại học với trọng số 1/3), cụ thể là:

Trong đó:

G: Chỉ số phát triển giáo dục

a: Tỷ lệ người lớn biết chữ (%)

b: Tỷ lệ nhập học các cấp (%)

Mức sống của con người được đo bằng tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic

Product – GDP) bình quân đầu người và điều chỉnh theo phương pháp sức mua tương

đương (Purchasing Power Parity – PPP), tính bằng USD.

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng sản lượng và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà

một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia, trong một thời kỳ nhất định, thường là một

năm.

Phương pháp sức mua tương đương (PPP) do Liên Hiệp Quốc đưa ra cho phép có sự

so sánh chuẩn về giá trị thực tế giữa các quốc gia. Tại mức giá PPP, 1 USD có sức mua đối

với GDP trong nước ngang bằng USD đó.

Như vậy, chỉ tiêu GDP điều chỉnh theo PPP tính bằng USD phản ánh đúng hơn kết

quả sản xuất hàng hóa và dịch vụ của từng quốc gia và được so sánh trên cùng một mặt

bằng là sức mua tương đương. GDP và PPP bình quân đầu người được tính bằng tổng sản

phẩm quốc nội và GDP được chuyển đổi theo phương pháp sức mua của một quốc gia chia

cho tổng số dân cư ở một thời kỳ nhất đinh, đơn vị tính là USD/người.

19

THƯỚC ĐO Cuộc sống dài Kiến thức Mức sống dư dật

lâu, khỏe mạnh

GDP thực tế

bình quân đầu

CHỈ TIÊU Tuổi thọ bình Tỷ lệ người Tỷ lệ nhập người

quân từ lúc sinh lớn biết chữ học các cấp (PPPUSD)

Chỉ số tuổi thọ Chỉ số giáo dục Chỉ số GDP

(I1) (I2) (I3)

Chỉ số phát triển con người (HDI)

Hình 1.1. Chỉ số phát triển con người

Nguồn: [31]

Để tính được giá trị HDI, trước hết cần tính ba chỉ số thành phần: tuổi thọ, kiến thức

và thu nhập. quy tắc chung để tính các chỉ số thành phần này là sử dụng các giá trị tối thiểu

=

m

− aA −

A

a

max

và tối đa cho từng chỉ số theo công thức sau:

Trong đó:

m – Chỉ số thước đo

A – Giá trị thực

a – Giá trị tối thiểu

Amax – Giá trị lớn nhất

Chỉ số HDI tính được là giá trị trung bình của các chỉ số thước đo.

Bảng 1.1. Các giá trị quốc tế để tính chỉ số HDI

Chỉ tiêu Giá trị tối thiểu (a)

Giá trị tối đa (Amax) 85 100 100 40.000 25 0 0 100 Tuổi thọ (năm) Tỉ lệ người lớn biết chữ (%) Tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục (%) GDP thực tế đầu người (PPP USD) Nguồn: [29]

Việc tính chỉ số thu nhập có phức tạp hơn, được thống nhất tính theo công thức sau:

20

log (giá trị thực) - log (giá trị tối thiểu)

I3 =

log (giá trị tối đa) - log (giá trị tối thiểu)

+

+

I

I

1

3

Tổng hợp ba chỉ số thành phần sẽ có được chỉ số HDI theo công thức sau:

I 2 3

HDI =

Trong đó: I1: Chỉ số tuổi thọ

I2: Chỉ số giáo dục

I3: Chỉ số thu nhập

Các chỉ số tuổi thọ, giáo dục, GDP và HDI đều nhận giá trị từ 0 đến 1. Giá trị các chỉ

số này càng gần tới 1 có nghĩa là trình độ phát triển và xếp hạng càng cao (với 1 là thứ hạng

cao nhất), trái lại, các chỉ số càng gần 0 có nghĩa là trình độ phát triển và xếp hạng càng

thấp. Trên cơ sở này, Cơ quan báo cáo của con người của Liên Hiệp Quốc đã phân chia

thành các nhóm nước sau:

Nhóm HDI thấp, có giá trị từ 0,000 đến 0,499

Nhóm HDI trung bình, có giá trị từ 0,500 đến 0,799

Nhóm HDI cao, có giá trị từ 0,800 đến 1,000

Trong số 169 quốc gia cung cấp số liệu để xây dựng HDI cho năm 2010, 42 quốc gia

xếp hạng HDI rất cao, 43 quốc gia xếp hạng HDI cao, 42 quốc gia xếp hạng HDI trung bình,

trong đó có Việt Nam được xếp hạng 113 với giá trị 0,728 và 42 quốc gia xếp hạng HDI

thấp.

Bảng 1.2. Một số xếp hạng quốc gia về HDI năm 2010 (trong số 169 quốc gia)

Xếp GDP Tuổi thọ Tỷ lệ người lớn Chỉ số

Quốc gia hạng đầu người trung bình biết chữ (%) HDI

HDI thực tế (PPP) (năm)

Na Uy 1 58.810 81 99 0,938

Hoa Kỳ 4 47.094 79,6 99 0,902

Nhật Bản 11 34.692 83,2 99 0,884

Hàn Quốc 12 29.518 79,8 99 0,877

Singapo 27 48.893 80,7 95 0,846

Trung Quốc 89 7.258 73,4 94 0,663

21

Thái Lan 92 8.001 69,3 94 0,654

Việt Nam 113 2.995 74,9 93 0,728

Nêpan 138 1.201 67,5 58 0,428

Dămbia 150 1.359 47,3 71 0,395

Nguồn: [2]

Chỉ số HDI cho thấy quốc gia nào có thu nhập cao, có chính sách giáo dục và chăm

sóc sức khỏe dân cư thích đáng thì vị trí HDI sẽ cao. Một số nước có mức thu nhập cao,

nhưng không quan tâm đầy đủ tới việc nâng cao dân trí và chăm sóc sức khỏe dân cư thì vị

trí HDI sẽ giảm đi. Một số quốc gia khác, tuy mức thu nhập thấp nhưng do Nhà nước quan

tâm đến y tế, giáo dục nên giá trị HDI tăng lên.

Có điều cần chú ý là mối quan hệ giữa các chỉ số thành phần tạo nên giá trị HDI ở

mỗi quốc gia rất khác nhau. Vì vậy, có những nước thu nhập bình quân đầu người như nhau

nhưng giá trị HDI lại khác nhau và ngược lại.

Năm 2010, trong HDR năm 2010, UNDP đã bổ sung thêm 3 chỉ số mới vào hệ thống

các chỉ số của HDR – Chỉ số con người có điều chỉnh khía cạnh bất bình đẳng, chỉ số nghèo

đa chiều. Các chỉ số tiên tiến này được lồng ghép những tiến bộ mới đây trong lý thuyết và

đo lường, khuyến khích việc đưa bất bình đẳng và nghèo đói trở thành các vấn đề trung tâm

trong khuôn khổ phát triển con người.

Những cách đo lường mới nêu trên đem lại nhiều kết quả và thêm cách nhìn nhận

mới cho xã hội, đó là cần tập trung hơn vào công tác xây dựng chính sách phát triển nhằm

cải thiện sự bình đẳng, vào công tác cung cấp các dịch vụ cơ bản cho người dân, đặc biệt là

đối với phụ nữ và trẻ em.

1.2.2. Chỉ số thu nhập bình quân đầu người (GDP)

Thu nhập là một phương tiện rất quan trọng để mở rộng sự chọn lựa cho con người

và được sự dụng trong chỉ số HDI như một yếu tố phản ánh mức sống đầy đủ. Thu nhập có

vai trò quan trọng trong việc quyết định khả năng con người sử dụng các nguồn lực cần thiết

để tiếp cận được với lương thực, nơi ở và quần áo, và đem lại nhiều sự lựa chọn hơn.

* GDP và GDP bình quân đầu người

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều lựa chọn tiêu chí chính để đánh giá

CLCS dân cư là chỉ số thu nhập quốc dân tính bình quân đầu người (GNP/người hay

GNI/người) hoặc tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân đầu người (GDP/người).

22

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cuối

cùng mà nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia, không phân biệt người trong nước hay

người nước ngoài làm ra ở một thời kỳ nhất định, thường là một năm.

GDP là một trong 3 chỉ số đánh giá phát triển nhân bản HDI (cùng với y tế và giáo

dục). Tổng sản phẩm trong nước thể hiện số lượng nguồn của cải làm ra ở bên trong quốc

gia, thể hiện sự phồn vinh và khả năng phát triển kinh tế.

Như vậy, GNI = GDP + nguồn thu từ nước ngoài – nguồn thu nhập phải chuyển cho

người nước ngoài. (Thu nhập từ nước ngoài do có vốn đầu tư ra nước ngoài, nguồn thu do

người lao động từ nước ngoài gởi về, thu nhập phải chuyển cho người nước ngoài do vốn

đầu tư của họ trong nước). Do đó, GNI là thước đo tổng hợp lớn của thu nhập quốc dân.

GNI chỉ rõ sở hữu và hưởng thụ được nguồn của cải làm ra.

GNI và GDP bình quân đầu người được tính bằng GNI và GDP chia cho tổng số dân

của quốc gia đó ở cùng thời điểm. Việc tính GNI/người và GDP/người có ý nghĩa rất lớn,

thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá khả năng và trình độ phát triển kinh tế và mức sống

của người dân ở từng nước.

Trên thế giới, ngoài GDP và GDP/người của mỗi nước được quy đổi sang USD quốc

tế, Liên Hiệp Quốc còn đưa ra phương pháp tính thu nhập của dân cư theo sức mua tương

đương (PPP). Tỉ giá này cho phép so sánh về chuẩn mực giá thực tế giữa các nước, vì CLCS

của dân cư ở các nước không chỉ khác biệt do ảnh hưởng đơn thuần của giá trị thu nhập theo

đầu người mà còn sẽ bị chi phối lại do giá cả sinh hoạt của mỗi quốc gia, mỗi vùng khác

nhau.

GDP bình quân đầu người được tính bằng USD/người hoặc bằng Việt Nam

đồng/người. Thông qua tiêu chí này chúng ta có thể đánh giá được trình độ kinh tế, mức

sống của mỗi người dân trong từng nước hoặc so sánh giữa các địa phương.

GDP có tương quan chặt chẽ với các chỉ tiêu về CLCS, vì GDP lớn sẽ dẫn đến mức

sống cao hơn, giữa những nước giàu và nước nghèo có GDP bình quân đầu người chênh

lệch rất lớn.

Các nước có GDP bình quân đầu người thấp thường có số lượng lớn trẻ em được sinh

ra với trọng lượng thấp, tỷ lệ chết của bà mẹ, trẻ sơ sinh và tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em

cao và có ít khả năng tiếp cận nguồn nước an toàn, những con đường trải nhựa và điện lưới

quốc gia, có ít trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường và những đứa trẻ đi học phải học

trong các lớp đông học sinh hơn. Những nước này cũng ít được sử dụng đồ dung lâu bền (ti

23

vi, điện thoại, internet….). Vì vậy, các số liệu quốc tế đã cho thấy rằng GDP của một quốc

gia có liên quan chặt chẽ với mức sống của người dân nước đó.

* Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình

Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình là toàn bộ tiền và hiện vật mà hộ và

thành viên của hộ nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm),

bao gồm:

- Thu từ tiền công, tiền lương

- Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (đã trừ chi phí và thuế sản xuất)

- Thu từ sản xuất ngành nghề

- Thu khác

* Chỉ số nghèo đói

Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện, thiếu thốn về thu nhập, về cơ

hội, về tài sản vật chất, thể chất cũng như tinh thần….gây cản trở cho sự phát triển một cách

đầy đủ mọi tiềm năng của con người.

Nghèo đói là một khái niệm đã được sử dụng từ rất lâu trên thế giới để chỉ mức sống

của một nhóm dân cư, một cộng đồng, một nhóm quốc gia so với mức sống của cộng đồng

hay các các quốc gia khác.

Nghèo đói là không có khả năng đảm bảo được sức khỏe và cuộc sống, không có khả

năng có thể tiếp cận đến các nguồn tri thức, thu nhập thấp không được đảm bảo các nhu cầu

tối thiểu của cuộc sống như sử dụng nước sạch, không được tiếp cận dịch vụ khám chữa

bệnh, không được đảm bảo mức dinh dưỡng. Theo quan niệm trên, để đo lường một cách

tổng hợp tình trạng đói nghèo hiện nay người ta sử dụng chỉ số nghèo đói tổng hợp HPI

(Human Poverty Index). Chỉ số HPI được phân thành hai loại: HPI – 2 dùng cho các nước

công nghiệp hóa và HPP – 1 dùng cho các nước đang phát triển. Chỉ số HPI – 1 được tính

dựa vào 3 thước đo cơ bản là:

- Tính dễ tổn thương dẫn đến cái chết ở độ tuổi tương đối trẻ được đo bằng xác suất

không thọ quá 40 tuổi (P1)

- Sự bị loại trừ ra khỏi thế giới của những người biết chữ và có khả năng giao tiếp,

được đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ (P2)

- Sự thiếu khả năng tiếp cận với những thành quả kinh tế chung (P3)

được đo bằng ba biến số: tỷ lệ người dân không có khả năng tiếp cận với nguồn nước sạch

24

(P31), tỷ số người dân không có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế (P32), và tỷ lệ trẻ em

+

+

P 31

P 33

dưới 5 tuổi thiếu cân và suy dinh dưỡng (P33). Giá trị biến P3 được tính là:

P 32 3

1 3

+

+

P3 =

)

3 P 3

( 3 P 1

3 P 2 3

    

    

Chỉ số nghèo đói HPI – 1 được tính theo công thức sau: HPI – 1=

Về cơ bản, đói nghèo được xác định trong mối tương quan xã hội. Có hai dạng đói

nghèo: nghèo về thu nhập (nghèo tuyệt đối) và nghèo về con người (nghèo tương đối).

Nghèo về con người được xác định bằng mức thu nhập để chi hàng hóa, dịch vụ theo mức

nghèo lương thực, thực phẩm và cả những chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu ngoài lương

thực, thực phẩm.

Chuẩn nghèo tương đối đề cập đến sự thiếu hụt của cá nhân (hộ gia đình) so với mức

sống trung bình đạt được. Chuẩn này cũng không có sự thống nhất giữa các quốc gia. Nhìn

chung trên thế giới các nước phát triển xác định chuẩn nghèo dựa trên ½ thu nhập bình quân

còn các nước đang phát triển là 1/3 thu nhập bình quân.

Chuẩn nghèo tuyệt đối tức là chuẩn nghèo 1 – 2 USD/ngày/người. Chuẩn nghèo quốc

tế do Liên Hiệp Quốc công bố và quy định 2 USD/ngày/người cho các nước phát triển, 1

USD/ngày/người cho các nước đang phát triển. Tuy nhiên, hiện nay nhiều nước đang phát

triển cũng nâng dần chuẩn lên 2 USD/ngày/người.

Bảng 1.3. Chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2002 – 2015 (VNĐ/tháng)

Loại hộ

Giai đoạn Nông thôn Thành thị

Trước 2002 149.000

2002 – 2004 160.000

2004 – 2006 170.000 220.000

2006 – 2008 200.000 260.000

2008 – 2010 290.000 320.000

2011 - 2015 400.000 500.000

Nguồn: [23]

Việc tồn tại đồng thời hai chuẩn nghèo với phương pháp tiếp cận và nội dung tính

toán khác nhau dẫn đến có sự khác biệt lớn về tỷ lệ đói nghèo trong một quốc gia. Vì vậy,

việc xây dựng chuẩn nghèo mới là có tính cấp thiết cần được thực hiện. Bộ Lao động

25

thương binh và xã hội, Tổng cục thống kê và các cơ quan liên quan đã nghiên cứu đưa ra

chuẩn nghèo thống nhất cho cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo được tính theo thu nhập bình quân 1

người 1 tháng của hộ gia đình.

Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo

được xác định là hộ nghèo

Tỷ lệ hộ nghèo là phần trăm số hộ có mức thu nhập/chi tiêu bình quân theo đầu

người thấp hơn chuẩn nghèo.

1.2.3. Chỉ số về giáo dục

* Giáo dục

Giáo dục là một trong những chỉ số cơ bản nói lên CLCS, trình độ học vấn của mỗi

quốc gia phản ánh mức độ phát triển của quốc gia và mức độ hưởng thụ dịch vụ giáo dục

của dân cư. Trình độ học vấn cao là điều kiện rất quan trọng để con người phát triển toàn

diện, dễ thích ứng với điều kiện phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật. Do đó, ngày nay

trên thế giới, nhiều quốc gia trên thế giới đã coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là một

trong những nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao CLCS cho người dân.

Chỉ số về giáo dục được dùng làm thước đo trình độ dân trí làm nên CLCS của dân

cư bao gồm các chỉ tiêu về tỷ lệ người lớn biết chữ, trình độ văn hóa và tay nghề, số năm

đến trường, tỷ lệ người mù chữ….

* Tỷ lệ người lớn biết chữ

Tỷ lệ người lớn biết chữ là tỷ lệ những người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết

thông thạo một đoạn văn đơn giản bằng tiếng quốc ngữ.

Tỷ lệ người lớn biết chữ có liên quan nhiều đến các chỉ số thu nhập và mức sống của

từng cộng đồng và từng quốc gia.

* Trình độ văn hóa và tay nghề

Trình độ văn hóa hay trình độ học vấn nói lên khả năng tích lũy kiến thức của khối

dân cư và được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ lệ người lớn biết chữ, số người tốt nghiêp

các cấp học từ thấp đến cao. Trình độ tay nghề là trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực

lượng lao động có trình độ chuyên môn (sơ cấp, công nhân kỹ thuật, trung học chuyên

nghiệp, cao đẳng, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) trong tổng số lao động đang hoạt động trong các

ngành kinh tế của đất nước.

Trình độ văn hóa và trình độ tay nghề luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau đồng

thời có liên quan nhiều đến chỉ số thu nhập của từng quốc gia. Các nước có nền kinh tế phát

26

triển thì các chỉ số phản ánh về trình độ văn hóa và trình độ tay nghề trong khối dân cư

thường rất cao, ngược lại ở các quốc gia chậm phát triển thì các chỉ số này thường rất thấp.

Hiện nay, trình độ văn hóa và tay nghề của lực lượng lao động đang có sự chuyển

biến theo hướng tích cực, CLCS của dân cư ngày càng được cải thiện, tỷ lệ người biết chữ

và tốt nghiệp các cấp học theo hướng tăng dần các cấp học ngày càng cao. Về trình độ

chuyên môn kỹ thuật, số lao động có tay nghề ngày càng tăng và họ đang là những lực

lượng lao động mang lại chất lượng hiệu quả cao trong các ngành kinh tế. Tuy nhiên, ở các

nước có nền kinh tế đang phát triển việc sử dụng lao động không có tay nghề trong các

ngành kinh tế vẫn còn chiếm tỷ lệ cao.

Hiện nay, ở các quốc gia đang phát triển tình hình này đang có sự chuyển biến theo

hướng tích cực, CLCS của dân cư ngày càng được cải thiện, tỷ lệ người biết chữ và tốt

nghiệp các cấp học theo hướng tăng dần, tăng dần tốt nghiệp cấp học từ thấp đến cao. Trên

thế giới hiện nay còn 21,4% số dân từ 15 tuổi trở lên không biết chữ, tỷ lệ này ở các nước

đang phát triển là 23,3%, trong đó ở các nước phát triển chỉ có 2,1% số dân không biết chữ

đặc biệt cao ở một số nước Châu Á và Châu Phi.

* Số năm đến trường

Cùng với chỉ số tỷ lệ người lớn biết chữ thì số năm đến trường cũng là một chỉ số

quan trọng để đánh giá chất lượng học vấn của dân cư ở mỗi quốc gia. Số năm đến trường là

số năm bình quân đã được học ở trường của những người từ 15 tuổi trở lên.

Tiêu chí số năm đến trường có liên quan nhiều đến chỉ số thu nhập ở mỗi quốc gia.

Các nước có thu nhập thấp thường có số năm đi học thấp (trung bình 3 – 4 năm, thậm chí ở

Châu Phi có một số nước chỉ số này rất cao, thường là 10,6 năm (Bắc Mỹ: 12,4 năm, Châu

Âu: 11,1 năm….). Nhìn chung, ở hầu hết các nước đều có số năm đi học của nam giới

thường cao hơn nữ giới. Chỉ số số năm đến trường là một trong các chỉ số phản ánh trung

thực CLCS của từng nước.

1.2.4. Chỉ số về y tế và chăm sóc sức khỏe

Sức khỏe là vốn quý và là một yếu tố quan trọng đảm bảo hạnh phúc cho mỗi con

người. Sức khỏe toàn dân là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu phát triển của mỗi

quốc gia, là tương lai của dân tộc. Sức khỏe là yếu tố cơ bản của CLCS dân cư. Sức khỏe

vừa là mục đích, vừa là điều kiện của sự phát triển. Việc chăm sóc sức khỏe sẽ làm tăng

nguồn nhân lực về mặt số lượng nhờ kéo dài tuổi thọ. Các quốc gia trên toàn thế giới không

27

chỉ quan tâm về mặt số lượng mà còn chú ý đến chất lượng dân số, chất lượng nòi giống,

trong đó có mục tiêu nâng cao thể lực cho con người.

Để đánh giá trạng thái sức khỏe và mức độ bảo đảm y tế cho dân cư của một quốc

gia, người ta thường sử dụng các tiêu chí như tỷ người chết, tuổi thọ bình quân, tình trạng

dinh dưỡng, tỷ lệ người có bệnh, số bác sĩ, y tá – y sĩ trên 1 vạn dân, số giường bệnh trên 1

vạn dân, ngân sách đầu tư cho y tế (% GDP và bình quân đầu người)…

* Tuổi thọ bình quân

Là số năm trung bình của một người có khả năng sống được, chỉ số tuổi thọ bình

quân có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ tử vong, đặc biệt là tử vong ở trẻ em. Các phương pháp

tính tuổi thọ trung bình:

Phương pháp lập bảng sống và tính tuổi thọ trung bình dựa trên số liệu về người chết

và dân số chia theo độ tuổi (tỷ suất chết đặc trưng theo độ tuổi).

Phương pháp hệ số sống giữa hai cuộc điều tra (sử dụng dân số chia theo độ tuổi của

hai cuộc tổng điều tra dân số)

Phương pháp ước lượng qua số liệu về tỷ suất chết của trẻ so sinh và bảng sống mẫu.

Mức độ chính xác của tuổi thọ tính theo phương pháp này phụ thuộc vào mức độ chính xác

của tỷ suất chết của trẻ sơ sinh và phải chọn được bảng sống mẫu phù hợp. Tuy nhiên, do số

trẻ chết dưới 1 tuổi và số trẻ sơ sinh trong năm thường dễ thu thập nên tỷ suất chết của trẻ

sơ sinh có thể xác định tương đối chính xác. Vì vậy, phương pháp này được các nước đang

phát triển có trình độ thống kê yếu sử dụng một cách phổ biến.

Nhìn chung, khi thu nhập bình quân theo đầu người càng cao thì tuổi thọ trung bình

càng tăng. Trong những năm gần đây tuổi thọ tăng cao ở một số quốc gia, nhưng đặc biệt lại

giảm mạnh ở một số quốc gia mà nguyên nhân không chỉ do thu nhập thấp mà còn do ảnh

hưởng nặng nề nhất vẫn là các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia ở Châu Phi.

* Các dịch vụ y tế

Các dịch vụ y tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và CLCS. Các dịch

vụ y tế làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực cả trong hiện tại lẫn tương lai. Các tiêu chí

phản ánh mức độ được đáp ứng về dịch vụ y tế như: số bệnh viện, trạm xá, số giường bệnh,

số cán bộ y tế/10.000 dân…

Xu hướng chung hiện nay trên toàn thế giới là tỷ lệ tử vong của trẻ em ngày càng

giảm. Song tỷ lệ này còn chênh lệch khá lớn giữa các nước. Theo thống kê, tỷ lê tử vong ở

trẻ sơ sinh trong các nước đang phát triển cao gấp 6 lần các nước phát triển. Nói chung trình

28

độ phát triển kinh tế xã hội càng cao thì tỷ lệ tử vong ở trẻ em càng thấp, do đó tuổi thọ bình

quân ở trẻ em càng cao. Tuổi thọ bình quân có mối liên hệ mật thiết với GDP/người.

Các nước có nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao, có mức độ đầu

tư cho y tế cao và chăm sóc sức khỏe tốt, thì tuổi thọ trung bình sẽ tăng cao. Đối với các

nước đang phát triển, có thu nhập thấp thì tình hình ngược lại chi cho y tế ở các nước này

chỉ bằng 1/5 so với các nước có thu nhập cao và các dịch vụ y tế rất ít, phân bố không đều,

tập trung chủ yếu ở thành thị. Do đó, tuổi thọ bình quân của các nước có nền kinh tế phát

triển luôn cao hơn các nước đang phát triển khoảng 13 tuổi. Tuổi thọ trung bình của các

nước đang phát triển là 66,1 tuổi.

Trong những năm gần đây tuổi thọ đã tăng cao ở một số nước, nhưng đặc biệt giảm

mạnh ở một số nước như Swaziland, Lesotho…mà nguyên nhân không chỉ do mức thu nhập

thấp mà còn do ảnh hưởng nặng nề bởi 3 nhóm bệnh phổ biến gây tử vong là bệnh truyền

nhiễm, bệnh hô hấp, bệnh ký sinh trùng chiếm gần nửa số nguyên nhân gây tử vong, nơi ảnh

hưởng nặng nề nhất vẫn là các quốc gia đang phát triển ở Châu Phi. Trong khi đó, ở những

nước phát triển thì những bệnh này được kiểm soát khá tốt.

1.2.5. Các tiêu chí khác

1.2.5.1. Lương thực và dinh dưỡng

Nhu cầu về lương thực là nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người, nhu cầu đó thể

hiện ở hai mặt: số lượng và chất lượng thay đổi theo độ tuổi, giới tính, mức độ lao

động….Lương thực – thực phẩm cùng với chế độ ăn uống theo khẩu phần và cơ cấu bữa ăn

là những yếu tố cơ bản tạo nên dinh dưỡng để cung cấp cho cơ thể như: protein, gluxit, lipit,

vitamin, khoáng chất. Nếu khẩu phần ăn thiếu một vài chất này coi như không đủ chất

lượng, trong đó quan trong nhất là thành phần protein (đạm). và có thể nói đạm là một tiêu

chí quan trọng nói lên mức sống của hộ gia đình, một cộng đồng, quốc gia.

Theo tiêu chí trên thì mức sống của nhân dân ở các khu vực trên thế giới có sự khác

biệt rất lớn do phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ sản xuất của xã hội, năng lực lao

động của con người trong xã hội, quy mô gia đình và sự phát triển của dân số.

Ở các nước đang phát triển, việc cung cấp lương thực, thực phẩm chủ yếu dựa vào

khai thác tự nhiên đất đai (trồng trọt và chăn nuôi). Và có đến 88% lương thực thực phẩm

từ trồng trọt, 10% từ chăn nuôi và 2% từ thủy sản, cuộc sống của 70% dân số thế giới phụ

thuộc 10 – 11% diện tích trên bề mặt đất. Hiện nay, ở các nước đang phát triển có nhiều gia

29

đình thiếu ăn triền miên hoặc theo định kỳ hay trước và sau thu hoạch, có ít nhất 1 tỷ người

trên trái đất đang bị nạn đói đe dọa nhất là ở các nước Châu Phi.

Trong suốt quá trình sống và lao động, cơ thể con người phải thường xuyên tiêu hao

năng lượng. Năng lượng tiêu hao của con người do do thức ăn cung cấp nhằm tái sản xuất

sức lao động, người ta quy ước dùng đơn vị kalo để đo nhu cầu năng lượng cơ thể. Số kalo

tiêu dùng hằng ngày cho một người được coi là chỉ số tốt nhất về trình độ cung ứng các nhu

cầu thiết yếu.

Nếu trong khẩu phần ăn ở các nước công nghiệp phát triển là 90g/ngày/người với

3.000 kalo trong đó có 50% là protein động vật thì ở các nước đang phát triển chỉ có chưa

đến 60g/ngày/người với 2100 kalo và 15% là protein động vật. Điều này đã và đang dẫn đến

nạn suy dinh dưỡng trầm trọng.

Chính vì có sự cách biệt trong thu nhập giữa các nhóm nước dẫn đến khoảng cách rất

lớn về nhu cầu dinh dưỡng cũng như các khía cạnh khác của con người nhất là ảnh hưởng

tới tuổi thọ trung bình của người dân.

Tuy nhiên theo Tổ chức Lương Nông của Liên Hiệp Quốc đưa ra lượng thức ăn tối

thiểu cần thiết để cung cấp khả năng lao động chân tay và trí óc có hiệu quả là 2.360

kalo/người/ngày, đây được coi là khẩu phần vừa phải, là ranh giới cho sự nghèo đói. Như

vậy, nhiều nước đang phát triển ở Châu Phi và Châu Á là các nước nghèo đói.

1.2.5.2. Điều kiện nhà ở và sử dụng điện, nước sinh hoạt

* Điều kiện sử dụng điện sinh hoạt

Vấn đề sử dụng điện trong sinh hoạt cũng là yếu tố quan trọng phản ánh CLCS của

dân cư. Điều kiện sử dụng điện được phản ánh qua các tiêu chí: tỷ lệ số hộ dùng điện, số

KWh tiêu thụ tính bình quân đầu người/tháng.

Nhu cầu và khả năng sử dụng điện phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội và mức

sống của người dân ở mỗi quốc gia. Theo đánh gia của UNDP, mặc dù hiện nay đã bước

sang đầu thế kỉ XXI, nhưng điều kiện sống của các nước đang phát triển bị tụt hậu so với

các nước công nghiệp phát triển trên thế giới về nhiều mặt.

Cùng với yếu tố lương thực – dinh dưỡng, điều kiện sử dụng nước sạch, tình hình sử

dụng điện cũng có sự phân hóa giữa các nước. Các nước đang phát triển và chậm phát triển

mức tiêu thụ điện năng bình quân theo đầu người thấp hơn nhiều với các nước có nền kinh

tế phát triển.

* Điều kiện sử dụng nước sạch

30

Sử dụng nước sạch luôn là nhu cầu cơ bản và cấp thiết của con người. Đây là yếu tố

quan trọng để xem xét CLCS của dân cư.

Tiêu chuẩn để xem xét điều kiện sử dụng nước sạch của dân cư là tỷ lệ người dân

được sử dụng nguồn nước sạch (nước máy, nước ngầm, nước khai thác từ nguồn lộ thiên đã

qua xử lý…)

Tỷ lệ dân số dùng nước sạch phân bố không đều giữa các khu vực trên thế giới. Các

nước có nền kinh tế phát triển có tỷ lệ người dân được cung cấp nước sạch cao hơn các

nước chậm phát triển. Ở các quốc gia này, tỷ lệ người dân không được dùng nước sạch chủ

yếu là các cộng đồng da màu có mức sống thấp, các cộng đồng nhập cư hằng năm chưa có

điều kiện ổn định cho cuộc sống của mình. Còn đối với các nước đang phát triển hiện nay

thì tỷ lệ người dân không được sử dụng nước sạch ngày càng tăng do nguồn nước bị ô

nhiểm. ở các nước chậm phát triển vùng Nam Phi, cận Sahara thì sự khan hiếm nguồn nước,

đặc biệt là nguồn nước sạch ngày càng trở nên phổ biến do quá trình sa mạc hóa. Theo tính

toán của của WB, trong số 4,4 tỷ người sống ở các nước đang phát triển hiện nay trên thế

giới thì có tới 1/3 trong số đó không được sử dụng nguồn nước sạch.

Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm 61% dân số thế giới, nhưng các nguồn

nước dành cho khu vực này chỉ tương đương 1/3 tổng số nguồn nước trên toàn cầu. Hơn

500 triệu người ở đây không có cơ hội tiếp cận với nước an toàn và 1,8 tỷ người không được

sống trong điều kiện vệ sinh tiêu chuẩn. Chỉ riêng trong khu vực Châu Á thì năm 2004, tỷ lệ

người dân được cung cấp nước sạch cũng có sự cách biệt rất lớn: Singapor 100%; Nepal

90%, Campuchia 51%, Lào 41%.

Hiện nay cùng với sự xuất hiện của các siêu đô thị trên 10 triệu dân như: Bombay,

Calcultal, New Dehli, Thượng Hải, Mexico City,… đã làm cho nguồn nước đô thị bị ô

nhiễm nặng nề, điện sinh hoạt thiếu thốn, nhà ổ chuột chen chúc….đã làm cho CLCS của

người dân đô thị nơi đây giảm sút nghiêm trọng, xuất hiện nhiều căn bệnh đô thị. Do đó,

vấn đề nước sạch được xem như là tiêu chí quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của

người dân.

* Điều kiện nhà ở

Có hai tiêu chí để đánh giá điều kiện nhà ở là diện tích nhà ở và chất lượng nhà ở. Diện tích nhà ở thường được diễn đạt bằng chỉ số m2/người. Chất lượng nhà ở thường chia

làm 3 loại: nhà ở kiên cố, nhà bán kiên cố, nhà tạm. Ở các nước phát triển chỉ số này rất cao thường là 15 – 20 m2/người, nhưng ở các nước đang phát triển thì diện tích nhà ở bình quân

31

thấp đặc biệt là ở khu vực đô thị nhu cầu nhà ở trở nên là vấn đề gay gắt, do sức ép tăng dân

số trong khu vực đô thị (chủ yếu là gia tăng cơ học).

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư

1.3.1. Vị trí địa lý

Vị trí địa lý tự nhiên thuận lợi có thể tạo điều kiện cho quốc gia đó phát triển kinh tế,

đặc biệt là các ngành kinh tế thế mạnh qua đó góp phần tăng thu nhập cho người dân và cải

thiện CLCS dân cư.

Vị trí địa lý kinh tế - xã hội cũng có vai trò rất quan trọng đối với CLCS dân cư. Nếu

một quốc gia có vị trí trong vùng kinh tế trọng điểm sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển

kinh tế xã hội và mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế.

1.3.2. Các nhân tố tự nhiên

Các nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng đến CLCS như điều kiện cư trú của dân cư, chất

lượng môi trường sống và khả năng khai thác trực tiếp các tài nguyên làm nuồn sống cho

dân cư (đất đai, khí hậu, nguồn nước…)

1.3.3. Các nhân tố kinh tế xã hội

- Quy mô dân số: dân số quá đông sẽ gây khó khăn cho việc đáp ứng các nhu cầu

vật chất và tinh thần vốn hạn chế của xã hội. Dân số quá ít sẽ tạo ra sự khan hiếm nguồn lực

về con người vốn là động lực chính để tạo ra CLCS.

- Gia tăng dân số: Bao gồm gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học. Trong phạm vi của

một quốc gia, nếu tỷ lệ này vượt quá mức 3%/năm thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc

nâng cao CLCS do khối lượng của cải vật chất làm ra hằng năm không đáp ứng đủ nhu cầu

tiêu dùng. Tốc độ gia tăng dân số quá cao hoặc quá thấp đều làm nảy sinh nhiều vấn đề về

nâng cao CLCS.

Di dân, đặc biệt là di dân tự do thường đặt ra những thách thức lớn đối với chính

quyền các quốc gia, các địa phương có người nhập cư. Do vậy, CLCS chỉ thực sự được đảm

bảo khi quá trình di dân được đặt dưới sự tổ chức hướng dẫn của các cơ quan đại diện cho

chủ thể quản lý của cộng đồng hay quốc gia.

- Cơ cấu độ tuổi: Cơ cấu dân số trẻ sẽ dễ nảy sinh tình trạng thiếu việc làm, thu nhập

thấp, tình trạng suy dinh dưỡng, tử vong ở trẻ em do thiếu điều kiện chăm sóc y tế, nạn thất

32

học do thiếu điều kiện giáo dục…Ngược lại, dân số già sẽ dẫn tới tình trạng thiếu nguồn

nhân lực và tăng nhu cầu dịch vụ chăm sóc người già.

- Các nhân tố kinh tế: chính sách của quốc gia và địa phương co ảnh hưởng kể đến

CLCS dân cư. Những thay đổi về chất trong chính sách vĩ mô như:

+ Chính sách xóa đói, giảm nghèo thể hiện ở sự mở rộng cơ hội việc làm và tạo thu

nhập cho nhóm người nghèo; làm giảm bớt nguy cơ và tăng khả năng ứng phó với những rũi

ro cho người nghèo, bảo vệ, hỗ trợ những nhóm người dễ bị tổn thương, tạo việc làm và

giảm thất nghiệp.

+ Xây dựng cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các địa

phương.

+ Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với người nghèo thông qua việc tạo lập môi trường

thông thoáng, cũng như hỗ trợ trực tiếp trong việc tiếp cận các cơ hội việc làm, tạo điều kiện

vay vốn, đất đai, nâng cao tay nghề.

+Chính sách mở cửa và hội nhập đã giúp người dân có cơ hội tiếp cận dễ dàng các

vật tư, thiết bị máy móc nông nghiệp và công nghệ, mở rộng thị trường, tăng thêm thu nhập

cho người dân.

1.4. Thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư Việt Nam

Sau 35 năm giải phóng đất nước, cùng với tăng trưởng kinh tế cao trong cả thời kỳ

Chiến lược phát triển kinh tế - xa hội từ năm 1991 – 2000 và 2001 – 2010, CLCS của dân

cư Việt Nam ngày càng được cải thiện.

Kể từ năm 1990 chỉ số phát triển con người ở Việt Nam (HDI) theo cách tính của

UNDP đã liên tục được cải thiện. Năm 1990, Việt Nam đứng thứ 116 trong 177 quốc gia

trên thế giới cung cấp đầy đủ về chỉ số HDI, đến năm 2000 lên thứ 106 trong 177 quốc gia

trên thế giới cung cấp đầy đủ về chỉ số HDI, đến năm 2000 lên thứ 106, vượt lên 10 bậc

trong tổng số 177 quốc gia, năm 2010 đứng thứ 113/169 quốc gia. Thứ bậc về HDI cao hơn

1 bậc so với thứ bậc của GDP/người (133 so với 134). Với chỉ số HDI đạt được như vậy thì

nước ta thuộc nhóm nước có chỉ số phát triển con người trung bình.

1.4.1. GDP và GDP bình quân đầu người

* Thu nhập

Cùng với sự phát triển của đất nước, CLCS của người dân cũng được cải thiện rõ rệt

trên tất cả các lĩnh vực: thu nhập, giáo dục, y tế và các vấn đề an ninh xã hội khác.

33

Từ năm 2000 – 2009, GDP nước ta tăng nhanh với tốc độ 7,5%/năm, quy mô GDP

năm 2000 là 441.646 tỷ đồng (giá thực tế) thì đến năm 2009 đã tăng lên 1.658.400 tỷ đồng

(giá thực tế), tăng 3,75 lần.

Bảng 1.4. GDP và GDP/người ở Việt Nam giai đoạn 1999 – 2009

Chi tiêu 1990 1995 2000 2005 2010

GDP (tỉ đồng) 72.105 228.892 441.646 837.858 1.658.400

GDP/người (triệu đồng) 1,1 3,2 5,7 10,2 19,3

Nguồn: [8]

GDP bình quân theo đầu người cũng có xu hướng tăng nhanh, năm 1990 là 1,1 triệu

đồng đến năm 2009 đã tăng lên 19,3 triệu đồng. Đây chính là động lực quan trọng để thúc

đẩy việc nâng cao CLCS dân cư.

GDP và GDP/người có sự cách biệt khác nhau giữa các vùng và khoảng cách chênh

lệnh còn khá lớn, từ đó dẫn tới CLCS có sự khác biệt giữa các vùng.

Bảng 1.5. GDP/người và chênh lệch GDP/người các vùng giai đoạn 2000 – 2009

Các vùng GDP/người (triệu đồng) Chênh lệch của từng vùng

Cả nước Đồng bằng sông Hồng Đông Bắc Tây Bắc Bắc Trung Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long 2000 5,7 4,9 2,9 2,5 2,9 3,7 3,7 13,5 4,4 2005 10,2 10,2 5,8 5,4 5,7 7,8 7,8 26,8 8,4 2009 19,3 22,8 13,7 11,1 12,5 17,1 17,1 42,6 17,8 so với cả nước (lần) 2005 1,00 1,00 0,57 0,53 0,56 0,76 0,76 2,60 0,82 2000 1,00 0,86 0,50 0,44 0,50 0,65 0,65 2,40 0,77 2009 1,00 1,18 0,71 0,58 0,65 0,89 0,89 2,20 0,92

Nguồn: [31]

Mặc dù được UNDP đánh giá cao về vị trí xếp hạng và đứng thứ 8/10 nước có mức

tăng trưởng GDP cao nhất trong vòng 4 thập kỉ qua, tăng gấp 5 lần, nhưng với mức 2.995

USD/người năm 2010, so sánh với các nước có nền kinh tế tiên tiến trong khu vực thì còn

một khoảng cách rất xa.

Bảng 1.6. So sánh GDP bình quân đầu người theo PPP của Việt Nam năm 2010 với

một số quốc gia trong khu vực (USD/người)

Đơn vị tính: USD/người

34

Thái lan Malaysia Hàn Quốc Singapore

1980

Việt Nam 2010 2995 Trung Quốc 1985 2010 2000 2010 1984 2010 2010 1980 2010 2785 8001 2489 7258 3381 13927 15285 78893 5911 29581

Nguồn: [4]

So với một số nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á, thu nhập của việt Nam

có một khoảng cách khá xa, bằng ¼ Thái Lan và thấp hơn nhiều so với Singapore, điều này

ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao CLCS dân cư. Tổng thu nhập thấpkéo theo thu nhập

bình quân theo đầu người thấp, với con số như thế này, 17 năm sau GDP của Việt Nam mới

đuổi kịp Thái Lan, 35 năm nữa mới bằng Malaysia.

* Chi tiêu

Thu nhập mang tầm quan trọng hàng đầu nhưng chi tiêu mới phản ánh được mức

sống thực tế của dân cư và các hộ gia đình. Vì thu nhập tăng nên người dân có điều kiện cải

thiện chi tiêu, trong giai đoạn 2000 – 2008 chi tiêu đời sống dân cư đạt 8,5 triệu đồng/người

tăng 53,6% so với năm 2006, ngoài chi tiêu cho đời sống gia đình, phần lớn họ có khả năng

tích lũy. Nhưng giá cả tăng cao nên đời sống người dân cũng chưa cải thiện nhiều.

Mức sống của người dân Việt Nam có sự phân hóa giữa các thành phần trong xã hội,

giữa các vùng miền và các tỉnh rất cao. Đông Nam Bộ (Trong đó có Thành phố Hồ Chí

MInh) có mức sống cao nhất nước, tiếp theo là Đồng bằng sông Hồng (trong đó có Hà Nội),

ngược lại Trung du miền núi Bắc Bộ là vùng nghèo nhất nước.

Tỷ lệ hộ nghèo có xu hướng giảm theo thời gian, ở nông thôn cao hơn thành thị

khoảng 3 lần, khi phân ra các vùng kinh tế, mức độ phát triển cũng không đồng đều, Đông

Nam Bộ là vùng có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất, chỉ bằng 1/6 cả nước, trong khi đó trung du và

miền núi Bắc Bộ có tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 2 lần trung bình chung cả nước, nguyên nhân cơ

bản do điều kiện tự nhiên trở ngại, kinh tế chậm phát triển, trình độ của lực lượng sản xuất

thấp.

Bảng 1.7. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới của Chính phủ 2006 – 2010

Đơn vị tính: Phần trăm (%)

Năm

Cả nước Thành thị Nông thôn Các vùng kinh tế Đồng bằng sông Hồng Trung du miền núi Bắc Bộ 2004 18,1 8,6 21,2 12,7 29,4 2006 15,1 7,7 17,0 10,0 27,5 2008 13,4 6,7 16,1 8,6 25,1

35

Duyên hải miền Trung Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long 25,3 29,2 4,6 15,3 22,2 24,0 3,1 13,0 19,2 21,0 2,5 11,4

Nguồn: [8]

Khoảng cách giàu và nghèo giữa nông thôn và thành thị năm 2006 là 2,2 lần, nhưng

trong những năm gần đây thì khoảng cách lại khá lơn, năm 2009 đã tăng lên 2,6 lần. Điều

đặc biệt quan tâm là nhóm người có thu nhập thấp ở nông thôn và nhóm người dân tộc thiểu

số phần lớn sống bằng nghề nông nghiệp có nguy cơ tụt hậu ngày càng cao.

1.4.2. Về chế độ dinh dưỡng

Trước kia do điều kiện khó khăn nên khẩu phần ăn của người Việt Nam luôn thiếu cả

lượng và chất. Thời gian gần đây có nhiều sự chuyển biến mới về kinh tế đã ảnh hưởng đến

lối sống cũng như phong cách ăn uống của người dân.

Thu nhập theo đầu người ảnh hưởng khá lớn đến chế độ dinh dưỡng của người dân

Việt Nam, do có sự phân hóa về thu nhập giữa các địa phương và các vùng dẫn tới sự khác

nhau về chế độ dinh dưỡng. Năng lượng khẩu phần ăn bình quân đầu người là 1930

kalo/ngày, trong đó khẩu phần ăn tăng từ 2,7g/người/ngày (2000) lên 8,8g/người/ngày

(2008), mở động vật tăng từ 4,1g/người/ngày (2008).

Hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với gánh nặng kép về rối loạn dinh dưỡng,

bên cạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn còn cao ở nông thôn và miền núi thì xuất hiện tỷ lệ thừa

cân và béo phì ở các đô thị lớn.

Tỷ lệ nghèo đói giảm, tuy nhiên các vùng trung du miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên

chiếm 2/3 số người nghèo lương thực ở Việt Nam.

1.4.3. Về tuổi thọ bình quân và sức khỏe

Ở Việt Nam, do những thành tựu về phát triển kinh tế, nên các chương trình quốc gia

về xã hội đã được triển khai rộng rãi và có tác động sâu sắc tới cả nông thôn và thành thị.

Hầu hết các chỉ số về sức khỏe của nhân dân đã được cải thiện. Chính phủ đã có chủ trương

cơ bản và lâu dài là phát triển các dịch vụ và y tế, đặc biệt là các dịch vụ khám và chăm sóc

sức khỏe ban đầu.

Tuổi thọ trung bình của cả nước đạt mức cao đáng kể so với điều kiện kinh tế và mức

sống hiện tại. Tuổi thọ trung bình của nước ta tăng lên khá nhanh trong thời gian gần đây, từ

65,3 tuổi (năm 1989) lên 68,6 tuổi (năm 1999) lên 69 tuổi (2004) và đã tăng lên 73 tuổi vào

năm 2010.

36

Hằng năm số người mắc và chết vì bệnh sốt rét giảm đáng kể, chỉ còn 0,06% năm

2010. Trên 90% dân cư đã được tiếp cận với các dịch vụ y tế, chỉ số tuổi thọ của nước ta

liên tục tăng lên. Đặc biệt người dân ở nông thôn đã được chăm sóc tốt hơn về sức khỏe nhờ

củng cố và phát triển được mạng lưới y tế rộng khắp trong cả nước. Đến nay hầu hết các xã

đã có trạm y tế, cả nước có 96.604/116.359 thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động (đạt 83%),

61,4% số xã có Bác sỉ. Bảo hiểm y tế không ngừng mở rộng, thực hiện tốt chính sách hỗ trợ

người nghèo trong khám chữa bệnh, nhất là cấp thẻ, sổ khám chữa bệnh, cấp thẻ bảo hiểm y

tế cho người nghèo. Từ năm 2007 đến nay, đã có 14 triệu lượt người được khám chữa bệnh

miễn phí (3,5 triệu lượt người/năm).

Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm nhanh, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống

còn 26‰, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 28‰ xuống 20‰ giai đoạn 2003

– 2008. Số người nhiểm HIV được phát hiện ngày càng giảm năm 2009 là 243.000 người, tỷ

lệ tử vong bà mẹ là 7,5‰ năm 2008.

Nước ta là một nước có thu nhập thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới,

tuy nhiên chỉ số tuổi thọ của nước ta cao hơn một số nước có cùng thu nhập và có xu hướng

tăng lên. Số bác sĩ và số bác sĩ bình quân trên 1 vạn dân không ngừng tăng, số bác sĩ tăng

30,6 nghìn người (1995) lên 64,8 nghìn người (2010), số bác sĩ/1 vạn dân tăng từ 4,3 năm

1995 lên 7,1 vào năm 2010.

Đạt được các thành tựu kể trên đó là nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã tạo

ra những thay đổi quan trọng về cơ chế quản lý, đã góp phần quan trọng vào việc cải thiện

hệ thống y tế, chăm lo sức khỏe nhân dân, đặc biệt là sự ra đời hàng loạt các cơ sở khám

chữa bệnh Nhà Nước, tư nhân, đội ngũ y bác sĩ, số giường bệnh…

Bên cạnh, những thành tựu đạt được vẫn còn một số hạn chế, đó là tỷ lệ trẻ em dưới

5 tuổi suy dinh dưỡng vãn còn cao nhất là vùng Tây Nguyên và Tây Bắc, tỷ lệ nuôi con

hoàn toàn bằng sửa mẹ thấp, tỷ lệ tử vong ở các bà mẹ còn cao, nhất là ở đồng bào dân tộc

thiểu số.

Tỷ lệ mất cân bằng giới tính càng cao (năm 2009 là 110,5 bé trai so với 100 bé gái),

mặc dù đã có nhiều biện pháp tiến hành những vẫn chưa thể khống chế và giải quyết được

tình trạng gia tăng này trong thời gian gần đây. Nguyên nhân chủ yếu là do tư tưởng trọng

nam khinh nữ của đất nước Á Đông vẫn còn tồn tại.

Tỷ trọng ngân sách dành chi cho lĩnh vực y tế còn quá thấp, năm 2010 chi cho y tế là

5,6%, trong khi đó giáo dục là 17,4%, so với cả nước láng giềng thì đây là một con số

khiêm tốn: Campuchia 16%, Lào 7%, Trung Quốc 10%, Nhật 16,4%.

37

1.4.4. Về chế độ giáo dục

Việt Nam là quốc gia có truyền thống lâu đời về giáo dục. Truyền thống đó ngày nay

càng được phát huy dưới chế độ mới, điều đó được phản ánh qua tỷ lệ người biết chữ và

trình độ học vấn của người dân. Những thành tựu về giáo dục Việt Nam tương đối cao so

với nhiều nước cùng thu nhập.

Tỷ lệ người biết chữ từ 15 tuổi trở lên của nước ta thuộc trình độ khá trong khu vực,

tuy nhiên có sự khác biệt rất lớn giữa thành thị và nông thôn, và giữa các địa phương với

nhau trong cả nước, cao nhất là vùng đồng bằng sông Hồng, thấp nhất là Trung du và miền

núi Bắc Bộ

Trong thập kỉ qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc phổ cập

giáo dục, đã thành lập được một mạng lưới toàn diện các cơ sở giáo dục trong cả nước và

đặt nền móng cho việc phổ cập giáo dục bậc tiểu học, THCS trong cả nước bằng việc mở

trường tiểu học. THCS ở tất cả các xã. Do vậy, nước ta đã có tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ

lệ nhập học cao so với GDP bình quân đầu người. Năm 2009, tỷ lệ người biết chữ từ 10 tuổi

trở lên ở nông thôn là 92,5%, tỷ lệ người biết chữ ở thành thị là 97,3% vượt xa các nước

Lào, Campuchia và Trung Quốc. Tuy nhiên, số năm đi học bình quân ở nước ta lại thấp,

mới đạt 5,5 năm.

Bảng 1.8. Tỷ lệ (%) biết chữ từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết theo vùng 2009

Tổng số 93,6 88,7 96,5 96.5 90,0 96,2 91,7 Thành thị 96,9 97,5 98,3 98,3 96,2 97,2 94,6 Nông thôn 92,2 86,9 95,8 95,8 87,0 94,6 90,9 Toàn quốc Trung du miền núi Bắc Bộ Đồng bằng sông Hồng Duyên hải miền Trung Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn: [8]

Về phương diện bình đẳng giới: Việt Nam đứng ở vị trí cao hơn Thái Lan, Philippin,

tỷ lệ nữ biết chữ 90,5% nam là 96% (2010).

Ngân sách đầu tư cho giáo dục ở Việt Nam ngày càng tăng nhưng chưa đáp ứng được

yêu cầu và còn thấp so với nhiều nước trên thế giới. Mức chi tiêu cho giáo dục đào tạo bình

quân trên một người đi học năm 2009 ở khu vực thành thị là 1.937 nghìn đồng, ở nông thôn

là 991,2 nghìn đồng.

38

Song do quy mô dân số nước ta lớn và ngày càng tăng đang và sẽ là cản trở lớn đối

với việc phát triển của đất nước, trong đó có giáo dục. Trình độ học vấn, chuyên môn kỹ

thuật và tay nghề còn thấp, cơ cấu giáo dục và đào tạo mất cân đối cùng với sự chênh lệch

giữa nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn dẫn tới chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào

tạo ở các cấp học, bậc học còn nhiều hạn chế.

1.4.5. Các điều kiện về sử dụng điện, nước sinh hoạt và nhà ở

Nhà ở và việc sử dụng điện, nước sạch là nhu cầu thiết thực trong đời sống đang phát

triển. Đời sống của người dân Việt Nam được cải thiện.

Năm 2010, trong 10.000 hộ gia đình Việt Nam thì 5 hộ không có nhà (hoặc có nhà

nhưng không đủ điều kiện tối thiểu). Trong số những hộ có nhà ở, nhà kiên cố chiếm 47%,

nhà bán kiên cố chiếm 37,8%. Về hình thức sở hữu nhà ở, tỷ trọng nhà riêng của hộ chiếm 93%. Diện tích bình quân trên đầu người là 18,6m2 . tỷ lệ đồ dùng lâu bền tăng lên từ 96,9%

năm 2002 và đạt 99% vào năm 2008.

Khả năng thắp sáng của nước ta đạt 97,6% (2008), trong đó nông thôn là 96,8%,

thành thị là 99,6% việc cung cập điện sinh hoạt cho các hộ gia đình của nước ta chưa thật

cao, nhất là vùng nông thôn, vùng núi, vùng sâu và xã nhưng riêng vùng Tây Bắc và Đồng

bằng sông Cửu Long có gần 20% số hộ gia đình không sử dụng điện lưới quốc gia.

Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh đã được cải thiện, nước sạch hợp

vệ sinh ở đô thị là trên 80%, khu vực nông thôn là 75%, theo báo cáo của HDR, trên 2/3 dân

số Việt Nam bị nhiễm những căn bệnh liên quan đến nươc sạch, kém vệ sinh, gần 5 triệu trẻ

em Việt Nam không được tiếp cận với nước sạch, 13 triệu trẻ em Việt Nam không được

tiếp cận với nước hợp vệ sinh.

Bên cạnh tiêu chí nước sạch, ở Việt Nam chỉ có 54% số hộ có nhà hố xí hợp vệ sinh.

Tỷ lệ này của thành thị là 88%, của khu vực nông thôn là 39% năm 2008.

Trong số các địa phương nước ta, 3% các xã chưa có đường giao thông đến trung tâm

xã, về đời sống tinh thần, 86,6% số hộ gia đình có ti vi màu (ở nông thôn là 85,7%, thành thị

là 94%), 11,4% số dân có máy tính (2009).

Trước năm 2010, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 39% số máy điện thoại,

hiện nay chỉ còn 3,8%, số lượng máy điện thoại tăng nhanh, đạt 21 máy/100 dân (2009),

mức chênh lệch trên giữa thành thị và nông thôn khoảng chục lần.

Nhu cầu và khả năng sử dụng điện, nước và các tiêu chí khác đã phản ánh trình độ

phát triển kinh tế xã hội, mức sống của người dân ở mỗi quốc gia. Điều kiện sử dụng điện

39

cũng có sự phân hóa rõ giữa các quốc gia. Các quốc gia có nền kinh tế phát triển thường có

mức tiêu thụ điện năng bình quân đầu người cao hơn các nước đang phát triển.

Tất cả những điều kiện sinh hoạt trên mặc dù đã cải thiện đáng kể, nhưng trong đô thị

hệ thống cống rãnh, rác thải, bụi bẩn làm cho môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm nặng

nề. Ở nông thôn, các vùng xa xôi hẻo lảnh, điều kiện khó khăn, thiếu nước sạch và các điều

kiện khác phục vụ cho đời sống dân cư, chính những vấn đề này đã ảnh hưởng trực tiếp đến

CLCS dân cư.

1.4.6. Về HDI của Việt Nam

Tăng trưởng kinh tế sẽ không bền vững nếu không gắn với phát triển kinh tế xã hội,

bởi phát triển xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa,

đường lối kinh tế mà Việt Nam lựa chọn là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Biểu hiện tổng hợp nhất của tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội là chỉ số phát triển con

người (HDI). Kể từ năm 1990 chỉ số HDI ở Việt Nam theo cách tính của UNDP đã liên tục

được cải thiện. Năm 1992 chỉ số HDI đạt 0,539 (120/174) tăng lên 0,682 (101/162) vào năm

2001, tăng lên 0,704 (108/177) vào năm 2005 và đạt 0,728 (113/187) năm 2010.

Đây là bước tiến đầy ấn tượng, phản ánh những thành tựu to lớn của Việt Nam về

tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống. Tuy nhiên, chỉ số thu nhập đóng góp tới 55,7%

vào tăng trưởng HDI so với mức 31,8% về chỉ số tuổi thọ trung bình và chỉ số giáo dục là

12,6%. Điều đó có nghĩa bước tiến về giáo dục và y tế còn chậm.

Chính vì thế, Việt Nam đã được quốc tế đánh giá cao, được coi là một ví dụ thành

công tiêu biểu cho nhóm các nước đang phát triển về khả năng tương tác cân bằng giữa phát

triển kinh tế và phát triển con người. Điều đó chứng tỏ, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã

hướng vào sự phát triển con người, vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tăng

trưởng kinh tế phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường của nước

ta.

Ở nước ta, sự chênh lệch giữa các vùng về chỉ số HDI thấp hơn so với sự chênh lệch

về GDP bình quân đầu người và thu nhập bình quân đầu người. Lý do chủ yếu là do tuổi thọ

trung bình, tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp ở các vùng không có sự khác

biệt quá lớn.. HDI cao nhất thuộc về Đông Nam Bộ vùng kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao

và chiếm tỷ trọng lớn nhất, thấp nhất là Tây Bắc, vì ở đây là vùng trình độ phát triển kinh tế

thấp nhất, dẫn tới thu nhập bình quân theo đầu người thấp, y tế, giáo dục kém.

Bảng 1.9. HDI của Việt Nam giai đoạn 1999 – 2009

40

Các vùng 1999 2009

Xếp hạng - 2 5 7 3

Cả nước Đồng bằng sông Hồng Đông Bắc Tây Bắc Bắc Trung Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long HDI 0,696 0,723 0,641 0,564 0,622 0,676 0,751 0,669 HDI 0,728 0,761 0,692 0,633 0,718 0,686 0,787 0,717 6 1 4

Xếp hạng - 2 6 8 5 3 7 1 4 Nguồn: [2]

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

CLCS là một khái niệm rộng và phức tạp vì vậy quan niệm về CLCS cũng trở nên đa

dạng và phức tạp. Do đó, các tiêu chí đặt ra để đo lường CLCS giữa các quốc gia cũng khác

nhau và khác nhau trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội. Song cho dù là ở cách

nhìn nào thì quan niệm CLCS khi đưa vào xem xét bao giờ cũng phải đề cập đến một số tiêu

chí chủ yếu xuất phát từ nhu cầu cơ bản về tinh thần và vật chất của con người như: thu

nhập (GDP/người); tuổi thọ trung bình và giáo dục nhằm đánh giá 1 cách khái quát nhất

CLCS của tùng quốc gia và khu vực trên thế giới. Ngoài ra còn có lương thực, dinh dưỡng,

y tế, các điều kiện songs như: nhà ở, điện, nước…môi trường sống khác…các chỉ tiêu mà

sau này đã được tổ chức UNDP của LHQ xây dựng nên chỉ số HDI. Có thể nói HDI là chỉ

số tổng hợp nhất đo lường CLCS như là kết quả của sự phát triển KTXH của một quốc gia

đối với sự cải thiện đời sống dân cư.

Dựa trên các tiêu chí cơ bản trên, mặc dù Việt Nam vẫn là một nước có mức thu nhập

thấp, song hiện nay được xác định là một trong những quốc gia đạt được CLCS dân cư ở

mức trung bình trong các nước đang phát triển. Đây là cơ sở lý luận để tôi xem xét CLCS

dân cư hiện nay ở Thành phố Cần Thơ trong chương 2

41

Hình 2.1. Bản đồ hành chính Thành phố Cần Thơ

42

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

2.1. Khái quát về TP. Cần Thơ

Thành phố Cần Thơ là thành phố trực thuộc trung ương duy nhất của vùng ĐBSCL là

trung tâm về kinh tế, thương mại dịch vụ, khoa học kỹ thuật của vùng. Cần Thơ có hệ thống

giao thông thủy bộ, sân bay, cảng, các khu công nghiệp.

Diện tích: 1.401,6 km²

Dân số: 1.209.192 nghìn người (năm 2011)

Các quận, huyện:

- Quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Thốt Nốt, Ô Môn.

- Huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai.

Dân tộc: Việt (Kinh), Khmer, Hoa, Chăm...

Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, giữa một mạng lưới

sông ngòi kênh rạch.

Cần Thơ tiếp giáp với 5 tỉnh: phía Bắc giáp An Giang và Đông Bắc giáp Đồng Tháp,

phía Nam giáp Hậu Giang, phía Tây giáp Kiên Giang, phía Đông giáp Vĩnh Long.

2.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của dân cư TP. Cần Thơ

Các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS bao gồm 2 nhân tố chính: Các nhân tố tự nhiên và

nhân tố kinh tế xã hội. Trong đề tài này thì nhân tố kinh tế xã hội được xem là nhân tố có

ảnh hưởng mạnh mẽ đến CLCS dân cư TP. Cần Thơ.

2.2.1. Các nhân tố kinh tế - xã hội

2.2.1.1. Dân số và sự phân bố dân số

Sự gia tăng dân số ảnh hưởng rất lớn đến CLCS dân cư ở từng địa phương cụ thể,

đặc biệt là ở Thành phố Cần Thơ, vì sự gia tăng dân số phải phù hợp với sự phát triển kinh

tế xã hội, nếu dân số tăng quá nhanh hay quá chậm đều ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế

xã hội của thành phố cũng như CLCS dân cư. Khi dân số quá đông, kéo theo các vấn đề cần

phải giải quyết như: lương thực thực phẩm, việc làm, nhà ở, tệ nạn xã hội.

Tính đến tháng 12 năm 2011, dân số trung bình toàn thành phố là 1.209.192 người,

chiếm khoảng 7% dân số ĐBSCL (khoảng 17.300.000 người) và xếp thứ 9 trong số 13 đơn vị hành chính của ĐBSCL, mật độ dân số 863 người/km2.

43

Bảng 2.1. Diện tích, dân số, mật độ dân số của các đơn vị hành chính 2011

Toàn tỉnh

Diện tích (km2) 1.401 29 127 71 69 118 297 310 124 256 Dân số (nghìn người) 1.209.192 249.451 131.972 116.349 88.432 161.563 114.358 124.789 100.026 122.252 MĐDS (người/km2) 863 8.602 1.039 1.639 1.282 1.369 385 403 807 478 Quận Ninh Kiều Quận Ô Môn Quận Bình Thủy Quận Cái Răng Quận Thốt Nốt Huyện Vĩnh Thạnh Huyện Cờ Đỏ Huyện Phong Điền Huyện Thới Lai

Nguồn: [13]

Dân số đô thị và nông thôn tại 9 quận huyện của thành phố khá ổn định trong giai

đoạn 2005 – 2008 và có sự biến động lớn từ sau năm 2009 do việc nâng cấp một số khu vực

nông thôn lên quận đô thị

Nghìn người

900

800

700

600

Nông thôn

500

Thành thị

400

300

200

100

0

Năm

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

Biểu đồ 2.1. Biến động dân số TP. Cần Thơ giai đoạn 2005 – 2011

Nguồn: [ 12], [13]

Biến động dân số thành thị và nông thôn những năm gần đây đặt ra vấn đề đáng quan

tâm cho Cần Thơ là có một số lượng dân di cư với mức độ trung bình từ nông thôn ra các

trung tâm đô thị địa phương và một số ít dân di cư từ các tỉnh khác đến, chủ yếu tập trung ở

các quận trung tâm như Ninh Kiều, Bình Thủy và Cái Răng.

Mật độ dân số của thành phố được xếp thứ tư trong các thành phố của Việt Nam, trung bình bình 863 người/km2. Thấp hơn TP.HCM (3.530 người/km2), Hà Nội (1..962

44

người/km2), Hải Phòng (1.221 người/km2), cao hơn so với Đà Nẵng (722 người/km2). Tổng

dân số Thành phố Cần Thơ vẫn còn khá thấp so với TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội. Trong thành phố mật độ cao nhất tại quận Ninh Kiều: 8.062 người/km2, và thấp nhất là ở huyện Vĩnh Thạnh (385 người/km2).

Gia tăng dân số ở Thành Phố Cần Thơ là do 2 nguyên nhân chủ yếu: gia tăng tự

nhiên và gia tăng cơ học.

Gia tăng tự nhiên: được quyết định bở hai chỉ tiêu là tỷ suất sinh thô và tỷ suất tử thô.

Tỷ suất sinh của Thành phố Cần Thơ có xu hướng giảm dần theo thời gian, thấp hơn

mức trung bình của cả nước. Kết quả như trên đã phản ánh được Thành phố Cần Thơ thực

hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, khẳng định trình độ dân trí của Thành phố Cần Thơ

ngày càng cao.

Tỷ suất tử của thành phố thấp hơn so với trung bình của cả nước, các vùng khác và

vùng Đông Nam Bộ, tỷ lệ tử của cả nước là 6,8 ‰ (năm 2010), trong khi đó Thành phố Cần

Thơ là 4,47‰.

Bảng 2.2. Tỷ suất sinh, tử thô và gia tăng tự nhiên của Thành phố Cần Thơ giai đoạn

2005 – 2010

Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010

16,10 14,91 15,07 15,52 15,31 15,25 Tỷ suất sinh thô (‰)

4,46 4,08 4,51 4,54 4,58 4,47 Tỷ suất tử thô (‰)

1,16 1,08 1,05 1,1 1,07 1,07 Tỷ suất gia tăng tự nhiên (%)

Nguồn: [13]

Tỷ suất gia tăng tự nhiên của Thành phố Cần Thơ năm 2010 cao hơn tỷ lệ gia tăng tự

nhiên của cả nước (1,06%). Hiện nay, tỷ suất gia tăng tự nhiên giảm do tỷ suất sinh thô

giảm và ngày càng ổn định, việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình của Thành phố thực hiện

khá tốt.

Tỷ lệ tử dao động từ 4,46 ‰ đến 4,47 ‰, giữa các địa phương trong tỉnh cũng khác

nhau nhưng không cao lắm. Tỷ lệ tử của trẻ em dưới 1 tuổi cũng không đáng kể. Có được

thành quả như trên là do sự nỗ lực của thành phố trong việc đầu tư phát triển mạng lưới y tế

ngày càng tiến bộ, chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí ngày càng cao.

Gia tăng cơ học

45

Thành phố Cần Thơ là một trong số 13 tỉnh của vùng ĐBSCL thu hút di dân tự do

đến đây làm ăn sinh sống. Năm 2009 số lượng dân nhập cư ở thành phố là 55.589 người

chiếm 10,2%

Bảng 2.3. Tỷ lệ xuất nhập cư TP. Cần Thơ 2007 – 2010

Đơn vị tính: %

Năm 2007 2008 2009 2010

6,4 4,4 10,2 9,8 Nhập cư

7,0 7,3 9,5 11,5 Xuất cư

- 0,6 - 2,9 0,7 - 1,7 Di cư thuần

Nguồn: [16]

Qua số liệu trên cho ta thấy tỷ suất dân nhập cư tăng năm 2007 là 6,4% đến năm

2010 là 9,8%. Bên cạnh tỷ suất xuất cư của người dân lên các khu công nghiệp của vùng

Đông Nam Bộ, hoặc kết hôn…cũng tăng lên năm 2007 là 7,0% đến năm 2010 là 11,5%.

Trong những điều kiện thuận lợi trong tương lai thành phố sẽ thu nhiều người lao

động đến nhập cư và tỷ lệ dân xuất cư sẽ giảm xuống

2.2.1.2. Cơ cấu dân số

* Cơ cấu theo giới:

Cơ cấu dân số theo giới biểu thị tương quan giữa giới nam so với giới nữ hoặc so với

tổng số dân, đơn vị tính % và nó có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế xã hội, nâng cao chất

lượng cuộc sống dân cư.

Cơ cấu dân số theo giới tính có ý nghĩa sâu sắc về kinh tế, xã hội và nâng cao CLCS

dân cư, nhất là sức khỏe sinh sản của nữ giới. Hiện tượng bất bình đẳng nam nữ trong xã

hội, không chỉ có ở Việt Nam mà diễn ra phổ biến hầu hết ở các nước Phương Đông. Vì

vậy, phấn đấu cho sự bình đẳng nam nữ luôn là mục tiêu cho sư phát triển xã hội.

Dân số Cần Thơ có nữ nhiều hơn nam, tuy nhiên, mức chênh lệch không đáng kể và

không thay đổi nhiều qua các năm. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2004, số nữ

trung bình của thành phố là 571.000 người, chiếm 50,8% dân số toàn thành phố; năm 2008,

số nữ trung bình của thành phố là 592.400 người, chiếm 50,6% dân số toàn thành phố

Theo thống kế năm 2010 số lượng nữ giới chiếm 50,3% dân số của toàn thành phố.

Tỷ lệ chênh lệch về giới tính của thành phố không cao.

Bảng 2.4. Dân số theo giới tính phân theo các địa phương TP. Cần Thơ 2010

(Đơn vị: người)

46

Địa danh hành chính Tổng nhân Chia theo giới tính

khẩu 246.743 131.465 113.289 87.423 160.558 113.470 124.818 100.166 121.885 % 47,8 50,1 48,8 49,4 50,1 50,6 50,7 50,1 51,0 Nữ 128.723 65.643 57.988 44.264 80.072 56.028 61.541 49.990 59.730 % 52,2 49,9 51,2 50,6 49,9 49,4 49,3 49,9 49,0 Quận Ninh Kiều Quận Ô Môn Quận Bình Thủy Quận Cái Răng Quận Thốt Nốt Huyện Vĩnh Thạnh Huyện Cờ Đỏ Huyện Phong Điền Huyện Thới Lai

Nam 118.020 65.822 55.301 43.159 80.486 57.442 63.277 50.176 62.155 Nguồn: [13]

Sự chênh lệch giới tính giữa các địa phương không đồng đồng đều nhau, dân số nữ

giới của quận Ninh Kiều cao hơn nam giới, huyện Phong Điền, Thốt Nốt sự chênh lệch giới

tính không cao.

Địa phương

Quận Ninh Kiều

47.80%

52.20%

Quận Ô Môn

50.10%

49.90%

Quận Bình Thủy

48.80%

51.20%

Quận Cái Răng

49.40%

50.60%

Quận Thốt Nốt

50.10%

49.90%

Huyện Vĩnh Thạnh

50.60%

49.40%

Huyện Cờ Đỏ

50.70%

49.30%

Huyện Phong Điền

50.10%

49.90%

Phần %

Huyện Thới Lai

51%

49%

0%

20%

40%

60%

80%

100%

120%

Nam

Nữ

Biểu đồ 2.2. Cơ cấu dân số theo giới tính theo đơn vị hành chính 2010

Nguồn: [13]

Nghiên cứu dân số theo giới tính nhằm tạo ra thêm nhiều việc làm phù hợp với lao

động dành cho nữ và nam, tạo thêm thu nhập, góp phần nâng cao CLCS cho dân cư thành

phố.

• Cơ cấu dân tộc:

Thành phố Cần Thơ có 27 dân tộc thiểu số cư trú, gồm 36.133 người, chiếm tỷ lệ

3,04% /tổng số dân toàn thành phố. Cụ thể như sau:

47

- Dân tộc Khmer: 21.414 người, tỷ lệ 1,80% /tổng số dân thành phố;

- Dân tộc Hoa: 14.199 người, tỷ lệ 1,19% /tổng số dân thành phố;

- Dân tộc Chăm: 173 người, tỷ lệ 0,146% /tổng số dân thành phố;

- Dân tộc Tày: 112 người, tỷ lệ 0,009% /tổng số dân thành phố;

- Dân tộc Mường: 62 người; Nùng 57 người; Thái 52 người.

Các dân tộc còn lại có số lượng dưới 10 người/mỗi dân tộc.

Thành phố Cần Thơ là nơi tập trung nhiều dân tộc, tạo nên một sự đa dạng về bản sắc

văn hóa, đời sống tinh thần phong phú. Cộng đồng dân cư gồm nhiều dân tộc sinh sống,

trong đó chủ yếu là người Kinh, Hoa, Khomer. Mật độ dân số toàn thành phố là 863 người km2 (năm 2011). Dân cư phân bố không đồng đều, tập trung nhiều ở thành phố, thị xã, thị

trấn, dọc các trục đường giao thông chính. Người Khmer ở Cần Thơ không nhiều, họ tập

trung sống chung quanh chùa hoặc sống rải rác xen kẽ với người Việt ở các quận Ninh

Kiều, Ô Môn, Thốt Nốt. Người Hoa ở Cần Thơ thường sống tập trung ở quận Ninh Kiều và

huyện Phong Điền, người Hoa gốc Quảng Đông làm nghề mua bán, người Hoa gốc Hẹ làm

nghề thuốc Bắc và người Hoa gốc Hải Nam làm nghề may mặc.

Dân tộc Khmer: cư trú 9/9 quận, huyện, tuy nhiên có số đông tại các huyện Cờ Đỏ,

Thới Lai và quận Ô Môn; đa số sống ở nông thôn, làm nghề nông, làm thuê, một ít hộ làm

dịch vụ hoặc mua bán nhỏ, điều kiện kinh tế có phát triển nhưng còn chậm, trình độ dân trí

và năng lực sản xuất còn thấp; đồng bào dân tộc Khmer có tinh thần đoàn kết và sống gắn

bó với các dân tộc anh em Kinh - Hoa và các dân tộc khác trong cộng đồng, tin tưởng vào

sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành tốt chính sách, luật pháp của nhà nước, tích cực lao động

sản xuất, tham gia vào các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Người Khmer

sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng gắn với ngôi chùa; toàn thành phố có 12 chùa Phật giáo Nam

tông Khmer, gồm 112 sư sãi , 01 Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước với 25 thành viên; đặc biệt

có Học viện Phật giáo Nam tông Khmer đặt tại quận Ô Môn.

Dân tộc Hoa: cư trú tại trung tâm các quận: Ninh Kiều, Ô Môn, Cái Răng, Thốt Nốt,

nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Về

tín ngưỡng, tôn giáo có 21 cơ sở thờ cúng (gồm: chùa, miếu, nghĩa trang) và 01 Hội Bảo trợ

Hoa văn Cần Thơ.

Các dân tộc khác: Chăm, Nùng, Thái, Tày, Mường, Dao..., sống đan xen với dân tộc

Kinh, Khmer, Hoa, sinh sống bằng nghề nông, mua bán nhỏ, một ít là công chức, viên chức

nhà nước, cuộc sống ổn định.

48

Các dân tộc thiểu số cư trú tại thành phố chủ yếu sống đan xen trong cộng đồng, đây

cũng là điểm thuận lợi trong phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cộng

đồng đồng bào dân tộc thiểu số.

Người dân tộc Khmer chủ yếu tập trung ở vùng sâu vùng xa, hoạt động kinh tế chủ

yếu là nông nghiệp, nên đời sống còn ở mức thấp. Việc nắm bắt tình hình dân tộc khmer và

các dân tộc khác của thành phố Cần Thơ nhằm có những biện pháp, chính sách kịp thời để

có hướng đi đúng giúp cho việc phát triển kinh tế xã hội của thành phố, nhằm nâng cao chất

lượng cuộc sống dân cư.

0,10

1,80 1,10

0,10

1,70 1,20

Đơn vị tính: Phần %

Kinh Hoa Khơ me Khác

97,0 Năm 2005

97,0 Năm 2010

Đơn vị tính: Phần %

Biểu đồ 2.3. Dân số phân theo dân tộc của TP. Cần Thơ năm 2005 và 2010

Nguồn: [13]

* Kết cấu dân số theo lao động:

Về lực lượng lao động, Cần Thơ có dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào. Năm 2005,

tổng số lao động trên địa bàn thành phố 699.835 người, trong đó, lao động đang làm việc

trong các ngành kinh tế: 487.375 người; lao động dự trữ: 212.460 người. Tháng 8/2009,

thành phố Cần Thơ triển khai dự án dạy nghề cho người lao động đến tuổi nhằm nâng tỷ lệ

từ 35% hiện nay lên 43% vào cuối năm 2010 với số lượng 10.500 người, phấn đấu toàn địa

bàn sẽ có 56.500 lao động được dạy nghề (trung và sơ cấp), dẫn đầu vùng ĐBSCL. Tổng

dân số toàn thành phố năm 2010 là 1.198.817 người, trong đó dân thành thị chiếm 66%, dân

nông thôn chiếm 34%, số người lao động làm việc trong các ngành kinh tế là 588.340

người, nguồn lao động dự trữ là 219.816 người tập trung ở nhiều ngành nghề khác nhau.

Bảng 2.5. Cơ cấu lao động phân theo khu vực kinh tế qua các giai đoan 2005 - 2010

STT Năm Tổng số Khu vực 1 Khu vực 2 Khu vực 3

(người) Số lượng % Số lượng % Số lượng %

49

1 2005 247.221 47,1 97.266 18,5 180.948 34,4 525.435

2 2006 247.134 45,8 103.033 19,1 189.661 35,1 539.828

3 2007 248.013 44,8 108.208 19,5 197.826 35,7 554.046

4 2008 249.029 43,8 114.018 20,1 205.027 36,1 568.074

5 2009 248.125 42,7 120.861 20,8 212.727 36,5 581.713

6 2010 247.521 42,1 123.988 21,1 216.831 36,8 588.340

Nguồn: [13]

Nhìn chung qua các giai đoạn từ năm 2005 đến 2010 tỷ lệ lao động trong ngành nông

nghiệp giảm xuống, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng

lên. Nhưng lao động trong ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao từ 47,1% năm 2005 đến

năm 2010 giảm xuống 42,1%, tỷ lệ giảm chỉ có 5% là do thành phố Cần Thơ có điều kiện

thuận lợi để phát triển nông nghiệp nhằm hướng đến phát triển nền kinh tế nông nghiệp bền

vững.

* Kết cấu theo trình độ văn hóa:

Nguồn nhân lực khoa học công nghệ của thành phố Cần Thơ phát triển nhanh đã tác

động tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn, số người lao động có

trình độ từ cao đẳng trở lên tập trung về đây ngày càng nhiều, bổ sung thêm lực lượng lao

động cho thành phố Cần Thơ. Năm 2011, Thành phố có gần 63.225 người có trình độ từ cao

đẳng trở lên, số lượng thạc sỹ và tiến sĩ ngày càng nhiều. Chất lượng lao động ngày càng

được nâng cao, nhưng phân bố không đồng đều trong tỉnh, tập trung nhiều ở Quận Ninh

Kiều.

Ngành Giáo dục và đào tạo TP. Cần Thơ đã tiến hành tổng điều tra trình độ văn hóa

trong nhân dân trên địa bàn toàn thành phố. Kết quả kiểm tra ghi nhận: Tính đến tháng 11

năm 2010 có 85/85 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn chống mù chữ - phổ cập giáo dục Tiểu

học và THCS; có 9/9 đơn vị quận, huyện đạt chuẩn chống mù chữ - phổ cập giáo dục Tiểu

học.

Số trường học được mở ra nhiều hơn, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, điều này cho

thấy trình độ dân trí của thành phố ngày càng cao và có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao

CLCS cho người dân thành phố.

2.2.1.3. Sự phát triển kinh tế

Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương, nằm ở vị trí trung tâm của vùng đồng

bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Từ hơn trăm năm trước, Cần Thơ được mệnh danh là Tây

50

Đô – thủ phủ của miền Tây Nam bộ và giờ đây Cần Thơ đã trở thành đô thị loại 1, một

trong 4 tỉnh – thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL và là vùng kinh tế trọng

điểm thứ 4 của Việt Nam. Lợi thế của TP. Cần Thơ không chỉ ở các lĩnh vực nông nghiệp,

thủy sản mà còn ở vị trí địa lý cho phép phát triển các lĩnh vực: hạ tầng đô thị; hạ tầng giao

thông; nông nghiệp công nghệ cao; công nghiệp chế biến nông - thủy - hải sản; du lịch, hạ

tầng phục vụ du lịch và các ngành công nghiệp phụ trợ.

Theo các báo cáo kinh tế - xã hội của TP Cần Thơ, từ năm 2004 đến nay, cơ cấu kinh

tế của thành phố có sự chuyển biến rõ nét, chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh từng

bước được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng. Trong 5 năm (2005 - 2010), tốc độ

tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 15,13%, cao hơn 1,63% so với giai đoạn 2001-2005. Năm

2010, tỷ trọng khu vực I chiếm 10,61%, khu vực II chiếm 44,16%, khu vực III chiếm

45,23% trong GDP; so với năm 2005 khu vực I giảm 8,09%, khu vực II tăng 4,32%, khu

vực III tăng 3,77%. Tuy nhiên, năm 2011 - 2012, tăng trưởng kinh tế của thành phố không

đạt kế hoạch (năm 2011 đạt 14,64%; năm 2012 đạt 11,55%), do tác động của khủng hoảng

tài chính thế giới, lạm phát trong nước ở mức cao. Năm 2012, tỷ trọng các khu vực tương

ứng là 10,66% - 39,22% - 50,12%. Mặc dù không đạt kế hoạch, nhưng theo nhận định của

các ngành chức năng, nền kinh tế của thành phố bước đầu phát triển theo chiều sâu. Sản

xuất công nghiệp, thương mại- dịch vụ đều tăng gấp 2 - 3 lần so với năm 2005; nông nghiệp

100%

80%

43,62

43,02

41,46

44,26

44,45

45,23

Dịch vụ

60%

Công nghiệp - Xây dựng

Nông -Lâm - Thủy sản

39,84

40%

38,69

41,7

41,22

44,16

42,58

20%

18,7

17,05

10,61

15,28

15,15

12,97

0%

2005

2006

2009

2007

2008

2010

phát triển toàn diện, đạt cả về năng suất lẫn chất lượng.

Biểu đồ 2.4. Cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế của TP. Cần Thơ

Nguồn: [13]

Bên cạnh đó, huy động các nguồn vốn xã hội cho đầu tư phát triển thành phố ngày

càng tăng, giai đoạn 2005 - 2010, tổng vốn đầu tư trên địa bàn đạt trên 85.062 tỉ đồng, tăng

4,5 lần so giai đoạn 2001 - 2005; riêng năm 2012 đạt khoảng 34.498 tỉ đồng, tăng 8,5% so

với năm 2011. Trong 9 năm qua, thành phố đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, nhưng vẫn

chưa xứng tầm với đô thị trung tâm vùng.

51

2.2.1.4. Cơ sở hạ tầng

Đầu tư xâu dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn thành phố trong những năm gần đây đã

được chú trọng, đặc biệt là từ khi cầu Cần Thơ, sân bay Trà Nóc, cảng Cái Cui,… đưa vào

sử dụng đã tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở Cần Thơ nói chung.

* Hệ thống cung cấp điện

Hiện nay, thành phố Cần Thơ được cấp điện chủ yếu từ nguồn điện lưới quốc gia

(qua đường dây 220KV Cai Lậy - Trà Nóc và Cai Lậy - Rạch Giá) và nhà máy nhiệt điện

Trà Nóc (tổng công suất 193,5MW) cung cấp điện cho thành phố qua đường dây 110KV và

6 trạm biến áp.

Ngoài nguồn cung cấp trên, thành phố được Thủ tướng Chính phủ cho phép xây

dựng dự án Trung tâm điện lực Ô Môn với tổng công suất cho 4 nhà máy 2.700MW bao

gồm: Ô Môn 1: 600MW, Ô Môn 2: 720MW; nhà máy điện FO/khí 660MW và Ô Môn 4:

720MW dự kiến hoàn thành cả 4 nhà máy vào năm 2013. Trong đó, tổ máy số 1 - nhà máy

Ô Môn 1 đã đưa vào vận hành vào năm 2009.

* Cấp thoát nước

Cấp nước: Toàn thành phố hiện có 11 nhà máy cấp nước với tổng công suất

109.500m3/ngày đêm. Phần lớn trung tâm các xã đều có hệ thống cấp nước từ 10 -

20m3/giờ và các cụ̣m dân cư lớn 50 - 100 hộ có hệ thống nối mạng cấp nước sạch. Trong

thời gian tới, cần phải tiếp tụ̣c nâng cấp và mở rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao.

Thoát nước: Hệ thống thoát nước của thành phố hiện chỉ tập trung chủ yếu tại các

phường trung tâm của quận Ninh Kiều, vừa thoát nước mưa, vừa thoát nước thải sinh hoạt.

Tổng chiều dài hệ thống thoát nước là 23.509m, đường cống 300-1.200mm và 7.216m.

Nhìn chung, hệ thống thoát nước trên địa bàn nội thị còn kém và đang xuống cấp, hệ thống

thoát nước tại các trung tâm thị trấn không đủ năng lực tải.

* Giao thông

Hệ thống giao thông đường bộ: Toàn thành phố có 2.762,84km đường, mật độ 2,3km/km2 (nếu không tính đường xã ấp, toàn thành phố có 698,548km đường, mật độ 0,5km/km2); trong đó có 123,715km quốc lộ; 183,85km đường tỉnh; 332,87 km đường

huyện; 153,33km đường đô thị; 1.969,075km đường ấp, xã, khu phố. Với 3,98% mặt đường

bê tông nóng, 26,26% nhựa, 27,74% rải đá, 17,44% cấp phối, còn lại là đường đất phần lớn

sử dụ̣ng cho người đi bộ và xe 2 bánh với quy mô và tải trọng nhỏ.

52

Cần Thơ có 1.064 tuyến đường, trong đó quốc lộ có 6 tuyến đường, đường tỉnh 11

tuyến, đường quận huyện 783 tuyến và đường nông thôn 264 tuyến. Mật độ đường các loại bình quân 1,5km/km2, trong đó mật độ đường chính là 0,92km/km2, vào loại trung bình so

với cả nước, chủ yếu tập trung ở khu vực đô thị

Chất lượng đường nhìn chung còn yếu, tỷ lệ đường nhựa mới đạt 84,2% đối với

đường huyện, 47,7% đối với đường đô thị và 49,5% đối với đường nông thôn. Đặc biệt là

thành phố vẫn còn một số xã, phường chưa có đường ô tô đến trung tâm, hệ thống cầu trên

đương tỉnh và đường huyện còn ở cấp thấp, nhiều cầu chỉ đảm bảo thông xe 4 bánh tải trọng

nhỏ hoặc xe 2 bánh, hạn chế đến khả năng vận chuyển vật tư, hàng hóa nông sản.

TP. Cần Thơ có các hệ thống giao thông đường sông, đường hàng không, giao thông

công cộng, hệ thống các công trình phục vụ giao thông, hệ hống cảng biển.

* Thông tin liên lạc

Hệ thống Bưu chính - Viễn thông của thành phố Cần Thơ được trang bị hiện đại,

công nghệ cao, chất lượng đồng bộ, nối mạng hoàn chỉnh đến tất cả các tỉnh, thành trong

nước và quốc tế.

Về Bưu chính: 01 doanh nghiệp nhà nước và hơn 24 doanh nghiệp tư nhân đóng trên

địa bàn đảm nhận, có hệ thống ổn định với 35 bưu cụ̣c trong đó có 3 bưu cục cấp I, 8 bưu

cục cấp II, 24 bưu cục cấp III, 48 điểm bưu điện văn hóa xã và 216 đại lý bưu điện, điểm

giao dịch chuyển phát.

Mạng lưới Viễn thông: Được hiện đại hóa, chất lượng đồng bộ, nhiều loại hình dịch

vụ̣ hiện đại được triển khai, chất lượng dịch vụ̣ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

và thông tin liên lạc của vùng; hiện tại, trên địa bàn thành phố có 6 doanh nghiệp đang tham

gia hoạt động trong lĩnh vực viễn thông, Internet. Công nghiệp công nghệ thông tin có

những chuyển biến mới, ứng dụ̣ng công nghệ thông tin trong xử lý công việc theo hướng số

hóa, hiện có khoảng 150 doanh nghiệp hoạt động; công nghệ phần mềm và nội dung số

đang có 5 doanh nghiệp hoạt động.

Mạng lưới viễn thông được hiện đại hóa, nối mạng hoàn chỉnh đến các tỉnh, thành

trong cả nước và liên lạc quốc tế, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trên địa bàn; nhiều

loại hình dịch vụ hiện đại được triển khai, chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu phát triển

kinh tế - xã hội và thông tin liên lạc của vùng. Ước đến năm 2010, mật độ điện thoại/100

dân đạt 187,27 máy (riêng máy cố định đạt 15,86 máy) và 4,03 thuê bao Internet/100 dân,

80% số xã có điểm truy nhập Internet công cộng; 100% sở, ngành, quận, huyện sử dụng

phần mềm ứng dụng quản lý văn bản điều hành qua mạng. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp

53

phần mềm và nội dung số, công nghiệp điện tử đạt 15%. Các loại hình dịch vụ phát thanh -

truyền hình được đầu tư phát triển đa dạng với chất lượng ngày càng được nâng cao

2.2.1.5. Phát triển đô thị

Phân khu chức năng đô thị của thành phố tương đối rõ nét. Quận Ninh Kiều, là trung

tâm đô thị của thành phố Cần Thơ, mật độ dân số cao, có đô thị phát triển lâu đời, nơi tập

trung hầu hết các cơ sở dịch vụ quan trọng về tài chính – ngân hàng, giáo dục – đào tạo,

khoa học công nghệ, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, truyền hình, xuất bản, báo chí…trung

tâm hành chánh – chính trị của thành phố, bố trí một số cơ quan quan trọng của trung ương.

Quận Bình Thuỷ là đô thị chiếm giữ cơ sở hạ tầng quan trọng (KCN, Sân bay, bến cảng).

Quận Cái Răng với đô thị hiện hữu, KCN và Cảng biển (Cái Cui), tiềm năng khu đô thị mới

Nam Cần Thơ. Quận Ô Môn, được xác định như khu đô thị - công nghiệp mới. Quận Thốt

Nốt, đô thị hoá mạnh tập trung ở thị trấn Thốt Nốt trước đây, là đầu mối giao thông thuỷ bộ,

nối liền các tỉnh lân cận và các huyện của thành phố Cần Thơ, KCN (Thốt Nốt). Mạng lưới

chiếu sáng đô thị được mở rộng, tổng công suất chiếu sáng công cộng đô thị đạt 2,34KW

với sản lượng điện tiêu thụ hàng năm khoảng 8,4 triệu KWh. Hệ thống cơ sở hạ tầng bưu

chính viễn thông đã phủ kín toàn thành phố, bán kính phục vụ bưu chính là 1,7 km/điểm

phục vụ, với số dân phục vụ bình quân là 7.729 người/điểm.

Các khu dân cư đã được hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng như các khu dân

cư: 91B, Diệu Hiền, 586, Long Thịnh, Cồn Cái Khế, Cồn Khương, Khu Cái Sơn – Hàng

Bàng, khu tái định cư Thới Nhựt, khu tái định cư siêu thị Metro Cash, khu tái định cư phục

vụ đường tỉnh 923, khu tái định cư phục vụ chợ gạo Thốt Nốt, các khu dân cư vượt lũ và

thành phố hiện đang tiếp tục đầu tư nâng cấp đô thị thành phố Cần Thơ giai đoạn 1. Đồng

thời, thành phố cũng đang xoá bỏ các quy hoạch treo và điều chỉnh các quy hoạch hiện có

theo hướng phù hợp với yêu cầu mới. Sự phát triển đô thị dọc theo tuyến sông Hậu, không

kiểm soát sẽ làm mất dần cảnh quan, không gian hiện hữu, gia tăng áp lực môi trường. Cơ

sở hạ tầng xử lý ô nhiễm môi trường còn yếu và chưa đồng bộ. Sử dụng chung mạng ống –

cống thoát nước (nước mưa và nước thải) đổ trực tiếp ra sông/rạch, tại các đường thuộc khu

vực ven đô thị và các khu hẻm dân cư đang đô thị hoá còn sử dụng các mương đất để thoát

nước, dẫn đến tình trạng ứ đọng – ngập nước mỗi khi có mưa lớn kéo dài ở nhiều đường

phố trung tâm nội ô, kể cả những nơi có tuyến cống chính. Đô thị hoá chưa đồng bộ, còn tồn

tại vành đai nông thôn rộng lớn bao quanh các trung tâm quận (đặc biệt là Bình Thuỷ, Ô

Môn và Thốt Nốt), người dân còn mang đặc điểm văn hoá truyền thống, lối sống, phong tục

54

tập quán, ý thức cộng đồng, gia tộc và gia đình nông thôn, khác với lối sống thành thị, nghề

nghiệp gắng với ruộng đất và các nghề thủ công dẫn đến chưa hình thành được nếp sống của

một xã hội công nghiệp. Mặt khác, sự phát triển của nền kinh tế phi nông nghiệp làm lui dần

kinh tế nông nghiệp, bên cạnh một số ưu điểm như: việc giá trị đất đai tăng, thu hút được

đầu tư từ nơi khác đến, giao thông thuận tiện, đưa người dân nông thôn xích lại gần hơn với

người thành thị, phương tiện thông tin truyền thông thuận tiện, hưởng thụ tốt hơn dịch vụ xã

hội, một bộ phận lao động có việc làm mới,… tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại nhiều hạn

chế như: một bộ phận người lao động không có trình độ/người già không có việc làm, thu

nhập và trở thành người nghèo của đô thị; giá đất tăng dẫn đến việc người dân bán đất lấy

tiền, một khi gặp phải điều kiện sống không phù hợp, họ trở thành người mất tiền, mất

phương tiện sản xuất và cũng trở thành người nghèo của đô thị.

2.2.1.6. Đường lối chính sách

Ngoài những yếu tố trên thì đường lối chính sách của thành phố có vai trò quan trọng

trong việc phát triển kinh tế, thực hiên các kế hoạch xã hội. Các chương trình y tế, xóa đói,

giảm nghèo, đào tạo việc làm…có ý nghĩa to lớn trong việc ổn định đời sống, nâng cao thu

nhập, cải thiện mức sống của dân cư. Có thể nói, đây là yếu tố không thể thiếu trong sự phát

triển kinh tế của thành phố Cần Thơ.

Đại hội XII của Đảng bộ thành phố Cần Thơ đã xác định định hướng mục tiêu đến

năm 2020 của thành phố là:

Phấn đấu “xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trở thành thành phố đồng bằng

cấp quốc gia văn minh, hiện đại, sáng, xanh, sạch, đẹp, xứng đáng là thành phố cửa ngõ của

cả vùng hạ lưu sông Mekong; là trung tâm công nghiệp, tài chính, thương mại - dịch vụ, du

lịch, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế và văn hóa, là đầu mối quan trọng về

giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược

về quốc phòng, an ninh trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước”.

“Cần Thơ phấn đấu là một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công

nghiệp hóa, hiện đại hóa và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020, là một

cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn vùng” [5]

2.2.2. Các nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

2.2.2.1. Địa hình

Địa hình Cần Thơ là dạng địa hình đồng bằng châu thổ với đặc điểm chung là thấp và

bằng phẳng. Độ cao trung bình khoảng 1 m so với mặt nước biển, 90% diện tích có độ cao

55

phổ biến từ 0,2 - 1 m, 10% diện tích có độ cao từ 1,5 - 1,8 m. Ðịa hình có dạng lòng chảo,

thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây.

Địa hình có thể chia thành các dạng như sau:

- Đồng bằng bãi bồi: nằm dọc theo sông Hậu, gồm địa phận các quận Ninh Kiều,

Bình Thủy, Ô Môn, Cái Răng và huyện Thốt Nốt. Nhờ có phù sa bồi đắp nên đây là khu vực

cao nhất thành phố, nhất là ở các gờ đất ven sông. Quá trình uốn khúc và thay đổi lòng sông

làm cho khu vực này còn tồn tại nhiều gờ sông cũ nằm xa sông hiện tại. Phía sau bờ sông là

vùng đồng bằng phù sa rộng lớn. Giữa sông Hậu có nhiều cồn nổi như: cồn Khương, cồn

Ấu, cồn Cái Khế. Một số cồn có xu hướng dính liền vào bờ sông, như cồn Cái Khê, nay đã

nối liền với hữu ngạn sông Hậu, trở thành khu đô thị của thành phố.

- Bồn trũng xa sông: nằm cách xa sông Hậu, do không được bồi đắp phù sa nên có

địa hình trũng thấp, chủ yếu ở huyện Cờ Đỏ, huyện Vĩnh Thạnh và một phần huyện Phong

Điền. Do địa hình trũng thấp, khó thoát nước nên thường xuyên bị ngập lâu trong suốt mùa

mưa và đầu mùa khô. Cuối mùa khô, có thể chỉ còn lại các vùng nước nhỏ.

2.2.2.2. Khí hậu

Khí hậu Cần Thơ mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, có tính chất cận xích đạo

và thể hiện rõ ảnh hưởng của hệ thống hoàn lưu Tây Nam từ Ấn Ðộ Dương tới.

Nhiệt độ không khí thay đổi theo mùa, trong năm có hai mùa rõ rệt, tuy nhiên sự chênh lệch giữa các tháng trong năm không lớn (khoảng 2,5 0C). Nhiệt độ trung bình năm là 26,60C; nhiệt độ thấp nhất là 19,70C; nhiệt độ cao nhất là 34,40C. Tổng số giờ nắng trong năm là 2.300 giờ, tổng lượng bức xạ bình quân hằng năm là 150 kcal/cm2. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm khá lớn, khoảng 7,40C.

Độ ẩm không khí tương đối ổn định từ 79,0 - 83,4%, biên độ nhiệt trung bình giữa

các tháng trong năm thấp là điều kiện thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển quanh

năm của cây trồng và vật nuôi. Lượng mưa trung bình từ 1.548 - 1.840mm/năm (xấp xỉ ở

mức trung bình của vùng ĐBSCL). Lượng mưa phân bố không đều, tập trung vào tháng 9

và tháng 10, kết hợp với ảnh hưởng lũ của sông Mêkông đã gây ngập úng ruộng đồng,

đường giao thông, khu dân cư... đặc biệt ở huyện Vĩnh Thạnh, quận Thốt Nốt... gây khó

khăn cho sản xuất và đời sống của cư dân.

Nhìn chung, khí hậu Cần Thơ khá ổn định, ít có thiên tai.

2.2.2.3. Nguồn nước

Nguồn nước là nước ngầm, nước mưa và nước từ sông Hậu. So với các tỉnh khác

trong vùng ĐBSCL, Cần Thơ là một trong những địa phương có điều kiện cung cấp nước

56

ngọt thuận lợi nhất với nguồn nước dồi dào, chất lượng tốt, nhiều khu vực có thể lợi dụng

thủy triều tưới tiêu tự chảy. Nước ngầm chủ yếu được khai thác phục vụ mục đích sinh hoạt.

Cần Thơ có hệ thống sông rạch dày đặc, ngoài các sông trong hệ thống sông Hậu còn

có các sông nhỏ đổ ra vịnh Thái Lan. Các con sông này đều nối với nhau thành một hệ

thống bao trùm toàn bộ lãnh thổ thành phố.

- Sông Cần Thơ chảy theo một vòng cung bao quanh các quận Ô Môn, Bình Thủy,

Ninh Kiều rồi đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều. Ở nơi giao nhau với sông Hậu, chiều rộng

mặt sông lên đến 200 m. Sông có nguồn nước ngọt quanh năm nên có ý nghĩa to lớn về

nhiều mặt đối với thành phố như: cung cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt; giao thông; du

lịch....Sông Cần Thơ nếu được khai thác và bảo vệ tốt sẽ góp phần làm tăng vẻ mỹ quan cho

thành phố Cần Thơ, trở thành con sông biểu tượng của thành phố, không kém gì sông Hàn

của Đà Nẵng.

2.2.2.4. Thổ nhưỡng

Cần Thơ nằm bên bờ sông Hậu, thường xuyên được bồi đắp phù sa và có nguồn nước

ngọt quanh năm. Đất đai chủ yếu là đất phù sa, về đặc điểm có thể chia thành mấy loại:

Đất phù sa chiếm 84% tổng diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo sông Hậu, cách sông

từ 8-12 km. Đất phù sa bao gồm 5 loại: đất phù sa bồi ven sông chiếm khoảng 1,9%, đất phù

sa đốm gỉ có gley chiếm khoảng 58%, đất phù sa đốm gỉ chiếm khoảng 15,3%, đất phù sa

loang lổ chiếm khoảng 4,9%, đất phù sa gley chiếm khoảng 4,1%.

Đất phèn chiếm 16% diện tích tự nhiên. Toàn bộ đất phèn hoạt động, bao gồm đất

phèn hoạt động nông chiếm khoảng 2,5%, đất phèn hoạt động sâu chiếm khoảng 7,0%, đất

phèn hoạt động rất sâu chiếm khoảng 6,4%

- Đất phù sa ven sông: hình thành do sự bồi đắp phù sa hằng năm của sông Hậu. Loại

đất này phân bố dọc theo sông Hậu, từ Thốt Nốt đến Cái Răng và trên các cù lao giữa sông.

Đất rất phì nhiêu, nhiều chất hữu cơ, thành phần cơ giới tốt. Đất có thể canh tác 2 - 3 vụ

lúa/năm và các cây trồng hằng năm khác.

- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng: phân bố thành một dải tiếp giáp với giải đất

phù sa ven sông. Dải đất này có chiều rộng không đồng nhất, phía đầu nguồn thuộc huyện

Thốt Nốt có diện tích khá hẹp, diện tích tăng dần về phía hạ lưu.

- Đất phù sa glây: hình thành trên những vùng trũng thường xuyên bị ngập nước,

phân bố trên địa bàn các huyện: Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt và một phần huyện Phong

Điền. Do bị ngập nước nhiều tháng trong năm, đất bị yếm khí tạo thành tầng tích tụ glây

màu xám xanh. Loại đất thường ngập úng vào mùa mưa, nhưng lại thiếu nước vào mùa khô.

57

Đất phù sa nhiễm phèn: chủ yếu phân bố ở hai huyện Vĩnh Thạnh và Cờ Đỏ, phần

lớn là đất nhiễm phèn ít hoặc trung bình.

Năm 2009, Cần Thơ có tổng diện tích đất gần 141.000 ha, chiếm 3.5% diện tích khu

vực đồng bằng sông Cửu Long và 0.43% diện tích đất tự nhiên quốc gia. Cơ cấu đất ở Cần

Thơ bao gồm đất nông nghiệp (chiếm gần 82% tổng diện tích) đất phi nông nghiệp (18%)

và một phần nhỏ của đất chưa sử dụng.

Bảng 2.6. Sử dụng quỹ đất thành phố Cần Thơ năm 2009

Thứ tự Diện tích (ha) Cơ cấu (%)

Tổng diện tích đất tự nhiên 140.894,92 100,00

1 Đất nông nghiệp 115.432,10 81,93

1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 113.869,72 80,82

1.2 Đất lâm nghiệp có rừng 227,14 0,16

1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 1.332,42 0,95

1.4 Đất nông nghiệp khác 2,82 0,00

2 Đất phi nông nghiệp 25.265,41 17,93

2.1 Đất ở 6.318,41 4,48

2.2 Đất chuyên dùng 10.808,64 7,67

2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 148,83 0,11

2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 313,43 0,22

2.5 5,34 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 7.516,84

2.6 Đất phi nông nghiệp khác 159,26 0,11

3 Đất chưa sử dụng 197,41 0,14

Nguồn: [13]

Số liệu này cho thấy, đất nông nghiệp vẫn chiếm một phần lớn ở thành phố Cần Thơ

và xuất hiện hầu hết ở các khu vực đô thị hành chính cấp quận (trừ quận Ninh Kiều). Do

vậy tuy được công nhận là thành phố loại 1 trực thuộc Trung ương, cộng với tốc độ đô thị

hóa khá nhanh trong thời gian vừa qua; đồng thời với việc thực thi chiến lược công nghiệp

hóa, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nhưng phần lớn dân cư đô thị của

thành phố vẫn sống lệ thuộc vào nông nghiệp (các quận Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn và

Thốt Nốt). Đây là đặc điểm khá đặc thù đối với đô thị Cần Thơ và yếu tố này cũng tác động

mạnh mẽ đến sinh kế của người nghèo khu vực đô thị. Chỉ một bộ phận nhỏ dân cư đô thị

tiếp cận được với các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại

dịch vụ là các ngành nghề mang lại việc làm có thu nhập tương đối cao và ổn định. Hầu hết

58

người dân vẫn sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, nhất là người nghèo. Trong điều kiện

thiếu thốn các tài sản sinh kế về đất sản xuất, vốn, lao động và trình độ học vấn, trình độ sản

xuất người nghèo buộc phải di cư về các đô thị trung tâm như Ninh Kiều, hoặc tìm kiếm

việc làm phi nông nghiệp tại các trung tâm quận đối với các quận chậm chuyển dịch cơ cấu

lao động trong khi người lao động chưa được trang bị các điều kiện cần thiết như: nghề

nghiệp, trình độ học vấn, kỹ năng việc làm,.. khiến cho đời sống của họ đã khó khăn càng

khó khăn hơn.

Diện tích đất bình quân theo đầu người của người dân thành phố năm 2010 gồm đất

sản xuất 1.847 m2/người, đất ở 147 m2/người, ao hồ, mặt nước là 169 m2/người.

2.2.2.5 Sinh Vật

* Thực vật

Tài nguyên thực vật của Cần Thơ không nhiều. Thành phố không có rừng, ngoại trừ

một số vườn sinh thái. Thảm thực vật của Cần Thơ tập trung trên vùng đất phù sa ngọt, gồm

các loại cỏ, rong tảo, trâm bầu, cò ke, sung vả, dừa nước, rau má, rau dền lửa, rau sam và

các loại bèo, lục bình, rong đuôi chồn, bình bát,... Trên vùng đất phèn chủ yếu có các loài

tràm, chà là nước, mây nước, bòng bong, bồn bồn, bình bát, điên điển, lúa ma, sen, bông

súng....

* Động vật

Động vật của Cần Thơ chủ yếu là thủy sản nước ngọt. Cá, tôm và một số loài nhuyễn

thể sống chủ yếu trên các sông rạch. Các loại cá đen như: lóc, rô, trê, bống có số lượng

nhiều, sinh trưởng nhanh, sống chủ yếu ở hồ ao, mương đìa. Các loại cá trắng như: chày,

mè, năng....thường sống ở các sông lớn như: sông Hậu, sông Cần Thơ, kênh Cái Sắn. Các

loài tôm tép như: tôm càng xanh, tép bạc, tép cỏ, tép đất....sống trên sông sạch và đồng

ruộng. Thành phố có vườn cò Bằng Lăng là nơi sinh sống của một số loài thực vật tự nhiên

và các loài chim, cò. Ngoài ra, thành phố cũng có các điểm du lịch sinh thái như: Ngọc

Sinh, Tân Long, Mỹ Khánh....là nơi cư ngụ của một số loài động thực vật.

2.2.2.6. Tài nguyên thiên nhiên

* Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn Cần Thơ bước đầu cũng đã tìm thấy một số loại khoáng sản cho phép

khai thác quy mô công nghiệp. Than bùn có ở các quận, huyện Ô Môn và Thốt Nốt. Riêng

than bùn ở Ô Môn đã có trữ lượng 150 nghìn tấn. Sét gạch ngói đã phát hiện được 3 điểm lớn, chất lượng tốt với tầng đất dày 1 – 2 m và tổng trữ lượng khoảng 16,8 triệu m3. Cát xây

59

dựng có ở nhiều nơi, tập trung nhất ở cù lao Linh, cù lao Khế. Nước khoáng cũng đã tìm thấy ở một số điểm có độ nóng 420C với lưu áp 16 lít/s.

* Tài nguyên du lịch

Thành phố Cần Thơ là đô thị lớn của vùng đồng bằng sông Cửu Long, là đầu mối

giao thương nối liền các tỉnh trong vùng đến thành phố Hồ Chí Minh và sang Campuchia.

Về phát triển du lịch, thành phố Cần Thơ có nhiều tiềm năng như:

- Tượng đài Bác Hồ, nhà Bảo tàng thành phố, nhà Bảo tàng Quân khu 9, đình Bình

Thủy, chùa Khánh Quang, chùa Ông, chùa Nam Nhã Đường, Hội Linh Cổ Tự, chùa Munir

Ansây, Long Quang Cổ Tự, mộ thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, mộ nhà thơ Phan Văn Trị, Trường

Đại học Cần Thơ, Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL, nông trường Sông Hậu… có khả năng phát

triển du lịch văn hóa.

- Hệ thống sông rạch chằng chịt và một số làng nghề truyền thống; các tiềm năng

cảnh quan sinh thái như cồn Cái Khế, Cồn Khương, Cồn Ấu, cù lao Tân Lộc, làng hoa Thới

Nhật, nhà lồng chợ cổ Cần Thơ, phố đi bộ dọc bến Ninh Kiều, chợ nổi Cái Răng, chợ nổi

Phong Điền, du thuyền trên sông..., được kết nối với trung tâm thành phố bằng hệ thống

giao thông đường bộ lẫn đường thủy rất thuận tiện, có khả năng phát triển du lịch sinh thái;

tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư đã được phê duyệt, đáng chú ý là dự

án Trung tâm văn hóa Tây Đô, Trung tâm văn hóa Khmer Nam bộ, dự án khôi phục lộ Vòng

Cung - làng cổ Bình Thủy…

Ngoài ra, Cần Thơ còn đầu tư một số loại hình dịch vụ du lịch khác như khu vui chơi

giải trí, du lịch hội thảo…, thành phố có khả năng đón tiếp và phục vụ ăn nghỉ cho du khách

với hệ thống các nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, đa phần đã được xếp hạng từ tiêu chuẩn

đến 4 sao và một số nhà nghỉ dạng resort…, đáp ứng được nhu cầu ăn ở của du khách trong

nước và quốc tế.

Từ thế mạnh tự nhiên, thành phố đang tập trung vào bốn loại hình du lịch chính gồm

du lịch sinh thái miệt vườn; du lịch sông nước; du lịch văn hoá truyền thống gắn với các di

tích lịch sử, danh nhân, đình chùa, làng nghề; du lịch gắn với hội nghị, hội thảo, triển lãm.

Đánh giá chung

Thuận lợi

Thành phố Cần Thơ là thành phố có vị trí địa lý thuận lợi nằm trong vùng kinh tế

trọng điểm ĐBSCL, là một trong 4 tỉnh, thành phố của vùng kinh tế trọng điểm, có điều

60

kiện quan trọng để phát huy tốt những nguông lực sẵn có của mình trong việc đẩy nhanh tốc

độ phát triển kinh tế xã hội

Địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, có quỹ đất thuận lợi cho việc hình thành địa phương

chuyên canh về nông nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi có giá trị kinh tế cao đáp ứng được

nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng của thị trường.

Nguồn nước phong phú, đáp ứng tốt nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế trong

sản xuất và sinh hoạt của người dân trên địa bàn.

Thành phố Cần Thơ là thành phố có điều kiện về cơ sở hạ tầng nhằm phát triển trình

độ tri thức tạo điều kiện thuận lợi cho lao động dồi dào, có trình độ cao, thu hút lao động

đến, với sự đa dạng hóa các phương thức sản xuất, đã và đang góp phần tích cực đóng góp

vào sự phát triển chung của thành phố. Mặt khác, nơi đây cũng là thị trường tiêu thụ rộng

lớn, tiêu thụ ngay chính sản phẩm làm ra góp phần tiêu thụ ngay chính sản phẩm làm ra góp

phần thúc đẩy các ngành sản xuất trong thành phố.

Khó khăn

Diện tích đất chưa sử dụng không nhiều, khả năng mở rộng diện tích canh tác hạn

chế. Bên cạnh đó, do sự phân hóa sâu sắc khí hậu có 2 mùa mùa mưa cad mùa khô rõ rệt,

dẫn đến tình trạng thiếu nước vào mùa khô ở một số địa phương gây khó khăn cho sản xuất

và sinh hoạt.

Dân số đông gây ra sức ép ảnh hưởng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của thành

phố nhất là vấn đề về việc làm và môi trường sống làm chậm quá trình nâng cao CLCS của

người dân. Tại mốt số xã vùng sâu vùng xa của thành phố còn nhiều dồng bào dân tộc thiểu

số, trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu là yếu tố cản trở cho việc cải thiện

CLCS của dân cư.

Nền kinh tế của thành phố có nhiều khởi sắc trong thời gian qua, nhưng không đồng

đều giữa các địa phương trong thành phố, một số huyện mức sống thấp, kinh tế chủ yếu phụ

thuộc vào sản xuất nông nghiệp, chưa tạo được động lực để có bước đột phá đi lên.

Tất cả những thuận lợi và khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã

hội của thành phố đều ảnh hưởng đến việc cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần

cho người dân. Do đó, để nâng cao CLCS cho người dân, Cần Thơ cần có các biện pháp

phát huy, khai thác triệ để những thuận lợi về tự nhiên và kinh tế xã hội, đồng thời khắc

phục những khó khăn đang còn tồn tại trong địa bàn.

2.3. Hiện trạng chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ

61

2.3.1. Vấn đề lao động, việc làm, thu nhập bình quân đầu người

2.3.1.1. Lao động và việc làm

Lao động và việc làm là hai yếu tố quyết định mức thu nhập và cũng là nguyên nhân

dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo.

Theo thống kê của Sở Lao động và Thương binh xã hội năm 2010, số người từ 15

tuổi trở lên làm việc tại khu vực thành thị là 62,9%, tại khu vực nông thôn là 37,1%. Qua

kết quả trên cho thấy hầu hết dân số nằm trong độ tuổi lao động tập trung ở các khu vực

thành thị, khu vực có các xí nghiệp, các khu khu công nghiệp hơn ở khu vực nông thôn.

Thực tế cho thấy, khu vực thành thị số lượng và nhu cầu làm việc đa dạng hơn so với

nông thôn, điều đó dẫn tới thu nhập của khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn. Vì ở

nông thôn chủ yếu là lao động giản đơn, thủ công, theo thời vụ trong ngành nông nghiệp,

không đủ thời gian làm việc còn nhiều thời gian rỗi. Ở khu vực nông thôn bao gồm các

huyện: Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Phong Điền, Thới Lai do những nguyên nhân huyện mới chia

tách, trình độ học vấn thấp, lao động mang tính chất thủ công, thuần nông…Chính điều này

đa dẫn đến việc chênh lệch thu nhập giữa người giàu và người nghèo, giữa thành thị và

nông thôn.

Trong giai đoạn 2005 – 2009, lao động phân theo thành phần kinh tế có sự chuyển

biến, theo thành phần kinh tế thì thành phần Nhà nước có xu hướng giảm giảm dần, tăng

nhanh nhất của thành phố Cần Thơ là theo khu vực ngoài Nhà nước, có sự chuyển biến

nhưng còn chậm là khu vực có vôn đầu tư nước ngoài.

Năm 2010, tổng lao động xã hội của thành phố chiếm 67,4% so với dân số, trong đó

lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế chiếm 72,8% trong tổng lao động xã hội, lao

động dự trữ chiếm 27,2%. Như vậy, tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành kinh tế tăng

chậm hơn so với nguồn lao động xã hội tăng thêm, tạo áp lực việc làm. Tỷ trọng lao động

nông nghiệp của thành phố có xu hướng giảm liên tục và năm 2010 là 42,1% thấp hơn so

với các tỉnh trong vùng ĐBSCL, thấp hơn so với mức bình quân cả nước 48,7% và so với

ĐBSCL 59,7%. Trong tổng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản, lao động thủy sản có xu

hướng tăng khá nhanh từ 2.100 người (năm 2000) lên 9.100 (năm 2010).

Bảng 2.7. Lao động phân theo các thành phần kinh tế 2005 – 2009

Năm Phân theo thành phần kinh tế

Nhà nước % Ngoài Nhà nước % Khu vực đầu tư %

nước ngoài

20.582 37,03 32.079 57,72 2.919 5,25 2005

62

16.517 16.439 10.215 9.674 24,21 21,28 10,22 9,92 47.981 57.732 86.214 84.706 70,34 74,47 86,24 86,87 3.715 3.294 3.540 3.120 5,45 4,25 3,54 3,21 2006 2007 2008 2009

Nguồn: [13]

Năng suất bình quân của lao động năm 2010 đạt 75,1 triệu đồng/người, cao hơn so

với mức bình quân cả nước (40,4 triệu đồng/người) và cao nhất so với các tỉnh ở vùng

ĐBSCL, gấp 1,6 lần năng suất lao động của tỉnh cao kế cận là Kiên Giang (46,7 triệu

đồng/người) và gấp 3,2 lần của tỉnh thấp nhất là Trà Vinh (28 triệu đồng/người).

Năm 2011, lao động có việc làm thuộc khu vực nông nghiệp của thành phố vẫn còn

khoảng 40% trong cơ cấu, khu vực công nghiệp – xây dựng sử dụng trên 21% và số còn lại

là lao động thuộc khu vực dịch vụ. Thực tế cho thấy trừ quận Ninh Kiều hoạt động sản xuất

nông nghiệp không đáng kể, các quận còn lại như Binh Thủy, Cái Răng, Ô Môn và Thốt

Nốt mặc dù đã chuyển thành quận nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng.

Bảng 2.8. Quy mô và cơ cấu lao động ở TP. Cần Thơ theo khu vực kinh tế

giai đoạn 2005 - 2011

Khu vực Năm 2005 Năm 2011

Số lượng % Số lượng %

247.221 47,05 246.821 41,49 Nông nghiệp

97.266 18,51 127.008 21,35 Công nghiệp

180.948 34,44 221.177 31,16 Thương mại – dịch vụ

Nguồn: [13]

Đã có sự sụt giảm đáng kể lao động nông nghiệp từ năm 2005 chiếm 47% xuống

41% (2011) là do thành phố có sự tác động của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa và

cùng với sự tăng trưởng của lĩnh vực thương mại, dịch vụ và các ngành công nghiệp trên địa

bàn nên tỷ lệ lao động ở các khu vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ được tăng lên.

2.3.1.2. Thu nhập

Thu nhập bình quân đầu người được coi là một tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá

CLCS dân cư, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi khu vực.

Bảng 2.9. Tổng thu nhập và thu nhập bình quân đầu người TP. Cần Thơ

Đơn vị tính: Triệu đồng

Năm 2008 2009 2010 2011

63

28.880.000 35.000.000 39.000.000 48.900.000 Tổng GDP

24,5 29,4 32,5 40,4 GDP/người/năm

Nguồn: [13]

Tổng sản phẩm quốc dân ngày càng tăng, năm 2011 tăng gấp 1,65 lần so với năm

2008, Thu nhập tăng cao từ khi năm 2009 là do những điều kiện về cơ sở hạ tầng và kinh tế

xã hội đã được đầu tư và phát triển. tỷ lệ gia tăng dân số đã đi vào ổn định nên thu nhập

bình quân đầu người tăng lên đáng kể.

Thu nhập bình quân theo đầu người của Thành phố Cần Thơ năm 2010 là 32,5 triệu

đồng/năm cao hơn mức thụ nhập trung bình của cả nước là 27 triệu đồng/ năm. Và cao nhất

so với các tỉnh của Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long trong năm 2011. GDP/người/năm của

Thành phố Cần Thơ năm 2011 là 40,4 triệu trong khi đó GDP/người/năm của tỉnh Trà Vinh

là thấp nhấp 17 triệu đồng.

2.3.1.3. Chi tiêu cho đời sống

Do thu nhập tăng nên mức chi tiêu của gia đình cũng có xu hướng tăng theo thời

gian, năm 2010 chi tiêu bình quân là 1.201.000 nghìn đồng/tháng. Trong đó chi tiêu cho đời

sống là 87,54%, chi tiêu khác là 12,46%. Múc chi tiêu bình quân đầu người ở thành thị là

1.821.000 nghìn đồng/tháng, ở nông thôn là 1.107.000 nghìn đồng.

Xu hướng hiện nay khi thu nhập tăng lên thì chi tiêu cho nhu cầu ăn uống của dân

cũng tăng lên về giá trị tuyệt đối, nhưng tỷ trọng chi tiêu cho đời sống sẽ giảm, do nhu cầu

ăn uống khi đã đạt đến mức độ tương đối thì các hộ gia đình sẽ chi nhiều hơn cho các nhu

cầu may mặc, chăm sóc sức khỏe, mua sắm và du lịch….chính vì lẽ đó, tỷ trọng chi tiêu cho

đời sống cũng được xem là tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư, tỷ trọng này càng

cao thì mức sống cao và ngược lại.

2.3.1.4. Chênh lệch thu nhập và phân hóa giàu nghèo

Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đời sống người dân ngày càng tăng

nhanh, sự phân tầng mức sống và phân hóa giàu nghèo cũng rõ rệt. Mức độ phân tầng xã hội

phụ thuộc vào từng khu vực, từng địa phương, nhưng bất cứ nơi đâu cũng tồn tại vấn đề

này. Khoảng cách thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất ngày càng thu hẹp,

chênh lệch giữa thành thị luôn cao hơn hơn ở nông thôn và khoảng cách này ngày càng

giảm từ năm 2006 – 2010, điều này cho thấy mức sống của dân cư ngày càng cao.

Mức chênh lệch thu nhập bình quân đầu người tháng giữa nhóm giàu nhất và nhóm

nghèo nhất theo giá thực tế của thành phố năm 2008 là 6,4 lần thấp hơn so với mức chênh

64

lệch của toàn quốc 8,9 lần và của vùng ĐBSCL là 7,3 lần. mức chênh lệch của thành phố có

sự tăng lên năm 2006 là 5,5 lần đến năm 2008 là 8,9 lần là do quá trình đô thị hóa, tốc độ

phát triển kinh tế và sự chênh lệch thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn đã làm

thay đổi mức thu nhập giữa nhóm dân cư có bình quân thu nhập đầu người /tháng giữa

nhóm giàu và nhóm nghèo trong thành phố.

Bảng 2.10. Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người tháng giữa nhóm giàu nhất và

nhóm nghèo nhất theo giá thực tế (lần)

Mức chênh lệch Mức chênh lệch

năm 2006 năm 2008

Toàn quốc 8,4 lần 8,9 lần

Vùng ĐBSCL 6,8 7,3

Cần Thơ 5,5 6,4

Nguồn: [12]

Đói nghèo tồn tại ở nước ta từ lâu do điều kiện tự nhiên, lịch sử xã hội và chiến tranh

kéo dài. Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng Sông Cửu

Long, được xem là thành phố trung tâm của vùng, có tốc độ tăng trưởng nhanh và công

nghiệp phát triển khá vững chắc trong thời gian qua. Năng suất lao động công nghiệp cao

gấp 10 lần nông nghiệp, khoảng cách giàu nghèo, mức sống giữa thành thị và nông thôn khá

lớn, nhất là các dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa của huyện Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai

gặp nhiều khó khăn.

Bảng 2.11. Tổng hợp hộ nghèo phân theo địa bàn

Địa bàn Tổng số Tổng số Thành thị Nông thôn

hộ nghèo khẩu nghèo

1.087 1.087 0 4.072 Quận Ninh Kiều

3.815 3.815 0 15.730 Quận Ô Môn

1.220 1.220 0 4.279 Quận Bình Thủy

1.022 1.022 0 3.723 Quận Cái Răng

2.338 2.338 0 9.306 Quận Thốt Nốt

2.063 333 1.730 8.416 Huyện Vĩnh Thạnh

3.457 478 2.978 14.770 Huyện Cờ Đỏ

1.396 127 1.269 4.739 Huyện Phong Điền

65

3.152 12.871 302 2.850 Huyện Thới Lai

Toàn thành phố 19.530 77.906 10.702 8.827

Nguồn: [6]

Số lượng và tỷ lệ hộ nghèo chung của thành phố thành phố là 19.530 hộ, tỷ lệ 6,52%

(đầu năm 2012). Cuối năm 2012 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 5,19%.

Trong Những năm qua thực hiện nhiều chính sách của Nhà nước như: Quyết định số

74/2008/QĐ-TTg ngày 09 tháng 8 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính

sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu

số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2008 – 2010; Quyết

định số 102/2009/QĐ - TTg ngày 07 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ

trực tiếp cho hộ nghèo thuộc vùng khó khăn (thực hiện tại xã Thới Đông, Thới Xuân);

Quyết định số 2472/QĐ - TTg ngày 28 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về

việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó

khăn giai đoạn 2012 – 2015 (thay thế Quyết định số 975/QĐ-TTg), đạt được nhiều thành

tựu đáng kể, khích lệ trong việc thực hiện xóa đói giảm nghèo tại địa phương góp phần cải

thiện và nâng cao mức sống cho người dân trong các địa phương của thành phố.

2.3.2. Vấn đề lương thực, dinh dưỡng

Phát triển nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp và đảm bảo nhu cầu

lương thực và dinh dưỡng cho người dân. Khi con người được đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng

thì sẽ khỏe mạnh, nâng cao năng suất lao động, giảm tỷ lệ suy dinh dương ở trẻ em vằ tăng

chiều cao, cân nặng, vv… Từ đó, người dân có cơ hội tìm kiếm thu nhập cao hơn, cải thiện

đời sống vật chất và tinh thần.

Bảng 2.12. Tình hình sản xuất lúa, thủy sản của Thành phố

Năm 2007 2008 2009 2010

207,9 218,6 208,8 209,4 DT lúa cả năm (nghìn ha)

1131,6 1198,5 1138,1 1196,7 SL lúa cả năm (nghìn tấn)

14,0 12,9 13,9 12,8 DT mặt nước NTTS (nghìn ha)

157.080 187.864 197.877 178.296 SL thủy sản (nghìn tấn)

Nguồn: [16]

Cùng với sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ, ngành nông nghiệp đã có những

bước phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua, giá trị sản xuất nông lâm thủy sản của thành

66

phố đạt 3.709 tỷ đồng (năm 2005) tăng lên 4.073 tỷ đồng (năm 2011). Trồng trọt phát triển

với việc gia tăng sản lượng lương thực, các cây trồng khác được chú trọng, cây công nghiệp

lâu năm, cây ăn quả…Ngoài ra, ngành chăn nuôi cũng đạt được những thành tựu nhất định

với sản lượng thịt và sửa tăng nhanh. Với tốc độ phát triển như vậy, giá trị sản xuất nông

nghiệp cũng tăng khá trong thời gian qua.

Diện tích trồng lúa của thành phố ổn định cùng với sản lượng lúa qua các năm 2007

– 2009 ổn định đã đảm nhu cầu lương thực cho người dân, diện tích mặt nước nuôi trồng

thủy hải sản có giảm xuống nhưng sản lượng thì tăng lên. Trên địa bàn thành phố nổi tiếng

với nghề nuôi cá tra ở địa bàn 2 quận Ô Môn và Thốt Nốt tận dụng diện tích mặt nước tăng

thu nhập cho người dân, giải quyết việc làm ở nông thôn. Điều này góp phần nâng cao chất

lượng cuộc sống cho người dân thành phố Cần Thơ.

Thành phố chủ trương đảm bảo diện tích đất nông nghiệp chú trọng diện tích trồng

lúa vì lẽ đó sản lượng lượng lương thực, bình quân lương thực đầu người có tính ổn định

đảm bảo nhu cầu lương thực cho người dân thành phố và đóng góp vào sản lượng lương

thực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng đứng đầu cả nước về dựa lúa lớn

nhất nước.

Bảng 2.13. Lương thực bình quân đầu người của các địa phương

trong TP.Cần Thơ giai đoạn 2007 – 2010

Đơn vị: Kg/người

2007 2008 2009 2010 Năm

13 12,8 9,5 8,9 Quận Ninh Kiều

1378 1406 1304 1299 Quận Ô Môn

366 372 354 348 Quận Bình Thủy

275 245 185 187 Quận Cái Răng

1369 1546 1011 1031 Quận Thốt Nốt

5626 5683 5422 5624 Huyện Vĩnh Thạnh

4322 4658 4706 5052 Huyện Cờ Đỏ

983 1028 1065 1112 Huyện Phong Điền

- - 4679 4929 Huyện Thới Lai

Nguồn: [13]

Qua bảng số liệu trên ta thấy, bình quân lương thực đầu người của Quận Ninh Kiều

thấp nhất thành phố qua các năm 8,9 kg/người (năm 2010), tiếp theo là Cái Răng 187

67

kg/người (2010) và Bình Thủy 348 kg/người (năm 2010), không có nghĩa là các địa phương

trên có mức sống thấp, mà ngược lại đây là các địa phương có tỷ trọng nông nghiệp thấp

trong cơ cấu kinh tế nhưng công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ cao. Mức sống ở đây cao là

vì họ dùng tiền để mua lương thực thực phẩm và chi tiêu cho cuộc sống của mình. Trong

khi đó, bình quân lương thực cao nhất là thuộc về Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai, cao hơn cả

bình quân lương thực của cả nước 480,5 kg/người (2010). Vì ở đây hoạt động nông nghiệp

đóng vai trò chủ yếu trong nền kinh tế của địa phương.

Năm 2010 Sản lượng lương thực đạt 1.204.799 tấn lương thực so với năm 2007 đạt

1.135.980 tấn là do áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Bình quân lương thực năm

2007 là 969 kg/người đến năm 2010 là 1004 kg/người, sản lượng có sự gia tăng do vậy bình

quân lương thực của người dân cũng tăng lên 35 kg/người.

Tấn

Kg/Người

1100

1019

1004

968

969

1,300,000 1,200,000

1000

900

1,100,000 1,000,000

1,135,980

800

1,143,189

700

1,204,799

900,000 800,000

1,203,444

600

700,000 600,000

500

400

500,000 400,000

300

200

300,000 200,000

100

100,000 0

0

2007

2008

2009

2010

Năm

Sản lượng lương thực (tấn)

Bình quân lương thực (kg/người)

Biểu đồ 2.5. Biểu đồ Sản xuất lương thực TP. Cần Thơ từ 2007 - 2010

Nguồn: [13]

Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm của thành phố Cần Thơ chủ yếu nuôi nhỏ lẻ

trong nông hộ gắn liền với đất ở và tận dụng phụ phế phẩm trong nông nghiệp. Tuy nhiên,

trong thời gian qua ngành nông nghiệp đã chú trọng phát triển các mô hình chăn nuôi tập

trung theo hướng an toàn sinh học để tạo ra sản phẩm an toàn và chất lượng, đồng thời áp

dụng các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc gia cầm. Từ đó, đã thúc đẩy đàn

heo, đàn gia cầm tăng từ 8-12% so với cùng kỳ 2011.

- Tổng đàn gia súc, gia cầm tính đến tháng 6/2012 là: đàn trâu: 448 con, đạt 84,5%,

68

bằng 93,14% so với cùng kỳ; đàn bò: 3.459 con, đạt 93,5%, bằng 102,8% so với cùng kỳ;

đàn heo: 132.027 con, đạt 102,4%, bằng 111,98% so với cùng kỳ; đàn gia cầm: 1.898.510

con, đạt 94% bằng 110,5% so với cùng kỳ.

Nhìn chung lượng tiêu thụ lương thực thực phẩm hằng ngày có ảnh hưởng rất lớn tới

việc phát triển từng cá thể nhất là trẻ sơ sinh, dinh dưỡng tốt hay xấu có ảnh hưởng đến phát

triển thể trạng suốt cuộc đời. Hiện nay nhờ có những chính sách phát triển phù hợp với điều

kiện tự nhiên của thành phố, ứng dụng khoa học công nghệ, nghiên cứu của các viện nghiên

cứu, nên ngành nông nghiệp của thành phố đảm bảo nhu cầu lương thực thực phẩm cho

người dân thành phố, với các loại thực phẩm ngày càng đa dạng hơn.

Tuy nhiên vẫn còn một số thách thức rất lớn cho thành phố khi biến đổi khí hậu toàn

cầu sẽ làm gia tăng cường độ hạn hán, lũ lụt, mưa bão,dịch bệnh làm cho phát triển nông

nghiệp chưa bền vững.

2.3.3. Tiêu chí về giáo dục

Trong các nhu cầu của con người thì nhu cầu được học tập, giáo dục để nâng cao

trình độ nhận thức là không thể thiếu. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về giáo dục

và hưởng thụ các giá trị văn hóa và tinh thần đối với con người càng cao. Cùng với các

thành tựu về phát triển kinh tế, Thành phố Cần Thơ đạt được nhiều thành tựu trong sự

nghiệp phát triển giáo dục, nâng cao dân trí. Mạng lưới các cấp học, ngành học được quan

tâm đầu tư, bố trí hợp lý theo địa bàn phân bố dân cư.

Được sự quan tâm đầu tư phát triển giáo dục của thành phố, những năm gần đây số

lượng về trường học và giáo viên của thành phố ngày càng được tăng lên về số lượng và chất

lượng. Theo niên giám thống kê năm 2011 của Cục Thống kê thành phố Cần Thơ số lượng

trường học theo cấp học tại các quận, huyện đã được tăng lên đáng kể.

Ngoài số lượng trường công lập, thì thành phố đã có sự tăng lên số lượng trường học

ngoài công lập ở bậc tiểu học có 2 trường tư thục, trung học phổ thông có 4 trường tư thục.

Ngoài ra Cần Thơ có nhiều trường THPT, THCS, tiểu học đạt chuẩn quốc gia, đã có xuất

hiện trường quốc tế. Nhiều trung tâm Ngoại ngữ và Tin học phục vụ cho sự phát triển của

kinh tế và đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục cho thành phố. Cần Thơ có các

trường đại học: Đại học Cần Thơ, Đại học Y Dược Cần Thơ, Đại học Dân lập Tây Đô, Đại

học Kỹ thuật Công nghệ, Đại học Kiến trúc TP HCM (phân hiệu Cần Thơ), Đại học FPT

(phân hiệu Cần Thơ), Đại học Nam Cần Thơ. Các trường cao đẳng và trường trung học

chuyên nghiệp: trường Cao đẳng Cần Thơ, trường Cao đẳng kinh tế đối ngoại, trường Cao

đẳng Y tế, trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật, trường Cao đẳng nghề, Trường Cao đẳng

69

Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ, trường Cao đẳng nghề số 8, trường Trung cấp Kinh tế -

Kỹ Thuật, trường Trung cấp Văn hóa – nghệ thuật, trường trung cấp MeKong, trường trung

cấp Bách Nghệ, Đại Việt, Phạm Ngọc Thạch. Từ năm 2008, Bộ Văn hóa Thể thao và Du

lịch thành lập trường Trung cấp Du lịch Cần Thơ.

Viện nghiên cứu: Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Viện nghiên cứu Công Nghệ

Giáo Dục. Là thành phố trực thuộc trung ương, Cần Thơ cũng "có riêng" Viện Kinh tế - Xã

hội Cần Thơ. Từ những điều kiện thuận lợi về cơ sở trường lớp, đội ngũ giáo viên và được

sự quan tâm của lãnh đạo. Thành phố Cần Thơ có những nền móng vững chắc cho sự phát

triển giáo dục để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

Bảng 2.14. Số lượng trường học theo cấp học phân theo quận huyện năm 2011

Số lượng trường học

TT Quận/huyện Mầm non, Tiểu học Trung học Trung học

mẩu giáo cơ sở phổ thông

(THCS) (THPT)

1 Ninh Kiều 35 22 10 6

2 Ô Môn 9 18 4 4

3 Bình Thủy 8 15 5 3

4 Cái Răng 11 13 5 3

5 Thốt Nốt 11 22 7 2

6 Vĩnh Thạnh 19 25 9 2

7 Cờ Đỏ 16 23 8 3

8 Phong Điền 11 21 6 2

9 Thới Lai 13 21 9 2

133 159 63 27 Tổng số

Nguồn: [13]

Ngành Giáo dục và đào tạo TP. Cần Thơ đã tiến hành tổng điều tra trình độ văn hóa

trong nhân dân trên địa bàn toàn thành phố. Kết quả kiểm tra ghi nhận: Tính đến tháng 11

năm 2010 có 85/85 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn chống mù chữ - phổ cập giáo dục Tiểu

học và THCS; có 9/9 đơn vị quận, huyện đạt chuẩn chống mù chữ - phổ cập giáo dục Tiểu

học.

Tổng số dân 15-35 tuổi toàn thành phố: 389.943 người; tổng số người biết chữ trong

độ tuổi 15-35: 384.740 người; đạt tỉ lệ: 98.67%.

Trẻ 14 tuổi hoàn thành chương trình Tiểu học đạt tỷ lệ 99,73%.

Trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt tỷ lệ bình quân hàng năm: 99,9%.

70

Tỷ lệ độ tuổi 11 đến 14 hoàn thành chương trình Tiểu học hàng năm đạt tỷ lệ bình

quân: 97,11%. Học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở (2 hệ) bình quân hàng năm đạt tỷ lệ:

97,9%. Tỷ lệ thanh thiếu niên (15 - 18) tốt nghiệp Trung học cơ sở (2 hệ) bình quân đạt

85,34%. Thanh thiếu niên tốt nghiệp THCS vào THPT bình quân mỗi năm đạt tỷ lệ 77,78%.

Thanh thiếu niên tốt nghiệp THCS vào Trung cấp chuyên nghiệp bình quân mỗi năm

đạt tỷ lệ: 1.12%.

Số tốt nghiệp trung cấp nghề bình quân mỗi năm đạt tỷ lệ: 0,84%.

Thanh thiếu niên 18 đến 21 có bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông (2 hệ),TCCN đạt

tỷ lệ bình quân là 46,72%.

Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết của thành phố là 93,5%, cao hơn tỷ lệ

chung của vùng ĐBSCL (91,6%) là 1,9%.

Số lượng dân số có trình độ TCCN và cao đẳng – đại học trở lên của TP. Cần Thơ

cao hơn các tỉnh của vùng ĐBSCL, số dân đạt trình độ TCCN là 7,1% trong khi tỷ lệ trung

bình của vùng ĐBSCL là 1,9% cao hơn 5,2%. Đại học và cao đẳng của thành phố là 24,8 %

so với tỷ lệ của vùng là 4,8% cao hơn 20% đây là cơ sở để thành phố phát triển giáo dục

nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống trong tương lai.

Ngành giáo dục mẫu giáo không ngừng được quan tâm phát triển và tăng lên cả về số

lượng và chất lượng. Năm học 2006 – 2007, toàn thành phố có 46 trường mẫu giáo, đến

năm 2010 – 2011 đã có 179 trường mẫu giáo, trong đó có 178 trường công lập và 1 trường

dân lập. Số học sinh đến lớp cũng tăng đều qua các năm.

Bảng 2.15. Số học sinh mẫu giáo của TP. Cần Thơ qua các năm học

Năm 2006 - 2007 2007 - 2008 2008 - 2009 2009 - 2010 2010 - 2011

46 42 40 47 179 Số trường

1.049 1.104 1.185 1.226 3.120 Số lớp

1298 1.359 1.522 1.713 4.378 Số giáo viên

25.298 33.185 35.546 36.920 92.161 Số học sinh

Nguồn: [13]

Số lượng học sinh được đến trường có sự gia tăng qua các năm, đảm bảo số lượng

học sinh được đến trường qua các cấp học. Phổ cập giáo dục bậc THCS đạt 100%, đang

hướng đến cuối năm 2013 phổ cập 100% bậc THPT, công tác xóa mù chữ của thành phố đạt

kết quả cao, hiện nay không có tình trạng tái mù chữ trong thành phố. Giai đoạn 2006 -

2011, tỷ lệ người dân học hết THPT so với dân số chiếm 20,85%; tỷ lệ người dân có trình

độ sơ cấp nghề đạt trên 2% so với dân số cùng độ tuổi. Năm 2011, thành phố có tỷ lệ người

71

dân từ 15 tuổi lên biết chữ so với dân số đạt trên 96%. Lực lượng lao động qua đào tạo nghề

100000

chiếm 45% so với lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế.

Người

90000

92250

92750

92161

80000

70000

55447

60000

54320

53671

50000

40000

26077

25789

25412

30000

20000

10000

0

Năm

2009

2010

2011

TH

THCS

THPT

Biểu đồ 2.6. Số lượng học sinh TH, THCS, THPT TP. Cần Thơ 2009 – 2011

Nguồn: [13]

72

Nghìn người

Tổng số giáo viên TP. Cần Thơ

5000

4500

4000

3500

3000

2500

2000

1500

1000

500

0

Năm

2007

2008

2009

2010

Người thực hiện: Mỹ Thà – Cao học k22 Tỷ lệ 1: 500.000

Hình 2.2. Bản đồ giáo dục TP. Cần Thơ

2.3.4. Vấn đề y tế và chăm sóc sức khỏe

Sức khỏe là vốn quý và là yếu quan trọng đảm bảo hạnh phúc cho mỗi người. Sức

khỏe cũng là yếu tố cơ bản của CLCS của dân cư. Sức khỏe vừa là mục tiêu, vừa là điều

kiện phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới. Tình trạng sức khỏe không chỉ

73

phụ thuộc vào chức năng sinh lý, các quy định đặc thù của sinh học, mà còn phù thuộc vào

các điều kiện làm việc, nghỉ ngơi, mức sống, chăm sóc sức khỏe và môi trường sống.

Các quốc gia trên thế giới không chỉ quan tâm về mặt số lượng mà còn phải chú ý về

mặt chất lượng dân số, chất lượng giống nòi, trong đó có mục tiêu nâng cao thể lực cho con

người. Việc đảm bảo sức khỏe là nhiệm vụ của bản than từng người và cũng là trách nhiệm

chung của toàn xã hội.

Xác định sức khỏe là vốn quý của người dân, muốn phát triển kinh tế cần phải có một

sức khỏe tốt thì mới có thể tạo ra năng suất lao động cao được. Thành phố Cần Thơ đã đạt

được thành tựu to lớn về phát triển kinh tế, nên thành phố có những đầu tư thỏa đáng cho

việc phát triển ngành y tế, chăm sóc sức khỏe cho người dân. Hầu hết các chỉ số sức khỏe

của người dân đã được cải thiện, các dịch vụ y tế phát triển mạnh, đặc biệt là việc khám

chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Nguồn vốn đầu tư cho ngành y tế liên tục tăng qua các năm. Ngoài những nguồn vốn

đầu tư nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ, của Bộ y tế và của thành phố. Chính những

khoản đầu tư như vậy, ngành y tế thành phố đã dần hoàn thiện và phát triển về cơ sở vật

chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ y tế.

Hệ thống y tế và các cơ sở chăm sóc sức khỏe từ thành phố đến các quận huyện, thị

xã, phường, xã đều được củng cố và cải thiện. Năm 2012 trên địa bàn thành phố có 24 cơ sở

công lập trong đó 02 cơ sở trực thuộc Bộ y tế, 01 cơ sở trực thuộc quân khu 9 và 21 cơ sở

do thành phố quản lý. Bình quân có 25,6 giường/ vạn dân, 10,15 bác sĩ/vạn dân (so với năm

2005 là 16,20 giường/vạn dân, 6,06 bác sĩ/ vạn dân).

Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 13,1% (so với năm 2005 là 19,9%, 100% xã

phường có trạm y tế, 77,7% trạm y tế xã phường đạt chuẩn quốc gia.

Song song với hệ thống y tế Nhà nước, y tế ngoài công lập phát triển nhanh với 1.52

cơ sở y tế hành nghề y dược tư nhân, 02 bệnh viện đa khoa ngoài công lập (Bệnh viện Hoàn

Mỹ Cửu Long, Bệnh Viện phụ sản Phương Châu) đã đi vào hoạt động …Bên cạnh đó, thành

phố hiện có 4 cơ sở đào tạo nhân lực cho ngành y tế là Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và

Trường Cao đẳng Y tế Cần Thơ, trường đại học Tây Đô, Trung cấp Phạm Ngọc Thạch.

Ngoài ra, với kết quả của công tác sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước, đến nay Công ty cổ

phần Dược Hậu Giang đã trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu của cả nước

trong lĩnh vực dược phẩm.

Bảng 2.16. Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế TP. Cần Thơ 2005 – 2010

74

Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010

85 84 87 96 105 106 Số cơ sở y tế

2.029 2.100 2.319 2.836 2.856 2.979 Số giường bệnh

2.397 2.677 2.583 2.799 3160 3380 Số cán bộ ngành y

662 668 673 709 1.263 1314 Số cán bộ ngành dược

Nguồn: [13]

Nhìn chung, những chỉ số về cơ sở y tế, số giường bệnh, số cán bộ y tế ngày càng

tăng, có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng, hoạt động có hiệu quả, đảm bảo nhu cầu

khám chữa bệnh cho người dân.

Xây dựng được đội ngũ cán bộ y tế ngày càng có chất lượng và tăng nhanh về số

lượng đáp ứng nhu cầu phục vụ, số lượng bác sĩ, dược sĩ ngày càng tăng, năm 2005 có 796

bác sĩ đến năm 2010 tăng lên 1092 bác sĩ.

Bên cạnh việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, ngành cũng chú trọng

bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ trẻ về lý lý luận chính trị, kiến thức quản

lý Nhà nước, kỹ năng về tổ chức triển khai các chương trình y tế cộng đồng.

Công tác khám, điều trị bệnh nhân ở các tuyến được đảm bảo hơn, đáp ứng yêu cầu

của nhân dân. Thành lập nhiều đoàn khám chữa bệnh miễn phí cho người dân, trẻ em dưới 6

tuổi, các đối tượng chính sách và bảo hiểm y tế đạt kết quả.

Người

4000

3500

362

3000

349

301

Nữ hộ sinh

337

2500

308

1309

1157

y tá

950

2000

821

793

Y sĩ

1500

Bác sĩ

617

620

629

649

648

1000

1092

1034

500

919

870

834

0

2006

2007

2008

2009

2010

Năm

Biểu đồ 2.7. Số lượng cán bộ ngành y tại Thành phố Cần Thơ

giai đoạn 2006 - 2010

75

Nguồn: [13]

Tỷ lệ xã phường có bác sĩ ngày càng tăng, năm 2003 là 95,7% đến năm 2010 là

100%, nhờ đó mà chất lượng y tế ở vùng sâu vùng xa được đảm bảo hơn. Đó là một nỗ lức

khá lớn của ngành y tế Thành phố trong thực hiện y tế vùng sâu.

Triển khai các chương trình y tế quốc gia, phòng chống HIV/AISD, phòng chống

dịch bệnh xã hội và các bệnh truyền nhiễm khác đạt kết quả. Hằng năm có khoảng 30%

bệnh nhân ngoài địa bàn đến khám và chữa bệnh. Chủ động công tác phòng chống, chống

dịch bệnh, nhiều năm liền không có dịch bệnh lớn xảy ra.

Chất lượng điều trị ngày càng tăng, các ca phẫu thuật lúc trước phải chuyển lên tuyến

trên như: gan, sọ não, thận…thì nay hầu hết các bệnh viện đa khoa khu vực đã có thể tiến

hành được. Hơn nữa, thành phố còn phát triển khá mạnh các cơ sở chữa bệnh bằng y học cổ

truyền, có nhiều nhà thuốc nam, có hội châm cứu, có nhiều vườn thuốc nam ở xã phường,

đã góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân.

Chương trình bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình đạt được nhiều

kết quả to lớn, giảm tỷ lệ gia tăng tự nhiên hằng năm xuống đáng kể, số cặp vợ chồng sinh

con thứ 3 ngày càng giảm, số lượng cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai cũng

tăng lên.

Bảng 2.17. Số cán bộ ngành y theo quận huyện

của thành phố Cần Thơ năm 2010

Nữ hộ sinh Địa phương Bác sĩ Y tá Y sĩ

Tổng số 1092 1309 617 362

768 864 200 151 Quận Ninh Kiều

47 67 56 30 Quận Ô Môn

32 28 56 23 Quận Bình Thủy

88 182 48 45 Quận Cái Răng

65 79 69 30 Quận Thốt Nốt

28 29 55 27 Huyện Vĩnh Thạnh

16 18 40 15 Huyện Cờ Đỏ

22 26 37 16 Huyện Phong Điền

26 16 56 25 Huyện Thới Lai

Nguồn: [13]

76

Số lượng phụ nữ đi khám thai và khám thai định kì cũng tăng lên, điều này chứng tỏ

CLCS ngày càng tăng lên, tạo điều kiện khám chữa bệnh tốt hơn, tiêm ngừa vacxin cho bà

mẹ, trẻ em ngày càng được đảm bảo hơn các trung tâm y tế cộng đồng.

Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu có nhiều tiến bộ, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được

tiêm chủng đầy đủ các loại vacxin là 100% (2010), tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi

đã giảm đáng kể chỉ còn 13,1% (2010). Tỷ suất chết của người mẹ giảm còn 0,01%.

Các chương trình y tế cộng đồng ngày càng được quan tâm và đầu tư nhiều hơn, xã

hội hóa y tế được đẩy mạnh với sự tham gia tích cực của cộng đồng. chương trình tiêm

chủng đạt được nhiều kết quả khả quan, số người mắc bệnh sốt rét giảm nhanh chóng, đến

nay không còn bệnh nhân tử vong vì bệnh sốt rét ác tính. Mạng lưới phòng chống lao, da

liễu, bệnh phong ngày càng mở rộng và hoàn thiện. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng muối Iốt đạt

100%, đến nay đã không còn bệnh nhân mắc bệnh thiếu Iốt.

Chương trình phòng chống HIV/AISD được đẩy mạnh qua các chương trình truyền

thông đại chúng, các hội thi, các đợt sinh hoạt chuyên đề các hội nghị, đoàn thể, trường học

nhằm nâng cao sự hiểu biết về mối nguy hiểm và các con đường lây lan của bệnh.

Thành phố Cần Thơ thực hiện công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh

lao động, từng bước được khống chế và đẩy lùi các dịch bệnh nguy hiểm dịch tả, sốt rét,

thương hàn…ngày càng đảm bảo hơn.

Thực hiện công tác xã hội hóa về y tế đã có nhiều tiến bộ thể hiện thành tựu y tế của

thành phố trong thời gian qua, song khả năng này còn hạn chế ở vùng sâu, các dịch vụ về

chăm sóc sức khỏe và y tế còn có sự chênh lệch giữa các địa phương trong thành phố.

Năm 2011 - 2012, để tăng cường trang thiết bị y tế cho các trạm y tế, Sở Y tế đã tổ

chức lễ đi bộ hướng về y tế cơ sở vận động trên 1,37 tỉ đồng và một số trang thiết bị y tế

bằng hiện vật. Tuyến y tế quận, huyện được quan tâm đầu tư với 6 bệnh viện đa khoa quận,

huyện (Thốt Nốt, Ô Môn, Vĩnh Thạnh, Thới Lai, Phong Điền và Cái Răng) được đầu tư xây

dựng. Trong đó đã hoàn thành và đưa vào sử dụng: bệnh viện đa khoa quận, huyện (Thốt

Nốt, Ô Môn, Phong Điền, Thới Lai và Cái Răng). Còn Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Thạnh dự

kiến hoàn thành vào năm 2013, với Bệnh viện đa khoa quận Bình Thủy, Ủy ban nhân dân

thành phố đã có chủ trương thành lập Trung tâm y tế quận Bình Thủy. Bệnh viện Đa khoa

quận Ô Môn và Thốt Nốt đã triển khai điều trị một số bệnh chuyên khoa.

Năm 2008, toàn hệ thống có 2.836 giường bệnh, số giường /1 vạn dân tăng từ 11,8

năm 1995 lên 14,95 năm 2000 và 20,2 năm 2008.

77

Toàn ngành có 3.508 cán bộ, trong đó trình độ Bác sỹ, Dược sỹ cao cấp và trên đại

học là 1.047 người (>30%), Y sỹ và dược sỹ trung cấp là l.191 người, còn lại là cán bộ quản

lý y tế khác. Đa số bác sỹ tập trung ở tuyến tỉnh và huyện. Theo thống kế đến năm 2008

không còn xã không có cán bộ y tế.

Hệ thống mạng lưới y tế ngày càng phát triển, đảm bảo được tình hình chăm sóc sức

khỏe cho người dân. Trong những năm qua, ngành y tế Cần Thơ đã nỗ lực nghiên cứu và áp

dụng các kỹ thuật tiên tiến trong chẩn đoán, điều trị bệnh. Nhờ đó, tình trạng sức khỏe

người dân đã được cải thiện rõ rệt, tuổi thọ trung bình của người dân đạt 73 tuổi (2012),

điều này chứng tỏ mức sống và các điều kiện chăm sóc sức khỏe người dân ngày càng nâng

cao.

Song song đó do Thành phố Cần Thơ phát triển mạnh về công nghiệp cho nên trong

những năm gần đây tình trạng ô nhiễm môi trường đang trở nên báo động và là một trong

những nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của người dân.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành y tế thành phố cần khắc phục một số vấn

đề đó là thái độ tinh thần, phục vụ của một số cán bộ y tế, tránh tình trạng tham nhũng trong

y tế để phục vụ tốt hơn công tác chăm sóc sức khỏe của người dân. Đồng thời cần phải tập

trung đầu tư vào y tế ở khu vực vùng sâu, góp phần cải thiện điều kiện sống và chăm sóc

sức khỏe cho người dân.

Theo thống kê tuổi thọ bình quân của người dân Việt Nam là 73 tuổi (năm 2012),

người dân thành phố Cần Thơ là 73,3 tuổi (năm 2012) cao hơn so với ĐBSCL là 73,1 tuổi,

điều này cho thấy người dân thành phố đã có sự chăm lo về sức khỏe và cơ sở hạ tầng, đội

ngũ y bác sĩ đã được quan tâm và nâng lên.

78

Hình 2.3. Bản đồ y tế TP. Cần Thơ

2.3.5. Điều kiện sống của các hộ gia đình

79

Nhà ở và việc sử dụng điện, nước sạch là những nhu cầu thiết thực trong đời sống

con người. Những điều kiện trên góp phần làm cho đời sống của người dân được nâng cao

lên.

2.3.5.1. Nhà ở

Nhà ở là một trong những yêu cầu cơ bản nhất của một xã hội phát triển, thu nhập

ngày càng cao và ổn định thì nhu cầu về chất lượng nhà ở ngày càng nâng cao. Năm 2010,

tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố 8,3%, nhà bán kiên cố là 61,9%, Nhà thiếu kiên cố là 15,9%, nhà

tạm và các loại nhà khác chiếm 13,9%. Thu nhập ngày càng cao nên người dân trong năm

2010 chiếm 70,2% nhà ở kiên cố và bán kiên cố. Trên địa bàn thành phố nhà tranh tre nứa

trước đây được thay thế bằng những vật liệu rắn chắc hơn, khung nhà gỗ lâu bền, nhà có

mái lợp tôn, nhà có lợp ngói tường gỗ ván, nhiều gia đình đã chuyển sang nhà bán kiên cố

thành kiên cố.

Bảng 2.18. Tỷ lệ hộ có nhà ở chia theo loại nhà TP. Cần Thơ

Đơn vị tính: %

Chia ra

Năm Tổng cộng Nhà kiên cố Nhà bán Nhà thiếu Nhà tạm và các loại

kiên cố kiên cố nhà khác

100 10,0 58,5 - 31,5 2006

100 14,2 56,2 - 29,6 2008

100 8,3 61,9 15,9 13,9 2010

Nguồn: [15]

Qua thời gian từ 2006 – 2010 tỷ lệ hộ gia đình có nhà kiên cố, nhà bán kiên cố tăng

lên từ 68,5% tăng lên 70,2%. Tỷ lệ hộ gia đình trong thành phố có nhà tạm bợ đã giảm

xuống từ 31,5% xuống còn 13,9%. Qua đó cho thấy, thu nhập, mức sống của người dân

thành phố ngày càng tăng, hộ gia đình đã xây dựng và sữa chữa lại nhà cho mình. Vì

vậy,nhà ở của người dân được cải thiện, diện tích nhà ở được mở rộng, chất lượng nhà được

nâng lên.

Bảng 2.19. Diện tích ở bình quân 1 nhân khẩu chia theo loại nhà

ở TP. Cần Thơ

Đơn vị tính: m2

Chia ra

80

Năm Tổng cộng Nhà kiên cố Nhà bán Nhà thiếu Nhà tạm và các loại

kiên cố kiên cố nhà khác

14,2 21,7 14,5 11,1 2006

16,3 24,2 16,5 11,5 2008

17,2 23,4 18,1 14,5 11,7 2010

Nguồn: [29]

Diện tích nhà ở bình quân đầu người của thành phố đã được tăng lên ở các loại nhà

kiên cố, bán kiên cố, nhà tạm. Diện tích bình quân đầu người tăng lên đảm bảo không gian

sống/người được mở rộng ra.

Bên cạnh, còn nhiều căn nhà ven sông, kênh, rạch ở TP Cần Thơ có đặc điểm diện

tích nhỏ; do người dân - đa phần là các hộ nghèo, đông nhân khẩu, không nghề nghiệp ổn

định, có thu nhập thấp - tự xây cất để trú mưa, trú nắng. Việc xây dựng này đã làm thu hẹp

dòng chảy và khả năng tiêu thoát nước trong khu vực. Đặc biệt, người dân sống ven sông,

kênh, rạch đã xả rác thải, nước thải trực tiếp xuống sông, kênh, rạch làm ảnh hưởng đến mỹ

quan đô thị và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Sống cặp theo sông rạch nên mọi sinh

hoạt từ việc xả nước thải, rác... đều đổ xuống sông rạch sẽ gây ô nhiễm môi trường, nhưng

do cuộc sống nghèo khó, không biết tính sao".người dân xây dựng nhà lấn chiếm và mọi

chất thải sinh hoạt đều tuôn xuống rạch nên dòng nước tại đây trở nên ô nhiễm làm giảm

CLCS của người dân.

2.3.5.2. Nước sinh hoạt

Thành phố có 2 Nhà máy nước tổng công suất 60.000 m3/ngày đêm và hệ thống ống

chuyển tải dài 21 km, phân phối 149 km. Phục vụ 80% dân số nội thành với tiêu chuẩn 80

lít/ người/ ngày. Ở 6 thị trấn, huyện lỵ có trạm cấp nước, phục vụ nước sinh hoạt cho dân cư

khu vực thị trấn. Tổng công suất theo thiết kế 470 m3/h. Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch đạt

65%. Riêng khu vực nông thôn đạt 55,06%.

Theo Sở TNMT TP.Cần Thơ, toàn thành phố có trên 32.400 giếng khoan, khai thác 700.000m3/ngày. Trong đó, có gần 400 giếng có công suất 50m3/ngày và hơn 30 giếng có công suất từ 500 - 1.000m3/ngày.

Hiện tại khu vực nội ô có khoảng 62.500 hộ được cấp nước sinh hoạt, tiêu chuẩn cấp

nước từ 120 – 140 lít/người/ngày. Khu vực nông thôn có 428 giếng khoan với công suất khoảng 10.000 m3/ngày. Tỷ lệ hộ được cung cấp nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh đạt khoảng

80%.

81

5,2

9,5

26,9

2,6 2,0

Nước máy riêng Nước máy công cộng Nước giếng đào Giếng khoan, nước mưa Ao, hồ, sông, suối, kênh Nước đóng chai

53,8

Biểu đồ 2.8. Tỷ lệ hộ sử dụng các nguồn nước cho sinh hoạt năm 2010

Nguồn: [6]

Năm 2010 theo thống kê của thành phố thì tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh 92%,

và tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch 56,82%, trong đó khu vực nông thôn 45%. Số hộ dân sử

dụng nước giếng còn cao chiếm 53,8% chủ yếu ở các huyện Cờ Đỏ, Thới Lai, Vĩnh Thạnh.

Số hộ dân tắm giặc bằng nước ao, hồ, sông, suối, kênh rạch là 9,5%. Có tới 1/5 số hộ nông

dân nông thôn chưa có nơi tắm riêng biệt, đây là số liệu phản ánh điều kiện sống còn khó

khăn của các vùng nông thôn.

2.3.5.3. Nhà vệ sinh

Năm 2010 tỷ lệ hộ gia đình sử dụng hố xí hợp vệ sinh chiếm 39%, hộ gia đình có hố

xí nhưng chưa hợp vệ sinh chiếm 55,4%, hộ gia đình không có hố xí hợp vệ sinh chiếm

5,6%. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng hố xí hợp vệ sinh có sự phân hóa giữa thành thị và nông

0.7

5.6

Không có hố xí hợp vệ sinh

Hố xí tự hoại, bán tự hoại

Hố xí hai ngăn, 1 ngăn

37.7

Hố xí đơn giản

53.4

Hố xí trên ao, hồ

Hố xí trên sông, kênh, rạch

1.3

1.3

thôn.

Biểu đồ 2.9. Loại nhà vệ sinh của các hộ được khảo sát năm 2010

Nguồn : [6]

2.3.5.4. Tình hình sử dụng điện

Sử dụng điện sinh hoạt là yếu tố không thể thiếu được để nâng cao CLCS dân cư.

Trong những năm gần đây, mạng lưới điện sinh hoạt trên địa bàn thành phố đã cải thiện

82

đáng kể, không chỉ đáp ứng nhu cầu sử dụng điện trong sản xuất, trong sinh hoạt văn hóa

tinh thần của thành phố mà còn góp phần nâng cao CLCS của từng hộ gia đình.

Bảng 2.20. Tỷ lệ hộ sử dụng điện sinh hoạt phân theo thành thị và nông thôn tại TP.

Cần Thơ

Đơn vị tính: %

Năm 2006 2008 2010 2011

97,65 98,20 99,0 99,8 Toàn Tỉnh

100 100 100 100 Thành thị

96,6 97,2 97,8 99,4 Nông thôn

Nguồn: [6]

Năm 2011 tỷ lệ hộ dân sử dụng điện 99,8%, khu vực ngoại thành 99,39%. Nguồn

điện được đưa về các địa phương tạo điều kiện cho người dân nâng cao đời sống vật chất và

tinh thần. Ở các vùng sâu vùng xa mạng lưới điện cũng đã được phủ rộng khắp. Tỷ lệ hộ sử

dụng điện qua các năm đều tăng qua các năm. 100% số hộ gia đình thành thị.

Toàn bộ địa bàn thành phố đã phủ lưới điện Quốc gia và có trên 99,5% số hộ sử dụng

điện, trong đó hộ sử dụng điện an toàn đạt 97,1%. Tổng sản lượng điện thương phẩm tăng

từ 362 GWh năm 2000 lên 1.334 GWh năm 2010, bình quân tăng xấp xỉ 14%/năm. Tuy

nhiên, điện chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ, còn phục vụ

cho sản xuất nông nghiệp không đáng kể chỉ phục vụ khâu bơm tưới nước ở hộ gia đình.

2.3.6. Mức hưởng thụ văn hóa tinh thần

Hoạt động văn hóa – thể dục – thể thao phải phát triển theo hướng gắn với đời sống

kinh tế xã hội, phục vụ chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đồng thời tham gia

tích cực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Phát triển sâu rộng trong cộng đồng dân cư, giảm

dần mức độ chênh lệch mức sống văn hóa – thể dục – thể thao giữa các vùng trong thành

phố và giữa thành thị và nông thôn.

Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành bưu chính viễn thông ngày càng phát triển và hiện

đại hóa. Hệ thống các bưu điện, bưu cục phủ kín toàn thành phố, từ các trung tâm, quận,

huyện, thị xã, phường trong các địa phương. Số thuê bao di động và cố định tăng lên nhanh

chóng.

Bảng 2.21. Cơ sở vật chất kỹ thuật ngành bưu điện TP. Cần Thơ

Năm 2007 2008 2009 2010

83

1.009.987 1.786.502 2.228.253 2.332.988 Tổng số thuê bao

35,16 86,18 151,28 194,45 Số thuê bao ĐT/100 dân

23.460 26.507 31.505 40.638 Tổng thuê bao Internet

2,00 2,24 2,65 3,39 Số thuê bao Internet/100 dân

36 36 32 35 Tổng số bưu cục

44 44 48 48 Tổng số điểm bưu điện văn

hóa xã

Nguồn: [13]

Có thể thấy, số máy điện thoại/100 dân số trong thành phố năm 2005 là 232.411 đến

năm 2010 đã tăng lên với số lượng lớn 2.332.988. Số người sử dụng dịch vụ internet năm

2005 là 9.865 đến năm 2010 đã tăng lên 194,45. Tổng số bưu cục trên địa bàn thành phố

năm 2005 là 35 đến năm 2010 tăng lên 48. Điều này cho thấy sự quan tâm đầu tư của thành

phố đã góp phần nâng cao đời sống của người dân đóng góp vào mức độ hưởng thụ đời

sống tinh thần của người dân.

Bảng 2.22. Số thư viện, số sách và số lượng người được thư viện phục vụ

trên địa bàn TP. Cần Thơ giai đoạn 2005 – 2010

Năm 2007 2008 2009 2010

9 9 9 9 Số thư viện

412.175 422.164 443.185 443.560 Số sách trong thư viện

7.729 7.562 7.314 8.338 Số thẻ bạn đọc

2.378.277 2.450.052 2.684..089 2.775.582 Số lượt người mượn, đọc

(lượt)

Nguồn: [13]

Về cơ sở vật chất phục vụ cho sự nghiệp phát triển văn hóa, thông tin ngày càng

được quan tâm phát triển mạnh trên địa bàn thành phố. Toàn thành phố năm 2010 có 9 thư

viện trong đó có 1 thư viện thành phố và 8 thư viện quận, huyện. Có 1 trung tâm văn hóa

thành phố, 9 trung tâm văn hóa quận, huyện, thị xã. Có 1 Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ

hằng năm xuất bản nhiều loại sách, và tạp chí phục vụ nhu cầu người đọc.

Hoạt động nghệ thuật trên địa bàn cũng được quan tâm đầu tư để phục vụ người dân

vui chơi giải trí, phục vụ văn nghệ, tìm hiểu nghiên cứu của người dân

Bảng 2.23. Số lượng cơ sở trung tâm văn hóa TP. Cần Thơ

Năm 2007 2008 2009 2010

1 1 1 1 Số trung tâm văn hóa Thành phố

84

8 76 1 80 1 1 200 9 85 2 140 1 2 435 9 85 2 120 1 1 530 Số trung tâm văn hóa quận, huyện Số đội thông tin văn nghệ xã Số đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp Số buổi biểu diễn chuyên nghiệp Số đội chiếu phim lưu động Số rạp chiếu phim Số buổi chiếu phim

8 67 1 72 1 1 180 Nguồn: [13]

Công tác thông tin, truyền thông, các hoạt động văn hóa – văn nghệ, thể dục thể thao

được duy trì thường xuyên với các nội dung phong phú và hấp dẫn hơn, phục vụ kịp thời

các ngày lễ tết, các sự kiện chính trị quan trọng tại địa phương.

Thành phố hiện có trung tâm truyền hình Việt Nam tại Cần Thơ, Đài Phát thanh và

truyền hình thành phố Cần Thơ và 54 cơ quan, văn phòng đại diện cơ quan báo chí đang có

mặt tại thành phố, hơn 30 đơn vị sản xuất và in ấn đang hoạt động. Hoạt động báo chí, phát

thanh truyền hình và xuất bản ngày càng phong phú, đa dạng về hình thức, chất lượng phục

vụ được nâng lên, góp phần tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước,

các nhiệm vụ chính trị của địa phương và tăng mức hưởng thụ văn hóa thông tin cho nhân

dân.

Trên địa bàn thành phố số lượng lớn di tích lịch sử văn hóa có giá trị cấp thành phố là

11 và cấp quốc gia là 10 tạo nên tính hấp dẫn cho thành phố.

Thể dục thể thao là điều kiện để chăm sóc sức khỏe cũng được thành phố quan tâm,

số lượt người dân tập thể dục thường xuyên năm 2010 là 295.000 người tăng hơn năm 2005

(238.518). Tại thành phố có 2 sân vận động 26 sân bong đá, 341 sân bóng chuyền, 6 hồ bơi,

2 nhà thi đấu đa năng. Năm 2010 đạt được 10 huy chương vàng, 95 huy chương bạc, 110

huy chương đồng. Phong trào rèn luyện than thể được duy trì và phát triển. Các trường học

trong thành phố đều duy trì phong trào giáo dục thể chất cho học sinh.

Trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2010 có 35 số xã văn hóa, có 526 số ấp khu

vực văn hóa, có 212.512 gia đình văn hóa. Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trong

thành phố có sự cải thiện rõ nét.

2.3.7. Vấn đề môi trường sống

Môi trường sống đã và đang trở thành một trong những vấn đề được quan tâm nhất

và cũng là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại. Bởi lẽ, môi trường sống gắn

bó hữu cơ với cuộc sống của con người, cũng như với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài

85

người. Môi trường sống có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người và sự phát

triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Những năm qua, đi cùng tốc độ đô thị hóa, sự phát

triển của các khu công nghiệp đã mang lại cho TP.Cần Thơ những giá trị nhất định về kinh

tế - xã hội. Thế nhưng, mục tiêu phát triển kinh tế chưa gắn với bảo vệ môi trường đã và

đang từng ngày, từng giờ làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở đô thị trung tâm thành

phố đến hồi báo động. Theo thống kê Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động

có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường 20% và tỷ lệ chất thải rắn

được thu gom 85%.

Tình trạng ô nhiểm nguồn nước đang là vấn đề báo động của thành phố do những

nguyên nhân như:

- Do nhiều người dân dựng nhà lấn chiếm, vứt rác bừa bãi bên những con rạch nên

ngày càng biến dạng, dòng nước trở nên đen ngòm. Những hộ dân sống dọc hai bên bờ luôn

khổ sở vì mùi hôi thối bốc lên từ cái ao tù chứa rác khổng lồ. Dòng chảy của con rạch bị tắc

nghẽn, không phương tiện thuỷ nào có thể lưu thông qua đây. Số liệu thống kê của Sở Tài

nguyên - Môi trường, Cần Thơ hiện có 12 kênh, rạch bị ô nhiễm nặng, chất lượng nước mặt

có nguy cơ suy giảm nghiêm trọng.

- Ngoài ra, TP. Cần Thơ còn có 8 KCN với tổng diện tích hơn 2.300ha, nhưng chưa

có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Cụ thể, KCN Trà Nóc 1 và KCN Trà Nóc 2 có 34 DN

phát sinh nước thải, nhưng chỉ 11 DN xử lý nước thải đạt quy chuẩn. Trong số DN xử lý

nước thải không đạt quy chuẩn còn lại, có tới 3 DN gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Mức độ ô nhiễm đã rõ, thế nhưng việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường lại rất hạn

chế. Thực tế cho thấy, tình trạng cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường đang có chiều

hướng gia tăng, mà nguyên nhân cốt lõi là giới chủ chạy theo lợi nhuận. Nhiều cơ sở sản

xuất dù có hệ thống xử lý nước thải, nhưng không vận hành thường xuyên, thậm chí có hành

vi “qua mặt” cơ quan chức năng. Các bãi chôn lấp chất thải rắn còn thô sơ, chưa đảm bảo

các tiêu chuẩn kỹ thuật về môi trường. Chất thải nguy hại chưa quản lý được chặt chẽ - nhất

là rác thải y tế, rác và nước thải từ cơ sở chế biến hóa chất.

- Bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cư dân thiếu ý thức bảo vệ môi

trường, vứt rác bừa bãi, xả nước thải sinh hoạt ra thẳng các sông, rạch, xây dựng nhà lấn

chiếm kênh, rạch khiến cho dòng chảy bị ứ đọng, nước không thể lưu thông.

- Nuôi trồng thủy sản được báo cáo là nguyên nhân đầu tiên và nguy hiểm nhất cho

tình trạng ô nhiễm nước tại Cần Thơ. Giống như các tỉnh khác trong khu vực đồng bằng

86

sông Cửu Long, nhiều hộ gia đình ở Cần Thơ sử dụng diện tích mặt nước tự nhiên để nuôi

cá da trơn mà không có một cách tiếp cận bảo vệ môi trường thích hợp. Nước thải cùng với

bùn, hóa chất để điều trị bệnh cho cá và thức ăn thừa từ các ao nuôi cá được xả trực tiếp vào

nguồn nước tự nhiên. Diện tích nuôi cá da trơn ở Cần Thơ phát triển nhanh chóng từ năm

2004 khi nhu cầu thị trường xuất khẩu tăng tại Việt Nam. Theo số liệu thống kê của thành

phố, diện tích mặt nước được sử dụng cho nuôi cá da trơn đạt mức cao nhất vào năm 2007

với 13 449 ha (90% ở Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh và Cờ Đỏ). Trong những năm gần đây, diện

tích mặt nước nuôi cá tại Cần Thơ đã giảm nhẹ, tuy nhiên, mức độ ô nhiễm nước theo dõi

trong năm 2010 không có nhiều thay đổi so với các năm trước.

- Còn có rác thải từ các cơ sở y tế, bệnh viện như bơm nước thải chưa qua xử lý ra

môi trường, nước thải có màu đen, bốc mùi hôi thối. Bên cạnh đó, lò đốt rác của bệnh viện

này có rất nhiều rác thải y tế (kim tiêm, chai lọ, dụng cụ truyền nước và các loại rác thải

nguy hại khác) được gom từ các bệnh viện nhỏ về tiêu huỷ, nhưng bệnh viện để bừa bãi,

không đúng quy định.

Sở TNMT Cần Thơ - thừa nhận: Hiện nay thành phố vẫn chưa có biện pháp quản lý

hiệu quả các nguồn chất thải từ hoạt động đô thị, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và nuôi

trồng thuỷ sản. Thành phố cũng chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải, dẫn đến môi

trường bị ô nhiễm, gây nhiều bức xúc cho người dân sống trong vùng bị ảnh hưởng. Thoát

nước, xử lý nước thải, xử lý rác thải còn chưa tốt, chưa đáp ứng yêu cầu vệ sinh sạch đẹp. Tỉ

lệ gom rác khu vực nội thành mới đáp ứng khoảng 80% so với nhu cầu.

Ngoài ra, việc sử dụng các điều kiện khác như nguồn nước không hợp vệ sinh, nhà

vệ sinh không đảm bảo cũng là những nguyên nhân gây ra dịch bệnh tồn tại trong môi

trường. Chính vấn đề ô nhiễm này là nguyên nhân gây ra các mầm bệnh (hô hấp, đường

ruột, truyền nhiễm). Vì vậy, công tác tuyên truyền người dân bảo vệ nguồn nước, đồng thời

thành phố cần ban hành các chính sách và bảo vệ môi trường nước trong thời gian tới.

Sạt lở bờ sông: thường xảy ra các quận ở Bình Thủy, Cái Răng, Ninh Kiều, Thốt Nốt,

Ô Môn và huyện Phong Điền. Sạt lở chủ yếu do xói mòn bởi dòng chảy và gây thiệt hại cho

sản xuất, nhà ở, tài sản và cơ sở hạ tầng,.. ảnh hưởng đến cuộc sống của các hộ gia đình ở

khu vực thành thị. Theo Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão và cứu nạn thành phố Cần Thơ

(2012), ghi nhận năm 2011 có 12 trường hợp xói mòn bờ sông gây thiệt mạng 02 người và

làm bị thương 05 người khác. Ước tính thiệt hại kinh tế do sạt lở bờ sông năm 2011 tại Cần

87

Thơ là 3,565 triệu đồng. Hiện nay, có 38 đia điểm sạt lở bờ sông phân bố trên toàn thành

phố đã được ghi nhận (Ngân hàng Thế giới, 2009).

Ngập lụt do triều cường và mưa lớn: địa bàn thành phố Cần Thơ, đặc biệt là khu vực

đô thị thường xuyên bị ngập do triều cường hoặc vào các thời điểm mưa lớn (trung bình 3 -

5 lần một năm ở Quận Ninh Kiều). Các khu vực bị ảnh hưởng thường bị ngập sâu một vài

cm đến vài chục cm trong thời gian ngắn (khoảng vài giờ). Trong các khu vực bị ảnh hưởng

bởi thủy triều, đặc biệt là các khu vực có hạ tầng chưa được nâng cấp, hệ thống thoát nước

chưa được cải tạo thì các hộ gia đình nghèo có nền nhà thấp đều bị ngập vào các thời điểm

triều cường trong mùa mưa (hai lần một ngày, kéo dài trong vài tuần trong một năm).

Một thực tế góp phần làm nghiêm trọng hơn tình trạng ngập do triều cường và mưa

lớn là do hệ thống thoát nước trong khu vực đô thị của thành phố Cần Thơ từ xưa đã được

dựa vào các con sông nhỏ, kênh rạch để thoát nước nhưng kể từ khi thành phố phát triển các

sông rạch bị lắp dần, đường phố và công trình được xây dựng bê tông hóa che phủ diện tích

thấm nước tự nhiên khiến cho việc thoát nước mưa ngày càng khó khăn. Hiện tại, dự án

nâng cấp đô thị đang được thực hiện đã giúp tăng cường mạng lưới thoát nước thải, chủ yếu

ở Ninh Kiều thông qua việc mở rộng mạng lưới kênh rạch thoát nước để giảm ngập lụt trên

đường phố trong thời gian mưa và tránh nước thải chảy trên bề mặt đường phố. Song song

với các dự án nâng cấp đô thị, ở các khu vực có mạng lưới thoát nước ngầm đã được triển

khai thực hiện, chính quyền thành phố đã tính toán thiết kế vỉa hè cao hơn từ 20cm - 30cm

so với đường phố và cốt nền xây dựng cao hơn từ 10cm - 40cm so với vỉa hè nên giúp tăng

cường khả năng ứng phó của cư dân đô thị và chính quyền đối với tình trạng ngập lụt. Mặc

dù vậy, đối với một số khu vực người nghèo ở đô thị vẫn chưa được tiếp cận các hệ thống

tiêu thoát nước bởi chỉ mới có một phần của khu vực đô thị được lắp đặt hệ thống thoát

nước, khu vực nghèo và trung lưu ở Ninh Kiều và Cái Răng không có hệ thống cống thải

ngầm, các vùng ven đô thị chủ yếu sử dụng các kênh rạch như hệ thống thoát nước.

Gió lốc và giông: hiện tượng thời tiết nguy hiểm này thường xảy ra từ tháng 4 đến

tháng 10 mỗi năm ở hầu hết các khu vực của thành phố Cần Thơ. Trong giai đoạn 2000 -

2011, giông và gió lốc gây thiệt mạng 27 người, phá hủy và gây thiệt hại nhiều ngôi nhà,

phòng học, văn phòng cơ quan công quyền, và các cơ sở kinh doanh. Thiệt hại về tài sản do

những sự kiện thời tiết nguy hiểm này là khá nghiêm trọng: chẳng hạn năm 2011 có đến 39

cơn gió lốc gây thiệt hại 1.450 triệu đồng. Theo báo cáo hàng năm của Ban chỉ huy phòng

chống lụt bão Cần Thơ từ 2003 - 2011, thành phố hiếm khi bị ảnh hưởng bởi bão. Trong

88

suốt 11 năm qua, thành phố Cần Thơ chỉ ảnh hưởng nhỏ và gián tiếp bởi cơn bão Durian

tháng 12 năm 2006.

Tình hình trật tự an ninh của thành phố ổn định không xảy ra những vụ án nghiêm

trọng. Tai nạn giao thông cũng giảm, số người chết do thiên tai không đáng kể.

Theo Công an TP. Cần Thơ, từ năm 1991 đến nay tình hình ma túy, mại dâm, AIDS

ở Cần Thơ ngày càng diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát cao. Đáng báo động là có

đến 90% người nghiện ma túy dưới 30 tuổi.

Trong năm 5 qua, thành phố có 4.860 đối tượng tiêm chích ma túy được đưa đi cai

nghiện, nhưng hầu hết các đối tượng sau khi cai nghiện đều bị tái nghiện.

Được biết, đến nay Cần Thơ đã phát hiện gần 4.000 người bị nhiễm HIV, trong đó có

1.103 người chuyển sang giai đoạn AIDS và hơn 612 người đã bị tử vong. Riêng giai đoạn

2001-2005, HIV/AIDS ở Cần Thơ gia tăng đột biến, các trường hợp lây nhiễm HIV qua

đường tiêm chích ma túy chiếm trên 55%; hầu hết đối tượng nghiện ma túy đều nhiễm

HIV.

Số người nghiện ma túy được phát hiện và có hồ sơ quản lý có xu hướng giảm trong

những năm qua đã thành lập nhiều CLB điển hình như CLB chúng tôi là phụ nữ cập nhật

thường xuyên và hành động có hiệu quả. CLB đã tư vấn, giúp cai nghiện và hỗ trợ điều trị

cho hàng chục trường hợp.

Dưới tác động của nền kinh tế thị trường, cuộc sống của người dân ngày càng nâng

cao, song song đó, nhiều yếu tố tác động đến đời sống gia đình của người dân, trong những

năm qua tỷ lệ ly hôn tăng cao trong đó có yếu tố ly hôn nước ngoài, thành phố hằng năm có

khoảng 100 trường hợp ly hôn có yếu nước ngoài trong đó lấy chống Đài Loan chiếm đa số

trên địa bàn Cờ Đỏ và Ô Môn.

2.4. Đánh giá tổng hợp về chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ

Cùng với sự phát triển chung của cả nước, trong những năm qua Thành phố Cần Thơ

đã có những định hướng cho nền kinh tế thành phố đi đúng hướng và có tốc độ khá nhanh

và vững chắc với sự tăng dần tỷ trọng của các ngành sản xuất phi nông nghiệp và giảm dần

tỷ trọng của các ngành sản xuất nông nghiệp.

Biểu hiện rõ nhất là thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng kể qua các năm từ

24,5 triệu đồng/người năm 2007 tăng lên 40,4 triệu đồng/người năm 2011.

Bên cạnh các vấn đề khác của thành phố vẫn được đảm bảo hơn và có những thành

công nhất định. Trong lĩnh vực y tế được nâng cấp đầu tư về trang thiết bị, cơ sở vật chất

89

được ngày càng hoàn thiện hơn. Đội ngũ y bác sĩ có trình đô ngày càng cao, chất lượng

khám chữa bệnh nhờ đó mà cải thiện. Một số căn bệnh hiểm nghèo được đẩy lùi, số trẻ suy

dinh dưỡng và mắc bệnh truyền nhiễm ngày càng giảm. Tuổi thọ của người dân ngày càng

cao.

Đối với lĩnh vực giáo dục, trong những năm thành phố đã tập trung đầu tư cho cơ sở

vật chất kỹ thuật, xây dựng nhiều trường lớp ở đủ các cấp học, đa dạng hóa các loại hình

đào tạo (chính quy, tại chức, chuyên tu, từ xa, liên thông, trường nghề) mở rộng và nâng cấp

các trường đại học, cao đẳng, trung học. Nhờ đó, trình độ lực lượng lao động phần nào cải

thiện và nâng cao.

Về mức độ hưởng thụ tinh thần và điều kiện sống cũng được cải thiện rất roc nét, tỷ

lệ người dân sử dụng điên và nước hợp vệ sinh chiếm tỷ lệ cao so với các vùng trong địa

phương. Đời sống tinh thần ngày càng cao khi 100% mạng lưới điện đều đến với các xã,

phường, thị trấn trong tỉnh và có 100% hộ gia đình sử dụng điện trong sinh hoạt và sản xuất.

Bảng 2.24. HDI của TP. Cần Thơ và một số địa phương trong cả nước

HDI 2008

0,725 Việt Nam

0,773 TP. HCM

0,761 Đà Nẵng

0,751 TP. Cần Thơ

Nguồn: [4]

Nhìn chung, chỉ số HDI của TP. Cần Thơ cao hơn chỉ số HDI của cả nước nhưng

thấp hơn TP. HCM và Đà Nẵng là do TP. Cần Thơ là thành phố có sự phát triển kinh tế

chậm hơn 2 thành phố HCM và Đà Nẵng. TP. Cần Thơ đến năm 2009 thì mới thật sự có

bước đột phá trong phát triển kinh tế khi đã có một cơ sở hạ tầng hoàn thiện, có chính sách

đầu tư của Nhà nước.

Chỉ số HDI của người dân thành phố Cần Thơ tăng lên qua các năm, năm 2006 HDI

chỉ có 0,720 đến năm 2008 là 0,751 đứng hàng thứ 6 so với cả nước cao nhất là Bà Rịa

Vũng Tàu và thấp nhất đứng hàng thứ 63 là tỉnh Lai Châu. Điều này cho thấy mức độ GDP,

mức độ thu nhập, mức độ về y tế của thành phố tăng dần qua các năm nhằm đáp ứng nhu

cầu của người dân thành phố.

Qua việc phân tích và đánh giá các tiêu chí phản ánh CLCS dân cư thành phố trong

thời gian qua, chúng ta nhận thấy:

90

- CLCS dân cư đã cải thiện rõ nét so với thời gian trước, thu nhập bình quân đầu

người tăng lên đáng kể, các điều kiện sinh hoạt của người dân cũng được cải thiện.

- CLCS dân cư có sự phân hóa sâu sắc giữa các địa phương, giữa thành thj và nông

thôn là về thu nhập, tỷ lệ nghèo, y tế, giáo dục.

- CLCS của dân cư Quận Ninh Kiều cao hơn các địa phương khác trong thành phố,

các huyện mới thành lập, vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc ít người có CLCS thấp hơn như:

Cờ Đỏ, Thới Lai, Vĩnh Thạnh.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta nhận thấy những hạn chế của thành

phố trong thời gian qua, đó là vấn đề xử lý nước thải công nghiệp, nước thải do các hộ gia

đình ven sông, tình trạng quá tải ở một số bệnh viện, tệ nạn xã hội.

2.5. Nguyên nhân của thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ

2.5.1. Nhận xét thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ

CLCS của dân cư TP. Cần Thơ thông qua các vấn đề về chăm sóc sức khỏe, y tế,

giáo dục, môi trường sống… là một trong những nội dung quan trọng của sự phát triển

KTXH của thành phố, điều này đã được nhấn mạnh khá nhiều trong các mục tiêu phát triển

KTXH và một số chỉ tiêu về xóa đói giảm nghèo, chính sách hỗ trợ cho người dân, chính

sách về giáo dục, y tế, chính sách xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ

thuật cho thành phố. Tuy nhiên, do thành phố gặp khó khăn do chia tách huyện mới, một số

huyện kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, vấn đề môi trường và

xử lý rác thải còn kém và an ninh trật tự xã hội nông thôn còn nhiều phức tạp.

2.5.2. Nguyên nhân của thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ

2.5.2.1. Nguyên nhân từ phía các yếu tố mang tính cá nhân

Đối với thành phố Cần Thơ, theo kết quả điều tra hộ nghèo năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo

ở Cần Thơ là 7,84% (tương đương với 22,9 nghìn hộ) và hộ cận nghèo chiếm 6,43%, tương

đương 18,8 nghìn hộ (Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Cần Thơ, 2012). Tuy

nhiên, nguy cơ tái nghèo rất cao đối với những hộ gia đình vừa thoát nghèo trong một vài

năm trở lại đây do mức sống, thu nhập đang ở gần ngưỡng của chuẩn nghèo mới (nhóm đối

tượng có nguy cơ nghèo chủ yếu là do thiếu hụt các nguồn vốn sinh kế như lao động, vốn,

quan hệ xã hội,..) nên rất dễ bị tái nghèo nếu gặp phải những “cú sốc” về kinh tế. Đặc biệt,

trong bối cảnh các quốc gia đang bị ảnh hưởng bởi toàn cầu hóa, hàng loạt những thay đổi

của nền kinh tế như chuyển dịch cơ cấu, lạm phát, tăng giá tiêu dùng, đô thị hóa làm di cư

91

lao động từ nông thôn ra thành thị, cộng với các yếu tố khắc nghiệt thời tiết, thay đổi môi

trường do tác động của biến đổi khí hậu (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 2012) đã trở

thành các yếu tố "cộng hưởng" khiến cho các đối tượng dễ bị tổn thương như người nghèo ở

đô thị càng khó khăn hơn nhất trong điều kiện họ có ít nguồn lực và điều kiện để duy trì và

thích ứng sinh kế.

Cũng giống như các đô thị đang phát triển khác, bên cạnh những chuyển biến tích

cực của nền kinh tế làm diện mạo đô thị ngày càng thay đổi hiện đại hơn, đời sống người

dân nói chung được cải thiện hơn, tiến trình đô thị hóa ở Cần Thơ cũng làm xuất hiện một

bộ phận người nghèo mất đất nông nghiệp, hoặc một nhóm người dễ bị tổn thương do phải

chuyển đổi ngành nghề (những đối tượng bị ảnh hưởng phải di dời tái định cư, mất công ăn

việc làm, thay đổi sinh kế,..). Thêm vào đó, sự phát triển của thành phố Cần Thơ đã tạo ra

"lực hút" đối với làn sóng di cư lao động (chủ yếu là những người nghèo tìm kiếm việc làm)

đến từ các vùng nông thôn lân cận làm gia tăng nhóm đối tượng nghèo và dễ bị tổn thương,

gây khó khăn cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội của thành phố.

Nhóm nguyên nhân dẫn đến nghèo đói:

- Bị ảnh hưởng bởi các mặt trái của các xu hướng phát triển (người nghèo không tiếp

cận kịp thời những thay đổi do đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại

và công nghiệp hóa,..)

- Hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội không đồng bộ ở một số vùng, khu vực nên mức

độ tiếp cận của người dân cũng khác nhau, đặc biệt là các hạ tầng giao thông, điện nước,

trường học, trạm xá và các dịch vụ xã hội cơ bản như chăm sóc sức khỏe y tế, giáo dục đào

tạo, vui chơi giải trí

- Thiếu các phương tiện sản xuất và nguồn vốn sinh kế chẳng hạn như: trình độ học

vấn thấp, không có tư liệu sản xuất, không có vốn, không có lao động tạo ra thu nhập dẫn

đến thu nhập thấp và không ổn định

- Do bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết cực đoan như tăng nhiệt độ, bão, lốc

xoáy,.. trong điều kiện sống thiếu thốn về nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt

- Do người nghèo sống trong các địa bàn cư trú có cơ sở hạ tầng thiếu thốn, thiếu các

điều kiện về công ăn việc làm nên không có công ăn việc làm và nguồn thu nhập ổn định.

Trong điều kiện sống thu nhập thấp nhiều hộ gia đình không có tiền mặt để dự trữ

cho nên cũng không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ vui chơi giải trí khác để nâng cao

đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

92

Trình độ học vấn thấp: Trình độ học vấn thấp và thiếu các kỹ năng cần thiết thường

dẫn đến thất bại trong trồng trọt, chăn nuôi gia đình và nuôi trồng thủy sản và đẩy nông dân

đến gần tình trạng nghèo đói. Người lao động phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn trong

việc tiếp thu kỹ năng mới và công nghệ để tăng sản xuất nếu không có một trình độ học vấn

nhất định. Các bậc phụ huynh có trình độ học vấn thấp thường không nhận thức được tầm

quan trọng và lợi ích từ giáo dục, do đó không tạo điều kiện thuận lợi cho con cái của họ đi

học.

Sở hữu ít tài sản và đất đai: Số lượng các hộ gia đình nghèo có nơi ở tạm bợ, không

có tài sản có tính bền vững hoặc chỉ có tài sản giá trị thấp là 8.512 hộ, chiếm 41,81% tổng

số hộ nghèo trong toàn bộ thành phố (chủ yếu ở huyện Cờ Đỏ, với 3.036 hộ, quận Thốt Nốt

với 1.900 hộ, quận Ô Môn với 1.083 hộ gia đình).

2.5.2.2. Nguyên nhân từ phía xã hội

Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL, có tốc độ phát triển

kinh tế cao trong những năm qua, có tốc độ và giá trị sản xuất công nghiệp cao. Bên cạnh,

một bộ phận khá lớn người dân sinh sống ở nông thôn chủ yếu dựa vào hoạt động sản xuất

nông nghiệp là chủ yếu, nên bị tác động bởi mưa, nắng, dịch bệnh ảnh hưởng đến chất

lượng nông sản. Từ đó ảnh hưởng đến thu nhập và mức sống của người dân.

Giá cả nông sản, thủy sản bấp bênh, mất ổn định ( lúa gạo, các loại trái cây, cá tra,

tôm) ảnh hưởng lớn nhất vẫn là người dân ở vùng sâu vùng xa, thiếu thông tin thị trường,

thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Nền kinh tế thành phố có tốc độ phát triển nhanh chóng, bộ mặt kinh tế xã hội của

thành phố thay đổi khá nhiều. Bên cạnh còn tồn tại một số mặt như: xuất phát điểm thấp, hạ

tầng cơ sở còn nhiều yếu kém, quỹ đất phát triển công nghiệp hạn chế… đã phát sinh nhiều

hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực, các dịch vụ tài chính… hạn chế cũng ảnh hưởng lớn

đến khả năng thu hút đầu tư vào KCN. Việc mời gọi đầu tư vào nông nghiệp thời gian qua

khó, ngân sách đầu tư thì hạn chế, từ năm 1992- 2012, bình quân ngân sách đầu tư vào

ngành khoảng 300 triệu đồng/năm, nên chưa đủ để chuyển đổi "chất" cho nền nông nghiệp.

Mức sống phân hóa, dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường, một bộ phận dân cư

tiếp xúc với các trào lưu văn hóa không lành mạnh, tệ nạn xã hội xuất hiện,

Như vậy, trong những năm qua nền kinh tế thành phố đã có nhiều tiến bộ, góp phần

nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trên địa bàn. Tuy nhiên, để phần nào giải

quyết những vấn đề còn tồn tại của vùng cần chú trọng đến công tác xóa đói giảm nghèo, và

93

vấn đề nâng cao thu nhập cho người dân được xem là điều kiện tiên quyết góp phần cải

thiện cuộc sống của người dân.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Thành phố cần Thơ có những điều kiện thuận lợi về tự nhiên và kinh tế xã hội để

phát triển kinh tế, thành phố là một trong 4 tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL tạo

điều kiện cho cơ hội đầu tư và phát triển trong tương lai.

Hiện trạng sự phát triển kinh tế của thành phố qua các năm, mức thu nhập và chi tiêu

bình quân đầu người của thành phố có sự gia tăng, tỷ lệ gia tăng tự nhiên giảm xuống nhờ

sự tác động của công tác kế hoạch hóa gia đình và ý thức của người dân, trình độ văn hóa

của thành phố cao với việc tập trung xây dựng đa dạng hình thức đào tạo, tạo ra nhu cầu học

tập cho người dân vùng ĐBSCL, người dân biết quan tâm và chăm sóc sức khỏe với nhiều

bệnh viện, nâng cao trình độ chuyên môn của bác sĩ, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ nhu cầu

vui chơi giải trí của người dân ngày càng đa dạng. Bên cạnh vẫn còn tồn tại một số vấn đề

như mức chênh lệch thu nhập giữa nhóm thu nhập giàu và nhóm nghèo, giữa thành thị và

nông thôn, tình trạng nghèo đói, thất nghiệp, và ô nhiểm môi trường. Từ đó, làm cơ sở cho

tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao CLCS cho người dân thành phố trong

chương 3.

94

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC

SỐNG DÂN CƯ TP. CẦN THƠ

3.1. Căn cứ xây dựng và định hướng các mục tiêu phát triển

3.1.1. Bối cảnh khu vực và trong nước ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư

TP. Cần Thơ

Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế vừa là cơ hội vừa là thách thức rất lớn với sự phát

triển kinh tế cả nước nói chung và của TP. Cần Thơ nói riêng, nhất là đời sống KTXH của

người dân nông thôn sẽ chịu sự tác động không nhỏ của nền kinh tế hội nhập.

Kinh tế thế giới và khu vực những năm đầu thế kỷ XXI đang đứng trước những khó

khăn và thách thức lớn. Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu, nạn lạm phát đang diễn ra ở

khắp các quốc gia, giá các mặt hàng chiến lược tăng mạnh dang đe dọa đến an ninh lương

thực và an ninh năng lượng của các quốc gia. Bên cạnh đó, là tình hình thiên tai lũ lụt, hạn

hán, động đất, sóng thần…, gây thiệt hại không nhỏ cho người và của như ở Nhật Bản,

Indonexia…Các dịch bệnh có khả năng lan rộng như: Sars, H5N1, H1N1, … diễn biến phúc

tạp, đã đè nặng lên khó khăn về kinh tế, đang gây ra bức xúc trong xã hội, từ đó phát sinh

những tiêu cực tới tình hình chính trị của một số quốc gia.

Mặc dù Việt Nam không bị ảnh hưởng trực tiếp từ sự sụp đổ của hệ thống tài chính

thế giới, nhưng việc gia nhập WTO, trở thành một phần không thể tách rời của kinh tế thế

giới, Việt Nam vẫn phải chịu những hậu quả gián tiếp nặng nề từ suy thoái kinh tế và thiên

tai. Những khó khăn nội tại của nền kinh tế Việt Nam đã tác động trực tiếp tới sự phát triển

của thành phố Cần Thơ thể hiện trên một số mặt sau đây:

- Giá cả mặt hàng tăng cao, giá xăng dầu luôn bất ổn và tình hình thiên tai, dịch bệnh

diễn biến phức tạp đã tác động xấu đến kinh tế và đời sống của nhân dân trong toàn thành

phố, ảnh hưởng đến việc bảo đảm an sinh xã hội, nhất là khu vực nông thôn.

- Biến động chính trị, thiên tai và suy giảm kinh tế của các nguồn lực lớn như Nhật

Bản, Châu Âu sẽ làm suy giảm nguồn vốn đầu tư FDI, ODA chảy vào Việt Nam nói chung

và thành phố Cần Thơ nói riêng sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình phát triển kinh tế xã

hội của nước ta, chủ yếu dựa vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

- Gây khó khăn cho các doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp vữa và nhỏ) trong việc

huy động vốn đầu tư sản xuất, dẫn đến thất nghiệp và ảnh hưởng an sinh xã hội và an ninh

khu vực nông thôn.

95

- Đời sống người lao động rất khó khăn, nhất là những người làm công ăn lương, vì

mức lương không tăng lên tương xứng. Thu nhập tăng chậm hơn tăng giá tiêu dùng thì rõ

ràng CLCS của người dân không được cải thiện.

Biến động chính trị, kinh tế thế giới và khu vực đã tác động mạnh mẽ tới sự phát

triển của kinh tế Việt Nam và của thành phố Cần Thơ nói riêng, đó là vấn đề khoảng cách

phát triển kinh tế giữa các ngành kinh tế và mức sống giữa các khu vực, vùng miền ngày

càng trở nên rõ nét hơn. Vì vậy, việc cải thiện tình trạng thu nhập bất ổn định cho người dân

thành phố đang sống ở vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số là mấu chốt để duy trì và phát

triển bền cững CLCS dân cư của toàn thành phố Cần Thơ.

3.1.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng CLCS dân cư TP. Cần Thơ giai đoạn 2005 –

2012

Cùng với tăng trưởng của nền kinh tế và những nổ lực trông công cuộc xóa đói giảm

nghèo, thu nhập của dân cư trong toàn thành phố tăng lên đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo và mức độ

phân hóa giàu nghèo có xu hướng giảm dần, đời sống của các tầng lớp dân cư chuyển biến

theo hướng tiến bộ. Nhất là nhờ tác động của các chính sách đầu tư và chính sách xã hội đối

với miền núi, vùng sâu, vùng dân tộc ít người, vùng nghèo và người nghèo nên thu nhập và

đời sống dân cư từng bước được cải thiện.

GDP bình quân đầu người tăng năm 2005 là 12,4 triệu đồng và lên 36,8 triệu đồng

năm 2010, cao hơn mức trung bình trung của ĐBSCL. Thành phố xây dựng nhiều trường

đại học, cao đẳng, trung cấp mở rộng các hình thức đào tạo, là cơ hội tốt để người dân nâng

cao trình độ học vấn, học nghề chuyên môn phục vụ sản xuất. Cần Thơ có nhiều bệnh viện

có đội ngũ y, bác sĩ với trình độ chuyên môn và y đức cao như: Bệnh viện Đa khoa Trung

Ương Cần Thơ (quy mô 700 giường), bệnh viện Nhi Đồng, Bệnh viện Mắt….các trạm xá,

thuộc các phường, quận, huyện và trung tâm phòng chống HIV/AISD và hệ thống bệnh viện

tư nhân, trung tâm dịch vụ y tế phục vụ và chăm sóc sức khỏe cho người dân. Cùng với các

khu vui chơi giải trí tại địa bàn đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư trên địa

bàn thành phố Cần Thơ.

Tuy nhiên, Thành phố Cần Thơ còn tồn tại những vấn đề sau đây: Sự chênh lệch thu

nhập và mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa nhóm dân cư giàu và nghèo, giữa các

vùng miền trong thành phố, việc làm cho người lao động vẫn còn thấp, tình trạng ô nhiễm

nguồn nước. Những vấn đề trên dẫn đến thu nhập và mức sống của dân cư thành phố chưa

cao.

96

3.2. Định hướng phát triển Kinh tế xã hội của TP. Cần Thơ

3.2.1. Các ngành, lĩnh vực kinh tế

3.2.1.1. Ngành nông nghiệp

Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu của ngành theo hướng thâm canh và đa dạng hóa cây

trồng, vật nuôi, phát triển tổng hợp kinh tế vườn kết hợp vớ nuôi trồng thủy sản và các loại

hình du lịch sinh thái, tạo cảnh quan xanh, sạch cho khu vực ngoại thành. Xây dựng các khu

nông nghiệp công nghiệp – kỹ thuật cao. Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ kỹ thuật

phục vụ nông nghiệp, nhất là dịch vụ cung cấp cây giống, hoa kiểng cho nhu cầu đô thị và

du lịch.

Giá trị sản xuất nông nghiệp (so sánh năm 1994) bình quân đạt 2.900 – 3000 USD/ha

vào năm 2010; 6.100 – 6.200 USD/ha năm 2020.

Diện tích đất nông nghiệp năm 2020 còn khoảng 97.000 ha, chiế 69,1% diện tích đất

phi nông nghiệp tăng lên khoảng 43.000 ha, chiếm 30,9% tổng diện tích tự nhiên.

3.2.1.2. Ngành công nghiệp – xây dựng – tiểu thủ công nghiệp

Trọng tâm phát triển là công nghiệp chế biến. Từng bước đầu tư chiều sâu, đầu tư

công nghệ cao, công nghệ sạch. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn: chế

biến lương thực thực phẩm, năng lượng, cơ khí và chế tạo máy, hóa chất và các sản phẩm

hóa sinh, sinh học, điện và điện tử, tin học, vật liệu mới.

Sản xuất hàng tư liệu sản xuất phục vụ sản xuất nông, ngư nghiệp và chế biến nông,

thủy sản sau thu hoạch của thành phố và các tỉnh lân cận, sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ

nhu cầu của thành phố và trong vùng. Phát triển các ngành hàng công nghiệp hướng về xuất

khẩu dựa trên các lợi thế cạnh tranh về tài nguyên và lao động.

Xây dựng khu công nghệ cao, hoàn chỉnh các khu, cụm công nghiệp, trung tâm công

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của thành phố, quận huyện. Xây dựng và quảng bá thương hiệu

cho các sản phẩm có lợi thế phát triển và cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu.

3.2.1.3. Ngành thương mại – dịch vụ

Đẩy mạnh phát triển thương mại – dịch vụ để thành phố trở thành trung tâm thương

mại – dịch vụ của vùng ĐBSCL; gắn thị trường Cần Thơ với thị trường các thành phố lớn,

vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cả nước và các nước trong khu vực; thực hiện chiến lược

đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị trường trong nước đi đôi với hội nhập và quốc tế. Phát

triển thương mại với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Sắp xếp lại mạng lưới bán lẻ,

dịch vụ. Khuyến khích phát triển kinh doanh thương mại, dịch vụ ở ngoại thành gắn với quy

97

hoạch xây dựng các khu dân cư mới, phát triển giao thông, xây dựng thị trấn, thị tứ, chợ

nhằm thúc đẩy phát triển ngành nghề, phân công lại lao động.

Phát triển du lịch: phấn đấu để Cần Thơ là “ Điểm đến du lịch lý tưởng – an toàn –

thân thiện”, nơi hội tụ của “ Văn minh sông nước Mê Kong”. Xây dựng các khu du lịch sinh

thái, khu vu chơi giải trí tổng hợp, trung tâm văn hóa Tây Đô, Trung tâm Hội nghị quốc Tế

và các khách sạn cao cấp. Mở rộng không gian du lịch ngoại thành với hệ thống du lịch

vườn, du lịch nông thôn. Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, các loại ẩm thực, tham quan

mua sắm, giải trí cuối tuần. kết hợp du lịch với hội thảo, hội nghị, du khảo văn hóa – lịch sử,

phát triển các tuyến du lịch lien vùng và du lịch quốc tế. Đào tạo đội ngũ nhân viên du lịch

chuyên nghiệp, phong cách phục vụ văn minh, lịch sự.

Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ. Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ có giá trị

tăng cao và có tác động thúc đẩy các ngành sản xuất, dịch vụ khác và có sức lan tỏa đến cả

vùng. Phát triển nhanh dịch vụ vận tải, chú trọng phát triển dịch vụ viễn thông, dịch vụ khoa

học – công nghệ, tư vấn tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, dịch vụ đào tạo, y tế,

văn hóa, thể thao.

3.2.2. Phát triển kết cấu hạ tầng

Huy động các nguồn lực để phát triển nhanh kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Xây

dựng đồng bộ hệ thống giao thông, nâng cấp mạng lưới điện, thông tin lien lạc, hạ tầng đô

thị, hạ tầng các khu công nghiệp gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường.

Vào năm 2010, mật độ đường ô tô đạt 1,3 – 1,5km/km2; mật độ điện thoại đạt 36,65

máy/100 dân; tỷ lệ số hộ được dùng điện đạt 99,5%; tỷ lệ dân nội thị được cung cấp nước

sạch tập trung là 100%, dân nông thôn là 84%. Vào năm 2020, mật độ đường ô tô đạt 2 – 2,5 km/km2; mật độ điện thoại đạt 64 máy/100 dân; tỷ lệ số hộ được dùng điện đạt 99,8%;

tỷ lệ dân nông thông được cung cấp nước sạch tập trung là 90%.

3.2.2.1. Giao thông

Đẩy mạnh phát triển hạ tầng kỹ thuật giao thông về cả đường bộ, đường thủy, đường

biển và đường hàng không, đủ sức phục vụ vận tải nội vùng và liên vận quốc tế, để thành

phố Cần Thơ thật sự là cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông. Quy hoạch phát triển hạ

tầng giao thông nội đô cần đảm bảo phù hợp với các quy hoạch chuyên ngành đã được phê

duyệt, nhất là phù hợp với tuyến đường cao tốc kết nối cầu Cần Thơ đang được xây dựng.

Đường bộ: đầu tư nâng cấp các tuyến quốc lộ 1A, 91, 91B, 80, tuyến quốc lộ Nam

Sông Hậu đạt tiêu chuẩn cấp II vawof năm 2020, xây dựng các tuyến đường cao tốc

98

TP.HCM – Cần Thơ, Vị Thanh – Cần Thơ. Xây dựng và nâng cấp các tuyến đường đô thị

theo quy hoạch của thành phố, nâng cấp các tuyến đường huyện theo tiêu chuẩn cấp V, cấp

VI đồng bằng, đạt 95% vào năm 2010 và 100% vào năm 2020, mở mới các tuyến đường

quận, huyện quan trọng, hoàn chỉnh các tuyến đường liên xã, phường.

Đường sắt: đầu tư xây dựng tuyến đường sắt TP. HCM – Cần Thơ.

Đường biển: nâng cấp và khai thác có hiệu quả hệ thống cụm cảng Cần Thơ đáp ứng

nhu cầu vận tải và phù hợp quy hoạch cảng biển vùng ĐBSCL.

Đường sông: tập trung khai thác triệt để thế mạnh vận tải đường sông. Nâng cấp các

tuyến đường thủy quốc gia TP. HCM – Cà Mau, TP. HCM – Kiên Giang đạt tiêu chuẩn

đường thủy nội địa cấp 1; các tuyến đường thủy kênh Ô Môn, kênh Thị Đội đạt tiêu chuẩn

đường thủy nội địa cấp 2, các tuyến đường thủy cấp tỉnh đạt tiêu chuẩn cấp 4 và các tuyến

đường thủy cấp huyện đạt tiêu chuẩn cấp 5.

Đường hàng không: nâng cấp sân bay Trà Nóc thành sân bay quốc tế

Hệ thống bến, bãi, vận tải thủy, bộ: các bến xe, bến tàu sẽ được đầu tư xây dựng ở tất

cả các quận, huyện bảo đảm đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa và đi lại của nhân dân, phục

vụ tốt yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của thành phố.

3.2.2.2. Cấp nước sinh hoạt

Mở rộng sản xuất và hoàn chỉnh hệ thống phân phối nước tại các quận, huyện, xây

dựng hệ thống cấp nước cho các đô thị mới và các thị trấn, các phường mới thành lập, xây

dựng hệ thống cung cấp nước tại các trung tâm xã, khu dân cư tập trung.

3.2.2.3. Cấp điện

Xây dựng trung tâm Điện lực Ô Môn đáp ứng nhu cầu sử dụng điện cho thành phố và

các tỉnh lân cận. Phát triển lưới điện điện thành phố bảo đảm yêu cầu phát triển kinh tế - xã

hội của thành phố theo từng giai đoạn quy hoạch.

3.2.2.4. Thông tin liên lạc

Tiếp tục hiện đại hóa, đa dạng hóa các loại hình phục vụ, mở rộng mạng lưới đi đôi

với ứng dụng công nghệ hiện đại trong lĩnh vực bưu chính – viễn thông, nhanh chóng đưa

dịch vụ internet về đến các bưu điện văn hóa xã.

3.2.2.5. Xử lý chất thải

Xây dựng các trạm xử lý nước thải trong các khu đô thị, bảo đảm vệ sinh môi trường

theo các chỉ tiêu và tiêu chuẩn hiện hành, cải tạo và đầu tư xây dựng tách riêng hệ thống

thoát nước mưa với hệ thống thoát nước mưa với hệ thống nước thải, nhất là đối với các khu

99

công nghiệp, đô thị mới. Tỷ lệ xử lý nước thải đạt 60% vào năm 2013 và 98% vào năm

2020.

Bố trí các bãi rác tập trung có quy mô và địa điểm phù hợp ở một số huyện ngoại

thành. Quan tâm đầu tư các thiết bi kỹ thuật chuyên dùng cho thu gom và xử lý rác, xây

dựng nhà máy chế biến rác với công nghệ tiên tiến để hạn chế đến mức thấp nhất ô nhiểm

môi trường. Tỷ lệ thu gom rác thải khu vực đô thị đạt 90% vào năm 2013 và đạt 95 - 98%

vào năm 2020.

3.2.3. Định hướng phát triển các lĩnh vực xã hội với vấn đề nâng cao chất lượng

cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ.

3.2.3.1. Về giáo dục và đào tạo

Đẩy mạnh phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo; tăng cường đầu tư xây dựng mới

trường lớp và trang thiết bị trường học; đa dạng hóa loại hình trường lớp, phát triển nhanh hệ

trường tư thục; tiêu chuẩn hóa giáo viên và cán bộ quản lý.

Đến năm 2015, có 80% trường mầm non, 70% trường tiểu học, 40% trường trung

học cơ sở đạt chuẩn quốc gia; năm 2020 có 100% trường lớp các cấp học, bậc học đạt chuẩn

quốc gia. Phổ cập bậc trung học phổ thông vào năm 2015. Từ năm 2015 có 100% giáo viên

đạt chuẩn.

Đến năm 2015 có trên 40% tổng số lao động được đào tạo, phấn đấu 100% cán bộ

các cấp tốt nghiệp trung học phổ thông và qua đào tạo chính trị, nghiệp vụ. Đến năm 2020,

số lao động được đào tạo nghề chiếm 47,7% lao động trong độ tuổi, trong đó công nhân có

bằng cấp, chứng chỉ 25,1%, trung học chuyên nghiệp 21,1%, cao đẳng 8,8%, đại học và trên

đại học 45%.

Củng cố, mở rộng Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, mở Trung tâm Giáo

dục thường xuyên tại các huyện mới thành lập, nâng cấp trường Trung học Y tế và Trung học

Văn hóa - Nghệ thuật lên Cao đẳng, hình thành trường Cao đẳng đa ngành trên cơ sở trường

Cao đẳng Sư phạm; mở thêm trường đào tạo công nhân, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng,

đại học, đại học quốc tế, nâng cấp trường Đại học Cần Thơ thành trường trọng điểm quốc

gia; đề nghị Ban Bí thư Trung ương Đảng cho thành lập Phân viện Chính trị quốc gia Hồ

Chí Minh để đào tạo cán bộ cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long.

3.2.3.2. Y tế và chăm sóc sức khỏe

100

Nâng cao hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, nâng cao sức khỏe của

nhân dân; giảm dần tỷ lệ mắc bệnh, ngăn ngừa, khống chế có hiệu quả các dịch bệnh. Đẩy

mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Nâng cấp, mở rộng và hoàn chỉnh hệ thống các bệnh viện hiện có. Hoàn thành xây

dựng mới Bệnh viện Đa khoa thành phố; xây dựng thêm các bệnh viện chuyên khoa, trung

tâm chẩn đoán và điều trị kỹ thuật cao cấp vùng; mở rộng đi đôi với nâng cấp cơ sở và trang

bị cho hệ thống y tế cấp quận, huyện và phường, xã theo chuẩn quốc gia; tăng cường cán bộ

y tế, nhất là bác sĩ cho vùng nông thôn. Bình quân có 8,3 bác sĩ/vạn dân và 22,8 giường

bệnh/vạn dân vào năm 2015; 12 bác sĩ/vạn dân và 29,2 giường bệnh/vạn dân vào năm 2020.

Tiếp tục duy trì các hoạt động tuyên truyền, vận động về y tế trên diện rộng. Đến

năm 2020, tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 1 tuổi giảm xuống dưới 2%, giảm tỷ lệ tử vong mẹ do

thai sản khoảng 0,5‰. Giảm tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 20% năm 2015

và dưới 10% năm 2020. Tăng tỷ lệ thực hiện kế hoạch hóa gia đình ở phụ nữ trong độ tuổi

sinh đẻ lên 92% năm 2015 và 95% năm 2020.

3.2.3.3. Dân số, lao động, việc làm và xóa đói giảm nghèo

Dân số tăng nhanh trên cơ sở tăng dân số tự nhiên có kiểm soát, tăng dân số cơ học

phục vụ phát triển đô thị và kinh tế công nghiệp - dịch vụ, dự kiến quy mô dân số đạt 1,3 -

1,4 triệu người vào năm 2015 và 1,65 - 1,8 triệu người vào năm 2020. Cơ cấu dân số thành

thị - nông thôn là 60% - 40% vào năm 2015 và 70% - 30% vào năm 2020.

Hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng tái nghèo, giảm hộ nghèo xuống còn 4,5 - 5% vào

năm 2015 và cơ bản giải quyết xong tình trạng hộ nghèo vào năm 2020 (theo tiêu chí mới) bằng

các biện pháp đào tạo nghề, hướng nghiệp, tín dụng, nâng cao trình độ dân trí, tạo mọi điều kiện

để người dân có công ăn việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp theo mùa vụ. Xây dựng chung cư,

hỗ trợ nhân dân giải quyết nhà không kiên cố ở đô thị, nhà tạm bợ ở nông thôn và các hộ tái

định cư, các hộ có thu nhập thấp. Hỗ trợ các xã nghèo phát triển kinh tế. Bảo đảm mỗi hộ dân

đều có nhà ở, trong đó nhà kiên cố, bán kiên cố và lâu bền chiếm từ 70% vào năm 2015 và 75%

trở lên vào năm 2020.

Đến năm 2015, số lao động có việc làm ổn định đạt 65% và năm 2020 đạt 72%.

Giải quyết tốt các chế độ để các gia đình chính sách, người có công với cách mạng

đạt mức sống từ trung bình trở lên so với cộng đồng nơi cư trú.

3.2.3.4. Phát triển văn hóa thông tin, thể dục thể thao

101

Phát triển văn hóa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng

con người phát triển toàn diện. Tạo bước phát triển mới về chất của phong trào “Toàn dân đoàn

kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các công trình văn

hóa, thông tin đồng bộ, đa dạng và tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động văn hóa - thông tin với chất

lượng ngày càng cao. Phát triển mạnh sự nghiệp báo chí, xuất bản, từng bước hiện đại hóa trang

thiết bị, đổi mới phương thức, nội dung tuyên truyền, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị tại địa

phương.

Phát triển nhiều loại hình thể dục - thể thao, đào tạo lực lượng vận động viên đẳng cấp

quốc gia và quốc tế. Đầu tư xây dựng hoàn chỉnh cơ sở vật chất thể dục, thể thao, hệ thống sân

bãi cấp quận, huyện, phường, xã và các khu vực dân cư, bảo đảm phục vụ nhu cầu tập luyện,

vui chơi và thi đấu thể thao của nhân dân; hoàn thành các công trình trong Khu liên hợp thể dục

- thể thao thành phố với quy mô và tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế.

Xây dựng Trung tâm Văn hóa Tây Đô, Trung tâm Thể dục thể thao quốc gia IV và

tăng cường hệ thống trung tâm văn hóa, nhà truyền thống, thư viện, phát thanh truyền hình,

thể dục, thể thao ở cơ sở.

Đẩy mạnh xã hội hoá nhằm thu hút các nguồn lực xã hội và làm phong phú các hoạt

động văn hoá, thể dục thể thao trong nhân dân.

Phấn đấu đến năm 2015 , Thành phố có 88% gia đình văn hóa, 80% khu phố và 75%

phường, xã đạt danh hiệu văn hóa; đến năm 2020, Thành phố có 98% gia đình văn hóa, 95%

khu phố và 97% phường, xã đạt danh hiệu văn hóa.

3.2.3.5. Khoa học - công nghệ

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của

Thành phố. Hỗ trợ và khuyến khích đổi mới công nghệ; lựa chọn công nghệ tiên tiến trong và

ngoài nước để áp dụng phù hợp với điều kiện địa phương. Thu hút đầu tư về khoa học - công

nghệ và lực lượng lao động chất lượng cao từ các địa phương khác; tăng cường hợp tác khoa

học - công nghệ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm sớm hình thành và phát

triển thị trường khoa học - công nghệ, xây dựng khu công nghệ cao, đưa thành phố Cần Thơ

thành Trung tâm Khoa học - công nghệ cấp vùng.

3.2.3.6. Môi trường

Bảo vệ và cải thiện môi trường. Ưu tiên phục hồi chất lượng nước sông, rạch, đặc biệt là

khu vực nội thị; nghiên cứu biện pháp khai thác nước ngầm hợp lý, quản lý và xử lý ô nhiễm

trong phát triển nông nghiệp và nông thôn. Phòng ngừa ô nhiễm môi trường không khí và kiểm

102

soát tiếng ồn; bảo vệ và phục hồi tính đa dạng sinh học. Xây dựng bộ máy quản lý môi trường

vững mạnh và xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.

3.2.3.7. Quốc phòng - an ninh

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng toàn dân và xây

dựng thế trận an ninh nhân dân, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

trong mọi tình huống. Củng cố, xây dựng lực lượng quân sự chính quy, từng bước hiện đại;

xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ. Xây dựng lực lượng công an trong sạch vững mạnh;

nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm, tạo chuyển biến

vững chắc về trật tự, an toàn xã hội.

3.3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư TP. Cần Thơ

Đại hội XII của Đảng bộ thành phố Cần Thơ đã xác định những nhiệm vụ và giải

pháp chủ yếu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội thành phố 5 năm 2010 - 2015 như sau:

Về phát triển kinh tế:

Một là, nâng cao chất lượng hoạt động các ngành, các lĩnh vực, phục vụ tích cực cho

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

- Phát triển công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, có lợi

thế cạnh tranh. Xây dựng ngành công nghiệp chế biến trở thành ngành công nghiệp chủ lực

của thành phố. Phát triển mạnh các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp điện tử. Tập

trung xây dựng khu công nghiệp Hưng Phú 1 , Hưng Phú 2 và kêu gọi đầu tư xây dựng khu

công nghiệp Ô Môn và Bắc Ô Môn đã được Chính phủ phê duyệt. Khôi phục và phát triển

các làng nghề truyền thống, hình thành các cụm, điểm công nghiệp nông thôn gắn với phát

triển du lịch và bảo vệ môi trường.

- Đa dạng hóa các ngành thương mại, dịch vụ, nhất là các loại hình dịch vụ phục vụ

cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế và công nghiệp hóa.

Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các trung tâm phân phối hàng hóa

lớn trong khu vực và cả nước. Phát triển mạnh dịch vụ vận tải đường thủy, hàng hải, hàng

không và dịch vụ khoa học và công nghệ. Mở rộng và hiện đại hóa sản phẩm dịch vụ tư vấn,

viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại - xuất khẩu, y tế, giáo dục...

Đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế: gạo, thủy sản, may mặc, giày dép, thủ

công mỹ nghệ, thuốc uống và một số sản phẩm khác trên cơ sở mở rộng thị trường, đảm bảo

đạt chuẩn, nâng cao giá trị xuất khẩu. Tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến và thu hút

đầu tư, phát triển du lịch.

103

- Nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp theo hướng chất lượng cao gắn với xây dựng

nông thôn phát triển toàn diện, tiến bộ.

Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hình thành vùng sản

xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ. Đẩy mạnh ứng dụng

tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất. Xây dựng các khu nông nghiệp

ứng dụng công nghệ cao, đặc biệt về giống cây, giống con. Đầu tư hệ thống thủy lợi, hạ tầng

nuôi thủy sản. Xây dựng một số thương hiệu nông sản của địa phương, đáp ứng yêu cầu

xuất khẩu.

Hai là, huy động các nguồn lực, đầu tư phát triển.

Tăng cường liên kết, hợp tác phát triển toàn diện với thành phố Hồ Chí Minh và các

tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm. Tiếp tục cải thiện

môi trường đầu tư, xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi phù hợp; thu hút đầu tư trong và

ngoài nước bằng các hình thức: BOT, BT, BTO, PPP; khai thác triệt để nguồn vốn ODA.

Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quy hoạch xây dựng và phát triển thành

phố, hoàn thiện các tiêu chí đô thị loại I, xứng tầm là đô thị trung tâm vùng Đồng bằng sông

Cửu Long.

Tiếp tục rà soát, điều chỉnh và hoàn thành quy hoạch chung xây dựng thành phố Cần

Thơ đến năm 2030.

Huy động các nguồn vốn khác xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ theo

tiêu chí của đô thị loại I cấp quốc gia. Xây dựng đô thị dịch vụ đầu mối nông - thủy sản ở

quận Thốt Nốt, đô thị công nghệ cao ở quận Ô Môn và đô thị sinh thái ở huyện Phong Điền.

Đề nghị Trung ương phê duyệt quy hoạch xây dựng khu đô thị công nghiệp - dịch vụ,

thương mại - du lịch ở huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ. Quan tâm nâng cấp hoàn thiện mạng lưới

giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi và các công trình công cộng khác theo tiêu chí nông

thôn mới.

Bốn là, bảo đảm các khoản cân đối lớn, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn

vốn phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội.

Mở rộng, khai thác và quản lý có hiệu quả các nguồn thu ngân sách. Tăng cường các

hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thu, chi ngân sách nhà nước; kiên quyết chống

lãng phí ngân sách nhà nước.

Tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương về cơ chế tài chính cho thành phố. Quản lý chặt

chẽ và khai thác tốt quỹ đất để tạo vốn xây dựng kết cấu hạ tầng, phục vụ yêu cầu phát triển

104

kinh tế - xã hội. Nghiên cứu huy động vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu chính

quyền địa phương, huy động vốn từ nước ngoài để đầu tư phát triển thành phố.

Năm là, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi các thành phần kinh tế phát triển.

Tiếp tục cải cách hành chính, nhất là việc cấp phép đăng ký kinh doanh, thủ tục hành

chính, thuế và các thủ tục hành chính khác. Thực hiện cổ phần hóa, chuyển đổi mô hình

hoạt động của các công ty, doanh nghiệp nhà nước theo kế hoạch. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho

doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển. Đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác với nhiều hình

thức, chủ yếu là hợp tác xã; quan tâm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực thi

các chính sách đối với hợp tác xã và nhân rộng các mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả.

Kịp thời chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới cho các hợp tác xã, tổ

hợp tác trong quá trình đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Về phát triển văn hóa - xã hội, Đại hội đã chủ trương:

Một là, phát triển mạnh mẽ giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, nâng cao

chất lượng nguồn nhân lực.

- Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo một cách đồng bộ, trên cơ sở tiếp cận với

trình độ giáo dục tiên tiến trên thế giới, nâng cấp các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề

hiện có; khuyến khích mở các trường tư thục; quan tâm đào tạo các chuyên ngành: kiến

trúc, xây dựng, khoa học - công nghệ, kinh tế - kỹ thuật phục vụ yêu cầu đào tạo nguồn

nhân lực của thành phố và vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, đầu tư nâng cấp Trường Cao đẳng nghề Cần Thơ

đạt chuẩn chất lượng cao. Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động

giáo dục ở các cấp học, ngành học. Sớm thành lập quỹ phát triển khoa học - công nghệ và

triển khai xây dựng Viện Công nghệ sinh học.

Hai là, tiếp tục phát triển, nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao,

tạo chuyển biến mạnh mẽ trong hưởng thụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.

Xây dựng nếp sống văn minh đô thị và nông thôn. Nâng cao chất lượng phong trào

“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đấu tranh đẩy lùi sự suy thoái về văn hóa,

tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và các biểu hiện phản văn hóa trong đời sống xã hội. Kế

thừa và phát huy giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc, từng bước xây dựng con người

Cần Thơ “Trí tuệ - năng động - nhân ái - hào hiệp - thanh lịch”. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng

Trung tâm Văn hóa Tây Đô, hoàn thành khu di tích “Lộ Vòng Cung” và các công trình lịch

sử văn hóa, lịch sử truyền thống cách mạng.

105

Đẩy nhanh tiến độ xây dựng Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Cần Thơ, Trung

tâm thể thao vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cơ sở vật chất phục vụ Hội khỏe Phù Đổng

toàn quốc năm 2012. Quy hoạch mỗi quận, huyện có ít nhất một sân vận động đa năng để

đáp ứng nhu cầu luyện tập của nhân dân.

Ba là, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác dân số, kế hoạch

hóa gia đình và công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em.

Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế từ thành phố đến cơ sở, phấn đấu 100% Trạm

y tế xã, phường đạt chuẩn quốc gia. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng, đưa vào sử dụng các bệnh

viện trên địa bàn thành phố như: Đa khoa thành phố, Ung bướu, Nhi đồng, Tim mạch, Phụ

sản...

Cải cách thủ tục khám chữa bệnh, giảm phiền hà cho nhân dân. Chủ động phòng

chống dịch, không để xảy ra ổ dịch lớn. Quản lý và kiểm tra chặt chẽ an toàn vệ sinh thực

phẩm.

Duy trì mức sinh hợp lý, bảo đảm thực hiện kế hoạch hóa gia đình bền vững. Chăm

sóc tốt sức khỏe sinh sản giảm mạnh tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng. Bảo đảm các quyền cơ

bản của trẻ em, tạo môi trường an toàn, lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện.

Bốn là, đẩy mạnh phong trào giảm nghèo bền vững, tăng hộ khá, giàu; tạo việc làm,

đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân.

Xây dựng Đề án đào tạo nghề và quy hoạch hệ thống mạng lưới đào tạo nghề giai

đoạn 2011 - 2015 đáp ứng yêu cầu lao động cho các doanh nghiệp, khu công nghiệp, các

chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội. Khuyến khích lao động đi làm việc ở nước

ngoài, trên cơ sở đổi mới việc đào tạo, huấn luyện nguồn lao động trước khi đưa đi nước

ngoài.

Vận động toàn dân tham gia các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc người có

công với nước. Đẩy mạnh các hoạt động từ thiện, nhân đạo; hỗ trợ những người gặp khó

khăn, người nghèo trong xã hội.

Năm là, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, truyền thông vào sản xuất và quản

lý kinh tế - xã hội. Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ phát triển

của thành phố.

Xây dựng Chương trình phát triển công nghệ thông tin và truyền thông giai đoạn

2011 - 2015. Đầu tư trang thiết bị công nghệ thông tin cho các cơ quan Đảng, quản lý nhà

nước; từng bước hiện đại hóa nền hành chính, xây dựng chính quyền cơ quan điện tử theo

106

Chương trình cải cách hành chính của thành phố.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả phát thanh, truyền hình, báo chí. Tăng cường quản lý,

đầu tư, tạo điều kiện cho các loại hình báo chí phát triển đúng hướng.

CLCS dân cư có mối quan hệ với rất nhiều yếu tố, nhiều khía cạnh KTXH. Do đó để

cải thiện CLCS dân cư TP. Cần Thơ cần phải có những giải pháp đa dạng trong nhiều lĩnh

vực như: việc làm và tạo ra thu nhập từ nông nghiệp, phi nông nghiệp, giáo dục, y tế, lương

thực, điều kiện sống, an sinh xã hội, công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo, căn cứ vào

bối cảnh khu vực, các nước trên thế giới và tình hình thực tế ở Việt Nam; vào thực trạng TP.

Cần Thơ; vào mục tiêu, định hướng, và nhóm giải pháp về phát triển kinh tế và văn hóa xã

hội trên địa bàn. Tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao CLCS cho dân cư TP. Cần

Thơ.

3.3.1. Nhóm giải pháp tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động

3.3.1.1. Việc làm

Để đạt được mục tiêu đề ra trong chiến lược phát triển KTXH của thành phố trong

những năm sắp tới, là tạo ra số lượng chỗ việc làm mới hằng năm ngày càng tăng nhằm đáp

ứng theo mức tăng dân số, tăng số lượng người lao động (15 tuổi trở lên), cần tập trung thực

hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất tạo ra việc làm cho người lao động ở 2 khu vực nông thôn và thành thị

Ở khu vực nông thôn cần giải quyết việc làm cho một bộ phận không nhỏ dân cư

nông thôn bước vào tuổi lao động hằng năm theo phương châm “ly nông bất ly hương” do

đó cần phải:

- Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn, cần tập trung hỗ

trở thông tin cho các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ về các vấn đề

đầu vào, đầu ra, hỗ trợ vay vốn, kỹ thuật, thị trường tiêu thụ. Tăng cường công tác khuyến

nông, khuyến công trong việc cung cấp thông tin cho người dân, doanh nghiệp để chuyển

đổi các mô hình kinh doanh từ sản xuất nhỏ, cá thể lên quy mô lớn hơn. Nếu thực hiện tốt

được khuyến khích chuyển đổi này, sẽ huy động được mọi nguồn lực lớn vào phát triển kinh

tế trên địa bàn và tạo ra được nhiều việc làm cho xã hội.

- Hỗ trợ các hoạt động tạo việc làm ở khu vực phi chính thức, và những người lao

động tự tìm việc làm thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, thực hiện các

chính sách ưu đãi khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, với chính sách ưu đãi

như vay vốn với lãi suất thấp, miễn giảm thuế.

107

- Cấp tín dụng ưu đãi để hộ nghèo có điều kiện tự tổ chúc việc làm, hỗ trợ người sản

xuất nhỏ đầu tư mở rộng sản xuất thu hút lao động. Đễ hỗ trợ tạo việc làm. Thành phố nên

sử dụng tổng hợp các loại quỹ như: quỹ xóa đói giảm nghèo, quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm,

ngân hàng phục vụ người nghèo và các quỹ của các tổ chức phi chính phủ, các Đoàn thể xã

hội…Các quỹ trên chủ yếu cấp tín dụng ưu đãi cho người nghèo tự tổ chức kinh doanh nhỏ

giải quyết việc làm cho gia đình. Thành phố cần quản lý nguồn vốn để nguồn vốn này thật

sự đến tay người nghèo, tránh tình trạng thất thoát, hoặc cấp phát sai đối tượng.

- Tiếp tục định hướng cho ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp

trong khu vực nông thôn phát triển theo định hướng CNH, HĐH nông – công nghiệp nông

thôn. Đẩy mạnh đầu tư cho phát triển nông – công nghiêp, thu hút các nhà đầu tư nước

ngoài, các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế

biến lương thực thực phẩm trên địa bàn thành phố Cần Thơ.

- Thực thi chính sách tiền lương, tiền thưởng hợp lý phù hợp với năng lực và công

sức của người lao động.

- Đối với công tác xuất khẩu lao động: tư vấn, hỗ trợ và tạo điều kiện xuất khẩu lao

động. Muốn có được đội ngũ lao động chất lượng cao, thì cần tăng cường công tác giáo dục

ngoại ngữ, định hướng nghề nghiệp và tác phong làm việc đối với người lao động. Nâng dần

lao động có tay nghề khi tham gia xuất khẩu lao động, do các nước nhận lao động đã bắt

đầu chuyển hướng tiếp nhận lao động có tay nghề. Đồng thời chỉ khi có nghề, người lao

động mới có thể tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm để ứng dụng sau khi trở về nước. Điều này

đòi hỏi cần tăng cường công tác tạo nguồn lao động có chất lượng.

Thứ hai tạo ra nguồn lao động có chất lượng, đây là nhóm giải pháp cơ bản, lâu dài

nhằm phát triển nguồn nhân lực của thành phố đáp ứng cung và cầu lao động bao gồm:

- Nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế thị trường thì cần phải đào

tạo nâng cao tay nghề cho đối tượng đang làm việc hay đối tượng muốn chuyển đổi công

việc. Trên địa bàn thành phố có 2 trường cao đẳng nghề, có các trường trung cấp nghề nên

xây dựng thêm trường đào tạo nghề cơ sở cấp quận huyện, thực hiện chương trình dạy nghề

phục vụ cho thị trường lao động, thu hút người lao động đăng ký học thông qua chính sách

miễn giảm học phí đào tạo đối với hộ nghèo, hộ dân tộc tiểu số và bộ đội xuất ngũ… khi đó

sẽ gia tăng cơ hội kiếm việc làm cho người lao động. Các trường cao đẳng, trung cấp, cơ sở

dạy nghề cần chú trọng đào tạo có trọng điểm các lĩnh vực công nghệ mới để đáp ứng nhu

cầu học nghề, từng bước đẩy mạnh xuất khẩu lao động có chất lượng cao.

108

- Đào tạo nguồn lao động theo địa chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu người sử dụng lao

động.

- Cơ sở dạy nghề cần thường xuyên liên hệ với các cơ sở sản xuất kinh doanh, các tổ

chức, cơ quan Nhà nước để khảo sát, nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất kinh doanh

dịch vụ để xây dựng chương trình đào tạo thích hợp, đưa học viên thực tập theo kế hoạch

đào tạo và theo sự thỏa thuận đôi bên về nội dung, hình thức, quy mô, thời gian và chi phí

thực tập.

- Phát triển các trung tâm giáo dục lao động phụ nữ, trung tâm giáo dục dạy nghề

thiếu niên, trung tâm hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho người tàn tật, góp phần giải quyết việc

làm, tạo việc làm cho nhóm đối tượng trên.

- Triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên dạy nghề:

đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị dạy nghề theo hướng tiếp cận kỹ thuật

công nghệ mới.

Thứ ba, giải pháp phát triển hệ thống thông tin dự báo thị trường lao động

- Tăng cường hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và cung ứng lao động, để người

lao động biết được những công việc đang có nhu cầu tuyển dụng lao động, yêu cầu ngành

ngề đào tạo.

- Các đơn vị dịch vụ Nhà nước đã chú trọng tổ chức thông tin, tư vấn việc làm, nghề

nghiệp.

- Tổ chức ngày hội chợ việc làm: tổ chức, tư vấn việc làm – dạy nghề cho quân nhân

xuất ngũ, tổ chức giao lưu về nhu cầu lao động.

3.3.1.2. Thu nhập

Việc tăng thu nhập để nâng cao CLCS cho dân cư thành phố là vấn đề vừa cấp bách,

vừa lâu dài nhằm nâng cao CLCS dân cư trong những năm sắp tới. Vì vậy thành phố cần có

những giải pháp sau:

Thứ nhất, cần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế để tăng thu nhập dân cư thông qua:

- Nâng cao năng lực quản lý cho doanh nghiệp, các cơ sở nông nghiệp nông thôn

+ Tổ chức đào tạo mới, nâng cao tay nghề cho người lao động trong các cơ sở thuộc

các nhóm ngành

+ Hỗ trợ các cơ sở nông thôn xây dựng và phát triển thương hiệu

+ Hỗ trợ tư vấn thành lập doanh nghiệp, áp dụng công nghệ, cải tiến kỹ thuật

109

+ Tổ chức hội thảo, Hội nghị chuyên đề: Nông thôn mới; tiết kiệm năng lượng; đăng

ký nhãn hiệu, mã số, mã vạch, áp dụng máy móc thiết bị mới vào sản xuất cho các cơ sở

công nghiệp nông thôn…

- Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học

kỹ thuật tập trung ở Khoa nông nghiệp Đại học Cần Thơ, Viện lúa ĐBSCL…

+ Hỗ trợ áp dụng máy móc thiết bị vào sản xuất

+ Hỗ trợ kỹ thuật cho các cơ sở sơ chế, bảo quản nông sản: rau, củ, quả

+ Hỗ trợ xây dựng các mô hình kỹ thuật sản xuất cơ khí, vật liệu xây dựng, nông lâm

thủy sản, thủ công mỹ nghệ

+ Áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng

- Hỗ trợ doanh nghiệp, HTX nông nghiệp hoặc hộ sản xuất của thành phố tiêu thụ sản

phẩm

+ Hỗ trợ chi phí cho các doanh nghiệp, HTX nông nghiệp, cơ sở sản xuất của thành

phố tham gia giới thiệu sản phẩm tại các Hội chợ trong nước: Hội chợ Xuân, Hội chợ

Thương mại du lịch, Hội chợ hàng Việt, Hội chợ vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL…

+ Hỗ trợ tham gia phiên chợ hàng Việt về các quận huyện, KCN, vùng sâu, vùng xa.

+ Hỗ trợ tập huấn về: Kỹ năng xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, quản trị kinh

doanh; phát triển sản phẩm, thiết kế bao bì đóng gói ..cho các doanh nghiệp, HTX, cơ sở sản

xuất.

+ Hỗ trợ cho doanh nghiệp, HTX, cơ sở sản xuất có sản phẩm tiêu biểu đạt chuẩn an

toàn vệ sinh thực phẩm và chất lượng hàng hóa vào hệ thống phân phối bán lẻ như các chợ,

siêu thị…(dự kiến hỗ trợ 05 đơn vị).

- Hướng dẫn cải tạo, xây dựng mới chợ nông thôn đến cuối năm 2015 có 100% chợ

nông thôn thành phố Cần Thơ

+ Phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, lựa chọn phương án đầu tư xây

mới mô hình chợ phù hợp với thực tế tại các xã có chợ chưa tiêu chuẩn. Việc đầu tư xây

dựng yêu cầu phải bảo đảm các tiêu chí xây dựng chợ văn minh như: Vệ sinh môi trường;

hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống phòng cháy chữa cháy; quy hoạch phân lô, bố trí

ngành hàng kinh doanh phù hợp theo từng đặc điểm thương phẩm hàng hóa và tính chất

hàng khô, hàng ướt. Đồng thời xây dựng các chính sách phù hợp nhằm khuyến khích, thu

hút thương nhân vào kinh doanh trong chợ.

- Về dịch vụ, cần phát huy lợi thế của những quận, huyện có tiềm năng về du lịch và

dịch vụ nông thôn. Tiềm năng du lịch của Thành phố là rất lớn có thể khai thác phuc vụ loại

110

hình du lịch văn hóa, lễ hội, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí ở các khu du lịch sinh thái

(Huyện Phong Điền), văn hóa lễ hội (Quận Bình Thủy và Ninh Kiều), tham quan các làng

nghề truyền thống trong thành phố ( Quận Thốt Nốt)…

- Phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề hiện có của thành phố

thì cần phối hợp với các ngành, địa phương triển khai thực hiện phong trào xây dựng làng

nghề bền vững ở địa phương như: làng nghề bánh tráng Thuận Hưng, Làng hoa Thới Nhựt

nhằm phát huy nguồn lực sẵn có của địa phương và sự hỗ trợ của Nhà nước để tạo ra bước

chuyển biến cơ bản về ngành nghề ở khu vực nông thôn, mở rộng thị trường tiêu thụ trong

và ngoài thành phố nhằm nâng cao thu nhập cho người lao động.

Tập trung cải tạo, nâng cấp và công nghệ, cơ sở hạ tầng cho khu công nghiệp Nam

Sông Hậu, khu công nghiệp quận Ô Môn nhằm thu hút hút vốn đầu tư trong và ngoài nước

để đẩy nhanh tiến độ phủ kín khu công nghiệp hiện có, các khu công nghiệp này đi vào hoạt

động sẽ góp phần tạo ra việc làm và tăng thu nhập cho người dân thành phố.

Thứ hai, nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng lao động, góp phần tăng

trưởng kinh tế chung của thành phố đồng thời cũng là nâng cao mức thu nhập cho chính

người lao động.

- Chú trọng thực hiện thường xuyên đào tạo nghề tại chỗ cho người lao động ở nông

thôn, đổi mới chương trình đào tạo nghề phù hợp với các ngành nghề và lứa tuổi lao động

trực tiếp phù hợp với địa phương nhằm để lao động trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất

các ngành nghề tại địa phương.

- Vận động các nguồn tài trợ và đầu tư từ các tổ chức chính phủ và phi chính phư, cá

nhân trong thành phố hỗ trợ đào tạo nghề ở nông thôn như: dạy may, trang điểm, nail,…

Thứ ba, chú trọng sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn:

- Cần xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, có năng suất cao,

chất lượng hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh cao. Muốn vậy, phải đẩy mạnh luân

canh, tăng vụ, áp dụng các biện pháp khoa học công nghệ mới để nâng cao hiệu quả sản

xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, khi đó sản xuất nông sản, thủy sản sẽ vươn lên một

nền sản xuất hàng hóa lớn, sản phẩm đa dạng có tính cạnh tranh và tăng trưởng ổn định. Sẽ

tạo điều kiện cho xuất khẩu tăng nhanh tạo ra việc làm tăng thu nhập cho người dân.

- Cần định hướng phát triển các ngành nghề như: chế biến nông sản, các ngành nghề

phục vụ sản xuất nông nghiệp, các làng nghề, phát triển kinh tế trang trại kết hợp chăn nuôi

hộ gia đình theo hướng sản xuất hàng hóa.

111

+ Các ngành chế biến nông sản cần đầu tư xây dựng một hệ thống chế biến nông sản

nông thôn, hệ thống được bố trí gần nguồn nguyên liệu, thu hút được lao động nông thôn.

+ Các ngành nghề phục vụ sản xuất nông nghiệp: nguyên liệu phục vụ công nghiệp

chế biến, các dịch vụ (giống, bảo vệ thực vật, thú y, ..) là những ngành có thị trường lớn là

nông thôn.

+ Phát triển kinh tế trang trại kết hợp chăn nuôi hộ gia đình theo hướng sản xuất hàng

hóa ngày càng lớn, gắn với thị trường cũng sẽ góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho

người lao động

- Tuy nhiên sản xuất nông sản, thủy sản vẫn đang tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn do

sản xuất còn mang tính tự phát, mở rộng sản xuất nhiều nơi chưa gắn triệt để với giải quyết

các vấn đề ô nhiễm môi trường, giá cả con chưa ổn định, chưa có thị trường tiêu thụ cố

định. Vì vậy, cần phải chú trọng công tác quy hoạch ngành nông nghiệp, ứng dụng các tiến

bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất, sử dụng công nghệ sinh học vào khâu chế biển,

bảo quản sản phẩm, ử lý rác thải, nước thải, kiểm soát dịch bệnh và các chất dư lượng độc

hại trong sản xuất và nuôi trồng, nhằm đảm bảo môi trường sống ở khu dân cư

3.3.2. Nhóm giải pháp xóa đói giảm nghèo

Giai đoạn 2013 – 2015: Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 1%/năm. Đến năm 2015

không còn hộ nghèo.

Chất lượng cuộc sống của hộ thu nhập thấp được nâng lên cả về vật chất và tinh thần,

là cơ sở vững chắc cho việc xây dựng Đảng, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.

Thứ nhất, giải pháp tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập

- Đào tạo nghề và giải quyết việc làm, hướng dẫn cách làm ăn, chuyển giao công

nghệ

+ Dự án dạy nghề gắn với tạo việc làm cho người nghèo

+ Hướng dẫn cách làm ăn thông qua dự án khuyến nông – lâm – ngư

+ Nhân rộng mô hình giảm nghèo

- Chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo

Thứ hai, các chính sách nhằm tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội

- Chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo

+ Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh là chăm sóc sức khỏe cho

người nghèo. Củng cố mạng lưới y tế cơ sở, đầu tư toàn diện cơ sở vật chất cho các trạm y

112

tế, nhất là trạm y tế các xã, đào tạo đội ngũ y, bác sĩ nhằm đẩy mạnh các hoạt động xã hội

hóa chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng.

+ Hỗ trợ người nghèo khám chữa bệnh

- Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo

+ Đảm bảo 100% học sinh nghèo các cấp học được miễn giảm học phí, học sinh –

sinh viên nghèo được vay vốn ưu đãi để học tập.

+ Thực hện chế độ iễn học phí đối với con hộ nghèo, con hộ thoát nghèo trong thời

gian 2 năm tiếp theo.

+ Đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong giáo dục

- Chính sách hỗ trợ nhà ở, điện, nước sinh hoạt

- Chính sách trợ giúp pháp lý: trợ giúp pháp lý miễn phí cho những hộ nghèo có nhu

cầu về các lĩnh vực: đất đai, nhà ở, thừa kế, hộ khẩu, hộ tịch, hôn nhân, gia đình, chế độ

chính sách bảo hiểm xã hội, lao động, việc làm.

- Chính sách bảo trợ xã hội: trợ cấp đột xuất cho đối tượng có hoàn cảnh khó khăn do

tai nạn, thiên tai, bệnh hiểm nghèo, trợ cấp thường xuyên cho đối tượng bảo trợ xã hội

Thứ ba, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ giảm nghèo

- Đẩy mạnh huy động nguồn lực cho công tác giảm nghèo

- Tăng cường sự tham gia của người dân

- Tăng cường giám sát và đánh giá

Thứ tư, gắn chương trình mục tiêu giảm nghèo toàn diện với quy hoạch, kế hoạch

phát triển kinh tế - xã hội của thành phố

- Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg ngày 09 tháng 8 năm 2008 của Thủ tướng Chính

phủ về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho

đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai

đoạn 2008 – 2010

- Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg ngày 07 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính

phủ về hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo thuộc vùng khó khăn (thực hiện tại xã Thới Đông, Thới

Xuân);

3.3.3. Nhóm giải pháp đảm bảo nhu cầu lương thực và dinh dưỡng

Đảm bảo đến năm 2015, tình trạng dinh dưỡng của người dân trên địa bàn thành phố

được cải thiện rõ rệt, các gia đình trước hết là bà mẹ và trẻ em được nuôi dưỡng và chăm

sóc hợp lý, bữa ăn của người dân ở tất các vùng, các dân tộc đủ hơn về số lượng, cải thiện

113

hơn về chất lượng, đảm bảo về an toàn vệ sinh. Đây là những mục tiêu mà thành phố đang

hướng tới nhằm góp phần nâng cao CLCS của người dân trong thành phố. Muốn vậy, cần

tập trung thực hiện các giải pháp:

3.3.3.1. Giải pháp về lương thực, thực phẩm

Cần đưa ra những giống mới, năng suất cao đưa vào gieo trồng, lựa chọn cơ cấu cây

trồng phù hợp, cho năng suất cao và ổn định.

Đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, áp dụng khoa học kỹ thuật, máy móc vào nông

nghiệp.

Tăng cường các dịch vụ bảo đảm cho sản xuất nông nghiệp tại chỗ như nâng cao chất

lượng giống cây, con, hạn chế sử dụng hóa chất, tăng cường phân hữu cơ, sinh học, phát

triển công nghệ chế biến sau thu hoạch, bảo quản tại chỗ, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm,

nghiên cứu các thực phẩm không là nguồn gây bệnh.

Tăng cường phát triển mạnh ngành chăn nuôi, bổ sung thêm chất đạm cần thiết cho

nhu cầu dinh dưỡng của người dân. Lựa chọn những giống tốt, cho năng suất cao, phát triển

chăn nuôi hộ gia đình, trang trại.

Tăng cường quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm. Nghiên cứu và chủ động

giám sát tình hình ô nhiễm thực phẩm để đề phòng ngộ độc và các bệnh tật gây ra do ăn

uống. Phát triển đội ngũ thanh tra và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm tại tất cả các quận,

huyện.

Tuyên truyền cho người dân biết về tầm quan trọng của lương thực và dinh dưỡng

của người dân, phổ biến chế độ ăn uống hợp lý, các biện pháp giữ gìn sức khỏe, nhất là đối

với trẻ em, hạn chế tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi, cần được chú trọng và tăng

cường

3.3.3.2. Giải pháp về dinh dưỡng

Thứ nhất, giáo dục và phổ cập kiến thức dinh dưỡng cho người dân: Huấn luyện cho

mạng lưới cán bộ làm công tác dinh dưỡng, nhằm giúp tuyến dưới biết cách xây dựng kế

hoạch về dinh dưỡng. Quan trọng hơn cả, là huấn luyện và hướng dẫn dinh dưỡng hợp lý

cho các đối tượng thanh, thiếu niên, người mẹ, người cao tuổi, phụ nữ…những kiến thức tối

thiểu về dinh dưỡng. Hoàn thiện và đưa nội dung giáo dục dinh dưỡng vào trường học.

Thứ hai, giáo dục truyền thông về dinh dưỡng: Thông qua các ngày tuyên truyền chất

dinh dưỡng như: Tuần lễ dinh dưỡng và phát triển, Ngày chăm sóc bà mẹ và phòng chống

suy dinh dưỡng, Tuần lễ nuôi con bằng sữa mẹ, Tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an

toàn thực phẩm…nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của chế độ ăn uống hợp lý, các biện

114

pháp giữ gìn sức khỏe, nhất là đối với việc nâng cao thể lực cho trẻ em, thông qua bữa ăn

dinh dưỡng hợp lý, cân đối.

Thứ ba, cần nhân rộng mô hình phòng chống suy dinh dưỡng – protein ở trẻ em và

bà mẹ: bên cạnh chiến lược chăm sóc bà mẹ và trẻ em trước trước và sau khi sinh, phục hồi

chế độ dinh dưỡng thì cần tập trung hơn vào hoạt động chăm sóc trẻ, thực hành nuôi dưỡng

và phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn. Đa dạng hóa bữa ăn, bổ sung các vi chất dinh

dưỡng, khuyên khích nuôi trồng và ăn các thực phẩm giàu vitamin, các chất dinh dưỡng

Thứ tư, thúc đẩy xóa đói giảm nghèo: Bởi vì, nó tác động quan trọng tới dinh dưỡng,

lồng ghép mục tiêu dinh dưỡng với mục tiêu xóa đói giảm nghèo.

Thứ năm, gắn các chỉ tiêu dinh dưỡng vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa

phương.

3.3.4. Nhóm giải pháp về giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực

Ngày nay, với xu hướng chung là nâng cao trình độ để tiếp thu khoa học kỹ thuật

hiện đại vào sản xuất và đời sống và để xã hội đi lên chất lượng cuộc sống cao đòi hỏi người

dân phải có trình độ. Vì vậy, việc nâng cao trình độ học vấn phổ thông và trình độ nghề, đại

học – cao đẳng la nội dung cơ bản của phổ cập và cải thiện chất lượng giáo dục đào tạo vì

chúng góp phần nâng cao năng suất lao động, có cơ hội tìm kiếm việc làm có thu nhập cao

và mức sống tốt hơn. Do đó, xét theo tình tình thực tế của thành phố Cần Thơ, tác giả đề

xuất một số giải pháp sau đây:

- Tăng mức đầu tư từ ngân sách thành phố cho các cơ sở đào tạo, từng bước mở rộng

mô hình đào tạo theo cơ chế chia sẻ kinh phí đào tạo giữa nhà nước và doanh nghiệp.

- Giải pháp huy động vốn đầu tư cho giáo dục từ doanh nghiệp

- Nâng cao hiệu quả hoạt động hướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở, trung

học phổ thông và các cơ sở dạy nghề để giúp người lao động định hướng nghề nghiệp trong

tương lai.

- Thực hiện tốt các chính sách xã hội hóa giáo dục, kêu gọi đầu tư xây dựng các

trường, các trung tâm đào tạo nghề nhằm đảm bảo việc đào tạo nghề cho lao động nhất là

lao động nông thôn.

- Nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng thực hành

nghề và thực hiện đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy của đội ngũ giáo

viên tại các cơ sở đào tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển hiện nay.

115

- Cụ thể hóa chính sách đầu tư khuyến khích và thúc đẩy phát triển nhân lực; cấp

kinh phí mua sắm trang thiết bị giảng dạy; có chế độ ưu đãi với giáo viên, nhất là giáo viên

vùng sâu, vùng xa…

- Nghiên cứu chính sách hỗ trợ tính dụng, điều kiện về đất để các thành phần kinh tế

đầu tư phát triển cơ sở đào tạo.

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện chính sách hỗ trợ dạy nghề cho lao

động nông thôn để đào tạo lực lượng lao động lao động cho xã hội, nhưng trước mắt là phục

vụ cho yêu cầu của chính doanh nghiệp khi các cơ sở dạy nghề chưa đáp ứng được.

- Huy động tài chính từ nhiều nguồn, trong đó ngân sách tỉnh đóng vai trò chủ yếu để

hỗ trợ kinh phí đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội; đổi mới cơ chế quản lý tài

chính; sử dụng ngân sách và một số nguồn khác đưa cán bộ đi đào tạo bồi dưỡng ở các nước

có nền khoa học và công nghệ tiên tiến.

- Hỗ trợ học phí cho học sinh học các nghề mà các doanh nghiệp đang rất cần mà

hiện không có người học (như ngành cơ khí) tạo điều kiện thu hút người học, đào tạo lao

động đáp ứng được nhu cầu doanh nghiệp.

- Phát triển các hình thức giáo dục dạy nghề.

- Chăm lo đời sống của đội ngũ giáo viên.

- Hệ thống giáo dục trãi rộng từ cấp thấp nhất đến cao nhất.

3.3.5. Nhóm giải pháp về phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe

- Cần phải đẩy mạnh đầu tư nâng cấp các cơ sở y tế, cải thiện tình trạng quá tải các

bệnh viện.

- Tiếp tục thực hiện cấp phát thẻ bảo hiểm y tế, miễn giảm cho người nghèo, nâng

cao chất lượng phục vụ ở các cơ sở y tế công cộng, đầu tư thiết bị và nâng cao trình độ cho

cán bộ y tế xã, phường.

- Bảo đảm 100% số xã có trạm y tế đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh từng vùng,

từng khu vực để tất cả mọi người đều được hưởng những quyền lợi như nhau cho nhu cầu

chăm sóc sức khỏe của mình.

- Điều chỉnh giá viện phí cho phù hợp với chi phí, sự đầu tư về kỹ thuật và trình độ

chuyên môn ở từng tuyến phù hợp với khả năng đóng góp của nhân dân ở từng khu vực và

khả năng chi trả của từng loại đối tượng sao cho phù hợp với mức thu nhập của họ.

- Thành phố thực hiện các mục tiêu chương trình quốc gia thanh toán một số bệnh xã

hội và bệnh dịch nguy hiểm như: lao, aisd, cúm H1N1…Bên cạnh đó, tăng cường huy động

116

và điều phối các nguồn viện trợ cho thành phố, đặc biệt là các khoản viện trợ không hoàn lại

cho hỗ trợ kỹ thuật và các khoản vay ưu đãi cho đầu tư phát triển.

Các cơ sở khám chữa bệnh phải cải cách việc cung ứng các dịch vụ và áp dụng các

biện pháp cải cách thủ tục hành chính nhằm rút ngắn thời gian chờ đợi khám bệnh chống

quá tải tại các bệnh viện.

3.3.6. Nhóm giải pháp nâng cao điều kiện và môi trường sống

3.3.6.1. Giải pháp sử dụng điện, nước sạch và vệ sinh môi trường

Cần tiếp cận đẩy mạnh sự hỗ trợ của Nhà nước đối với hộ nghèo thông qua chính

sách tạo điều kiện hơn nữa để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như sử dụng

điện, nước sạch, nhà ở..

Thành phố sẽ đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động cấp nước sạch và vệ sinh môi trường

nông thôn, tập trung tuyên truyền nâng cao ý thức sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường

nông thôn trong cộng đồng dân cư.

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông

thôn, tăng cường công tác giám sát thi công các công trình tu bổ các bờ kè ven sông Hậu.

Gắn chặt công tác bảo vệ môi trường với công tác chăm sóc sức khỏe, trong điều

kiện phát triển mới như hiện nay đã phát triển mới như hiện nay đã paths sinh nhiều vấn đề

cần khắc phục:

- Cần phải làm tốt công tác công tác về sinh môi trường, đẩy mạnh và thực hiện có

hiệu quả chương trình nước sạch ở nông thôn, tuyên truyền giáo dục nhân dân nhận thức rõ

vai trò của nước sạch đối với đời sống.

- Xử lý nước thải từ các hộ gia đình dân cư và nước từ các khu công nghiệp trước khi

thải ra môi trường. Đồng thời, Thành phố cần đẩy mạnh chương trinh vệ sinh thành phố ở

các khu đông dân cư không để các ổ bệnh dịch phát sinh và lây lan.

3.3.6.2. Chính sách nhà ở và tạo việc làm cho người nghèo

- Chính sách nhà ở: Thành phố cần đẩy mạnh đề án xây dựng chung cư cho người thu

nhập thấp, tập trung cho các đối tượng khó khăn về chỗ ở, các đối tượng hưởng lương từ

ngân sách. Đồng thời, sớm đưa ra chính sách quyết định hỗ trợ các nhà đầu tư về vấn đề tiếp

tục tái đầu tư, hoàn thành các dự án hỗ trợ cho người dân. Thành phố cần có chính sách

khuyến khích hình thành và phát triển các nguồn vay dài hạn tạo điều kiện thế chấp, lãi suất

phù hợp với khả năng tài chính để giúp đối tượng này cải thiện chỗ ở.

117

- Chính sách tạo việc làm cho người nghèo để nâng cao thu nhập và mức sống thông

qua viện trợ vốn cho người nghèo sản xuất là một việc làm thiết thực và hiệu quả trong xóa

đói giảm nghèo và nâng cao mức sống người nghèo. Nhằm mục đích để tạo cho người

nghèo có tính chủ động tự vươn lên cải thiện đời sống để sớm thoát nghèo.

3.3.6.3. Chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình

Cần nâng cao vai trò và chú trọng hơn nữa đến nhóm hộ nghèo để họ tiếp cận được

chương trình kế hoạch hóa gia đình có hiệu quả. Đây cũng là chiến lược chính sách hiệu quả

nhằm giảm gánh nặng gia đình của người phụ nữ, tăng sự tham gia vào cộng đồng của nữ

giới và qua đó tăng thu nhập cũng như địa vị của họ trong xã hội.

Thành phố đã đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền cho từng đối tượng, mô hình

câu lạc bộ không sinh con thứ 3, mô hình gia đình hạnh phúc.

Cần có chính sách dân số ưu tiên hơn cho nhóm hộ nghèo, nâng cao vai trò và chú

trọng hơn nữa đến nhóm hộ nghèo để họ tiếp cận được chương trình kế hoạch hóa gia đình

có hiệu quả. Điều này góp phần rất lớn trong công tác giảm tỷ lệ sinh để nâng cao mức sống

cho các thành viên trong gia đình.

Cần có phương pháp tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng, từng lứa tuổi, từng

khu vực. Đặc biệt chú trọng những người trong độ tuổi sinh đẻ từ 15 – 49 tuổi.

Ngoài ra, còn thực hiện chính sách hoàn thiện các chương trình tín dụng hỗ trợ người

nghèo vay vốn, đào tạo tay nghề cho người lao động diện xóa đói giảm nghèo tạo cơ hội cho

họ có việc làm.

3.3.7. Nhóm giải pháp nâng cao đời sống tinh thần và an ninh xã hội

Xây dựng các trung tâm văn hóa tại các huyện, thị xã đến năm 2015 đảm bảo 100%

xã, phường, thị trấn có trung tâm văn hóa, thư viện, các khu vui chơi dành cho trẻ em.

Tổ chức sắp xếp lại các loại hình văn hóa nghệ thuật, phát huy giá trị văn hóa, phát

triển nghệ thuật quần chúng.

Tập trung xây dựng môi trương văn hóa cơ sở, xây dựng làng văn hóa, khu dân cư

văn hóa, củng cố và phát triển hệ thống cơ sở dịch vụ văn hóa nghệ thuật.

Phát triển hệ thống thư viện từ cấp thành phố đến cấp cơ sở, đưa công nghệ thông tin

vào hoạt động và quản lý thư viện, tăng cường xây dựng thư viện, tủ sách cơ sở tại các xã,

phường, thị trấn, cơ quan, trường học… góp phần nâng cao dân trí và đời sống tinh thần của

người dân ngày càng phong phú.

118

Vấn đề an ninh xã hội phải được coi trọng, phát huy sức mạnh của mặt trận an ninh

nhân dân. Có những biện pháp xử lí nghiêm minh đối với trường hợp phạm tội. Phát huy

phong trào xây dựng khu phố văn hóa, gia đình văn hóa, xây dựng nếp sống mới trong dân

cư. Có chính sách phù hợp với người nhập cư và đội ngũ công nhân từ phương xa tới đây

làm ăn, sinh sống tại các khu công nghiệp.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

Từ nghiên cứu thực trạng CLCS dân cư thành phố Cần Thơ và căn cứ vào định

hướng và giải pháp phát triển kinh tế xã hội của TP. Cần Thơ giai đoạn 2013 – 2020. Tác

giả đưa ra một số giải pháp về giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, giải

pháp đảm bảo nhu cầu lương thực và dinh dưỡng, nâng cao giáo dục và đào tạo nguồn nhân

lực, phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe cho người dân, nâng cao điều kiện và môi trường

sống, giải pháp về dân số và kế hoạch hóa gia đình. Nhằm nâng cao CLCS dân cư TP. Cần

Thơ về thu nhập, y tế, giáo dục và tinh thần cho người dân.

119

KẾT LUẬN

CLCS là khái niệm khá phức tạp và thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của lịch

sử và nhận thức của con người. Việc nâng cao hơn nữa CLCS luôn là mục tiêu phấn đấu,

mục đích vươn lên của các quốc gia trên thế giới. Để phản ánh CLCS, người ta đã sử dụng

đồng bộ nhiều tiêu chí, trong đó có các tiêu chí cơ bản: y tế, giáo dục, thu nhập đầu

người…nhưng trong đó tiêu chí thu nhập bình quân đầu người vẫn là tiêu chí quan trọng

nhất và có ý nghĩa khái quát nhất trong việc đánh giá CLCS. Từ những năm cuối thế kỹ XX,

các tổ chức và cá nhân nghiên cứu trên thế giới đã thống nhất trong việc đánh giá CLCS dân

cư trong hệ thống đánh giá tạo ra 3 tiêu chí. Hình thành nên tam giác tăng trưởng: mức thu

nhập cao, sức khỏe tốt, trình độ dân trí phát triển chính là các điều kiện để kinh tế phát triển

bền vững. Hiện nay các nhà nghiên cứu đã bổ sung thêm tiêu chí về tinh thần của con người

thông qua các hoạt động vui chơi giải trí và môi trường sống.

Căn cứ vào các tiêu chí cơ bản trên, trải qua quá trình tìm hiểu, đánh giá tác giả đưa

ra một số kết luận sau:

Thành phố Cần Thơ có vị trí chiến lược quan trọng của vùng ĐBSCL, có nguồn tài

nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động được bổ sung hằng năm là những nhân tố

thuận lợi cho việc cải thiện và nâng cao CLCS của dân cư.

CLCS của dân cư thành phố Cần Thơ hiện nay có bước tiến bộ được thể hiện rõ qua

sự phân tích một số tiêu chí cụ thể như: thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ hộ đói nghèo,

các chỉ tiêu về văn hóa, giáo duc, y tế…

Để nâng cao CLCS của dân cư thành phố trong thời gian tới cần phải thực hiện đồng

bộ nhiều giải pháp. Trong đó cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu như nâng cao các

chỉ tiêu về thu nhập, xóa đói giảm nghèo, về giáo dục, về y tế và chăm sóc sức khỏe, về đảm

bảo trật tự an toàn xã hội và vệ sinh môi trường.

Bên cạnh những thành tựu như kể trên, trong cơ chế thị trường hiện nay, Cần Thơ

cũng không tránh khỏi sự phân hóa trong CLCS dân cư ngày càng sâu sắc và khoảng cách

ngày càng tăng. Một bộ phận dân cư sống trong khu đô thị, sống ở quận Ninh Kiều có mức

sống khá cao, trong khi đó, một bộ phận dân chúng ở vùng sâu vùng xa, đồng bào dân tộc ít

người cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa các

địa phương trong thành phố.

Kết quả đạt được của đề tài:

120

Đề tài có tính kế thừa quan điểm và cơ sở lý luận về CLCS của các tác giả trong và

ngoài nước, trên cơ sở đó, đề tài đã vận dụng cơ sở khoa học về dân cư và CLCS vào địa

bàn thành phố Cần Thơ để phân tích các yếu tố ảnh hưởng và làm sáng tỏ hiện trạng CLCS

của dân cư thành phố từ năm 2005 đến 2012 qua một số tiêu chí cụ thể: thu nhập bình quân

đầu người, tiêu chí về giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe, môi trường sống. Đề tài có sự so

sánh giữa các địa phương trong địa bàn của vùng ĐBSCL.

Đề tài đã dựa trên kết quả nghiên cứu được và định hướng phát triển kinh tế - xã hội

của thành phố để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao CLCS của dân cư thành phố Cần Thơ

trong thời gian sắp tới.

Hạn chế của đề tài

Do hạn chế về thời gian nên đề tài chỉ phân tích một số tiêu chí chủ yếu trên diện

rộng toàn thành phố, chưa đi phân tích sâu sự khác biệt trong địa bàn từng quận, huyện, thị

xã, thành phố.

Một số thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu đánh giá CLCS của dân cư chưa được

công khai hóa, nên việc đánh gía CLCS chỉ được thực hiện trên một số tiêu chí cụ thể, chưa

phản ánh được toàn diện các khía cạnh của CLCS dân cư.

121

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2001, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội.

2. Báo cáo chỉ số phát triển con người – 2010 (Báo cáo hằng năm của cơ quan phát

triển LHQ (UNDP).

3. Báo cáo phát triển con người thế giới năm 2007 – 2008 (Báo cáo hàng năm của

cơ quan phát triển LHQ).

4. Báo cáo phát triển thế giới năm 2010, Phát triển và biến đổi khí hậu, Ngân hàng

thế giới.

5. Báo cáo kết quả 7 năm thực hiện nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa

IX) về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước. (2012).

6. Báo cáo tình hình thực hiện chính sách đối với người dân tộc thiểu số trên địa

bàn thành phố Cần Thơ (2013).

7. Bộ LĐ – TB&XH (2004), Những định hướng chiến lược của chương trình mục

tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010, Nxb Lao động –Xã hội, Hà Nội.

8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục thống kê, Điều tra biến động dân số và kế

hoạch hóa gia đình thời điểm 1.4.2012, Nxb Thống kê.

9. Đặng Quốc Bảo (chủ biên) (2008), Nghiên cứu chỉ số phát triển con người (HDI)

của Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội.

10. Đào Ngọc Cảnh (chủ biên), Địa lý địa phương Cần Thơ.

11. Nguyễn Thị Cành (chủ biên) (2001), Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu

nghèo và các giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế

Việt Nam nhìn từ thực tiễn TP. HCM, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội.

12. Cục Thống kê thành phố Cần Thơ (2010), Niên giám thống kê năm 2009.

13. Cục Thống kê thành phố Cần Thơ (2011), Niên giám thống kê năm 2010.

14. Hoàng Văn Cường (2002), Sử dụng các chỉ số HDI và HPI trong đánh giá trình

độ phát triển các vùng nông thôn, Tạp chí Kinh tế và phát triển số 56, tr. 36 – 38.

15. Dự án quản lý thủy lợi phục vụ phát triển nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu

Long, báo cáo đánh giá tác động xã hội, Hà Nội, (2012) .

16. Võ Hùng Dũng (chủ biên), (2012), Số liệu kinh tế ĐBSCL (2001 – 2011), Nxb

Đại học Cần Thơ

122

17. Phan Thị Xuân Hằng, Luận văn Thạc sĩ (2011), Giải pháp nâng cao chất lượng

cuộc sống dân cư Huyện Ninh Phước.

18. Đỗ Thiên Kính (2003), Phân hóa giàu nghèo và tác động của yếu tố học vấn

đến nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam.

19. Nguyễn Thị Linh, Luận văn Thạc sĩ (2012), Chất lượng cuộc sống dân cư Tỉnh

Đồng Nai hiện trạng và giải pháp.

20. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần VII của Đảng: Thông qua "Chiến

lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, ngày 27-6-1991.

21. Bùi Vũ Thanh Nhật, Luận văn Thạc sĩ (2008), Chất lượng cuộc sống dân cư

tỉnh Bình Thuận – Hiện trạng và giải pháp.

22. Phát triển con người Việt Nam 1999 -2004, những thay đổi và xu hướng chủ

yếu, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

23. Đức Quyết (2002), Một số chính sách quốc gia về việc làm và xóa đói giảm

nghèo, Nxb Lao động.

24. Lê Thông (2004), Địa lý kinh tế - xã hôi Việt Nam, Nxb Đại học sư phạm Hà

Nội.

25. Nguyễn Kim Thoa, (2003) Bàn về Khái niệm Chất lượng cuộc sống, Tạp chí

dân số và phát triển, số 6/2003.

26. Thủ Tướng Chính phủ Quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế - xã hội TP. Cần Thơ thời kỳ 2006 – 2020, (2007).

27. Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam 2001 – 2010, Nxb Thống kê.

28. Tổng cục Thống kê Viện khoa học thống kê, Phương pháp và quy trình tính chỉ

số phát triển con người cấp quốc gia, cấp tỉnh, Nxb Thống kê.

29. Tổng cục Thống kê, (2011), Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2010, Nxb

Thống kê.

30. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2009, Nxb Thống kê Hà Nội.

31. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), (2005) Địa lý kinh tế xã hội đại cương, Nxb Đại

học sư phạm.

Các website

32. http://www.cpv.org.vn

33. http:// www.cantho.gov.vn

34. http://www.gso.gov.vn

123

35. http:// www. worldbank.org

36. http://www.undp.org.vn

124