BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH _______________ Đỗ Thị Kim Niết

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2008

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH _______________ Đỗ Thị Kim Niết

: 60 14 05

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. PHAN THỊ TỐ OANH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2008

LỜI CẢM ƠN

Qua một khóa học và quá trình hoàn thành luận văn, tôi đã lĩnh hội

được nhiều kiến thức, nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ các Cấp lãnh

đạo, của quý Thầy Cô cùng bạn bè thân hữu.

Xin chân thành cám ơn Ban lãnh đạo nhà trường, Phòng Khoa học

Công nghệ & Sau Đại học, Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường Đại học Sư

phạm TP.Hồ Chí Minh và quý Thầy Cô đã tham gia giảng dạy lớp Cao học

Quản lý Giáo dục khóa 16. Xin cám ơn Ban lãnh đạo và các anh chị đồng

nghiệp trường Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh giúp đỡ, tạo điều kiện

cho tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu.

Đặc biệt, xin gởi lời cám ơn sâu sắc đến Cô giáo TS. Phan Thị Tố

Oanh đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn

thành luận văn.

Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn không tránh khỏi

những thiếu sót, rất mong nhũng ý kiến đóng góp xây dựng của quý Thầy

Cô, các anh chị và các bạn.

TP.Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2008

Tác giả

Đỗ Thị Kim Niết

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI............................................. 11

1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề............................................... 11

1.2. Vai trò công nghệ thông tin với sự nghiệp đổi mới giáo dục ....... 14

1.3. Các chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển nguồn

nhân lực công nghệ thông tin và vai trò của các cơ sở đào tạo

tin học phi chính qui ....................................................................... 15

1.4. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu ......................... 17

1.5. Nội dung quản lý hoạt động giảng dạy tin học............................... 22

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG

DẠY Ở TRUNG TÂM TIN HỌC TRƯỜNG ĐẠI

HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH .......................... 33

2.1. Vài nét về trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh............ 33

2.2. Vài nét về Trung tâm Tin học trường Đại học Công nghiệp

TP. Hồ Chí Minh............................................................................. 35

2.3. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, học viên

Trung tâm Tin học trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí

Minh ................................................................................................ 37

2.4. Thực trạng cơ sở vật chất của Trung tâm Tin học trường Đại

học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh ................................................ 39

2.5. Thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở Trung

tâm Tin học trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh ......... 40

2.6. Đánh giá chung thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng

dạy................................................................................................... 68

2.7. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng .................................................... 69

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN

LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY Ở TRUNG TÂM TIN

HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ

CHÍ MINH................................................................................. 71

3.1. Giải pháp xây dựng, tăng cường đội ngũ cán bộ quản lý ,

giảng viên, nhân viên ...................................................................... 71

3.2. Giải pháp tăng cường quản lý có hiệu quả vào hoạt động

giảng dạy ........................................................................................ 76

3.3. Giải pháp về cơ sở vật chất ............................................................. 82

3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp ...................................................... 86

3.5. Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các giải pháp....................... 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................... 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 93

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL : Cán bộ Quản lý

CNTT : Công nghệ thông tin

CSVC : Cơ sở vật chất

ĐHCN TP.HCM : Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh

GD – ĐT : Giáo dục – Đào tạo

GV : Giảng viên

HV : Học viên

PPGD : Phương pháp giảng dạy

TTTH : Trung tâm Tin học

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 : Đội ngũ giảng viên TTTH từng cơ sở ................................... 38

Bảng 2.2 : Lưu lượng học viên trung bình mỗi khóa học....................... 39

Bảng 2.3 : Số lượng phòng máy tại các cơ sở ........................................ 39

Bảng 2.4a : Đánh giá của CBQL về nội dung chương trình đào tạo........ 41

Bảng 2.4b : Đánh giá của GV về nội dung chương trình đào tạo............. 41

Bảng 2.4c : Đánh giá của HV về nội dung chương trình đào tạo............. 42

Bảng 2.5a : Đánh giá của CBQL về giáo trình......................................... 44

Bảng 2.5b : Đánh giá của GV về giáo trình.............................................. 44

Bảng 2.5c : Đánh giá của HV về giáo trình.............................................. 44

Bảng 2.6 : Đánh giá của CBQL và GV về việc tuyển chọn GV ............ 46

Bảng 2.7a : Đánh giá của CBQL về việc phân công giảng dạy ............... 48

Bảng 2.7b : Đánh giá của GV về việc phân công giảng dạy .................... 48

Bảng 2.8 : Đánh giá của CBQL và GV về thực trạng quản lý

trình độ chuyên môn giảng viên............................................ 49

Bảng 2.9 : Đánh giá của CBQL, GV và HV về mức độ sử dụng

các phương pháp giảng dạy.................................................. 51

Bảng 2.10 : Đánh giá của CBQL, GV và HV về hiệu quả các

phương pháp giảng dạy ......................................................... 52

Bảng 2.11a : Đánh giá của CBQL về việc thực hiện nội quy TTTH

của GV................................................................................... 55

Bảng 2.11b : GV tự đánh giá về việc thực hiện nội quy TTTH ................ 56

Bảng 2.11c : Ý kiến của HV về GV ........................................................... 56

Bảng 2.12a : Đánh giá của CBQL và GV về HV ....................................... 58

Bảng 2.12b : HV tự đánh giá về mình ........................................................ 59

Bang 2.13 : CBQL, GV và HV chọn hình thức kiểm tra đánh giá

tốt nhất ................................................................................... 61

Bảng 2.14 : Mức độ kiểm tra đánh giá tại TTTH ..................................... 63

Bảng 2.15a : Ý kiến của CBQL về trang thiết bị dạy học .......................... 64

Bảng 2.15b : Ý kiến của GV về trang thiết bị dạy học............................... 64

Bảng 2.15c : Ý kiến của HV về trang thiết bị dạy học............................... 65

Bảng 3.1 : Khảo sát về tính cần thiết và khả thi của các giải pháp ........ 87

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 : Đánh giá của CBQL, GV, HV và đánh giá chung của

3 đối tượng ở mức độ phù hợp và rất phù hợp về nội

dung chương trình đào tạo..................................................... 42

Biểu đồ 2.2 : Đánh giá của CBQL, GV, HV và đánh giá chung của

3 đối tượng ở mức độ phù hợp và rất phù hợp về giáo

trình........................................................................................ 45

Biêu đồ 2.3 : Đánh giá của CBQL, GV, HV và đánh giá chung của

3 đối tượng ở mức độ phổ biến và rất phổ biến về việc

tuyển chọn GV....................................................................... 46

Biểu đồ 2.4 : Đánh giá của GV và HV ở mức độ tốt và rất tốt về HV ....... 59

Biểu đồ 2.5 : CBQL, GV và HV chọn hình thức kiểm tra đánh giá

tốt nhất ................................................................................... 61

Biểu đồ 2.6 : Đánh giá của CBQL, GV, HV về thiết bị dạy học ở

mức độ từ tốt trở lên .............................................................. 65

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, thời đại của nền kinh tế tri thức và toàn cầu

hoá, các ứng dụng công nghệ thông tin cùng với sự phát triển như vũ bão của

Internet đã đem lại cho con người những công cụ mới, những tiện ích đa năng

trong mọi ngành, mọi miền, từ những đô thị văn minh cho đến những vùng

quê xa xôi hẻo lánh. Công nghệ thông tin thực sự là phương tiện của con

người trong xã hội hiện đại, những tiến bộ của công nghệ thông tin được áp

dụng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, khoa học, xã hội, y tế...Công nghệ

thông tin làm cho thế giới ngày càng trở nên nhỏ bé. Công nghệ thông tin đã

đưa hoạt động kinh tế các nước vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành

hoạt động mang tính toàn cầu. Mối quan hệ kinh tế thương mại, công nghệ và

hợp tác giữa các nước, các doanh nghiệp ngày càng được tăng cường. Không

có cuộc cách mạng kỹ thuật nào có tốc độ phát triển nhanh như cách mạng

công nghệ thông tin. Không có thời đại nào những người làm giàu nhanh và

nhiều nhất thế giới tập trung ở công nghệ thông tin như ngày nay.

Đảng và nhà nước ta rất chú trọng vai trò của công nghệ thông tin.

Trong Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17-10-2000 của Bộ Chính trị (khoá VIII) về

đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đã nêu rõ:

“Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự

phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu

sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại.

Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần

giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy

công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng

cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá

trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của

nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực

hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.” [2, tr.1]

“Phát triển nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin là yếu tố then chốt

có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông

tin”. [2, tr.2]

Quyết định số 51/2007/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2007 về Phê

duyệt Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam đến năm

2010 của Thủ tướng Chính phủ, đã chỉ đạo:

“Tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng đào tạo công nghệ thông

tin trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng” [20, tr.3]

“Đẩy mạnh các chương trình đào tạo phi chính quy và ngắn hạn về

công nghệ thông tin” [20, tr. 4]

Trong những năm qua, để phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin,

việc đào tạo tin học được mở ra rất đa dạng phong phú, từ các khoa, ngành

trong các trường Đại học , Cao đẳng , Trung cấp công lập, tư thục và hợp tác

quốc tế, còn phải kể đến các Trung tâm Tin học trong các trường và các cơ sở

tư nhân thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu học tin học của mọi tầng lớp xã hội.

Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM (ĐHCN TP.HCM), là một trong

những trường đại học công lập của nhà nước đã tổ chức đào tạo tin học với

nhiều hình thức và cấp độ khác nhau. Một trong các đơn vị đảm trách việc

đào tạo tin học là Trung tâm Tin học (TTTH) của trường. TTTH được thành

lập để đáp ứng nhu cầu học hỏi tin học từ căn bản đến nâng cao, và những

chuyên đề từ đơn giản đến phức tạp của các sinh viên trong nhà trường cũng

như mọi người dân có nhu cầu.

Qua thực tế cho thấy chất lượng giảng dạy ở TTTH còn có mặt hạn chế,

công tác quản lý hoạt động giảng dạy tin học ở trung tâm chưa thật sự được

quan tâm đúng mức, dẫn đến TTTH phát triển còn chậm so với tốc độ phát

triển chung của toàn trường ĐHCN TP.HCM và chưa đáp ứng nhu cầu của xã

hội.

Xuất phát từ những lý do trên, người nghiên cứu chọn đề tài: “Thực

trạng quản lý hoạt động giảng dạy ở Trung tâm Tin học trường Đại học Công

nghiệp TP. Hồ Chí Minh và một số giải pháp “

2. Mục đích nghiên cứu

Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy ở Trung tâm Tin học

trường ĐHCN TP.HCM và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản

lý hoạt động giảng dạy tại Trung tâm góp phần đáp ứng nhu cầu của xã hội.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

 Khách thể:

Công tác quản lý giảng dạy ở TTTH trường ĐHCN TP.HCM.

 Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động

giảng dạy ở TTTH trường ĐHCN TP.HCM .

4. Giả thuyết nghiên cứu

Hoạt động quản lý TTTH trường ĐHCN TP.HCM nói chung đã thực

hiện tương đối tốt ở một số mặt, tuy nhiên vẫn còn một số mặt tồn tại. Nếu

nghiên cứu đúng thực trạng và có những giải pháp thích hợp thì chất lượng

giảng dạy được nâng cao hơn, TTTH sẽ phát triển mạnh, đáp ứng nhu cầu

học tập ngày càng tăng của sinh viên nhà trường nói riêng và toàn xã hội nói

chung.

5. Nhiêm vụ nghiên cứu

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giảng dạy.

5.2. Khảo sát đánh giá thực trạng quản lý TTTH trường ĐHCN

TP.HCM

5.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động

giảng dạy ở TTTH trường ĐHCN TP.HCM.

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: thu thập, tham khảo các tài

liệu, các công trình nghiên cứu, các Quyết định, Thông tư, Chỉ thị của Đảng

và nhà nước có liên quan đến đề tài.

6.2. Phương pháp quan sát và trao đổi:

-Quan sát giờ học tại các phòng máy vi tính tại từng Cơ sở , ghi lại

các nhận xét thực tế về phòng máy, giảng viên, học viên.

-Trao đổi với một số cán bộ quản lý (CBQL), giảng viên (GV), học

viên (HV), về cơ sở vật chất (CSVC), chương trình môn học, phương pháp

giảng dạy…

6.3. Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến: nhằm làm rõ

thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy tại TTTH trường ĐHCN TP.HCM

với đối tượng điều tra:

- 12 CBQL (Bsn Giám đốc Trung tâm, Trưởng Cơ sở, Tổ trưởng,)

- 80 GV

- 500 HV

6.4. Phương pháp thống kê toán học. xử lý số liệu điều tra nhằm định

lượng kết quả nghiên cứu bằng phần mềm SPSS để đánh giá thực trạng và

định hướng nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giảng dạy tại TTTH

trường ĐHCN TP.HCM.

7. Giới hạn của đề tài

Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu công tác quản lý hoạt động giảng dạy tin

học của TTTH trường ĐHCN TP.HCM từ ngày thành lập Trung tâm (2003)

đến nay ở các cơ sở 1, 2, 3, 4 của trường ĐHCN TP.HCM

8. Kết cấu của luận văn

MỞ ĐẦU

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy ở Trung tâm Tin

học trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động

giảng dạy ở Trung tâm Tin học trường Đại học Công

nghiệp TP.Hồ Chí Minh.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề

Quản lý là vấn đề then chốt trong mọi hoạt động. Xã hội càng phát

triển việc quản lý càng trở nên phức tạp và tinh vi. Trong hoạt động giáo dục

nói chung và hoạt động giảng dạy nói riêng vấn đề quản lý cũng là một vấn đề

quan trọng hàng đầu, đã được rất nhiều nhà lãnh đạo, nhà giáo dục, nhà giáo

và rất nhiều người quan tâm đề cập đến. Tất cả các trường từ cấp tiểu học cho

đến đại học và cao hơn nữa, từ những trường công lập đến dân lập, từ những

trường trong nước cho đến ngoài nước, tất cả đều quan tâm đến hoạt động

giảng dạy của đơn vị mình và có những nội quy, tiêu chí riêng để quản lý .

Ngày nay với sự bùng nổ của CNTT và sự phát triển của internet, có rất

nhiều phần mềm ra đời hỗ trợ cho việc quản lý hoạt động giảng dạy của các

đơn vị:

-Phần mềm Quản lý Học tập Nhà trường của công ty School@net

-Phần mềm quản lý đào tạo của công ty PSC

-Phần mềm eSchool - Quản lý trường học của VNNETSOFT

Các phần mềm trên đưa ra các giải pháp hỗ trợ các nhà trường qua sự

trợ giúp của máy tính. Phần mềm cho phép quản lý việc học và dạy của học

sinh, sinh viên và giảng viên nhà trường, toàn bộ các công việc quản lý đào

tạo nhà trường bao gồm :

Cập nhật, tra cứu, kết quả tuyển sinh, cơ chế tuyển sinh. Lập kế hoạch

đào tạo: thời khoá biểu, lịch giảng dạy, phân công giảng dạy

Xây dựng chương trình khung đào tạo: lựa chọn tín chỉ, nhóm môn học

cho các khoa ngành, cho phép sinh viên tự chọn các môn học thuộc diện tự

chọn, phương pháp tổng kết điểm, quy chế về xét duyệt điểm thi, xét lên lớp

và danh hiệu...

Quản lý theo dõi kết quả đào tạo: thống kê giờ học, giờ dạy, giảng viên

dạy, lập phòng thi, phân phòng thi, kết quả thi...

Quản lý theo dõi quá trình đào tạo: quản lý các thông tin về sinh viên

từ khi tuyển sinh cho đến lúc ra trường...

Các báo cáo: báo cáo tuyển sinh, tổng kết môn học, khoá học, bảng

điểm, học bạ...

-Phần mềm Quản lý đào tạo niên chế của Trung tâm Phần mềm Đại

học Đà nẵng là phần mềm ứng dụng trong công tác quản lý đào tạo của các

trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, các trung

tâm đào tạo thường xuyên, áp dụng cho loại hình đào tạo niên chế

Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động

giảng dạy trình độ Thạc sĩ như:

-Thực trạng việc quản lý hoạt động giảng dạy ở một số trường trung

học cơ sở tỉnh Cà Mau, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Giáo dục, tác

giả Nguyễn Quốc Thể (2007). Ở luận văn này tác giả đã khảo sát thực trạng

quản lý hoạt động giảng dạy ở một số trường trung học cơ sở tỉnh Cà mau,

tìm ra nguyên nhân của thực trạng, từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao

hiệu quả quản lý hoạt động giảng dạy ở bậc trung học cơ sở.

- Thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các

trường Trung học phổ thông tỉnh Đăklăk, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành

Quản lý Giáo dục tác giả Phạm Đăng Khoa (2007). Ở luận văn này tác giả đã

khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy ở các trường Trung học phổ

thông tỉnh Đăklăk, đánh giá ưu khuyết điểm và đưa ra những giải pháp để

nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giảng dạy ở bậc trung học phổ thông.

Về quản lý hoạt động giảng dạy tin học có các công trình nghiên cứu

sau:

-Thực trạng công tác quản lý giảng dạy tin học ở các khoa không

chuyên trường Cao đẳng Sư phạm Bình dương của tác giả Trương văn Ân -

trường Cao đẳng Sư phạm Bình dương (2004) nghiên cứu về thực trạng giảng

dạy Tin học ở các khoa không chuyên của trường Cao đẳng Sư phạm Bình

dương và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giảng

dạy tin học ở các khoa không chuyên tại trường Cao đẳng Sư phạm Bình

dương.

-Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy Tin học tại các trường

Trung học Phổ thông tỉnh Khánh Hoà của tác giả Lê văn Hoà - Sở Giáo dục

và Đào tạo Khánh hoà (2006), nghiên cứu về thực trạng giảng dạy Tin học tại

các trường Trung học Phổ thông tỉnh Khánh hòa và đề xuất các giải pháp để

nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giảng dạy tin học tại các trường trung

học phổ thông tỉnh Khánh hoà.

-Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy Tin học ở trường Cao

đẳng Sư phạm Quảng nam tác giả Trần Hưởng - trường Cao đẳng Sư phạm

Quảng nam (2006), nghiên cứu về thực trạng giảng dạy Tin học ở trường Cao

đẳng Sư phạm Quảng nam và đưa ra các giải pháp quản lý hoạt động giảng

dạy tin học ở trường Cao đẳng Sư phạm Quảng nam.

Nói chung, có rất nhiều đề tài, bài viết, cũng như các phần mềm nghiên

cứu và đưa ra các giải pháp hỗ trợ công tác quản lý giáo dục, và có một số

luận văn Thạc sĩ của tác giả là học viên Cao học Quản lý các khoá trước

nghiên cứu về thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy Tin học ở

đơn vị mình, nhưng chưa có một đề tài nào viết về công tác quản lý hoạt động

giảng dạy của một Trung tâm Tin học nói chung và TTTH trường ĐHCN

TP.HCM nói riêng. Do vậy tác giả nhận thấy cần phải nghiên cứu về công tác

quản lý hoạt động giảng dạy tin học tại TTTH trường ĐHCN TP.HCM.

1.2. Vai trò công nghệ thông tin với sự nghiệp đổi mới giáo dục

Đối với giáo dục và đào tạo, CNTT có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi

nội dung, phương pháp dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến tới một “xã

hội học tập”. Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy

sự phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT.

Bộ Giáo dục - Đào tạo cũng đã yêu cầu: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong

giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử

dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp

giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học” [3, tr.1]

“Công nghệ thông tin và truyền thông đã trở thành một yếu tố then chốt

làm thay đổi thế giới nói chung và đặc biệt cho giáo dục. Công nghệ thông tin

và truyền thông đã trở thành hạ tầng và động lực cho sự phát triển kinh tế, xã

hội, văn hoá và giáo dục. Công nghệ thông tin và truyền thông đang làm nên

một cuộc đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục,

Công nghệ thông tin và truyền thông là công cụ cho mọi cuộc đổi mới

giáo dục, cho mọi ngành, mọi bậc học. (Kể cả ngành xã hội nhân văn, kể cả

bậc học mẫu giáo).

Công nghệ thông tin và truyền thông đã đem đến một tài nguyên giáo

dục cho tất cả mọi người, làm cho vai trò của giáo viên thay đổi (thiên về phía

người hướng dẫn), người học có thể phát huy tính tích cực tự truy cập vào

nguồn tài nguyên học tập vô cùng phong phú ở trên mạng Internet (e-

learning) mọi lúc, mọi nơi, mọi thứ, cho mọi loại hình giáo dục chính qui hay

không chính qui, ngoại khoá … Đó là các tiêu chí mới của giáo dục mà từ

trước tới nay chưa bao giờ có thể đạt “ [26, tr.1].

Như vậy có thể nói công nghệ thông tin và truyền thông là một yếu tố

then chốt trong đổi mới dạy và học, trong điều hành và quản lý giáo dục. Cần

phải tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong

giáo dục.

1.3. Chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển nguồn nhân lực công

nghệ thông tin và vai trò của các cơ sở đào tạo tin học phi chính qui

Những năm gần đây, CNTT toàn cầu đang tăng tốc phát triển, tiến

trình thông tin hoá các nước trên thế giới phát triển cực kỳ nhanh chóng, loài

người đang đi vào thời đại kinh tế tri thức. CNTT đã giành được những bước

phát triển cao tốc liên tục chưa từng có trong lịch sử loài người, thay đổi

phương thức và năng lực khai thác lợi dụng tài nguyên thông tin của xã hội

loài người. CNTT đã trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy sự tăng trưởng của

kinh tế, nâng cao cơ hội việc làm. CNTT đã mang lại ảnh hưởng sâu sắc đối

với phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, và tạo nên những quan tâm phổ biến

của các nước trên thế giới. Các nước phát triển và đang phát triển đều hết sức

coi trọng tiến trình thông tin hoá, coi việc tăng nhanh thúc đẩy tiến trình thông

tin hoá là nhiệm vụ chiến lược xuyên thế kỷ đối với phát triển kinh tế và xã

hội. Để phát triển công nghiệp CNTT trở thành ngành kinh tế mũi nhọn phải

chú trọng phát tiển nguồn nhân lực.

Bộ trưởng bộ Bưu chính Viễn thông được Chính phủ phê duyệt quy

hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 đã từng nói: "Muốn

phát triển được nguồn nhân lực thật tốt thì chúng ta phải tận dụng, phát huy

được lợi thế sức trẻ của dân số để đẩy tốc độ phát triển CNTT đi nhanh hơn,

phù hợp với tiềm năng cũng như phù hợp với yêu cầu của công nghiệp hóa -

hiện đại hóa". [28, tr.1].

Hiện nay nguồn nhân lực CNTT của ta vẫn còn yếu và thiếu. Thực tế

vấn đề đào tạo kỹ sư CNTT ở các trường đại học được coi là nguồn nhân lực

cao cấp vẫn chưa đạt yêu cầu. Tiến sĩ Mai Liêm Trực đã từng nhận xét: "Nói

là đào tạo nhân lực cao cấp, nhưng thực tế chúng ta mới đào tạo ở mức đại trà.

Kỹ sư CNTT ra làm gì liên quan đến CNTT cũng được, nhưng về chuyên

môn thì chưa đủ chất lượng so với nhu cầu về nguồn nhân lực cao cấp"

[27, tr.1]. Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông- Vũ Đức Đạm lại hướng mối

quan tâm đến nguồn nhân lực dưới đại học: "Nguồn nhân lực cũng chia ra làm

nhiều cấp, những người viết mã (coding) có thể chỉ cần đào tạo từ các trung

tâm dạy nghề chuyên sâu, đây mới là nhóm nhân lực chiếm số đông, bên cạnh

nguồn nhân lực cao cấp." [27, tr.1]

Thứ trưởng cũng cho rằng : "Chất lượng cũng quan trọng, nhưng trước

mắt là số lượng! Chúng ta đang thiếu nguồn nhân lực cao cấp, nhưng càng

thiếu hơn những công nhân CNTT” [27, tr.1] và có thể giải quyết vấn đề thiếu

hụt nhân lực bậc trung trong ngành CNTT bằng các trung tâm đào tạo nghề

chuyên sâu.

Theo ý kiến của một số lãnh đạo ngành Công nghệ thông tin và Truyền

thông đều cho rằng để giải quyết vấn đề nguồn nhân lực CNTT “cần thống

nhất tập trung vào việc xã hội hoá công tác đào tạo, tập trung bù đắp sự thiếu

hụt nguồn nhân lực dưới đại học, và đổi mới về lâu dài tư duy đào tạo nhân

lực cao cấp. Đương nhiên, quá trình mở bung khâu đào tạo, sẽ kéo theo việc

trước hết phải sớm ban hành các quy chuẩn chất lượng, cũng như đòi hỏi có

những thay đổi về cơ chế. Được như vậy, với một dân số trẻ và khả năng tiếp

cận công nghệ nhanh chóng, tiềm năng nguồn nhân lực CNTT Việt Nam sẽ

có bước đột phá. “ [27, tr.2]

Thực tế về quá trình đào tạo CNTT những năm qua ở nước ta như sau:

-Đào tạo CNTT bậc cao: gồm các cơ sở đào tạo chính qui là các khoa

chuyên ngành CNTT của các trường đại học, cao đẳng, ngoài ra còn có các cơ

sở đào tạo phi chính qui: một số trung tâm đào tạo được triển khai tại các học

viện, trường đại học trọng điểm, một số trung tâm đào tạo quốc tế.

-Đào tạo CNTT ứng dụng cho các chuyên ngành, đặc biệt là khối

ngành tự nhiên và kỹ thuật và một phần các ngành khoa học xã hội đã được

triển khai rộng rãi và có những bước tiến đáng kể trong mọi ngành nghề.

Chức năng đào tạo này do các đơn vị chuyên ngành trong các trường đại học,

cao đẳng và một phần do các trung tâm ngoài.

-Đào tạo phổ cập: Các trung tâm CNTT của các địa phương đã phát

huy được hiệu quả tích cực trong công tác đào tạo, phổ cập công nghệ thông

tin cho các cán bộ quản lý, công chức, viên chức tại địa phương, phổ cập

CNTT cho nhân dân tại các địa phương, đáp ứng một phần nhu cầu xã hội về

CNTT.

Như vậy có thể kết luận nguồn nhân lực CNTT ở nước ta rất đa dạng và

có nhiều cấp bậc, trong đó hệ thống đào tạo phi chính qui đóng một vai trò

không nhỏ trong việc góp phần đào tạo nguồn nhân lực CNTT, góp phần

nâng tầm tri thức của con người VN trong thời đại toàn cầu hóa.

1.4. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.4.1. Quản lý

Quản lý là một từ rất thường gặp và hay được sử dụng. Có nhiều quan

niệm khác nhau về quản lý:

Trong lý thuyết quản trị, theo Henri Fayol, một nhà lý luận quản lý

kinh tế: ” Quản lý là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức, ra lệnh , điều phối và

kiểm soát” [24, tr.1], theo Peter Drucker, một nhà quản trị học nổi tiếng thế

giới: “Quản lý là một chức năng của xã hội chuyên trách đảm bảo các nguồn

lực được sử dụng hiệu quả.” [24, tr.1]

Một số quan niệm khác:

-“Quản lý là những hoạt động có định hướng , có kế hoạch của chủ thể

quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt

mục đích nhất định” [22, tr.130].

-“Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu

của từng cá nhân biến thành mục tiêu của toàn xã hội” [14, tr.15]

-“Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ

chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động “[18, tr.15]

Từ những quan điểm trên có thể nói: Quản lý là sự tác động có hướng

đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được những kết quả

cao nhất với mục tiêu đã định. Hoạt động quản lý chỉ có khi có hoạt động của

con người theo tổ chức, cộng đồng , từ đó đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối

hợp, phân công lao động và xuất hiện vai trò quản lý.

1.4.2. Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý. Khái niệm quản lý giáo dục

có nhiều cấp độ. Tuỳ theo cấp độ sẽ có khái niệm khác nhau.

Theo tác giả Trần Kiểm, ở cấp vĩ mô:

“-Quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức có mục đích,

có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) cúa chủ thể quản lý đến tất cả các mắc

xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục của nhà trường)

nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào

tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.

-Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục , có tổ chức, có hướng đích

của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trội của hệ thống

nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm

sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động.

-Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ

thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát... một

cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ

cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”

[13, tr.36]

Ở cấp vi mô:

”-Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý

thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý

đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và

các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượntg

và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.

-Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục thực chất là những tác động

của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo

viên và học sinh với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình

thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của

nhà trường” [13, tr.37].

Quản lý giáo dục có những đặc trưng riêng:

-Quản lý giáo dục là loại quản lý nhà nước. Các hoạt động giáo dục

được thực hiện theo pháp luật nhà nước, theo đường lối lãnh đạo của Đảng.

-Quản lý giáo dục là loại quản lý con người, có nghĩa là “việc đào tạo

con người, dạy cho họ thực hiện vai trò xã hội, những chức năng, nghĩa vụ,

trách nhiệm của mình, phát triển nghề nghiệp của họ để họ làm tròn trách

nhiệm xã hội của mình, vì sự phát triển xã hội và phát triển bản thân” [13,

tr.42]

-Quản lý giáo dục là loại quản lý xã hội “do con người thực hiện để tổ

chức và điều chỉnh hành vi của những con người khác nhau nhằm phối hợp

các nỗ lực riêng lẻ của từng người, từng nhóm người độc lập với nhau thành

nỗ lực chung, hướng vào việc biến đổi thực trạng giáo dục và vì lợi ích của sự

phát triển giáo dục và của người được giáo dục.” [13, tr.44]

Vậy có thể nói : Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có

hướng đích, có kế hoạch, phù hợp với pháp luật nhà nước trong lĩnh vực giáo

dục của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

1.4.3. Quản lý hoạt động dạy học

 Hoạt động dạy học:

Hoạt động dạy học là hoạt động đặc trưng của bất kỳ một đơn vị dạy

học nào, mọi hoạt động khác của đơn vị nhằm mục đích hỗ trợ, góp phần

nâng cao chất lượng cho hoạt động dạy học. Hoạt động dạy học gồm hai quá

trình: hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Hai hoạt động này

gắn kết mật thiết với nhau.

Hoạt động dạy là hoạt động của người thầy nhằm lãnh đạo, tổ chức và

điều khiển quá trình nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong các lĩnh vực nhất

định. Người thầy giáo phải hoạt động với ba tư cách: nhà sư phạm, nhà khoa

học, nhà hoạt động chính trị xã hội.

Hoạt động học là hoạt động của người học, là sự tự giác và tích cực

huy động mọi chức năng tâm lý của từ cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng

tượng, tư duy, ngôn ngữ đến tình cảm, ý chí , hành động thực tiễn xã hội và

nghiên cứu khoa học.

Theo tác giả Lê Khánh Bằng: “Dạy học là một quá trình truyền thụ và

lĩnh hội tri thức và phương pháp nhận thức của con người.

Dạy học là quá trình biến quá trình tự đào tạo của người thầy thành quá

trình tự đào tạo của học sinh.

Dạy học là quá trình điều khiển và tự điều khiển, là một quá trình thống

nhất biện chứng giữa sự chỉ đạo, bị chỉ đạo và tự chỉ đạo.

Quá trình dạy học là quá trình truyền thông tin, nhận, xử lý, và vận dụng

thông tin” [1, 14]

Dạy và học phải thống nhất biện chứng với nhau vì kết quả của loại

hoạt động này phụ thuộc vào loại hoạt động kia. Trong quá trình dạy học

người thầy đóng vai trò chủ thể tác động đến người học bằng những biện

pháp sư phạm và người học nhận sự tác động của người thầy. bằng sự tự

giác, chủ động.

 Quản lý hoạt động dạy học

Quản lý hoạt động dạy học là quản lý các thành tố của quá trình dạy

học làm cho quá trình đó được vận hành một cách có tổ chức, có kế hoạch và

được chỉ đạo, kiểm tra, giám sát thường xuyên nhằm từng bước hướng về

thực hiện mục tiêu nhiệm vụ dạy học đã đề ra.

Quản lý hoạt động dạy học là quản lý hoạt động dạy của người thầy và

quản lý hoạt động học của người học, tạo điều kiện và tác động để họ sử dụng

có hiệu quả phương pháp, phương tiện dạy học nhằm thực hiện nội dung dạy

học theo mục tiêu đã đề ra.

Quản lý hoạt động dạy học là một khoa học quản lý, do vậy nó mang

tính đặc trưng của khoa học quản lý.

Quản lý hoạt động dạy học còn mang tính hành chính sư phạm, quản lý

theo pháp luật, những qui định qui chế trong giáo dục.

Hoạt động dạy học chịu sự chi phối trực tiếp các điều kiện kinh tế - xã

hội và có mối quan hệ thường xuyên với đời sống xã hội. Do vậy quản lý hoạt

động dạy học cũng mang tính xã hội .

1.4.4. Quản lý hoạt động giảng dạy tin học

 Khái niệm Tin học, Công nghệ thông tin:

“Tin học là một ngành khoa học có mục tiêu phát triển và sử dụng

máy tính điện tử để nghiên cứu cấu trúc, tính chất thông tin, phương pháp thu

thập, lưu trữ, tìm kiếm, biến đổi, truyền thông tin và ứng dụng vào các lĩnh

vực khác nhau của đời sống xã hội” [7,tr.2]

“Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và

công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xứ 1ý thông tin. Theo quan

niệm này thì công nghệ thông tin là hệ thống các phương pháp khoa học, công

nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền

thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai

thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động

kinh tế, xã hội, văn hoá... của con người”. [31, tr.1]

 Quản lý hoạt động giảng dạy tin học:

Quản lý hoạt động giảng dạy tin học là những tác động của chủ thể

quản lý vào quá trình giảng dạy tin học nhằm đạt mục tiêu của chương trình

đào tạo.

1.5. Nội dung quản lý hoạt động giảng dạy tin học

1.5.1. Quản lý chương trình đào tạo, giáo trình

 Chương trình đào tạo

Theo tác giả Đỗ Thiết Thạch: “Chương trình đào tạo bao gồm những

lĩnh vực nghiên cứu (các môn học, các nội dung) được tổ chức, đươc cấu trúc

bao gồm những hoạt động học tập khác nhau. Những lĩnh vực và hoạt động

này cần thiết cho tất cả người học trong suốt quá trình học tập .

Chường trình đào tạo là những kế hoạch lập ra cho việc hướng dẫn học

tập, thông thường được trình bày bằng nhiều cấp độ tổng quát và được thực

hiện những kế hoạch này trong lớp học

Chương trình đào tạo của một ngành học (bao gồm chương trình khung

và chương trình chi tiết) là văn bản qui định ngắn gọn số lượng, thời lượng và

khối kiến thức, kỹ năng , phẩm chất thông qua các môn học nhằm đạt được

mục tiêu đào tạo đã xác định.

Chương trình đào tạo là tài liệu mô tả mục tiêu, nội dung và cách tổ

chức dạy học” [19, tr.14]

Có thể nói chương trình đào tạo là một bản thiết kế tổng hợp , bao quát

tất cả các hoạt động dạy học trong một khoảng thời gian nhất định. Chương

trình đào tạo được xây dựng trên sơ sở mục tiêu đào tạo, đó là một hệ thống

những yêu cầu của xã hội đối với sự phát triển những kiến thức, kỹ năng cần

có của người học sau từng giai đoạn học tập, xác định năng lực mà người học

phải có được sau khi hoàn tất chương trình.

Quản lý chương trình đào tạo là quản lý việc xây dựng và thực hiện nội

dung chương trình theo mục tiêu đặt ra, bao hàm cả quản lý nội dung truyền

đạt của thầy và cách tổ chức cho người học lĩnh hội nội dung. Việc xây dựng

và thực hiện chương trình có các yêu cầu cơ bản về tỉ lệ khối kiến thức, tính

hợp lý của cấu trúc chương trình, tính khoa học, tính thực tiễn của nội dung,

tính cân đối giữa lý thuyết và thực hành, giữa cơ bản và chuyên sâu, giữa

truyền thống và hiện đại.

 Giáo trình

Giáo trình là tài liệu trình bày dữ kiện khoa học liên quan tới môn học,

phù hợp với chương trình đào tạo.

Nội dung của giáo trình phải đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tính

sư phạm, tính phát triển.

Tính khoa học đòi hỏi kiến thức được trình bày phải đầy đủ, chính xác,

hệ thống, Nội dung phải chứa đựng những kiến thức về tin học được thừa

nhận.

Tính thực tiễn yêu cầu kiến thức phải phản ảnh những xu hướng mới,

cập nhật những thông tin, kiến thức mới về tin học. Những kiến thức này sau

khi được người học lĩnh hội sẽ đáp ứng nhu cầu người học đồng thời những

kiến thức này có thể áp dụng vào đời sống thực tế .

Tính sư phạm đòi hỏi phải trình bày những kiến thức cơ bản, tinh giản,

hệ thống. Khối lượng kiến thức đưa vào mỗi chương phải phù hợp với thời

gian qui đinh, tránh quá tải hoặc ngược lại. Cách trình bày kiến thức cần phù

hợp với nhu cầu và trình độ người học, không quá khó nhưng không quá đơn

giản.

Tính phát triển của giáo trình thể hiện ở chỗ những vấn đề đặt ra hướng

người học phải suy ngẫm, tìm tòi, sáng tạo để phát triển kiến thức.

Về hình thức trình bày giáo trình phải đảm bảo các yêu cầu sau:

-Bố cục phải hợp lý, phân chia rành mạch các mục, đoạn . Các câu,

đoạn văn phải có sự nối tiếp một cách logic.

-Diễn đạt mạch lạc, ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, nhất quán, đúng

chính tả và ngữ pháp.

-Các hình ảnh, sơ đồ, bảng biểu phải rõ ràng, dễ đọc.

-Được in ấn rõ ràng, đẹp.

Quản lý giáo trình là quản lý cả nội dung và hình thức của giáo trình,

bắt đầu từ khâu lên kế hoạch viết giáo trình cho đến khi hoàn thành xong việc

in ấn, hiệu chỉnh giáo trình, sao cho giáo trình truyền tải toàn bộ nội dung của

chương trình đào tạo và đảm bảo cho người học thuận tiện dễ dàng trong việc

sử dụng.

1.5.2.Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên

1.5.2.1.Quản lý việc tuyển chọn giảng viên

Chất lượng của hệ thống giáo dục không thể vượt quá chất lượng của

giảng viên đang giảng dạy trong hệ thống. Chất lượng giảng viên ảnh hưởng

trực tiếp đến thành quả học tập của người học. Đối với mỗi nhà trường, mỗi

đơn vị dạy học việc tuyển chọn giảng viên là việc làm cần thiết và quan

trọng.

Các giáo sư công tác xã hội luôn cho rằng: “Công cụ lao động của anh

thợ mộc là cái búa, của anh thợ nề là cái bay, còn của nhân viên công tác xã

hội (trong đó có giảng viên) ngoài trí thông minh, sự hiểu biết, còn phải có tư

chất, thái độ cần thiết để làm việc với con người” [25, tr.1]. Theo các chuyên

gia về giáo dục, việc tuyển chọn giảng viên giống như tuyển chọn diễn viên.

Ngoài yêu cầu về trình độ học vấn, chỉ số IQ… họ còn cần phải có những

phẩm chất đặc biệt. Một người diễn viên cần phải có những năng khiếu bẩm

sinh về diễn xuất, về ngoại hình… còn một giảng viên thì ngoài trí thông

minh, sự hiểu biết sâu rộng về kiến thức cần phải có lòng yêu nghề, tính kiên

trì, sự hiểu biết về tâm lý lứa tuổi, khả năng ứng xử khi gặp tình huống… Để

các giảng viên có đầy đủ những phẩm chất này, khâu tuyển chọn giảng viên

phải có những qui định cụ thể.

Một trong những hình thức phổ biến để tuyển chọn giảng viên có đủ

năng lực, trình độ phục vụ cho việc giảng dạy là xét tuyển. Quá trình xét

tuyển bao gồm: xác định vị trí, công việc cần tuyển; mô tả hoàn thiện nội

dung công việc; thu hút những ứng cử viên cho phù hợp với vị trí công việc;

đánh giá và lựa chọn những ứng cử viên thích hợp nhất, trên nguyên tắc:

- Nguyên tắc bình đẳng: Việc tổ chức tuyển dụng phải bảo đảm dân

chủ, công khai, công bằng. Mọi công dân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy

định đều được tham gia tuyển dụng

- Nguyên tắc xứng đáng: Tức là thông qua cạnh tranh công khai

giữa các ứng viên để xét tuyển được những cá nhân giỏi, đáp ứng tốt nhất

yêu cầu, vị trí công tác. Thực hiện nguyên tắc này nhằm loại trừ thái

độ thiên vị, ảnh hưởng tình cảm cá nhân và xếp hạng ứng viên theo thứ tự

xứng đáng để tuyển dụng được những người giỏi nhất. Việc đánh giá năng

lực ứng viên được thực hiện qua hội đồng xét tuyển, dựa trên các tiêu chuẩn

về nhà giáo đã ghi trong Luật giáo dục “phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; đạt

trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khỏe theo yêu

cầu nghề nghiệp; lý lịch bản thân rõ ràng” [6, tr.56]

Quản lý tốt việc tuyển chọn giảng viên thì Trung tâm sẽ có nhiều giảng

viên giỏi về chuyên môn, tốt về phẩm chất đạo đức của người thầy, chất

lượng đào tạo sẽ được nâng lên.

1.5.2.2.Quản lý việc phân công giảng dạy

Phân công giảng dạy cho giảng viên thực chất là công tác tổ chức của

cán bộ quản lý thấu đáo chỗ mạnh chỗ yếu, sở trường, hoàn cảnh của từng

giảng viên để sử dụng họ, tạo niềm tin cho họ trong nghề nghiệp. Mỗi giảng

viên sẽ cố gắng thể hiện mình trong tập thể sư phạm. Trong thực tế, trình độ

giảng viên không đồng đều, vì vậy người quản lý phải cân nhắc kỹ càng khi

phân công giảng dạy cho giảng viên.

Phân công giảng dạy là một công việc hết sức quan trọng. Nếu phân

công sử dụng đúng sẽ mang lại kết quả thực sự, ngược lại sẽ phát sinh nhiều

vấn đề phức tạp về tư tưởng, tình cảm và sẽ ảnh hưởng không tốt đến các hoạt

động của đơn vị. Việc phân công giảng dạy phải đảm bảo yêu cầu: phù hợp

với trình độ đào tạo của giảng viên, phù hợp với hoàn cảnh, đáp ứng yêu cầu

đảm bảo chất lượng.

1.5.2.3.Quản lý trình độ chuyên môn giảng viên

Chất lượng giáo dục có hiệu quả hay không phụ thuộc phần lớn vào

trình độ chuyên môn của giảng viên. Mặc dầu tất cả các giảng viên được

tuyển chọn đều đạt chuẩn về bằng cấp, nhưng năng lực thực sự của mỗi người

một khác. Vì các môn học giảng dạy tại Trung tâm ngoài đào tạo phổ cập Tin

học trình độ A, B còn có những chuyên đề riêng, giảng dạy những môn này

đòi hỏi giảng viên phải có quá trình làm việc thực tế hoặc nghiên cứu sâu,

việc giảng dạy có chất lượng hay không tùy thuộc vào kiến thức, kinh

nghiệm và khả năng truyền đạt của giảng viên. Vì vậy việc đánh giá chuyên

môn dựa vào bằng cấp và qua vài buổi phỏng vấn xét tuyển là cần thiết nhưng

chưa phải là đủ. Do đó người quản lý cần phải nắm vững trình độ chuyên môn

của giảng viên qua thực tiễn bằng nhiều cách: qua dự giờ, qua phản ánh của

học viên, đồng nghiệp v.v…

1.5.2.4. Quản lý phương pháp giảng dạy

Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích

nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định. Phương pháp có một số

đặc điểm cơ bản sau:

Phương pháp có tính mục đích. Đây là dấu hiệu cơ bản của phương

pháp. Mục đích nào, phương pháp nấy.

Phương pháp có tính cấu trúc. Trên con đường đi tới mục đích con

người phải thực hiện một loạt những thao tác được sắp xếp theo nội dung

trình tự logic, có hệ thống, có kế hoạch.

Phương pháp gắn liền với nội dung. Phương pháp thay đổi tuỳ theo đối

tượng nghiên cứu. Nội dung qui định phương pháp, nhưng bản thân phương

pháp có tác dụng trở lại nội dung.

Phương pháp giảng dạy là cách thức giảng viên trình bày tri thức, tổ

chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của người học nhằm nhằm

đạt được mục tiêu dạy học. Theo quan điểm của công nghệ dạy học, có thể

nói phương pháp giảng dạy là phương pháp thiết kế và thi công quá trình dạy

học của người thầy.

Không có một phương pháp nào được cho là lý tưởng, mỗi phương

pháp đều có ưu điểm riêng của nó, tuỳ theo mục tiêu, bản chất của vấn đề cần

trao đổi, thành phần lớp học, công cụ dạy học mà sử dụng phương pháp nào

cho hợp lý.

Một phương pháp được gọi là tích cực nếu hội đủ các yếu tố sau:

-Thể hiện được vai trò của nguồn thông tin.

-Thể hiện được động cơ của người học khi bắt đầu môn học.

-Thể hiện rõ bản chất và mức độ kiến thức cần huy động.

-Thể hiện vai trò người dạy, người học, vai trò các mối tương tác trong

quá trình học.

-Thể hiện được kết quả mong đợi của người học.

Quản lý phương pháp giảng dạy là quản lý việc thực hiện các phương

pháp giảng dạy của trong giờ lên lớp, tạo điều kiện, hướng dẫn cho giảng viên

áp dụng các phương pháp tích cực phù hợp với trang thiết bị của cơ sở dạy

học để đạt hiệu quả cao nhất trong việc dạy học.

Trong lĩnh vực Tin học thường dùng là phương pháp trình bày và nắm

vững thông tin mới kết hợp với phương pháp rèn luyện kỹ năng kỹ xảo, bao

gồm:

-Giảng dạy bằng máy vi tính qua chương trình Netop School

-Giảng dạy bằng máy vi tính qua projector

-Giảng dạy bằng máy chiếu overhead

-Giảng dạy đơn giản bằng bảng và viết

-Hướng dẫn thao tác trực tiếp trong phòng thực hành

Sử dụng phương pháp nào còn tuỳ thuộc vào trình độ sử dụng thiết bị

của giảng viên và điều kiện máy móc được trang bị.

1.5.2.5. Quản lý việc thực hiện nội quy Trung tâm Tin học của

giảng viên

Bất kỳ một giảng viên nào khi tham gia giảng dạy tại một cở sở dạy

học nào đều phải thực hiện nội quy nơi đó. Với TTTH cũng vậy, ngoài trình

độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy …đánh giá một giảng viên còn tùy

thuộc vào mức độ thực hiện nội quy Trung tâm, gồm có các nội dung sau:

 Thực hiện chương trình dạy học:

Chương trình dạy học quy định một cách cụ thể: vị trí, mục đích môn

học, phạm vi và hệ thống nội dung môn học, thời lượng môn học. Thực hiện

chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch theo mục tiêu đào tạo của đơn vị

dạy học. Về nguyên tắc, chương trình là pháp lệnh, không được tuỳ tiện thay

đổi, thêm bớt, hay làm sai lệch nội dung chương trình.

Việc tổ chức kiểm tra giảng viên thực hiện chương trình hướng vào

những vấn đề chủ yếu: nội dung kiến thức có nằm trong chương trình hay

không, giảng viên có truyền đạt hết nội dung của chương trình hay không. Có

thể nói, nếu chương trình dạy học là bản thiết kế của một công trình thì hoạt

động dạy của thầy là sự thi công mà bộ phận quản lý là tổng công trình sư

giám sát thi công. Người quản lý cần phải:

-Nắm được mục đích yêu cầu, nội dung, phương pháp và hình thức dạy

học đặc trưng của môn học.

-Theo dõi chỉ đạo thực hiện chương trình

-Tổ chức kiểm tra định kỳ, đột xuất thông qua sổ ghi đầu bài, sổ báo

giảng, …từ đó có kế hoạch điều chỉnh những sai sót, đảm bảo đúng thời gian

qui định.

-Có kế hoạch chuẩn bị, bổ sung các phương tiện dạy học nhằm đáp ứng

yêu cầu giảng dạy mà chương trình đã qui định.

 Thực hiện các yêu cầu của hồ sơ giảng viên:

Hồ sơ giảng viên gồm có chương trình chi tiết, giáo trình, bộ bài tập,

lịch giảng dạy, bảng điểm danh, sổ tay giảng viên. Mỗi giảng viên khi nhận

lớp đều được nhận một lịch phân phối chương trình cho từng buổi dạy do

Trung tâm cấp phát, lịch này đã dược Ban giám đốc cùng với tổ chuyên môn

soạn chi tiết và giảng viên cứ theo đó mà thực hiện nhằm hoàn thành chương

trình của môn học, và những gì thực hiện giảng viên ghi trong sổ tay giảng

viên. Hồ sơ giảng viên nhằm để giảng viên theo dõi tiến trình giảng dạy của

chính mình và theo dõi tình hình học tập của học viên.

 Hướng dẫn học viên trong việc sử dụng máy:

Bất cứ một đơn vị nào khi sử dụng công cụ lao động đều có những qui

định riêng. Với phòng máy vi tính việc này càng cần thiết vì tất cả học viên

đều cần đến công cụ lao động là máy vi tính. Người giảng viên trong buổi học

đầu tiên cần phải hướng dẫn kỹ lưỡng học viên trong việc sử dụng máy theo

đúng qui trình vận hành.

 Thực hiện giờ giấc đi về:

Giờ giấc đi về là một qui định chặt chẽ của Trung tâm, việc thực hiện

đúng giờ thể hiện tác phong công nghiệp của giảng viên và sự tôn trọng người

học .

1.5.3. Quản lý học viên

Hoạt động dạy của người thầy bao giờ cũng gắn liền với hoạt động học

của người học. Chất lượng giảng dạy có tốt hay không, có mang lại hiệu quả

hay không ngoài việc dạy của thầy còn phụ thuộc việc học của trò.

Học viên Trung tâm Tin học là một dạng học sinh đặc biệt, không phân

biệt độ tuổi, trình độ văn hoá, vị trí trong xã hội, nghĩa là bất cứ ai có thiện

chí, nhu cầu học tin học và đóng học phí đầy đủ. Vì đa dạng , thoải mái ở đầu

vào như vậy nên việc học hoàn toàn tự giác, học viên học theo nhu cầu kiến

thức cần tiếp thu.

Quản lý học viên ở Trung tâm là quản lý ý thức học tập, chất lượng học

tập và khả năng ứng dụng kiến thức tin học vào thực tế. Qua đó, CBQL và

giảng viên nắm được tâm tư, nguyện vọng của học viên để khắc phục những

khiếm khuyết của mình và cải tiến cho quá trình dạy học tốt hơn.

1.5.4. Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập học viên

Trong quá trình dạy học, việc kiểm tra đánh giá là thước đo kiến thức,

kỹ năng mà học viên lĩnh hội được sau một quá trình học tập. Nó có tác dụng

định hướng, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động quản lý giáo dục. Thường ở Trung

tâm chỉ có một lần kiểm tra duy nhất vào cuối mỗi khoá học, nếu khoá học

bao gồm nhiều chuyên đề thì có những kỳ kiểm tra cho từng chuyên đề. Gồm

có kiểm tra lý thuyết và thực hành. Qua kết quả của học viên từng lớp, giảng

viên cũng rút ra những ưu khuyết điểm của mình trong việc dạy học và Ban

giám đốc Trung tâm có cơ sở để đánh giá hiệu quả giảng dạy của từng giảng

viên .

Tại TTTH việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập hoàn toàn do CBQL

tổ chức, phân công và giám sát, theo ngân hàng đề thi được biên soạn sẵn cho

từng môn học và bổ sung thường xuyên. Việc kiểm tra đánh giá hoàn toàn

không phụ thuộc vào giảng viên đứng lớp. Giảng viên được bố trí coi thi và

chấm bài chéo. Việc kiểm tra đánh giá hoàn toàn khách quan.

1.5.5. Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị máy móc

Quá trình dạy học được cấu thành bởi nhiều thành tố có liên quan chặt

chẽ và tương tác với nhau. Các thành tố đó là mục tiêu, nội dung, phương

pháp, giảng viên, học viên và cơ sở vật chất. Mối quan hệ giữa các thành tố

này được hình thành trong quá trình dạy học, trong đó cơ sở vật chất là một

thành tố không thể thiếu được.

Cơ sở vật chất là công cụ lao động của người thầy và là phương tiện

học tập của học viên. Cơ sở vật chất, thiết bị máy móc tốt sẽ góp phần nâng

cao chất lượng dạy học, giúp giảng viên tổ chức điều khiển tối ưu quá trình

nhận thức học tập của học viên.

Cơ cở vật chất, thiết bị máy móc cần thiết cho việc đào tạo Tin học bao

gồm phòng máy vi tính, phần mềm giảng dạy, hệ thống mạng, hệ thống âm

thanh, hệ thống ánh sáng, các thiết bị hỗ trợ: projector, máy overhead…

Việc quản lý CSVC, thiết bị máy móc bao gồm các nội dung cơ bản

sau:

-Việc sử dụng và bảo quản bảo trì hệ thống máy được thực hiện theo

đúng qui trình của nhà sản xuất.

-Có kế hoạch xây dựng và bổ sung thường xuyên để hệ thống trang

thiết bị máy móc luôn hoàn chỉnh.

-Quản lý việc thực hiện nội quy phòng máy

Nội quy phòng máy là những qui định cho học viên trong việc sử dụng

máy có hiệu quả, tránh hư hỏng, và đề phòng mất mát xảy ra. Trong buổi học

đầu tiên học viên được phổ biến tất cả những qui định này, giảng viên phải

thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở và giám sát trong suốt từng buổi học. CBQL

cơ sở có nhiệm vụ nhắc nhở giảng viên trong việc phổ biến nội qui phòng

máy cho học viên, đồng thời CBQL cơ sở cũng phải thường xuyên đi kiểm tra

các phòng máy xem thực tế học viên sử dụng máy như thế nào.

Tóm lại, quản lý là một hiện tượng xã hội. Ngày nay, quản lý là nhân tố

hàng đầu của một xã hội có tổ chức. Với các cơ sở dạy học, việc quản lý hoạt

động giảng dạy là vô cùng quan trọng, nó là động lực để nâng cao chất lượng

giảng dạy, là nhân tố để phát triển sự nghiệp giáo dục. Riêng đối với lĩnh vực

CNTT, trong phạm vi một trung tâm đào tạo, việc quản lý ngoài những nội

dung chung của quản lý còn có những nội dung riêng của đặc thù một trung

tâm tin học. Nghiên cứu cơ sở l ý luận về quản lý hoạt động giảng dạy ở trung

tâm tin học tập trung vào các vấn đề: quản l ý chương trình giáo trình, quản l ý

hoạt động giảng dạy của giảng viên, quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả

học tập của học viên, quản lý cơ sở vật chất…Dựa vào cơ sở l ý luận này, tác

giả tiến hành khảo sát thực trạng quản l ý hoạt động giảng dạy ở TTTH trường

ĐHCN TP.HCM, kết quả thể hiện ở chương 2.

Chương 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY

Ở TRUNG TÂM TIN HỌC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM

2.1. Vài nét về trường Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh

Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHCN

TP.HCM), tên tiếng Anh là HOCHIMINH UNIVERSITY OF INDUSTRY

(tên viết tắt là HUI) là một trong những cơ sở giáo dục Đại học và Đào tạo

nghề tại Việt nam. Website:- www.hui.edu.vn

Hiện nay, trường có 6 cơ sở đào tạo, hàng năm cung cấp các dịch vụ đa

ngành, đa nghề, đa bậc học cho hàng chục ngàn sinh viên học sinh từ khắp

mọi miền đất đất nước.

Cơ sở 1: 12 Nguyễn Văn Bảo, P.4, Q. Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh

Cơ sở 2: 39 CMT8, P. Quyết Thắng, Tp.Biên Hòa, T. Đồng Nai

Cơ sở 3: Xã Tân Bình, TP. Thái Bình, Tỉnh Thái Bình

Cơ sở 4: 38 Nguyễn Du, P. Lê Hồng Phong, TP. Quảng Ngãi

Cơ sở 5: 26 Nguyễn Thái Học, TP. Vinh, Tỉnh Nghệ An

Cơ sở 6: Xã Quảng Tâm, Huyện Quảng Xương, Tỉnh Thanh Hóa

 Bậc đào tạo:

Hàng năm, nhà trường cung cấp các dịch vụ đào tạo chính khóa theo 3

bậc học với chương trình mang tính liên thông, cho phép học viên có cơ hội

học lên những bậc học cao hơn.

Trung cấp: Thời gian đào tạo 2 năm đối với học sinh đạt tiêu chuẩn

đầu vào đã tốt nghiệp THPT và 4 năm đối với học sinh đầu vào tốt nghiệp

THCS, tốt nghiệp cấp bằng Trung cấp, có thể học liên thông lên Cao đẳng,

thời gian đào tạo là 1,5 năm hoặc học liên thông lên Đại học thời gian đào tạo

là 3 năm.

Cao đẳng: thời gian đào tạo 3 năm, tốt nghiệp cấp bằng Cử nhân Cao

đẳng, những sinh viên tốt nghiệp đạt trình độ khá giỏi trở lên sẽ được thi liên

thông lên Đại học, thời gian đào tạo là 1,5 năm.

Đại học: thời gian đào tạo 4 năm, tốt nghiệp cấp bằng Kỹ sư Công

nghệ và Cử nhân Đại học đối với các ngành kinh tế và ngoại ngữ.

 Ngành đào tạo :

1. Công nghệ thông tin 13. Kỹ thuật Môi trường.

2. Công nghệ Điện tử 14. Công nghệ May.

3. Công nghệ Điện 15. Công nghệ T.Kế Thời trang.

16. Kế toán 4. Công nghệ Nhiệt - Lạnh

17. Tài chính – Ngân hàng 5. Công nghệ Cơ - Điện tử

18. Quản trị Marketing. 6. Công nghệ Cơ khí

19. Quản trị Kinh doanh. 7. Công nghệ Cơ khí Động lực

20. Kinh doanh Quốc tế. 8. Công nghệ hóa học

21. Kinh doanh Du lịch. 9. Công nghệ Hóa dầu

22. Tiếng Anh. 10. Máy và Thiết bị Hóa chất.

23. Công nghệ hàn. 11. Công nghệ Thực phẩm.

12. Công nghệ Sinh học.

 Hợp tác quốc tế

Đối tác của nhà trường đến từ các quốc gia có nền công nghệ cao, giàu

truyền thống đào tạo của châu Âu, Bắc Mỹ và các nước trong khu vực. Hàng

năm, nhà trường cung cấp các chương trình đào tạo hiện đại ở các bậc Cao

đẳng, Đại học, sau Đại học, liên thông trong nước và quốc tế trong các lĩnh

vực Công nghệ thông tin, Quản trị kinh doanh, Kỹ thuật Điện, Điện tử, Cơ

khí, Kỹ thuật Môi trường và Công nghệ May thời trang...

 Đội ngũ giảng viên:

Trường ĐHCN TP.HCM hiện có đội ngũ giảng viên trên 1.000 người;

100% đạt trình độ đại học, 68% có trình độ từ sau đại học trở lên trong đó có

12 giáo sư, phó giáo sư, 95 tiến sỹ, NCS, trên 500 thạc sỹ và cao học và đội

ngũ giảng viên thỉnh giảng bao gồm những người có học hàm, học vị cao, có

nhiều kinh nghiệm giảng dạy tại các cơ sở đào tạo có tiếng tăm, thường xuyên

cộng tác với nhà trường.

 Học sinh sinh viên:

Trường hiện có 50.000 học sinh sinh viên đang theo học các bậc đào

tạo Đại học, Cao đẳng, Trung cấp 2 năm, Trung cấp 4 năm và các chương

trình hợp tác quốc tế.

 Cơ sở vật chất :

Với 320 phòng học lý thuyết và giảng đường rộng rãi thoáng mát, 16

xưởng thực hành với trang thiết bị hiện đại, trên 100 phòng thí nghiệm các

loại và 640 môn học bao gồm các bậc học được thiết kế và biên soạn chương

trình, giáo trình theo hướng liên thông, khu nội trú có sức chứa gần 5.000

người. Nhà ăn sinh viên được xây dựng hiện đại, rộng rãi, sinh viên, học sinh

có thể tự chọn món ăn cho vừa với sở thích và túi tiền theo phong cách tự

phục vụ nhằm hội nhập với lối sống hiện đại. Thư viện hiện có gần 120.000

đầu sách các loại. Nhà trường đã tin học hóa toàn bộ và sâu rộng mọi hoạt

động trong trường, HSSV có thể truy cập internet, sử dụng mạng để tìm kiến

các thông tin thư viện điện tử phục vụ học tập.

2.2. Vài nét về Trung tâm Tin học trường Đại học Công nghiệp TP.Hồ

Chí Minh

Trung tâm Tin học Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM được thành

lập theo quyết định số 541/QĐ.CN4 ngày 26 tháng 5 năm 2003 của Hiệu

Trưởng Trường Cao Đẳng Công nghiệp 4 nay là trường ĐHCN TP.HCM về

việc thành lập Trung tâm Tin học trực thuộc trường.

Trung tâm là đơn vị sự nghiệp thực hiện nhiệm vụ chuyên giảng dạy tin

học theo thông tư số 01/GD-ĐT ngày 03/01/1994 của Bộ Giáo dục và Đào

tạo về việc hướng dẫn tổ chức và hoạt động của các Trung tâm Đào tạo, bồi

dưỡng Tin học, hoạt động dưới sự lãnh đạo, quản lý về mặt tổ chức, chuyên

môn của trường ĐHCN TP.HCM, đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của Bộ

giáo dục và đào tạo. Trung tâm Tin học trường ĐHCN TP.HCM hoạt động

nhằm hướng tới hai mục tiêu chủ yếu là phục vụ yêu cầu học tập về tin học

của học sinh, sinh viên nhà trường và của xã hội, đồng thời tạo thêm nguồn

thu sự nghiệp để bổ sung kinh phí hoạt động của nhà trường.

 Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm:

- Tổ chức giảng dạy, thi và cấp chứng chỉ Tin học cấp độ A,B theo

chương trình đào tạo Tin học cấp độ A, B của Bộ Giáo dục và đào tạo

- Tổ chức giảng dạy, thi và cấp chứng nhận cho các đối tượng có nhu

cầu học tập từng phần phù hợp với nhu cầu xã hội như: mạng máy tính, thiết

kế đồ hoạ, thiết kế Web ...

- Ký kết các hợp đồng viết phần mềm tin học về quản lý nhân sự, quản

lý tài chính kế toán, quản lý đào tạo, …xây dựng trang web cho các cá nhân

và đơn vị có nhu cầu.

 Lực lượng giảng viên Trung tâm:

Giảng viên TTTH là những giảng viên CNTT của trường ĐHCN

TP.HCM và một số giảng viên CNTT của các trường khác được mời thỉnh

giảng khi có nhu cầu.

 Cơ sở vật chất của Trung tâm :

Trung tâm gồm có 4 cơ sở nằm trong các Cơ sở 1, 2, 3, 4 của trường

ĐHCN TP.HCM. Tài sản, thiết bị, công cụ, phương tiện làm việc và giảng

dạy được sử dụng từ tài sản của Trường ĐHCN TP.HCM như: các phòng học,

phòng máy vi tính, văn phòng Trung tâm,...

 Văn phòng chính:

Văn phòng Trung tâm được đặt trong khuôn viên cơ sở 1 của Trường

ĐHCN TP.HCM. Địa chỉ: số 12 Nguyễn Văn Bảo Gò vấp, TPHCM

2.3. Thực trạng đội ngũ Cán bộ quản lý, giảng viên, học viên Trung tâm

Tin học trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh

 Ban Quản lý Trung tâm:

Cơ sở 1: 3 CBQL, một giám đốc, 2 phó giám đốc, các CBQL cơ sở 1

kiêm quản lý tổng quát các cơ sở 2, 3, 4

Cơ sở 2, 3, 4 mỗi cơ sở một Tổ trưởng chuyên môn , các Tổ trưởng này

chịu trách nhiệm quản lý TTTH của cơ sở mình, chịu sự chỉ đạo và giám sát

từ Ban Giám đốc Trung tâm ở cơ sở 1, đồng thời còn chịu sự quản lý chung

của Trưởng Cơ sở.

Hiện tại, mỗi CBQL, ngoài công việc của TTTH, còn có nhiệm vụ

giảng dạy các lớp chính quy của nhà trường. Ban Giám đốc Trung tâm quản

lý cả 4 cơ sở, và các Tổ trưởng ngoài nhiệm vụ quản lý còn kiêm luôn nhiệm

vụ coi sóc các phòng máy như một nhân viên bảo trì.

 Giảng viên:

TTTH trường ĐHCN TP.HCM từ ngày mới thành lập (năm 2003) chỉ

có 5 giảng viên cơ hữu. Đội ngũ giảng viên từng bước phát triển về số lượng

và trình độ chuyên môn.

Hiện nay có 50 giảng viên cơ hữu thuộc 4 cơ sở (số lượng giảng viên

cơ hữu của trường ĐHCN TP.HCM về chuyên ngành CNTT là 79, nhưng

không phải ai cũng có nhu cầu giảng dạy ngoài giờ, số lượng giảng viên tham

gia giảng dạy thường xuyên tại Trung tâm chỉ có 50) và 30 giảng viên thỉnh

giảng được mời từ các đơn vị khác

Bảng 2.1. Đội ngũ giảng viên TTTH từng Cơ sở

Trình độ chuyên

Tuổi đời

Tổng số

Cơ sở

Giảng viên

môn CNTT

giảng viên

Giảng viên

Đại học

Từ Thạc

Nhỏ

Từ 30

cơ hữu

từng cơ sở

thỉnh

sĩ trở lên

hơn 30

trở

giảng

lên

24

14

45

15

46

60

1

36

2

1

4

1

4

5

2

3

2

0

4

1

5

5

3

3

2

1

9

1

9

10

4

8

30

16

62

18

64

80

50

Tổng cộng 4 cơ sở

Bảng trên cho thấy tất cả giảng viên TTTH đều tốt nghiệp từ Đại học

chuyên ngành CNTT trở lên, trong đó 64/80 tỉ lệ 80% là Đại học, còn lại 20%

có trình độ từ Thạc sĩ trở lên. Do ở trung tâm dạy các môn về tin học ứng

dụng, không có tính hàn lâm, nên với trình độ giảng viên như vậy là tương đối

ổn. Phần lớn giảng viên còn rất trẻ, tuổi đời dưới 30 là 77%. Với ngành

CNTT, tuổi trẻ là một lợi thế, dễ dàng nắm bắt cái mới, họ còn rất nhiều thời

gian để tiếp tục nâng cao trình độ và cống hiến cho sự nghiệp giáo dục. Tuy

nhiên cũng có mặt hạn chế là tuổi nghề còn ít, chưa trải nghiệm nhiều trong

giảng dạy, nên năng lực sư phạm chưa cao.

 Học viên:

Học viên TTTH trường ĐHCN TP.HCM gồm đủ mọi tầng lớp, đủ mọi

trình độ học vấn từ cấp 1 đến trình độ Tiến sĩ, từ người lao động chân tay, đến

các bậc trí thức, tất cả những người có nhu cầu học hỏi tin học để phục vụ cho

những công việc thường ngày, để có chứng chỉ tiện lợi khi xin việc làm, để có

kiến thức về tin học, không tụt hậu với thời đại… Nhưng đa số học viên là

sinh viên trường ĐHCN TP.HCM do đi lại thuận tiện và chất lượng giảng

dạy nên đã chọn TTTH trường ĐHCN TP.HCM .

Bảng 2.2. Lưu lượng học viên trung bình mỗi khoá học

CÁC LỚP

CÁC LỚP

CÁC LỚP

CƠ SỞ

TỔNG CỘNG

TRÌNH ĐỘ A

TRÌNH ĐỘ B

CHUYÊN ĐỀ

810

621

504

1936

1

108

81

54

245

2

108

81

54

245

3

216

162

108

486

4

945

720

Tổng 4 cơ sở

1242

2912

Một đặc điểm của học viên Trung tâm là trình độ, tuổi tác không đồng

đều dẫn đến việc tiếp thu của mỗi người có khác nhau, khó cho giảng viên

trong việc giảng “vừa sức’ học viên, tuy nhiên ở họ có một thuận lợi là hầu

như tất cả đều khao khát học hỏi, khao khát tiếp nhận kiến thức nên rất tích

cực học tập. Điều đó cũng giúp cho giảng viên nhiệt tình hơn trong giảng dạy.

2.4. Thực trạng cơ sở vật chất của Trung tâm Tin học trường Đại học

Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh

Trung tâm Tin học ĐHCN TP.HCM gồm có 4 cơ sở đặt tại các cơ sở

1, 2, 3, 4 của trường ĐHCN TP.HCM.

Bảng 2.3. Số lượng phòng máy tại các Cơ sở

Cơ sở T

ổng số

Số phòng máy

Số phòng

Số phòng

Phòng máy

phòng

nối mạng

máy kết nối

máy được

được trang

máy

internet

trang bị từ

bị từ 2007

2006 trở về

về sau

1

24

20

3

16

8

2

3

2

0

2

1

3

3

2

0

2

1

4

6

4

0

3

3

Tổng 4 cơ sở

36

28

3

23

13

Mỗi phòng máy của trung tâm có 30 máy, đặt trong phòng máy lạnh và

đầy đủ ánh sáng. Qua bảng trên cho thấy có 78% phòng máy được nối mạng,

nhưng chỉ có 8,3% phòng máy được kết nối internet. Đây là một vấn đề vô

cùng hạn chế về CSVC của Trung tâm, nhất là trong thời đại ngày nay, khi

mà internet đã lan truyền tới mọi vùng đất nước. Bảng trên cũng cho thấy số

lượng phòng máy mới được trang bị từ năm 2007 về sau là 1/3, các phòng

máy còn lại được trang bị từ 2006 trở về trước . Vì vậy không phải tất cả máy

được trang bị đều ở trong tình trạng sẵn sàng sử dụng. Điều này dẫn đến việc

chiêu sinh mỗi khóa học không bao giờ đạt con số tối đa của số lượng máy

hiện có.

2.5.Thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở Trung tâm tin học

TTTH được thành lập từ năm 2003, từng bước phát triển về cơ sở vật

chất, về các loại hình đào tạo, về đội ngũ giảng viên, và qui mô học viên,

nhưng nhìn chung so với nhu cầu thực tế , so với tốc độ phát triển của trường

ĐHCN TP.HCM và nhu cầu học hỏi Tin học của xã hội thì sự phát triển của

Trung tâm còn chậm, do đó cần phải khảo sát hoạt động giảng dạy tại Trung

tâm về mọi mặt. Việc khảo sát thực trạng được thực hiện qua phiếu thăm dò ý

kiến của Cán bộ quản lý , giảng viên và học viên của 4 cơ sở do Trung tâm

quản lý. Kết quả như sau:

2.5.1. Thực trạng quản lý chương trình đào tạo, giáo trình

 Chương trình đào tạo

Chương trình Tin học của Trung tâm bao gồm các chương trình thi cấp

chứng chỉ A B theo chương trình đào tạo Tin học cấp độ A, B của Bộ Giáo

dục và Đào tạo. Ngoài ra còn có các chương trình các chuyên đề về đồ họa,

web, mạng… Chương trình được xây dựng từ ngày Trung tâm mới thành lập

(năm 2003) đến nay, liên tục cải tiến, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển

như vũ bão của ngành Tin học. Trong nhiều năm qua, Trung tâm phát triển rất

chậm, điều này có thể một phần nguyên nhân do chương trình giảng dạy chưa

thật phù hợp về một số mặt nào đó.

Việc đánh giá mức độ phù hợp của nội dung chương trình với mục tiêu

chương trình, yêu cầu thực tế của xã hội, thời lượng, trang thiết bị dạy học,

mặt bằng chung của chương trình giảng dạy tại các Trung tâm khác được thể

hiện qua các bảng sau:

Bàng 2.4a. Đánh giá của CBQL về nội dung chương trình đào tạo

Rất phù hợp

Phù hợp

Ít phù hợp

Hoàn toàn không phù hợp

Nội dung chương trình

Tỉ lệ

Tần số 5

Tỉ lệ T ần số 7

42%

Tỉ lệ T ần số 0

58%

Tỉ lệ T ần số 0

0%

0%

Với mục tiêu đào tạo

5

42%

6

50%

0

0%

8%

1

Với yêu cầu thực tế của xã hội

3

25%

7

58%

2

17%

0%

0

Với thời lượng

1

8%

7

58%

4

33%

0%

0

6

50%

5

42%

1

8%

0%

0

Với trang thiết bị phòng máy Với mặt bằng chung của chương trình giảng dạy tại các Trung tâm khác

Bảng 2.4b. Đánh giá của GV về nội dung chương trình đào tạo

Rất phù hợp

Phù hợp

Ít phù hợp

Hoàn toàn không phù hợp

Nội dung chương trình

Tỉ lệ

Tỉ lệ T

Tần số 40 40

50% 50%

ần số 38 32

Tỉ lệ T ần số 2 7

48% 40%

Tỉ lệ T ần số 0 1

3% 9%

0% 1%

3

4%

54

68%

20

25%

3

4%

Với mục tiêu đào tạo Với yêu cầu thực tế của xã hội Với thời lượng

3

4%

46

58%

30

38%

1

1%

thiết bị

10

13%

0

0%

30

38%

40

50%

trang Với phòng máy Với mặt bằng chung của chương trình giảng dạy tại các Trung tâm khác

Bảng 2.4c. Đánh giá của HV về nội dung chương trình đào tạo

Nội dung chương trình

Rất phù hợp

Phù hợp

Ít phù hợp

Hoàn toàn không phù hợp

Tỉ lệ T

Tỉ lệ

ần số

Tỉ lệ T ần số

Tần số 220 165

44% 33%

Tỉ lệ T ần số 234 47% 30 234 47% 10

6% 2%

16 3% 91 18%

18

4%

324 65% 101

20%

57 11%

Với mục tiêu đào tạo Với yêu cầu thực tế của xã hội Với thời lượng

32

6%

228 46% 203

41%

37 7%

thiết bị

162

32%

255 51% 83

17%

0 0%

Với trang phòng máy Với mặt bằng chung của chương trình giảng dạy tại các Trung tâm khác

120%

100%

98%

92%

92%

92%

100%

91%

90%

88%

81%

83%

83%

80%

71%

80%

69%

68%

67%

64%

61%

54%

60%

52%

40%

20%

0%

Với thời lương

Với mục tiêu đào tạo

Với yêu cầu thực tế của xã hội

Với trang thiết bị phòng máy

Với mặt bằng chung của chương trình giảng dạy tại các Trung tâm khác

Đánh giá của CBQL Đánh giá của GV Đánh giá của HV Đánh giá chung

Biểu đồ 2.1. Đánh giá của CBQL, GV, HV và đánh giá chung của cả 3 đối

tượng ở mức độ phù hợp và rất phù hợp về chương trình đào tạo

Biểu đồ 2.1 được xây dựng từ bảng thống kê 2.4a, 2.4b, 2.4c. Biểu đồ

trên cho thấy ý kiến phù hợp và rất phù hợp của CBQL bao giờ cũng cao

nhất, thứ nhì là giảng viên và cuối cùng là học viên. Điều đó cho thấy CBQL

khá chủ quan trong vấn đề quản lý, giảng viên là người thực hiện chương

trình cho ý kiến qua thực tế giảng dạy và học viên là người thụ hưởng chương

trình , ý kiến của họ sát thực tế nhất.

Qua các mục đánh giá, tổng hợp ý kiến của cả 3 đối tượng, mức độ từ

phù hợp trở lên của nội dung chương trình với mục tiêu đào tạo là tương đối

chấp nhận được với tần số 554/592 chiếm tỉ lệ 92% . với yêu cầu thực tế của

xã hội: tần số 482/592 chiếm tỉ lệ 81%, với thời lượng: tần số 409/592 chiếm

tỉ lệ 69%, với trang thiết bị phòng máy: tần số 317/592 chiếm tỉ lệ 54% và

mặt bằng chung của chương trình giảng dạy của các trung tâm khác: tần số

498/592 chiếm tỉ lệ 84%. Điều đó cho thấy thực tế chương trình được xây

dưng rất tốt, phù hợp với mục tiêu chương trình đưa ra, tương đối đáp ứng

yêu cầu thực tế của xã hội, tương đối phù hợp với mặt bằng chung của

chương trình các Trung tâm khác, nhưng thực tế áp dụng vào giảng dạy thì

điều kiện trang thiết bị không đáp ứng , dẫn đến thời lượng đưa ra để thực

hiện chương trình không hoàn toàn phù hợp (chỉ 69 %). Tin học ngày càng

phát triển, các phần mềm ứng dụng ngày một cải tiến cho phù hợp với người

dùng, chương trình giảng dạy đưa ra rõ ràng có tốt về mặt xây dựng chương

trình, nhưng không tốt về tính khả thi. Điều này gây khó khăn cho giảng viên

trong việc giảng dạy, cũng như học viên trong vấn đề tiếp thu, dẫn đến hiệu

quả giảng dạy không tốt.

 Giáo trình

Giáo trình vừa là tài liệu giáo khoa để giảng dạy, vừa là tài liệu chính

thức để học viên nghiên cứu, học tập. Giáo trình tin học, mỗi môn ngoài bộ lý

thuyết còn có bộ bài tập. Đây là một tài liệu cũng quan trọng không kém bộ lý

thuyết, học viên áp dụng những lý thuyết đã học để hoàn thành bài tập trong

suốt quá trình thực hành.

Bảng 2.5a. Đánh giá của CBQL về giáo trình

Rất tốt

Tốt

Chưa tốt

Giáo trình

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tỉ lệ

Tính khoa học

Tần số 2

17%

ần số 2

17%

67%

Hoàn toàn không tốt ần số 0

0%

ần số 8

Tính thực tiễn

6

50%

1

8%

42%

0

0%

5

Tính sư phạm

4

33%

2

17%

50%

0

0%

6

Hình thức trình bày

2

17%

5

42%

42%

0

0%

5

Bảng 2.5b. Đánh giá của GV về giáo trình

Rất tốt

Tốt

Chưa tốt

Giáo trình

Hoàn toàn không tốt

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tỉ lệ

Tính khoa học

Tần số 5

6%

ần số 23

29%

65%

ần số 0

0%

ần số 52

Tính thực tiễn

25

31%

9

11%

58%

0

0%

46

Tính sư phạm

23

29%

22

28%

40%

3

4%

32

Hình thức trình bày

2

3%

29

36%

53%

7

9%

42

Bảng 2.5c. Đánh giá của HV về giáo trình

Rất tốt

Tốt

Chưa tốt

Giáo trình

Hoàn toàn không tốt

Tỉ lệ

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tính khoa học

Tần số 75

15%

ần số 79

16%

64%

ần số 25

5%

ần số 321

Tính thực tiễn

234

47%

25

5%

44%

19

4%

222

Tính sư phạm

124

25%

67

13%

49%

63

13%

246

50

10%

Hình thức trình bày

25

5%

52%

165

33%

260

100%

90%

80%

70%

Đánh giá của CBQL

60%

Đánh giá của GV

50%

Đánh giá của HV

40%

Đánh giá chung

30%

20%

10%

0%

Tính khoa học Tính thực tiễn Tính sư phạm Hình thức trình

bày

Biểu đồ 2.2. Đánh giá của CBQL, GV, HV và đánh giá chung của cả 3 đối

tượng ở mức độ tốt và rất tốt về giáo trình

Biểu đồ 2.2 được xây dựng từ bảng thống kê 2.5a, 2.5b, 2.5c qua tổng

hợp của 2 mức độ đánh giá tốt và rất tốt. Qua các bảng đánh giá và biểu đồ

trên, ý kiến rất tốt và tốt của CBQL tỉ lệ bao giờ cũng cao nhất. Điều đó cho

thấy đánh giá của CBQL có phần chủ quan cả trong vấn đề biên soạn giáo

trình. Đánh giá chung: tính khoa học 78%, tính thực tiễn 91%, tính sư phạm

73% và hình thức trình bày 56%. Như vậy vấn đề giáo trình cũng cần nghiên

cứu thêm, tính thực tiễn khá tốt, điều này cũng phù hợp với việc đánh giá

chương trình, chứng tỏ chương trình và giáo trình được cập nhật liên tục, phù

hợp với thực tiễn. Tính khoa học và sư phạm chưa thật sự tốt, cần phải có sự

đầu tư hơn nữa. Riêng về hình thức trình bày là vấn đề báo động, phải xem

xét lại nhiều mặt, kể cả khâu in ấn.

2.5.2. Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên

2.5.2.1. Quản lý việc tuyển chọn giảng viên

Kết quả khảo sát việc tuyển chọn giáo viên được thể hiện qua các bảng

sau:

Bảng 2.6. Đánh giá của CBQL và GV về việc tuyển chọn GV

Phổ biến

Ít phổ biến

Rất phổ biến

Hoàn toàn không

Tuyển chọn giảng viên

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tỉ lệ

Tần số

Tỉ lệ T ần số

ần số

ần số

Đánh giá của CBQL

7

58%

5

42%

0%

0

0%

0

Dựa vào bằng cấp chuyên môn

5

42%

5

42%

17%

0

0%

2

Dựa vào sở trường giảng dạy

8

67%

3

25%

8%

0

0%

1

0

0%

0

0%

8%

11

92%

1

Qua sự giới thiệu của đồng nghiệp Qua các kênh thông tin đại chúng

Đánh giá của giảng viên

50

63%

30

38%

0%

0

0%

0

40

50%

20

25%

15

19%

5

6%

60

75%

15

19%

4%

2

3%

3

0

0%

0

0%

4%

77

96%

3

Dựa vào bằng cấp chuyên môn Dựa vào sở trường giảng dạy Qua sự giới thiệu của đồng nghiệp Qua các kênh thông tin đại chúng

100%

90%

80% 70%

60%

50%

Đánh giá của CBQL

Đánh giá của giảng viên

40% 30%

20%

Đánh giá chung

10% 0%

Dựa vào sở trường giảng dạy

Dựa vào bằng cấp chuyên môn

Qua sự giới thiệu của đồng nghiệp

Qua các kênh thông tin đại chúng

Biểu đồ 2.3. Đánh giá của CBQL, GV và đánh giá chung ở mức độ phổ

biến và rất phổ biến về việc tuyển chọn giảng viên

Kết quả trên cho thấy việc tuyển chọn giảng viên là dựa bằng cấp

chuyên môn là 100%. Điều này khẳng định chuẩn của GV Trung tâm về bằng

cấp là rất tốt, đảm bảo chuẩn từ Đại học chuyên ngành CNTT trở lên

Về sở trường giảng dạy, với kết quả đánh giá chung ở mức độ phổ biến

và rất phổ biến của CBQL và GV với tần số 70/92 tỉ lệ 76% cho thấy việc

tuyển chọn giảng viên phần lớn đúng sở trường giảng dạy, nhưng cũng có một

bộ phận giảng viên không đúng sở trường, vừa dạy vừa nghiên cứu.

Ngoài ra các số liệu cũng cho thấy việc tuyển chọn giảng viên chủ yếu

là qua sự giới thiệu của đồng nghiệp (đánh giá chung 93%), hoàn toàn không

có sự thông tin tuyển dụng rộng rãi qua các kênh thông tin đại chúng. Đây

cũng là một vấn đề cần sửa đổi. Việc tuyển dụng càng được phổ biến rộng rãi

thì càng có nhiều ứng viên, qua đó sẽ có sự chọn lọc và việc tuyển dụng sẽ tốt

hơn.

2.5.2.2.Quản lý việc phân công giảng dạy

Việc phân công phải đảm bảo tính khoa học, tính hợp lý nhằm phát huy

tối ưu nguồn lực. Đó là yếu tố chủ chốt, cốt lõi và quyết định chất lượng dạy

học.

Người quản lý cần nắm vững chất lượng đội ngũ, hiểu biết sâu sắc từng

người, nguyện vọng, hoàn cảnh từng thành viên trong đơn vị . Cần phải quán

triệt quan điểm phân công theo yêu cầu đảm bảo chất lượng chuyên môn và

xuất phát từ quyền lợi của người học.

Bảng 2.7a. Đánh giá của CBQL về việc phân công giảng dạy

Rất phù hợp

Phù hợp

Ít phù hợp

Hoàn toàn không phù hợp

Phân công giảng dạy

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tỉ lệ

Tần số

ần số

ần số

ần số

12

100%

0

0%

0%

0

0%

0

Phù hợp với nhu cầu của Trung tâm

7

58%

4

33%

8%

0

0%

1

Phù hợp với năng lực giảng viên

5

42%

6

50%

8%

0

0%

1

Phù hợp với nguyện vọng giảng viên

Bảng 2.7b. Đánh giá của GV về việc phân công giảng dạy

Rất phù hợp

Phù hợp

Ít phù hợp

Hoàn toàn không phù hợp

Phân công giảng dạy

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tỉ lệ

Tần số

ần số

ần số

ần số

80

100%

0

0%

0%

0

0%

0

Phù hợp với nhu cầu của Trung tâm

49

61%

23

29%

10%

0

0%

8

Phù hợp với năng lực giảng viên

40

50%

25

31%

15

19%

0

0%

Phù hợp với nguyện vọng giảng viên

Qua bảng thống kê 2.7a, 2.7b cho thấy tần số và tỉ lệ đánh giá thực

trạng phân công giảng dạy qua bảng đánh giá của CBQL và GV như sau:

Phân công phù hợp với nhu cầu của Trung tâm ở mức độ phù hợp và rất

phù hợp 100% CBQL và 100% GV đều đánh giá như vậy. Điều này chứng tỏ

nhu cầu của Trung tâm được đặt lên hàng đầu .

Phân công phù hợp với năng lực giảng viên, mức độ đánh giá phù hợp

và rất phù hợp của CBQL tần số 11/12 tỉ lệ 92%, GV tần số 72/80 tỉ lệ

90%, đánh giá chung: tần số 83/92 tỉ lệ 90%. Kết quả này cho thấy việc phân

công giảng dạy chưa thật sự phù hợp với năng lực giảng viên lắm, tuy không

có trường hợp đánh giá phân công hoàn toàn không phù hợp, nhưng vẫn còn

một bộ phận giảng viên được phân công ít phù hợp. Mức độ đánh giá ít phù

hợp của CBQL tỉ lệ 8%, mức độ đánh giá ít phù hợp của giảng viên tần số tỉ

lệ 10%. Con số này không phải là lớn, nhưng rõ ràng vẫn còn tồn tại những

trường hợp phân công giảng dạy ít phù hợp với năng lực chuyên môn. Tuy tất

cả GV của Trung tâm đều tốt nghiệp chuyên ngành CNTT trình độ từ đại học

trở lên, nhưng sau một quá trình nghiên cứu, làm việc, mỗi người đi sâu vào

một mảng riêng. Đánh giá chung có 10% GV phân công không phù hợp là do

nhiều khoá học Trung tâm thiếu GV ở một mảng nào đó và đã điều GV ở

mảng khác sang.

Phân công phù hợp với nguyện vọng giảng viên, không có đánh giá ở

mức độ hoàn toàn không phù hợp nhưng có 8% CBQL đánh giá ít phù hợp và

có 15% GV cùng đánh giá ở mức độ này. So với mức phù hợp với năng lực

giảng viên ở trên, mức độ phù hợp với nguyện vọng giảng viên thấp hơn.

Điều này có nghĩa nguyện vọng của giảng viên ngoài việc dạy đúng với năng

lực chuyên môn là chính còn có những nguyện vọng khác như giờ giấc,

phòng dạy, ý thích v.v…

2.5.2.3.Quản lý trình độ chuyên môn giảng viên

Bảng 2.8. Đánh giá của CBQL và GV về thực trạng quản lý trình độ

chuyên môn của GV

Rất thường xuyên

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Hoàn toàn không

Tỉ lệ

Quản lý trình độ chuyên môn của giảng viên

Tần số

Tỉ lệ T ần số

Tỉ lệ T ần số

Tỉ lệ T ần số

Đánh giá của CBQL 0%

0%

0

0

11

92%

1

8%

1

8%

6

50%

1

8%

33%

4

5

42%

2

17%

0

0%

42%

5

Qua dự giờ Qua sự thăm dò ý kiến học viên Qua sự phản ảnh của Cán bộ cơ sở

Đánh giá của GV

0

0%

0

0%

75

94%

5

6%

0

0%

31

39%

42

53%

7

9%

7

9%

33

41%

40

50%

0

0%

Qua dự giờ Qua sự thăm dò ý kiến học viên Qua sự phản ảnh của Cán bộ cơ sở

Bảng đánh giá 2.8 cho thấy ý kiến của CBQL và GV về việc dự giờ để

đánh giá trình độ chuyên môn giảng viên ở mức độ thường xuyên và rất

thường xuyên đều là 0%. Đây là một thực tế đáng lo ngại. Mặc dầu tất cả các

giảng viên đều đạt chuẩn từ Đại học trở lên, nhưng không phải trình độ của

mọi người đều tốt như nhau. Chuyên môn của mỗi người ngoài những kiến

thức cung cấp từ giảng đường đại học còn tuỳ thuộc vào quá trình tự nghiên

cứu và kinh nghiệm thực tế của mỗi người. Nếu không “thị sát” qua dự giờ thì

khó có thể nắm dược trình độ chuyên môn của mỗi người một cách xác thực.

Kết quả khảo sát chất lượng đội ngũ giảng viên qua thăm dò ý kiến

học viên cũng không thường xuyên, mức độ đánh giá thường xuyên và rất

thường xuyên của CBQL tần số 5/12 tỉ lệ 42%, của GV tần số 31/80 tỉ lệ

39%. Học viên là người trực tiếp lĩnh hội kiến thức từ GV, có thể họ không đủ

trình độ để đánh giá chuyên môn của GV nhưng họ có khả năng nhận xét về

GV ở một góc độ nào đó qua việc giảng bài và nhất là việc giải đáp thắc mắc

của HV trong quá trình thực hành. Việc thăm dò ý kiến HV, kết hợp với các

tiêu chí khác để đánh giá trình độ chuyên môn GV cũng là một điều cần thiết.

Việc quản lý trình độ chuyên môn giảng viên qua phản ảnh của CBQL

cơ sở, ở mức độ đánh giá thường xuyên và rất thường xuyên ở CBQL có tần

số 10/12 , tỉ lệ 83%, ở giảng viên tần số 40/80, tỉ lệ 50% và chung của cả

2 đối tượng tần số 50/92, tỉ lệ 55%, cho thấy CBQL Trung tâm có tham khảo

ý kiến của CBQL cơ sở nhưng cũng không nhiều.

Qua tổng hợp các ý kiến, rõ ràng CBQL còn rất lơ là trong việc quản lý

trình độ chuyên môn giảng viên, hầu như CBQL yên chí ở khâu tuyển chọn

100% giảng viên chuyên ngành CNTT tốt nghiệp từ đại học trở lên, mà không

cần nghiên cứu thực tiễn giảng dạy của từng GV. Với GV cơ hữu, CBQL

trung tâm có thể nắm được trình độ chuyên môn của các GV này qua quá

trình công tác dài lâu tại trường ĐHCN TP.HCM (dạy cho các lớp chính qui).

Còn với GV thỉnh giảng từ nhiều nguồn khác nhau, việc chỉ dựa vào tấm bằng

Đại học để nắm trinh độ chuyên môn của GV mà bỏ qua ở những khâu khác

là một thiếu sót, cần phải điều chỉnh ngay.

2.5.2.4. Quản lý việc sử dụng phương pháp giảng dạy

 Mức độ sử dụng các phương pháp giảng dạy

Bảng 2.9. Đánh giá của CBQL, GV và HV về mức độ sử dụng các

phương pháp giảng dạy

Rất thường xuyên

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Hoàn toàn không

Phương pháp giảng dạy

Tỉ lệ

Tần số

Tỉ lệ T ần số

Tỉ lệ T ần số

Tỉ lệ T ần số

Đánh giá của CBQL

3

25%

4

33%

2

17%

3

25%

25%

3

25%

4

33%

2

17%

3

Giảng bài và minh họa băng chương trình Netop School Giảng bài và minh họa bằng projector

thuần

8%

2

17%

3

25%

6

50%

1

Giảng bài đơn bằng bảng và viết

8%

1

8%

3

25%

7

58%

1

Giảng bài qua máy chiếu overhead

Đánh giá của GV

20

25%

21

26%

18

23%

21

26%

21

26%

22

28%

14

18%

23

29%

thuần

5%

18

23%

18

23%

40

50%

4

5%

11

14%

18

23%

47

59%

4

Giảng bài và minh họa băng chương trình Netop School Giảng bài và minh họa bằng projector Giảng bài đơn bằng bảng và viết Giảng bài qua máy chiếu overhead

Đánh giá của HV

78

16%

125

25%

186

37%

111

22%

133

27%

143

29%

99

20%

125

25%

16

3%

101

20%

223

45%

160

32%

16

3%

80

16%

223

45%

181

36%

Giảng bài và minh họa băng chương trình Netop School Giảng bài và minh họa bằng projector Giảng bài đơn thuần bằng bảng và viết Giảng bài qua máy chiếu overhead

 Về hiệu quả các phương pháp giảng dạy

Bảng 2.10. Đánh giá của CBQL, GV và HV về hiệu quả các phương pháp

giảng dạy

Rất tốt

Tốt

Không tốt lắm

Hoàn toàn không tốt

Phương pháp giảng dạy

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tỉ lệ

Tần số

ần số

ần số

ần số Đánh giá của CBQL

11

92%

8%

0

0%

0

0%

1

Giảng bài và minh họa bằng chương trình Netop School

10

83%

17%

0

0%

0

0%

2

Giảng bài và minh họa bằng projector

0

0%

0%

3

25%

9

75%

0

Giảng bài đơn thuần bằng bảng và viết

0

0%

0%

8

67%

4

33%

0

Giảng bài qua máy chiếu overhead

Đánh giá của GV

78

98%

2

0

0%

0

0%

3%

67

84%

13

16%

0

0%

0

0%

0

0%

0%

12

15%

68

85%

0

0

0%

0%

65

81%

15

19%

0

Giảng bài và minh họa bằng chương trình Netop School Giảng bài và minh họa bằng projector Giảng bài đơn thuần bằng bảng và viết Giảng bài qua máy chiếu overhead

Đánh giá của HV

490

98%

10

2%

0%

0

0%

0

401

80%

99

24%

0%

0

0%

0

9

0

0%

0

0%

2%

491

98%

0

0%

0

0%

40

8%

460

92%

Giảng bài và minh họa băng chương trình Netop School Giảng bài và minh họa bằng projector Giảng bài đơn thuần bằng bảng và viết Giảng bài qua máy chiếu overhead

Tại TTTH từ lâu đã đưa việc giảng lý thuyết vào giảng dạy trực tiếp

trong phòng máy. Điều này làm tốn kém giờ phòng máy gấp đôi so với giảng

lý thuyết trong phòng học bình thường. Đại đa số các các môn học tại trung

tâm là các môn nghiêng về thực hành ứng dụng, không có tính hàn lâm, ngoài

những khái niệm cơ bản, đa phần là hướng dẫn các thao tác trên máy, yêu

cầu cao về kỹ năng thực hành. Việc đưa lý thuyết vào giảng trong phòng thực

hành không mang lại lợi ích vế kinh tế nhưng hiệu quả giảng dạy rất cao. Tuy

nhiên việc giảng lý thuyết trong phòng máy cũng có nhiều phương pháp và

tuỳ thuộc vào phương tiện dạy học mà sử dụng phương pháp nào.

-Nếu không sử dụng một phương tiện nào, giảng viên chỉ dùng bảng và

viết để hướng dẫn, việc này nhiều khi nói nhiều mà học viên chẳng hình dung

được bao nhiêu, nhiều khi phải đến từng máy một để hướng dẫn cụ thể. Do đó

qua bảng đánh giá trên, ở mức đánh giá khá tốt và rất tốt cho hiệu quả sử

dụng phương pháp này đều là 0% ớ cả CBQL, GV và học viên, tuy nhiên

trong thực tế vẫn phải sử dụng với tỉ lệ đánh giá thường xuyên và rất thường ở

tỉ lệ chung cả ba đối tượng là 24%. Đây là một nghịch lý, biết không tốt

nhưng vẫn phải làm, trong điều kiện chưa được trang bị phương tiện dạy học

phù hợp.

-Phương pháp giảng bài qua máy chiếu Overhead có khá hơn dạy chay

một chút, giảng viên soạn sẵn bài giảng trên các slide và chiếu lên. Điều này

giúp cho giảng viên đỡ vất vả trong việc ghi chép bài lên bảng và khối lượng

kiến thức truyền đạt cũng nhiều hơn, nhưng giảng viên vẫn bó tay trong việc

hướng dẫn các thao tác động, học viên thụ động và vẫn không nắm được hết

các thao tác thực hành. Qua bảng đánh giá trên , mức độ đánh giá rất tốt và

tốt cho phương pháp này vẫn là 0% ở cả ba đối tường, tuy nhiên so với

phương pháp dạy chay trên thì mức độ đánh giá hoàn toàn không tốt có đỡ

hơn một chút. Với phuơng pháp dạy chay, CBQL đánh giá hoàn toàn không

tốt 75%, giảng viên 85% , học viên 96%, tỉ lệ chung là 95%. Với phương

pháp dùng overhead, CBQL đánh giá hoàn toàn không tốt 33%, giảng viên

19%, học viên 92%, tỉ lệ chung là 81%, còn lại là chưa tốt. Trung tâm từ lâu

đã không khuyến khích loại hình giảng dạy này. Trước kia, khi projector còn

khá đắt, để giảng dạy hầu hết dùng máy chiếu overhead thay cho dạy chay.

Những máy này vẫn còn tồn tại và được sử dụng khi cần thiết. Qua bảng 2.9 ,

đánh giá mức sử dụng thường xuyên và rất thường xuyên cho phương pháp sử

dụng Overhead là 0%, tuy nhiên mức độ thỉnh thoảng 10%. Đây là một vấn

đề cũng đáng quan tâm, cần phải đổi mới thiết bị dạy học.

-Phương pháp giảng dạy qua Projector cho hiệu quả cao hơn. Ngoài

phần kiến thức cơ bản được trình bày bằng PowerPoint, giảng viên có thể

chạy trực tiếp các chương trình, qua đó học viên có thể nắm bắt các thao tác

thực hành rất dễ dàng và không cần phải dùng nhiều lời. Với phòng máy từ 30

máy trở lại, học viên có thể quan sát màn chiếu một cách dễ dàng. Tuy nhiên,

tuổi thọ trung bình của một projector cũng không phải là cao (khoảng

3000giờ), với tần suất sử dụng liên tục, khi có hư hỏng mà không sẵn máy

khác để thay thế, dẫn tới giảng viên bị động trong vấn đề giảng bài. Qua bảng

2.10 cho thấy mức độ đánh giá rất tốt và tốt tỉ lệ chung là 100% của cả ba đối

tượng cho phương pháp sử dụng projector, chứng tỏ phương pháp này rất

hiệu quả. Tuy nhiên đánh giá mức độ sử dụng thường xuyên và rất thường

xuyên là 55% chung cả ba đối tượng, điều đó chứng tỏ không phải thực tế ở

Trung tâm lúc nào cũng có projector trong tình trạng sẵn sàng để sử dụng.

-Với phương pháp giảng dạy sử dụng chương trình NetopSchool trong

phòng máy nối mạng, giảng viên dùng một máy cài Netop Teacher và tất cả

các máy học viên dùng cài Netop Student . Khi giảng viên thao tác trên máy,

thì học viên có thể quan sát ngay trên màn hình của máy mình, rất rõ ràng và

dễ dàng nắm bắt các nội dung. Với phương pháp này giảng viên còn có thể

nắm đựơc hiện trạng máy học viên sử dụng. Tuy nhiên phương pháp này đòi

hỏi phòng máy phải được nối mạng tốt, và các máy vi tính cấu hình phải

tương đối tốt, nếu không sẽ bị rớt mạng thường xuyên hoặc mạng chạy rất

chậm, ảnh hưởng đến hiệu suất giảng dạy. Phương pháp này được đánh giá

mức độ rất tốt và tốt là 100%. Ngoài ra ở mức độ rất tốt còn cao hơn cả

phương pháp dùng projector. Tuy nhiên thực tế mức độ sử dụng rất thường

xuyên và thường xuyên lại có tỉ lệ 42% chung cả ba đối tượng. Như vậy vấn

đề cấu hình máy, vấn đề nối mạng các máy cũng như vấn đề bảo trì để duy trì

mạng là những vấn đề đáng quan tâm.

2.5.2.5.Quản lý việc thực hiên nội quy TTTH của giảng viên

Bảng 2.11a. Đánh giá của CBQL về việc thực hiện nội quy TTTH của

giảng viên

Rất tốt

Tốt

không tốt lắm

Hoàn toàn không tốt Tỉ lệ

Tần số

Tỉ lệ T ần số

Tỉ lệ T ần số

Tỉ lệ T ần số

7

58%

5

42%

0

0%

0

0%

5

42%

5

42%

2

17%

0

0%

4

33%

6

50%

2

17%

0

0%

3

25%

3

25%

4

33%

2

17%

3

25%

6

50%

2

17%

1

8%

Thực hiện nội qui Trung tâm Thực hiện chương trình dạy học Thực hiện các yêu cầu của hồ sơ giảng viên Hướng dẫn học viên trong viêc sử dụng máy Thực hiện giờ giấc đi về Sẵn sàng giải đáp thắc mắc học viên

Bảng 2.11b. GV tự đánh giá về việc thực hiện nội quy TTTH

Rất tốt

Tốt

không tốt lắm

Hoàn toàn không tốt Tỉ lệ

Thực hiện nội qui Trung tâm

Tần số

Tỉ lệ Tần số

Tỉ lệ Tần số

Tỉ lệ T ần số

35

44%

45

56%

0

0%

0

0%

34

43%

40

50%

6

8%

0

0%

3

4%

0

0%

34

43%

43

54%

0

0%

24

30%

36

45%

20

25%

0

0%

33

41%

47

59%

0

0%

Thực hiện chương trình dạy học Thực hiện các yêu cầu của hồ sơ giảng viên Hướng dẫn học viên trong viêc sử dụng máy Thực hiện giờ giấc đi về Sẵn sàng giải đáp thắc mắc học viên

Bảng 2.11c. Ý kiến của học viên về GV

Rất tốt

Tốt

không tốt lắm

Hoàn toàn không tốt Tỉ lệ

Nội dung

Tần số

Tỉ lệ Tần số

Tỉ lệ Tần số

Tỉ lệ T ần số

210

42% 243

49%

9%

0

0%

47

105

21% 203

41%

18% 104

21%

88

101 20% 143 29% 201 40%

55

11%

Hướng dẫn học viên trong viêc sử dụng máy Thực hiện giờ giấc đi về Sẵn sàng giải đáp thắc mắc học viên

Bảng thống kê 2.11a, 2.11b, 2.11c cho thấy tần số và tỉ lệ đánh giá việc

thực hiện chương trình dạy học ở mức độ tốt và rất tốt như sau: đánh giá của

CBQL tần số 12/12 tỉ lệ 100%, đánh giá của GV tần số 80/80 tỉ lệ 100%,

đánh giá chung tần số 92/92 tỉ lệ 100%. Từ đó thấy rằng 100% giảng viên đều

thực hiện tốt chương trình dạy học, giảng viên tự đánh giá mình qua việc

giảng dạy và CBQL có thể kiểm tra việc này qua sổ đầu bài sau mỗi buổi lên

lớp. Đây là một biểu hiện tốt, nghiêm túc của giảng viên trong vấn đề giảng

dạy.

Việc thực hiện các yêu cầu của hồ sơ GV, ở mức độ tốt và rất tốt đánh

giá của CBQL tần số 10/12 tỉ lệ 83%, đánh giá của GV tần số 74/80 tỉ lệ

93%, đánh giá chung của cả hai đối tượng tần số 84/92 tỉ lệ 91%. Tỉ lệ đánh

giá trên rõ ràng cho thấy có một bộ phận nhỏ giảng viên không thực hiện việc

chuẩn bị hồ sơ giảng viên. CBQL cần chú trọng vấn đề này nhiều hơn.

Việc thực hiện giờ giấc đi về, đánh giá của CBQL ở mức độ tốt và rất

tốt có tần số 6/12 tỉ lệ 50%, đánh giá của giảng viên có tần số 60/80 tỉ lệ

75%, đánh giá của học viên có tần số 308/500 tỉ lệ 62%, và đánh giá chung

của cả ba đối tượng có tần số 374/500 tỉ lệ 63%. Đây là một thực tế đáng

báo động, mặc dầu giảng viên không dám tự đánh giá mình là thực hiện

không tốt giờ giấc đi về, nhưng có 17% CBQL và 21% học viên đánh giá

giảng viên hoàn toàn không thực hiện đúng giờ giấc đi về. Cần phải chấn

chỉnh và có biện pháp triệt để khắc phục việc này.

Về việc hướng dẫn học viên sử dụng máy, ở mức độ tốt và rất tốt đánh

giá của CBQL có tần số 10/12 tỉ lệ 83%, đánh giá của giảng viên có tần số

77/80 tỉ lệ 96%, đánh giá của học viên có tần số 453/500 tỉ lệ 91% và

đánh giá chung của cả 3 đối tượng có tần số 540/500 tỉ lệ 91%. Như vậy

vẫn còn tồn tại một số giảng viên không thực hiện tốt việc hướng dẫn học

viên trong việc sử dụng máy. Tỉ lệ này thường rơi vào những giảng viên mới

chưa quen với nếp sinh hoạt tại Trung tâm, cần phải phổ biến nhắc nhở các

GV này.

Việc giảng viên sẵn sàng giải đáp thắc mắc của học viên, ở mức độ tốt

và rất tốt, đánh giá của CBQL có tần số 9/12 tỉ lệ 75%, đánh giá của giảng

viên có tần số 80/80 tỉ lệ 100%, đánh giá của học viên có tần số 244/500 tỉ lệ

49%, đánh giá chung của cả ba đối tượng có tần số 333/500, tỉ lệ 56%. Tỉ lệ

đánh giá của ba đối tượng rất khác nhau, nhưng đánh giá của học viên là thực

tế nhất vì chính họ là người cần được GV giải đáp thắc mắc. Có 11% HV cho

rằng GV hoàn toàn không nhiệt tình giải đáp thắc mắc cho học viên. Với một

người giảng viên Trung tâm đây là một điều kiện cần để đứng lớp. Khối

lượng kiến thức, kỹ năng thực hành mà học viên lĩnh hội được phụ thuộc rất

nhiều vào nhiệt tình của giảng viên. CBQL cần phải nhắc nhở hoặc không

mời giảng các giảng viên không thực hiện hết trách nhiệm của mình.

Như vậy, về việc thực hiện nội qui TTTH của GV, chỉ đạt về mặt thực

hiện chương trình dạy học, tất cả các mặt khác đều có những vấn đề tồn tại

cần phải khắc phục.

2.5.3. Quản lý học viên

Như ở phần cơ sở lý luận đã nói, học viên TTTH là đa thành phần, mỗi

người có một động cơ học tập riêng, người thì học cho biết, người cần kiến

thức để ứng dụng vào công việc hàng ngày, người cần học một số chuyên đề

để đi dạy thêm, người cần chứng chỉ để bổ sung hồ sơ xin việc… Trung tâm

không cần phải xây dựng động cơ học tập cho học viên. Nhưng một khi đã

đến lớp thì thái độ học tập phải nghiêm chỉnh, phải chấp hành nội qui của

Trung tâm, và qua khoá học phải lĩnh hội một số kỹ năng kiến thức nào đó.

Để nắm được tình hình chung của học viên, từ đó có những biện pháp

cải tiến để quá trình dạy học được tốt hơn, việc khảo sát cũng tiến hành qua

CBQL và hai đối tượng trực tiếp thực hiện hoạt động dạy học là GV và học

viên.

Bảng 2.12a. Đánh giá của CBQL và GV về HV

Rất tốt

Tốt

không tốt lắm

Nội dung đánh giá học viên

Ý thức học tập

Tần số 36

Tỉ lệ T ần số 37

39%

Tỉ lệ T ần số 17

40%

Hoàn toàn không tốt Tỉ lệ 2%

Tỉ lệ T ần số 2

18%

Chuyên cần

27

29%

40

44%

12

13%

13

14%

31

34%

53

58%

7

8%

1

1%

Thực hiện nội qui phòng máy Tiếp thu bài

10

13%

54

68%

12

15%

4

5%

Kỹ năng thực hành

10

11%

58

63%

14

15%

10

11%

31

34%

51

57%

8

9%

1

1%

Ứng dụng tin học vào thực tế

Bảng 2.12b. Học viên tự đánh giá về mình

Rất tốt

Tốt

không tốt lắm

Hoàn toàn không tốt Tỉ lệ

Nội dung học viên tự đánh giá

Ý thức học tập

Tần số 123

Tỉ lệ T ần số 234

25%

Tỉ lệ T ần số 134

47%

Tỉ lệ T ần số 9

27%

2%

Chuyên cần

89

18%

222

44%

145

29%

44

9%

134

27%

317

63%

23

5%

5%

26

Thực hiện nội qui phòng máy Tiếp thu bài

11%

280

56%

101

20%

53

13%

66

Kỹ năng thực hành

11%

267

53%

122

24%

55

11%

56

49

10% 356

71% 58

12% 37

7%

Ứng dụng tin học vào thực tế

100%

91%

91%

90%

90%

82%

81%

79%

74%

80%

73%

71%

67%

64%

70%

62%

60%

Đánh giá của CBQL và GV

50%

Đánh giá của HV

40%

30%

20%

10%

0%

Biểu đồ 2.4. Đánh giá của CBQL, GV và HV ở mức độ tốt và rất tốt về HV

Từ các số liệu trên cho thấy, ý thức học tập của học viên với tỉ lệ đánh

giá mức độ tốt và rất tốt của CBQL và GV là 79%, học viên là 71% là tương

đối tốt. Thực tế học viên Trung tâm khi có nhu cầu người ta mới đăng ký học

và ý thức học tập rất tốt, tuy nhiên có một số người chẳng hạn do cơ quan cử

đi học, một số học cho qua cốt để lấy chứng chỉ, một số em nhỏ phụ huynh

bắt đi học…những người này ý thức học tập không được tốt lắm.

Vấn đề chuyên cần của học viên, đánh giá mức độ từ tốt trở lên của

CBQL và GV là 73%, học viên là 62%, điều này cũng phù hợp với thực tế, có

một số học viên là sinh viên học sinh do bài vở chính khoá quá nhiều, một số

người lớn tuổi thường nghỉ học do bận việc. Tuy nhiên vấn đề này cũng cần

xem xét lại khi tỉ lệ đánh giá hơi thấp, có thể một phần do giảng viên dạy

chưa thu hút, giảng viên không nhiệt tình, có thể do máy móc không tốt dẫn

đến tâm lý không muốn đến lớp.

Việc thực hiện nội quy phòng máy, đáng lẽ ra 100% học viên phải thực

hiện, nhưng qua đánh giá con số tỉ lệ cho mức độ từ tốt trở lên với tỉ lệ chung

là 91%. Tuy cũng là mức đánh giá khá cao, nhưng mong muốn của Ban Giám

đốc trung tâm phải là 100%, cần phải đôn đốc giảng viên trong việc nhắc nhở

học viên thực hiện quy chế phòng máy hơn nữa.

Việc tiếp thu bài, mức độ đánh giá từ tốt trở lên, đánh giá chung của

CBQL, GV và học viên 69% , kỹ năng thực hành là 66%, con số này cho thấy

việc giảng dạy chưa thật hiệu quả. Trung tâm đã cố gắng hết sức, bỏ qua

những tổn hao về kinh tế, để đưa việc giảng lý thuyết ngay trong phòng máy,

giúp cho học đi đôi với hành. Nhưng thực tế những con số trên chưa phải khả

quan. Cần phải rà soát lại mọi mặt từ thiết bị máy móc cho đến việc giảng dạy

của từng giảng viên.

Trung tâm cũng đã cố gắng xây dựng chương trình gắn với những gì

người dùng cần, cố gắng cài đặt chương trình với những phiên bản mới nhất

trong điều kiện máy móc cho phép để học viên có thể về nhà hay tại cơ quan

của mình sử dụng những vấn đề đã học, tỉ lệ chung cho việc ứng dụng tin học

vào thực tế ở mức độ tốt và rất tốt là 82% có thể chấp nhận được nhưng cần

phải nâng cao hơn nữa.

2.5.4.Quản lý việc kiểm tra đánh giá học viên

 Hình thức kiểm tra đánh giá

Bảng 2.13. CBQL, GV và HV chọn hình thức kiểm tra đánh giá tốt nhất

Đánh giá của CBQL

Đánh giá của GV

Đánh giá của HV

Hình thức kiểm tra đánh giá

Tỉ lệ T

Tỉ lệ

Trăc nghiệm Thực hành Vấn đáp Thi viết Thực hiện đề tài Kết hợp trắc nghiệm và thực hành Kế hợp thi viết và thực hành Kết hợp thực hiện đề tài và vấn đáp

Tần số 0 0 0 0 0 11 0 1

Tỉ lệ T ần số 0 0 0 0 0 77 0 3

0% 0% 0% 0% 0% 92% 0% 8%

0% 0% 0% 0% 0% 96% 0% 4%

ần số 0 0 0 0 0 489 0 11

0% 0% 0% 0% 0% 98% 0% 2%

2%

4%

Kết hợp thực hiện đề tài và vấn đáp

8%

Kế hợp tự luân và thực hành

0% 0% 0%

98%

96%

Kết hợp trắc nghiệm và thực hành

92%

Đánh giá của HV

Thực hiện đề tài

0% 0%

Đánh giá của GV

Đánh giá của CBQL

Thi viết

0% 0% 0%

Vấn đáp

0% 0% 0%

Thực hành

0% 0% 0%

Trăc nghiệm

0% 0% 0%

0%

20%

40%

60%

80%

100%

120%

Biểu đồ 2.5. CBQL, GV và HV chọn hình thức kiểm tra đánh giá tốt nhất

Để đánh giá kết quả học tập của học viên cuối khóa bao giờ cũng có 2

phần: kiểm tra lý thuyết và kiểm tra thực hành. Kiểm tra thực hành được thực

hiện trên máy vi tính, qua đó giảng viên nắm được kiến thức, kỹ năng thực

hành của học viên. Tuy nhiên phần thực hành không thể nào thể hiện hết

những kiến thức thuộc về khái niệm, những kiến thức cơ bản, do đó phải kết

hợp với kiểm tra lý thuyết. Phần lý thuyết có thể kiểm tra bằng nhiều hinh

thức: kiểm tra viết, vấn đáp hoặc trắc nghiệm. Trung tâm chọn hình thức là

trắc nghiệm . Phương pháp này có ưu thế : đánh giá thành quả học tập của học

viên với phạm vi kiến thức rộng, bao quát chương trình, chấm điểm nhanh,

chính xác và khách quan. Bài trắc nghiệm soạn tốt có thể kiểm tra được nhiều

nội dung khác nhau trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên , việc soạn câu hỏi

rất công phu, tốn kém thời gian, cần sự đầu tư cao của người thầy.

Riêng đối với một số môn học chuyên đề, đòi hỏi người học phải thể

hiện kiến thức của mình qua một chuỗi tích luỹ kiến thức, tích luỹ lao động,

thì chỉ có thực hiện đề tài mới đánh giá hết khả năng, kiến thức người hoc, do

đó ở một số chuyên đề về lập trình, web… hình thức kiểm tra là thực hiện đề

tài. Sau đó có một buổi nghiệm thu đề tài dưới hình thức vấn đáp.

Qua khảo sát cả 3 đối tượng về hình thức kiểm tra đánh giá nào là tốt

nhất, chỉ có 2 hình thức được chọn là: kiểm tra thực hành kết hợp với kiểm tra

trắc nghiệm (CBQL 92%, GV 96%, HV 98%) và thực hiện đề tài kết hợp với

vấn đáp (CBQL 8%, GV 4%, HV 2%). Điều này hoàn toàn phù hợp với hình

thức kiểm tra đánh giá đang áp dụng tại Trung tâm.

 Mức độ kiểm tra đánh giá

Bảng 2.14. Mức độ kiểm tra đánh giá tại TTTH

Rất tốt

Tốt

Mức độ kiểm tra đánh giá

Tỉ lệ T

Tỉ lệ T

Tỉ lệ

Tần số

Không tốt ần số

ần số

Đánh giá của CBQL

Tính nghiêm túc trong kiểm tra

11

92%

1

8%

0

0%

6

50%

4

33%

2

17%

Tính bao quát chương trình của đề thi

8

67%

3

25%

1

8%

Việc đánh giá đúng năng lực học viên

Đánh giá của GV

Tính nghiêm túc trong kiểm tra

71

89%

9

11%

0

0%

45

56%

23

29%

12

15%

43

54%

24

30%

13

16%

Tính bao quát chương trình của đề thi Việc đánh giá đúng năng lực học viên

Đánh giá của HV

Tính nghiêm túc trong kiểm tra

455

91%

45

9%

0

0%

268

54%

146

29%

86

17%

243

49%

167

33%

90

18%

Tính bao quát chương trình của đề thi Việc đánh giá đúng năng lực học viên

Kết quả tổng hợp trên thể hiện tính nghiêm túc trong kiểm tra, cả 3 đối

tượng đều đánh giá mức độ từ tốt trở lên là 100% , điều này cho thấy việc thi

cử tổ chức tại Trung tâm rất nghiêm túc.

Tính bao quát chương trình của đề thi, qua bảng đánh giá vẫn còn tỉ lệ

chung 17% đánh giá không tốt , điều đó cho thấy việc soạn đề thi là chưa

thật tốt, chưa phủ khắp chương trình, cần phải bộ sung, hiệu chỉnh lại.

Việc đánh giá đúng năng lực học viên, qua tỉ lệ đánh giá trên vẫn còn tỉ

lệ chung 18% đánh giá không tốt , điều này cũng phù hợp với việc đánh giá

về tính bao quát của chương trình. Cần phải xem xét lại nội dung bộ đề thi

Từ phân tích trên có thể kết luận việc chọn hình thức thi tại Trung tâm

là phù hợp, việc tổ chức kiểm tra là nghiêm túc nhưng nội dung đề thi chưa

thật tốt, cần phải hoàn thiện hơn.

2.5.5.Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị máy móc

Bảng 2.15a. Ý kiến của CBQL về trang thiết bị dạy học

Rất tốt

Tốt

Không tốt lắm

Hoàn toàn không tốt

Tỉ lệ

Trang thiết bị dạy học Tần số

Tỉ lệ T ần số

Tỉ lệ T ần số

Tỉ lệ T ần số

3

25%

3

25%

4

33%

2

17%

6

50%

6

50%

0

0%

0

0%

4

33%

5

42%

2

17%

1

8%

0 0 3

0% 0% 25%

0 4 5

0% 33% 42%

6 5 3

50% 42% 25%

6 3 1

50% 25% 8%

0

0%

3

25%

4

33%

5

42%

Tính hiện đại của máy vi tính Số lượng máy vi tính từng phòng máy so với sĩ số lớp Cài đặt phần mềm phục vụ giảng dạy Hệ thống mạng internet Hệ thống mạng cục bộ Hệ thống làm mát Công tác sửa chữa và bảo trì

Bảng 2.15b. Ý kiến của GV về trang thiết bị dạy học

Rất tốt

Tốt

không tốt lắm

Hoàn toàn không tốt Tỉ lệ

Trang thiết bị dạy học Tần số

Tỉ lệ T ần số

Tỉ lệ T ần số

Tỉ lệ T ần số

15

19%

22

28%

23

29%

20

25%

33

41%

32

40%

10

13%

5

6%

16

20%

24

30%

20

25%

20

25%

0 0 12

0% 0% 15%

0 23 37

0% 29% 46%

38 34 25

48% 43% 31%

42 23 6

53% 29% 8%

0

0%

18

23%

25

31%

37

46%

Tính hiện đại của máy vi tính Số lượng máy vi tính từng phòng máy so với sĩ số lớp Cài đặt phần mềm phục vụ giảng dạy Hệ thống mạng internet Hệ thống mạng cục bộ Hệ thống làm mát Công tác sửa chữa và bảo trì

Bảng 2.15c. Ý kiến của HV về trang thiết bị dạy học

Rất tốt

Tốt

không tốt lắm

Hoàn toàn không tốt Tỉ lệ

Trang thiết bị dạy học Tần số

Tỉ lệ T ần số

Tỉ lệ T ần số

Tỉ lệ T ần số

90

18%

113

23%

108

22%

189

38%

55

11%

158

32%

165

33%

122

24%

23

5%

176

35%

156

31%

145

29%

0 0 50

0% 0% 10%

0 145 250

0% 29% 50%

235 234 167

47% 47% 33%

265 121 33

53% 24% 7%

0

0%

95

19%

158

32%

247

49%

Tính hiện đại của máy vi tính Số lượng máy vi tính từng phòng máy so với sĩ số lớp Cài đặt phần mềm phục vụ giảng dạy Hệ thống mạng internet Hệ thống mạng cục bộ Hệ thống làm mát Công tác sửa chữa và bảo trì

120%

100%

80%

60%

40%

20%

0%

Hệ thống mạng cục bộ

Hệ thống làm mát

Tính hiện đại của máy vi tính

Cài đặt phần mềm phục vụ giảng dạy

Hệ thống mạng internet

Công tác sửa chữa và bảo trì

Số lượng máy vi tính từng phòng máy so với sĩ số lớp

Đánh giá của CBQL Đánh giá của GV Đánh giá của HVHV Đánh giá chung

Biểu đồ 2.6. Đánh giá của CBQL, GV và HV về thực trạng trang thiết bị

dạy học ở mức độ từ tốt trở lên

Từ ý kiến của CBQL, GV và học viên kết hợp với thực tế quan sát thực

trạng trang thiết bị phòng máy như sau:

Tất cả trang thiết bị Trung tâm đang sử dụng là của Khoa CNTT trường

ĐHCN TP.HCM, các lớp chính quy sử dụng ban ngày, Trung tâm sử dụng

vào buổi tối và chủ nhật. Các máy hoạt động hết công suất, ngày 3 buổi: sáng,

chiều, tối, hầu như không có thời gian nghỉ ngơi, vì vậy máy móc xuống cấp

rất nhanh và hư hỏng thường xuyên. Nhà trường ưu tiên trang bị phòng máy

mới cho cơ sở 1, thỉnh thoảng có trang bị phòng máy mới cho các cơ sở 2, 3,

4, nhưng đa phần các cơ sở này tận dụng những máy cũ từ cơ sở 1 đem vế,

điều này có phần thiệt thòi cho các cơ sở 2, 3, 4 nhưng cũng có phần hợp lý,

vì số lượng SV chính qui và học viên dùng máy ở cơ sở 1 cao hơn hẳn và

chương trình dạy cũng có nhiều môn cao cấp hơn,

-Mỗi phòng ở bất kỳ cơ sở nào cũng bố trí 30 máy và chiêu sinh các

lớp với sĩ số từ 25 đến 30 máy để đảm bảo mỗi học viên một máy. Nhưng qua

đánh giá cho thấy mức độ đánh giá rất tốt và tốt về số lượng máy so với sĩ số

lớp học của 3 đối tượng rất khác nhau: CBQL 100%, GV 81% và SV 43%.

Điều này cho thấy rõ ràng về lý thuyết, số lượng máy là đủ cho mỗi SV một

máy, nhưng thực tế sử dụng có rất nhiều máy hư hỏng do lỗi phần mềm, do

hư hỏng phần cứng dẫn đến không đủ máy cho học viên sử dụng. Công tác

bảo trì và thiết bị dự trữ thay thế chưa thật tốt.

-Về cấu hình máy: mỗi phòng máy có cấu hình thường giống nhau do

cùng lắp đặt một lần, nhưng giữa các phòng máy có sự khác nhau do từng

phòng được trang bị vào nhiều thời điểm khác nháu. Tuỳ theo loại chương

trình môn học mà xếp lớp vào phòng máy nào, ví dụ những chương trình cơ

bản được bố trí vào phòng có cấu hình thấp, những chương trình nâng cao

được bố trí vào các phòng máy có cấu hình cao hơn. Thông thường máy vi

tính sau 2 năm là máy trở nên lạc hậu, nhưng hiện nay vẫn còn tồn tại những

phòng máy được trang bị cách đây 5 năm, các máy này chạy rất chậm, thường

hay bị treo và hư hỏng thất thường. Vì vậy mức độ đánh giá chung về cấu

hình máy là 41% là hợp lý.

-Về cài đặt phần mềm, thường các phòng máy đều được cài đặt đủ các

chương trình để giảng dạy, theo lý thuyết là 100% nhưng qua sử dụng chương

trình có thể bị xóa nhầm, bị virus… không thể sử dụng được. Mức đánh giá

chung của cả 3 đối tượng là 42% phản ảnh một thực tế không tốt về tình hình

phần mềm. Điều này chứng tỏ công tác theo dõi, khôi phục máy của nhân

viên bảo trì không tốt, cũng một phần do lịch học của mỗi phòng quá dày đặc,

không có thời gian để bảo hành, sửa chữa.

-Hệ thống mạng internet được cả 3 đối tượng đều đánh giá mức độ rất

tốt và tốt là 0%, mức độ chưa tốt lắm cũng không quá 50%, còn lại là hoàn

toàn không tốt, Đây cũng là một vấn đề dễ hiểu vì hiện nay mỗi cơ sở chỉ có

một phòng máy nối mạng internet.

-Hệ thống mạng cục bộ, theo lý thuyết tất cả các máy trong một phòng

máy đều được nối mạng với nhau, để dễ quản lý cũng như truyền dữ liệu, và

nhất là để giảng viên có thể giảng bài qua chương trình Netop School. Nhưng

trên thực tế không có đánh giá mức độ rất tốt của cả 3 đối tượng đánh giá,

29% đánh giá tốt , còn lại chia đều chưa tốt lắm và hoàn toàn không tốt. Đây

là một thực tế đáng buồn, vì chủ trương của Trung tâm là muốn tất cả các

giảng viên đều dạy qua Netop School, nhung thực trạng như vậy thì không thể

áp dụng được. Điều này một phần do nhân viên bảo trì chưa tốt, một phần do

CBQL chưa thật quan tâm, còn lại do một số phòng máy quá cũ kỹ chạy

chậm và hay rớt mạng.

-Hệ thống làm mát, máy điều hòa nhiệt độ: tỉ lệ đánh giá chung rất tốt

và tốt là 60%, diều này cho thấy mặc dù tất cả các phòng máy khi lắp đặt đều

có hệ thống máy điều hòa đúng chuẩn, đủ độ lạnh cho phòng 30 người, nhưng

trong quá trình sử dụng thường bị hư hỏng, không sửa chữa kịp thời.

-Công tác sửa chữa bảo trì rất quan trọng, hệ thống máy tính có làm

việc tốt hay không một phần lớn phụ thuộc vào công tác bảo trì. Theo đánh

giá chung không có mức độ đánh giá rất tốt, mức độ tốt được đánh giá 20%.

Điều này chứng tỏ công tác sửa chữa bảo trì máy chưa đạt yêu cầu, do lực

lượng bảo trì quá mỏng và do một số phòng máy cũ thường hư hỏng .

Như vậy, qua các đánh giá và phân tích trên cho thấy thực trạng trang

thiết bị máy móc tại Trung tâm là một vấn đề cần phải được đầu tư và quan

tâm đúng mức.

2.6. Đánh giá chung thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở

Trung tâm Tin học trường Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh

Qua quá trình khảo sát và đánh giá về thực trạng công tác quản lý hoạt

động giảng dạy tại TTTH trường ĐHCN TP.HCM trên, tác giả rút ra một số

kết luận sau:

-Nội dung chương trình được xây dựng khá tốt, mang tính hiện đại và

thực tế, nhưng trang thiết bị chưa phù hợp, dẫn đến tính khả thi thấp và hiệu

quả giảng dạy không cao.

-Việc tuyển chọn GV tuy đảm bảo chuẩn về bằng cấp chuyên môn,

nhưng thực sự việc tuyển chọn chưa được phổ biến rộng rãi để có nhiều ứng

viên đăng ký, qua đó chọn lựa được người thích hợp. Chế độ tiền lương cho

GV cũng chưa có tác dụng thu hút người tài.

-Việc phân công giảng viên chủ yếu là đáp ứng nhu cầu trung tâm, còn

một số ít giảng viên được phân công chưa phù hợp với sở trường của mình.

-Việc quản lý trinh độ chuyên môn GV chủ yếu dựa vào bằng cấp,

thiếu khảo sát thực tế qua dự giờ và qua thăm dò ý kiến học viên.

-Về phương pháp giảng dạy, TTTH có đề xuất một số phương pháp

giảng dạy tin học hiệu quả, được sự hưởng ứng của tất cả các giảng viên trung

tâm, nhưng trang thiết bị dụng cụ dạy học lại chưa đáp ứng yêu cầu.

-Về giảng viên, tất cả đều thực hiện tốt chương trình dạy học, đa số

thực hiện tốt nội qui trung tâm nhưng vẫn còn một bộ phận chưa chấp hành

đúng kỷ cương, đi trễ về sớm, ít nhiệt tình với học viên.

-Về học viên trung tâm, đa số học theo nhu cầu và có ý thức học tập rất

tốt, nhưng cũng còn một số ít học tập không chuyên cần, cũng cần xem xét lại

giảng viên dạy có thật thu hút hay chưa.

-Việc kiểm tra đánh giá cuối khoá thực hiện rất nghiêm túc, hình thức

kiểm tra được chọn rất phù hợp, nhưng nội dung đề thi chưa thật bao quát,

chưa đánh giá đúng năng lực học viên.

-Về CSVC các phòng máy tương đối đạt chuẩn về diện tích, ánh sáng,

âm thanh, hệ thống máy vi tính ở một số phòng máy mới trang bị trong những

năm gần đây là rất tốt. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những phòng máy quá cũ kỹ,

thường xuyên hư hỏng. Hệ thống mạng internet cực kỳ thiếu.

2.7. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy tại

Trung tâm Tin học trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh

-CBQL các cấp trong nhà trường chưa thật sự quan tâm đến TTTH, chủ

trương hệ thống phòng máy vi tính chủ yếu là dành cho các lớp chính qui,

còn lại những thời gian rỗi mới là của TTTH. Nhu cầu học tin học của mọi

người có đủ mọi giờ giấc, việc máy móc dùng chung với hệ chính quy và chỉ

được sử dụng vào buổi tối và chủ nhật như vậy rất hạn chế sự phát triển của

trung tâm.

-CBQL trung tâm cũng chưa thật sự quan tâm đúng mức cho TTTH, họ

còn kiêm nhiệm nhiều công tác, công tác giảng dạy vẫn đặt lên hàng đầu.

Nhất là các Tổ trưởng tại các cơ sở, công việc quản lý đối với họ chỉ là làm

thêm. Ngoài ra họ còn đảm trách công việc coi sóc máy móc như một nhân

viên bảo trì, công việc như thế là quá tải. Mặc khác, tất cả CBQL của TTTH

chỉ có chuyên môn về Tin học và chưa qua khóa đào tạo nào về quản lý, chủ

yếu làm theo kinh nghiệm, chưa thật bài bản.

-Các cơ sở của Trung tâm cách quá xa nhau về địa lý. Mặc dầu hiện

nay với phương tiện điện thoại và internet có thể điều khiển từ xa, nhưng nếu

không thường xuyên đi công tác các cơ sở thì không thể nào nắm rõ tình hình

thực tế để điều hành, CBQL Trung tâm rất thiếu sót trong vấn đề này.

-Việc tuyển chọn giảng viên chưa thật tốt, chủ yếu dựa vào sự giới

thiệu của người quen, không có tiêu chí cụ thể. Thù lao giảng dạy cho giảng

viên cũng chưa thật thu hút để chiêu mộ người tài.

-GV chưa thật sự đầu tư cho việc giảng dạy các lớp Trung tâm, còn lo

“chạy sô” ở các nơi có thu nhập cao hơn.

-Về công tác bảo trì máy, lực lượng bảo trì cũng rất cố gắng trong công

việc nhưng do khối lượng công việc quá nhiều, nhất là ở các cơ sở 2, 3. 4

công việc bảo trì chỉ do tổ trưởng kiêm nhiệm

Trên đây là những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của hoạt động

giảng dạy tại TTTH trường ĐHCN TP.HCM và cần phải có những giải pháp

khoa học, phù hợp với thực tiễn để nâng cao chất lượng giảng dạy để Trung

tâm ngày một phát triển, đáp ứng nhu cầu xã hội.

Chương 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY Ở TRUNG TÂM TIN HỌC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HỒ CHÍ MINH

Căn cứ vào cơ sở lý luận ở chương 1, phân tích thực trạng quản lý hoạt

động giảng dạy ở chương 2 và các thông tư, chỉ thị của Đảng và nhà nước

trong lĩnh vực giáo dục, tác giả xin đưa ra 3 nhóm giải pháp nhằm nâng cao

hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tại TTTH trường ĐHCN TP.HCM

như sau:

3.1. Giải pháp xây dựng, tăng cường đội ngũ CBQL, giảng viên, nhân

viên Trung tâm Tin học trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh

Chỉ thị số 40-CT/TW về việc xây dựng và nâng cao chất lượng nhà

giáo có nêu rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một

trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là nhiệm vụ của

toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực

lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng.” [4, tr.1]

3.1.1. Tuyển chọn có chất lượng để phát triển đội ngũ giảng viên Trung

tâm Tin học trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh

TTTH trực thuộc trường ĐHCN TP.HCM , trong trường có khoa

CNTT rất hùng hậu về số lượng giảng viên. Những giảng viên này đã được

sàng lọc từ phía nhà trường, về mặt chuyên môn có thể đảm nhận tất cả các

môn dạy của Trung tâm, tuy nhiên không phải tất cả các giảng viên cơ hữu

đều muốn dạy ngoài giờ. Do đó cần tuyển thêm giảng viên thỉnh giảng.

Với yêu cầu của Trung tâm, giảng viên phải có bằng cấp từ tốt nghiệp

đại học trở lên, có chuyên môn sâu về vấn đề giảng dạy, có nghiệp vụ sư

phạm và cần thiết phải có nhiệt tình giảng dạy. Cần phải phải thông báo tuyển

dụng trên các phương tiện đại chúng để việc tuyển chọn có chất lượng. Có

tuyển chọn và phải có đào thải những người mặc dù tiêu chí bằng cấp phù

hợp, nhưng không có năng lực thật sự, không nhiệt tình giảng dạy, không

chấp hành nội quy trung tâm. Thiết nghĩ với thời đại ngày nay, việc đưa thông

tin tuyển dụng lên trang web là một điều hoàn toàn dễ dàng thực hiện và

không mấy tốn kém .

Phải thành lập hội đồng tuyển dụng (gồm ban GĐ trung tâm, tổ trường

và trưởng cơ sở) và quá trình tuyển dụng phải có các bước rõ ràng:

-Thông báo tuyển dụng qua mạng, hoặc thông báo cho toàn trường để

mọi người biết giới thiệu ứng viên, với các tiêu chí tuyển chọn cụ thể:

* Năng lực chuyên môn: phải có bằng tốt nghiệp chuyên ngành

CNTT từ bậc Đại học trở lên, có kiến thức chuyên môn sâu về lĩnh vực giảng

dạy.

* Có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm.

* Có sức khoẻ, có thể hình bình thường (không dị tật), giao tiếp chính

xác rõ ràng.

* Không cộng tác với quá nhiều cơ sở dạy học khác (tồi đa là 2), để

có thời gian đầu tư cho công tác giảng dạy tại Trung tâm.

* Cam kết gắn kết lâu dài với Trung tâm.

* Ưu tiên cho các ứng viên đã có kinh nghiệm dạy học hoặc làm việc

trong lĩnh vực CNTT

-Thu nhận hồ sơ và kiểm tra văn bằng, năng lực tự khai, quá trình công

tác cũ.

-Tổ chức phỏng vấn. Qua quá trình tiếp xúc với ứng viên, hội đồng

tuyển dụng sẽ hiểu rõ hơn ứng viên về hình thể, khả năng giao tiếp, ứng xử,

sự quan tâm đến môn học cần tuyển dụng, tâm tư nguyện vọng ứng

viên.v.v…

-Tổ chức cho giảng thử để xác định khả năng sư phạm của ứng viên.

-Sau khi ký hợp đồng giảng dạy, giảng viên cần qua một khóa dạy thử

việc, nếu giảng tốt sẽ mời giảng tiếp, nếu không tốt thì chấm dứt hợp đồng.

Do việc tuyển giảng viên cũng mất nhiều thời gian và công phu nên

cũng cần sử dụng giảng viên hợp lý, để họ yêu công việc và gắn bó với Trung

tâm. Người CBQL cần bố trí giảng viên đúng sở trường giảng dạy thì mới

phát huy hết thế mạnh của giảng viên. Phân công đúng năng lực sở trường

đặc biệt quan trọng, con người là vốn quí nhất của mọi tổ chức, phân công sử

dụng đúng sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển cho cá nhân và cho

tổ chức.

Qua quá trình giảng dạy thực tiễn người giảng viên sẽ thể hiện năng

lực thực sự cùng những tư chất của mình, CBQL căn cứ vào đó để kịp thời

thay thế những giảng viên không phù hợp.

3.1.2. Phân công nhiệm vụ cho Cán bộ Quản lý các cơ sở một cách

hợp lý

Ban Giám đốc TTTH do Hiệu trưởng nhà trường chỉ định. Tổ trưởng từng

cơ sở do Ban Giám đốc Trung tâm lựa chọn trong số giảng viên cơ hữu

thường xuyên giảng dạy tại trung tâm, có chuyên môn vững vàng nhất, nhiệt

tình năng nỗ nhất. Tổ trưởng hiện nay kiêm cả việc trông coi và bảo trì các

phòng máy tại cơ sở mình. Công việc như thế là quá tải đối với một Tổ

trưởng, vì ngoài nhiệm vụ của Trung tâm họ còn có nhiệm vụ giảng dạy các

lớp chinh qui của nhà trường. Cần phải tách riêng công việc bảo trì cho nhân

viên bảo trì và qui định nhiệm vụ cụ thể cho Tổ trưởng tại các cơ sở:

-Kịp thời nhận các chỉ thị, thông báo từ Ban Giám đốc Trung tâm và

triển khai thực hiện.

-Nắm vững nhu cầu học tin học của địa phương nơi cơ sở trú đóng.

-Nắm vững trinh độ đội ngũ giảng viên, theo dõi sát sao hoạt động lên

lớp của từng giảng viên.

-Quản lý thiết bị máy móc và nhân viên bảo trì sao cho máy móc luôn

trong tình trạng sẵn sàng sử dụng.

-Khi có sự cố ngoài tầm giải quyết cần báo cáo gấp với Trưởng Cơ sở

và Ban Giám đốc Trung tâm.

3.1.3. Tăng cường nhân viên bảo trì

Việc bảo trì máy tính là vô cùng cần thiết, nhiều khi máy chỉ bị hư một

thiết bị nhỏ, nếu không quan tâm sửa chữa dẫn đến không sử dụng được máy.

Với lịch học dày đặc, việc hư hỏng phần cứng cũng như phần mềm là điều

không tránh khỏi. Do đó nhất thiết phải có người thường xuyên túc trực trông

coi máy tính, để phát hiện sửa chữa, thay thế kịp thời, đảm bảo cho hệ thống

máy được vận hành liên tục.

Hiện nay nhân viên bảo trì chỉ có ở cơ sớ 1 (2 người) với số lượng hơn

700 máy, công việc bảo trì máy quá nặng nể đối với họ, dẫn đến thường

xuyên máy không ở trong tình trạng sẵn sàng sử dụng. Cần bổ sung thêm 2

người cho cơ sở 1, và mỗi cơ sờ 2, 3, 4 mỗi cơ sở 1 người. Việc tuyển chọn

cũng cần thông báo rộng rãi trên mạng với đầu vào chỉ cần từ tốt nghiệp

Trung cấp trở lên, chuyên ngành mạng và phần cứng máy tính, có kinh

nghiệm trong việc bảo trì máy và mạng máy tính. Ngoài chuyên môn người

bảo trì còn một đức tính quan trọng nữa là tính trung thực, nếu không sẽ vô

cùng nguy hiểm cho việc bảo quản tài sản phòng máy. Người này nhất thiết

phải có nhân thân tốt. Việc tuyển chọn cũng phải được tổ chức đầy đủ qui

trình như giảng viên: thông báo tuyển dụng, xem hồ sơ, tổ chức phỏng vấn và

thử việc. Việc thêm bảo trì có thể làm tăng thêm ngân sách chi phí của Trung

tâm, nhưng bù lại máy móc sẽ tốt hơn, có thể chiêu sinh ở mức tối đa phòng

máy cho phép 30/30, như vậy thu sẽ bù chi. Qui định nhiệm vụ cụ thể cho bảo

trì:

-Nhân viên bảo trì phải thường xuyên có mặt tại các phòng máy trong

các giờ học của Trung tâm, để kịp thời khắc phục các sự cố xảy ra. Nếu bị

hỏng hóc linh kiện, máy móc thiết bị, phải sửa chữa ngay, nếu không có khả

năng khắc phục thì thay thế bằng thiết bị dự trữ.

-Trực tiếp chịu trách nhiệm về hệ thống mạng máy tính của Trung tâm.

Kiểm tra máy chủ, và các thiết bị khác hằng ngày. Theo dõi hoạt động của

máy chủ, đảm bảo sự vận hành thông suốt của các thông tin trên mạng, đảm

bảo an toàn dữ liệu lưu trên mạng máy tính.

-Định kỳ làm vệ sinh máy.

-Định kỳ quét virus và cài đặt, cập nhật các bản sửa lỗi hệ thống tại tất

cả các máy tính.

- Khi có các sự cố ngoài khả năng, phải báo ngay cho CBQL cơ sở để

có hướng xử lý.

3.1.4. Cần có chính sách lương bổng thích hợp

Để thu hút người tài cần phải có chế độ lương bổng tương đối. Định

mức lương như hiện nay là quá thấp. Hiện nay với mức lương cho giảng viên

35.000đ/ tiết, tổ trưởng kiêm nhiệm 500.000đ/tháng, nhân viên bảo tri

2.000.000/ tháng là quá thấp, không tương xứng với công sức của người lao

động. Để tuyển chọn được người có năng lực, để họ tận tâm với công việc và

gắn bó lâu dài với Trung tâm cần phải có chính sách tiền lương thích hợp. Đề

nghị: lương giảng viên 45.000đ/tiết, tổ trưởng 1.000.000đ/ tháng, nhân viên

bảo trì 3.000.000đ/tháng.

3.2. Giải pháp tăng cường quản lý có hiệu quả vào hoạt động giảng dạy

Một tổ chức dạy học có nhiều hoạt động, trong đó hoạt động dạy học

là hoạt động chính, các hoạt động khác đóng vai trò hỗ trợ. Hoạt động dạy

học chiếm hầu hết thời gian của thầy và trò, là hình thức tồn tại của quá trình

dạy học, có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận cũng như hoạt động thực tiễn

của đơn vị.

3.2.1.Cải tiến nội dung chương trình, giáo trình

 Nội dung chương trình

Chương trình đào tạo là tài liệu mô tả mục tiêu, nội dung và phương

pháp dạy học. Một chương trình học phải cung cấp thông tin cho cả 3 đối

tượng: nhà quản lý, giảng viên và học viên. Đối với nhà quản lý, căn cứ vào

chương trình để tổ chức đào tạo, đề ra lịch dạy, để kiểm tra chất lượng giảng

dạy của giảng viên và chất lượng học tập của học viên. Đối với giảng viên

chương trình là căn cứ để giảng dạy đảm bảo chất lượng theo mục tiêu , đối

với học viên căn cứ vào chương trình để lập kế hoạch học tập đạt mục tiêu

môn học. Vai trò của chương trình rất quan trọng trong việc đảm bảo chất

lượng.

Qua phân tích ở phần thực trạng, chương trình mặc dầu có một số ưu

điểm nhất định, nhưng cũng còn nhiều mặt hạn chế, cần phải cải tiến.

Nguyên tắc để xây dựng, đổi mới chương trình đào tạo:

-Phải đảm bảo mục tiêu đào tạo, mỗi môn học phải có mục tiêu chi tiết

rõ ràng: khối lượng kiến thức và kỹ năng mà học viên đạt được khi học xong

chương trình, loại hình kiểm tra môn học, sự cân đối giữa lý thuyết và thực

hành, phương pháp giảng dạy.

-Khi xây dựng chương trình phải chọn lọc kiến thức đưa vào chương

trình, mỗi khối kiến thức trong một thời gian nhất định, do kiến thức ngày

càng nhiều, mà nội dung thì có hạn nên cần chọn lọc kiến thức đưa vào

chương trình theo mục tiêu đã đặt ra. Các kiến thức phải mang tính khoa học.

Chương trình phải mang tính sư phạm, phải có tính khả thi về mặt thời lượng.

-Chương trình cần phải cô đọng, không cần thiết phải dạy cho học viên

tất cả, mà dạy cho họ cái để biết và tự phát triển.

Tin học là một ngành có tốc độ phát triển như vũ bão , có thể nói mỗi

giây là một sự phát triển, để bắt kịp thời đại, chương trình đưa vào giảng dạy

phải là những phiên bản mới nhất, việc cải tiến nội dung chương trình, cho

phù hợp với tốc độ phát triển của tin học là vấn đề quan trọng và cần thường

xuyên được thực hiện. Ở TTTH những vấn đề cần làm với chương trình như

sau:

- Chương trình phải thường xuyên cập nhật, phải bổ sung định kỳ, ít

nhất là 6 tháng một lần. Vì nội dung là có hạn, để cập nhật những tri thức

mới, cũng cần loại bỏ những cái lỗi thời.

- Nội dung từng bài giảng, bài tập phải được chuẩn hoá. Điều này rất

quan trọng với việc giảng dạy tại Trung tâm. Sự phân phối chương trình phải

chính xác đến từng tiết dạy. Vì vậy cần thiết phải thành lập một nhóm chuyên

môn chuyên cập nhật chương trình, giáo trình,

- Hiện nay các chuyên đề đồ họa, thiết kế web, mạng máy tính còn rời

rạc từng phần. Cần xây dựng một chương trình nhất quán xuyên suốt ngành

học với trình độ đào tạo kỹ thuật viên.

-Cần tạo điều kiện cho giảng viên thực hiện phương pháp giảng dạy

theo hướng dẫn trong chương trình cho phù hợp với thời lượng ấn định.

-Thường xuyên lấy ý kiến phản hồi từ giảng viên và học viên ít nhất

mỗi khoá học một lần để rút kinh nghiệm và bổ sung cho những lần sau được

tốt hơn.

 Giáo trình

Các môn học cần phải có giáo trình có chất lượng, cập nhật kiến thức

hiện đại. Giáo trình tốt cùng với các phương tiện học tập khác nâng cao chất

lượng dạy học. Đối với TTTH, vấn đề giáo trình cần phải:

-Mỗi khi cập nhật chương trình, giáo trình phải được cập nhật tương

ứng.

-Cần duyệt giáo trình trước khi in với qui định thẩm định tài liệu chặt

chẽ. Đây là một khâu rất quan trọng mà hầu như Trung tâm không chú ý. Các

yêu cầu đặt ra cho việc thẩm định giáo trình:

* Phù hợp với chương trình đã được chuẩn y.

* Trình bày những nội dung cơ bản của môn học

* Những kiến thức nêu ra phải chính xác, tin cậy, có cơ sở khoa

học và được trình bày ngắn gọn, rõ ràng.

* Phân chia rành mạch từng chương, mỗi chương phải phù hợp với

luận điểm được trình bày trong chương trình.

* Phù hợp với trình độ học viên.

* Hình thức trình bày phải khoa học, rõ ràng và đẹp mắt.

-Lấy phản hồi ý kiến từ phía giảng viên trước khi cho in ấn đại trà.

-Đầu tư kinh phí xứng đáng cho giảng viên soạn giáo trình. Đề xuất thù

lao: 100.000đ/tiết x số tiết môn học.

3.2.2. Quản lý sâu sát việc thực hiện chương trình giảng dạy

Chương trình dạy học qui định nội dung, phương pháp, hình thức dạy

học các môn học, thời gian dạy học từng phần, nhằm thực hiện yêu cầu, mục

tiêu đã đề ra.

Việc thực hiện đúng chương trình dạy học là yêu cầu nhất thiết giảng

viên phải tuân thủ, người quản lý cần phải theo dõi sát sao để chỉ đạo giảng

viên thực hiện đúng chương trình, nội dung, và kế hoạch dạy học. Muốn vậy

cần phải:

- Chương trình cần lập kế hoạch chi tiết cho từng phần, từng chủ đề,

từng bài. GV cứ việc theo đó mà giảng dạy.

-Phổ biến kịp thời những thay đổi và bổ sung chương trình.

-CBQL trung tâm, tổ trưởng phải nắm vững chương trình từng môn và

có kế hoạch chuẩn bị phương tiện dạy học phù hợp.

-Tổ chức thảo luận những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giảng dạy,

những vấn đề mới trong chương trình để thống nhất thực hiện.

-Theo dõi chặt chẽ việc thực hiện chương trình thông qua lịch giảng

dạy, sổ đầu bài, sổ tay giảng viên, kịp thời xử lý các sự cố bất thường xảy ra.

Với số lớp của TTTH như hiện nay, việc kiểm tra hoàn toàn có thể thực hiện

hàng ngày.

-Thường xuyên tổ chức dự giờ, nhất là với các giảng viên mới, qua đó

tổ chức phân tích tiết dạy cho giảng viên rút kinh nghiệm.

-Tổ chức một số tiết dạy mẫu của giảng viên nhiều kinh nghiệm, để các

giảng viên khác học tập kinh nghiệm, nhất là các giảng viên mới tham gia

giảng dạy tại Trung tâm lần đầu.

3.2.3. Tạo điều kiện đầy đủ về trang thiết bị dạy học và yêu cầu giảng

viên sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực

Chất lượng học tập tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp

giảng dạy của người thầy. Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích

cực với sự hỗ trợ của các phương tiện hiện đại là một vấn đề mà các đơn vị

dạy học quan tâm. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 9 về phát triển giáo dục

và đào tạo có nêu rõ: “Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng

tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm,

ngoại khóa, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay. Thực hiện

phương châm “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” .

Phát huy tính tích cực của người học thông qua hàng loạt các tác động của

giảng viên là bản chất của phương pháp giảng dạy mới. Khi nói đến tính tích

cực, chúng ta quan niệm là lòng mong muốn hành động được nảy sinh từ phía

người học, được biểu hiện ra bên ngoài hay bên trong của sự hoạt động. Nhờ

phát huy được tính tích cực mà người học không còn bị thụ động.

TTTH có đề xuất phương pháp giảng dạy tích cực mà tất cả giảng viên

đều đánh giá tốt và rất tốt 100% : phương pháp giảng dạy dùng projector hoặc

dùng chương trình Netop School. Nhưng qua khảo sát thực trạng không phải

cứ phương pháp tốt là được luôn luôn sử dụng. Với giảng viên Trung tâm

không cần phải chỉ đạo, không cần phải nâng cao nhận thức của họ trong việc

sử dụng các phương tiện hiện đại để dạy học mà bản thân họ luôn luôn khao

khát được trang bị những thiết bị này cho tiết dạy, vấn đề là là thiết bị có sẵn

sàng hay không.

Muốn vậy Trung tâm phải trang bị cho mỗi phòng máy một projector

gắn cố định trong mỗi phòng máy tránh sự di chưyển nhiều lần gây va chạm

rung lắc ảnh hửơng đến tuổi thọ. Các phòng máy chưa được nối mạng cần

phải thiết lập ngay hệ thống mạng, cài đặt chương trình Netop School cho tất

cả các máy.

Tuy nhiên, ngoài việc đầu tư, trang bị của Trung tâm, ngoài việc sửa

chữa bảo trì của nhân viên bảo trí, bản thân người giảng viên phải có ý thức

trong việc sử dụng thiết bị. Với projector, trong lúc máy chưa đủ để gắn cho

từng phòng mà còn phải luân chuyển từ phòng này sang phòng khác thì khi di

chuyển các máy cần nhẹ nhàng tránh sự rung lắc va chạm. Tuổi thọ của đèn

hình là có hạn với số giờ qui định, do đó khi không cần thiết phải tắt đi. Các

thiết bị phụ trợ như dây cắm, ổ điện dùng xong phải để đúng nơi qui dịnh,

tránh trường hợp chỉ vì thiếu dây mà không sử dụng được thiết bị. Với

chương trình Netop, giảng viên cần phải biết cài đặt chương trình này, phải

nắm rõ hệ thống mạng, hệ thống điện phòng máy mình giảng dạy để kịp thời

khắc phục những sự cố nhỏ, không nhất thiết một chút gì cũng gọi bảo trì.

3.2.4. Quản lý chặt chẽ nề nếp dạy học

Đi đôi với chất lượng và kết quả gỉảng dạy, nề nếp dạy học cũng là

một tiêu chí để đánh giá giảng viên .Thực tế, nếu giảng viên không thực hiện

nề nếp thì học viên cũng không nề nếp và việc dạy học sẽ không đạt hiệu quả

cao.

Nêu cao tinh thần tự giác của giảng viên trong việc thực hiện nề nếp,

tác phong, kỷ luật lao động trên lớp: không bỏ tiết dạy, không đi trễ, về sớm.

Theo dõi sát sao và kịp thời nhắc nhở, xử lý nghiêm các trường hợp bỏ tiết, đi

trễ về sớm, không để phát triển thành tính hệ thống. Trường ĐHCN TP.HCM

đã rất thành công trong việc quản lý nề nếp dạy học của giảng viên bằng các

biện pháp thưởng phạt tài chính, đề nghị TTTH nên áp dụng cách quản lý này.

3.2.5. Tăng cường quản lý việc kiểm tra đánh giá

Kiểm tra đánh giá là khâu quan trọng của quá trình dạy học, qua đó thể

hiện trình độ tiếp thu lĩnh hội kiến thức của học viên, chất lượng giảng dạy

của giảng viên và cả trình độ quản lý của CBQL. Để đánh giá tốt, việc kiểm

tra phải tiến hành hết sức nghiêm túc, đề thi phải phủ khắp chương trình và

thể hiện đúng năng lực của học viên. Việc kiểm tra đánh giá ở TTTH còn bao

gồm cả những thí sinh tự do, không học mà chỉ đăng ký thi. Đây là một trọng

trách mà xã hội giao phó cho Trung tâm để đánh giá trình độ tin học của thí

sinh, do đó cần phải làm thật tốt công tác này.

Qua khảo sát thực trạng vấn đề còn tồn tại trong việc kiểm tra đánh giá

nằm ở nội dung đề thi chưa bao quát hết chương trình, dẫn đến chưa đánh giá

đúng năng lực học viên. Muốn khắc phục điều này CBQL cần phải quan tâm

hơn nữa trong công tác kiểm tra đánh giá.

-Xác định tầm quan trọng của việc kiểm tra đánh giá, coi ngang bằng

với việc tổ chức dạy học

-Xây dựng lại ngân hàng đề thi trên cơ sở ngân hàng hiện có.

-Ngân hàng được bổ sung thường xuyên qua mỗi khoá học từ giảng

viên đứng lớp.

-Việc soạn câu hỏi phải theo từng chương mục rõ ràng, bao gồm tất cả

các chương mục trong chương trình giảng dạy

-Đề thi soạn trên tinh thần không quá dễ, cũng không quá khó, phù hợp

với chương trình đào tạo.

-Phải có một nhóm chuyên môn chọn đề và duyệt đề.

-Đề thi từ các Cơ sở 2, 3, 4 phải là đề thi từ Cơ sở 1 cung cấp, vì các cơ

sở này số lượng giảng viên còn ít, không thể thành lập tổ chọn và duyệt đề.

3.3. Giải pháp về cơ sở vật chất

CSVC là một bộ phận không thể thiếu được trong quá trình giáo dục

đào tạo . CSVC là yếu tố trực tiếp tác động đến quá trình giáo dục và góp

phần quan trọng vào chất lượng giáo dục. Các nhà giáo dục vẫn thường nói

“Không có CSVC tốt thì không thể nói đến chất lượng giáo dục”. Thật vậy,

qua phân tích thực trạng ở chương 2 rất nhiểu mặt hạn chế do CSVC mà ra,

từ việc thực hiện chương trình, đến phương pháp giảng dạy, đến chất lượng

học tập, ảnh hưởng của CSVC rất lớn. Vì vậy cần phải có giải pháp đầu tư

đúng mức cho CSVC.

3.3.1. Tăng cường đầu tư xây dựng phát triển cơ sở vật chất

Trường ĐHCN TP.HCM là một trong những đơn vị đào tạo có tốc độ

phát triển rất nhanh về mọi mặt từ cấp bậc đào tạo, ngành nghề đào tạo, đội

ngũ giảng viên, số lượng học sinh sinh viên, đến CSVC. Chỉ tính từ năm 1999

trường chỉ là một trường Cao đẳng với hơn 10 ngành nghề đào tạo, 100 giảng

viên và khoảng 2.500 học sinh sinh viên, mà đến nay đã đào tạo bậc Đại học

và các bậc thấp hơn với hơn 1.500 giảng viên và khoảng 50.000 học sinh sinh

viên tại 6 cơ sở đào tạo. Cùng với sự phát triển của trường, Khoa CNTT cũng

phát triển từ 180 máy tính đến nay là 1.080 máy tính dành cho giảng dạy.

TTTH cũng phát triển, thừa kế số máy của Khoa CNTT nhà trường vào

những buổi ngoài giờ: buổi tối và chủ nhật. Với tốc độ phát triển như vũ bão

của ngành tin học, nhu cầu học tin học của mọi người ngày càng tăng, mà

nhất là lượng sinh viên trong trường ngày càng đông, và cần bổ sung thêm

kiến thức tin học để phục vụ cho chuyên ngành và ra trường dễ xin việc. Trên

thực tế số lượng giờ máy mà TTTH sử dụng không đủ phục vụ cho nhu cầu

của học viên. Vì vậy cần tăng cường đầu tư phát triển CSVC của Trung tâm.

Nhu cầu học tin học của mọi người không chỉ là buổi tối mà có cả sáng

chiều tuy không nhiều bằng, do đó phải có phòng máy dành riêng cho TTTH

để có thể sử dụng vào ban ngày. Hiện nay chung quanh các cơ sở của trường

có rất nhiều các Trung tâm Tin học tư nhân mọc lên và ngày càng nhiều,

chứng tỏ nhu cầu học tin học càng càng tăng. Vì vậy vấn đề thành lập thêm

phòng máy mới cho TTTH là rất hợp lý. Mặc dù máy móc trong lĩnh vực tin

học sẽ lạc hậu rất nhanh theo thời gian, nhưng với lượng học viên dồi dào

như vậy, vấn đề thu hồi vốn sẽ rất nhanh. Với nhu cầu như hiện nay, trước

mắt cần đầu tư thêm 3 phòng máy mới cho Cơ sở 1, các Cơ sở 2, 3, 4 mỗi cơ

sở 1 phòng máy mới, hoàn toàn dành cho Trung tâm để dạy cả sáng, chiều,

tối.

Việc đầu tư, xây dựng phát triển phòng máy không chỉ một lần mà phải

có kế hoạch thường xuyên liên tục từng năm .

3.3.2. Nâng cấp, bổ sung cơ sở vật chất và các trang thiết bị dạy học

-Ngoài việc có kế hoạch phát triển xây dựng phòng máy mới như trên

đã nói, hiện nay cũng có một số phòng máy xuống cấp do được đầu tư quá lâu

và được sử dụng quá nhiều, mặc dầu cũng chỉ để dạy những môn cơ

bản nhưng học viên và giảng viên rất than phiền, cần phải thay mới hẳn

những phòng máy này.

- Các phòng máy cần phải bảo dưỡng, bảo trì, bổ sung và nâng cấp liên

tục. Ngày nay các phần mềm ngày một phát phiển với những phiên bản mới

hơn, đòi hỏi thiết bị phần cứng phải thích ứng song song. Để chương trình đào

tạo bắt kịp thời đại, phù hợp với yêu cầu thực tế xã hội, cần phải có phòng

máy phù hợp. Những phòng máy còn dùng được, chưa đến nỗi phải thay mới

hoàn toàn thì cần phải nâng cấp.

-Cần phải đầu tư hệ thống mạng của từng phòng máy, việc đầu tư này

không tốn kém nhiều, hoàn toàn có thể khả thi, nhưng quan trọng là vấn đề

duy trì cho mạng họat động. Như đã phân tích ở phần thực trạng một số

phương pháp giảng dạy mới có hiệu quả sử dụng rất cao, nhưng phải có thiết

bị tương ứng. Để duy trì tốt hệ thống mạng cần phải có đội ngũ bảo trì chuyên

nghiệp và siêng năng. Hơn nữa, với lượng người học liên tục 3 ca: sáng chiều

tối, vấn đề hư hỏng phần cứng cũng như phần mềm là vấn đề thường xuyên,

nên nhất thiết phải có nhân viên bào trì túc trực trông coi. Hiện nay, cơ sở 1

có 2 nhân viên bảo trì, còn các cơ sở 2, 3, 4 phần bảo trì do tổ trưởng ở mỗi

cơ sở kiêm nhiệm. Điều này làm đỡ tổn hao kinh phí cho Trung tâm nhưng

dẫn đến hệ thống máy móc không tốt, cần phải tăng cho mỗi cơ sở một nhân

viên bảo trì.

-Cần phải đầu tư hệ thống mạng internet thêm nhiều hơn. Với thực

trạng hệ thống internet quá ít ỏi như hiện nay, thì không thể thực hiện mục

tiêu của chương trình môn học. Cần ít nhất 1/3 số lượng phòng máy kết nối

internet.

3.3.3. Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục để có nguồn tài chính phát

triển cơ sở vật chất

Chiến lược phát triển GD-ĐT 2001-2010 nêu rõ quan điểm tăng nguồn

tài chính, CSVC cho giáo dục, cụ thể là: “Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước,

huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục, đổi mới cơ chế

quản lý tài chính. Chuẩn hoá, và hiện đại hoá trường sở, trang thiết bị giảng

dạy, nghiên cứu và học tập”.

Ngày nay, giáo dục có vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển

kinh tế - xã hội ở tất cả các nước trên thế giới, các nước phát triển cũng như

các nước đang phát triển. Giáo dục thực sự trở thành nhân tố phát triển kinh

tế, văn minh trí tuệ, kinh tế tri thức. Vì thế nước nào cũng muốn đầu tư cho

phát triển giáo dục bằng mọi nguồn lực có thể huy động được. Xã hội hóa

giáo dục đã được xem như là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với quan

điểm chỉ đạo của Đảng. Giáo dục được coi là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn

dân. Nâng cao chất lượng giáo dục, bố trí và sử dụng có hiệu quả ngân sách

nhà nước cho giáo dục đào tạo và tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế,

tư nhân, để tăng nguồn lực phát triển giáo dục đào tạo, vận động nhân dân

tham gia có hiệu quả vào sự nghiệp giáo dục, những nội dung đó của xã hội

hóa giáo dục đã được thể hiện cụ thể bằng các nghị quyết của Chính phủ.

Nghị định Số 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến

khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa,

thể thao: “Xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao là vận

động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự

phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo

dục, y tế, văn hoá, thể thao trong sự phát triển về vật chất và tinh thần của

nhân dân” [5, tr.1].

“Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân.

Cần huy động sức mạnh tổng hợp từ nhiều nguồn, nhiều tầng lớp, đối tượng,

tổ chức cùng tham gia vào chăm lo cho sự nghiệp giáo dục một cách có hiệu

quả, thiết thực, đúng hướng.” [5, tr.2]

Trên tinh thần các nghị quyết của Đảng, để có nguồn tài chính phát

triển CSVC, thiết nghĩ nhà trường có thể kêu gọi cổ đông đóng góp trên tinh

thần các bên cùng có lợi. Nhà trường sắp xếp lại phòng học, cải tạo thành

phòng máy, và cổ đông đóng góp trang bị máy móc. Nhà trường đỡ một phần

chi phí đầu tư ban đầu, dành cho các hoạt động khác, mà học viên có môi

trường CSVC tốt để học tập.

3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp

Trên đây là một số các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý

hoạt động giảng dạy tại TTTH trường ĐHCN TP.HCM. Tổng hợp các giải

pháp này được chia thành 3 nhóm giải pháp có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Các giải pháp này nếu được thực hiện một cách đồng bộ với sự quan tâm của

lãnh đạo nhà trường, của CBQL Trung tâm, CBQL các cơ sở và sự nỗ lực của

tất cả các thành viên Trung tâm sẽ mang lại hiệu quả để nâng cao chất lượng

hoạt động giảng dạy tại TTTH.

Trong các giải pháp trên giải pháp xây dựng, tăng cường đội ngũ

CBQL, GV, nhân viên là quan trọng hơn cả, vì con người bao giờ cũng là yếu

tố quyết định của mọi hoạt động, có một đội ngũ tốt về chất, đủ về lượng là cơ

sở để nâng cao chất lượng giảng dạy và phát triển Trung tâm. Các giải pháp

khác còn lại, mỗi giải pháp có chức năng vị trí khác nhau, hỗ trợ qua lại và tác

động lẫn nhau. Khi thực hiện, cần tiến hành đồng thời các giải pháp để đạt

hiệu quả cao nhất và cũng cần xét đến tính khả thi của từng giải pháp.

3.5.Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các giải pháp

Để xác định tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp nâng cao

hiệu quà công tác quản lý hoạt động giảng dạy, tác giả đã tham khảo ý kiến

của 12 CBQL và 40 giảng viên có thâm niên công tác lâu dài tại TTTH, kết

quả thể hiện trong bảng sau:

Bảng 3.1. Khảo sát về tính cần thiết và khả thi của các giải pháp

Tính cần thiết

Tính khả thi

Các giải pháp chi tiết

Số lượng

Tỉ lệ S

ố lượng

Tỉ lệ

52

100%

49

95%

52

100%

52

100%

Tuyển chọn có chất lượng để phát triển đội ngũ giảng viên Phân công nhiệm vụ cho CBQL các cơ sở một cách hợp lý

Tăng cường nhân viên bảo trì

52

100%

51

98%

49

95%

47

90%

Cần có chính sách lương bổng thích hợp

50

96%

48

92%

52

100%

49

95%

52

100%

48

92%

Cải tiến nội dung chương trình, giáo trình Quản lý việc thực hiện chương trình gỉảng dạy Tăng cường sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực

Quản lý chặt chẽ nề nếp dạy học

48

93%

47

90%

49

94%

47

90%

Nhóm giải pháp Xây dựng phát triển đội ngũ CBQL, GV, nhân viên Tăng cường quản lý có hiệu quả vào hoạt động giảng dạy

50

96%

47

90%

52

100%

52

100%

47

90%

42

80%

Tăng cường quản lý việc kiểm tra đánh giá Tăng cường đầu tư xây dựng phát triển CSVS Đầu tư Nâng cấp, bổ sung CSVC và các đúng trang thiết bị dạy học mứcvề CSVC Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục để có nguồn tài chính phát triển CSVC

Qua bảng 3.1 cho thấy tất cả các giải pháp đều rất cần thiết, 6/12 giải

pháp được đánh giá cần thiết là 100%, các giải pháp còn lại đều được đánh

giá ở mức độ từ 90% trở lên. Về tính khả thi có 2/12 giải pháp được đánh giá

100%, 9/12 được đánh giá tính khả thi từ 90% trở lên, chỉ duy nhất một giải

pháp được đánh giá tính khả thi 80%. Như vậy có thể kết luận tất cả những

giải pháp được đề xuất đều có cơ sở lý luận và thực tiễn, cần thiết triển khai

thực hiện.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1.Kết luận

Nghị quyết của Đảng và nhà nước đã nêu rõ: “Công nghệ thông tin là

một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số

ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn

hoá, xã hội của thế giới hiện đại.

Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần

giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy

công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng

cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá

trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của

nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực

hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.” [2, tr.1]

Và chủ trương của nhà nước là cần phải “Đẩy mạnh các chương trình

đào tạo phi chính quy và ngắn hạn về công nghệ thông tin” [20, tr.4].

Trên tinh thần các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, trong nhiều năm

qua, TTTH trường ĐHCN TP.HCM đã góp phần không nhỏ trong việc đào

tạo tin học hệ ngắn hạn, góp phần xóa mù và nâng cao trình độ tin học cho

dân địa phương và học sinh sinh viên nhà trường, góp phần nâng cao sức

mạnh trí tuệ của dân tộc ta. Ban Quản lý Trung tâm cũng đã cố gắng rất nhiều

trong công tác quản lý để điều hành Trung tâm với cự ly địa lý các cơ sở của

Trung tâm rất cách xa nhau. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, khách quan có,

chủ quan cũng có, mà cơ bản là công tác quản lý chưa bao giờ được nghiên

cứu, phân tích một cách kỹ càng, để từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp

khắc phục những vấn đề hạn chế, để Trung tâm ngày một phát triển , bắt nhịp

với tốc độ phát triển của nhà trường, đáp ứng nhu cầu học tin học ngày càng

tăng của xã hội.

Trong luận văn này, trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý nói

chung, quản lý về hoạt động giảng dạy nói riêng cùng các văn kiện, nghị

quyết của Đảng và nhà nước, tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực trạng công

tác quản lý hoạt động giảng dạy ở TTTH trường ĐHCN TP.HCM, cụ thể ở

các mặt: quản lý chương trình đào tạo, giáo trình, quản lý hoạt động giảng dạy

của giảng viên, quản lý việc kiểm tra đánh giá , quản lý CSVC, đã rút ra

những ưu khuyết điểm trong công tác quản lý, tìm ra những nguyên nhân của

thực trạng (như đã tổng kết ở cuối chương 2). Từ yêu cầu đổi mới để phát

triển, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt

động giảng dạy của TTTH như sau:

-Giải pháp xây dựng, tăng cường đội ngũ CBQL, GV, nhân viên

TTTH: tuyển chọn có chất lượng để phát triển đội ngũ giảng viên, phân công

nhiệm vụ cho CBQL các cơ sở một cách hợp lý, tăng cường nhân viên bảo

trì, cần có chính sách lương bổng thích hợp.

-Giải pháp tăng cường quản lý có hiệu quả vào hoạt động giảng dạy:

cải tiến nội dung chương trình, giáo trình, quản lý sâu sát việc thực hiện

chương trình gỉảng dạy, tạo điều kiện đầy đủ về trang thiết bị dạy học và yêu

cầu giảng viên sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, quản lý chặt chẽ

nề nếp dạy học, tăng cường quản lý việc kiểm tra đánh giá

-Giải pháp về CSVC: tăng cường đầu tư xây dựng phát triển CSVC,

nâng cấp, bổ sung CSVC và các trang thiết bị dạy học, làm tốt công tác xã hội

hóa giáo dục để có nguồn tài chính phát triển CSVC

Những giải pháp trên cũng đã được khảo sát về tính cần thiết (đạt 90%

trở lên) và tính khả thi (đạt 80% trở lên), nếu được tiến hành đồng bộ, song

song chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả tốt, đưa TTTH ngày một phát triển, góp

phần nâng cao trình độ tin học của người dân, góp phần vào sự nghiệp công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2. Kiến nghị

2.1.Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo

 Nâng cao nhận thức về sự cần thiết của Tin học đối với mọi thành

viên trong xã hội, bắt buộc mọi công dân đang làm việc tại các cơ quan nhà

nước đều phải có tin học trình độ từ A trở lên. Đến năm 2020 hoàn thành xóa

mù Tin học trong phạm vi cả nước cho mọi người dân có tuổi đời nhỏ hơn 50.

Kêt nối mạng internet cho mọi miền đất nước.

 Ban hành các chính sách đầu tư, xây dựng CSVC về Công nghệ

thông tin trong các trường công lập trên tinh thần nhà nước và nhân dân cùng

làm.

 Tăng tiêu chuẩn dạy thực hành cho giảng viên Tin học, hiện nay 1

tiết thực hành tin học=0,75 tiết lý thuyết, ngang bằng với các ngành nghề

khác như mộc, điện, cơ khí, hóa… là chưa hợp lý. Trong giờ thực hành tin

học, giảng viên phải đầu tư công sức và lao động rất nhiều, không kém gì một

tiết lý thuyết, đề nghị 1 tiết thực hành = 1 tiết lý thuyết.

2.2. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM

Chuẩn hóa các cơ sở dạy tin học trên địa bàn thành phố. Trừ các TTTH

trực thuộc các trường đại học, phổ thông có nguồn giảng viên từ các trường

tương đối ổn định và có chất lượng, các đơn vị tư nhân xin cấp phép mở cơ sở

đào tạo tin học cần xem xét kỹ về chương trình đào tạo và nguồn lực giảng

viên.

2.3. Đối với Ban lãnh đạo nhà trường

 Mạnh dạn đầu tư CSVC, cần đầu tư một số phòng máy riêng cho

Trung tâm.

 Kết nối internet cho ít nhất 1/3 số phòng máy thực hành.

 Tăng cường nhân viên bảo trì.

 Tăng lương cho giảng viên giảng dạy, cho CBQL cơ sở, nhân viên

bảo trì.

 Có chế độ thích đáng cho việc biên soạn giáo trình, xây dựng ngân

hàng đề thi trắc nghiệm.

2.4. Đối với CBQL

 Thường xuyên đi công tác các cơ sở để nắm tình hình.

 Theo dõi sát sao hoạt động lên lớp của giảng viên hơn nữa.

 Thành lập nhóm biên soạn giáo trình, nhóm cập nhật ngân hàng đề

thi.

 Tuyển chọn giảng viên kỹ càng hơn.

 Tổ chức tập huấn cho giảng viên khi có một phiên bản phần mềm

mới ra đời.

 Tạo điều kiện tối đa về trang thiết bị dạy học để giảng viên có thể áp

dụng các phương pháp giảng dạy tích cực.

 Hiện nay Trung tâm chưa có trang web riêng của mình mà chỉ có

phần thông tin nhỏ gắn liền với trang web trường. Cần phải xây dựng

ngay trang web của trung tâm.

2.5. Đối với Giảng viên

 Thường xuyên cập nhật kiến thức mới

 Sử dụng phương pháp giảng dạy tích cực.

 Thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp về chuyên môn và phương

pháp giảng dạy.

Với các biện pháp đã đề xuất và những kiến nghị trên đây, hy vọng

rằng hiệu quả công tác quản lý hoạt động giảng dạy tại TTTH ngày càng nâng

cao, TTTH ngày càng phát triển, góp phần đem tin học đến với mọi người,

mọi nhà, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn nền kinh tế

toàn cầu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Khánh Bằng (1993), Tổ chức quá trình dạy học Đại học, Viện Nghiên

cứu Đại học và GDCN, Hà nội

2. Bộ Chính trị (2000), Chỉ thị số 58-CT/TW Về đẩy mạnh ứng dụng và phát

triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện

đại hoá.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT ngày

30/7/2001 của về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng

CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001-2005.

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Những vấn đề chiến lược phát triển

Giáo dục và Đào tạo, NXB Giáo dục, Hà nội.

5. Chính phủ (1999), Nghị định Số 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến

khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế,

văn hóa, thể thao.

6. Chủ tịch nước (2005), Luật giáo dục, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội

7. Hồ Sĩ Đàm (2006), Tin học lớp 10, NXB Giáo dục, Hà nội

8. Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm (2002), Giáo dục thế giới đi

vào thế kỷ XXI, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội

9. Bùi Minh Hiền (chủ biên), Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006), Quản

lí giáo dục, NXB ĐHSP, Hà nội

10. Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và

sách giáo khoa, NXB ĐHSP, Hà nội.

11. Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Sinh Huy, Hà Thị Đức (1997), Giáo dục học đại

cương, NXB Giáo Dục, Hà nội

12. Nguyễn Quang Huỳnh (2006), Một số vấn đề lý luận giáo dục chuyên

nghiệp và đổi mới phương pháp dạy học, NXB Đại học Quốc gia,

Hà Nội.

13. Trần Kiểm (2004), Khoa học quản lý giáo dục, NXB Giáo duc, Hà nội.

14. Trần Kiểm (1997), Quản lý giáo dục và trường học, Viện khoa học và

giáo dục, Hà nội.

15. Trần Kiểm (2006), Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục, NXB Đại

học Sư phạm, Hà nội.

16. Nguyễn Thế Long (2006), Đổi mới tư duy, phát triển giáo dục Việt Nam

trong kinh tế thị trường, NXB Lao động. Hà nội.

17. Lưu Xuân Mới (2000), Lý luận dạy học đại học , NXB Giáo dục, Hà nội

18. Nguyễn Bá Sơn (2000), Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lý, NXB

Chính trị quốc gia, Hà nội.

19. Đỗ Thiết Thạch (2007), Quản lý đào tạo đại học (tài liệu lưu hành nội bộ

của trường CBQLGD TP.HCM).

20. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định 51/2007/QĐ-TTg Phê duyệt

Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam đến năm

2010.

21. Trần Văn Tùng (2001), Nền Kinh tế tri thức và yêu cầu đởi mới giáo dục

VN, Nhà xuất bàn Thế giới, Hà nội.

22. Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục và Đào tạo (1998), Nguyễn Ngọc

Quang, nhà sư phạm, người góp phần đổi mới lý luận dạy học,

NXB Đại học Quốc gia, Hà nội.

23. http://edu.net.vn

24. http://saga.vn/dictview.aspx?id=545

25. http://vietbao.vn/Giao-duc/Chi-co-the-day-bang-nhan-cach-cua-

minh/65114704/202/

26. http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/kinhnghiemthaytro/doimoigd.htm

27. http://vietnamnet.vn/cntt/2007/06/708038/

28. http://vietnamnet.vn/cntt/2007/07/722199/

29. http://vietnamnet.vn/cntt/vienthong/2005/01/363477/

30. http://www.caicachhanhchinh.gov.vn/Vietnam/Documents/PartyDocs/13

1200409281518000/

31. http://www.cpv.org.vn/print_preview.asp?id=BT1330032032

32. http://www.hca.org.vn

33. http://www.hca.org.vn/tai_nguyen/tu_lieu/ToancanhITVN04/Phan6.htm

34. http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?article=132762&sub=76&top=41

35. http://www.vietnamjournalism.com/module.html?name=News&file=artic

le&sid=111

36. http://www.vnschool.net/modules.php?name=Sanpham

37. http://www.unesco.org.vn

PHỤ LỤC 1

PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN (dành cho Cán bộ quản lý )

Ít phù hợp (2)

Phù hợp (3)

Mức độ phù hợp của nội dung chương trình

Hoàn toàn không phù hợp (1)

Để nâng cao chất lượng dạy và học ở Trung tâm Tin học trường Đai học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh xin Ông/ Bà vui lòng cho ý kiến vào phiếu thăm dò dưới đây. Rất mong được sự cộng tác nhiệt tình của Ông/ Bà. Trước hết xin Ông/ Bà một số thông tin cá nhân: - Ông/ Bà là Cán bộ Quản lý Cơ sở (1, 2, 3, 4)………… - Ông/ Bà đã có thâm niên công tác………năm - Ông/ Bà có trình độ Đại học Sau đại học Thạc sĩ Tiến sĩ Câu 1: Ông/ Bà cho ý kiên về mức độ phù hợp của nội dung chương trình giảng dạy Rất phù hợp (4)

Với mục tiêu đào tạo Với yêu cầu thực tế của xã hội Với thời lượng Với trang thiết bị phòng máy Với mặt bằng chung của chương trình giảng dạy tại các Trung tâm khác Ý kiến khác (xin nêu rõ)

Câu 2: Ông/ Bà cho biết ý kiến về giáo trình Trung tâm

Giáo trình

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Chưa tốt (2)

Hoàn toàn không tốt (1)

Tính khoa học Tính thực tiễn Tính sư phạm Hình thức trình bày Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 3: Ông/ Bà cho ý kiến về thực trạng tuyển chọn giảng viên tại Trung tâm

Tuyển chọn giảng viên

Phổ biến (3)

Hoàn toàn không (1)

Rất phổ biến (4)

Thỉnh thoảng (2)

Dựa vào bằng cấp chuyên môn Dựa vào sở trường giảng dạy Qua sự giới thiệu của đồng nghiệp Qua các kênh thông tin đại chúng Ý kiến khác (xin nêu rõ)

Câu 4 : Ông/ Bà đánh giá về việc phân công giảng viên giảng dạy

Phù hợp (3)

Mức độ phù hợp của việc phân công giảng viên

Ít phù hợp (2)

Rất phù hợp (4)

Hoàn toàn không phù hợp (1)

Phù hợp với nhu cầu Trung tâm Phù hợp với năng lực giảng viên Phù hợp với nguyện vọng giảng viên Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 5: Ông/ Bà cho biết thực trạng quản lý trình độ chuyên môn của giảng viên tại Trung tâm

Quản lý chuyên môn của giảng viên

Hoàn toàn không (1)

Thỉnh thoảng (2)

Thường xuyên (3)

Rất thường xuyên (4)

Phương pháp giảng dạy

Hoàn toàn không (1)

Qua dự giờ Qua sự thăm dò ý kiến học viên Qua phản ảnh của Cán bộ cơ sở Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 6: Ông/ Bà cho biết các giảng viên thường sử dụng phương pháp nào để giảng dạy Rất thường xuyên (4)

Thường xuyên (3)

Thỉnh thoảng (2)

Giảng bài và minh họa bằng chương trình Netop School Giảng bài và minh họa bằng projector Giảng bài đơn thuần bằng bảng và viết Giảng bài qua máy chiếu overhead Phương pháp khác (xin nêu rõ) Câu 7: Ông/ Bà đánh giá hiệu quả các phương pháp giảng dạy mà giảng viên thường sử dụng

Phương pháp giảng dạy

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Hoàn toàn không tốt (1)

Không tốt lắm (2)

Giảng bài và minh họa bằng chương trình Netop School Giảng bài và minh họa bằng projector Giảng bài đơn thuần bằng bảng và viết Giảng bài qua máy chiếu overhead Phương pháp khác (xin nêu rõ)

Thực hiện nội qui Trung tâm

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Hoàn toàn không tốt (1)

Câu 8: Ông/ Bà đánh giá việc thực hiện nội quy Trung tâm của giảng viên Không tốt lắm (2)

Thực hiện chương trình dạy học Thực hiện yêu cầu của hồ sơ giảng viên Hướng dẫn học viên trong viêc sử dụng máy Thực hiện giờ giấc đi về Sẵn sàng giải đáp thắc mắc học viên Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 9: Ông/ Bà cho ý kiến về học viên

Nội dung đánh giá

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Không tốt lắm (2)

Hoàn toàn không tốt (1)

Chọn (đánh dấu X vào mục chọn)

Ý thức học tập Chuyên cần Thực hiện nội qui phòng máy Tiếp thu bài Kỹ năng thực hành Ứng dụng tin học vào thực tế Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 10: Ông/ Bà chọn hình thức kiểm tra đánh giá học viên mà Ông/ Bà cho là tốt nhất Hình thức kiểm tra đánh giá Trăc nghiệm Thực hành Vấn đáp Thi viết Thực hiện đề tài Kết hợp trắc nghiệm và thực hành Kết hợp thi viết và thực hành Kết hợp thực hiện đề tài và vấn đáp Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 11 : Theo Ông/ Bà thực trạng kiểm tra đánh giá tại Trung tâm như thế nào

Thực trạng kiểm tra đánh giá

Không tốt (1)

Rất tốt (3)

Tốt (2)

Tính nghiêm túc trong thi cử Tính bao quát chương trình của đề thi Việc đánh giá đúng năng lực học viên Ý kiến khác (xin nêu rõ)

Câu 12: Ông/ Bà cho ý kiến về trang thiết bị dung cụ dạy học

Nội dung

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Không tốt lắm (2)

Hoàn toàn không tốt (1)

Tính hiện đại của máy vi tính Số lương máy từng phòng máyso với sĩ số từng lớp Cài đặt phần mềm phục vụ giảng dạy Hệ thống mạng internet Hệ thống mạng cục bộ Hệ thống làm mát Công tác sữa chữa và bảo trì Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 13 : Ông/ Bà góp ý gì với Ban Giám đốc Trung tâm

Các ý kiến đóng góp

Rất cần (4)

Cần thiết (3)

Ít cần thiết (2)

Hoàn toàn không cần thiết (1)

Thường xuyên đi công tác các cơ sở Thường xuyên dự giờ giảng viên mới Thường xuyên thăm dò ý kiến học viên Tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học Tuyển giảng viên chọn lọc hơn Cải tiến chương trình dạy học hằng năm Ý kiến khác (xin nêu rõ)

Xin chân thành cám ơn ý kiến đóng góp của quý vị !

PHỤ LỤC 2

PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN (dành cho Giảng viên)

Để nâng cao chất lượng dạy và học ở Trung tâm Tin học trường Đai học Công nghiệp

Trước hết xin Thầy/ Cô một số thông tin cá nhân:

Ít phù hợp (2)

Phù hợp (3)

Mức độ phù hợp của nội dung chương trình

Hoàn toàn không phù hợp (1)

TP. Hồ Chí Minh xin quý Thầy / Cô vui lòng cho ý kiến vào phiếu thăm dò dưới đây. Rất mong được sự cộng tác nhiệt tình của quý Thầy / Cô. - Thầy/Cô là giảng viên Cơ sở (1, 2, 3, 4)………… - Thầy/Cô đã có thâm niên công tác………năm - Thầy/Cô có chuyên môn Tin học trình độ Đại học Sau đại học Thạc sĩ Tiến sĩ Câu 1: Thầy/ Cô cho ý kiến về mức độ phù hợp của nội dung chương trình giảng dạy Rất phù hợp (4)

Với mục tiêu đào tạo Với yêu cầu thực tế của xã hội Với thời lượng Với trang thiết bị phòng máy Với mặt bằng chung của chương trình giảng dạy tại các Trung tâm khác Ý kiến khác (xin nêu rõ)

Câu 2: Thầy/ Cô cho biết ý kiến về giáo trình Trung tâm

Giáo trình

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Chưa tốt (2)

Hoàn toàn không tốt (1)

Tính khoa học Tính thực tiễn Tính sư phạm Hình thức trình bày Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 3: Thầy/ Cô cho ý kiến về thực trạng tuyển chọn giảng viên tại Trung tâm

Tuyển chọn giảng viên

Phổ biến (3)

Hoàn toàn không (1)

Rất phổ biến (4)

Thỉnh thoảng (2)

Dựa vào bằng cấp chuyên môn Dựa vào sở trường giảng dạy Qua sự giới thiệu của đồng nghiệp Qua các kênh thông tin đại chúng Ý kiến khác (xin nêu rõ)

Câu 4 : Thầy/ Cô đánh giá về việc phân công giảng viên giảng dạy

Phù hợp (3)

Mức độ phù hợp của việc phân công giảng viên

Ít phù hợp (2)

Rất phù hợp (4)

Hoàn toàn không phù hợp (1)

Phù hợp với nhu cầu Trung tâm Phù hợp với năng lực giảng viên Phù hợp với nguyện vọng giảng viên Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 5: Thầy/ Cô cho biết thực trạng quản lý trình độ chuyên môn của giảng viên tại Trung tâm

Quản lý chuyên môn của giảng viên

Hoàn toàn không (1)

Thỉnh thoảng (2)

Thường xuyên (3)

Rất thường xuyên (4)

Qua dự giờ Qua sự thăm dò ý kiến học viên Qua phản ảnh của Cán bộ cơ sở Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 6: Thầy/ Cô thường sử dụng phương pháp nào để giảng dạy

Phương pháp giảng dạy

Hoàn toàn không (1)

Rất thường xuyên (4)

Thường xuyên (3)

Thỉnh thoảng (2)

Giảng bài và minh họa bằng chương trình Netop School Giảng bài và minh họa bằng projector Giảng bài đơn thuần bằng bảng và viết Giảng bài qua máy chiếu overhead Phương pháp khác (xin nêu rõ) Câu 7: Thầy/ Cô đánh giá hiệu quả các phương pháp giảng dạy thường sử dụng

Phương pháp giảng dạy

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Hoàn toàn không tốt (1)

Không tốt lắm (2)

Giảng bài và minh họa bằng chương trình Netop School Giảng bài và minh họa bằng projector Giảng bài đơn thuần bằng bảng và viết Giảng bài qua máy chiêu overhead Phương pháp khác (xin nêu rõ)

Câu 8: Thầy/ Cô tự đánh giá việc thực hiện nội quy của Trung tâm

Thực hiện nội qui Trung tâm

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Hoàn toàn không tốt (1)

Không tốt lắm (2)

Thực hiện chương trình dạy học Thực hiện yêu cầu của hồ sơ giảng viên Hướng dẫn học viên trong viêc sử dụng máy Thực hiện giờ giấc đi về Sẵn sàng giải đáp thắc mắc học viên Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 9: Thầy/ Cô cho ý kiến về học viên

Nội dung đánh giá

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Không tốt lắm (2)

Hoàn toàn không tốt (1)

Chọn (đánh dấu X vào mục chọn)

Ý thức học tập Chuyên cần Thực hiện nội qui phòng máy Tiếp thu bài Kỹ năng thực hành Ứng dụng tin học vào thực tế Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 10: Thầy/ Cô chọn hình thức kiểm tra đánh giá học viên mà Thầy / Cô cho là tốt nhất Hình thức kiểm tra đánh giá Trăc nghiệm Thực hành Vấn đáp Thi viết Thực hiện đề tài Kết hợp trắc nghiệm và thực hành Kết hợp thi viết và thực hành Kết hợp thực hiện đề tài và vấn đáp Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 11 : Theo Thầy / Cô thực trạng kiểm tra đánh giá tại Trung tâm như thế nào

Thực trạng kiểm tra đánh giá

Không tốt (1)

Rất tốt (3)

Tốt (2)

Tính nghiêm túc trong thi cử Tính bao quát chương trình của đề thi Việc đánh giá đúng năng lực học viên Ý kiến khác (xin nêu rõ)

Câu 12: Thầy/ Cô cho ý kiến về trang thiết bị dung cụ dạy học

Nội dung

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Không tốt lắm (2)

Hoàn toàn không tốt (1)

Tính hiện đại của máy vi tính Số lương máy từng phòng máyso với sĩ số từng lớp Cài đặt phần mềm phục vụ giảng dạy Hệ thống mạng internet Hệ thống mạng cục bộ Hệ thống làm mát Công tác sữa chữa và bảo trì Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 13 : Thầy/ Cô góp ý gì với Ban Giám đốc Trung tâm

Các ý kiến đóng góp

Rất cần (4)

Cần thiết (3)

Ít cần thiết (2)

Hoàn toàn không cần thiết (1)

Thường xuyên đi công tác các cơ sở Thường xuyên dự giờ giảng viên mới Thường xuyên thăm dò ý kiến học viên Tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học Tuyển giảng viên chọn lọc hơn Cải tiến chương trình dạy học hằng năm Ý kiến khác (xin nêu rõ)

Xin chân thành cám ơn ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô !

PHỤ LỤC 3

PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN (dành cho học viên)

Để nâng cao chất lượng dạy và học ở Trung tâm Tin học trường Đại học Công nghiệp TP.

Trước hết xin bạn một số thông tin cá nhân:

Hồ Chí Minh, xin các bạn vui lòng cho ý kiến vào phiếu thăm dò dưới đây. Rất mong được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn - Bạn là học viên Trung tâm tại Cơ sở (1, 2, 3, 4, 5)………… - Bạn là Học sinh Sinh viên Người đã đi làm - Độ tuổi Nhỏ hơn 18 Từ 18 dến 25  Từ 25 đến 40 Trên 40 - Bạn đã học tại Trung tâm này bao nhiêu khóa……… Câu 1: Bạn cho ý kiên về mức độ phù hợp của nội dung chương trình giảng dạy

Ít phù hợp (2)

Phù hợp (3)

Mức độ phù hợp của nội dung chương trình

Hoàn toàn không phù hợp (1)

Rất phù hợp (4)

Với mục tiêu đào tạo Với yêu cầu thực tế của xã hội Với thời lượng Với trang thiết bị phòng máy Với mặt bằng chung của chương trình giảng dạy tại các Trung tâm khác Ý kiến khác (xin nêu rõ)

Câu 2: Bạn cho biết ý kiến về giáo trình Trung tâm

Giáo trình

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Chưa tốt (2)

Hoàn toàn không tốt (1)

Tính khoa học Tính thực tiễn Tính sư phạm Hình thức trình bày Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 6: Bạn cho biết các Thầy Cô thường sử dụng phương pháp nào để giảng dạy

Phương pháp giảng dạy

Hoàn toàn không (1)

Rất thường xuyên (4)

Thường xuyên (3)

Thỉnh thoảng (2)

Giảng bài và minh họa bằng chương trình Netop School Giảng bài và minh họa bằng projector Giảng bài đơn thuần bằng bảng và viết Giảng bài qua máy chiếu overhead Phương pháp khác (xin nêu rõ)

Câu 7: Bạn đánh giá hiệu quả các phương pháp giảng dạy mà Thầy Cô thường sử dụng Rất tốt (4)

Phương pháp giảng dạy

Tốt (3)

Hoàn toàn không tốt (1)

Không tốt lắm (2)

Giảng bài và minh họa bằng chương trình Netop School Giảng bài và minh họa bằng projector Giảng bài đơn thuần bằng bảng và viết Giảng bài qua máy chiêu overhead Phương pháp khác (xin nêu rõ)

Câu 8: Bạn có ý kiến gì về Thầy Cô ở TTTH

Nội dung

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Hoàn toàn không tốt (1)

Không tốt lắm (2)

Hướng dẫn học viên trong viêc sử dụng máy Thực hiện giờ giấc đi về Sẵn sàng giải đáp thắc mắc học viên Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 9: Bạn tự đánh giá về mình Nội dung đánh giá

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Không tốt lắm (2)

Hoàn toàn không tốt (1)

Chọn (đánh dấu X vào mục chọn)

Ý thức học tập Chuyên cần Thực hiện nội qui phòng máy Tiếp thu bài Kỹ năng thực hành Ứng dụng tin học vào thực tế Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 10: Bạn chọn hình thức kiểm tra đánh giá học viên mà Bạn cho là tốt nhất Hình thức kiểm tra đánh giá Trăc nghiệm Thực hành Vấn đáp Thi viết Thực hiện đề tài Kết hợp trắc nghiệm và thực hành Kết hợp thi viết và thực hành Kết hợp thực hiện đề tài và vấn đáp Ý kiến khác (xin nêu rõ)

Câu 11 : Theo Bạn thực trạng kiểm tra đánh giá tại Trung tâm như thế nào:

Thực trạng kiểm tra đánh giá

Không tốt (1)

Rất tốt (3)

Tốt (2)

Tính nghiêm túc trong thi cử Tính bao quát chương trình của đề thi Việc đánh giá đúng năng lực học viên Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 12: Bạn cho ý kiến về trang thiết bị dung cụ dạy học:

Nội dung

Rất tốt (4)

Tốt (3)

Không tốt lắm (2)

Hoàn toàn không tốt (1)

Tính hiện đại của máy vi tính Số lương máy từng phòng máyso với sĩ số từng lớp Cài đặt phần mềm phục vụ giảng dạy Hệ thống mạng internet Hệ thống mạng cục bộ Hệ thống làm mát Công tác sữa chữa và bảo trì Ý kiến khác (xin nêu rõ) Câu 13 : Bạn góp ý gì với Ban Giám đốc Trung tâm

Các ý kiến đóng góp

Rất cần (4)

Cần thiết (3)

Hoàn toàn không cần thiết (1)

Ít cần thiết (2)

Thường xuyên thăm dò ý kiến học viên Tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học Ý kiến khác (xin nêu rõ)

Xin chân thành cám ơn ý kiến đóng góp của Bạn !