LỜI CÁM ƠN!

Để có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, Tôi đã nhận được sự giúp

đỡ quý báu của các thầy cô, các đồng nghiệp và gia đình trong suốt quá trình

thực hiện luận văn. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ

lới cám ơn chân thành tới:

TS. Nguyễn Hùng Minh đã tận tình hướng dẫn tạo mọi điều kiện thuận

lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

Văn phòng 33; Dự án “Xử lý dioxin tại những điểm ô nhiễm nặng ở Việt

Nam” đã tạo điều kiện về thời gian và cho tôi cơ hội được tham gia nhóm khảo

sát tại sân bay Biên Hòa và được tập huấn công tác thử nghiệm công nghệ Hóa-

Cơ xử lý dioxin tại.

Phòng thí nghiệm Dioxin (Tổng cục môi trường) đã giúp đỡ về chuyên

môn và hỗ trợ trong suốt quá trình lấy mẫu tại Biên Hòa và phân tích các số liệu.

Chân thành cám ơn Ban giám hiệu nhà trường, Phòng đào tạo sau đại

học, Khoa Môi trường và Bộ môn Công nghệ Môi trường đại học Khoa học Tự

nhiên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành

luận văn.

Đặc biệt tôi xin gửi lời cám ơn TS.Vũ Chiến Thắng, Phó Chánh Văn

phòng 33 đã có những gợi ý, giải đáp những vướng mắc trong quá trình nghiên

cứu và hoàn thiện luận văn.

Cám ơn bố mẹ anh chị em và người vợ yêu quý đã luôn ở bên cạnh động

viên và giúp đỡ tôi học tập làm việc và hoàn thành luận văn này./.

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG .............................................................................................. iv

DANH MỤC HÌNH ................................................................................................ v

DANH MỤC VIẾT TẮT ....................................................................................... vi

MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1

1.1 Tổng quan về tình hình ô nhiễm dioxin tại Việt Nam ............................. 3

1.1.1 Tình hình sử dụng chất diệt cỏ có chứa dioxin trong thời gian chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam ........................................................................ 3

1.1.2 Thực trạng ô nhiễm dioxin tại các điểm nóng ................................. 4

1.2 Các phương pháp xử lý dioxin .............................................................. 10

1.2.1 Công nghệ Hóa Cơ (Dehalogenation by mechanochemical reaction- DMCR) ................................................................................................. 11

1.2.2 Giải hấp nhiệt trong mố (In Situ Thermal Desorption- ISTD/IPTD). .............................................................................................................. 12

1.2.3 Công nghệ Sinh học. ..................................................................... 13

1.2.5 Biên pháp chôn lấp ....................................................................... 14

1.3 Kinh nghiệm trên thế giới áp dụng công nghệ cơ hóa trong xử lý dioxin ................................................................................................................... 15

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU................................................................. 3

2.1 Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 18

CHƯƠNG II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................. 18

2.1.1. Tính toán khối lượng đất nhiễm dioxin cần phải xử lý tại sân bay Biên Hòa ............................................................................................... 18

2.1.2 Công nghệ Hóa-Cơ (MCD) xử lý đất bị ô nhiễm tại sân bay Biên Hòa ........................................................................................................ 20

2.2 Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 25

2.2.1 Phương pháp kế thừa, thu thập và tổng hợp tài liệu....................... 25

2.2.2 Phương pháp lấy mẫu ................................................................... 26

2.2.3 Phương pháp điều tra và nghiên cứu ngoài thực địa ...................... 28

2.2.4 Phương pháp chuyên gia ............................................................... 28

ii

2.2.5 Phương pháp tính toán .................................................................. 29

2.2.6 Phương pháp phân tích tổng hợp đánh giá .................................... 29

3.1 Nghiên cứu, xác định mức độ ô nhiễm tại khu vực phía tây nam sân bay Biên Hòa (khu vực Pacer Ivy) .................................................................... 30

3.1.1 Nhiễm độc dioxin trong đất bề mặt ............................................... 32

3.1.2 Nhiễm độc trong đất và trầm tích sâu ............................................ 35

3.2 Đánh giá hiệu quả của công nghệ Hóa-Cơ xử lý dioxin ........................ 44

3.2.1. Kết quả phân tích đất trước và sau xử lý ...................................... 44

3.2.2 Đánh giá hiệu quả xử lý ................................................................ 47

3.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xử lý ..................................... 52

3.3 Đề xuất giải pháp công nghệ xử lý dioxin tại Sân bay Biên Hòa ........... 56

CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................... 30

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................................. 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 61

iii

Bảng 1.1: Số lượng các chất diệt cỏ đã được sử dụng tại miền Nam Việt Nam 3

Bảng 1.2: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ năm 2000 của Bộ Quốc phòng, Văn phòng 33 và Ban 10-80. ............................................................................ 6

Bảng 1.3 Một số dự án thử nghiệm công nghệ Hóa Cơ .................................. 15

Bảng 1.4: Kết quả xử lý PCPs (ug/kg) ............................................................ 16

Bảng 1.5: kết quả xử lý dioxin và furan (Đơn vị tính:TEQ) ............................ 16

Bảng 1.6 : Kết quả xử lý Dioxins (total) ......................................................... 17

Bảng 3.1: Hàm lượng PCDD/Fs (ppt TEQ) trong mẫu đất bề mặt từ khu vực phía Tây (Biên Hòa) ....................................................................................... 34

Bảng 3.2 Nồng độ dioxin lấy theo chiều sâu tại khu vực Pacer Ivy ................ 37

Bảng 3.3: Hiệu quả tiêu hủy dioxin từ mẻ 1-16 .............................................. 44

Bảng 3.4: Hiệu quả tiêu hủy dioxin từ mẻ 17-33 ............................................ 45

Bảng 3.5: Hiệu quả tiêu hủy dioxin từ mẻ 39-42 ............................................ 46

Bảng 3.6: Hiệu quả tiêu hủy phân chia theo nồng độ ...................................... 48

Bảng 3.7: Quan trắc môi trường đối với dioxin .............................................. 51

Bảng 3.8: Báo cáo quan trắc bụi khu vực xử lý .............................................. 51

Bảng 3.9: Các thông số độc lập từ mẻ 1-10 .................................................... 53

Bảng 3.10: Kết quả phân tích Hồi quy bội (Sử dụng Regression trong excel để tính toán) ........................................................................................................ 54

Bảng 3.11: Mối tương quan giữa các thông số với hiệu suất sử lý .................. 55

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.12: So sánh hiệu quả xử lý của các giải pháp xử lý đất nhiễm dioxin . 58

iv

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Các khu vực ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa ..................................... 7

Hình 1.2 Cấu tạo máy nghiền bi .............................................................................. 11

Hình 1.3 Mô tả quá trình đứt gẫy các liên kết hóa học. ............................................ 12

Hình 1.4 Mô hình công nghệ giải hấp nhiệt trong mố .............................................. 13

Hình 1.5 Biểu đồ độ giảm của TCDD trong nghiên cứu thử nghiệm tại Đà Nẵng .... 14

Hình 2.1 Kết quả lấy mẫu dioxin tại phía Tây Nam đường bay (Pacer Ivy).............. 19

Hình 2.2 thiết bị sấy khô ......................................................................................... 22

Hình 2.3 bốn lò phản ứng được lắp song song ......................................................... 22

Hình 2.4 hệ thống máy nhào đất sau xử lý ............................................................... 23

Hình 2.5 Các bao đất nhiễm dioxin lưu tại nhà kho ................................................. 24

Hình 2.6 Phương pháp lấy mẫu đất dưới bề mặt ...................................................... 27

Hình 3.1 Các vị trí lấy mẫu tại khu vực Pacer Ivy .................................................... 31

Hình 3.2 Phân bố giá trị nồng độ TEQ tại khu vực phía Tây/Pacer Ivy (vàng và đỏ: trên 1.000 ppt) ......................................................................................................... 33

Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn nồng độ dioxin phân bố theo chiều sâu (mẫu 11BH-H6) ................................................................................................................................ 36

Hình 3.4 Biểu đồ biểu diễn nồng độ dioxin phân bố theo chiều sâu (mẫu 11BH-C3)37

Hình 3.5 Vị trí 10 mẫu core và nồng độ dioxin trong các lớp bề mặt (Màu xanh <1.000 ppt; Màu tím > 1.000ppt) ............................................................................. 40

Hình 3.6 Phân chia ranh giới của các khu vực nhiễm độc tại khu vực Pacer Ivy ( diện tích ô 50x50m) ........................................................................................................ 43

Hình 3.7 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 01-10 ..................................... 44

Hình 3.8 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 11-16 ..................................... 45

Hình 3.9 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 17-23 ..................................... 45

Hình 3.10 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 24-30.................................... 46

Hình 3.11 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 31-38.................................... 46

Hình 3.12 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 39-42.................................... 47

Hình 3.13 Khu vực sàng đất trước khi đưa vào lò sấy .............................................. 50

Hình 3.14 Khu vực đầu ra của đất sau xử lý ............................................................ 50

v

DANH MỤC VIẾT TẮT

BHA: Biên Hòa – Đồng Nai

BVTV: Bảo vệ thực vật

DDT: Dichlorodiphenyltrichloroethane

DRE: Hiệu xuất

DXL : Phòng Thí nghiệm dioxin

EDL: Công ty trách nhiệm tẩy độc môi trường (Environmental

Decontamination Limited)

MCD: Phá hủy cơ – hóa (Mechano Chemical Destruction)

GEF: Quỹ môi trường toàn cầu

GPS: Định vị toàn cầu

PCDD:Polychlorinated dibenzo-p-dioxins

PCDF:Polychlorinated dibenzofurans

PPT:đơn vị tính nồng độ (parts per trillion)

PTS: Hệ thống khoan di động

TCDD: Tetrachlorodibenzo -dioxin

TCDF:Tetrachlorodibenzo -furan

TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam

TEQ: Tổng nồng độ độc tương đương

UNDP: Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc

US EPA: Cơ quan bảo vệ môi trường – Hoa Kỳ

QA:Quality Assurance/giám định đảm bảo chất lượng

QC: Quality Control/ kiểm soát chất lượng

VOC: Chất hữu cơ dễ bay hơi

vi

MỞ ĐẦU

Trong thời gian chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, từ năm 1961 đến 1971,

quân đội Mỹ đã phun rải hơn 74 triệu lít chất diệt cỏ xuống miền nam Việt Nam,

trong đó ước tính có khoảng 366 kg dioxin. Đến nay, đã gần 5 thập kỉ trôi qua từ

khi chất độc da cam được sử dụng tại Việt Nam, dioxin vẫn tiếp tục gây ra ô nhiễm

môi trường, thâm nhập chuỗi thức ăn và cộng đồng dân cư, đặc biệt tại những khu

vực gần với các căn cứ không quân cũ của quân đội Mỹ, đây là nơi được coi là các

điểm nóng về ô nhiễm.Trong 3 điểm nóng (sân bay Phù Cát, Đà Nẵng, Biên Hòa)

thì Sân bay Biên Hoà được phát hiện là khu vực ô nhiễm dioxin nặng nhất. Ngay

sau khi chiến tranh kết thúc Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động

nghiên cứu và các biện pháp phục hồi môi trường tại các điểm nóng. Tại sân bay Đà Nẵng đang áp dụng công nghệ giải hấp nhiệt để xử lý khoảng 73.000m3 đất và trầm

tích đất nhiễm, tại sân bay Phù Cát trong năm 2012 dự án “Xử lý ô nhiễm tại các điểm nóng ở Việt Nam” thuộc Văn phòng 33 đã tiến hành chôn lấp cô lập 7.500m3

đất nhiễm. Riêng tại khu vực sân bay Biên Hòa chúng ta vẫn chưa tính toán được

chính xác khối lượng đất nhiễm dioxin cần xử lý để lên phương án xử lý dioxin.

Vì vậy, để có thể xây dựng được kế hoạch tổng thể tẩy độc đất nhiễm tại sân

bay Biên Hòa, việc điều tra, khoanh vùng và tính toán khối lượng đất nhiễm là cần

thiết. Cùng với đó là phải tìm kiếm được công nghệ có khả năng xử lý triệt để đất

nhiễm dioxin.Trong kế hoạch “Xử lý ô nhiễm dioxin tại các vùng nóng ở Việt

Nam” nhằm tìm kiếm các công nghệ áp dụng xử lý triệt để đất nhiễm dioxin, đáp

ứng cả về kinh phí và thời gian xử lý. Công nghệ hóa cơ còn được gọi là công nghệ

nghiền bi của New Zealand là một trong số các công nghệ nằm trong Chương trình

thử nghiệm.Chương trình này được thiết kế với sự phối hợp của các bên gồm

UNDP, Văn phòng 33 và các chuyên gia trong nước; theo đó nhất trí thử nghiệm

trên 100 tấn đất nhiễm dioxin trong sân bay Biên Hòa với nồng độ nhiễm được xác

định trước đó. Mục tiêu là thực hiện thử nghiệm đất nhiễm ở 3 mức độ nhiễm khác

nhau: cao (>10.000ppt TEQ), trung bình (2.000-10.000ppt TEQ) và thấp (<2.000ppt

TEQ). Với mục tiêu xử lý là đưa ngưỡng dioxin về dưới 1,000ppt TEQ sau xử lý là

1

phù hợp với mục tiêu của quốc gia và quốc tế (TCVN 8183: 2009 về quy định

ngưỡng dioxin trong đất và trầm tích để làm căn cứ cho hoạt động khoanh vùng, xử

lý dioxin tại các điểm bị ô nhiễm nặng dioxin). Tại dự án Thử nghiệm này cũng tiến

hành đào tạo, tập huấn cho các cán bộ ở Việt Nam nhằm chuyển giao công nghệ nếu

như công nghệ này chính thức được áp dụng xử lý. Tôi là một trong những cán bộ

được đơn vị cử đi tham gia khóa tập huấn này cùng với đợt khảo sát mức độ tồn lưu

dioxin tại Biên Hòa trước đó. Do đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu là “Nghiên cứu,

xác định mức độ tồn lưu chất độc da cam/dioxin và đánh giá hiệu quả thử

nghiệm công nghệ Hóa - Cơ xử lý dioxin tại khu vực sân bay Biên Hòa”

Với mục tiêu sau:

- Xác định mức độ tồn lưu dioxin tại khu vực Tây-Nam đường bay Biên

Hòa, tính toán khối lượng đất cần xử lý.

- Đánh giá hiệu quả thử nghiệm công nghệ hóa cơ xử lý dioxin tại sân bay

Biên Hòa

2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về tình hình ô nhiễm dioxin tại Việt Nam

1.1.1 Tình hình sử dụng chất diệt cỏ có chứa dioxin trong thời gian chiến

tranh của Mỹ ở Việt Nam

Bảng 1.1: Số lượng các chất diệt cỏ đã được sử dụng tại miền Nam Việt Nam

Đơn vị: lít

trong thời gian chiến tranh với Mỹ

Tác giả

Chất da cam Chất trắng

Chất xanh

Tổng cộng

Các chất: tím, hồng, xanh lá mạ

44.373.000

19.835.000

8.182.000

-

72.390.000

Westing (1976)

49.268.937

20.556.525

4.741.381

2.387.963

76.954.806

Stellman (2003)

43.332.640

21.798.400

6.100.640

2.944.240

74.175.920

Young (2009)

Trong bảng này số liệu của Westing không bao gồm các chất tím, hồng và

xanh mạ là những chất có hàm lượng dioxin rất cao (Bảng 1.1). Theo Young

(2009), thì con số 74.175.920 lít là tổng số Mỹ đưa vào Việt Nam, đến năm 1972

theo kế hoạch Pacer Ivy đã đưa về nước 25.200 phi (loại 208 lít) chất da cam, tương

đương 5.241.600 lít, còn lượng đã sử dụng là 74.250.800 lít. Theo số liệu của

Stellman (2003) thì số lượng tổng các chất diệt cỏ là 76.954.806 lít(~77 triệu) các

chất, tương đương với 95.112.688 kg (~ 95 triệu kg), trong đó có 67% các chất chứa

dioxin, mà chủ yếu là chất da cam với khối lượng 49,27 triệu lít, tương đương

63.000 tấn.

Khối lượng 95.112.688 kg các chất diệt cỏ này được phun rải lên 2,63 triệu

ha chiếm 15,2% diên tích toàn miền Nam Việt Nam (172.540.000 ha, theo SIPRI,

1971). Nếu chỉ tính riêng các chất có hoạt chất 2,4,5-T, thì diện tích bị phun rải loại

các chất này, cũng theo Stellman và cộng sự là 1,68 triệu ha, chiếm 9,7 % diện tích

toàn miền Nam.

3

Từ các số liệu trên đây, có thể đánh giá mật độ phun rải như sau: Tất cả các

chất là ~ 36 kg/ha, riêng các chất da cam với khối lượng 49.268.937 lít tương đương

63.064.240 kg, rải trên 1,68 triệu ha thì mật độ 37,5 kg/ ha, gấp 17 lần liều sử dụng

trong nông nghiệp theo hướng dẫn của bộ lục quân mỹ năm 1969 là 2,2 kg/ha. Với

mật độ này thì các chất diệt cỏ trở thành những chất độc phát quang và phá hoại

mùa màng có tính hủy diệt.

Theo ước tính có hơn 2,5 triệu ha rừng bị tác độc ở nhiều mức khác nhau gây

ảnh hưởng nặng nề đến sinh thái rừng ở nam Việt Nam (Văn phòng 33,2007). Và

hàng triệu nạn nhân chất độc da cam/dioxin với nhiều loại chứng bệnh khác nhau:

ung thư, suy giảm miễn dịch, tai biến sinh sản, dị tật bẩm sinh, v.v. Đặc biệt, ở một

số sân bay như Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát, có những điểm bị ô nhiễm chất độc

da cam/dioxin rất nặng (những “điểm nóng” về môi trường), hàm lượng dioxin trong

đất, trong bùn ở đây cao hơn hàng trăm, có nơi hàng ngàn lần ngưỡng cho phép

(TCVN 8183: 2009, 1000 ppt TEQ đối với đất, 150 ppt TEQ với trầm tích, bùn).

1.1.2 Thực trạng ô nhiễm dioxin tại các điểm nóng

Theo các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay do Việt Nam và quốc tế phối

hợp thực hiện đã xác định các sân bay quân sự Đà Nẵng, Phù Cát và Biên Hòa là ba

điểm nóng ô nhiễm nặng dioxin trong đất, trầm tích, động vật thủy sinh, chủ yếu là

TCDD có nguồn gốc từ chiến tranh ở Việt Nam vốn được quân đội Mỹ sử dụng làm

kho chứa, tập kết chất da cam/dioxin trước khi đi phun rải. Hai điểm nóng sân bay

Đà Nẵng hiện đang được Bộ Quốc phòng Việt Nam phối hợp với Cơ quan Phát

triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) bằng ngân sách của Chính phủ Mỹ thực hiện; sân

bay Phù Cát đã được xử lý trong năm 2012 bằng tài trợ của Quĩ Môi trường toàn

cầu thông qua Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc tại Việt Nam (gọi tắt là Dự

án GEF/UNDP Dioxin). Riêng đối với sân bay Biên Hòa, do qui mô và tính chất ô

nhiễm phức tạp và không đồng nhất. Vì vậy, đến nay vẫn chưa có biện pháp cụ thể

xử lý đất nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa.

4

a. Tình trạng ô nhiễm dioxin tại khu vực sân bay Biên Hòa

Các khu ô nhiễm trong sân bay quân sự Biên Hòa bao gồm Khu vực Pacer

Ivy (Góc phía Tây sân bay); Khu vực Tây Nam (Góc Tây Nam sân bay); Khu Nam

Z1 (bao gồm bãi chôn lấp Z1 và vùng xung quanh); Các hồ bên trong và bên ngoài

sân bay được xem là các nguồn ô nhiễm thứ cấp, các khu vực ô nhiễm được mô tả

trong hình 1.1

Từ năm 2000, các nghiên cứu được mở rộng và với sự tài trợ của UNDP

(Quỹ Ford), GEF (Quỹ môi trường toàn cầu), Ban 10-80/Hatfield (2007),

TTNĐVNg/Hatfield (2009), Văn phòng 33/Hatfield/UNDP (2007,2010).

Kết quả của các đợt khảo sát cho thấy nồng độ dioxin trong đất và trầm tích

của khu vực Z1 là rất cao, với nồng độ cao nhất là 410.000 ppt TEQ trong đất và

5470 ppt (theo trọng lượng khô) trong trầm tích. Các đợt khảo sát tiếp theo vào năm

2004-2005 cho thấy nồng độ vẫn cao trong một vài mẫu trầm tích tại hồ 2, với nồng

độ cao nhất trong mẫu trầm tích là 833 ppt TEQ. Trong chương trình khảo sát gần

đây nhất vào tháng 1 năm 2008, hiện trạng ô nhiễm dioxin tại khu Z1 vẫn còn cao,

với nồng độ TEQ của mẫu cao nhất là 262.000 ppt. Ngoài ra, các khu vực phía tây

nam sân bay và khu vực vành đai của Z1, nồng độ dioxin trong nhiều mẫu vượt quá

ngưỡng 1.000 ppt TEQ. Đặc biệt các mẫu lấy tại vùng đất thấp ở cuối dốc của khu

Z1 bao gồm các kênh rạch thoát nước, ao hồ tại đầu phía Nam của sân bay tiếp tục

bị ô nhiễm dioxin với nồng độ cao. Cần có thêm các chương trình lấy mẫu và phân

tích mẫu để có thể xác định chính xác thể tích đất và trầm tích cần được xử lý. Nồng

độ dioxin tại khu vực Pacer Ivy (địa điểm do Bộ Quốc phòng Mỹ đề nghị khảo sát,

nằm ở phía Tây Nam của sân bay) là tương đối cao, cho thấy khu vực này có thể đã

được sử dụng để phun thuốc diệt cỏ trong chiến tranh Mỹ - Việt Nam. Tuy nhiên số

lượng mẫu lấy tại khu vực này còn hạn chế. Vì đây là một khu vực có diện tích lớn

và có khả năng lan truyền ô nhiễm đến các hệ sinh thái nước qua hệ thống kênh

rạch, nên cần thiết phải có những đánh giá kỹ lưỡng về mức độ ô nhiễm.Kết quả

nghiên cứu được tổng hợp trong bảng 1.2.

5

Bảng 1.2: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ năm 2000 của Bộ Quốc phòng, Văn

phòng 33 và Ban 10-80.

Tên dự án

Vị trí

Loại mẫu

Khoảng nồng độ (tổng TEQ)

Số mẫu (n)

Nồng độ trung bình (tổng TEQ)

50

18750 ppt

nd – 410000 ppt

Đất

Khu vực Z1

2990 ppt

1380 – 5470 ppt

Trầm tích

3

Hồ Cổng 2

Trầm tích

236 – 508 ppt

339 ppt

6

Đất

12

nd – 412 ppt

137 ppt

Trầm tích

44 – 50 ppt

52 ppt

2

Khu ruộng gần hồ Cổng 2

Đất

5 – 256 ppt

83 ppt

8

Hồ Biên Hùng

Trầm tích

59 – 210 ppt

107 ppt

9

Đất

26 – 108 ppt

50 ppt

7

Trầm tích

88 ppt

17 – 149 ppt

7

Khu ruộng phường Quang Vinh

Dự án Z1 & Chương trình 33; 2000, 2001

-

Trầm tích

36 – 833 ppt

-

-

Đất

nd - 425 ppt

-

Hồ phía Nam và hồ Biên Hùng

Công ty Hatfield & Ban 10- 80, 2004- 05

Khu Z1

Đất

115390 ppt

109 – 262000 ppt

8

Đất

4617 ppt

4.12 – 65500ppt

16

Đất

2583 ppt

80,3 – 22800 ppt

11

Trầm tích

4

2835 ppt

1090 – 5970 ppt

Góc Tây Nam Khu vực Pacer Ivy (Góc Tây Nam của đường bay)

Đất

1119 ppt

6,15 – 13300 ppt

30

Vành đai khu Z1

Trầm tích

413 ppt

1

Công ty Hatfield & Văn phòng 33, tháng 1 năm 2008

Trầm tích

966 ppt

20,9 – 2240 ppt

5

Ao hồ xung quang khu Z1

6

Hình 1.1. Các khu vực ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa

b. Tình trạng ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng

Kết quả các nghiên cứu của Trung tâm Tư vấn Việt - Nga, Văn phòng Ban Chỉ

đạo 33; Ban 10-80 phối hợp với công ty tư vấn Hatfield thực hiện từ năm 1997 đến

năm 2012 Văn phòng 33/Hatfield/UNDP/Ban 10-80 (Hatfield/Ban 10-80 (1998,

2000, 2003, 2006, 2007,2011) tại khu vực sân bay Đà Nẵng như sau:

- Khu kho chứa, khu rửa và khu nạp. Nồng độ TEQ lớn nhất trong đất được

ghi nhận vào năm 2006 là 365.000 ppt trong các mẫu lấy tại khu trộn và nạp cũ,

nồng độ này vượt giá trị giới hạn cao nhất (1.000 ppt) 365 lần. Ba mẫu phân tích có

nồng độ TCDD > 100.000 ppt và 17 trong số 23 mẫu đất (74%) lấy tại sân bay có

nồng độ > 1000 ppt.

- Nồng độ TCDD đo được trong tháng 1 năm 2009 lấy tại trung tâm và phía

nam sân bay Đà Nẵng thấp hơn đáng kể so với các mẫu lấy tại phía bắc; trừ trường

hợp ở khu kho chứa Pacer Ivy (PISA). Nồng độ TCDD cao chỉ bắt gặp ở một mẫu

7

đất lấy tại vị trí gần khu vực PISA (20.600 ppt; 65% TCDD), và trong một mẫu cá

(25,4 ppt TEQ) lấy tại hồ D phía nam sân bay vào năm 2009.

- Tại khu nhiễm sân bay Đà Nẵng, dioxin đã thấm sâu vào đất đến 150 cm:

lớp đất 120-150 cm, có nồng độ TEQ là 952 ppt (n=5). Nghiên cứu hiện nay và

các nghiên cứu trước đây của Hatfield/Ban 10-80 đã xác nhận rằng, nồng độ chất

độc da cam dioxin cao nhất ở Việt Nam được tìm thấy trong đất ở lớp bề mặt 10

cm trên cùng; tại một số điểm nồng độ cao được tìm thấy ở độ sâu lớn hơn (ví dụ

> 30 cm), nhưng chỉ trong các vùng bị giới hạn tại khu nạp và trộn cũ, khu kho

chứa cũ, và PISA ở sân bay thành phố Đà Nẵng. Trong nghiên cứu này, mặt cắt

đứng ở khu kho chứa Pacer Ivy chỉ ra rằng nồng độ TEQ tăng theo độ sâu: 0-10

cm và 10-30 cm.

- Theo hướng lan tỏa, dioxin tích tụ trong hồ Sen, trong bùn, động vật, thực

vật thủy sinh: trong 3 hồ: hồ Sen A bị ô nhiễm dioxin nặng cần có biện pháp xử lý.

Hồ B và hồ C: trong các mẫu bùn và cá nồng độ dioxin không cao, dưới 100 ppt

TEQ.

- Khu vực ngoài sân bay theo hướng lan tỏa: Đất khu dân cư, bùn trong các

hồ Xuân Hà, hồ 29-3, sông Hàn, sông Cẩm Lệ, sông Phú Lộc có nồng độ dioxin

thấp, dưới mức cho phép.

- Động vật, thực vật thủy sinh trong hồ Sen A có hàm lượng dioxin cao, trên

ngưỡng cho phép, cần xử lý và không được sử dụng làm thực phẩm và thức ăn cho

chăn nuôi.

- Kết quả khảo sát vào năm 2009 cho thấy nồng độ dioxin cao và khẳng định

khu vực đầu phía bắc sân bay Đà Nẵng là một điểm nóng. Ô nhiễm dioxin ở khu

phía nam sân bay Đà Nẵng ở mức nhỏ.

- Kết quả khảo sát mới nhất vào tháng 1 năm 2010 cho thấy mức độ ô nhiễm

dioxin trong đất tại các khu kho chứa, trộn và nạp; và trầm tích trong các khu kênh

rạch vẫn cao. Đặc biệt, là dioxin được tìm thấy trong nước ngầm với nồng độ

8

khoảng 0,86 ppt TEQ, chúng tỏ dioxin đã có khả năng ngấm sâu vào các mạch nước

ngầm.

Tình hình xử lý dioxin tại Đà Nẵng:

Đất và trầm tích ô nhiễm hiện đang được xử lý bằng công nghệ bằng công

nghệ giải hấp nhiệt tại mố (IPTD, in pile thermal destruction).

Tháng 4/2011 Bộ Quốc phòng đã phê duyệt dự án xử lý môi trường ô nhiễm

dioxin tại sân bay Đà Nằng do Quân chủng Phòng không - Không quân (PK-KQ)

làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư là 84 triệu USD và 35 tỷ đồng (trong đó: 84

triệu USD là vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Mỹ, 35 tỷ đồng là vốn đối

ứng trong nước từ ngân sách nhà nước); tiến độ thực hiện 2011-2015.

Mục tiêu, qui mô của dự án: Theo thiết kế được duyệt, mục tiêu là đào xúc

và xử lý triệt để tối thiểu 72.900 m3 đất, bùn ô nhiễm dioxin, trong đó: giai đoạn 1

(năm 2013, 2014) xử lý 34.800 - 41.500 m3; giai đoạn 2 (năm 2015, 2016) xử lý

khoảng 38.100 - 45.600 m3. (Dự án Dioxin,2011).

c. Tình trạng ô nhiễm tại sân bay Phù Cát

Theo tài liệu do Bộ Quốc phòng Mỹ cung cấp , sân bay Phù Cát phục vụ cho

chiến dịch “Ranch Hand” từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 5 năm 1970. Lượng hóa

chất tập trung tại sân bay Phù Cát gồm: chất da cam: 17.000 thùng, chất trắng 9.000

thùng và chất xanh 2.900 thùng. Chính vì vậy, Trong sân bay Phù Cát đã hình thành

khu nhiễm chất da cam/dioxin: khu chứa, nạp, khu rửa phương tiện sau phun rải.

Sau một thời gian dài, chất da cam/dioxin đã thấm sâu vào đất.

Văn phòng33/Hatfield/UNDP/Ban 10-80 (Hatfield/Ban 10-80 (1998, 2000,

2003, 2006, 2007) tại khu vực sân bay Phù Cát như sau:

Nồng độ dioxin tại khu vực kho chứa vẫn còn rất cao (tới 236.000 pg/g

TCDD) và nồng độ này tương đương với kết quả tìm thấy tại Biên Hòa và Đà Nẵng.

Cần xử lý lâu dài và liên tục đất tại khu vực này để làm giảm sự phơi nhiễm dioxin

9

tiềm tàng cho các công nhân làm việc trong sân bay và cộng đồng dân cư sống ở

gần khu sân bay.

Trong khu vực nạp và rửa, nồng độ dioxin thấp hơn rất nhiều và có lẽ không có

nguy cơ lớn đối với sức khỏe con người và môi trường. Tương tự như vậy mẫu tại bể

sa lắng và các hồ A, B và C có nồng độ dioxin thấp. Do đó, không đòi hỏi cần khảo sát

tiếp theo cũng như các biện pháp làm giảm ô nhiễm.

Các mẫu lấy tại các khu vực do Bộ Quốc phòng Mỹ giới thiệu (khu vực góc

Đông Nam của sân bay), tuy nhiên các mẫu này đều có nồng độ dioxin thấp và tỷ lệ

TCDD trên tổng TEQ nhỏ (dưới 50%). Kết quả cho thấy khu vực này có lẽ không bị

sử dụng nhiều chất độc da cam trong thời gian chiến tranh, mà có thể đã được sử

dụng để làm văn phòng, doanh trại quân đội và các mục đích giải trí.

Đến năm 2011, trong khuôn khổ Dự án “Xử lý ô nhiễm môi trường tại những

điểm nóng ô nhiễm nặng dioxin tại Việt Nam”, từ nguồn kinh phí Quỹ Môi trường

toàn cầu (GEF) tài trợ thông qua Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP),

Văn phòng Ban Chỉ đạo 33 (Chủ dự án) năm 2011-2012 đã tiến hành chôn lấp, cô lập 7.500m3 đất và trầm tích nhiễm dioxin trên diện tích 2,06 ha (Dự án

Dioxin,2011).

1.2 Các phương pháp xử lý dioxin

Xuất phát từ nhu cầu thực tế về việc bảo vệ và phục hồi môi trường, đặc biệt

là khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, từ những năm 90 của thế kỷ trước các

nhà nghiên cứu môi trường của Việt Nam cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức, các

nhà khoa học Quốc tế đã triển khai một số công trình nghiên cứu nhằm tìm ra các

giải pháp tẩy độc cho các khu vực bị ô nhiễm nặng chất độc da cam/dioxin ở sân

bay Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát. Các công nghệ đã và đang được nghiên cứu,

thử nghiệm và áp dụng tại Việt Nam được trình bầy sau đây:

10

1.2.1 Công nghệ Hóa Cơ (Dehalogenation by mechanochemical reaction-

DMCR)

Trong báo cáo công nghệ hóa cơ (Mechano-Chemical Destruction) (John

Robertson,2008) của công ty Environmental Decontamination, New Zealand có giới

thiệu. Quá trình xay nghiền tạo ra nguồn năng lượng lớn trong quá trình nghiền vật

liệu tạo ra một phản ứng đám mây tầng sôi của các hạt khoáng và một lượng lớn

electron (gốc phản ứng tự do) và ion trên bề mặt. Công nghệ này hoạt động tốt nhất

khi các chất chứa nhiều khoáng giòn và cứng. Khi những tinh thể bị đứt gẫy thì các

liên kết hóa học cũng bị phá vỡ theo nhiều cách khác nhau, đồng thời giải phóng

năng lượng.

Cấu tạo máy nghiền (ball –milling).

Máy nghiền sử dụng tất cả các dạng bi khác nhau. Những viên bi cứng được

đẩy đi theo nhiều hướng khác nhau trong lò quay, và tổng hợp tất cả các tác động, ma

sát và áp lực cơ học khác nhau phá vỡ hợp chất liên tiếp thành những dạng nhỏ hơn.

Hình 1.2 Cấu tạo máy nghiền bi

Nhiệt độ trong máy nghiền là một chức năng quan trọng trong máy nghiền năng lượng cao nhiệt độ lên đến 1800 C. Nhiệt độ cao hơn thúc đẩy phản ứng nhanh

hơn và bất kỳ sản phẩm của sự giảm nhiệt độ làm phá hủy nhanh chóng.

Cơ chế hoạt động:

Những hạt khoáng bị phá hủy hay bị nén đủ lực bị bẻ gẫy.

Các tinh thể và các liên kết hóa học từ những hạt bị vỡ. Chất rắn bị bẻ gẫy

làm các liên kết hóa học cũng bị bẻ gẫy. chỗ bị gẫy có thể bị phân giải thành các

11

ion, gốc điện tử và giải phóng năng lượng. phân chia các gốc tự do xuất hiện là cơ

chế chính.

Hình 1.3 Mô tả quá trình đứt gẫy các liên kết hóa học.

Quá trình phá hủy có thể được mô tả như sau:

Trung gian đầu tiên ↓ Trung gian thứ 2 ↓ Dạng nhỏ ↓ Sản phẩm phá hủy cuối cùng

1.2.2 Giải hấp nhiệt trong mố (In Situ Thermal Desorption- ISTD/IPTD).

Phương pháp do Terra-Therm Inc.(USA) đề xuất, hiện nay đã và đang được

áp dụng xử lý tại Sân bay Đà Nẵng. Phương pháp gồm hai bước, bước một là dùng

điện cực gia nhiệt cho đất, bùn nhiễm trong mố (ụ đất) đến nhiệt độ thích hợp để

làm bay hơi các hợp chất hữu cơ độc hại gây ô nhiễm (hình 1.4); bước hai là thu

gom và xử lý bằng các phương pháp thích hợp khác. (CDM Smith,2009)

12

Hình 1.4 Mô hình công nghệ giải hấp nhiệt trong mố

1.2.3 Công nghệ Sinh học.

Biện pháp sinh học xử lý chất ô nhiễm nói chung và các hợp chất dioxin nói

riêng đã được nghiên cứu ứng dụng từ lâu đã dần trở thành hướng đi triển vọng vì

đây là một biện pháp tuy có nhược điểm là thời gian xử lý kéo dài nhưng là một

biện pháp hiệu quả, rẻ tiền và đặc biệt là không tạo sản phẩm thứ cấp, an toàn đối

với con người và hệ sinh thái. Công nghệ này được chia thành 3 phương pháp:

- Bổ sung các vi sinh vật có khả năng phân hủy chất ô nhiễm vào vùng ô

nhiễm mà ở đó điều kiện môi trường có thể điều khiển được (bioaugmentation)

(Wise, 2000).

- Kích thích phát triển của vi sinh vật bản địa ngay tại nơi bị ô nhiễm

(biostimulation);

- Phân hủy bằng thực vật (phytoremediation) (Vroblesky và cs, 1998);

Đối với đất nhiễm dioxin tại các điểm nóng Biên Hòa và Đà Nẵng, Viện

công nghệ sinh học thuộc Viện khoa học công nghệ Việt Nam (2004) đã có các

nghiên cứu khảo sát ban đầu, đánh giá khả năng phân hủy dioxin của các vi sinh vật

bản địa. Các nghiên cứu ở điều kiện pilot hiện trường, số lượng vi sinh vật trong các

13

lô xử lý tăng rõ rệt (vài chục lần đến hàng nghìn, hàng triệu lần) đạt mức độ khác

nhau so với các lô đối chứng và đất trước khi xử lý. Trong đó, vi sinh vật ở các lô

đối chứng cũng tăng hơn so với đất nguyên thủy trước khi xử lý. Như vậy, biện

pháp cô lập, chôn lấp và hấp phụ đã tạo nên môi trường tương đối ổn định để vi

sinh vật phát triển. Điều này chứng tỏ công nghệ chôn lấp tích cực đã mang lại kết

quả khả quan; Gần đây nhất, bằng nguồn tài trợ của Quỹ Ford, Hoa Kỳ, Viện cùng

với US EPA đã triển khai thử nghiệm tại Đà Nẵng một số mô hình xử lý đất nhiễm

bằng vi sinh vật. Tuy nhiên, kết quả thử nghiệm sau 180 ngày tại thực địa cho thấy

mức độ suy giảm dioxin chưa thật rõ ràng, đặc biệt đối với khoảng nồng độ dioxin

<10.000 ppt.(Đ.T.C.Hà và CS, 2010).

Hình 1.5 Biểu đồ độ giảm của TCDD trong nghiên cứu thử nghiệm

tại Đà Nẵng

1.2.5 Biên pháp chôn lấp

Việc chôn lấp thuốc BVTV tồn đọng trong những năm trước đây (trước năm

2000) cũng đã được nghiên cứu và áp dụng ở nhiều cấp độ khác nhau ở hầu khắp

các địa phương trong cả nước, tất nhiên đây chỉ là giải pháp tình thế. Phần nhiều các

hố chôn có quy mô nhỏ, có kích thước từ vài khối đến vài chục khối, được xây bằng

gạch hoặc bê tông, chưa bọc lót bằng các vật liệu chống thấm và cách ly với môi

trường tốt. Những năm gần đây những khu đất nhiễm thuốc BVTV như DDT, GCB

14

cũng đã được thu gom và chôn cách ly trong những hố chôn đảm bảo tiêu chuẩn

tương tự như hố chôn đối với chất thải nguy hại.

Từ năm 2006 đến 2009 tai sân bay Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, cũng trên cơ sở loại hình công nghệ này đã tiến hành cô lập triệt để tại chỗ khoảng gần 100.000m3

trên diện tích 4,3 ha đất nhiễm chất đôc da cam/dioxin trong các hố chôn an toàn

(báo cáo Dự án Z1, Bộ Quốc phòng). Vào năm 2012, Bộ Quốc phòng phối hợp với

Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ bằng ngân sách của Chính phủ Mỹ thực hiện đã chôn lấp hoàn toàn 7.500m3 đất nhiễm tại sân bay Phù Cát do Văn phòng 33 làm

chủ dự án (2011-2012).

Phương pháp chôn cô lập không phải là phương pháp xử lý tận gốc nguồn

gây nhiễm, nhưng là giải pháp cô lập và ngăn chặn triệt để nguồn gây nhiễm; giải

pháp đơn giản, rẻ tiền có thể áp dụng trên nhiều vùng miền của Việt Nam.

1.3 Kinh nghiệm trên thế giới áp dụng công nghệ cơ hóa trong xử

lý dioxin

Theo báo cáo của Công ty EDL (EDL company,2011) thì dây truyền công

nghệ MCD của New Zealand đã được áp dụng thực tế xử lý đất bị ô nhiễm

dioxin ở các quy mô khác nhau và ở một số quốc gia, kết quả được trình bày

trong bảng dưới đây.

Bảng 1.3 Một số dự án thử nghiệm công nghệ Hóa Cơ

Năm

Địa điểm/dự án

Khối lượng

Loại ô nhiễm

Công nghệ áp dụng

2006

USA – Francisco

1 Drum, Sr.V

2007

USA - Francisco

1 Drum, Sr.V

2010

Japan Osaka trail

9x10kg batch trial 12x20kg batch trial 200 kg batch

2 Drum Sr.V

Dioxins, thuốc trừ sâu Dioxins, Kim loại nặng Dioxins

- Năm 2006, EDL đã tiến hành thử nghiệm công nghệ ở Hunters Point

Shipyard, San Francisco cho lực lượng Hải quân mỹ để đánh giá hiệu quả công

nghệ MCD xử lý PCBs rò rỉ từ kho dự trữ hàng hóa. Kết quả cuộc thử nghiệm cho

thấy các hợp chất POPs bao gồm thuốc trừ sâu, Dioxins, Pentachlorophenol (PCP),

15

Total Petroleum Hydrocarbons (TPHs) và các chất ô nhiễm khác đạt hiệu quả cao

hơn 99% sau 45 phút xử lý.

Bảng 1.4: Kết quả xử lý PCPs (ug/kg)

- Năm 2007, công ty EDL tiếp tục tiến hành thử nghiệm xử lý đất nhiễm

POPs, Dioxins… tại San Fransisco. Kết quả xử lý dioxin và furan cho thấy trong 15

phút đầu, nồng độ dioxin và furan còn cao hơn nhiều lần so với nồng độ ban đầu.

Có thể giải thích rằng dioxin, furan được tạo thành do sự phá hủy thứ cấp của các

hợp chất hữu cơ khác. Sau 15 phút, dioxin và furan bắt đầu được phá hủy, và trung

bình sau 60 phút xử lý hiệu quả đạt đến 94%.

Bảng 1.5: kết quả xử lý dioxin và furan (Đơn vị tính:TEQ)

- Năm 2011, EDL tiến hành thử nghiệm xử lý ở Osaka, Japan. Với hệ thống

xử lý cải tiến hơn so với các cuộc thử nghiệm trước. Mô hình xử lý này giống với

16

mô hình công nghệ đã tiến hành thử nghiệm tại sân bay Biên Hòa vào cuối năm

2012.

200kg đất đã được xử lý với độ ẩm 10%, kết quả được tóm tắt trong bảng sau:

Bảng 1.6 : Kết quả xử lý Dioxins (total)

Reactor 1 out: mẫu đất trước khi ra khỏi lò phản ứng số 1

Reactor 2 out: mẫu đất ra khỏ lò phản ứng số 2

Ngoài ra EDL còn tiến hành xử lý một số các hợp chất hữu cơ khó phân hủy

khác như Aldrien, thuốc trừ sâu và cả kim loại nặng… đều cho thấy hiệu quả xử lý

khá tốt của công nghệ MCD, đó là:

Năm 2004 Mapua, tại New Zealand công nghệ hóa cơ đã xử lý 8.650 m3 xử

lý: Sr IIIl DDT, aldrien, dieldrin, lindane.

2006 Hồng Kông 4x10kg thử nghiệm 1 thùng, Sr V TPH, kim loại nặng

2007 Trung Quốc Philippines 4x10kg thử nghiệm 1 thùng, Sr V Thuốc trừ

sâu

2009 Nhật Bản Bộ thử 14x10kg thử nghiệm 1 thùng, Sr V dioxin, PCBs,

BHC

2009 Alaska, Hoa Kỳ 140m3 quy mô đầy đủ xử lý , Sr V PCBs.

17

CHƯƠNG II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Tính toán khối lượng đất nhiễm dioxin cần phải xử lý tại sân bay

Biên Hòa

Khu vực Tây Nam của đường băng (Pacer Ivy)

Trước những năm 2008, Bộ Quốc phòng và Văn phòng 33 không tập trung

vào nghiên cứu, khảo sát tại khu vực này. Đến năm 2007, dự án UNDP – Văn

phòng 33 (UNDP-Văn phòng 33 2008 & 2011) đã tiến hành lấy mẫu tại một số ở

khu vực phía Tây và Tây nam đường băng sân bay Biên Hòa. Kết quả cho thấy

nhiễm độc không đáng kể tại khu vực phía Tây nam sân bay Biên Hòa (30% mẫu

lấy tại khu vực này cho thấy hàm lượng trên 1.000 ppt TEQ). Tuy nhiên, trong

nghiên cứu ban đầu, số mẫu đã lấy không đủ để đưa ra một kết luận tổng quát về

phạm vi và sự mở rộng vùng nhiễm độc CĐHH/dioxin tại khu vực Pacer Ivy.

Vào năm 2008, đây là đợt khảo sát lấy mẫu chính thức đầu tiên được tiến

hành. Sau khi phía Bộ Quốc phòng Mỹ đề nghị khảo sát vì trước kia được sử dụng làm nơi lưu trữ thuốc diệt cỏ. Diện tích khu vực lấy mẫu là 150.000 m2, bao gồm

một kho chứa bê tông. Ở phía Tây Nam của kho chứa là vùng vành đai dốc xuống

hệ thống rãnh thoát nước, lạch và ao nhỏ. Người dân ở đây nuôi và đánh bắt cá tại

các ao này.

Tại khu vực này, phân tích 15 mẫu trong tổng số 19 mẫu đất và trầm tích.

Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga phân tích 11 mẫu và Công ty AXYS phân tích 4

mẫu, bao gồm 2 mẫu lặp lại để kiểm chứng phương pháp.

Kết quả phân tích cho thấy, phía tây của khu vực này (chân dốc đường băng)

có nồng độ dioxin cao (2.000 và 22.300 ppt TEQ). Tại khu vực phía Tây - Nam

mức độ ô nhiễm thấp hơn. Đối với trầm tích, mẫu lấy tại cá ao hồ và rãnh thoát

nước dọc theo hướng dòng chẩy từ đường băng thì nồng độ dioxin đều cao hơn

ngưỡng cho phép của Việt Nam và Quốc tế (1090, 1500 và 5970 ppt TEQ). Đây là

khu vực có địa hình phức tạp với nhiều ao nuôi cá và hồ.Mức độ ô nhiễm dioxin rất

18

khác nhau tại từng khu vực và có xu hướng tập trung tại các hệ thống rãnh thoát

nước ở cuối dòng chẩy.

Kết quả của đợt khảo sát này, mới chỉ cho thấy sơ bộ tình hình ô nhiễm tại

khu vực này. Để có thể đánh giá chính xác mức độ, phạm vi và khối lượng đất cần

được xử lý, cần phải có thêm đợt nghiên cứu sâu hơn nữa.

(Kết quả báo cáo Hatfield, 2008)

Hình 2.1 Kết quả lấy mẫu dioxin tại phía Tây Nam đường bay (Pacer Ivy)

Để có thể xây dựng kế hoạch tổng thể xử lý triệt để ô nhiễm tại ba điểm

nóng. Năm 2012,dự án xử lý dioxin tại các điểm nóng ô nhiễm chất da cam/dioxin

do UNDP tài trợ đã kế hoạch đành đánh giá bổ sung ô nhiễm dioxin tại các khu vực

mới phát hiện ở sân bay Biên Hòa và Phù Cát, xác định khối lượng, diện tích đất

cần phải xử lý. Tại Biên Hòa đợt khảo sát lần này nhóm nghiên cứu lấy tổng 104

mẫu (đất, trầm tích và các mẫu QC) được lấy, trong đó có 43 mẫu bề mặt, 48

mẫu đất theo chiều sâu và 13 mẫu kiểm soát chất lượng (gồm 8 mẫu lặp, 2 mẫu

trắng di chuyển và 3 mẫu trắng hiện trường/ rửa thiết bị).

19

Tổng số 104 mẫu đã được phân tích. Trong đó, số mẫu đất bề mặt là 43, số

mẫu đất theo chiều sâu là 48, các mẫu được phân tích tại phòng thí nghiệm dioxin

thuộc Tổng cục Môi trường. Kết quả số liệu mẫu trắng, các mẫu lặp và mẫu kiểm

tra chéo do phòng thí nghiệm dioxin phân tích được gửi đến phòng thí nghiệm

AXYS để viết báo cáo đánh giá QC. Kết quả phân tích kiểm tra chéo các mẫu lặp

cho thấy sự tương đồng tốt giữa hai phòng thí nghiệm.

2.1.2 Công nghệ Hóa-Cơ (MCD) xử lý đất bị ô nhiễm tại sân bay Biên Hòa

a. Bối cảnh thử nghiệm và mục tiêu xử lý dioxin của cộng nghệ Hóa Cơ

Trong chương trình thử ghiệm được tài trợ chính bởi Quỹ Môi trường toàn

cầu (GEF) và một phần từ Chính phủ New Zealand. Đây là một hoạt động quan

trọng trong dự án “Xử lý ô nhiễm dioxin tại các vùng nóng ở Việt Nam” do GEF tài

trợ và cũng là một trong số các Chương trình thử nghiệm công nghệ nhằm tìm kiếm

khả năng áp dụng một loại công nghệ mới đã được thương mại hóa để xử lý đất

nhiễm các chất POPs theo như Công ước Stockholm. Dự án của GEF, cụ thể là hoạt

động này được Văn phòng UNDP điều phối và Bộ TNMT là Cơ quan quốc gia thực

hiện dự án. Dự án do Văn phòng Ban chỉ đạo 33 (Văn phòng 33) trực tiếp triển khai

thực hiện.

Chương trình thử nghiệm được thiết kế với sự phối hợp của các bên gồm

Chương trình Phát triển liên hợp quốc (UNDP), Văn phòng 33 và các chuyên gia trong nước, theo đó nhất trí thử nghiệm trên 100 m3 đất nhiễm dioxin thuộc 2 khu

vực trong sân bay Biên Hòa với nồng độ nhiễm được xác định trước đó. Mục tiêu là

thực hiện thử nghiệm đất nhiễm ở 3 mức độ nhiễm khác nhau: cao (>10,000ppt

TEQ), trung bình (2.000-10.000ppt TEQ) và thấp (<2.000ppt TEQ). Quá trình thử

nghiệm sử dụng thiết kế cơ sở hệ thống nghiền bi của Công ty EDL.Tổng cộng 100

tấn đất nhiễm được chia thành 42 mẻ xử lý, mỗi mẻ từ 2-6 tấn.Các mẻ được xử lý

với các điều kiện và thông số vận hành khác nhau, đặc biệt là sẽ tập trung vào đánh

giá xử lý đất nhiễm ở mức trung bình vì đây được xem là mức phổ biến khi tiến

hành xử lý đại trà sau này. Với mục tiêu xử lý là đưa ngưỡng dioxin về dưới

20

1.000ppt TEQ sau xử lý là phù hợp với mục tiêu của quốc gia và quốc tế và theo đó

kết quả xử lý tham chiếu hoặc hiệu suất xử lý 99% đã được đề ra. Toàn bộ chương

trình thử nghiệm được chi tiết hóa bằng Kế hoạch thực hiện do công ty của New

Zealand xây dựng và được UNDP và Văn phòng 33 ký duyệt.

b. Dây truyền công nghệ Hóa-Cơ áp dụng xử lý tại sân bay Biên Hòa

Đất nhiễm dioxin được đưa qua hệ thống máy sàng để loại bỏ đất quá cỡ

(>10mm). Sau đó đất được đưa vào máy sấy khô, tại đây đất được sấy xuống độ ẩm

dưới 2%. Hơi nước và bụi được hấp thu qua than hoạt tính trước khi ra ngoài môi

trường. Cuối cùng đất sấy khô được xử lý qua 4 lò quay lắp thẳng đứng nối tiếp

nhau. Các thiết bị được mô tả như sau:

- Máy sàng rung

Đây là một bộ sàng rung đơn giản đặt ở 1 góc để sàng được đất có đường

kính <10mm

Tất cả các vật liệu quá cỡ sẽ được chuyển tới một thiết bị nghiền trước khi

được chuyển sàng lại

- Máy sấy băng truyền

Đây là một thiết bị chính vì đất phải được sấy tới độ ẩm <2%

Máy sấy được làm nóng gián tiếp bằng các dòng dầu nóng tuần hoàn

Vận tốc quay của máy sấy được giữ ở mức thấp để giảm thiểu khả năng tạo

bụi

21

Hình 2.2 thiết bị sấy khô

- Lò phản ứng (lò quay)

Có bốn lò phản ứng được sắp xếp theo chiều từ trên xuống dưới

Hệ thống được hàn bằng một van quay tại đầu xả của phễu nạp, và máy nhào

tại điểm cuối của hệ thống.

Mỗi lò phản ứng được nạp một số lượng bi thép khác nhau

Mỗi lò phản ứng có thể vận hành ở một vận tốc quay khác nhau

Hình 2.3 bốn lò phản ứng được lắp song song

22

- Máy nhào

Đây là một hệ thống cho phép bổ sung nước vào đất, tạo độ ẩm cho đất sau

xử lý.

Hình 2.4 hệ thống máy nhào đất sau xử lý

c. Kế hoạch thử nghiệm xử lý dioxin

* Đào xúc và chuẩn bị đất cho thử nghiệm.

- Tổng cộng đã đào xúc 150 tấn đất/100m3.

- Đất nhiễm đào xúc từ 3 khu vực ô nhiễm nặng, theo giả định ban đầu đất có

nồng độ từ:(>10.000ppt), trung bình (2.000- 10.000ppt) và nhẹ (<2.000ppt).

- Nồng độ nhiễm dựa trên số liệu phân tích mẫu trước đó.Nhưng sau khi có

kết quả phân tích chính thức thìđất có độ ô nhiễm nặng (theo phân loại ban đầu là

>10.000ppt) thì có nồng độ ô nhiễm lớn hơn 30.000ppt, phổ biến ở mức trên

50.000ppt. Đất có độ ô nhiễm trung bình (theo phân loại ban đầu là 2.000-

10.000ppt) là khoảng nồng độ được cho là có khối lượng đất cần xử lý lớn nhất, thì

được xác định trong khoảng 5.000-30.000ppt, phổ biến là mức xung quanh

23

15.000ppt. Đất có độ ô nhiễm thấp (theo phân loại là <2.000ppt) thì trong thực tế lại

có độ nhiễm thấp hơn, dưới ngưỡng xử lý.

- Đất nhiễm được cho vào từng bao (mỗi bao khoảng 1 tấn).

Hình 2.5 Các bao đất nhiễm dioxin lưu tại nhà kho

*Kế hoạch vận hành và lấy mẫu

- Khối lượng đất thực tế đưa vào hệ thống xử lý khoảng 110 tấn, các phần tử

có kích thước lớn được lọc ra.

Đất được xử lý qua 42 mẻ (Mỗi mẻ từ 2-8 bao theo thiết kế ban đầu).

- Việc xử lý được tiến hành với đất có nồng độ dioxin cao trước, nồng độ

thấp sau.

- Mỗi bao đất được lấy 2 mẫu: 1 mẫu trước khi xử lý và 1 mẫu sau khi xử lý.

- Tổng cộng 300 mẫu đất và 01 mẫu than hoạt tính. Ngoài ra, trong quá trình

xử lý còn đo lượng bụi trong khu vực xử lý và lấy mẫu khí thải ở đầu ra của bộ lọc

than hoạt tính.

* Các thông số về hệ thống xử lý tại Biên Hòa

24

- Từ mẻ 1 đến mẻ 23, xử lý đất nhiễm có kích thước hạt<20mm. Từ mẻ 24

đến mẻ 42, xử lý đất nhiễm có kíchthước hạt <10mm.

- Thành phần cơ lý của đất: thành phần chủ yếu là cát pha, kích thước hạt

>20mm chiếm khoảng 30% đến 50% vềthể tích.

- Tốc độ nạp đất đầu vào khoảng 100-900kg/giờ. Phần lớnduy trì ở tốc độ

300-500kg/giờ.

- Tốc độ quay trong lò xử lý là khoảng từ 250 đến 375 vòng/phút.

- Một số mẻ xử lý đã được bổ sung thêm cát thạch anh (tỷ lệ từ 0 – 5% theo

khối lượng khô).

- Thời gian để khởi động hệ thống là khoảng 1.5 giờ và thời gian để ngừng

hệ thống là khoảng 1 giờ.

- Một ngày hoạt động là 8 giờ.

* Phân tích mẫu

• 05 mẫu được lấy trong quá trình đào xúc đã được phân tích PCDD/F, kim

loại nặng, VOC nhằm xác định tính chất của đất, để giúp định hình các thông số của

hệ thống xử lý trước khi bắt đầu.

- 84 mẫu trộn (42 mẫu trước xử lý và 42 mẫu sau xử lý) được phân tích

PCDD/F (mỗi mẻ 1 mẫu).

- 26 mẫu đơn (13 mẫu trước xử lý và 13 mẫu sau xử lý) đã được phân tích

PCDD/F, kim loại nặng, VOC (mỗi bao 1 mẫu).

- Việc phân tích mẫu trên được Dự án quản lý độc lập

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp kế thừa, thu thập và tổng hợp tài liệu

Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu là rất quan trọng, giúp kế thừa được

các kết quả nghiên cứu đã có, tiết kiệm thời gian và kinh phí; đồng thời có được

những định hướng đúng đắn cho việc nghiên cứu.

25

Các tài liệu thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau đều được phân tích xử

lý và lựa chọn sắp xếp theo mục đích sử dụng, theo luận văn.

Việc thu thập tài liệu bao gồm các công việc:

Đề tài đánh giá mức độ tồn lưu chất độc da cam … trong đất tại khu vực

nghiên cứu liến quan đến rất nhiều lĩnh vực: địa chất, môi trường, thổ nhưỡng,…

Chính vì vậy các tài liệu cần thu thập khá đa dạng, bao gồm: các tài liệu về địa lý tự

nhiên, kinh tế - xã hội, địa chất thủy văn, các loại bản đồ: bản đồ phân vùng ô

nhiễm, sơ đồ hiện trạng tồn lưu dioxin tại các khu vực sân bay, sơ đồ tồn lưu dioxin

trong đất theo từng vùng,… và các dạng tài liệu có liên quan khác (tạp trí, báo cáo

khoa học,…)

2.2.2 Phương pháp lấy mẫu

Nhằm phân tích hiện trạng tồn lưu dioxin trong đất tại khu vực nghiên cứu,

ngoài việc thu thập tài liệu và tổng hợp các thông tin về đánh giá về đặc điểm tồn

lưu ở dioxin tại sân bay Biên Hòa. Trong phạm vi nghiên cứu và luận văn đã tiến

hành thu thập và lấy mẫu

Công tác lấy mẫu được tuân thủ theo nguyên tắc sau:

a. Loại mẫu, lượng mẫu: tiến hành lấymẫu đất tại khu vực Biên Hòa

b. Dụng cụ, hóa chất dung trong lấy mẫu: khoan tay, xẻng, khay chứ mẫu,

thìa lấy mẫu, thùng chứa và vận chuyển mẫu, găng tay, ủng cao su, chất rửa dụng cụ

lấy mẫu, nước (sinh hoạt) để rửa dụng cụ, dung môi (hexan, axeton loại dung trong

phân tích) và máy định vị GPS, máy ảnh.

c. Lấy các loại mẫu:

Thiết kế sơ đồ lấy mẫu theo yêu cầu của nhiệm vụ nghiên cứu. Để đảm bảo

tính đại diện khi lấy mẫu, sẽ sử dụng sơ đồ tuyến.Sử dụng máy định vị GPS để xác

định vị trí chính xác khi lấy mẫu, ở khu vực nghiên cứu chi tiết đan dày mạng tuyến

lấy mẫu. Ưu tiên lấy mẫu theo hướng lan tỏa do đất, bị rửa trôi theo nước mua hoặc

theo kênh mương (theo yếu tố địa hình).

26

* Mẫu đất:

Các thao tác kỹ thuật khi lấy mẫu:

- Xác định vị trí lấy mẫu ở hiện trường theo sơ đồ thiết kế lấy mẫu.

- Phát dọn cỏ, dò tìm cắm cờ hiệu cho chỗ khoan/đào phẫu diện lấy mẫu.

- Chuẩn bị các dụng cụ lấy mẫu cần thiết sử dụng cho vị trí lấy mẫu này.

- Rửa dụng cụ lấy mẫu.

- Lấy mẫu: mỗi mẫu là tập hợp của nhiều mẫu nhỏ.

- Chuyển mẫu vào khay chứa.

- Trộn đều, chuyển vào túi đựng.

- Ghi nhãn cho từng túi đựng mẫu.

Về cơ bản, quy trình lấy mẫu đã theo sát những quy trình đã được sử dụng

theo tiêu chuẩn của công ti tư vấn Hatfield Canada thực hiện. Chỉ có một ngoại trừ

là quy trình lấy mẫu đất theo chiều sâu đến 3,2m, phòng thí nghiệm Dioxin – Trung

tâm QT Môi trường đã thiết kế một thiết bị lấy mẫu có khả năng lấy mẫu đến độ sâu

3,2m giảm được nhiễm chéo rất nhiều. Hình 2.6 mô tả kĩ thuật lấy mẫu đất sâu bằng

thiết bị lấy mẫu đa chiều.

Hình 2.6 Phương pháp lấy mẫu đất dưới bề mặt

- Ghi biên bản (nhật ký): Nơi lấy, ký hiệu, tọa độ, ngày lấy, dụng cụ lấy

(khoan/gầu, xẻng/đào phẫu diện…), mã file các ảnh kỹ thuật số, mô tả ngắn gọn vị

27

trí lấy mẫu, đặc điểm mẫu lấy, đặc điểm địa hình, thảm thực vật, đặc điểm địa chất

khu vực lấy mẫu và đánh dấu vị trí trên sơ đồ lấy mẫu.

- Xếp đặt mẫu vào thùng lưu chứa, bảo quản nơi râm mát.

d. Đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng (QA/QC)

QA/QC trong lấy mẫu là rất cần thiết để đảm bảo chắc chắn là không có sự

lây nhiễm bẩn chéo và nếu có thì kiểm soát được mức lây nhiễm bẩn do dụng cụ

trong quá trình lấy mẫu.

Để tránh lây nhiễm bẩn trong quá trình lấy mẫu, trước khi lấy hoặc giữa các

lần lấy mẫu, tất cả dụng cụ lấy mẫu phải được rửa sạch. Dùng loại nước rửa thường

sử dụng để rửa dụng cụ phòng thí nghiệm pha với nước sạch (nước sinh hoạt). Rửa

tiếp 3 lần bằng dung môi hexan, rồi axeton.

Mẫu QA/QC chiếm khoảng 5% tổng số mẫu đã lấy, bao gồm mẫu trắng hiện

trường (mẫu nước tráng rửa dụng cụ sau khi đã rửa sạch giữa các lần lấy mẫu), mẫu

lặp duplicate trong lấy mẫu của một vị trí và mẫu chia từ một bình đựng mẫu.

e. Bảo quản mẫu:

Niêm phòng bình được mẫu bằng băng giấy parafin. Xếp đặt vào thùng lưu

chứa mẫu, lắp kín.Đánh số thùng, lập danh sách mẫu trong thùng.Vận chuyển thùng

về phòng thí nghiệm.

2.2.3 Phương pháp điều tra và nghiên cứu ngoài thực địa

Thử nghiệm công nghệ dioxin được xây dựng trong sân bay Biên Hòa -

Đồng Nai. Các thông tin được thu thập trực tiếp tại hiện trường xử lý, và khu vực

nghiên cứu tại phía Tây sân bay Biên Hòa.

2.2.4 Phương pháp chuyên gia

Các ý kiến tư vấn của thầy cô hướng dẫn, các chuyên gia kỹ sư làm việc trực

tiếp tại khu vực xử lý.

28

2.2.5 Phương pháp tính toán

- Tính toán Khối lượng đất nhiễm cần xử lý tại khu vực Pacer Ivy:

Để có thể xác định phạm vi và mức độ ô nhiễm cần xử lý ta chia khu vực cần

đánh giá thành những ô vuông có diện tích 50x50m. Sau đó tiến hành lấy mẫu xác

định những ô đất nào bị nhiễm và độ sâu cần xử lý từ đó ta có thể tính toán được

khối lượng đất cần xử lý (diện tích nhân với chiều sâu)

- Áp dụng phương pháp Hồi quy đa tuyến tính, để đánh giá mối tương quan

giữa các thông số ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý dioxin bằng công nghệ Hóa Cơ. Từ

đó có thể rút ra được các kết luận trong việc điều chỉnh các thông số độc lập để tăng

hiệu quả xử lý

Phương trình hồi quy: y = b + b1x1 +b2x2 + … +bnxn.

2.2.6 Phương pháp phân tích tổng hợp đánh giá

Dựa trên số liệu sẵn có để tổng hợp và rút ra được những kết luận hữu ích

nhất để phục vụ cho nghiên cứu.

29

CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Nghiên cứu, xác định mức độ ô nhiễm tại khu vực phía tây nam sân

Khu vực nghiên cứu được chia thành các lô (50x50m) và lấy mẫu bên trong mỗi lô, có tổng 104 mẫu đã được phân tích, bao gồm 43 mẫu đất bề mặt, 48 chiều sâu và mẫu trầm tích và các mẫu kiểm soát chất lượng (QA,QC). Các mẫu theo chiều sâu được lấy trong khoảng: 0-30cm, (2) 30-60 cm, (3) 60-90 cm, (4) 90-120 cm, (5) 120-150 cm, (6) 150-180 cm, (7) 180- 210 cm…, vị trí các mẫu được mô tả trong hình 3.1.

Đề xác định mức độ ô nhiễm và tính toán khối lượng đất nhiễm dioxin

cần được xử lý, cần đánh giá:

Đánh giá mức độ ô nhiễm bề mặt (đất, trầm tích)

Đánh giá mức độ ô nhiễm theo chiều sâu

Tính diện tích và độ sâu đất nhiễm dioxin cần xử lý

bay Biên Hòa (khu vực Pacer Ivy)

30

Hình 3.1 Các vị trí lấy mẫu tại khu vực Pacer Ivy

31

3.1.1 Nhiễm độc dioxin trong đất bề mặt

Kết quả phân tích cho thấy có tổng 34 mẫu có nồng độ ô nhiễm trên 1,000

ppt TEQ, chiếm tới 79% trên tổng 43 mẫu bề mặt, kết quả phân tích ghi trong bảng

3.1.Trong đó nồng độ cao nhất là 962.560 ppt TEQ và hầu hết các mẫu có nồng độ

cao tập trung ở góc tây Nam và phía Đông của khu vực Pacer Ivy (khu vực P4). Đây

có thể coi là điểm nguồn gây ô nhiễm sang các khu vực khác.

Xét sự lan tỏa dioxin từ khu vực P4 đến khu vực P1,P2, P3, Trong khu vực

Pacer Ivy, có một làn đường giao thông nhỏ nối P1 và P4, con đường này vô tình

cái đập ngăn chặn lan tòa, tách khu vực Pacer Ivy thành hai phần, phần P1-P3-P4

và P1-P2-P4.Phần bên trái P1-P3-P4 ít bị nhiễm độc hơn do điểm nguồn nằm ở phía

bên phải khu vực Pacer Ivy (P4). Tuy nhiên, có 2 mẫu 11BH-A3 và 11BH-B5 lấy

tại phần này (P1-P3-P4) có nồng độ lên đến 3.980 và 3.972 ppt TEQ cao hơn giới

hạn cho phép và dịch xuống phía nam có 2 mẫu 11BH-C6 và 11BH-E8 là 285 và

417 ppt TEQ. Nguyên nhân có thể do các ống thoát nước ngầm xuyên qua đường

giao thông gây ô nhiễm.

Dọc theo được giao thông và các mương thoát nước từ P4 xuống P1, các mẫu

được lấy để đánh giá xu hướng lan tỏa dioxin. Kết quả cho thấy các mẫu BH-AB1,

AB4, C3 tại các mương này có hàm lượng dioxin cao hơn ngưỡng cho phép là 2677

và 1725, 2103 ppt TEQ. Hai mẫu bùn khác tại khu vực này như 11BH-DCH4 và

DCH6 hàm lượng dioxin cao hơn 150 ppt TEQ. Tuy nhiên, các mẫu trầm tích được

lấy ở gần bờ có bình độ cao hơn nhiều so với đáy mương, hồ. Vì vậy, các kết quả

này chưa đại diện. Nên mức đô ô nhiễm thực tế có thể còn cao hơn.

Để có thể hình dung được con đường lan tỏa dioxin, các kết quả phân tích

được mô tả trên bản đồ (hình 3.2). Có thể thấy dioxin đã lan tỏa rộng theo hệ thống

thủy văn từ khu vực P4 đến khu vực P1 và một số ao hồ tại khu vực P2, cho thấy

diện tích đất nhiễm độc dioxin là rất lớn.

32

Hình 3.2 Phân bố giá trị nồng độ TEQ tại khu vực phía Tây/Pacer Ivy (vàng và đỏ: trên 1.000 ppt)

33

Bảng 3.1: Hàm lượng PCDD/Fs (ppt TEQ) trong mẫu đất bề mặt từ khu vực phía

Tây (Biên Hòa)

Ký hiệu

Vĩ độ

Kinh độ

Loại mẫu

TEQ

%TCDD

2378- TCDD

11BH-A3

10.971750 106.801944 Bề mặt

3649

3980

91,7

11BH-AB1

10.973583 106.801944 Bề mặt

1673

1725

97,0

11BH-B1

10.973028 106.802472 Bề mặt

417

430

97,1

11BH-B2

10.972500 106.802194 Bề mặt

988

1020

96,9

11BH-B3

10.972000 106.802278 Bề mặt

286

297

96,3

11BH-B5

10.971028 106.802417 Bề mặt

3734

3972

94,0

11BH-C2

10.972528 106.802750 Bề mặt

292

301

96,8

11BH-C4

10.971389 106.803000 Bề mặt

52,1

53,4

97,6

11BH-C6

10.970500 106.802889 Bề mặt

253

285

88,9

11BH-D1

10.973278 106.803250 Bề mặt

60,9

65,5

93,0

11BH-D2

10.972556 106.803167 Bề mặt

30,7

31,6

96,9

11BH-D4

10.971333 106.803278 Bề mặt

15,3

15,5

98,6

11BH-D5

10.970889 106.803000 Bề mặt

1469

1507

97,5

11BH-E1

10.973000 106.803722 Bề mặt

10,0

11,1

89,7

11BH-E2

10.972472 106.803639 Bề mặt

40

49,9

96,7

11BH-E3

10.971917 106.803667 Bề mặt

903

934

96,6

11BH-E5

10.971000 106.803750 Bề mặt

7,33

7,59

96,6

11BH-E6

10.970500 106.803556 Bề mặt

399

406

98,2

11BH-E8

10.969472 106.803639 Bề mặt

221

417

53,0

11BH-E10

10.969472 106.804583 Bề mặt

382

411

92,9

11BH-F4

10.971389 106.804222 Bề mặt

1401

1447

96,9

11BH-F5

10.971056 106.804639 Bề mặt

20807

21196

98,2

11BH-G1

10.973056 106.804306 Bề mặt

165

177

93,0

34

11BH-G3

10.972058 106.804778 Bề mặt

391

402

97,1

11BH-G6

10.970583 106.804806 Bề mặt

1166

1222

95,4

11BH-G7

10.969944 106.804972 Bề mặt

52,8

68,8

76,7

11BH-H1

10.973194 106.805306 Bề mặt

10,0

10,3

96,4

11BH-H2

10.972500 106.805056 Bề mặt

9455

9685

97.6

11BH-H5

10.971056 106.805278 Bề mặt

1041

1123

92,7

11BH-K8

10.969583 106.905667 Bề mặt

637

682

93,4

11BH-K11

10.968000 106.805917 Bề mặt

446

484

92,1

11BH-L12

10.967722 106.806444 Bề mặt

1689

1790

84,4

11BH-L13

10.967444 106.906722 Bề mặt

19.9

22.4

89,1

11BH-M12

10.198167 106.807194 Bề mặt

14.0

22.0

63,6

11BH-M13

10.967861 106.807556 Bề mặt

2785

2872

97,0

11BH-DCH1

10.971944 106.806750 Bề mặt

1609

1670

96,3

11BH-DCH2

10.971917 106.809111 Bề mặt

207

220

94,1

11BH-DCH4

10.971944 106.808222 Bề mặt

457

486

94,0

11BH-DCH7

10.971944 106.805361 Bề mặt

2171

2215

98,0

11BH-DCH8

10.972139 106.805028 Bề mặt

9518

6681

97,6

11BH-DCH9

10.971828 106.804722 Bề mặt

1260

1305

96,6

11BH-DCH10

10.971806. 106.803389 Bề mặt

540

554

97,5

11BH-DCH12

10.972111 106.802528 Bề mặt

19,2

19,9

96,5

3.1.2 Nhiễm độc trong đất và trầm tích sâu

Tại khu vực Pacer Ivy, đã tiến hành lấy 12 mẫu đất và trầm tích với chiều sâu

tối đa là 2,4m. Các mẫu theo chiều sâu được chia thành các đoạn 30cm. Có 10 mẫu

theo chiều sâu đất và trầm tích được phân tích để xác định dioxin. Việc lấy mẫu dựa

trên các khảo sát ô nhiễm sơ bộ trước đó, các vị trí lấy mẫu theo chiều sâu tập trung

vào khu vực P4, P1 và P2 (ở phía bên tay phải đường giao thông). Vị trí các mẫu

35

được biểu diễn trong hình 3.5, sáu vị trí biểu diễn nồng độ dioxin trên 1.000 ppt

TEQ.

Tại khu vực P4 là điểm nguồn gây ô nhiễm có nồng độ dioxin cao nhất trong

khu vực. Lấy 4 điểm là 11BH-H4, 11BH-H6, 11BH-H2, 11BH-K7. Mẫu theo chiều

sâu 11BH-K7 được lấy tại vị trí cao nhất gần đường bay có nồng độ vô cùng cao

(962.000ppt TEQ). Đây là nồng độ bề mặt cao nhất từng thấy ở trong sân bay Biên

Hòa. Theo chiều sâu, mẫu 11BH-K7 xuống độ sâu 30-60 cm có nồng độ là 392.000

TEQ và giảm nhanh xuống 210 ppt TEQ ở độ sâu dưới 60 cm. Bên cạnh mẫu

11BH-K7 là mẫu 11bh-H6 có bình độ thấp hơn một chút thì lại có đặc tính khác

hẳn. Nồng độ dioxin bề mặt không phản ánh được mức độ ô nhiễm tại điểm này, ở

độ sâu 60-90cm nồng độ dioxin đạt cao nhất và giảm dần ở các lớp sâu hơn và

xuống đến độ sâu 180 cm nồng độ dioxin vẫn cao gấp 8 lần ngưỡng xử lý (8.129

ppt TEQ). Biểu đồ biểu diễn phân bố được miêu tả trong hình 3.3

Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn nồng độ dioxin phân bố theo chiều sâu

(mẫu 11BH-H6)

Tại khu vực P1, là khu vực được xác định là có dấu hiệu bị ô nhiễm do lan

tỏa từ khu vực P4. Mẫu 11BH-C3 là mẫu trầm tích theo độ sâu, nồng độ lớp bề mặt

giảm từ 2.100 ppt xuống 302ppt ở độ sâu 90cm, dưới 90cm nồng độ đo được là

10ppt. Mẫu 11BH-AB4 nồng độ dioxin bề mặt là 2677 ppt-TEQ và giảm xuống

1796 ppt-TEQ ở độ sâu 60 cm, dưới 60cm không lấy được do đất bùn và nhão.

36

Có thể thấy, sự phân bố dioxin tại khu vực Pacer Ivy không hề đơn giản.Có

những điểm dioxin đã xuống đến độ sâu 180cm và độ sâu trung bình khoảng 90-120

cm. Hai điểm rất gần nhau lại có sự phân bố dioxin khác nhau (BH-K7; BH-H6). và

xét trên toàn bộ khu vực Pacer Ivy cấu trúc địa tầng là không đồng nhất. Do đó, với

10 mẫu chiều sâu là chưa đủ để đánh giá đúng thực trạng ô nhiễm dioxin theo chiều

sâu tại khu vực này.

Hình 3.4 Biểu đồ biểu diễn nồng độ dioxin phân bố theo chiều sâu

(mẫu 11BH-C3)

Bảng 3.2 Nồng độ dioxin lấy theo chiều sâu tại khu vực Pacer Ivy

Ký hiệu

Độ sâu

Vĩ độ

Kinh độ

TEQ

%TCDD

2378- TCDD

11BH-AB4-1 AB4 (0-30cm)

10.973722 106.802278

2662

2677

99.4

11BH-AB4-2 AB4(30-60cm)

1785

1796

99.4

11BH-AB5-1 AB5(0-30cm)

10.973722 106.801889

75.1

81.1

92.6

11BH-AB5-2 AB5(30-60cm)

38.3

47.0

81.5

11BH-C3-1

C3 (0-30cm)

10.972417 106.802000

2050

2103

97.5

11BH-C3-2

C3 (30-60cm)

2132

2180

97.8

11BH-C3-3

C3 (60-90cm)

299

302

99.0

11BH-C3-4

C3 (90-120cm)

4.93

5.44

90.6

11BH-C3-5

C3 (120-150cm)

4.19

5.21

80.4

37

11BH-C3-6

C3 (150-180cm)

7.00

8.13

86.1

11BH-C3-7

C3 (180-210cm)

<1.33

1.22

-

11BH-F3-1

F3(0-30cm)

10.872083 106.803889

9.3

13.0

71.2

11BH-F3-2

F3(30-60cm)

15.7

16.2

96.9

11BH-F3-3

F3(60-90cm)

2.57

4.06

63.3

11BH-F3-4

F3(90-120cm)

4.28

4.56

93.9

11BH-G2-1

G2(0-30cm)

10.972417 106.804361

11.2

11.4

98.2

11BH-G2-2

G2 (30-60cm)

4.94

5.00

98.8

11BH-G2-3

G2 (60-90cm)

2.81

2.82

99.6

11BH-G2-4

G2 (90-120cm)

1.69

2.01

84.1

11BH-G2-5

G2 (120-150cm)

<1.33

0.12

-

11BH-G2-6

G2 (150-180cm)

<1.33

2.04

-

11BH-H4-1

G2 (0-30cm)

10.972417 106.805361

1552

1600

97.0

11BH-H4-2

H4 (30-60cm)

26.9

42.6

63.1

11BH-H4-3

H4(60-90cm)

4.40

49.4

8.9

11BH-H4-4

H4 (90-120cm)

51.7

60.2

85.9

11BH-H4-5

H4(120-150cm)

63.7

78.5

81.1

11BH-H4-6

H4(150-180cm)

94.3

94.3

100.0

11BH-H5-7

H4(180-210cm)

26.4

41.4

63.8

99.3

11BH-H6-1

H6(0-30cm)

10.970583 106.805278

72856

73389

11BH-H6-2

H6(30-60cm)

108900

109791

99.2

11BH-H6-3

H6 (60-90cm)

317087

318816

99.5

11BH-H6-4

H6(90-120cm)

183940

185142

99.4

11BH-H6-5-1 H6(120-150cm)

19560

19692

99.3

11BH-H6-6

H6(150-180

8087

8129

99.5

5017

97.2

11BH-H21-1 H21 (0-30cm)

10.970111 106.805139

4875

11BH-H21-2 H21( 30-60cm)

9695

9883

98.1

42.0

85.7

1BH-K3-1

K3 (0-30cm)

10.972000 106.805.667

36.0

38

6.72

6.73

99.9

11BH-K3-2

K3 (30-60cm)

8.35

8.72

95.8

11BH-K3-3

K3 (60-90cm)

1.46

1.46

100.0

11BH-K3-4

K3(90-120cm)

3.34

3.35

99.7

11BH-K3-5

K3(120-150cm)

11BH-K7-1

K7(0-30cm)

10.970333 106.805806

949368

962559

98.6

388807

392669

99.0

11BH-K7-2

K7(30-60cm)

209

210

99.5

11BH-K7-3

K7(60-90cm)

465

466

99.8

11BH-K7-4

K7(90-120cm)

243

243

100.0

11BH-K7-5

K7(120-150cm)

6.68

6.68

100.0

11BH-K7-6

K7(150-180cm)

139

145

95.9

11BH-K7-7

K7(180-210cm)

39

Hình 3.5 Vị trí 10 mẫu core và nồng độ dioxin trong các lớp bề mặt (Màu xanh <1.000 ppt; Màu tím > 1.000ppt)

40

Xác định khối lượng đất cần xử lý

Từ các kết quả của 91 mẫu bao gồm cả mẫu bề mặt và mẫu theo chiều sâu và

từ những đánh giá của nhóm nghiên cứu về tình hình nhiễm độc dioxin trên bề mặt

và trong trầm tích sâu cho thấy:

Điểm phát sinh dioxin xuất phát từ khu vực cuối đường băng sân bay (gần

khu vực P4), tại đây dioxin có nồng độ dioxin rất cao lên đến gần 1 triệu ppt

(11BH-K7: 962.000 ppt TEQ). Từ khu vực P4 dioxin đã, đang và tiếp tục lan tỏa

dọc theo đường giao thông qua các hệ thống kênh rạch hướng về khu vực P1 và P2.

Khu vực P3, nhờ con đường giao thông chạy dọc từ P4 xuống P1 đã ngăn cản lan

tỏa ô nhiễm sang khu vực này. Tuy nhiên, vẫn có 1 số điểm có nồng độ dioxin (A3:

3980; B5: 3972) cao hơn giới hạn cho phép.

Để xác định diện tích đất cần xử lý, từ những kết quả phân tích, các kết quả

lấy mẫu đất bề mặt được mô hình hóa lên bản đồ theo từng ô vuông 50x50m tham

chiếu với mục tiêu xử lý đối với các điểm nóng là 1.000ppt đối với đất và 150 ppt

đối với trầm tích. Theo tính toán thấy rằng trong khoảng 30 lô đất (với diện tích

50x50m) được đánh dấu màu vàng trong hình 3.6 có nồng độ cao hơn ngưỡng cho phép. Như vậy diện tích đất cần phải xử lý là: S = 30*50m*50m = 75.000m2 trên tổng diện tích 150.000m2

Để xác định khối lượng cần xử lý, cần phải đánh giá phân bố của dioxin theo

chiều sâu. Tuy nhiên, các kết quả cho thấy sự phân bố dioxin theo chiều sâu tại khu

vực này là không đồng nhất, mỗi một điểm lấy mẫu lại cho thấy sự phân bố dioxin

theo chiều sâu khác nhau, như: tại khu vực P4 dioxin đã xuống đến độ sâu 180 cm

và tại 1 số điểm còn sâu hơn nữa; tại khu vực P1 nồng độ dioxin trên lớp bề mặt

khoảng từ 2000-3000ppt và độ sâu cần phải xử lý xuống 90cm. Vì vậy, không có cơ

sở chắc chắn xác định độ sâu nhiễm độc. Nên để đánh giá khối lượng đất cần xử lý,

giả sử độ sâu nhiễm độc trung bình cần phải xử lý khoảng 1,2m, thì khối lượng đất cần đào xúc sẽ khoảng: V = 75.000m2 * 1,2m = 90.000m3.

41

Như vậy, chỉ tính riêng tại khu vực này khối lượng đất nhiễm dioxin cần phải xử lý là hơn 90.000m3 lớn hơn so với lượng đất nhiễm dioxin đang được xử lý tại sân bay Đà Nẵng (73.000m3). Vì vậy, để có thể xử lý 90.000m3 đất nhiễm dioxin

mà vẫn đảm bảo hiệu quả, công suất và giảm chi phí xử lý ta có thể áp dụng đồng

thời nhiều biện pháp công nghệ khác nhau (đề xuất phương án xử lý tại khu vực này

sẽ được trình bầy cụ thể ở phần thảo luận chung). Với mỗi khoảng nồng độ khác

nhau ta có thể áp dụng các công nghệ khác nhau hay quy trình xử lý khác nhau.

Việc chia thành các khoảng nồng độ từ 1.000-10.000ppt; 10.000-30.000ppt; lớn hơn

30.000ppt. Dựa vào các số liệu phân tích và hình 3.6, có thể ước lượng như sau:

- Khoảng nồng độ 1.000 ppt -10.000ppt: 25 lô*50m*50m*1,2m = 75.000m3

- Khoảng nồng độ 10.000-30.000ppt: 3 lô*50*50*1,2m= 9.000m3

- Khoảng nồng độ >30.000ppt: 2 lô*50m*50m*1,2m = 6.000m3 (khu vực P4

- 11BH-K7)

42

Hình 3.6 Phân chia ranh giới của các khu vực nhiễm độc tại khu vực Pacer Ivy ( diện tích ô 50x50m)

43

3.2 Đánh giá hiệu quả của công nghệ Hóa-Cơ xử lý dioxin

3.2.1. Kết quả phân tích đất trước và sau xử lý

Tổng 150 tấn đất nhiễm dioxin được chia làm 42 mẻ, mỗi một mẻ lấy 2 mẫu

trộn trước xử lý và sau xử lý. Kết quả phân tích được tổng hợp và chia thành 3

khoảng nồng độ như đã xác định ban đầu (đất nhiễm dioxin nồng độ cao, trung

bình, thấp).

 Đất nhiễm dioxin nồng độ cao trong thực tế được xử lý trong các mẻ

từ 1 đến 16 với tổng khối lượng 28 tấn. Kết quả phân tích 32 mẫu cho các mẻ này

được tập hợp dưới đây:

Bảng 3.3: Hiệu quả tiêu hủy dioxin từ mẻ 1-16

Số lượng mẫu

Nồng độcao nhất pg/g TEQ

Nồng độthấp nhấtpg/g TEQ

Nồng độTrung bình pg/g TEQ

Đất chưa xử lý Đất sau xử lý % phá hủy dioxin

16 16 16

111.000 49.500 94,05%

15.600 3.730 23,91%

74.392 21.238 63,77%

Hình 3.7 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 01-10

44

Hình 3.8 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 11-16

 Đất nhiễm dioxin nồng độ trung bình trong thực tế được xử lý trong

các mẻ từ 17 đến 38 với tổng khối lượng 90 tấn. Kết quả phân tích 66 mẫu cho các

mẻ này được tập hợp dưới đây:

Bảng 3.4: Hiệu quả tiêu hủy dioxin từ mẻ 17-33

Số lượng mẫu

Nồng độ cao nhất pg/g TEQ

Nồng độ thấp nhất pg/g TEQ

Nồng độ Trung bình pg/g TEQ

Đất chưa xử lý

33

61.200

3.540

13.079

Đất sau xử lý

33

9.870

25,8

1.043

% phá hủy dioxin

33

99,6%

48,3%

92,3%

Hình 3.9 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 17-23

45

Hình 3.10 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 24-30

Hình 3.11 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 31-38

Đất nhiễm dioxin nồng độ thấp thực tế được xử lý trong các mẻ từ 39

đến 42 với tổng khối lượng 23 tấn. Kết quả phân tích 5 mẫu cho các mẻ này được

tập hợp dưới đây:

Bảng 3.5: Hiệu quả tiêu hủy dioxin từ mẻ 39-42

Số lượng mẫu

Nồng độ cao nhất pg/g TEQ 19.100

Nồng độ thấp nhất pg/g TEQ 394

Nồng độ Trung bình pg/g TEQ 6.692

Đất chưa xử lý

5

246

448

Đất sau xử lý

5

808

35,3%

68,6%

% phá hủy dioxin

5

96,8%

46

Hình 3.12 Biểu đồ biểu diễn sự phá hủy dioxin từ mẻ 39-42

3.2.2 Đánh giá hiệu quả xử lý

Để có thể đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện hiệu quả xử lý của công nghệ

Hóa-Cơ thử nghiệm xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa. Xét trong điều kiện và yêu

cầu đối với công nghệ xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa dựa vào một số tiêu chí

đánh giá cơ bản đó là: 1) Hiệu quả tiêu hủy (đây là tiêu chí quan trọng nhất để

đánh giá công nghệ; 2) Công suất xử lý (vì khối lượng đất nhiễm tại sân bay Biên

Hòa là rất lớn); 3) Ô nhiễm môi trường thứ cấp (dioxin phát tán trong không khí

sẽ nguy hại hơn rất nhiều lần so với dioxin ở trong đất). Ngoài ra, cần đánh giá bổ

sung thêm các tiêu chí khác đó là chi phí xử lý và tính chất đất, giá trị xử dụng của

đất sau khi đã qua xử lý. Sau đây là những đánh giá cụ thể của từng tiêu chí:

* Hiệu quả tiêu hủy

Dựa vào kết quả phân tích đã được nêu trên, bằng phương pháp thống kê ta

có thể đưa ra 1 số đánh giá sau:

Theo mục tiêu xử lý:

- Số mẫu sau xử lý đến < 1.000 ppt TEQ: có 13 mẫu/39 mẫu, chiếm tỉ lệ

33,33%. Nếu tính cả 3 mẫu C40, C41 và C42 (hàm lượng dioxin ban đầu <1.000

ppt TEQ) thì có 16 mẫu/40 mẫu, chiếm tỉ lệ 38%.

47

- Số mẫu sau xử lý đến < 300 ppt TEQ: 8 mẫu/39 mẫu, chiếm tỉ lệ 20,5%.

Nếu tính cả 3 mẫu C40, C41 và C42 thì có 11 mẫu /40 mẫu, chiếm tỉ lệ 26%)

- Các mẫu có nồng độ dioxin ban đầu >30.000 ppt TEQ: không có mẫu nào

được xử lý đến <1.000 ppt TEQ

Hiệu quả được tổng hợp trong bảng sau:

Bảng 3.6: Hiệu quả tiêu hủy phân chia theo nồng độ

Nồng độ dioxin ban đầu Hiệu suất phân hủy trung Số mẫu sau xử lý có

bình nồng độ <1.000 ppt

>30.000 ppt TEQ 67,15% 0

10.000 - 30.000 ppt TEQ 82,37% 50% số mẫu

1.000 - 10.000 ppt TEQ 93% 80% số mẫu

Nếu tính riêng thì, 40 mẻ thử nghiệm, có 2 mẻ đạt được hiệu quả xử lý trên

99%, 12 mẻ đạt hiệu quả xử lý trong khoảng 90 và 99%, 26 mẻ có hiệu quả xử lý

dưới 90%. Nồng độ đầu vào bình quân là 31.800 ppt TEQ nồng độ đầu ra là 9.310

ppt TEQ và hiệu suất trung bình đạt 70,7%.

Như vậy, xét hiệu quả tiêu hủy xét ở 3 khoảng nồng độ dioxin đã đề ra trong

kế hoạch xử lý thì công nghệ hóa cơ đã không được như kỳ vọng. Tuy nhiên, xét về

tiềm năng áp dụng thì khoảng nồng độ từ 1.000 -10.000ppt TEQ sẽ có khả quan khi

hiệu suất trung bình đạt 93%. Nhưng cần phải có biện pháp điều chỉnh để có thể gia

tăng hiệu suất xử lý.

- Công suất xử lý

Bởi vì qua nhiều năm do sự vận chuyển của hệ thống thủy văn trong sân bay

đã làm dioxin bị lan tỏa sang các khu vực xung quanh, thậm chí còn lan ra các khu

dân cư gần sân bay nên khối lượng cần phải xử lý là rất lớn, nên công suất xử lý

cũng cần phải được xem xét. Giả sử chỉ tính riêng khối lượng đất cần xử lý tại khu

48

vực phía tây nam sân bay Biên Hòa (PaceIvy) 90.000m3 trong đáng giá ở phần

trước, để xử lý Khu vực này trong thời gian 2-3 năm (công suất thực tế sẽ là 30.000 - 40.000 m3/năm). Như vậy, Công suất tổng thể phải được tính toán đối với hệ

thống xử lý thực tế.

Trong phần thử nghiệm này, tỷ lệ nạp bình quân là 500 kg/giờ. Trước tiên,

tỷ lệ nạp hợp lý cho hệ thống thử nghiệm cần được đánh giá và sau đó sẽ được

ngoại suy tới tỷ lệ nạp cho hệ thống xử lý thực tế. Công suất hàng năm của hệ thống

thử nghiệm này theo điều kiện hiện tại là: = 300 ngày*500kg*8 giờ =1.200.000 kg/năm. Thông thường trọng lượng đất so với thể tích từ 1,2-1,5 tấn/m3 (tùy theo tỉ lệ cát, đất thịt hay đất sét..). Như vậy, công suất sẽ khoảng từ 800-1000m3/năm. Vì

vậy, nếu muốn đạt được mục tiêu xử lý thì cần phải lắp thêm từ 30 hệ thống xử lý

tương tự. Tuy nhiên, theo báo cáo tại hội thảo tại Hà Nội, ngày 17/1/2013 của công

ty EDL thì công suất với hệ thống đầy đủ Full Size với 10 lò phản ứng liên tục được lắp nối tiếp hoặc song song thì công suất khoảng 20.000m3. Như vậy cũng cần phải

có 2 hệ thống xử lý mới đảm bảo công suất.

Ô nhiễm môi trường thứ cấp

- Không có số liệu quan trắc môi trường được cập nhật hàng ngày, nên không

đánh giá được đầy đủ chất lượng môi trường trong xưởng thử nghiệm và khu vực

xung quanh.

- Không kiểm soát tốt bụi phát tán ra môi trường

Tại đây có hai công đoạn gây ô nhiễm bụi:

+ Công đoạn băng tải đất nhiễm vào lò sấy (bụi đất có chứa dioxin)

49

+ Công đoạn đất sau khi xử lý ra khỏi hệ thống phản ứng.

Hình 3.13 Khu vực sàng đất trước khi đưa vào lò sấy

Hình 3.14 Khu vực đầu ra của đất sau xử lý

50

Bảng 3.7: Quan trắc môi trường đối với dioxin

Ghi chú

Mẫu 19/09/2012 7,7 Giá trị hướng dẫn 10 TCVN 9737:2013

32,1 100 TCVN 9737:2013

14,5 100 TCVN 9737:2013 Nước thải (pg-TEQ/L) Khí thải (pg-TEQ/m3) Không khí tại khu vực làm việc (pg-TEQ/m3)

Các mẫu môi trường thu thập được vào ngày 19/09/2012 khi mẻ 41 và 42

được thực hiện. Việc phát thải nước từ hệ thống là tối thiểu và nồng độ dioxin đáp

ứng giới hạn xả thải trong dự thảo tiêu chuẩn ở mức 10 pg-TEQ/L. Tương tự, nồng

độ dioxin trong khí thải cũng thấp dưới mức giới hạn. Tuy nhiên cũng cần xem xét,

vì 2 mẻ 41-42 dioxin có nồng độ dioxin thấp nhất (41: 394ppt-TEQ; 42: 246ppt-

TEQ). Nên kết quả đo được không mang tính đại diện cho toàn quá trình.

Ngoài ra, là người trực tiếp tham gia xử lý, thì trong thời gian vận hành xử lý

mùi Chlopheronol rất nồng (1 kỹ sư bị dị ứng do tiếp xúc với Chlopheronol).

Những người dân cách đó khoảng 1km theo chiều gió xác nhận ngửi thấy mùi nồng

này. Và câu hỏi đặt ra là liệu rằng dioxin có phát tán ra bên ngoài theo cách mà

Chlopheronol phát tán ra khỏi ra môi trường hay không?

Bảng 3.8: Báo cáo quan trắc bụi khu vực xử lý

Ghi chú Vị trí

Không vận hành (mg/m3) 0,055 Vận hành (mg/m3) 0,034 – 0,317 Phễu nạp

0,036 – 0,296 0,052 Đầu nạp băng chuyền

0,037 – 0,970 0,044 Túi lọc

0,033 – 0,282 0,053 Máy nhào

0,042 0,035 – 0,040 Mưa: 0,008 – 0,520 Vị trí để xe (bên ngoài)

0,045 0,035 – 0,044 Mưa: 0,007 – 0,560 Khí thải (bên ngoài)

51

Bụi (PM10) được quan trắc trong các ngày 23 và 24 tháng 8 khi các mẻ 20

và 21 được thực hiện. Khi hệ thống không vận hành, nồng độ bụi trong và ngoài khu

vực xử lý là thấp (ở mức nền). Khi hệ thống vận hành, bụi phát hiện tăng trên mức

giá trị kiểm trong khu vực cách ly.

Như vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường thứ cấp vẫn chưa có được những đánh giá

chính xác. Tuy nhiên, tại khu vực này đã có những dấu hiệu của dioxin phát tán kèm

theo bụi và việc kiểm soát mùi Chlopheronol chưa thực sự tốt. Nếu như, áp dụng xử lý

với khối lượng lớn thì vấn đề phát tán bụi và mùi cần phải được kiểm soát triệt để.

Kết cấu đất/hàm lượng sau xử lý

Thông tin về kết cấu đất sau xử lý (dinh dưỡng, vật chất hữu cơ, v,v…) là

cần thiết để xác định việc sử dụng đất sau xử lý. Hoạt động cơ học và nhiệt độ trong

lò phản ứng sẽ phá hủy hệ sinh thái và các sinh vật sống bị tiêu hủy, các chất hữu cơ

trọng khác có thể cũng bị phân hủy giống như dioxin điều này khiến đất qua xử lý

hoàn toàn vô cơ, và kích thước hạt rất nhỏ và đồng nhất giống như phù sa do đó đất

qua xử lý rất rời rạc. Các đặc tính này khiến đất dễ bị sói mòn do nước và gió

Vì vậy, đất cần phải được bổ sung chất hữu cơ và trộn với các loại đất khác

có hàm lượng sét cao thì mới có thể tái sử dụng được cho các mục đích khác.

3.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xử lý

Dựa trên kết quả phân tích hàm lượng dioxin trước và sau xử lý ta thấy, hiệu

quả xử lý thay đổi theo từng mẻ, việc nắm được các thông số ảnh hưởng đến hiệu

quả xử lý là quan trọng trong việc điều chỉnh hiệu quả vận hành. Ta có thể rút ra 4

thông số độc lập sau:

Thạch anh

Tốc độ vòng quay

Khối lượng nạp

Nồng độ dioxin đầu vào

52

Hiệu quả xử lý là thông số phụ thuộc vào 4 thông số độc lập trên, việc sử

dụng phương pháp phân tích hồi quy bội ta có thể đánh giá mối tương quan giữa

hiệu quả xử lý với việc bổ sung thạch anh, tốc độ vòng quay, khối nạp và hàm

lượng dioxin đầu vào.

Ở đây ta không xét tới yếu tố nhiệt độ trong lò phản ứng, bởi vì nhiệt độ là

sản phẩm thứ cấp của phản ứng và phụ thuộc vào tốc độ vòng quay và khối nạp, cho

nên thông số vòng quay đã đại diện cho thông số nhiệt độ.

Y = b0+b1*X1+b2*X2+…….+bn*Xn+€

Trong đó Y là thông số phụ thuộc

X là thông số độc lập

b: Hệ số

€: Sai số

(Hiệu xuất)DRE = b0 + b1*(Khối nạp) + b2*(tốc độ quay) + b2*(thạch anh)

+b3*(hàm lượng dioxin)

Lấy 10 mẻ xử lý đầu tiên để đánh giá độ tương quan đối chiếu với kết quả

thống kê để đánh giá mối tượng quan.

Bảng 3.9: Các thông số độc lập từ mẻ 1-10

Mẻ Vòng quay Y (hiệu suất) Khối nạp (Kg/giờ) Thạch anh (bổ sung =1) Nồng độ đầu vào (ppt)

1 94,05 500 250 0 62.700

2 52,51 1100 300 1 37.900

3 4 5 6 7 8 50,77 23,90 69,77 54,28 80,00 65,62 300 350 300 300 500 700 300 350 300 300 300 350 0 1 0 0 0 1 15.600 34.300 60.200 68.900 75.500 60.500

9 10 82,47 76,84 700 700 300 300 0 1 67.300 66.500

53

Bảng 3.10: Kết quả phân tích Hồi quy bội

(Sử dụng Regression trong excel để tính toán)

Dựa trên kết quả phân tích ta có phương trình hồi quy

Y (DRE) = 118.5179 + 0.0212 (Khối nạp) – 0.3017 (vòng quay) – 8.3231

(thạch anh) + 0.0005 (nồng độ đầu vào)

Nhận xét:

-Việc bổ sung thạch anh có mối tương quan nghịch đối với hiệu quả xử lý,

nghĩa là việc bổ sung thạch anh sẽ gây cản trở quá trình xử lý. Và bằng việc thống

kê các kết quả xử lý thì trong 10 mẻ trên cũng cho thấy những mẻ có thạch anh thì

hiệu quả xử lý thấp hơn. Việc bổ sung thạch anh (cát) không đem lại hiệu quả xử lý

cao bởi vì đất tại Biên Hòa có thành phần chủ yếu là cát pha kích thước hạt >20mm

chiếm khoảng 30% đến 50% về thể tích, cho nên bổ sung thêm thạch anh là không

cần thiết.

- Sự khác biệt giữa kết quả thực tế so với kết quả theo tính toán đã chỉ ra

rằng các hệ số ảnh hưởng tới hiệu quả xử lý hoặc hệ thống đơn giản là không ổn

định để tìm ra quy luật thao túng các thông số

Ngoài ra kết quả đánh giá bổ sung mối tương quan - hồi quy giữa các thông

số với hiệu quả vận hành qua 10 mẻ nghiên cứu (được tính toán bằng hàm

54

Correlation trong excel) cũng cho thấy kết quả tương đồng với kết quả của phương

trình hồi quy tuyến tính, kết quả được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 3.11: Mối tương quan giữa các thông số với hiệu suất sử lý

Hiệu suất Khối nạp Vòng quay Thạch anh Nồng độ vào

1

1

1 0.183906764 -0.671428343 0.003783403 -0.437340316 0.557289393 0.60647843 1

độ 0.684353375 0.062753811 -0.2339431 -0.23148912 1 Hiệu suất Khối nạp Vòng quay Thạch anh Nồng đầu vào

Dựa vào bảng trên ta thấy, nồng độ đầu vào lại tỷ lệ nghịch tức là nồng độ

đầu vào càng cao thì hiệu quả xử lý lại cao hơn. Điều này có nghĩa là phản ứng

trong các lò phản ứng không phải là động lực học bậc một, mà trong quá trình phản

ứng có thể tạo ra sản phẩm trung gian có độc tính cao hơn và cũng có thể do quá

trình lấy mẫu không đồng nhất từ lúc lấy mẫu đầu vào, đầu ra hoặc là dioxin bị lưu,

dồn lại trong lò phản ứng từ những mẻ xử lý trước….

55

3.3 Đề xuất giải pháp công nghệ xử lý dioxin tại Sân bay Biên Hòa

Như đã thảo luận trong các phần trước, khối lượng đất ô nhiễm dioxin cần

phải xử lý dioxin là rất lớn. Theo ước tính chưa chính thức tại các cuộc hội thảo khoa học thì tổng số lượng đất cần phải xử lý tại Biên Hòa khoảng 250.000m3 gấp 3

lần sân bay Đà Nẵng. Hiện nay, Bộ Quốc phòng Việt Nam cùng với Chính phủ Mỹ

đang phối xây dựng kế hoạch đánh giá tổng thể ô nhiễm tại Biên Hòa, dự kiến 2016

mới hoàn thành, đến lúc đó ta mới có thể có được chính xác khối lượng đất ô

nhiễm. Giả sử chỉ tính riêng tại góc tây nam đường bay (khu vực PaceIvy) thì khối lượng đã là 90.000m3. Với khối lượng như vậy, nếu chỉ áp dụng một công nghệ xử

lý nào đó thì khó có thể đáp ứng được các yêu cầu xử lý (hiệu quả, công xuất, và chi

phí xử lý). Vì vậy, nên xem xét áp dụng đồng thời nhiều công nghệ cho từng khu

vực, mức độ ô nhiễm khác nhau để tiết kiệm chi phí, thời gian mà vẫn đảm bảo

được hiệu quả xử lý.

Xét 3 công nghệ đã và đang được áp dụng, thử nghiệm tại Việt Nam.

1. Công nghệ Hóa Cơ

- Hiệu quả xử lý: Tối ưu nhất trong khoảng nồng độ từ 1.000ppt-10.000ppt

(hiệu suất trung bình 93%)

- Công suất xử lý: Hệ thống đầy đủ (full size) 20.000m3/năm

- Chi phí xử lý: 5 triệu USD chi phí ban đầu xây dựng hệ thống xử lý. và chi phí khắc phục khoảng 500 USD/ tấn ( ~745 USD/m3). (EDL,2013). Nếu tính thêm 5 triệu USD cho 20.000m3 thì tổng chi phí khoảng 700USD/ tấn (~1.000USD/m3).

- Đất sau khi xử lý: kết cấu đất bị phá hủy hoàn toàn, để có thể xử dụng lại

cần phải bổ sung các chất hữu cơ hoặc là pha trộn với các loại đất khác.

2. Công nghệ Giải hấp nhiệt trong mố

Tháng 4/2011, Bộ Quốc phòng đã thông qua dự án “Xử lý ô nhiễm dioxin tại

sân bay Đà Nẵng” phối hợp với USAID của Mỹ cùng thực hiện. Mục tiêu của dự án là xử lý 73.000m3 với tổng kinh phí dự tính là 84 triệu USD (nguồn viện trợ không

56

hoàn lại của chính phủ Mỹ) và 35 tỷ đồng (1,75 triệu USD)vốn đối ứng của Việt

Nam. Dự án được thực hiện từ 2012-2016.

- Hiệu quả xử lý: xử lý được dioxin ở các mức khác nhau

- Công suất xử lý: dự án bắt đầu từ năm 2012 và kết thúc 2016 (khoảng

14.000m3/năm)

- Chi phí xử lý: Tổng phí xử lý 73.000m3 đất nhiễm là 85,75 triệu USD

(khoảng 1.200 USD/m3)

- Đất sau khi sử lý: Thành phần hữu cơ trong đất cũng bị phá hủy hoàn toàn,

để có thể sử dụng lại cho các mục đích trồng trọt,… cần phải bổ sung chất hữu cơ.

3. Công nghệ Chôn lấp:

Công nghệ chôn lấp, cô lập đã được áp dụng xử lý tại sân bay Biên Hòa năm 2006-2009 (100.000m3 đất nhiễm) và năm 2013 biện pháp chôn lấp tiếp tục được được thực hiện tại sân bay Phù Cát (chôn 7.500m3 đất nhiễm). Đến tháng 10/2014,

Bộ Quốc phòng có Quyết định phê duyệt xử lý đất nhiễm chất độc da cam/dioxin tại sân bay Biên Hòa giai đoạn 2, ước tính xử lý khoảng 51.000m3 đất nhiễm trên diện

tích hố chôn là 2,24 ha .Tổng mức đầu tư cho dự án khoảng 72 tỷ đồng (~3,5 triệu

USD).

Như vậy, chi phí để chôn lấp 51.000m3 đất nhiễm khoảng 70 USD/m3,

Trong 3 giải pháp công nghệ trên, thì giải pháp chôn lấp, cô lập có chi phí rẻ

hơn rất so với 2 công nghệ trên. Tuy nhiên, theo TS. Trần Ngọc Tâm, Bộ QP người

thamthì thời gian chôn lưu trữ trong các hỗ chôn khoảng 50 năm. Vi vậy, cần lưu ý

rằng biện pháp chôn lấp vẫn chỉ là giải pháp tạm thời ngăn chặn lan tỏa ô nhiễm và

trong tương lai vẫn cần phải áp dụng biện pháp công nghệ xử lý nào đó để xử lý

triệt để.

Kết quả so sánh các công nghệ được trình bầy trong bảng sau:

57

Công nghệ

Công suất

Chi phí xử lý

Khả năng sử dụng đất sau xử lý

Khoảng nồng độ có khả năng xử lý (ppt)

Hóa Cơ

1.000- 10.000

20.000m3/năm

~1.000 USD/m3

Kết cấu đất bị phá vỡ hoàn toàn

Giải hấp nhiệt

14.000m3/năm

~ 1.200 USD/m3

Sử dụng được ngay (cần bổ sung chất hữu cơ)

Chôn lấp

Không triệt để

Không sử dụng được

~ 70 USD/m3

Bảng 3.12: So sánh hiệu quả xử lý của các giải pháp xử lý đất nhiễm dioxin

Xét xử lý đất nhiễm tại khu vực tây nam đường băng (Pacer Ivy)

- Nếu chỉ áp dung biện pháp chôn lấp thì tổng chi phí sẽ là: 70 USD

*90.000m3= 6.210.000 USD (hơn 6 triệuUSD).

- Nếu áp dụng công nghệ Hóa Cơ và công nghệ giải hấp xử lý thì:

+ Công nghệ hóa cơ áp dụng xử lý 75.000m3: chi phí = 1000USD

*75.000m3= 75 triệu USD

+ Công nghệ giải hấp nhiệt trong mố áp dụng xử lý 15.000m3: chi phí =

1.200 USD*15.000m3 = 18 triệu USD.

Tổng chi phí sẽ là: 93 triệu USD

- Tuy nhiên, để có thể lựa chọn áp dụng xử lý công nghệ tại khu vực này cần

phải xem xét nhiều yếu tố khác nhau, như: khả năng tài chính, hiệu quả thực của

công nghệ khi xử lý ở quy mô lớn, hoặc trước mắt có thực hiện chôn lấp cô lập đất

nhiễm tiếp tục nghiên cứu các công nghệ khác có chi phí thấp và thời gian xử lý

ngắn hơn ….

58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Đánh giá mức độ tồn lưu dioxin tại khu vực Tây-Nam ( khu vực Pacer

Ivy) sân bay Biên Hòa.

Kết quả phân tích 91 mẫu đất (43 mẫu đất bề mặt, 48 mẫu lấy theo chiều sâu)

có tổng 34 mẫu (35%) có nồng độ lớn hơn ngưỡng cần phải xử lý, mẫu có nồng độ

cao nhất là 962.560 ppt TEQ. Các mẫu đất và trầm tích lấy theo chiều sâu với

khoảng cách là 30 cm, độ sâu lấy mẫu lớn nhất là 210cm cho thấy dioxin đã xuống dưới 180cm. Độ sâu trung bình cần phải xử lý khoảng 120 cm. Diện tích đất nhiễm khoảng 75.000m2, Khối lượng đất ước tính cần xử lý 90.000m3

Hiệu quả xử lý đất ô nhiễm dioxin bằng công nghệ Phá hủy Hóa Cơ tại

sân bay Biên Hòa:

Tổng 150 tấn đất nhiễm dioxin lấy tại khu vực Pacer Ivy được chia thành các

lô đất có độ nhiễm khác nhau để chia thành 42 mẻ xử lý cho thấy: - Số liệu quan trắc môi trường tại khu vực xử lý cho thấy dioxin với hàm lượng thấp và hàm lượng Chlorophenol tương đối cao trong môi trường không khí xung quanh khu vực đặt lò xử lý. - Công suất xử lý của 01 lò chỉ đạt 500kg/ca làm việc 8 giờ, tương đương khoảng 800 - 1.000m3 đất ô nhiễm/lò/năm, không đáp ứng được khối lượng đất nhiễm cần tẩy độc tại Biên Hòa.

Như vậy kết quả thử nghiệm công nghệ Phá hủy cơ – hóa (Mechano

Chemical Destruction) của NewZeeland để xử lý đất ô nhiễm dioxin tại sân bay

Biên Hòa cho thấy chưa xử lý được triệt để dioxin trong đất, chưa có giải pháp giảm

thiểu khí thải gây ô nhiễm thứ cấp, công suất xử lý của mỗi lò rất nhỏ…là những

tồn tại khó vượt qua để lựa chọn công nghệ này xử lý đất, trầm tích ô nhiễm dioxin

ở Việt Nam.

Kiến Nghị

Tại khu vực Pacer Ivy các điểm ô nhiễm năm ở nhiều khu vực khác nhau,

nồng độ dioxin tại các điểm này cũng rất khác nhau vì vậy có thể sử dụng nhiều

công nghệ khác nhau tùy thuộc vào mức độ ô nhiễm và mục đích sử dụng đất. Đến

59

nay, vẫn chưa thể tìm được công nghệ tối ưu nhất đáp ứng được cả về hiệu suất,

thời gian, chi phí và tái sử dụng đất sau xử lý. Tuy nhiên, vì sân bay ở ngay sát

thành phố Biên Hòa, lân cận khu dân cư, nên cần sớm có giải pháp công nghệ xử lý

triệt để dioxin trong đất và trầm tích để đưa toàn bộ khu vực đất, hồ ô nhiễm hiện

nay trở lại an toàn phục vụ phát triển kinh tế, dân sinh…

60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt:

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Ngưỡng dioxin trong đất và trầm tích,

TCVN 8183: 2009

2. Bộ Quốc phòng Việt Nam (2009), Khắc phục hậu quả chất độc hóa học do

Mỹ sử dụng tại sân bay Biên Hòa, Báo cáo tổng kết dự án Z1

3. CDM Internation (2009), Công nghệ giải hấp nhiệt trong mố, Báo cáo tại

Hội nghị Tư vấn Việt Mỹ (2009).

4. Công ty EDL New Zealand (2010), Báo cáo giới thiệu và thảo luận công

nghệ hóa cơ xử lý dioxin, Hội thảo kỹ thuật tại Hà Nội

5. Văn phòng Ban Chỉ đạo 33. (2007), Chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong

chiến tranh ở Việt Nam về vấn đề môi trường.

6. Văn phòng Chương trình KHCN-33/11-15 (2012), Tổng quan các nghiên

cứu về ảnh hưởng của chất da cam/dioxin đối với môi trường,Hà Nội.

7. Dự án xử lý môi trường tai sân bay Đà Nằng (2010), “Đánh giá thiết kế kỹ

thuật và kế hoach cô lập dioxin, USAID/Viet Nam”, Hà Nội.

8. Dự án Xử lý ô nhiễm Dioxin tại các vùng nóng ở Việt Nam, Văn phòng 33.

(2011), Báo cáo tổng thể về tình hình ô nhiễm dioxin tại 3 điểm nóng sân bay

Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát.Hà Nội.

9. Đặng Thị Cẩm Hà và cs (2004), đề tài Nghiên cứu, phát triển công nghệ

phân hủy sinh học và kỹ thuật nhả chậm làm sạch ô nhiễm chất độc hóa học,

Báo cáo thuộc Chương trình 33.

10. Đặng Thị Cẩm Hà và cộng sự (2010), Nghiên cứu thí điểm xử lý sinh học

chất da cam/ dioxin, JAC Việt-Mỹ, Hà Nội, tháng 7/2010.

11. Nguyễn Văn Minh (2002), Nghiên cứu lựa chọn công nghệ khả thi để xử lý

đất nhiễm dioxin trong điều kiện Việt Nam, Báo cáo kết quả đề tài.

61

12. Nguyễn Văn Minh, Lê Văn Hồng, Đặng Thị Cẩm Hà và cs (2006), Tẩy độc

dioxin trong đất bằng phương pháp chôn lấp tích cực,Tạp chí độc học.

Tài liệu tiếng Anh

13. Hatfield Consultants and 10-80 Committee (2006), Identification of New

Agent Orange/Dioxin Contamination Hot Spots in Southern Viet Nam.

14. Hatfield Consultants and Office 33, (2007), Assessment of Dioxin

Contamination in the Environment and Human Population in the Vincinity of

Da Nang Airbase.

15. John, EDL Company, New Zealand (2008),Mechano Chemical Destruction

An Introduction to the process

16. Office 33 and UNDP (2008). Workshop on assessment on preliminary results

for establishment of the overall national plan for environmental remediation

in dioxin contaminated hotspots. Hà Nội, 2008, May 30th.

17. Office 33 – Hatfield Project Report, (2010-2011), Environment and human

health assessment of Dioxin contamination at Bien Hoa airbase (Vietnam)

18. UNDP-Ofice 33 Project Report, (2008-2009), Evaluation of contamination

at Agent Orange Hotspots in Bien Hoa, Phu Cat airbase and vicinities

(Vietnam)

19. UNDP-Office 33 -UNDP (2011). Overview report on assessment of dioxin

contamination at three AO hotspots in Vietnam: Da Nang, Bien Hoa and Phu

Cat airbases.

20. US Department of Defense (DOD) (2007), Presentation made at the Second

Agent Orange and Dioxin Remediation Workshop, Ha Noi, Viet Nam, Co-

sponsored by US Department of Defense and Viet Nam Ministry of Defense.

21. Stellman J.M.(2003), The extent and patterns of usage of agent orange and

other herbicides in Vietnam. Nature 422, 681-687.

62

22. TTNĐVNg-Hatfield-UNDP (2009), Evaluation of contamination at the

agent arrange dioxin hot pots in Bien Hoa, Phu Cat and vicinity, Vietnam,

Final Report

23. Young, Alvin L (2009), The History, Use, Disposition and Environmental

Fate of Agent Orange

24. Wise (2000), Bioremediation of contaminated soil. CRC Press, 2000, ISBN

25. Vroblesky, D.; Nietch, C.; Morris, J. (1998), Chlorinated Ethenes from

0-8247-0333-2

Groundwater in Tree Trunks, Environmental Science & Technology 33 (3):

510–515,

63

PHỤ LỤC NHẬT KÝ XỬ LÝ DIOXIN BẰNG CÔNG NGHỆ HÓA CƠ Trần Hồng Cơ, 2012

Số bao

Vòng quay

Ghi chú

#Run Ngày, tháng

Thạch anh

Tỉ lệ mỗi giờ

30/7

84: 04 -06

250/300

Không

1

Lượng bụi phát tán nhiều ở khu vực máy sàng trước khi đưa vào máy sấy

400kg – 900kg

30/7

84: 01-09

1200 -1000

300

2

31/7

84: 8-3

300

300

Không

3

- Bố trí người phun hơi nước ở khu vực máy sang để giảm lượng bụi phát tán. (lượng bụi tại khu vực đã được kiểm soát tốt hơn)

31/7

84-2

300

300

3

- Nước rửa sản nhà kho được đưa thẳng xuống cống, như vậy có thể gây phát tán dioxin dọc theo dòng chẩy của cống.

01/8

84: 05-07

300

350-300

4

01/8

237A:01-14

300

300

Không

5

-Đề xuất giải pháp xử lý nước cống bị ô nhiễm dioxin trong quá trình xử lý: Không dùng nước rửa toàn bộ sàn, dùng chổi quét toàn bộ lượng bụi trên sàn thu gom đem xử lý. Sau khi kết thúc toàn bộ quá trình sẽ nạo vết lượng bùn lắng ở cống trong bán kính 5m.

6

02/8

237A: 11

300

300

- Lắp đạt hệ thống phun sương ở khu vực máy sàng để giảm lượng bụi phát tán.

64

- Máy nghiền bi thứ 3 bị vênh vành chắn, nên buổi chiều máy được tạm dừng để chỉnh lại,

03/8

237A: 09

300

6

300

03/8

237A: 10-3

500

7

không

300

04/8

237A-3

500

7

Không

300

Đoàn chuyên gia của Bộ QP (Viện HH MT QS, TT Nhiệt đới V-N) thăm công nghệ xử lý.

04/8

237A-8

500

8

250

8

05/8

237A: 4-3

500-700

250-300

9

06/8

237A: 2-12

700

300

Không

( Đoàn chuyên gia bên BQP, có đề nghị lấy 10 mẫu khí xung quanh khu xử lý, lấy mẫu nước ở cống thoát nước trong khu ô nhiễm)

- 2 Chuyên gia bên Newzealand về còn lại 3 người và đem theo mẫu về để phân tích hàm lượng dioxin sau khi xử lý.

10

07/8

237A:13-5

700

300

- Có 1 số cán bộ, chiến sỹ ở gần khu xử lý có ý kiến về mùi. Họ e ngại sẽ bị ảnh hưởng tới sức khỏe.

11

07/8

237A: 3

300

Không

300

( Mùi được phát tán ở đầu ra của hệ thống xử lý, đất có mùi khét bởi nhiệt độ, và mùi Chlopheronol sau khi xử lý)

12

08/8

237A: 2-8

300

300

Không

+ Máy nghiền bi thứ 3 bị hỏng ron cao su (sửa 2 tiếng)

65

12

08/8

237A:7-6

300

300

+ lượng mùi phát tán hạn chế hơn, nhờ lắp hệ thống hút hơi tại khu vực đầu ra đưa vào trong 1 thùng nước lớn ( nếu như xử lý với hệ thống lớn với nhiều lò quay khác nhau cần phải có hệ thống hút khép kín)

09/8

237A: 11-

500

300

Không

13

09/8

237A: 10-12

500

250

14

- Nhiều bao đất có những tảng đất to và cứng chiếm khoảng 1/3 bao đất rất khó khăn để phá vỡ bằng tay, vì vậy những bao đất này chỉ xử lý được khoảng ¾ bao đất

14/8

237A: 12

500

350

14

15/8

237A: 14-13-1

500

350

Không

15

Đá quá cỡ lớn hơn 50%

16/8

237B: 04-09

600

350

16

Lò phản ứng số 4 khi chay với tốc độ cao thì đầu trục quay bị dãn nở làm kẹt hệ thống quay, vì vậy đã phải tháo ra tiện mỏng hơn ( cắt 1mm)

17

20/8

220: 45-54

500-600

353

Không

- Vệ sinh xưởng, bảo dưỡng lại toàn bộ hệ thống xử lý và lắp tấm tôn lên bộ phận máy sàng đề tránh phát tán bụi.

17

20/8

220: 51-52

500-600

353

Không

- Lắp đặt hệ thống ống hút mùi đưa lên cao ở khu vực đất đầu ra

- Những bao có mã số: 220 được lấy từ khu vực pacer Ivy có nồng độ dioxin trung bình từ 2,000- 10,000 pt) tổng số lượng bao đất là: 90

66

18

21/8

1bag/1-1.5h

340

Lấy mẫu khí để xem khả năng phát tán của dioxin vào môi trường khí:

220: 60-58-57- 65

Lấy ở các điểm sau:

- Ngay tại khu vực đất đầu vào (máy sàng)

- Khu vực đất đầu ra

19

21/8

220:66-48

1bag/1-1.5h

314

Không

- Khu vực đuôi máy sấy

- Khu vực khí thải thoát ra ngoài sau khi khí được đi qua than hoạt tính

- Khu vực bên ngoài xưởng theo chiều gió ( ngay trước cửa ra vào)

19

21/8

220: 55-70

1bag/1-1.5h

Không

314

20

23/8

220:67-62-63

1bag/1-1.5h

300

21

24/8

220:61-50

500

Không

300

Lò phản ứng đầu tiên bị trục trặc, máy rô tơ quay bị kẹt đá thạch anh.

22

28/8

220:41-36-37

1bag/1-1.5h

320

23

28/8

220-39

Không

320

23

29/8

220:39-19-20-12 1bag/1-1.5h

Không

352

23

30/8

220: 17

1bag/1-1.5h

Không

362

24

30/8

220:59-69

1bag/1-1.5h

362

67

24

31/8

220-73

1bag/1-1.5h

361

- Đoàn chuyên gia trực thuộc Bộ Quốc phòng vào xem hoạt động xử lý và kiểm tra phát thải mùi bụi vào không khí, Đoàn giám sát cũng đem các mẫu đất phân tích kiểm tra chéo tại Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga.

25

31/8

220-64

1bag/1-1.5h

361

Không

- Lò phản ứng số 1 bị tắc, lõi nghiền bị kẹt không hoạt động được do nhiệt độ cao và lượng đất và thạch anh nhiều. vì vậy phải tháo ra để sửa lại.

1/9

220-43-27-18

1bag/1-1.5h

355-361

Không

25

500

300

03/9

26

220: 26-15-24- 25

04/9

220:86-44-16-30

600

27

Không

300

04/9

220: 53-82-90

700

28

250

28

06/9

220-89

700

350

29

06/9

450-350

Không

300

220:13-12-72- 87- 85

07/9

220:11-08-71

350

30

không

300

10/9

450

31

không

300

220: 10-38-28- 34

Và trong ngày hôm nay tổng cộng bị trục trặc chắc khoảng 4 lần, tất cả đều là bị nghẽn ở cái ống trên cùng của lò phản ứng đầu tiên, nên phải dùng gậy trọc thông.

32

10/9

220-21

400

300

68

400

300

32

11-9

220: 22-47-75

500

300

Không

33

11/9

220: 74-46-76- 79

34

12/9

500

250

220: 88-01-04- 03

35

12/9

500

300

Không

220: 01-06-07- 05

35

13/9

220:14

500

300

Không

36

13/9

500

300

220:60-23-83- 40-49

37

14/9

600

300

Không

220: 77-84-32- 80

38

14/9

220:29-42-31

600

300

38

15/9

220:35

500

300

39

15/9

400

Không

300

220:13-07-11- 04-08-20

40

17/9

231:01

300

250

Các bag số 231 (23bag)được lấy ở khu vực pace Ivy có nông độ dioxin thấp, trung bình khoảng 1,310 TEQ.

40

18/9

231:03-06-05-

300

250

69

12-10

41

18/9

231:19-17

300

Không

500

Tổng số bag còn lại khoảng 17bag có mã số 231, dự kiến thứ 4 tuần tới sẽ xử lý xong toàn bộ. Ngoài ra vẫn còn khoảng 10-15bag là những đất đá có kích cỡ lớn chưa được xử lý

19/9

231:21-18-22-23

Không

500

41

300

19/9

231: 20-16

500

42

300

70