BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LÊ SỸ KHANG

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN

QUYẾT ĐỊNH TIÊU DÙNG RƯỢU BIA,

THUỐC LÁ TẠI MỘT SỐ

ĐỊA PHƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH BRVT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LÊ SỸ KHANG

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH TIÊU DÙNG

RƯỢU BIA, THUỐC LÁ TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BRVT

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 8310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. Võ Tất Thắng

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2018

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do chính tôi thực

hiện, các số liệu và thông tin sử dụng trong luận văn này là trung thực, có nguồn

gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

Tp.HCM, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Lê Sỹ Khang

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ..............................................1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................1

1.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................................3

1.3. Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu ...............................4

1.4. Câu hỏi nghiên cứu ...............................................................................................5

1.5. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................5

1.6. Kết cấu luận văn....................................................................................................6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU .7

2.1. Động cơ sử dụng rượu bia, thuốc lá ...................................................................7

2.2. Tác hại của rượu bia và thuốc lá .........................................................................8

2.3. Quyết định chọn mua ........................................................................................ 10

2.4. Lý thuyết hành vi người tiêu dùng................................................................... 11

2.4.1. Khái niệm hành vi người tiêu dùng .......................................................... 11

2.4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng .......................................... 12

2.4.3. Tiến trình ra quyết định của người tiêu dùng.......................................... 15

2.4.4. Xu hướng tiêu dùng .................................................................................... 18

2.4.5. Thang đo CSI (Consumer Styles Inventory) ........................................... 19

2.5. Mô hình lý thuyết nghiên cứu .......................................................................... 20

2.5.1. Mô hình hành vi mua của người tiêu dùng.............................................. 20

2.5.2. Thuyết hành động hợp lý ........................................................................... 22

2.5.3. Thuyết hành vi dự định .............................................................................. 24

2.5.4. Thuyết lựa chọn hợp lý .............................................................................. 25

2.5.5. Mô hình xu hướng tiêu dùng ..................................................................... 26

2.6. Tổng quan các công trình nghiên cứu ............................................................. 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .............................................................................................. 35

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................... 36

3.1. Quy trình nghiên cứu......................................................................................... 36

3.2. Mẫu nghiên cứu.................................................................................................. 37

3.3. Mô hình nghiên cứu và các giả thiết ............................................................... 37

3.4. Phương pháp xử lý số liệu ................................................................................ 39

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.................................................................. 42

4.1. Khái quát việc sử dụng rượu bia, thuốc lá ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu............... 42

4.2. Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến quyết đính sử dụng rượu bia, thuốc lá ...... 53

4.2.1. Kiểm định độ phù hợp tổng quát .................................................................. 53

4.2.3. Kiếm định sự phù hợp của mô hình ......................................................... 53

4.2.4. Kiểm định Hosmer and Lemeshow .......................................................... 54

4.2.5. Kiểm định mức độ giải thích của mô hình .............................................. 54

4.2.6. Phân tích mô hình hồi quy......................................................................... 56

4.3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận ......................................................................... 59

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 ............................................................................................ 63

CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT ............................................... 64

5.1. Kết luận .................................................................................................................. 64

5.2. Kiến nghị ................................................................................................................ 65

5.2.1. Kiến nghị với chính phủ ............................................................................... 65

5.2.2. Kiến nghị với HĐND, UBND Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.............................. 66

5.3. Giới hạn nghiên cứu.............................................................................................. 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO

BẢNG KHẢO SÁT

PHỤ LỤC NGHIÊN CỨU

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

WHO: World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

HIV/AIDS:

Human Immuno-deficiency Virus/Acquired Immuno Deficiency Syndrom (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người)

GDP: Gross Domestic Product (tổng sản phẩm nội địa)

SPSS: Statistical Package for the Social Sciences (một phần mềm máy tính phục vụ

công tác phân tích thống kê)

MW: Megawatt (Đơn vị đo công suất)

THPT: Trung học phổ thông

THCS: Trung học cơ sở

TCCN: Trung cấp chuyên nghiệp

QLNN: Quản lý nhà nước

QLTT: Quản lý thị trường

HĐND: Hội đồng nhân dân

UBND: Ủy ban nhân dân

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1. Tổng hợp các công trình nghiên cứu

Bảng 3.1. Biến nghiên cứu và các thang đo

Bảng 4.1. Kết quả thống kê từ khảo sát

Bảng 4.2. Thống kê hành vi của khách hàng

Bảng 4.3. Kiểm định sự phù hợp của mồ hình tổng quát

Bảng 4.4. Kiểm định phù hợp của mô hình

Bảng 4.5. Kiểm định Hosmer and Lemeshow

Bảng 4.6. Mức độ giải thích của mô hình

Bảng 4.7.Kết quả hồi quy Binary Logistic

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Tiến trình mua của người tiêu dùng

Hình 2.2. Mô hình hành vi mua của Engle và cộng sự (1995)

Hình 2.3. Thuyết hành động hợp lý (TRA)

Hình 2.4. Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991)

Hình 2.5. Mô hình xu hướng tiêu dùng

Hình 3.1. Sơ đồ quy trình nghiên cứu

TÓM TẮT

Hút thuốc lá và uống rượu bia nhiều là hai kẻ thù lớn nhất của sức khỏe và

tuổi thọ con người. Trong những năm gần đây, việc hút thuốc lá và lạm dụng rượu

bia là hai mối quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực y tế và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Luận văn sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp với 600 khách hàng

mua hàng tại các cửa hàng tạp hóa trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu để nghiên cứu

các yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng rượu bia, thuốc lá. Bài viết sử dụng

mô hình hồi quy Binary Logistic với biến phụ thuộc là hành vi sử dụng rượu bia,

thuốc lá và 11 biến độc lập: Tuổi; Hôn nhân; Giới tính; Thu nhập; Thu nhập bình

phương; Nghề nghiệp; Trình độ; Người thân sử dụng; Quản lý thị trường; Chi phí;

Tiếp cận thông tin.

Ý nghĩa của nghiên cứu chỉ ra hiện nay không chỉ Nam giới mà nữ giới có xu

hướng sử dụng thuốc lá, rượu bia ngày càng tăng dẫn đến các hệ lụy xấu đến hành

vi, sinh hoạt của các đối tượng này, gây khó khăn trong quản lý và hoạch định chính

sách phòng chống tác hại của thuốc lá rượu bia. Từ các nghiên cứu trên cho thấy vai

trò của việc nâng cao nhận thức người dân, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, giáo

dục của gia đình, cộng đồng trong việc phòng chống và giảm tác hại của rượu bia,

thuốc lá. Gia tăng chi phí cho rượu bia, thuốc lá là một thực trạng đáng lo ngại hiện

nay không chỉ hệ lụy về sức khỏe, văn hóa, lối sống mà còn cả kinh tế gia đình, thu

nhập người sử dụng. Độ tuổi sử dụng thuốc lá, rượu bia có xu hướng hướng tới đối

tượng học sinh, sinh viên, thanh niên và độ tuổi dưới 30. Các đối tượng tham gia

khảo sát hầu hết có người thân là người sử dụng thuốc lá, rượu bia. Quản lý thị

trường là nhân tố quan trọng trong việc phòng chống và giảm tác hại của rượu bia

và thuốc lá. Cơ quan quản lý nhà nước cần đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả các

kênh tuyên truyền phòng chống tác hại của thuốc lá và rượu bia.

1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Sử dụng rượu bia là hành vi gắn liền với văn hoá truyền thống của nhiều

quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Việt Nam là một trong số ít quốc gia

đang có xu hướng gia tăng nhanh về mức tiêu thụ rượu, bia và đồ uống có cồn trên

bình quân đầu người trong khi mức tiêu thụ của toàn thế giới trong thập kỷ qua hầu

như không thay đổi. Mức tiêu thụ đồ uống có cồn bình quân đầu người trên 15 tuổi

đã tăng từ 3,8 lít cồn/người/năm (2003 – 2008) lên 6,6 lít/cồn/năm (2008 – 2010),

tăng 74%, trong đó tỷ trọng từ bia đang tăng nhanh hơn từ rượu và một số loại đồ

uống có cồn khác đã bắt đầu được tiêu thụ tại Việt Nam. Đến năm 2025, mức tiêu

thụ rượu, bia bình quân đầu người ở Việt Nam sẽ đạt khoảng 7 lít, cao hơn mức

trung bình chung của thế giới hiện tại là 6,13 lít. Mức tiêu thụ của Việt Nam xấp xỉ

khu vực Tây Thái Bình Dương, đang ở mức đáng báo động vì tốc độ tăng nhanh.

Tiêu thụ số lít cồn nguyên chất ở nam giới trong năm 2010 ở mức rất cao là 27,4 lít,

đứng thứ hai trong các nước Đông Nam Á/Tây Thái Bình Dương, xếp thứ 10 Châu

Á và thứ 29 thế giới. Trong năm 2015, theo thống kê WHO, Việt Nam đứng đầu

Đông Nam Á về tiêu thụ bia và đứng thứ ba Châu Á.

Đối tượng thường sử dụng rượu cũng rất đa dạng, có đủ các thành phần từ

nông dân, công nhân, bộ đội, trí thức…. Theo một cuộc điều tra cho thấy có khoảng

50% nông dân, 25% người thất nghiệp và 20% người làm việc trong ngành dịch vụ

có sử dụng rượu. Đáng chú ý là tỷ lệ đã từng sử dụng rượu bia ở vị thành niên và nữ

giới Việt Nam đang tăng nhanh và hiện ở mức rất cao. Tỷ lệ sử dụng rượu bia trong

vị thành niên và thanh niên đã tăng gần 10%, sau 5 năm (từ 51% năm 2003 lên 60%

trong năm 2008). Năm 2008, tỷ lệ sử dụng rượu bia là 79,9% đối với nam và 36,5%

đối với nữ, trong đó 60,5% nam và 22% nữ đã từng uống say. Tỷ lệ sử dụng rượu

bia ở nhóm từ 14 -17 tuổi không được pháp luật cho phép tăng từ 34,9% lên 47,5%

và nhóm tuổi từ 18 -21 tăng từ 55,9% lên 67%. Điều tra y tế quốc gia năm 2002 cho

thấy có 46% nam và 1,9% nữ uống rượu bia trong 1 tuần, theo một nghiên cứu năm

2010 đã có 6% nữ và 70% nam uống rượu bia trong tháng. Hiện nay, khoản một

phần tư nam giới có sử dụng rượu bia hằng ngày đã vượt ngưỡng cho phép (trên 5

đơn vị rượu tương đương 50g cồn nguyên chất/ngày).

2

Trong khi đó, theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đồ uống có

cồn là một trong năm nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật và tử vong trên thế giới.

Năm 2012 đã ghi nhận 3,3 triệu người tử vong liên quan đến sử dụng chất có cồn,

chiếm khoảng 5,9% tất cả các trường hợp tử vong trên toàn thế giới. Đồ uống có

cồn là nguyên nhân của 5,1% gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới, trở thành vấn đề

lớn của các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Hiện có 30 bệnh do

nguyên nhân trực tiếp là sử dụng đồ uống có cồn và 200 loại bệnh tật chấn thương

mang nguyên nhân gián tiếp từ việc sử dụng đồ uống có cồn. Bên cạnh đó, khoa học

đã xác định có mối liên quan giữa lượng đồ uống có cồn và mức độ tâm thần, rối

loạn hành vi. Thậm chí chúng là một trong các nguyên nhân gây nguy cơ mắc bệnh

không lây nhiễm (bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư). Một nghiên cứu mới

nhất của WHO còn cho thấy tồn tại mối liên quan giữa đồ uống có cồn với tỷ lệ mắc

mới các bệnh truyền nhiễm như bệnh lao, viêm phổi, HIV/AIDS.

Đồ uống có cồn là một trong những nguyên nhân gia tăng tỷ lệ tai nạn giao

thông ở Việt Nam hiện nay. Thống kê từ Điều tra quốc gia vị thành niên Việt Nam

2009 cho biết 20,8% nam vị thành niên đã lái xe sau khi uống rượu bia dẫn đến các

chấn thương phải nghỉ học hoặc nghỉ lao động 1 tuần trở lên. Nghiêm trọng hơn là

có 1/5 các trường hợp tử vong do tai nạn giao thông ở Việt Nam có nguyên nhân từ

sử dụng chất có cồn. Ngoài ra, theo kết quả điều tra thì 33,7% các vụ bạo lực gia

đình ở Việt Nam có nguyên nhân lớn từ việc sử dụng đồ uống có cồn. Thêm vào đó,

trẻ em Việt Nam cũng đang là nạn nhân trong việc lạm dụng đồ uống có cồn của

người lớn như: Bị xúc phạm, nhục mạ, mắng chửi (11,1%); bị bỏ mặc, thiếu chăm

sóc bảo vệ của người lớn (6,5%); phải chứng kiến bạo lực nghiêm trọng trong gia

đình (6,1%); bị đánh đập gây đau đớn về thể xác (3,8%); hoặc ít nhất 1 trong 4 vấn

đề nêu trên (13,8%), cao hơn các quốc gia như: Úc (11,8%), Ailen (11,1%), Thái

Lan (13,1%). Tóm lại hậu quả của đồ uống có cồn đối với các vấn đề xã hội bao

gồm: Giảm năng suất lao động, tăng nguy cơ tai nạn giao thông, bạo lực, tội phạm.

Phí tổn kinh tế do đồ uống có cồn từ 1,3 – 12% GDP của mỗi quốc gia, trong đó chi

phí gián tiếp để giải quyết hậu quả do đồ uống có cồn thường cao hơn so với chi phí

trực tiếp.

Không chỉ có đồ uống có cồn gây hại tới sức khoẻ, còn có thuốc lá gây ảnh

3

hưởng đến sức khoẻ của thế hệ trẻ hiện nay. Theo thống kê do Quỹ Dân số Liên

Hiệp Quốc tại Việt Nam và Bộ Nội vụ thực hiện có 18,2% thanh niên từng hút

thuốc lá trong nhóm tuổi 16-19; 33% trong nhóm tuổi 20-24, hay 41,7% thanh niên

từng say rượu bia trong nhóm tuổi 16-19… được nêu trong báo cáo là dữ liệu thứ

cấp từ khảo sát năm 2010 với số lượng 10.044 vị thành niên và thanh niên trong độ

tuổi 14-25 tại 63 tỉnh/thành. Những lý do chính: 54% do bạn bè hút, 13% do quá

căng thẳng, 11,3% do mọi người xung quanh hút và 3,4% do là muốn tỏ ra người

lớn hơn. Ngoài ra một điểm đáng chú ý khác, 57,8% trong số đó có bố hút thuốc,

20% có anh trai hút, 3% có mẹ hút; Rất dễ tìm thấy thanh niên hút thuốc lá trong

cuộc sống hàng ngày.

Qua điều tra về sức khỏe thành niên và Vị thành niên (từ 14-15 tuổi) cho

thấy: 69% nam và 28% nữ đã từng sử dụng rượu bia hoặc các chất kích thích khác.

Các con số trên đang ở mức báo động cho giới trẻ của ta hiện nay. Mỗi năm có hàng

trăm, hàng nghìn các thanh niên sử dụng rượu bia và thuốc lá. Mỗi điếu thuốc bạn

hút vào đồng nghĩa với việc bạn hít hơn 4000 chất độc hại khác nhau, mỗi cốc bia

uống vào sẽ giết chết khoảng 100.000 tế bào não, và trong cơn say con số đó lên

đến 10.000.000 tế bào.

Hiện nay có thể thấy rằng có nhiều công trình nghiên cứu đối với hành vi

người tiêu dùng, tuy nhiên nghiên cứu về hành vi tiêu dùng hàng hóa, thực phẩm có

hại có sức khỏe lại vô cùng hiếm hoi. Có nhiều nghiên cứu, báo cáo, tham luận đối

với việc tiêu dùng, tác hại thuốc lá, rượu bia, song chưa có công trình nào đưa ra

được mô hình thống nhất đối với hành vi tiêu dùng loại hàng hóa thực phẩm này nói

chung và phân loại các yếu tố quyết định tiêu dùng nói riêng. Do vậy Chủ đề nghiên

cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiêu dùng rượu bia và thuốc lá sẽ làm rõ tác

động các yếu tố thuộc về người tiêu dùng và góc độ quản lý nhà nước đối với tiêu

dùng rượu bia, thuốc lá. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp đối

với việc quản lý hàng hóa tiêu dùng có hại cho sức khỏe: Rượu bia và thuốc lá.

1.2. Nội dung nghiên cứu

Ngoài tính cấp thiết của nghiên cứu và tiềm năng ứng dụng chính sách, đề tài

này còn là một đóng góp vào nhóm các nghiên cứu thực nghiệm về nhu cầu tiêu

4

dùng hàng hóa có hại cho sức khỏe. Nội dung cụ thể là nghiên cứu các yếu tố tác

động đến quyết định tiêu dùng thuốc lá và rượu bia ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

1.3. Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu

1.3.1. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu người mua hàng tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Tác giả chọn đối tượng này để nghiên cứu nhằm tìm ra các yếu tố tác động đến

quyết định tiêu dùng thuốc lá và rượu bia. Mục tiêu cụ thể là:

- Nghiên cứu các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của chúng đến quyết định tiêu

dùng thuốc lá và rượu bia.

- Đề xuất các giải pháp đối với việc quản lý hàng hóa tiêu dùng có hại cho

sức khỏe: rượu bia và thuốc lá.

1.3.2. Đối tượng nghiên cứu

* Đối tượng khảo sát:

Đề tài này khảo sát người tiêu dùng có độ tuổi từ 18 trở lên, do thời gian và

kinh phí có hạn nên để đối tượng khảo sát đa dạng, có nhiều thành phần kinh tế,

mang đến cái nhìn khách quan cho tổng thể, tác giả đã dựa trên cơ cấu kinh tế để

chọn một số địa bàn thuận tiện tiến hành khảo sát, tập trung tại các địa bàn huyện

Đất Đỏ, huyện Long Điền, thành phố Bà Rịa thuộc tỉnh BRVT. Cụ thể như sau:

- Tại Thành phố Bà Rịa: Là trung tâm hành chính-chính trị của tỉnh. Tiến

hành khảo sát đối với các khách hàng mua hàng tại 5 cửa hàng tạp hóa, gồm 02 cửa

hàng tạp hóa cách Trung tâm Hành chính tỉnh BRVT khoảng 200m, 02 cửa hàng

tạp hóa cách Trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh BRVT khoảng 100m và 01 cửa hàng

tạp hóa cách Nhà thờ Bà Rịa 100m.

- Tại huyện Long Điền:

+ Thị trấn Long Điền: Là Trung tâm hành chính-chính trị của huyện. Tiến

hành khảo sát đối với các khách hàng mua hàng tại 1 cửa hàng tạp hóa cách UBND

huyện Long Điền khoảng 100m.

+ Thị trấn Long Hải: Cơ cấu kinh tế chủ yếu là du lịch. Tiến hành khảo sát

đối với các khách hàng mua hàng tại 2 cửa hàng tạp hóa trong khu vực chợ Long

Hải.

- Tại huyện Đất Đỏ:

5

+ Xã Long Tân: Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Tiến hành khảo sát

đối với các khách hàng mua hàng tại 1 cửa hàng tạp hóa đối diện chợ Long Tân, xã

Long Tân, huyện Đất Đỏ.

+ Thị trấn Đất Đỏ: Là Trung tâm hành chính-chính trị của huyện. Tiến hành

khảo sát đối với các khách hàng mua hàng tại 1 cửa hàng tạp hóa đối diện chợ Đất

Đỏ.

+ Xã Phước Long Thọ: Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, công nghiệp.

Tiến hành khảo sát đối với các khách hàng mua hàng tại 1 cửa hàng tạp hóa đối diện

UBND xã Phước Long Thọ và 1 cửa hàng tạp hóa cách Khu Công nghiệp Đất Đỏ 1

khoảng 200m.

* Đối tượng nghiên cứu: Chọn nghiên cứu người tiêu dùng rượu bia, thuốc lá

tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh BRVT.

1.3.3. Phạm vi nghiên cứu

Với thời gian và kinh phí có hạn nên chọn mẫu nghiên cứu thuận tiện, người

được chọn là người tiêu dùng trên các địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Thời gian bắt đầu khảo sát là 01/08 đến hết ngày 15/09/2017.

1.3.4. Ý nghĩa của nghiên cứu

Luận văn này giúp cho tác giả hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hành vi người

tiêu dùng, đặc biệt là hành vi ra quyết định mua sản phẩm tiêu dùng thuốc lá và

rượu bia.

Luận văn có thể giúp cho các nhà quản lý và các bên liên quan nắm bắt được

những yếu tố cần thiết trong việc quản lý tiêu dùng đối với thuốc lá và rượu bia.

Ngoài ra, luận văn còn có thể góp phần làm phong phú hơn cho kho tàng tư

liệu tham khảo của quốc gia nói chung và ngành hàng hóa tiêu thụ đặc biệt, đặc biệt

là hàng tiêu dùng có hại cho sức khỏe.

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

Các yếu tố nào tác động đến quyết định tiêu dùng thuốc lá và rượu bia ?

1.5. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên hai phương pháp chính:

Mô tả dữ liệu: Dựa vào các nguồn dữ liệu, số liệu thứ cấp từ các sách, báo,

tạp chí chuyên ngành, các bản tin tổng hợp về ngành hàng tiêu dùng có hại cho sức

6

khỏe, các ý kiến chuyên gia. Ở đây tác giả chọn phương pháp mô tả số liệu thực

trạng và tác hại của việc sử dụng rượu bia, thuốc lá trong nước và trên thế giới.

Nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định tiêu

dùng thuốc lá và rượu bia của người tiêu dùng thông qua việc lập và gửi bảng câu

hỏi trực tiếp đến từng khách hàng đã và đang tiêu dùng thuốc lá và rượu bia. Thiết

kế bảng câu hỏi, điều tra thử và tiến hành điều chỉnh bảng câu hỏi sao cho thật rõ

ràng nhằm thu được kết quả mong muốn để có thể đạt được mục tiêu nghiên cứu.

Tác giả chọn phương pháp phỏng vấn trực tiếp 600 khách hàng: Dùng kỹ thuật

phỏng vấn trực tiếp khách hàng đang sử dụng các loại thuốc lá và rượu bia. Người

phỏng vấn sẽ giải thích nội dung bảng câu hỏi chi tiết (trong trường hợp khách hàng

hiểu nhầm) để người được phỏng vấn hiểu câu hỏi và trả lời chính xác theo những

đánh giá của họ. Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng mô

hình hồi quy Logistics để xác định các yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng

thuốc lá và rượu bia và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cũng được chỉ rõ thông

qua hệ số của các yếu tố.

1.6. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm 5 chương :

Chương 1 : Tổng quan công trình nghiên cứu

Chương 2 : Cơ sở lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu

Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu

Chương 4 : Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

7

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Động cơ sử dụng rượu bia, thuốc lá

Thông thường, Tâm lý học phân động cơ thành 2 loại: “ngắn hạn” và “dài

hạn” (Cheplov đưa ra kiểu phân biệt này). Động cơ ngắn hạn chỉ liên quan đến

tương lai gần của nhân cách, còn động cơ lâu dài thì gắn với tương lai tương đối dài

các mức khác nhau trong quá trình phát triển nhân cách… Những người trẻ tuổi

thường chịu tác động của những động cơ ngắn hạn. V.G.Axêev chia động cơ thành

2 loại: “động cơ tích cực và động cơ tiềm tàng”. Stephen Worchil và Wayne

Shebilsue cho rằng, động cơ có thể phân thành 2 loại: động cơ nguyên thủy

(primary motive) và động cơ xã hội (social motive). Động cơ nguyên thủy có liên

quan đến các nhu cầu sinh học của con người. Các động cơ này không phải học,

giống nhau ở tất cả các động vật và có ý nghĩa rất quan trọng cho việc tồn tại của

một cơ thể hay một loài. Đói, khát, nhu cầu về không khí, nghỉ ngơi, ham muốn về

tình dục được xếp vào loại này. Động cơ xã hội xuất phát từ học tập và giao tiếp xã

hội. Nhu cầu sáp nhập, gây gổ hiếu chiến và thành quả được xếp vào nhóm động cơ

xã hội.

Theo G. Murphay và một số các nhà Tâm lý học phương Tây, động cơ

được phân thành 2 loại: động cơ cấp một và động cơ cấp hai hay còn gọi là động cơ

nguyên phát và động cơ thứ phát. Động cơ nguyên phát là những động cơ bên trong,

gắn liền với nhu cầu của cơ thể và động cơ thứ phát. Động cơ cấp hai hay còn gọi là

động cơ thứ phát được hình thành như những công cụ nhằm đáp ứng các động cơ

nguyên phát.

Schwartz và Bilsky cho rằng, động cơ của con người có thể được phân thành

10 loại: “tự điều chỉnh, kích thích, đề cao khoái cảm, thành đạt, quyền lực, tính an

toàn, tính thỏa hiệp, tính truyền thống, mong muốn thuận lợi, tính toàn diện”… Tuy

nhiên, trong thực tế, động cơ của con người rất phong phú và đa dạng, có mối liên

hệ mật thiết với nhu cầu. Các loại động cơ trong hệ thống động cơ không phải là bất

biến mà luôn thay đổi.

Theo trường phái Tâm lý học hoạt động, động cơ được chia thành 2 loại cơ

bản: động cơ chủ đạo và động cơ thứ yếu. Hai loại động cơ này có mối quan hệ mật

8

thiết với nhau và trong những hoàn cảnh cụ thể chúng tạo thành một hệ thống thứ

bậc động cơ.

Theo Nguyễn Quang Uẩn (2003), có rất nhiều cách phân loại động cơ:

“Động cơ ham thích và động cơ nghĩa vụ; động cơ quá trình và động cơ kết quả;

động cơ gần và động cơ xa; động cơ cá nhân, động cơ xã hội và động cơ công việc;

động cơ bên trong và động cơ bên ngoài; động cơ tạo ý và động cơ kích thích”.

Theo quan điểm của người nghiên cứu, động cơ của con người rất phong phú và đa

dạng nên có rất nhiều cách phân loại động cơ. Ở mỗi lĩnh vực và tùy thuộc vào cách

tiếp cận khác nhau thì có những cách phân loại khác nhau. Trong đề tài nghiên cứu

này, căn cứ vào tính chất, người nghiên cứu phân động cơ làm hai loại:

- Động cơ sử dụng rượu, bia và thuốc lá có tính chất sinh lý là động cơ nảy

sinh từ nhu cầu có tính chất bẩm sinh, sinh lý của người tiêu dùng nhằm thỏa mãn

nhu cầu: duy trì, kéo dài, phát triển cuộc sống của họ, trong đời sống thường ngày

loại động cơ này thường giống nhau và có chung một điểm là: rõ nét, đơn giản,

trùng lặp, dễ phát hiện.

- Động cơ sử dụng rượu, bia và thuốc lá có tính chất tâm lý, đây là loại động

cơ nảy sinh từ nhu cầu xã hội, tinh thần của người tiêu dùng. Các động cơ này có sự

khác nhau lớn giữa các cá nhân về phương thức thực hiện và mức độ thỏa mãn. Đặc

điểm của loại động cơ này là sâu sắc, kín đáo, đa dạng và luôn được đánh giá bởi

các giá trị, chuẩn mực xã hội…

2.2. Tác hại của rượu bia và thuốc lá

Hút thuốc lá và uống rượu nhiều là hai kẻ thù lớn nhất của sức khỏe và tuổi

thọ con người. Trong những năm gần đây, việc hút thuốc lá và lạm dụng rượu bia là

hai mối quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực y tế và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong

một năm, số ngày nghỉ làm việc tăng lên, các bệnh viện ngày càng tăng những bệnh

tim phổi, mạch máu…đều có liên quan tới việc hút thuốc và uống rượu. Nhiều

nghiên cứu đã khuyến cáo và chứng minh bằng những chứng cứ khoa học rất cụ thể

về mối đe dọa của thuốc lá với đời sống, tuổi thọ của con người. Đặc biệt là tác

động mạnh và gần như tức thì trên các bệnh tim mạch, lao phổi, ung thư. Những

người phụ nữ hút thuốc lá và uống rượu lúc mang thai có nguy cơ sinh non, dị tật và

khả năng sẩy thai cao.

9

Cả rượu và chất nicotin đều là chất gây nghiện khó kiểm soát. Nhiều người

lúc đầu chỉ hút thuốc và uống rượu như một thói quen nhưng sau đó họ không tự

kiểm soát được và trở nên nghiện ngập từ lúc nào mà ngay cả chính họ cũng không

nắm được.

Tác hại của thuốc lá

Thuốc lá hủy hoại cơ thể do ba chất chính có trong thuốc và khói thuốc lá là

nicotin, carbon monoxide và chất khói thuốc.

Nicotin là loại thuốc an thần có tác dụng gây nghiện. Khi đang hút thuốc liên

tục với số lượng nhiều mà bỏ thuốc đột ngột sẽ gây các rối loạn về tâm lý và sinh lý

vì Nicotin vẫn còn trong máu.

Carbon monoxide có trong máu làm giảm lưu lượng tuần hoàn máu tới các

mô và trong thời gian dài sẽ bị xơ vữa động mạch.

Khói thuốc lá là nguyên nhân gây những bệnh phổi mãn tính, ung thư phổi.

Thuốc lá và bệnh ung thư

Mối liên quan giữa việc hút thuốc lá và ung thư phổi đã được biết từ rất lâu,

90% người ung thư phổi bị chết đều có hút thuốc lá. Những cơ quan khác cũng bị

ung thư do thuốc lá là miệng, hầu, họng, thanh quản, môi, bàng quang…

Hút thuốc lá bằng ống hút xì gà có khả năng giảm lượng khói thuốc hít vào

phổi nhưng cũng khó tránh khỏi ung thư miệng và họng.

Những nguy cơ khác của việc hút thuốc lá

Rất nhiều người dân không ý thức được tác hại của việc hút thuốc lá trầm

trọng đến mức độ nào. Trước tiên phải kể tới những bệnh mãn tính của đường hô

hấp, nhiều người bị ho thường xuyên đến mức mà người ta gọi là “ho thuốc lá”. Rất

nhiều người chết do tâm phế mạn và khí thủng phổi.

Người hút thuốc lá chắc chắn sẽ chết sớm hơn do các bệnh mạch vành. Họ

thường xuyên đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim, nghĩa là những lúc giảm thời

lượng máu đến nuôi cơ tim. Nguy cơ ngồi máu cơ tim xảy ra nhiều hơn ở người hút

thuốc. Họ cũng dễ bị đột quỵ hơn người bình thường, ngoài ra người hút thuốc lá

nhiều cũng dễ bị loét dạ dày và hành tá tràng.

Giảm các yếu tố nguy cơ

10

Đơn giản là không hút thuốc. Nếu bạn không chế ngự được bản thân và

không bỏ được thói quen rất xấu này thì chắc chắc sẽ có nguy cơ bị bệnh cao hơn

hẳn những người khác. Nếu cần có thể nhờ đến sự trợ giúp của người thân, bạn bè

và ngay cả các loại kẹo hay chewing gum thay thế thuốc lá. Nhưng chính bạn sẽ

phải là người quyết định bỏ thuốc như khi bạn quyết định hút thuốc.

Rượu và bệnh tật

Uống nhiều rượu và uống thường xuyên rất có hại cho sức khỏe, trước mắt là

mắc các chứng bệnh về gan nặng như gan thoái hóa mỡ, viêm gan do rượu, xơ gan,

ung thư gan. Khi đó, mô gan không còn mịn như bình thường mà gồm toàn những

mô xơ và không có chức năng thải ra các chất độc ra khỏi cơ thể.

Uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ bệnh huyết áp cao, nhồi máu cơ tim và

khả năng đột quỵ cao.

Rượu cũng làm rối loạn tiêu hóa và tăng các bệnh thuộc hệ tiêu hóa như

viêm dạ dày, viêm tụy, loét dạ dày, ung thư miệng, lưỡi, hầu, thực quản, ruột.

Người uống rượu thường không ăn uống điều độ và rối loạn tiêu hóa nặng.

Uống nhiều rượu lâu dài làm tổn thương não, rối loạn tri thức và ý thức, rối

loạn hành vi và cử chỉ, không kiểm soát được bản thân.

Phụ nữ mang thai uống rượu có thể sinh non, ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm

thần của con khi ra đời, thậm chí có thể sinh ra những đứa trẻ bị dị tật. Ảnh hưởng

do rượu sẽ kéo dài đến những thế hệ sau nếu cả cha mẹ đều uống rượu khi thụ thai.

Vấn đề xã hội

Tệ nạn uống rượu là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Rượu là nguyên

nhân làm giảm năng suất lao động, gây ra các tệ nạn xã hội, bao lực, gia đình tan

vỡ, con cái hư hỏng. Rượu gây tai nạn giao thông và rất nhiều tệ nạn xã hội khác

xuất phát từ rượu.

Phải coi rượu cũng là một loại thuốc độc hại gây nghiện. Cần giáo dục thanh

thiếu niên về nguy hại của rượu. Trước tiên bạn hãy tự tránh cho mình và người

thân, bạn bè để bảo vệ và giữ gìn sức khỏe.

2.3. Quyết định chọn mua

Tiến trình quyết định mua của người tiêu dùng có thể được mô hình hóa

thành năm giai đoạn: Ý thức về nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương

11

án, quyết định mua và hành vi sau khi mua. Như vậy, tiến trình quyết định mua của

người tiêu dùng đã bắt đầu trước khi việc mua thực sự diễn ra và còn kéo dài sau

khi mua. Trong đó “Quyết định chọn mua sản phẩm là một quá trình đánh giá hành

vi mua dựa trên nhu cầu và thông tin, đánh giá của bản thân người mua về nhóm sản

phẩm đó. Trong giai đoạn này, người mua sắp xếp các nhãn hiệu trong nhóm nhãn

hiệu đưa vào để lựa chọn theo các thứ bậc và từ đó bắt đầu hình thành ý định mua

nhãn hiệu được đánh giá cao nhất. Bình thường, người tiêu dùng sẽ mua nhãn hiệu

được ưu tiên nhất” (Solomon Micheal- Consumer Behavior, 1992). Hai yếu tố có

thể dẫn đến sự khác biệt giữa ý định mua và quyết định mua, đó là: Thái độ của

những người khác như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp ...Các yếu tố của hoàn cảnh

như hy vọng về thu nhập gia tăng, mức giá dự tính, sản phẩm thay thế...Hai yếu tố

này có thể làm thay đổi quyết định mua hoặc không mua hoặc mua một nhãn hiệu

khác mà không phải là nhãn hiệu tốt nhất như đã đánh giá.

2.4. Lý thuyết hành vi người tiêu dùng

2.4.1. Khái niệm hành vi người tiêu dùng

Đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hành vi người tiêu dùng, vì

vậy với những định nghĩa mà tác giả tiếp cận được về hành vi người tiêu dùng sẽ

được luận văn giới thiệu cụ thể như sau:

Hành vi người tiêu dùng có thể được định nghĩa là: “…việc nghiên cứu các

cá nhân, nhóm hay tổ chức và các quá trình họ lựa chọn, giữ gìn, sử dụng và thải bỏ

sản phẩm, dịch vụ, trải nghiệm hay ý tưởng để thỏa mãn nhu cầu và các tác động

của những quá trình này lên người tiêu dùng và xã hội.” (Hawkins và cộng sự,

2001)

Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, “Hành vi tiêu dùng chính là sự tác động

qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con

người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ”. Hay nói cách

khác, hành vi tiêu dùng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có

được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng. Những yếu tố

như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề

ngoài sản phẩm… đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách

hàng.

12

Theo Philip Kotler, “Hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một cá

nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch

vụ”.

“Hành vi tiêu dùng là một tiến trình cho phép một cá nhân hay một nhóm

người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm/dịch vụ, những suy

nghĩ đã có, kinh nghiệm hay tích lũy, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của

họ”. (Solomon Micheal, 1992).

“Hành vi tiêu dùng là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá

trình tìm kiếm, thu thập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ sản phẩm/dịch vụ. Nó

bao gồm cả những quá trình ra quyết định diễn ra trước, trong và sau các hành động

đó”. (James F.Engel, Roger D. Blackwell, Paul W.Miniard, 1993).

Như vậy qua hai định nghĩa trên, chúng ta có thể xác định được một số đặc

điểm của hành vi tiêu dùng là:

- Hành vi người tiêu dùng là một tiến trình cho phép người tiêu dùng lựa

chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm/dịch vụ. Tiến trình này bao

gồm những suy nghĩ, cảm nhận, thái độ và những hoạt động bao gồm mua sắm, sử

dụng, xử lý của con người trong quá trình mua sắm và tiêu dùng.

- Hành vi tiêu dùng có tính linh hoạt và tương tác vì nó chịu tác động bởi

những yếu tố từ môi trường bên ngoài và nó cũng có sự tác động trở lại đối với môi

trường ấy.

2.4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng

Quá trình ra quyết định của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng của rất nhiều

yếu tố dưới đây:

* Nhóm các yếu tố văn hóa

Các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến hành vi của người tiêu

dùng. Ta sẽ xem xét vai trò của nền văn hóa, nhánh văn hóa và tầng lớp xã hội của

người mua.

- Nền văn hóa (culture): là yếu tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn

và hành vi của một người. Mỗi người ở một nền văn hóa khác nhau sẽ có những

cảm nhận về giá trị của hàng hóa, về cách ăn mặc… khác nhau. Do đó những người

sống trong môi trường văn hóa khác nhau sẽ có hành vi tiêu dùng khác nhau.

13

- Nhánh văn hóa (sub-culture): chính là bộ phận cấu thành nhỏ hơn của một

nền văn hóa. Nhánh văn hóa tạo nên những đặc điểm đặc thù hơn cho những thành

viên của nó. Người ta có thể phân chia nhánh văn hóa theo các tiêu thức như địa lí,

dân tộc, tôn giáo. Các nhánh văn hóa khác nhau có lối sống riêng, phong cách tiêu

dùng riêng và tạo nên những phân khúc thị trường quan trọng.

* Nhóm các yếu tố xã hội

Hành vi của người tiêu dùng cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố xã hội

như các nhóm tham khảo, gia đình và vai trò của địa vị xã hội.

- Địa vị xã hội

Lối tiêu dùng của một người phụ thuộc khá nhiều vào địa vị xã hội của người

đó, đặc biệt là các mặt hàng có tính thể hiện cao như quần áo, giày dép, xe cộ…

Những người thuộc cùng một tầng lớp xã hội có khuynh hướng hành động giống

nhau hơn so với những người thuộc hai tầng lớp xã hội khác nhau. Những người có

địa vị xã hội như thế nào thường tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tương ứng như thế.

Những người có địa vị cao trong xã hội chi tiêu nhiều hơn vào hàng hóa xa xỉ, cao

cấp như dùng đồ hiệu, chơi golf,…

- Nhóm tham khảo

Nhóm tham khảo của một người là những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp hoặc

gián tiếp đến thái độ hay hành vi của người đó. Những nhóm này có thể là gia đình,

bạn bè, hàng xóm láng giềng và đồng nghiệp mà người đó có quan hệ giao tiếp

thường xuyên. Các nhóm này gọi là nhóm sơ cấp, có tác động chính thức đến thái

độ hành vi người đó thông qua việc giao tiếp thân mật thường xuyên. Ngoài ra còn

một số nhóm có ảnh hưởng ít hơn như công đoàn, tổ chức đoàn thể.

- Gia đình

Các thành viên trong gia đình là nhóm tham khảo có ảnh hưởng lớn nhất đến

hành vi người tiêu dùng. Thứ nhất là gia đình định hướng (bố mẹ của người đó). Tại

gia đình này người đó sẽ được định hướng bởi các giá trị văn hóa, chính trị, hệ tư

tưởng…Khi trưởng thành và kết hôn, mức ảnh hưởng của người vợ hoặc người

chồng trong việc quyết định loại hàng hóa sẽ mua là rất quan trọng.

* Nhóm các yếu tố cá nhân

- Giới tính (sex):

14

Giới tính là yếu tố cá nhân đầu tiên có ảnh hưởng tiên quyết đến hành vi tiêu

dùng. Do những đặc điểm tự nhiên, phụ nữ và đàn ông có nhu cầu tiêu dùng khác

nhau và cách lựa chọn hàng hóa cũng khác nhau. Các nghiên cứu đã cho thấy, nếu

quyết định lựa chọn hàng hóa của phụ nữ căn cứ chủ yếu vào giá cả, hình thức, mẫu

mã của hàng hóa thì đàn ông lại chú trọng đến công nghệ, uy tín của hàng hóa này.

- Tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống (age and lifecycle)

Ngay cả khi phục vụ những nhu cầu giống nhau trong suốt cuộc đời, người ta

vẫn mua những hàng hóa và dịch vụ khác nhau. Cùng là nhu cầu ăn uống nhưng khi

còn trẻ họ sẽ ăn đa dạng lọai thức ăn hơn, trong khi về già họ thường có xu hướng

kiêng 1 số loại thực phẩm. Thị hiếu của người ta về quần áo, đồ gỗ và cách giải trí

cũng tùy theo tuổi tác. Chính vì vậy tuổi tác quan hệ chặt chẽ đến việc lựa chọn các

hàng hóa như thức ăn, quần áo, những dụng cụ phục vụ cho sinh hoạt và các loại

hình giải trí…

- Nghề nghiệp và thu nhập (profession and income)

Nghề nghiệp và hoàn cảnh kinh tế là một trong những điều kiện tiên quyết

ảnh hưởng đến cách thức tiêu dùng của một người. Nghề nghiệp ảnh hưởng đến tính

chất của hàng hóa và dịch vụ được lựa chọn. Người công nhân sẽ mua quần áo, giày

đi làm và sử dụng các dịch vụ trò chơi giải trí khác với người là chủ tịch hay giám

đốc của một công ty. Hoàn cảnh kinh tế có tác động lớn đến việc lựa chọn sản phẩm

tiêu dùng. Khi hoàn cảnh kinh tế khá giả, người ta có xu hướng chi tiêu vào những

hàng hóa đắt đỏ nhiều hơn.

- Lối sống (lifestyle)

Những người cùng xuất thân từ một nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội và cùng

nghề nghiệp có thể có những lối sống hoàn toàn khác nhau và cách thức họ tiêu

dùng khác nhau. Cách sống “thủ cựu” được thể hiện trong cách ăn mặc bảo thủ,

dành nhiều thời gian cho gia đình và đóng góp cho tôn giáo của mình.

* Nhóm các yếu tố tâm lý

Việc lựa chọn mua sắm của một người còn chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố

tâm lý là động cơ, nhận thức, sự hiểu biết, niềm tin.

- Động cơ (motivation)

15

Động cơ là một nhu cầu bức thiết đến mức buộc con người phải hành động

để thỏa mãn nó. Tại bất kỳ một thời điểm nhất định nào con người cũng có nhiều

nhu cầu. Một số nhu cầu có nguồn gốc sinh học như đói, khát, khó chịu. Một số nhu

cầu khác có nguồn gốc tâm lý như nhu cầu được thừa nhận, được kính trọng hay

được gần gũi về tinh thần.

- Nhận thức (perception)

Nhận thức là khả năng tư duy của con người. Động cơ thúc đẩy con người

hành động, còn việc hành động như thế nào thì phụ thuộc vào nhận thức. Hai bà nội

trợ cùng đi vào siêu thị với 1 động cơ như nhau nhưng sự lựa chọn nhãn hiệu hàng

hóa lại hoàn toàn khác nhau. Nhận thức của họ về mẫu mã, giá cả, chất lượng và

thái độ phục vụ đều không hoàn toàn giống nhau.

- Sự hiểu biết (knowledge)

Sự hiểu biết giúp con người khái quát hóa và có sự phân biệt khi tiếp xúc với

những hàng hóa có kích thước tương tự nhau. Khi người tiêu dùng hiểu biết về hàng

hóa họ sẽ tiêu dùng một cách có lợi nhất.

- Niềm tin và thái độ (Belief and attitude)

Thông qua thực tiễn và sự hiểu biết con người hình thành nên niềm tin và

thái độ vào sản phẩm. Theo một số người giá cả đi đôi với chất lượng, họ không tin

có giá cả rẻ mà chất lượng hàng hóa lại tốt. Chính điều đó làm cho họ e dè khi mua

hàng hóa có giá cả thấp hơn hàng hóa khác cùng loại. Niềm tin hay thái độ của

người tiêu dùng đối với một hãng sản xuất ảnh hưởng khá lớn đến doanh thu của

hãng đó. Niềm tin và thái độ rất khó thay đổi, tạo nên thói quen khá bền vững cho

người tiêu dùng.

2.4.3. Tiến trình ra quyết định của người tiêu dùng

Tiến trình ra quyết định mua của người tiêu dùng có thể được mô hình hóa

thành năm giai đoạn: Nhận thức về nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các

phương án, quyết định mua và hành vi sau khi mua. Như vậy, tiến trình quyết định

mua của người tiêu dùng đã bắt đầu trước khi việc mua thực sự diễn ra và còn kéo

dài sau khi mua.

16

Tiến trình mua của người tiêu dùng được thể hiện qua sơ đồ sau:

Tìm kiếm thông tin

Đánh giá các phương án

Quyết định mua

Cảm nhận sau khi mua

Nhận thức nhu cầu

Hình 2.1: Tiến trình mua của người tiêu dùng

(Nguồn: Mathieson and Wall 1982)

Ý thức về nhu cầu: Tiến trình mua khởi đầu với việc người mua ý thức được

nhu cầu. Người mua cảm thấy có sự khác biệt giữa trạng thái thực tế và trạng thái

mong muốn. Nhu cầu có thể bắt nguồn từ các tác nhân kích thích bên trong và bên

ngoài của chủ thể. Trong trường hợp các tác nhân bên trong, một trong số những

nhu cầu bình thường của người ta như đói, khát, tình dục tăng dần lên đến một mức

độ nào đó và trở thành một niềm thôi thúc. Do kinh nghiệm có trước đó, người ta

hiểu được cách thức giải quyết sự thôi thúc này và động cơ của nó sẽ hướng đến

những phương tiện có thể thỏa mãn được sự thôi thúc. Hoặc một nhu cầu có thể

phát sinh từ một tác nhân kích thích từ bên ngoài, chẳng hạn từ báo chí, quảng cáo,

bạn bè, xã hội, v.v...Một người đi ngang qua tiệm phở và cảm nhận được hương vị

thơm ngon bốc lên của phở đã kích thích làm cho người đó cảm thấy đói. Một

người phụ nữ nhìn thấy một chiếc váy đẹp của cô hàng xóm hay xem một chương

trình quảng cáo về một loại nước hoa mới,...Tất cả những tác nhân kích thích đó có

thể gợi mở một vấn đề hay nhu cầu.

Tìm kiếm thông tin: Một người tiêu dùng đã có nhu cầu thì bắt đầu tìm kiếm

thông tin. Nếu sự thôi thúc của người tiêu dùng mạnh và sản phẩm vừa ý nằm trong

tầm tay, người tiêu dùng rất có thể sẽ mua ngay. Nếu không, người tiêu dùng đơn

giản chỉ lưu giữ nhu cầu trong tiềm thức. Người tiêu dùng có thể không chịu tìm

hiểu thêm thông tin, tìm hiểu thêm một số thông tin, hoặc rất tích cực tìm kiếm

thông tin liên quan đến nhu cầu.

Trong trường hợp họ muốn tìm kiếm các thông tin, thường có các nguồn

thông tin sau:

- Nguồn thông tin cá nhân thu nhận được từ gia đình, bạn bè, hàng xóm và

người quen.

17

- Nguồn thông tin thương mại thu thập được qua quảng cáo, nhân viên bán

hàng, nhà buôn, bao bì hay các cuộc trưng bày sản phẩm.

- Nguồn thông tin công cộng thu nhận được từ các phương tiện truyền

thông đại chúng và các tổ chức.

- Nguồn thông tin từ kinh nghiệm bản thân có được qua tiếp xúc, khảo sát

hay sử dụng sản phẩm.

Đánh giá các phương án lựa chọn: Cần phải tìm hiểu xem người tiêu dùng

đã xử lý thông tin ra sao để lựa chọn nhãn hiệu cần mua trong số các nhãn hiệu của

loại sản phẩm mà họ quan tâm. Khi lựa chọn sản phẩm để mua và tiêu dùng, người

tiêu dùng muốn thỏa mãn ở mức độ cao nhất nhu cầu của mình bằng chính sản

phẩm đó. Họ tìm kiếm những lợi ích nhất định trong sản phẩm. Người tiêu dùng

xem mỗi sản phẩm như một tập hợp các thuộc tính với những khả năng đem lại

những lợi ích mà họ mong muốn có được và thỏa mãn nhu cầu của họ ở những mức

độ khác nhau. Những thuộc tính mà người tiêu dùng quan tâm thay đổi tùy theo sản

phẩm. Ngay cả khi đánh giá về một sản phẩm, sự nhìn nhận của họ về những thuộc

tính mà họ cho là quan trọng nhất hay nổi bật nhất cũng không hoàn toàn giống

nhau. Cũng cần lưu ý rằng, những thuộc tính nổi bật nhất không phải bao giờ cũng

là những thuộc tính quan trọng nhất. Một số thuộc tính nổi bật lên vì người tiêu

dùng bị ảnh hưởng của một quảng cáo có nhấn mạnh về thuộc tính ấy. Ngược lại,

một thuộc tính nào đó không thật sự nổi bật có thể do người tiêu dùng đã lãng quên

nó, nhưng khi được nhắc đến thì được thừa nhận là quan trọng.

Có nhiều tiến trình đánh giá để đi đến một quyết định mua. Tuy nhiên, hầu

hết các tiến trình đánh giá của người tiêu dùng đều định hướng theo nhận thức, tức

là khi hình thành những nhận xét về sản phẩm, người tiêu dùng chủ yếu dựa trên cơ

sở ý thức và tính hợp lý. Người tiêu dùng có xu hướng xây dựng cho mình một tập

hợp những niềm tin vào các nhãn hiệu, trong đó chúng được đánh giá theo những

thuộc tính riêng biệt. Những niềm tin về nhãn hiệu tạo nên hình ảnh về nhãn hiệu.

Niềm tin vào nhãn hiệu của người tiêu dùng sẽ thay đổi theo kinh nghiệm của họ và

tác động của nhận thức có chọn lọc, bóp méo có chọn lọc hay ghi nhớ có chọn lọc.

Người tiêu dùng hình thành các thái độ (nhận xét, ưa thích) đối với các nhãn hiệu

qua một quá trình đánh giá.

18

Một phương pháp đánh giá phổ biến là cân nhắc nhiều tiêu chuẩn cho từng

nhãn hiệu và tổng hợp bằng cách cho điểm để đánh giá.

Quyết định mua: Trong giai đoạn đánh giá, người mua sắp xếp các nhãn hiệu

trong nhóm nhãn hiệu đưa vào để lựa chọn theo các thứ bậc và từ đó bắt đầu hình

thành ý định mua nhãn hiệu được đánh giá cao nhất. Bình thường, người tiêu dùng

sẽ mua nhãn hiệu được ưu tiên nhất. Nhưng có hai yếu tố có thể dẫn đến sự khác

biệt giữa ý định mua và quyết định mua đó là:

- Thái độ của những người khác như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp...

- Các yếu tố của hoàn cảnh như hy vọng về thu nhập gia tăng, mức giá dự

tính, sản phẩm thay thế...

Hai yếu tố này có thể làm thay đổi quyết định mua hoặc không mua hoặc

mua một nhãn hiệu khác mà không phải là nhãn hiệu tốt nhất như đã đánh giá.

Hành vi sau khi mua: Sau khi đã mua sản phẩm, trong quá trình tiêu dùng,

người tiêu dùng sẽ cảm nhận được mức độ hài lòng hay không hài lòng về sản phẩm

đó. Cần tìm hiểu và phân tích hành vi của người tiêu dùng sau khi mua cũng như

những phản ứng đáp lại của họ đối với trạng thái hài lòng hay không hài lòng về sản

phẩm để có các giải pháp đáp ứng và điều chỉnh kịp thời nhằm cải thiện tình hình.

2.4.4. Xu hướng tiêu dùng

Một trong những cách để phân tích hành vi người tiêu dùng là đo lường xu

hướng tiêu dùng của khách hàng.

Theo Lê Thế Giới (2007): Hành vi người tiêu dùng là một lĩnh vực nghiên cứu

có nguồn gốc từ “các khoa học như tâm lý học, xã hội học, tâm lý xã hội học, nhân

văn học và kinh tế học”. Hành vi người tiêu dùng chú trọng đến việc nghiên cứu tâm

lý cá nhân, nghiên cứu những niềm tin cốt yếu, những giá trị, những phong tục, tập

quán ảnh hưởng đến hành vi con người và những ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cá

nhân trong quá trình mua sắm tiêu dùng. Đặc biệt, việc nghiên cứu hành vi người tiêu

dùng là một phần quan trọng trong nghiên cứu kinh tế học với mục đích tìm hiểu xem

bằng cách nào (how) và tại sao (why) những người tiêu dùng mua (hoặc không mua)

các sản phẩm dịch vụ và quá trình mua sắm của khách hàng diễn ra như thế nào.

Theo Philip Kotler (2005), nghiên cứu về hành vi tiêu dùng của khách hàng là

một nhiệm vụ khá quan trọng có ảnh hưởng rất lớn trong quy trình các quyết định về

19

tiếp thị của các doanh nghiệp. Trong những thời gian đầu tiên, những người làm tiếp

thị có thể hiểu được người tiêu dùng thông qua những kinh nghiệm bán hàng cho họ

hàng ngày. Thế nhưng sự phát triển về quy mô của các doanh nghiệp và thị trường đã

làm cho nhiều nhà quản trị tiếp thị không còn điều kiện tiếp xúc trực tiếp với khách

hàng nữa. Ngày càng nhiều những nhà quản trị đã phải đưa vào việc nghiên cứu

khách hàng để trả lời những câu hỏi chủ chốt sau đây về mọi thị trường: Những ai tạo

nên thị trường đó? Thị trường đó mua những gì? Tại sao thị trường đó mua? Những

ai tham gia vào việc mua sắm? Thị trường đó mua sắm như thế nào? Khi nào thị

trường đó mua sắm? Thị trường đó mua hàng ở đâu?.

Vì vậy, theo tác giả có thể hiểu: Xu hướng tiêu dùng nghĩa là sự nghiêng theo

chủ quan của người tiêu dùng về một sản phẩm, thương hiệu nào đó và nó đã được

chứng minh là yếu tố then chốt để dự đoán hành vi người tiêu dùng.

Có một sự tương ứng giữa thuật ngữ “xu hướng tiêu dùng” và “xu hướng

chọn” vì cả hai đều hướng đến hành động chọn sử dụng một sản phẩm/dịch vụ hoặc

một thương hiệu.

2.4.5. Thang đo CSI (Consumer Styles Inventory)

Sproles và Kendall (1986:269) đã xây dựng thang đo có 40 biến quan sát

(items) để đo lường tám đặc trưng của hành vi người tiêu dùng được đặt tên là

Thang đo Phong cách Khách hàng (Consumer Styles Inventory) viết tắt là CSI. Mô

hình tám nhân tố đã được kiểm định tính hiệu lực và xác nhận như sau:

Nhân tố 1 – Coi trọng chất lượng cao, tính hoàn hảo (Perfectionistic, High

Quality-Conscious) đo lường mức độ mà một khách hàng tìm kiếm chất lượng tốt

nhất. Những khách hàng cho điểm cao ở thuộc tính này hầu như mua sắm cẩn thận,

có hệ thống, có so sánh.

Nhân tố 2 – Coi trọng Nhãn hiệu, Giá ngang với Chất lượng là những khách

hàng hướng về mua những sản phẩm đắt tiền, nhãn hiệu nổi tiếng, bán chạy nhất,

nhãn hiệu quảng cáo nhiều nhất. Họ tin là tiền nào của nấy, giá cao thì chất lượng

cao và thích những cửa hiệu bán những thứ hàng xa xỉ.

Nhân tố 3 – Coi trọng Tính mới lạ, Thời trang (Noveltyfashion Conscious) là

những khách hàng thích thời trang mới lạ. Tìm được thứ gì mới họ sẽ rất thích thú,

20

hào hứng. Những người này cũng là những người tìm kiếm sự đa dạng, phong phú,

họ mua sắm ít cẩn thận và ít quan tâm đến giá.

Nhân tố 4 – Coi trọng tính tiêu khiển, giải trí (Recreational Hedonistic

Conscious) đo lường mức độ khách hàng xem mua sắm như là một hành vi giải trí,

vì thế họ mua để vui vẻ và thưởng thức.

Nhân tố 5 – Coi trọng Giá cả, Giá trị thu lại so với đồng tiền bỏ ra (Price

Conscious, Value for Money) là những khách hàng tìm sản phẩm giá thấp, hay sản

phẩm bán hạ giá. Họ là những người mua sắm bằng cách so sánh, muốn có được giá

trị tốt nhất so với số tiền họ bỏ ra.

Nhân tố 6 – Bốc đồng, Bất cẩn (Impulsive, Careless) là những đặc trưng đo

lường mức độ khách hàng mua sắm một cách bất cẩn, bốc đồng. Khách hàng cho

điểm cao nhân tố này hiếm khi chuẩn bị cẩn thận cho việc mua sắm và không quan

tâm đến họ chi tiêu bao nhiêu.

Nhân tố 7 – Bối rối do quá nhiều lựa chọn (Confused by Overchoice) để chỉ

những khách hàng khó khăn khi chọn lựa giữa nhiều nhãn hiệu hay cửa hiệu khác

nhau. Họ thường bối rối, lúng túng với thông tin có được.

Nhân tố 8 – Trung thành với nhãn hiệu hay thói quen (Habitual, Brand-

Loyal) là những khách hàng chỉ mua những nhãn hiệu và cửa tiệm họ thích. Nói

cách khác, những khách hàng này đã định hình thói quen khi mua sắm.

2.5. Mô hình lý thuyết nghiên cứu

2.5.1. Mô hình hành vi mua của người tiêu dùng

Theo Kotler (1999) nghiên cứu về hành vi khách hàng là một nhiệm vụ khá

quan trọng có ảnh hưởng lớn trong tiến trình ra quyết định của doanh nghiệp. Hành

vi của người tiêu dùng là toàn bộ hành động của người tiêu dùng bộc lộ trong quá

trình trao đổi sản phẩm, bao gồm điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá và chi tiêu

cho hàng hóa dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ. Cũng có thể coi hành vi

người tiêu dùng là cách thức mà người tiêu dùng sẽ thực hiện để đưa ra các quyết

định sử dụng tài sản của mình “tiền bạc, thời gian, công sức” liên quan đến việc

mua sắm và sử dụng hàng hóa dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân.

21

Hành vi liên quan đến những suy nghĩ, cảm nhận, thái độ và những hành vi

mà người tiêu dùng thực hiện trong quá trình tiêu dùng sản phẩm - dịch vụ dưới sự

tác động của các yếu tố môi trường.

Trong mô hình cổ điển thì quyết định mua của khách hàng chịu tác động của

các yếu tố xoay quanh là các thành phần như thái độ, mô típ, nhu cầu, quan điểm, cá

nhân, học hỏi. Xét phạm vi rộng hơn, đó là gia đình, kinh tế, doanh nghiệp, văn hóa

và xã hội.

Mô hình hành vi mua của Engle và cộng sự (1995) tập trung vào quá trình ra

quyết định mua, bao hàm các yếu tố:

• Đầu vào

• Thông tin được xử lý như thế nào

• Các biến đặc biệt của quá trình ra quyết định

• Các tác nhân bên ngoài

Từ những cơ sở trên, mô hình hành vi mua của người tiêu dùng đã được cụ

Các tác nhân

Các tác nhân

Hộp đen ý thức của

Phản ứng của người

thể hóa như sau:

- Sản phẩm

- Kinh tế

Đặc tính

Quyết

-Chọn mua sản

- Giá cả

- Chính trị

định

của

phẩm

Khác Marketing người mua mua

- Phân phối - Văn hóa người -Chọn nhãn hiệu mua

- Chiêu thị - Xã hội -Chọn cửa hàng mua

-Chọn số lượng mua

-Chọn thời gian mua

Hình 2.2. Mô hình hành vi mua của Engle và cộng sự (1995)

Trên hình trình bày mô hình phân tích hành vi người tiêu dùng. Các yếu tố

sản phẩm, giá cả, phân phối, cổ động và các tác nhân khác như kinh tế, công nghệ,

chính trị, văn hóa tác động vào “hộp đen” của người mua, tức là tác động vào những

đặc điểm văn hóa, xã hội, cá tính và tâm lý cũng như tiến trình quyết định của người

mua nhận thức vấn đề, tìm kiếm thông tin, đánh giá, quyết định, hành vi mua. Ở đây

22

chúng tạo ra những đáp ứng cần thiết từ phía người mua và kết quả là đưa đến một

quyết định mua sắm nhất định loại sản phẩm, nhãn hiệu, số lượng, lúc mua và nơi

mua.

2.5.2. Thuyết hành động hợp lý

Thuyết hành động hợp lý (TRA) được xây dựng từ năm 1967 và được hiệu

chỉnh mở rộng theo thời gian từ đầu những năm 1970 bởi Ajzen và Fishbein (1980).

Mô hình TRA cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi

tiêu dùng. Để quan tâm hơn về các yếu tố góp phần đến xu hướng mua thì xem xét

hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng.

Hình 2.3. Thuyết hành động hợp lý (TRA)

Nguồn: Fishbein, M., & Ajzen, I. (1975).

Trong mô hình TRA, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính

của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi

cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau. Nếu biết trọng số của các thuộc tính

đó thì có thể dự đoán gần đúng kết quả lựa chọn của người tiêu dùng.

Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên

quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…); những người này

thích hay không thích việc người tiêu dùng mua. Mức độ tác động của yếu tố chuẩn

chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng

hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu

dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng. Mức độ ảnh hưởng của

những người có liên quan đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng và động cơ

23

thúc đẩy người tiêu dùng làm theo những người có liên quan là hai yếu tố cơ bản để

đánh giá chuẩn chủ quan. Mức độ thân thiết của những người có liên quan càng

mạnh đối với người tiêu dùng thì sự ảnh hưởng càng lớn tới quyết định chọn mua

của họ. Niềm tin của người tiêu dùng vào những người có liên quan càng lớn thì xu

hướng chọn mua của họ cũng bị ảnh hưởng càng lớn. Ý định mua của người tiêu

dùng sẽ bị tác động bởi những người này với những mức độ ảnh hưởng mạnh yếu

khác nhau.

Trong mô hình thuyết hành động hợp lý thì niềm tin của mỗi cá nhân người tiêu

dùng về sản phẩm hay thương hiệu sẽ ảnh hưởng đến thái độ hướng tới hành vi và

thái độ hướng tới hành vi sẽ ảnh hưởng đến xu hướng mua chứ không trực tiếp ảnh

hưởng đến hành vi mua. Do đó thái độ sẽ giải thích được lý do dẫn đến xu hướng

mua sắm của người tiêu dùng, còn xu hướng là yếu tố tốt nhất để giải thích xu

hướng hành vi của người tiêu dùng.

Mối quan hệ giữa thái độ, thái độ chủ quan và ý định mua được thể hiện qua

phương trình sau:

BI = A*W1+ SN*W2

Trong đó:

 BI : Ý định mua.

 A : Thái độ của khách hàng đối với sản phẩm.

 SN: Chuẩn chủ quan liên quan đến thái độ của nhóm ảnh hưởng

 W1 và W2: các trọng số của A và SN

Ưu điểm: Mô hình TRA giống như mô hình thái độ ba thành phần nhưng mô

hình này phối hợp 3 thành phần: nhận thức, cảm xúc và thành phần xu hướng được

sắp xếp theo thứ tự khác với mô hình thái độ ba thành phần. Phương cách đo lường

thái độ trong mô hình TRA cũng giống như mô hình thái độ đa thuộc tính. Tuy

nhiên mô hình TRA giải thích chi tiết hơn mô hình đa thuộc tính vì thêm thành phần

chuẩn chủ quan.

Nhược điểm: Thuyết hành động hợp lý TRA bị giới hạn khi dự đoán việc thực

hiện các hành vi của người tiêu dùng mà họ không thể kiểm soát được bởi vì mô

hình này bỏ qua tầm quan trọng của yếu tố xã hội mà trong thực tế có thể là một yếu

tố quyết định đối với hành vi cá nhân (Grandon & Peter P. Mykytyn 2004; Werner

24

2004). Yếu tố xã hội có nghĩa là tất cả những ảnh hưởng của môi trường xung

quanh các cá nhân có thể ảnh hưởng đến hành vi cá nhân (Ajzen 1991); yếu tố về

thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan không đủ để giải thích cho hành động của

người tiêu dùng.

2.5.3. Thuyết hành vi dự định

Hình 2.4. Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991)

Nguồn: Ajzen, 1991

Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991), được phát triển từ lý thuyết hành động

hợp lý (TRA, Ajzen & Fishbein, 1975), giả định rằng một hành vi có thể được dự

báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó. Các xu hướng

hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi và

được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi

đó (Ajzen, 1991). Xu hướng hành vi lại là một hàm của ba nhân tố. Thứ nhất, các

thái độ được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện.

Nhân tố thứ hai là ảnh hưởng xã hội mà đề cập đến sức ép xã hội được cảm nhận để

thực hiện hay không thực hiện hành vi đó. Cuối cùng, thuyết hành vi dự định

(Theory of Planned Behaviour) được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu

tố kiểm soát hành vi cảm nhận vào mô hình TRA. Thành phần kiểm soát hành vi

cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ

thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi. Ajzen đề

nghị rằng nhân tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành

vi và nếu đương sự chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình thì

kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi.

Ưu điểm: Mô hình TPB được xem như tối ưu hơn mô hình TRA trong việc dự

đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn

25

cảnh nghiên cứu. Bởi vì mô hình TPB khắc phục được nhược điểm của mô hình

TRA bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận.

Nhược điểm: Mô hình TPB có một số hạn chế trong việc dự đoán hành vi

(Werner, 2004). Các hạn chế đầu tiên là yếu tố quyết định ý định không giới hạn

thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận (Ajzen, 1991). Có thể có các

yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi. Dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu cho thấy rằng

chỉ có 40% sự biến động của hành vi có thể được giải thích bằng cách sử dụng TPB

(Ajzen năm 1991; Werner 2004). Hạn chế thứ hai là có thể có một khoảng cách

đáng kể thời gian giữa các đánh giá về ý định hành vi và hành vi thực tế được đánh

giá (Werner, 2004). Trong khoảng thời gian, các ý định của một cá nhân có thể thay

đổi. Hạn chế thứ ba, TPB là mô hình tiên đoán rằng dự đoán hành động của một cá

nhân dựa trên các tiêu chí nhất định. Tuy nhiên, cá nhân không luôn luôn hành xử

như dự đoán bởi những tiêu chí (Werner, 2004).

2.5.4. Thuyết lựa chọn hợp lý

Thuyết lựa chọn duy lý hay còn được gọi là lý thuyết lựa chọn hợp lý (Rational

choice Theory), thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiên đề cơ bản:

 Người tiêu dùng phải đối mặt với một tập hợp được biết đến của sự lựa chọn

thay thế.

 Đối với bất kỳ cặp lựa chọn thay thế (A và B), người tiêu dùng hoặc thích A đến

B, thích B đến A, hay không có sự khác biệt giữa A và B. Đây là tiền đề của sự

hoàn chỉnh.

 Những ưu tiên tương ứng. Có nghĩa là, nếu một người tiêu dùng thích A đến B

và B đến C, sau đó họ tất yếu phải thích A đến C. Nếu họ thấy không khác biệt

giữa A và B, không khác biệt giữa B và C, khi đó tất yếu không có sự khác biệt

giữa A và C.

 Người tiêu dùng sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất. Nếu người tiêu dùng không

quan tâm giữa hai hay nhiều lựa chọn thay thế được ưa thích cho tất cả cái khác,

người đó sẽ chọn một trong những lựa chọn thay thế - với sự lựa chọn cụ thể

trong số những lựa chọn còn lại không xác định.

26

Các tiên đề trên có thể được hiểu một cách ngắn gọn rằng con người luôn hành

động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng nguồn lực một cách

duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu.

Định đề cơ bản của thuyết duy lý được Homans diễn đạt theo kiểu định lý toán

học như sau: “Khi lựa chọn trong số các hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách

mà họ cho là tích (C) của xác xuất thành công của hành động đó (ký hiệu là P) với

giá trị mà phần thưởng của hành động đó (V) là lớn nhất C = (P x V) = Maximum.

Còn theo John Elster: “Khi đối diện với một số cách hành động, mọi người thường

làm cái mà họ tin là có khả năng đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất”. Thuyết lựa

chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trong mối liên

hệ với cả hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và

sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu ra của từng lựa

chọn cùng các đặc điểm khác.

2.5.5. Mô hình xu hướng tiêu dùng

Nghiên cứu của Dodds và cộng sự (1991) đã xây dựng mô hình kiểm định

các yếu tố về quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa các tín hiệu ngoại sinh (giá, thương

hiệu, tên cửa hiệu) lên việc đánh giá các sản phẩm của người mua về các nhân tố

liên quan đến nhận thức và có tác động đến xu hướng tiêu dùng.

Tóm lại, có nhiều thuyết về xu hướng tiêu dùng nhưng tác giả chỉ lựa chọn

một số lý thuyết phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài. Xu hướng tiêu dùng

được đề cập đến dựa theo các nghiên cứu của Engle và cộng sự (1995), Fishbein và

Ajzen (1975), Ajzen (1991).

Hình 2.5. Mô hình xu hướng tiêu dùng

Nguồn : Dodds và cộng sự (1991).

27

Theo Engle và cộng sự (1995), hành vi mua của người tiêu dùng liên quan

đến suy nghĩ, cảm nhận và thái độ đối với sản phẩm dưới tác động của các tác nhân

marketing và yếu tố môi trường. Theo thuyết TRA do Fishbein và Ajzen (1975) xây

dựng, sau này được Ajzen (1991) phát triển thành thuyết hành vi dự định thì cho

rằng xu hướng hành vi người tiêu dùng chịu tác động bởi thái độ của người tiêu

dùng đối với sản phẩm và sức ép xã hội được cảm nhận. Tuy nhiên theo nghiên cứu

của Dodds và cộng sự (1991) thì xu hướng tiêu dùng chịu ảnh hưởng bởi cảm nhận

về chất lượng và giá cả sản phẩm.

2.6. Tổng quan các công trình nghiên cứu

Haynes G , Dunnagan T , Christopher S (2003), mục đích của cuộc điều tra

này là để xác định các yếu tố quyết định dựa trên một số các biến nhân khẩu học và

tâm lý trong một nhóm phụ nữ mang thai đến tiêu thụ rượu. Dữ liệu được thu thập

trên một mẫu phụ nữ mang thai, 232 người đã đồng ý để tham gia vào một chiến

dịch can thiệp phòng chống tác hại của rượu. Các biến quan tâm bao gồm các dân

tộc, tuổi tác, giáo dục, tình trạng hôn nhân, tình trạng sức khỏe, tình trạng việc làm.

Ngoài ra, các biến tâm lý đã được thu thập trong công tác hỗ trợ xã hội, vai trò trong

gia đình, sức khỏe tâm thần và sử dụng ma túy bất hợp pháp. Biến phụ thuộc là đã

sử dụng bất kỳ rượu trong thời gian mang thai và một thước đo lạm dụng được dựa

trên một số điểm tổng hợp, được tạo ra từ các câu hỏi liên quan đến hành vi tiêu

dùng rượu. Phân tích hồi quy Logistic cho thấy các biến độc lập (biến nhân khẩu

học và tâm lý) đã được tiên đoán là sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng rượu. Kết quả

cho thấy rằng chủng tộc, độ tuổi và tình trạng sức khỏe yếu ảnh hưởng đến xu

hướng sử dụng rượu và lạm dụng rượu. Các kết quả về các yếu tố tâm lý chưa thực

sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến sử dụng rượu. Tuy nhiên, có vấn đề tâm thần ảnh

hưởng tích cực đến việc lạm dụng rượu.

Crystal L. Park, Christoffer Grant (2005), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng

đến tiêu thụ rượu, giới tính, rủi ro tâm lý và yếu tố phòng ngừa đến hậu quả tích cực

và tiêu cực của các sinh viên đại học. Nghiên cứu 181 sinh viên đánh giá về số

lượng rượu được tiêu thụ, hậu quả tiêu cực và tích cực của sử dụng rượu và ảnh

hưởng tích cực và tiêu cực. Kết quả chỉ ra rằng đàn ông và phụ nữ khác biệt khi

đánh giá về hậu quả, việc tiêu thụ rượu để lại hậu quả đối với nam giới nhiều hơn

28

hẳn so với nữ giới. Hơn nữa, khi kiểm soát tiêu thụ rượu càng thắt chặt, hiệu quả thì

hậu quả từ việc tiêu thụ rượu sẽ giảm. Kết quả cho thấy rằng rủi ro tâm lý, yếu tố

phòng ngừa ảnh hưởng tích cực đến hậu quả của việc tiêu thụ rượu. Nghiên cứu này

là cuộc thảo luận về ý nghĩa cho những nỗ lực can thiệp đối với việc lạm dụng rượu.

Marques-Vidal P, Dias CM (2005), nghiên cứu hành vi tiêu thụ rượu ở Bồ

Đào Nha. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu đối với người có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên

tham gia tiêu dùng các loại rượu, bia. Kết quả cho thấy nhu cầu tiêu thụ rượu bia

của người dân mỗi tuần rất cao. Nam giới thường tiêu thụ những sản phẩm này cao

hơn nữ giới. Những người dưới 50 tuổi có xu hướng tiêu thụ rượu cao hơn những

người trên 50 tuổi. Trình độ giáo dục của đối tượng điều tra cũng liên quan tới xu

hướng tiêu dùng rượu bia ngày càng cao.

K. Michael Cummings, Geoffrey T. Fong, Ron Borland (2009), nghiên cứu

cho rằng có rất ít nghi ngờ rằng nghiện nicotin duy trì sử dụng thuốc lá và việc sử

dụng thuốc lá đáp ứng nhu cầu sinh học. Tuy nhiên, sự đa dạng hành vi sử dụng

thuốc lá quan sát giữa các quốc gia cho rằng yếu tố sinh học một mình hoàn toàn

không thể giải thích nhu cầu sử dụng thuốc lá. Nghiên cứu này xét vai trò của môi

trường xã hội trong sự hiểu biết hành vi sử dụng thuốc lá và những nỗ lực để kiềm

chế thuốc lá. Kết quả nghiên cứu kết luận rằng môi trường xã hội đóng một vai trò

quan trọng trong việc xác định các yếu tố sinh học đối với việc tham gia vào việc sử

dụng nicotin. Sử dụng thuốc lá được phản ánh như là sản phẩm của sự tương tác

giữa các đại lý và yếu tố môi trường. Chính sách chính phủ hay sự can thiệp kiểm

soát thuốc ảnh hưởng đến sự tương tác giữa các đại lý, nhà máy sản xuất, môi

trường và người sử dụng thuốc lá.

Sadan Caliskan (2009), nghiên cứu nhu cầu, khả năng và các yếu tố nhân

khẩu học và kinh tế-xã hội, các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu về thuốc lá. Mẫu

nghiên cứu 600 phiếu điều thu được từ cuộc khảo sát các đối tượng có liên quan đến

chất kích thích và cồn đã được sử dụng trong nghiên cứu này. Theo kết quả kinh tế

lượng mô hình Logistics, các yếu tố có tác động đáng kể về xác suất của việc hút

thuốc là giới tính, tốt nghiệp đại học, đến độ tuổi 50 trở lên, sử dụng thuốc lá của

người dân. Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu về thuốc là giới tính, thu nhập, tốt

29

nghiệp đại học, đa số người hút thuốc trong xã hội và sự hiện diện của người hút

thuốc trong gia đình.

Dias P, Oliveira A, Lopes C (2011), nghiên cứu này đo lường hành vi sử

dụng rượu, bia tại Bồ Đào Nha. Mẫu nghiên cứu là 1489 nữ và 925 Nam, là người

lớn, trưởng thành. Các câu hỏi điều tra xã hội học bao gồm tuổi, trình độ học vấn,

tình trạng thất nghiệp; hành vi cá nhân như hút thuốc, thể chất và chế độ ăn kiêng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy Nam giới thường có xu hướng lạm dụng rượu bia hơn

phụ nữ. Người lớn tuổi có xu hướng không sử dụng rượu bia nhiều hơn những

người trẻ và trưởng thành. Trình độ giáo dục thấp, sử dụng thuốc lá nhiều và ít ăn

kiêng ảnh hưởng tích cực đến nhu cầu và hành vi sử dụng, lạm dụng rượu bia.

Mahnoush Reisi và các cộng sự (2014), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng

đến việc hút thuốc dựa trên mô hình cấu trúc sức khỏe và niềm tin (HBM) của sinh

viên đại học Iran. Mẫu nghiên cứu bao gồm 382 sinh viên đại học, phương pháp

nghiên cứu sử dụng Chi2 và T-test. Kết quả nghiên cứu cho thấy thái độ và hành vi

của người hút thuốc và không hút thuốc có sự khác biệt. Các yếu tố chi phí, nhận

thức sức khỏe, lợi ích cộng đồng ảnh hưởng đến việc tiêu thụ thuốc lá.

Muli, N; Lagan, Briege M (2017) cho rằng để xã hội ngày càng phát triển thì

việc nghiên cứu hành vi ngày càng quan trọng. Mục đích của nghiên cứu này là

nghiên cứu xu hướng tiêu dùng thực phẩm có cồn của sinh viên trong độ tuổi 18-29

tại Northern Ireland. Kết quả nghiên cứu cho thấy để giảm nhu cầu và giảm lạm

dụng rượu trong tương lai cần tập trung thay đổi quan niệm xã hội và thái độ đối với

việc tiêu thụ chất có cồn. Nhân tố từ phía gia đình và môi trường xã hội có ảnh

hưởng đến việc lạm dụng rượu bia của giới trẻ.

Kang Y, Cheah, Rasiah R (2017), mục tiêu của nghiên cứu này là để kiểm tra

các yếu tố kinh tế-xã hội đến hành vi tiêu thụ rượu ở nam giới trưởng thành ở

Malaysia. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu đại diện trên toàn quốc bao gồm 13.756

người được hỏi đang sử dụng rượu. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi

quy logistic được áp dụng để kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ

rượu. Kết quả cho thấy độ tuổi càng trẻ, người có thu nhập cao hơn, yếu tố dân tộc,

trình độ giáo dục tốt, cư dân đô thị, nhân viên khu vực tư nhân, lao động tự do và

30

hút thuốc lá có liên quan đến một khả năng cao hơn của tiêu thụ rượu. Các nghiên

cứu về chủ đề này dường như có ý nghĩa quan trọng đối với thực thi chính sách.

31

Bảng 2.1. Tổng hợp các công trình nghiên cứu

Phương

Tác giả

Năm

Nội dung

Kết quả

pháp

Haynes G , Dunnagan

2003 Các yếu tố quyết định tiêu thụ

Chủng tộc, độ tuổi và sức khỏe ảnh hưởng đến xu

T , Christopher S

rượu trong một nhóm phụ nữ

hướng sử dụng rượu và lạm dụng rượu. Các yếu tố

Hồi quy

mang thai

tâm lý chưa thực sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến sử

Logistic

dụng rượu. Tuy nhiên, vấn đề tâm thần ảnh hưởng

tích cực đến việc lạm dụng rượu.

Crystal

L.

Park,

2005 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu

Hồi quy

Hậu quả đối với nam giới nhiều hơn hẳn so với nữ

Christoffer Grant

thụ rượu của các sinh viên đại

Logistic

giới. Hơn nữa, khi kiểm soát tiêu thụ rượu càng thắt

học

chặt, hiệu quả thì hậu quả từ việc tiêu thụ rượu sẽ

giảm. Rủi ro tâm lý, yếu tố phòng ngừa ảnh hưởng

tích cực đến hậu quả tiêu thụ rượu.

Marques-Vidal P, Dias

2005 Nghiên cứu hành vi tiêu thụ

Hồi quy

Nam giới, người dưới 50 tuổi thường tiêu thụ sản

CM (2005).

rượu ở Bồ Đào Nha

Logistic

phẩm này cao hơn. Trình độ giáo dục của đối tượng

điều tra cũng liên quan tới xu hướng tiêu dùng rượu

bia ngày càng cao.

32

Sadan Caliskan

2009 Nghiên cứu nhu cầu và khả

Hồi quy

Các yếu tố có tác động đáng kể về xác suất của việc

năng chi tiêu về thuốc lá

Logistic

hút thuốc là giới tính, tốt nghiệp đại học, đến độ tuổi

50 trở lên, sử dụng thuốc lá của người dân và thu

nhập. Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu về thuốc là

giới tính, thu nhập, tốt nghiệp đại học, người hút

thuốc trong xã hội và người hút thuốc trong gia đình.

K. Michael Cummings,

2009 Tác dộng của yếu tố môi

Hồi quy

Môi trường xã hội đóng một vai trò quan trọng trong

Geoffrey T. Fong, Ron

trường đến việc tham gia sử

Logistic

việc xác định các yếu tố sinh học đối với việc tham

Borland

dụng thuốc lá

gia vào việc sử dụng nicotin. Chính sách chính phủ

hay sự can thiệp kiểm soát thuốc ảnh hưởng đến sự

tương tác giữa các đại lý, nhà máy sản xuất, môi

trường và người sử dụng thuốc lá.

Dias P, Oliveira A,

2011 Đo lường hành vi sử dụng

Chi2 và T-

Nam giới và người lớn tuổi thường có xu hướng lạm

Lopes C

rượu, bia tại Bồ Đào Nha

test

dụng rượu bia. Trình độ giáo dục, sử dụng thuốc lá

nhiều và ít ăn kiêng ảnh hưởng tích cực đến nhu cầu

và hành vi sử dụng, lạm dụng rượu bia

Mahnoush Reisi và các

2014 Các yếu tố ảnh hưởng đến

Chi2 và T-

Thái độ và hành vi của người hút thuốc và không hút

cộng sự

việc hút thuốc của sinh viên

test

thuốc có sự khác biệt. Các yếu tố chi phí, nhận thức

đại học Iran

sức khỏe, lợi ích cộng đồng ảnh hưởng tiêu cực đến

33

việc tiêu thụ thuốc lá.

Kang Y, Cheah,

2017 Các yếu tố kinh tế-xã hội đến

Tuổi, thu nhập, dân tộc, trình độ giáo dục tốt, cư dân

Rasiah R

hành vi tiêu thụ rượu ở nam

Hồi quy

đô thị, nhân viên khu vực tư nhân, lao động tự do và

giới trưởng thành ở Malaysia

Logistic

hút thuốc lá có liên quan đến khả năng tiêu thụ rượu

cao hơn.

Muli, N; Lagan, Briege

2017 Xu hướng

tiêu dùng

thực

Hồi quy

Quan niệm xã hội, thái độ đối với việc tiêu thụ chất

M

phẩm có cồn của sinh viên

Logistic

có cồn, nhân tố từ phía gia đình và môi trường xã

trong độ tuổi 18-29 tuổi tại

hội có ảnh hưởng đến việc lạm dụng rượu bia của

Northern Ireland

giới trẻ.

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

34

Có thể thấy trong nghiên cứu này đối với những môi trường kinh tế, chính

sách và văn hóa, trình độ nhận thức khác nhau, kinh nghiệm, thời điểm nghiên cứu,

địa điểm nghiên cứu khác nhau … Có thể có những ảnh hưởng đối với các yếu tố

ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thực phẩm có hại cho sức khỏe (thuốc lá, rượu

bia). Có thể thấy yếu tố giới tính, trình độ, chủng tộc, độ tuổi, thu nhập, người hút

thuốc trong gia đình và xã hội, sức khỏe, chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến xu

hướng sử dụng rượu và lạm dụng rượu. Thái độ và hành vi của người hút thuốc và

không hút thuốc có sự khác biệt. Các yếu tố chi phí, nhận thức sức khỏe, lợi ích

cộng đồng ảnh hưởng tiêu cực đến việc tiêu thụ thuốc lá. Yếu tố tâm lý ảnh hưởng

tích cực đến việc lạm dụng rượu. Môi trường xã hội đóng một vai trò quan trọng

trong việc xác định các yếu tố sinh học đối với việc sử dụng nicotin. Khi kiểm soát

tiêu thụ rượu bia càng thắt chặt, hiệu quả thì hậu quả từ việc tiêu thụ rượu bia sẽ

giảm. Chính sách chính phủ hay sự can thiệp kiểm soát thuốc ảnh hưởng đến sự

tương tác giữa các đại lý, nhà máy sản xuất, môi trường và người sử dụng thuốc lá.

Như vậy mô hình nghiên cứu của tác giả sẽ dựa trên nền tảng lý thuyết hành vi

người tiêu dùng, quyết định và xu hướng tiêu dụng và nghiên cứu các công trình

nghiên cứu có liên quan về hành vi sử dụng hàng hóa đặc biệt có hại cho sức khỏe

như thuốc lá và chất liên quan đến cồn. Nghiên cứu kế thừa, bổ sung và phát triển

trên nền tảng các nghiên cứu như: Muli, N; Lagan, Briege M (2017); Kang Y,

Cheah, Rasiah R (2017), Sadan Caliskan (2009) và tham khảo các công trình nghiên

cứu khác có liên quan. Các biến độc lập chia thành hai nhóm: (1) yếu tố người tiêu

dùng và (2) yếu tố môi trường xã hội. Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

và mô hình hồi quy Bianary Logistics thông qua phần mềm SPSS trích xuất dữ liệu

phân tích nghiên cứu để bàn luận, kiến nghị giải pháp.

35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong chương này, tác giả trình bày lý thuyết hàng hóa có hại cho sức khỏe

(thuốc lá, rượu bia), khái niệm hành vi người tiêu dùng, mô hình lý thuyết hành vi

tiêu dùng, quyết định và xu hướng tiêu dùng và nghiên cứu các công trình nghiên

cứu có liên quan về hành vi sử dụng hàng hóa đặc biệt có hại cho sức khỏe như

thuốc lá và chất liên quan đến cồn. Từ đó đưa ra hướng nghiên cứu định lượng với

các biến độc lập chia thành hai nhóm: (1) yếu tố người tiêu dùng và (2) yếu tố môi

trường xã hội. Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và mô hình hồi quy

Bianary Logistics thông quan phần mềm SPSS trích xuất dữ liệu phân tích nghiên

cứu để bàn luận, kiến nghị giải pháp.

36

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng rượu bia

và thuốc lá bao gồm 03 bước cơ bản. Bước 1 bao gồm các vấn đề cơ bản sau: xác

định mục tiêu nghiên cứu, thu thập dữ lệu thứ cấp, cơ sở lý thuyết và lược khảo các

công trình nghiên cứu. Bước 2 thực hiện các nội dung xây dựng mô hình nghiên

cứu, thu thập dữ liệu và thực hiện các kỹ thuật xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS

IBM 22 đối với mô hình hồi quy Bianary logistics. Bước 3 trích xuất kết quả nghiên

Xác định mục tiêu nghiên cứu

Thu thập tài liệu sơ cấp

Cơ sở lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu

Xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thiết

Xác định mẫu nghiên cứu, thu thập và làm sạch dữ liệu.

cứu, thảo luận kết quả nghiên cứu và đưa ra hàm ý quản trị.

Kiểm định sự phù hợp tổng quát Kiểm định ý nghĩa của mô hình hồi quy Kiểm định sự phù hợp của mô hình Phân tích mô hình hồi quy

Xử lý số liệu

Kết quả nghiên cứu, kiến nghị

Hình 3.1. Sơ đồ quy trình nghiên cứu

37

3.2. Mẫu nghiên cứu

Trong nghiên cứu này tác giả lựa chọn kết hợp 02 phương pháp chọn mẫu là

thuận tiện và ngẫu nhiên (hay còn gọi là chọn mẫu xác suất) là phương pháp chọn

mẫu khi khả năng được chọn của tất cả các đơn vị vào tổng thể là như nhau. Phương

pháp này là phương pháp khá tốt để người nghiên cứu có thể lựa chọn ra một mẫu

có khả năng đại diện cho tổng thể nghiên cứu trong điều kiện thời gian và kinh phí

có hạn. Bên cạnh đó vì có khả năng tính được sai số do chọn mẫu do vậy ta có thể

áp dụng được các phương pháp ước lượng thống kê, kiểm định giả thuyết thống kê

trong xử lý dữ liệu để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung. Trong nghiên

cứu này tác giả lựa chọn 600 khách hàng đại diện các khách hàng thường xuyên

mua hàng tại các cửa hàng và đại lý trên địa bàn tỉnh BR-VT.

3.3. Mô hình nghiên cứu và các giả thiết

Mô hình nghiên cứu của tác giả dựa trên nền tảng lý thuyết hành vi người

tiêu dùng, quyết định và xu hướng tiêu dụng và nghiên cứu các công trình nghiên

cứu có liên quan về hành vi sử dụng hàng hóa đặc biệt có hại cho sức khỏe như

thuốc lá và chất liên quan đến cồn. Nghiên cứu kế thừa, bổ sung và phát triển trên

nền tảng các nghiên cứu như: Muli, N; Lagan, Briege M (2017); Kang Y, Cheah,

Rasiah R (2017), Sadan Caliskan (2009) và tham khảo các công trình nghiên cứu

của Haynes G, Dunnagan T, Christopher S (2003), Crystal L. Park, Christoffer

Grant (2005), K. Michael Cummings, Geoffrey T. Fong, Ron Borland (2009), Dias

P, Oliveira A, Lopes C (2011), Mahnoush Reisi và các cộng sự (2014) trong môi

trường nghiên cứu tại quốc gia đang phát triển như Việt Nam với tốc độ gia tăng

dân số nhanh, nhu cầu tiêu dùng cao và số lượng người tiêu dùng thuốc lá và rượu

bia tăng lên nhanh chóng, kéo theo đó là sự sụt giảm về thu nhập, gia tăng tỷ lệ mắc

bệnh. Mô hình sử dụng là mô hình hồi quy Logistics xác định xác suất người tiêu

dùng chi tiêu cho thuốc lá và rượu bia được phân chia thành nhân tố cá nhân và xã

hội. Mô hình nghiên cứu cụ thể như sau:

38

Bảng 3.1. Biến nghiên cứu và các thang đo

Kỳ Đo lường biến Nguồn Biến vọng

Biến phụ thuộc

Hành vi sử dụng 0= không sử dụng rượu bia Muli, N; Lagan, Briege rượu bia 1= sử dụng rượu bia M (2017); Kang Y, (TDBIA) Cheah, Rasiah R Hành vi sử dụng 0= không sử dụng thuốc lá (2017), Sadan Caliskan thuốc lá 1= sử dụng thuốc lá (2009) (TDTHUOCLA)

Biến độc lập

Độ tuổi của người tiêu dùng Kang Y, Cheah, Rasiah

Tuổi (TUOI) (năm) R (2017), Sadan +/-

Caliskan (2009)

Tình trạng hôn nhân của Hôn nhân Muli, N; Lagan, Briege người tiêu dùng (1= đã kết + (HONNHAN) M (2017) hôn, 0= độc thân hoặc ly hôn)

Giới tính của người tiêu dùng Crystal L. Park,

(1= Nam, 0= Nữ) Christoffer Grant Giới tính (2005), Kang Y, + (GIOITINH) Cheah, Rasiah R

(2017).

Thu nhập Thu nhập thực tế của người Sadan Caliskan (2009) + (THUNHAP) tiêu dùng (nghìn đồng).

Thu nhập bình Bình phương thu nhập thực tế

phương của người tiêu dùng (nghìn Sadan Caliskan (2009) +

(THUNHAP2) đồng).

Nghề nghiệp Tình trạng nghề nghiệp của Crystal L. Park, + (NGHENGHIEP) người tiêu dùng. Trong đó 1= Christoffer Grant

39

Có việc làm, 0= không có (2005), K. Michael

việc làm Cummings, Geoffrey

T. Fong, Ron Borland

(2009).

Cấp độ học vấn của người tiêu

Trình độ dùng. 1= Trình độ THPT trở Dias P, Oliveira A, + (TRINHDO) xuống, 0= trình độ THPT trở Lopes C (2011)

lên

Sự hiện diện của người thân

Người thân sử đối với hành vi sử dụng. Crystal L. Park,

dụng Trong đó 1= có người sử Christoffer Grant +

(NGUOITHAN) dụng, 0= không có người sử (2005)

dụng.

Mức độ quản lý của cơ quan

Quản lý thị chính quyền đối với mối quan K. Michael Cummings,

trường hệ giữa nhà máy, đại lý và Geoffrey T. Fong, Ron -

(QUANLY) người tiêu dùng (1= chặt chẽ, Borland (2009).

0= lỏng lẻo)

Chi phí Mức độ chi tiêu (1= chi tiêu Dias P, Oliveira A, - (CHIPHI) cao, 0=bình thường) Lopes C (2011)

Mức độ thường xuyên tiếp

Tiếp cận thông cận thông tin đối với tác hại Mahnoush Reisi và các - tin (THONGTIN) của thuốc lá và rượu bia (1= cộng sự (2014)

Thường xuyên; 0= thi thoảng)

3.4. Phương pháp xử lý số liệu

Nghiên cứu này sử phương pháp phân tích định lượng nhằm phân tích xác

suất tiêu dùng thuốc lá và rượu bia của người tiêu dùng. Số liệu được xử lý bằng

phần mềm Excel, phần mềm SPSS 21 IBM để xử lý thống kê mô tả và phương pháp

xây dựng mô hình Bianary logistics để đánh giá tác động của các nhân tố đến xác

suất tiêu dùng thuốc lá và rượu bia của người tiêu dùng.

40

Phân tích thống kê mô tả

Trên cơ sở thu thập dữ liệu, tác giả tiến hành tính toán và mã hoá các biến

trên phần mềm Excel, sau đó nhập dữ liệu vào phần mềm SPSS IBM 21 thực hiện

thống kê mô tả. Nội dung phân tích thống kê mô tả là tóm tắt các đặc trưng của dữ

liệu phản ánh một cách tổng quát tình hình: giá trị trung bình, giá trị trung vị, giá trị

lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, độ lệch chuẩn…

Phân tích mô hình hồi quy Logit

ln [

] = 𝑎 + 𝑋𝛽 + 𝑢

𝑃 1 − 𝑃

Mô hình Logit có dạng phương trình như sau:

Với P là giá trị của biến phụ thuộc nằm trong khoảng từ 0 đến 1, X là biến

độc lập với hệ số hồi quy β, α là hệ số tự do trong mô hình và u đại diện cho yếu tố

𝑃 =

1 1 + 𝑒−( 𝑎+𝑋𝛽+𝑢 )

nhiễu. Từ phương trình trên ta có:

Khi X → + ∞, P → 1 và khi X → - ∞, thì P → 0. Do đó, P sẽ nằm trong

khoảng [0,1]. Phương thức ước lượng mô hình phụ thuộc vào giá trị quan sát P có

nằm giữa 0 và 1 hay không, hoặc là đó có phải là số nhị nguyên có giá trị 0 hoặc 1

hay không. Trong trường hợp mà P đúng là nằm giữa khoảng 0 và 1, phương pháp

𝑌 = ln [

]

𝑃 1 − 𝑃

chỉ đơn giản là biến đổi P và thu được:

Tiếp theo cần lấy hồi qui Y theo một hằng số và X (có thể dễ dàng thêm vào

nhiều biến giải thích). Tuy nhiên, nếu P là số nhị nguyên, thì lôgarít của P/(1 – P) sẽ

không thể xác định được khi P có giá trị hoặc 0 hoặc 1. Phương pháp ước lượng

thích hợp cực đại hạn chế được vấn đề này. Tác động cận biên của X lên P được

tính toán bằng cách lấy đạo hàm riêng phần của P theo X. Tác động cận biên ước

Δ𝑃

=

Δ𝑋

𝛽𝑒 −( 𝑎+ 𝛽𝑋) [ 1+ 𝑒 −(𝑎+ 𝛽𝑋)]2 = 𝛽𝑃(1 − 𝛽)

lượng được cho như sau:

41

Kiểm định mô hình

Kiểm định độ phù hợp tổng quát

Ở hồi quy Binary logistic, ta dùng kiểm định Chi-square để kiểm định giả thuyết

Ho: p1= p2 = … = pk = 0. Căn cứ vào mức ý nghĩa mà SPSS đưa ra trong bảng

Omnibus Tests of Model Coefficients để quyết định bác bỏ hay chấp nhân H0.

Kiểm định ý nghĩa của các hệ số hồi quy

Hồi quy Binary Logistic đòi hỏi kiểm định giả thuyết hệ số hồi quy khác không, tức

là xác suất để sự kiện xảy ra hay không xảy ra là không như nhau.

Để kiểm định ý nghĩa thống kê của hệ số hồi quy tổng thể, đại lượng Wald Chi

Square được sử dụng. Mức ý nghĩa P < 0,05 cho kiểm định Wald sẽ bác bỏ giả

thuyết các hệ số hồi quy đều bằng 0.

Độ phù hợp của mô hình

Độ phù hợp của mô hình được đo lường dựa trên chỉ tiêu -2LL (-2 Log Likelihood),

chỉ tiêu này có giá trị càng nhỏ càng tốt, nghĩa là giá trị -2LL càng nhỏ càng thể

hiện độ phù hợp cao. Giá trị nhỏ nhất của -2LL là 0 (tức là không có sai số), khi đó

mô hình có một độ phù hợp hoàn hảo.

Ngoài ra, có thể xác định được mô hình dự đoán tốt đến đâu qua bảng phân loại.

Bảng này sẽ so sánh trị số thực và trị số dự đoán cho từng biểu hiện, từ đó đánh giá

tỷ lệ dự đoán đúng của toàn bộ mô hình.

42

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Khái quát việc sử dụng rượu bia, thuốc lá ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ, Việt

Nam. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, ở vị trí cửa ngõ ra biển Đông

của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ, Bà Rịa - Vũng Tàu kết nối thuận

lợi với thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác bằng đường bộ, đường

không, đường thủy và đường sắt. Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới

gió mùa; một năm chia hai mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10,

thời gian này có gió mùa Tây Nam. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm

sau, thời gian này có gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27°C,

tháng thấp nhất khoảng 24,8°C, tháng cao nhất khoảng 28,6°C. Số giờ nắng rất cao,

trung bình hàng năm khoảng 2400 giờ. Lượng mưa trung bình 1500mm. Bà Rịa -

Vũng Tàu nằm trong vùng ít có bão.

Bà Rịa - Vũng Tàu có 7 đơn vị hành chính nằm trên đất liền và một đơn vị

hành chính hải đảo là huyện Côn Đảo. Địa hình tỉnh có thể chia làm 4 vùng: bán

đảo hải đảo, vùng đồi núi bán trung du và vùng thung lũng đồng bằng ven biển. Bán

đảo Vũng Tàu dài và hẹp với diện tích 82,86 km2, độ cao trung bình 3-4m so với

mặt biển. Hải đảo bao gồm quần đảo Côn Lôn và đảo Long Sơn. Vùng đồi núi bán

trung du nằm ở phía Bắc và Đông Bắc tỉnh phần lớn ở huyện Tân Thành, Châu

Đức, Xuyên Mộc. Ở vùng này có vùng thung lũng đồng bằng ven biển bao gồm một

phần đất của các huyện Tân Thành, Long Điền, Bà Rịa, Đất Đỏ. Khu vực này có

những đồng lúa nước, xen lẫn những vạt đôi thấp và rừng thưa có những bãi cát ven

biển. Thềm lục địa rộng trên 100.000 km2. Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh đạt

gần 1.150.200 người, mật độ dân số đạt 516 người/km². Dân số nam đạt 513.410

người, trong khi đó nữ đạt 513.800 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa

phương tăng 8,9 ‰.

Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hoạt động

kinh tế của Tỉnh trước hết phải nói về tiềm năng dầu khí. Trên thềm lục địa Đông

Nam Bộ, tỉ lệ các mũi khoan thăm dò, tìm kiếm gặp dầu khí khá cao, tại đây đã phát

hiện các mỏ dầu có giá trị thương mại lớn như: Bạch Hổ (lớn nhất Việt Nam),

Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông. Đương nhiên xuất khẩu dầu đóng góp một phần quan

43

trọng trong GDP của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là nơi hội tụ

nhiều tiềm năng để phát triển như: có 93% tổng trữ lượng dầu mỏ và 16% tổng trữ

lượng khí thiên nhiên của cả nước, được Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng hệ

thống cảng biển quốc gia và quốc tế hiện đại, nằm trong vùng trọng điểm của

Chương trình du lịch quốc gia. Ngoài lĩnh vực khai thác dầu khí, Bà Rịa-Vũng Tàu

còn là một trong những trung tâm năng lượng, công nghiệp nặng, du lịch, cảng biển

của cả nước. Trung tâm điện lực Phú Mỹ và Nhà máy điện Bà Rịa chiếm 40% tổng

công suất điện năng của cả nước (trên 4000 MW trên tổng số gần 10.000 MW của

cả nước). Công nghiệp nặng có: sản xuất phân đạm urê (800.000 tấn năm), sản xuất

polyetylen (100.000 tấn/năm), sản xuất clinker, sản xuất thép (hiện tại tỉnh có hàng

chục nhà máy lớn đang hoạt động gồm VinaKyoei, Pomina, Thép miền Nam (South

Steel), Bluescopes, Thép Việt, Thép Tấm (Flat Steel), Nhà máy thép SMC và Posco

Vietnam đang thi công nhà máy thép cán nguội.

Trong những năm qua, mặc dù đối mặt với nhiều thách thức nhưng tỉnh Bà

Rịa-Vũng Tàu đã nỗ lực khắc phục khó khăn, đạt được những thành quả quan trọng.

Có 56/71 chỉ tiêu đạt và vượt so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V đề

ra. Kinh tế phát triển đúng định hướng, hệ thống cảng biển được đầu tư mạnh mẽ,

thu hút nhiều dự án chất lượng cao… Tuy nhiên trong thời gian qua, tỉnh Bà Rịa-

Vũng Tàu vẫn còn 15/71 chỉ tiêu chủ yếu đạt thấp so với nghị quyết. Phát triển cảng

biển, dịch vụ hậu cần cảng, du lịch chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh.

Nhiều dự án chậm triển khai nhưng chưa được thu hồi, công nghiệp hỗ trợ chậm

phát triển, cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu, môi trường đầu tư chậm được cải

thiện…Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm; tăng trưởng kinh tế chưa tương

xứng với tiềm năng, lợi thế về du lịch, thương mại, dịch vụ của tỉnh. Chất lượng

một số quy hoạch còn thấp, chưa đồng bộ. Công nghiệp tuy đã phát triển nhưng

chưa xác định được sản phẩm công nghiệp chủ lực để thu hút, phát triển các ngành

công nghiệp hỗ trợ. Môi trường đầu tư chưa được cải thiện nhiều, thu hút vốn đầu

tư nước ngoài có biểu hiện chững lại, còn nhiều dự án đầu tư triển khai chậm, vốn

thực hiện thấp. Công tác quản lý đất đai, khai thác tài nguyên, khoáng sản ở một số

nơi thiếu chặt chẽ, gây thất thoát; ô nhiễm môi trường chậm được khắc phục. Hạ

tầng giao thông kết nối chưa đồng bộ, khai thác công suất hệ thống cảng biển còn

44

thấp. Chưa phát huy mạnh, hiệu quả, bền vững thế mạnh về du lịch, dịch vụ. Việc

ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp còn ít; thiếu sự liên kết giữa các

khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Trong những năm gần đây, chính quyền địa phương tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

đã cùng với người dân tăng cường công tác phòng chống tác hại của thuốc lá và

rượu bia tại cơ quan, đơn vị từ cấp cơ sở. Sự vào cuộc của lãnh đạo HĐND, UBND,

các cơ quan, đơn vị, địa phương đã mang lại những hiệu quả nhất định trong công

tác tuyên truyền nhận thức tác hại của rượu bia và thuốc lá. Song, có thể thấy rằng,

mặc dù ra quân mạnh song hiệu quả không cao, xuất phát từ nhiều nguyên nhân

khác nhau, là trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền HĐND, UBND các cấp

và người dân địa phương. Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu đối với hành vi

người tiêu dùng, tuy nhiên nghiên cứu về hành vi tiêu dùng hàng hóa, thực phẩm có

hại có sức khỏe lại vô cùng hiếm hoi; chưa có công trình nào đưa ra được mô hình

thống nhất đối với hành vi tiêu dùng loại hàng hóa thực phẩm này nói chung và

phân loại các yếu tố quyết định tiêu dùng nói riêng. Do vậy tác giả đã tiến hành xây

dựng mô hình các yếu tố và khảo sát thực nghiệm 600 khách hàng mua hàng tại các

cửa hàng tạp hóa trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nhằm mục đích tiếp cận hành

vi sử dụng và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng. Dưới đây là tổng thể mẫu khảo sát

nghiên cứu.

Bảng 4.1. Kết quả thống kê từ khảo sát

Chỉ tiêu Tần suất Tỷ lệ %

Giới tính

Nam 240 40.0

Nữ 360 60.0

Tuổi

Trên 30 tuổi 251 41.8

Dưới 30 tuổi 349 58.2

Trình độ

THPT trở xuống 214 35.7

TCCN trở lên 386 64.3

Bảo hiểm

45

Không 406 67.7

Có 194 32.3

Thu nhập

Dưới 5 triệu 334 55.7

Trên 5 triệu 266 44.3

Nghề nghiệp

Thất nghiệp 219 36.5

Có nghề nghiệp 381 63.5

Hôn nhân

Độc thân, ly hôn 337 56.2

Đã kết hôn 263 43.8

Bệnh tật

Không có bệnh 275 45.8

Gan 59 9.8

Tiêu hóa 67 11.2

Phổi 97 16.2

Thận 47 7.8

Bệnh khác 55 9.2

Nguồn: Thống kê SPSS IBM 21

Theo bảng 4.1, kết quả thống kê dữ liệu đối tượng tham gia khảo sát có 240

đối tượng điều tra là khách hàng nữ chiếm 40% trong tổng số mẫu nghiên cứu.

Trong khi đó khách hàng nam đến mua hàng tại các cửa hàng tạp hóa là 360 người

chiếm 60%. Mẫu nghiên cứu cho thấy sự chênh lệch giới tính nam, nữ đối với việc

mua các sản phẩm thực phẩm có hại cho sức khỏe như thuốc lá, rượu bia. Đối tượng

nữ thông thường đến các cửa hàng tạp hóa mua hàng phục vụ chủ yếu cho nhu cầu

người nam giới hơn là tự phục vụ nhu cầu của bản thân đối với loại hàng hóa này.

Theo kết quả khảo sát thì có thể thấy đối tượng khảo sát chủ yếu là các thanh

niên dưới 30 tuổi. Cụ thể, có 349 người tham gia khảo sát có độ tuổi dưới 30 tuổi

chiếm 58.2%, đối tượng khảo sát độ tuổi trên 30 tuổi có 251 người chiếm 41.8%

trong tổng số mẫu nghiên cứu. Độ tuổi của đối tượng điều tra dao động từ 18 cho

đến 65 tuổi và độ tuổi trung bình của tổng thể mẫu nghiên cứu là 33.8 tuổi, độ tuổi

46

trung bình khá cao. Độ tuổi trung bình của nhóm thanh niên dưới 30 tuổi là 23.8

tuổi, trong khi nhóm trên 30 tuổi có độ tuổi trung bình đạt 47.4 tuổi. Như vậy đối

với nhóm trên 30 tuổi có độ tuổi trung bình khá cao. Trong nhóm này tỷ lệ khách

hàng quyết định sử dụng rượu bia, thuốc lá là 135 người chiếm 22.5% mẫu nghiên

cứu, đối với nhóm thanh niên dưới 30 tuổi có 234 khách hàng quyết định sử dụng

rượu bia, thuốc lá chiếm 39% tổng số đối tượng điều tra nghiên cứu. Trong cả 2

nhóm tuổi thì khách hàng có nhu cầu sử dụng rượu bia, thuốc lá đa phần là Nam

giới. Đa phần đối tượng điều tra không có bảo hiểm y tế, có 406 người không tham

gia bảo hiểm y tế (BHYT) chiếm 67.7%, điều này ảnh hưởng đến việc khám, kiểm

tra sức khỏe, điều trị chữa bệnh, ngăn ngừa tác hại của rượu bia và thuốc lá.

Qua số liệu cho thấy trình độ học vấn đối tượng nghiên cứu còn hạn chế,

điều này ảnh hưởng đến nhận thức về sử dụng rượu bia, thuốc lá và tác hại của

chúng. Kết quả phân tích dữ liệu cho thấy có 214 người có trình độ THPT trở

xuống, chiếm 35.7% tổng số mẫu khảo sát, trong nhóm này có tới 87 người có trình

độ từ THCS trở xuống và 127 người có trình độ tốt nghiệp THPT. Trình độ TCCN

trở lên có 386 người chiếm 64.3%, trong nhóm này có 106 người tốt nghiệp TCCN

chiếm 17.66% trong tổng thể mẫu nghiên cứu, 165 người trình độ cao đẳng chiếm

27.5%, 92 người có trình độ đại học chiếm 15.33% và 23 người có trình độ sau đại

học chiếm 3.83%. Qua số liệu cho thấy trình độ học vấn đối tượng nghiên cứu còn

hạn chế, điều này ảnh hưởng đến nhận thức về sử dụng rượu bia, thuốc lá và tác hại

của chúng.

Có thể thấy số người đã lập gia đình khá cao trong khi thu nhập nhìn chung

là trung bình thấp, nghề nghiệp thiếu ổn định, cũng như thói quen sử dụng và lạm

dụng rượu bia trong cuộc sống sinh hoạt dẫn đến những hệ lụy khôn lường về cuộc

sống, sức khỏe lối sống, văn hóa cũng như trật tự an ninh xã hội. Cụ thể: Thu nhập

của đối tượng khách hàng tham gia khảo sát dao động trong khoảng 0 đồng/khách

hàng đến 21.6 triệu đồng/khách hàng. Như vậy trong tổng thể mẫu nghiên cứu đều

có chứa cả người thu nhập thấp, thu nhập trung bình và thu nhập cao. Thu nhập

trung bình của khách hàng đạt 5.24 triệu/khách hàng. Nhóm khách hàng thu nhập

dưới 5 triệu có 334 người chiếm 55.7% mẫu nghiên cứu. Trong nhóm này 26 người

là đối tượng có thu nhập bằng 0 nghĩa là họ đang còn là học sinh – sinh viên, chiếm

47

4.3% trong tổng thể mẫu nghiên cứu, nhóm thu nhập thấp có mức thu nhập trung

bình là 3.1 triệu đồng. Đối tượng của nhóm thu nhập thấp chủ yếu là nội trợ, học

sinh sinh viên, công nhân, thất nghiệp (lao động tự do) và làm nông. Đối tượng thất

nghiệp thường làm các công việc như xe ôm, bốc vác, vận tải, làm việc theo yêu

cầu, đối tượng này chiếm khoảng 46.2% trong tổng số đối tượng nghiên cứu có thu

nhập thấp. Đối với nhóm thu nhập trung bình, thu nhập cao có 266 khách hàng

chiếm 44.3%. Nhóm này có mức thu nhập trung bình 7.8 triệu đồng/tháng. Trong

đó số khách hàng có mức thu nhập trung bình trên 10 triệu có 44 người (chủ doanh

nghiệp, thương nhân, tiểu thương) chiếm 7.3% trong tổng thể mẫu nghiên cứu, như

vậy đối tượng thu nhập từ 5 triệu đến dưới 10 triệu có 222 người chiếm 37%. Đối

tượng của nhóm thu nhập này chủ yếu là công chức, viên chức, hưu trí, nhân viên

văn phòng, thương nhân, tiểu thương và chủ doanh nghiệp. Trong tổng thể 600 mẫu

nghiên cứu thì có 337 khách hàng tham gia khảo sát chưa lập gia đình chiếm 56.2%,

trong khi đó số khách hàng đã lập gia đình có 263 người chiếm 43.8%.

Nhìn vào tổng thể mẫu nghiên cứu có thể thấy rằng tình trạng sức khỏe của

tổng thể khách hàng chưa đảm bảo, nhiều khách hàng mắc những chứng bệnh

nghiêm trọng như viêm phổi, gan, thận và tiêu hóa. Theo kết quả thống kê khảo sát

các khách hàng mua hàng tại các cửa hàng tạp hóa thì có 275 khách hàng là không

có bệnh tật gì, chiếm 45% tổng số khách hàng tham gia khảo sát, 97 khách hàng có

biểu hiện liên quan đến bệnh viêm phổi, hô hấp chiếm 16.2%, bệnh tiêu hóa chiếm

11.2%, bệnh gan, thận lần lượt chiếm 9.8% và 7.8%, còn lại 9.2% là các bệnh khác.

Điều này đưa ra cảnh báo đối với khách hàng sử dụng rượu bia, thuốc lá về tác hại

vô cùng lớn của nó không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, thu nhập của

công việc mà ảnh hưởng đến người xung quanh; đặc biệt là người thân trong chính

gia đình đối tượng điều tra.

Bảng 4.2. Thống kê hành vi của khách hàng

Chỉ tiêu Tần suất Tỷ lệ %

Người thân sử dụng

Không có người sử dụng 209 34.8

Có người sử dụng 391 65.2

Quản lý thị trường

48

185 Quản lý lỏng lẻo 30.8

415 Quản lý chặt chẽ 69.2

Chi tiêu

169 Bình thường 28.2

431 Chi tiêu cao cho thuốc lá, rượu bia 71.8

Tiếp cận thông tin

145 Thi thoảng 24.2

455 Thường xuyên 75.8

Nguồn tiếp cận thông tin

123 Tivi 20.5

104 Băng rôn, áp phích 17.3

116 Đài, loa phường 19.3

81 Internet 13.5

85 Di động 14.2

33 Truyền thanh, lưu động 5.5

30 Sách báo, tạp chí 5.0

28 Truyền miệng 4.7

Nhân thức tác hại

154 Không rõ lắm 25.7

333 Rất hiểu 55.5

113 Bình thường 18.8

Quyết định sử dụng thuốc lá

270 Không sử dụng thuốc lá 45.0

330 Có sử dụng thuốc lá 55.0

Quyết định sử dụng rượu bia

248 Không sử dụng rượu bia 41.3

352 Có sử dụng rượu bia 58.7

Nguồn: Thống kê SPSS IBM 21

Thống kê về hành vi khách hàng khi sử dụng rượu bia và thuốc lá bảng 4.2

cho thấy khách hàng có xu hướng sẵn sàng chi tiêu, sử dụng rượu bia, thuốc lá trong

sinh hoạt hàng ngày. Cụ thể có 330 đối tượng khách hàng có sử dụng thuốc lá

49

chiếm tỷ lệ 55%, có 352 người sử dụng rượu bia chiếm 58.7% trong tổng số 600

mẫu khảo sát. Số lượng nữ khách hàng sử dụng rượu bia là khá cao, có 103 khách

hàng nữ chiếm 17.16%; trong khi đó khách hàng Nam chiếm 44.34%. Đối tượng

chi tiêu cho thuốc lá, rượu bia hầu hết là các đối tượng có thu nhập trung bình. Độ

tuổi sử dụng thuốc lá, rượu bia có xu hướng hướng tới đối tượng học sinh, sinh

viên, thanh niên và độ tuổi dưới 30. Các đối tượng tham gia khảo sát hầu hết có

người thân là người sử dụng thuốc lá, rượu bia. Cụ thể, có 464 khách hàng trả lời có

người thân sử dụng thực phẩm có hại cho sức khỏe (thuốc lá, rượu bia) chiếm

77.3% tổng số mẫu nghiên cứu. Trong khi đó số người không thừa nhận là 22.7%.

Có thể thấy rằng rượu bia có mặt trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, khá phổ

biến nhất là trong tiệc tùng, công việc làm ăn của người dân. Nhiều người cho rằng

đây là phương tiện để giao tiếp, xích lại các mối quan hệ trong cuộc sống. Do vậy

con số người thừa nhận người thân không sử dụng đó vẫn là con số khá khiêm tốn.

Tuy nhiên có thể thấy rằng việc người thân không sử dụng rượu bia, thuốc lá sẽ ảnh

hưởng đến hành vi sử dụng của người khác trong gia đình. Không sử dụng rượu bia

đồng nghĩa với việc người khác không có nhu cầu hoặc giảm nhu cầu đối với việc

sử dụng chúng. Điều này tác động đến cải thiện chất lượng cuộc sống, kinh tế gia

đình, hài hòa các mối quan hệ và tránh những hành vi ảnh hưởng đến văn hóa lối

sống, đạo đức và hành vi bạo lực trong gia đình và xã hội.

Xét về khía cạnh quản lý nhà nước đối với hoạt động tiêu dùng, sử dụng

rượu bia và thuốc lá, chỉ có 415 khách hàng đánh giá là QLNN đối với hoạt động

này là chặt chẽ, chiếm 69.2%. Có thể thấy trên địa bàn tỉnh, có nhiều cửa hàng kinh

doanh bia rượu, thuốc lá đủ chủng loại và giá cả được trưng bày, bày bán trên các

kệ hàng hóa, thậm chí bày biện nơi khách hàng có thể dễ dàng nhìn thấy nhất, một

số cửa hàng thậm chí còn treo băng rôn quảng cáo các loại bia rượu và thuốc lá mà

chưa nhận thức được hoặc cố tình vi phạm quy định của pháp luật trong quản lý

thực phẩm có hại cho sức khỏe, đặc biệt là rượu bia, thuốc lá; mặc dù lực lượng

chức năng nhắc nhở nhưng sự việc này vẫn tiếp tục tái diễn.

Trong khi đó, trình độ dân trí trên địa bàn tỉnh chưa được nâng cao, nhận

thức về tác hại của rượu bia, thuốc lá trong những năm gần đây có xu hướng cải

thiện, tuy nhiên việc sử dụng rượu bia, thuốc lá lại không ngừng gia tăng. Kết quả

50

khảo sát cho thấy 267 đối tượng tham gia khảo sát chiếm 44.5% đối tượng điều tra

chưa hiểu rõ được tác hại của việc sử dụng rượu bia, thuốc lá, còn chủ quan trong

quan điểm và suy nghĩ. Nguồn thông tin mà các đối tượng điều tra được tiếp cận với

các tác hại, quy định về sử dụng thuốc lá, rượu bia, chất có cồn thông qua 05 kênh

cơ bản như: Tivi, Internet, di động, băng rôn áp phích, đài loa phường. Trong đó

kênh Tivi, băng rôn áp phích, đài loa phường chiếm tỷ lệ cao nhất. Trong khi các

kênh truyền thanh lưu động, sách báo, tạp chí cũng như truyền miệng lại rất hạn

chế.

Người tiêu dùng đang đối mặt với các tác hại của rượu bia, thuốc lá trong đời

sống, thậm chí còn phải đối mặt lớn hơn nữa với tình trạng hàng giả, hàng kém chất

lượng và nhập lậu, thực phẩm bẩn, hóa chất độc hại. Kết quả đi khảo sát một số cửa

hàng trong vai khách hàng cho thấy các cửa hàng trưng bày trên kệ nhiều loại rượu

ngoại đắt tiền, thương hiệu nổi tiếng như: Chivas, Johnnie Walker, Macallan,

Ballantine’s, Martell, Royal Salute, Hennessy và các loại rượu vang nhập khẩu từ

Mỹ, Áo, Chile, Pháp, Singapore, Bungary. Hầu hết các chai rượu đều được dán tem

hàng nhập khẩu, có tem khá mới, có tem đã cũ, nhàu nát. Một số chai rượu ngoại có

dán phụ đề tiếng Việt nhưng chữ nhỏ li ti, nhập nhèm; còn những chai in toàn chữ

nước ngoài thì không thấy ghi rõ nơi sản xuất, thành phần, nguyên liệu, nồng độ cồn

cụ thể. Trên thị trường hiện nay khá nhiều rượu ngoại bị làm giả hoàn toàn từ chai,

tem, nhãn dán bên ngoài cho đến rượu bên trong. Phổ biến nhất là làm giả một phần

với chai thật, nhãn thật bên ngoài nhưng bên trong là rượu giả (pha cồn, hương liệu

và màu; dùng rượu ngoại rẻ hơn để đóng chai; lên đời rượu như Chivas 12 lên đời

thành Chivas 18 hay 21; một phần rượu thật pha rượu khác vào).

Giá bán chai rượu ngoại làm giả thường rẻ hơn rượu thật chính hãng khoảng

từ 100.000đ đến 300.000đ. Qua các vụ việc kinh doanh rượu ngoại mà Chi cục quản

lý thị trường của tỉnh kiểm tra cho thấy, tại các cơ sở kinh doanh cố định, hàng hóa

không có dán tem rượu nhập khẩu, hoặc có nhưng là tem giả được trưng bày, được

chứa trong kho tại địa điểm kinh doanh lẫn lộn với hành hóa chính hãng. Nhiều lô

hàng không có hóa đơn chứng từ, được trình bày là do mua trôi nổi, hình thức thanh

toán tiền ngay, không biết thông tin về người bán. Đơn cử như tháng 12-2016, Đội

QLTT số 1 kiểm tra, phát hiện và xử lý cửa hàng rượu Minh Hương (TT. Phú Mỹ,

51

huyện Tân Thành) đang bày bán 48 chai rượu Whisky Royal Salute 21 Y.O do nước

ngoài sản xuất mà không chứng minh được nguồn gốc số rượu này, cũng như không

có giấy phép kinh doanh bán lẻ sản phẩm rượu. Các chủ cơ sở cho biết, số rượu

được mua từ một người đi ô tô chở đến tận cửa hàng chào bán. Thấy rẻ nên đồng ý

mua với hình thức nhận hàng và thanh toán ngay, không có hóa đơn chứng từ kèm

theo.

Trên thị trường hiện có nhiều loại rượu tự nấu (thường gọi là rượu đế), giá rẻ

được bày bán ở hầu hết các tiệm tạp hóa và gần như chưa được kiểm soát. Qua tìm

hiểu được biết, rượu đế trên địa bàn tỉnh BR-VT hiện nay đều được nấu tại các hộ

dân ở các huyện với thành phần gạo, hay nếp ủ lên men. Bên cạnh đó, Rượu đế còn

có loại pha chế nước với cồn công nghiệp. Nhiều tiệm tạp hóa mặc dù không có

giấy phép kinh doanh nhưng vẫn “vô tư” chưng biển quảng cáo rượu công khai.

Người mua dễ dàng mua được rượu tại các cửa tiệm tạp hóa, kể cả trẻ con. Bên

cạnh rượu đế tự nấu, các loại rượu thuốc tự ngâm không có nguồn gốc xuất xứ rõ

ràng cũng được bày bán tại nhiều nhà hàng, quán nhậu. Thời gian qua, trên địa bàn

tỉnh đã xảy ra nhiều vụ ngộ độc do nạn nhân uống phải rượu giả, rượu chứa chất

methanol độc hại. Theo số liệu từ Bệnh viện Lê Lợi – TP. Vũng Tàu, từ đầu năm

2017 đến nay, đã có 14 ca ngộ độc rượu được đưa vào cấp cứu tại đây. Trong đó, 2

ca ngộ độc rượu chứa methanol nặng nhất, nạn nhân tử vong sau 1-2 ngày nhập

viện. Bệnh nhân đều có uống rượu và trước khi nhập viện cũng có uống rượu mua ở

cửa hàng tạp hóa, rồi lên cơn co giật, sùi bọt mép. Khi đưa vào cấp cứu, bệnh nhân

trong tình trạng choáng nặng, mạch không đo được kèm theo nôn ói; xét nghiệm thì

máu bệnh nhân nhiễm toan (hay nhiễm độc axít) gây suy gan, thận và tổn thương

cơ. Rượu chứa methanol nguy hiểm ở chỗ không nhất thiết cứ uống nhiều là bị ngộ

độc, mà uống ít vẫn bị vì nó tích tụ kéo dài nhiều ngày. Khi phát hiện tình trạng ngộ

độc nếu nhẹ thì bị rối loạn tiêu hóa, co giật, rối loạn tâm thần; còn nặng sẽ dẫn đến

máu nhiễm toan, tổn thương đa cơ quan, suy gan, thận.

Việt Nam nằm trong 15 nước có tỷ lệ sử dụng thuốc lá cao nhất thế giới,

khoảng 15,3 triệu người hút thuốc và 33 triệu người tiếp xúc thụ động với khói

thuốc. Trong khi đó, khói thuốc lá chứa hơn 7000 chất hóa học và có tới 69 chất gây

ung thư. Theo Sở Lao động Thương binh Xã hội, Sở Y tế thì hàng năm trên địa bàn

52

tỉnh có khoảng hơn 200 ca tử vong do phải tiếp xúc thụ động với khói thuốc lá tại

nơi làm việc…Có thể thấy Ban chỉ đạo Phòng chống tác hại thuốc lá (PCTHTL)

tỉnh đã thường xuyên đề nghị các cơ quan, đơn vị, chính quyền địa phương đẩy

mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về tác hại của việc hút thuốc lá, Luật phòng

chống tác hại của thuốc lá... nhằm nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của

thuốc lá, làm thay đổi hành vi hút thuốc, giảm dần tỷ lệ sử dụng thuốc lá, giảm nguy

cơ bệnh tật và tử vong do sử dụng thuốc lá gây ra. Tuy nhiên có thể thấy việc hút

thuốc lá trên địa bàn Tỉnh vẫn diễn ra khá phổ biến, đặc biệt lứa tuổi hút thuốc lá

càng có xu hướng trẻ hóa lan vào nhà trường các cấp học, gây ra nhiều hệ lụy cho

chính học sinh, sinh viên và xã hội. Tương tự với tác hại của rượu bia, hút thuốc lá

ảnh hưởng nhiều đến tâm sinh lý, sức khỏe, kinh tế, văn hóa đạo đức của người sử

dụng, không những thế còn ảnh hưởng đến người xung quanh. Theo thống kê sơ bộ,

trên địa bàn tỉnh có 639 cơ sở kinh doanh thuốc lá, trong đó có 5 cơ sở bán sỉ và 634

cơ sở bán lẻ. Mặc dù thuốc lá điếu nhập ngoại là mặt hàng cấm kinh doanh, thế

nhưng đến hầu hết các tiệm tạp hóa nhỏ lẻ trong tỉnh, khách hàng không khó để

mua được các loại thuốc này.

Tình trạng buôn bán thuốc lá lậu còn diễn ra phức tạp. Mặc dù các điểm kinh

doanh không bày bán công khai thuốc lá lậu, song, cứ khách hàng hỏi là có. Phổ

biến nhất hiện nay là thuốc Esse, Jet, Hero. Theo phản ánh của Chi cục Quản lý thị

trường, thời gian qua, việc phát hiện, xử lý các đối tượng buôn bán thuốc lá lậu đã

được siết chặt, hình thức xử phạt và mức xử phạt các đối tượng buôn bán thuốc lá

lậu tăng lên, nhiều vụ kinh doanh, vận chuyển thuốc lá lậu với số lượng lớn đã bị

phát hiện, bắt quả tang và xử lý nghiêm. Nguyên nhân là do chênh lệch giá thuốc lá

điếu ngoại cùng chủng loại tại Campuchia và Việt Nam rất cao (từ 8.000-12.000

đồng) nên các đối tượng dùng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi để vận chuyển

thuốc lá vào địa bàn tỉnh tiêu thụ, chủ yếu là tiêu thụ lén lút tại các cửa hàng tạp

hóa. Các đối tượng buôn lậu thường vận chuyển trên các phương tiện vận tải hành

khách, xe chở hàng trên tuyến Quốc lộ 51, cất giấu, trà trộn chung với các hàng hóa

khác để né tránh sự kiểm tra của các lực lượng chức năng; sau khi đến địa điểm giao

nhận (thường ở những khu vực vắng người), hàng hóa được chuyển tiếp đến các

điểm kinh doanh. Những người chở thuê bất kể ngày đêm với phương tiện là xe gắn

53

máy, nếu bị lực lượng chức năng phát hiện, thường bỏ chạy và vứt bỏ lại hàng hóa,

gây khó khăn cho công tác xử lý.

4.2. Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến quyết đính sử dụng rượu bia, thuốc lá

4.2.1. Kiểm định độ phù hợp tổng quát

Kiểm định Omnibus cho thấy P = 0,000 < 0,01 (độ tin cậy 99%). Như vậy các

biến độc lập có mối quan hệ tuyến tính với biến phụ thuộc trong tổng thể hay mô

hình có ý nghĩa với 11 biến độc lập đưa vào mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến

quyết định sử dụng thực phẩm có hại cho sức khỏe (thuốc lá, rượu bia). Đồng thời

dựa vào giá trị P = 0,000 < 0,1 tức R2 hiệu chỉnh khác 0, các biến được đưa vào

phương trình hồi quy Binary Logistic thât sự tác động và giải thích sự thay đổi của

biến phụ thuộc, nên mô hình phù hợp giải thích những nhân tố tác động đến quyết

định sử dụng rượu bia, thuốc lá.

Bảng 4.3. Kiểm định sự phù hợp của mồ hình tổng quát

Hệ số Chi-square Giá trị P Df

Step 97.242 11 .000

Mô hình rượu bia Block 97.242 11 .000

Model 97.242 11 .000

Step 79.058 11 .000

Mô hình thuốc lá Block 79.058 11 .000

Model 79.058 11 .000

Nguồn : Trích xuất dữ liệu SPSS

4.2.3. Kiếm định sự phù hợp của mô hình

Hồi quy Binary Logistic sử dụng chỉ tiêu -2LL (-2 Log Likelihood) để đánh

giá độ phù hợp của mô hình. -2LL càng nhỏ càng thể hiện độ phù hợp cao. Giá trị

nhỏ nhất của -2LL là 0 (tức là không có sai số) khi đó mô hình có độ phù hợp cao.

Kết quả Bảng 4.11 cho thấy giá trị của mô hình rượu bia -2LL = 716.417a, mô hình

thuốc lá -2LL = 746.709a cao vừa phải, như vậy nó thể hiện mức độ phù hợp ở mức

trung bình của mô hình tổng thể. Hệ số tương quan Nagelkerke R Square lần lượt

đạt tới .202 và .165 cho thấy 20.2% và 16.5% biến phụ thuộc quyết định sử dụng

thực phẩm có hại cho sức khỏe (thuốc lá, rượu bia), được giải thích bởi sự thay đổi

các biến độc lập trong mô hình. Như vậy có thể nói mặc dù mô hình nghiên cứu có

54

mức độ giải thích chưa thực sự cao, tuy nhiên kết quả này cũng phần nào phản ánh

thực nghiệm của tác giả trên tổng thể 600 mẫu nghiên cứu.

Bảng 4.4. Kiểm định phù hợp của mô hình

Cox & Snell R Nagelkerke R Mô hình -2 Log likelihood Square Square

Rượu bia 716.417a .150 .202

Thuốc lá 746.709a .123 .165

Nguồn : Trích xuất dữ liệu SPSS

4.2.4. Kiểm định Hosmer and Lemeshow

Để kiểm chứng có hay không mô hình logit là phù hợp, tác giả đã sử dụng

phương pháp Hosmer-Lemeshow để kiểm định sự phù hợp của mô hình. Giá trị

Hosmer-Lemeshow có p-value <0.05 do đó mô hình không có hiện tượng phương

sai sai số thay đổi. Điều này cho thấy mô hình phù hợp tốt với dữ liệu.

Bảng 4.5. Kiểm định Hosmer and Lemeshow

Hosmer and Lemeshow Test Mô hình Chi-square Df Sig.

Rượu, bia 17.929 8 .022

Thuốc lá 18.807 8 .016

Nguồn : Trích xuất dữ liệu SPSS

4.2.5. Kiểm định mức độ giải thích của mô hình

Kiểm định mức độ giải thích của mô hình là phương pháp xác suất dự đoán

của đối tượng điều tra đối với biến phụ thuộc.

55

Bảng 4.6. Mức độ giải thích của mô hình

Mức độ Quyết định tiêu dùng

Quan sát chính xác

Không sử kết quả dự Sử dụng dụng báo (%)

Mô hình sử dụng rượu bia

Không sử dụng 138 110 55.6

Sử dụng 65 287 81.5

Tỷ lê dự báo chính xác của mô hình 70.8

Mô hình sử dụng thuốc lá

Không sử dụng 153 117 56.7

Sử dụng 77 253 76.7

Tỷ lê dự báo chính xác của mô hình 67.7

Nguồn : Xử lý số liệu SPSS

Với 600 đối tượng khách hàng trong khảo sát điều tra quyết định sử dụng

rượu bia thì mô hình dự đoán đúng 425 đối tượng khảo sát, như vậy tỷ lệ dự đoán

đúng là 70.8%. Đối với 248 khách hàng không sử dụng rượu bia thì xác suất mô

hình dự đoán đúng là 138 đối tượng điều tra, tương ứng với 55.6 %. Trong số 352

khách hàng sử dụng thì xác suất mô hình dự báo chính xác là 287 đối tượng khách

hàng tương ứng với tỷ lệ 81.5%. Như vậy, với tỷ lệ dự đoán của toàn bộ mô hình là

70.8%, trong đó xác suất dự đoán đúng việc không sử dụng là 55.6% và xác suất dự

đoán đúng việc sử dụng rượu bia là 81.5% cho thấy sự phù hợp của kết quả hồi quy

Binary Logistic. Đối với mô hình sử dụng thuốc lá, mô hình dự đoán đúng 406 đối

tượng khảo sát, như vậy tỷ lệ dự đoán đúng là 67.7%. Đối với 270 khách hàng

không sử dụng thuốc lá thì xác suất mô hình dự đoán đúng là 153 đối tượng điều

tra, tương ứng với 56.7%. Trong số 330 khách hàng sử dụng thuốc lá thì xác suất

mô hình dự báo chính xác là 253 đối tượng khách hàng tương ứng với tỷ lệ 76.7%.

Như vây, với tỷ lệ dự đoán của toàn bộ mô hình là 67.7%, trong đó xác suất dự

đoán đúng việc không sử dụng thuốc lá là 56.7% và xác suất dự đoán đúng việc sử

dụng thuốc lá 76.7% cho thấy sự phù hợp của kết quả hồi quy Binary Logistic. Như

56

vậy có thể thấy sự khác biệt xác suất dự báo của hai mô hình, trong đó xác suất dự

báo mô hình sử dụng rượu bia tốt hơn mô hình sử dụng thuốc lá.

4.2.6. Phân tích mô hình hồi quy

Kết quả hồi quy Binary Logistic (Bảng 4.7) cho thấy trong mô hình lý

thuyết tác động của các nhân tố đến quyết định sử dụng thực phẩm có hại cho sức

khỏe (thuốc lá, rượu bia) với mức ý nghĩa kiểm định khi đưa vào mô hình (P-value

< 0,1), do đó mô hình thực nghiệm không có sự khác biệt và thay đổi so với mô

hình gốc vẫn bao gồm các biến: Tuổi (TUOI); Hôn nhân (HONNHAN); Giới tính

(GIOITINH); Thu nhập (THUNHAP); Nghề nghiệp (NGHENGHIEP); Trình độ

(TRINHDO); Người thân sử dụng (NGUOITHAN); Quản lý thị trường

(QUANLY); Chi phí (CHIPHI); Tiếp cận thông tin (THONGTIN). Dưới đây là

phân tích kết quả nghiên cứu cụ thể :

Bảng 4.7.Kết quả hồi quy Binary Logistic

B

Thuốc lá Rượu bia Mô hình

Giới tính (GIOITINH) 1.059* 1.259*

[0.181] [.185]

Trình độ (TRINHDO) 0.619* .630*

[0.185] [.189]

Nghề nghiệp (NGHENGHIEP) 0.335** .367**

[0.183] [.188]

Hôn nhân (HONNHAN) 0.452*** .322***

[0.179] [.184]

Chi phí (CHIPHI) -0.375** -.426**

[0.214] [.222]

Quản lý thị trường (QUANLY) -0.253 -.375***

[0.207] [.215]

Người thân sử dụng 0.362*** .341*** (NGUOITHAN)

[0.185] [.189]

-0.336** -.400** Tiếp cận thông tin (THONGTIN)

57

[0.203] [.210]

Tuổi (TUOI) -0.011* -.018*

[0.007] [.007]

Thu nhập (THUNHAP) 0.000** .000**

[0.000] [.000]

Thu nhập2 (THUNHAP2) 0.000 .000

[0.000 [.000]

Hệ số chặn -0.837 -.411

[0.465] [.475]

R2 .165 0.202

Chi (2) 79.058 97.242

716.417a -2 Log likelihood 746.709a

Hosmer and Lemeshow Test

Chi-square 18.807 17.929

Sig. 0.016 0.022

(*)_(**)_(**) tương ứng với các mức ý nghĩa thống kê 1%, 5% và 10%

Nguồn : Xử lý số liệu SPSS 21

Kết quả bảng 4.7 là phân tích hồi quy bằng hàm binary logistic thông qua

phần mềm SPSS IBM 21 với mẫu nghiên cứu bao gồm 600 khách hàng mua hàng

tại các cửa hàng tạp hóa bán lẻ thuốc lá, rượu bia trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng

Tàu. Nghiên cứu quyết định sử dụng thực phẩm có hại cho sức khỏe chia thành 02

mô hình (thuốc lá và rượu bia) với 11 biến quan sát.

- Đối với mô hình sử dụng thuốc lá thì các biến đều có ý nghĩa thống kê ở

các mức quy định 1%, 5% và 10%, có 02 biến (QUANLY, THUNHAP2) không có

ý nghĩa thống kê. Trong các nhân tố có ý nghĩa thống kê có 03 biến tác động ngược

chiều đến biến phụ thuộc, 06 biến còn lại tác động cùng chiều. Trong đó Giới tính

(GIOITINH) tác động cùng chiều, mạnh nhất đến quyết định sử dụng thuốc lá với

hệ số hồi quy β1=1.059. Tiếp theo biến Trình độ (TRINHDO) tác động tích cực đến

mô hình hồi quy hay nói cách khác là cùng chiều với biến phụ thuộc với hệ số hồi

quy β2=.619 và có ý nghĩa thống kê mức 5%. Hôn nhân (HONNHAN) tác động có

mối quan hệ thuận chiều với quyết định sử dụng thuốc lá với hệ số hồi quy β4=.452.

58

Chi phí (CHIPHI) tác động ngược chiều đến biến phụ thuộc với hệ số hồi quy β5=-

.375 Người thân sử dụng (NGUOITHAN) tác động cùng chiều đến mô hình hồi quy

với hệ số hồi quy β7=.362. Nhân tố Tiếp cận thông tin (THONGTIN) với hệ số hồi

quy β8=-.336 nghĩa là nhân tố này tác động ngược chiều đến quyết định sử dụng

thuốc lá. Trong khi đó Nghề nghiệp (NGHENGHIEP) cũng tác động cùng chiều

đến biến phụ thuộc với hệ số hồi quy β3=.335 có ý nghĩa thống kê mức 5%. Biến

Tuổi (TUOI) tác động ngược chiều đến quyết định sử dụng thuốc lá với hệ số hồi

quy β9=-0.011. Trong khi đó Nhân tố Thu nhập (THUNHAP) biến thiên cùng chiều

với quyết định sử dụng thuốc lá với hệ số hồi quy rất thấp. Hệ số tương quan

Nagelkerke R Square đạt tới .165 cho thấy 16.5% biến phụ thuộc quyết định sử

dụng thuốc lá được sự giải thích bởi sự thay đổi các biến độc lập trong mô hình.

Như vậy có thể nói mặc dù mô hình nghiên cứu có mức độ giải thích chưa thực sự

cao, tuy nhiên kết quả này cũng phần nào phản ánh thực nghiệm của tác giả trên

tổng thể 600 mẫu nghiên cứu là các khách hàng mua hàng tại các tiệm tạp hóa trên

địa bàn Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Như vậy qua kết quả phân tích kiểm định cho thấy

mô hình nghiên cứu quyết định sử dụng thuốc lá là khá phù hợp và có ý nghĩa khoa

học và thực tiễn.

- Đối với mô hình sử dụng rượu bia thì các biến đều có ý nghĩa thống kê ở

các mức quy định 1%, 5% và 10%, duy nhất 01 biến (THUNHAP2) không có ý

nghĩa thống kê. Trong các nhân tố có ý nghĩa thống kê có 04 biến tác động tiêu cực

đến biến phụ thuộc, 06 biến còn lại tác động tích cực. Trong đó Giới tính

(GIOITINH) tác động cùng chiều, mạnh nhất đến quyết định sử dụng rượu bia với

hệ số hồi quy β1=1.259. Tiếp theo biến Trình độ (TRINHDO) tác động tích cực đến

mô hình hồi quy hay nói cách khác là cùng chiều với biến phụ thuộc với hệ số hồi

quy β2=.630 và có ý nghĩa thống kê mức 5%. Chi phí (CHIPHI) tác động ngược

chiều đến biến phụ thuộc với hệ số hồi quy β5=-.426 với mức ý nghĩa 5%. Tiếp cận

thông tin (THONGTIN) với hệ số hồi quy β8=-.400 nghĩa là nhân tố này cũng tác

động ngược chiều đến quyết định sử dụng rượu bia. Tương tự, nhân tố quản lý thị

trường (QUANLY) biến thiên ngược chiều với biến phụ thuộc với β6=-.375 với

mức ý nghĩa thống kê 10%. Trong khi đó Nghề nghiệp (NGHENGHIEP) cũng tác

động cùng chiều đến biến phụ thuộc với hệ số hồi quy β3=.367 có ý nghĩa thống kê

59

mức 5%. Người thân sử dụng (NGUOITHAN) tác động cùng chiều đến mô hình hồi

quy với hệ số hồi quy β7=.341. Nhân tố Hôn nhân (HONNHAN) tác động có mối

quan hệ thuận chiều với quyết định sử dụng rượu bia với hệ số hồi quy β4=.322 với

mức ý nghĩa 10%. Ngược lại, Biến Tuổi (TUOI) tác động ngược chiều đến quyết

định sử dụng rượu bia với hệ số hồi quy β9=-.018 với mức ý nghĩa 1%. Trong khi

đó Nhân tố Thu nhập (THUNHAP) biến thiên cùng chiều với quyết định sử dụng

rượu bia, tuy nhiên hệ số hồi quy rất thấp. Hệ số tương quan Nagelkerke R Square

đạt tới .202 cho thấy 20.2% biến phụ thuộc quyết định sử dụng rượu bia được giải

thích bởi sự thay đổi các biến độc lập trong mô hình. Mặc dù mô hình nghiên cứu

có mức độ giải thích chưa thực sự cao, tuy nhiên kết quả này cũng phần nào phản

ánh thực nghiệm của tác giả trên tổng thể 600 mẫu nghiên cứu là các khách hàng

mua hàng tại các tiệm tạp hóa trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Kết quả phân tích

kiểm định cho thấy mô hình nghiên cứu quyết định sử dụng rượu bia, thuốc lá là

khá phù hợp và có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

4.3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Từ kết quả phân tích dữ liệu nghiên cứu, ta thấy khi áp dụng mô hình cho

nghiên cứu các thang đo (bằng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp) với 600

khách hàng mua hàng tại các của hàng tạp hóa trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu,

cho thấy không hình thành những khái niệm khác so với mô hình gốc lý thuyết

được tác giả xây dựng dựa trên các nghiên cứu của Muli, N; Lagan, Briege M

(2017); Kang Y, Cheah, Rasiah R (2017), Sadan Caliskan (2009) và tham khảo các

công trình nghiên cứu của Haynes G, Dunnagan T, Christopher S (2003), Crystal

L. Park, Christoffer Grant (2005), K. Michael Cummings, Geoffrey T. Fong, Ron

Borland (2009), Dias P, Oliveira A, Lopes C (2011), Mahnoush Reisi và các cộng

sự (2014) trong môi trường nghiên cứu tại quốc gia đang phát triển như Việt Nam

với tốc độ gia tăng dân số nhanh, nhu cầu tiêu dùng cao và số lượng người tiêu

dùng thuốc lá và rượu bia tăng lên nhanh chóng kéo theo đó là sự sụt giảm về thu

nhập, gia tăng tỷ lệ mắc bệnh.

Có thể thấy trong nghiên cứu này đối với những môi trường kinh tế, chính

sách và văn hóa, trình độ nhận thức khác nhau, kinh nghiệm, thời điểm nghiên cứu,

địa điểm nghiên cứu khác nhau … Có thể có những ảnh hưởng khác nhau đối với

60

các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thực phẩm có hại cho sức khỏe và qua

quá trình kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy Binary Logistic cho thấy: Mô

hình nghiên cứu lý thuyết của tác giả phù hợp với thực tiễn áp dụng nghiên cứu tại

tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu gồm 10 biến độc lập: Tuổi (TUOI); Hôn nhân (HONNHAN);

Giới tính (GIOITINH); Thu nhập (THUNHAP); Nghề nghiệp (NGHENGHIEP);

Trình độ (TRINHDO); Người thân sử dụng (NGUOITHAN); Quản lý thị trường

(QUANLY); Chi phí (CHIPHI); Tiếp cận thông tin (THONGTIN) ảnh hưởng trực

tiếp đến biến phụ thuộc là TIEUDUNG (quyết định sử dụng thuốc lá và rượu bia).

Biến Giới tính (GIOITINH) tác động cùng chiều, mạnh nhất đến quyết định

sử dụng thuốc lá với hệ số hồi quy β1=1.059 có ý nghĩa thống kê ở các mức quy

định 1%, 5% và 10%. Nhân tố này cũng tác động cùng chiều đến quyết định sử

dụng rượu bia (β1=1.259). Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của

Crystal L. Park, Christoffer Grant (2005), Kang Y, Cheah, Rasiah R (2017). Kết quả

nghiên cứu này cho thấy hiện nay không chỉ Nam giới mà nữ giới có xu hướng sử

dụng thuốc lá, rượu bia ngày càng tăng dẫn đến các hệ lụy xấu đến hành vi, sinh

hoạt của các đối tượng này hết sức phức tạp, khó khăn trong quản lý và hoạch định

chính sách phòng chống tác hại của rượu bia, thuốc lá.

Trình độ (TRINHDO) tác động tích cực đến mô hình hồi quy hay nói cách

khác là cùng chiều với biến phụ thuộc quyết định sử dụng thuốc lá với hệ số hồi quy

β2=.619. Nhân tố này cũng tác động cùng chiều đến quyết định sử dụng rượu bia

(β2=.630). Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Dias P, Oliveira A,

Lopes C (2011). Nghề nghiệp (NGHENGHIEP) cũng tác động cùng chiều đến biến

phụ thuộc quyết định sử dụng thuốc lá và rượu bia với hệ số hồi quy lần lượt

β3=.335 và .367. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Crystal L.

Park, Christoffer Grant (2005), K. Michael Cummings, Geoffrey T. Fong, Ron

Borland (2009).

Nhân tố Thu nhập (THUNHAP) biến thiên cùng chiều với quyết định sử

dụng thực phẩm có hại cho sức khỏe (thuốc lá, rượu bia) với hệ số hồi quy không

đáng kể. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Sadan Caliskan

(2009). Từ nghiên cứu trên cho thấy vai trò trong việc nâng cao nhận thức của

61

người dân, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, giáo dục của gia đình, cộng đồng trong

việc phòng chống và giảm tác hại của rượu bia và thuốc lá.

Chi phí (CHIPHI) với hệ số hồi quy β5=-.375, đồng nghĩa với việc yếu tố này

tác động ngược chiều quyết định sử dụng thuốc lá, đối với rượu bia (β5=-.426). Kết

quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Dias P, Oliveira A, Lopes C

(2011). Hôn nhân (HONNHAN) tác động cùng chiều đến mô hình hồi quy với hệ số

hồi quy β4=.452 và .322. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Muli,

N; Lagan, Briege M (2017). Cả hai nhân tố trên đều có ý nghĩa thống kê ở các mức

5%, 10%. Gia tăng chi phí cho rượu bia, thuốc lá là một thực trạng đáng lo ngại

hiện nay không chỉ hệ lụy về sức khỏe, văn hóa, lối sống mà còn cả kinh tế gia đình,

thu nhập người sử dụng. Đặc biệt với những đối tượng đã lập gia đình và có con cái

đang trong độ tuổi đi học thì tác hại của những thực phẩm này là rất lớn; ảnh hưởng

đến cuộc sống hạnh phúc hôn nhân, tương lai giáo dục của con cái.

Biến Tuổi (TUOI) tác động ngược chiều đến quyết định sử dụng thuốc lá,

rượu bia với hệ số hồi quy lần lượt β9=-.011 và -.018 và có ý nghĩa thống kê ở các

mức quy định 1%, 5% và 10%. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của

Kang Y, Cheah, Rasiah R (2017), Sadan Caliskan (2009). Ngược lại, nhân tố Người

thân sử dụng (NGUOITHAN) tác động cùng chiều đến mô hình nghiên cứu với hệ

số hồi quy β7=.362 và .341 có ý nghĩa thống kê mức 10%. Kết quả nghiên cứu này

phù hợp với nghiên cứu của Crystal L. Park, Christoffer Grant (2005). Từ hai kết

quả nghiên cứu cho thấy độ tuổi sử dụng thuốc lá, rượu bia có xu hướng hướng tới

đối tượng học sinh, sinh viên, thanh niên và độ tuổi dưới 30. Các đối tượng tham

gia khảo sát hầu hết có người thân là người sử dụng thuốc lá, rượu bia. Do vậy cần

có các giải pháp hạn chế, phòng ngừa phù hợp với từng lứa tuổi, triển khai tuyên

truyền nâng cao nhận thức từ chính trong gia đình người sử dụng, trong nhà trường,

cụm dân cư, cơ quan đoàn thể.

Quản lý thị trường (QUANLY) tác động ngược chiều đến biến phụ thuộc

quyết định sử dụng rượu bia với hệ số hồi quy β6=-.375 có ý nghĩa thống kê ở các

mức quy định 1%, 5% và 10%. Tuy nhiên lại không có ý nghĩa thống kê đối với mô

hình sử dụng thuốc lá. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của K.

Michael Cummings, Geoffrey T. Fong, Ron Borland (2009). Quản lý thị trường là

62

nhân tố quan trọng trong việc phòng chống và giảm tác hại của rượu bia và thuốc lá.

Để quản lý thị trường được tốt thì cần có các giải pháp đồng bộ từ người dân, nhà

cung cấp, người bán, chính quyền địa phương và cơ quan quản lý có liên quan trên

hai phương diện đó là thuốc lá và bia rượu. Hai nhóm giải pháp này cần được minh

bạch rõ ràng và logic với những điểm chung và khác biệt để dễ dàng triển khai thực

hiện hiệu quả.

Nhân tố Tiếp cận thông tin (THONGTIN) với hệ số hồi quy β8= -.336 và -

.400 nghĩa là nhân tố này tác động ngược chiều đến mô hình hồi quy và có ý nghĩa

thống kê ở các mức quy định 1%, 5% và 10%. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với

nghiên cứu của Mahnoush Reisi và các cộng sự (2014). Điều này cho thấy cơ quan

quản lý nhà nước cần đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả các kênh tuyên truyền

phòng chống tác hại của thuốc lá và rượu bia. Vận động người dân tham gia phòng

chống buôn lậu, nhập lập, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, thực phẩm

bẩn.

63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

Trong chương này tác giả tiến hành mô tả và phân tích dữ liệu nghiên cứu

được thu thập từ việc khảo sát phỏng vấn trực tiếp 600 khách hàng mua hàng tại các

cửa hàng tạp hóa tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu gồm 11 biến độc lập: Tuổi; Hôn nhân;

Giới tính; Thu nhập; Thu nhập bình phương; Nghề nghiệp; Trình độ; Người thân sử

dụng; Quản lý thị trường; Chi phí; Tiếp cận thông tin và biến phụ thuộc là quyết

định sử dụng thực phẩm có hại cho sức khỏe (thuốc lá, rượu bia). Nghiên cứu quyết

định sử dụng rượu bia, thuốc lá với 04 biến quan sát tác động tiêu cực (Tuổi; Quản

lý thị trường; Chi phí; Tiếp cận thông tin) và 06 biến tác động tích cực (Hôn nhân;

Giới tính; Nghề nghiệp; Trình độ; Người thân sử dụng; Thu nhập) đều có ý nghĩa

thống kê ở các mức 1%, 5% và 10%. Mặc dù mô hình nghiên cứu có mức độ giải

thích chưa thực sự cao, tuy nhiên kết quả này cũng phần nào phản ánh thực nghiệm

của tác giả trên tổng thể 600 mẫu nghiên cứu. Có thể thấy qua kết quả phân tích

kiểm định cho thấy mô hình nghiên cứu quyết định sử dụng rượu bia, thuốc lá là

khá phù hợp và có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

64

CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT

5.1. Kết luận

Hút thuốc lá và uống rượu bia nhiều là hai kẻ thù lớn nhất của sức khỏe và

tuổi thọ con người. Trong những năm gần đây, việc hút thuốc lá và lạm dụng rượu

bia là hai mối quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực y tế và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Hút thuốc lá, uống rượu bia không chỉ ảnh hưởng đến bản thân người sử dụng mà

còn ảnh hưởng đến người thân và xã hội. Nhận thức được vai trò của công tác

phòng chống, hạn chế rượu bia, thuốc lá của Chính phủ, tác giả đã thực nghiệm

nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc lá, rượu bia trên địa bàn Tỉnh

Bà Rịa Vũng Tàu.

Từ kết quả phân tích dữ liệu nghiên cứu, ta thấy khi áp dụng mô hình cho

nghiên cứu các thang đo (bằng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp) với 600

khách hàng mua hàng tại các cửa hàng tạp hóa trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu,

cho thấy không hình thành những khái niệm khác so với mô hình gốc lý thuyết

được tác giả xây dựng dựa trên các nghiên cứu của Muli, N; Lagan, Briege M

(2017); Kang Y, Cheah, Rasiah R (2017), Sadan Caliskan (2009). Kiểm định sự phù

hợp của mô hình hồi quy Binary Logistic cho thấy Mô hình nghiên cứu lý thuyết

của tác giả phù hợp với thực tiễn áp dụng nghiên cứu tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu gồm

11 biến độc lập: Tuổi; Hôn nhân; Giới tính; Thu nhập; Thu nhập bình phương;

Nghề nghiệp; Trình độ; Người thân sử dụng; Quản lý thị trường; Chi phí; Tiếp cận

thông tin có ý nghĩa thống kê giải thích quyết định sử dụng rượu bia, thuốc lá ở các

mức thống kê quy định 1%, 5% và 10%. Mô hình sử dụng thuốc lá có 06 biến (Hôn

nhân; Giới tính; Thu nhập; Nghề nghiệp; Trình độ; Người thân sử dụng) tác động

tích cực đến mô hình hồi quy; trong khi 03 biến (Tuổi; Chi phí; Tiếp cận thông tin)

tác động tiêu cực với các mức ý nghĩa thống kê quy định. Đối với mô hình sử dụng

bia rượu thì cũng có 06 biến (Hôn nhân; Giới tính; Thu nhập; Nghề nghiệp; Trình

độ; Người thân sử dụng) tác động tích cực đến mô hình hồi quy; tuy nhiên lại có 04

biến (Tuổi; Quản lý thị trường; Chi phí; Tiếp cận thông tin) tác động tiêu cực. Ý

nghĩa của nghiên cứu chỉ ra hiện nay không chỉ Nam giới mà nữ giới có xu hướng

sử dụng thuốc lá, rượu bia ngày càng tăng dẫn đến các hệ lụy xấu đến hành vi, sinh

65

hoạt của các đối tượng này, gây khó khăn trong quản lý và hoạch định chính sách

phòng chống tác hại của thuốc lá rượu bia.

Từ các nghiên cứu trên cho thấy vai trò của việc nâng cao nhận thức người

dân, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, giáo dục của gia đình, cộng đồng trong việc

phòng chống và giảm tác hại của rượu bia, thuốc lá. Gia tăng chi phí cho rượu bia,

thuốc lá là một thực trạng đáng lo ngại hiện nay không chỉ hệ lụy về sức khỏe, văn

hóa, lối sống mà còn cả kinh tế gia đình, thu nhập người sử dụng. Đặc biệt với

những đối tượng đã lập gia đình và có con cái đang trong độ tuổi đi học thì tác hại

của những thực phẩm này là rất lớn, ảnh hưởng đến cuộc sống hạnh phúc hôn nhân,

tương lai giáo dục của con cái. Độ tuổi sử dụng thuốc lá, rượu bia có xu hướng

hướng tới đối tượng học sinh, sinh viên, thanh niên và độ tuổi dưới 30. Các đối

tượng tham gia khảo sát hầu hết có người thân là người sử dụng thuốc lá, rượu bia.

Do vậy cần có các giải pháp hạn chế, phòng ngừa thuốc lá phù hợp với từng lứa

tuổi, triển khai tuyên truyền nâng cao nhận thức từ chính trong gia đình người sử

dụng, trong nhà trường, cụm dân cư, cơ quan đoàn thể. Quản lý thị trường là nhân

tố quan trọng trong việc phòng chống và giảm tác hại của rượu bia và thuốc lá. Để

quản lý thị trường được tốt thì cần có các giải pháp đồng bộ từ người dân, nhà cung

cấp, người bán, chính quyền địa phương và cơ quan quản lý có liên quan trên hai

phương diện đó là thuốc lá và bia rượu. Hai nhóm giải pháp này cần được minh

bạch rõ ràng và logic với những điểm chung và khác biệt để dễ dàng triển khai thực

hiện hiệu quả. Cơ quan quản lý nhà nước cần đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả các

kênh tuyên truyền phòng chống tác hại của thuốc lá và rượu bia. Vận động người

dân tham gia phòng chống buôn lậu, nhập lập, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất

lượng, thực phẩm bẩn.

5.2. Kiến nghị

5.2.1. Kiến nghị với chính phủ

-Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến về tác hại của thuốc lá, Luật

Phòng chống tác hại (PCTH) thuốc lá: Tập trung vào việc thực hiện môi trường

không khói thuốc lá tại cơ sở y tế, nơi làm việc; quyền của người không hút thuốc

lá, trách nhiệm của người hút thuốc lá. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phố

biến như: Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, các buổi nói chuyện chuyên đề, tài liệu

66

thông tin, tuyên truyền về Luật PCTH thuốc lá, tác hại thuốc lá và các biện pháp

phòng chống tác hại của thuốc lá hiệu quả.

-Tăng cường chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm các quy định của Luật PCTH

thuốc lá, tác hại của rượu bia: Chỉ đạo đưa nội dung PCTH thuốc lá, tác hại của

rượu bia vào kế hoạch hoạt động hàng năm, đưa quy định cấm hút thuốc lá tại nơi

làm việc vào quy chế nội bộ, tiêu chuẩn xét danh hiệu thi đua, khen thưởng của cán

bộ, công chức, viên chức và người lao động. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị bộ

ngành, địa phương phải thường xuyên và định kỳ kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện

các quy định của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá tại cơ quan, đơn vị mình.

Không xét tặng các danh hiệu thi đua, khen thưởng và có các hình thức xử lý theo

quy định của pháp luật đối các cơ quan, đơn vị, người đứng đầu cơ quan, đơn vị

buông lỏng quản lý, thường xuyên để xảy ra tình trạng vi phạm quy định của Luật

PCTH thuốc lá.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm quy định cấm hút

thuốc lá tại địa điểm công cộng: Thanh tra Bộ Y tế, Thanh tra Sở Y tế tỉnh, thành

phố trực thuộc Trung ương làm đầu mối xây dựng kế hoạch và chủ động triển khai

công tác kiểm tra, thanh tra thường xuyên việc thực hiện các quy định đối với

phòng chống tác hại của thuốc lá và rượu bia. Tăng cường sự phối hợp của Bộ,

ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức một số đoàn

kiểm tra, thanh tra liên ngành về thực hiện Luật PCTH thuốc lá, rượu bia, chú trọng

việc thực hiện các quy định về cấm hút thuốc lá, rượu bia tại cơ sở y tế, giáo dục,

nơi làm việc và một số địa điểm công cộng khác; về trưng bày, bán thuốc lá; về cấm

quảng cáo, khuyến mại, tài trợ và các nội dung khác được quy định của pháp luật.

5.2.2. Kiến nghị với HĐND, UBND Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

5.2.2.1. Tăng cường các biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá

Tổ chức tuyên truyền, phổ biến về tác hại của thuốc lá, các quy định của Luật

Phòng, chống tác hại của thuốc lá cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và

người lao động, người học tại cơ quan, đơn vị, trường học. Thông qua các phương

tiện như truyền hình, truyền thanh, báo chí, Internet để đẩy mạnh hiệu quả tuyên

truyền bên cạnh đó cần có giải pháp căng cơ hơn đối với truyền thanh lưu động,

sách báo, tạp chí cũng như truyền miệng.

67

Sở Y tế tỉnh, Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh phối hợp với

các cơ quan, đơn vị liên quan tăng cường công tác truyền thông về tác hại của việc

sử dụng thuốc lá và Luật PCTH thuốc lá, tác hại của rượu bia.

Tổ chức lễ phát động xây dựng cơ quan không khói thuốc lá, ký cam kết giữa

cơ quan, đơn vị với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động về việc thực

hiện nghiêm quy định cấm hút thuốc lá.

Thực hiện nghiêm quy định cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà tại các học

viện, trường đại học, cao đẳng, cơ quan QLNN, nhà máy, văn phòng xí nghiệp các

địa điểm công cộng.

Cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà và trong phạm vi khuôn viên các cơ sở

trụ sở HĐND, UBND, tổ chức chính trị xã hội, văn phòng cơ quan, nhà máy, xí

nghiệp, cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, các trường trung cấp chuyên nghiệp,

trung tâm tin học, ngoại ngữ, trung tâm giáo dục thường xuyên, học tập cộng đồng.

Các cơ quan ban ngành liên quan, các tổ chức chính trị xã hội và người dân

cần tích cực phối hợp phòng chống nạn hàng lậu, hàng giả hàng nhái, hàng kém

chất lượng, gian lận thương mại trên địa bàn dân cư.

Đưa nội dung phòng, chống tác hại của thuốc lá vào kế hoạch hoạt động

hàng năm, đưa quy định cấm hút thuốc lá tại nơi làm việc vào quy chế nội bộ, tiêu

chuẩn xét danh hiệu thi đua, khen thưởng của cán bộ, công chức, viên chức và

người lao động của cơ quan, đơn vị, trường học.

Tăng cường các giải pháp hợp tác với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, doanh

nghiệp và các tổ chức chính trị xã hội về đào tạo nghề, quy hoạch làng nghề, giải

quyết việc làm cho người lao động tại các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, các khu

công nghiệp trên địa bàn để người dân nâng cao thu nhập, có công ăn việc làm cải

thiện cuộc sống.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; nghiêm cấm việc mua, bán, quảng

cáo, tiếp thị các sản phẩm, hình ảnh liên quan đến thuốc lá tại các cơ quan, đơn vị,

trường học, trong các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Phối hợp với

chính quyền địa phương thực hiện nghiêm quy định cấm bán thuốc lá phía ngoài

cổng cơ quan, đơn vị và trường học. Phối hợp với cơ sở y tế tại địa phương để hỗ

trợ, tư vấn và cai nghiện thuốc lá cho người hút thuốc.

68

Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ cán bộ cấp cơ sở phường xã, thôn bám

sát địa bàn thực hiện hiệu quả tuyên truyền luật phòng chóng thuốc lá và lạm dụng

bia rượu, hài hòa các mối quan hệ và tăng cường đại đoàn kết tại khu vực dân cư,

doanh nghiệp.

Xây dựng nếp sống văn hóa khu dân cư, làng xã và đẩy mạnh công tác thi

đua học tập theo gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chi Minh trên địa bàn toàn tỉnh.

5.2.2.2. Thực hiện các biện pháp phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có

cồn

Tăng cường hoạt động thông tin, truyền thông, giáo dục nhằm nâng cao nhận

thức cho cán bộ, công chức, viên chức và học sinh, sinh viên về tác hại của việc lạm

dụng rượu bia và đồ uống có cồn đối với sức khỏe và xã hội. Thông qua các phương

tiện như truyền hình, truyền thanh, báo chí, Internet để đẩy mạnh hiệu quả tuyên

truyền bên cạnh đó cần có giải pháp căng cơ hơn đối với truyền thanh lưu động,

sách báo, tạp chí cũng như truyền miệng.

Cấm cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại các cơ quan, đơn vị,

trường học uống rượu, bia và đồ uống có cồn trước và trong giờ làm việc, tại nơi

làm việc, trong bữa ăn giữa hai buổi trong ngày làm việc và ngày trực. Cán bộ, công

chức, viên chức và học sinh, sinh viên không uống rượu, bia và các chất có cồn

trước và trong khi điều khiển các phương tiện tham gia giao thông.

Đẩy mạnh việc chủ động phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp

luật về trật tự xã hội và tội phạm do sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác gây

ra với sự tham gia tích cực của các tổ chức đoàn thể, xã hội và cộng đồng.

Đưa nội dung phòng, chống tác hại của đồ uống có cồn vào kế hoạch hoạt

động hàng năm, đưa quy định cấm uống rượu bia và đồ uống có cồn vào quy chế

nội bộ, tiêu chuẩn xét danh hiệu thi đua, khen thưởng của cán bộ, công chức, viên

chức và người lao động của cơ quan, đơn vị, trường học.

Tăng cường các giải pháp hợp tác với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, doanh

nghiệp và các tổ chức chính trị xã hội về đào tạo nghề, quy hoạch làng nghề, giải

quyết việc làm cho người lao động tại các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, các khu

công nghiệp trên địa bàn để người dân nâng cao thu nhập, có công ăn việc làm cải

thiện cuộc sống.

69

Không bán rượu bia và đồ uống có cồn trong trường học, căn-tin, nhà ăn tập

thể, ký túc xá và địa điểm công cộng. Phối hợp với chính quyền địa phương trong

việc ngăn chặn các hoạt động buôn bán, tiếp thị các sản phẩm rượu bia và đồ uống

có cồn trong và xung quanh cơ quan, nhà máy, xí nghiệp và trường học.

Cảnh sát giao thông (CSGT), trật tự đô thị tăng cường công tác tuần tra kiểm

soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn, tăng cường xử phạt, phạt nặng

hành vi uống rượu bia điều khiển phương tiện giao thông trên đường. Cảnh sát hình

sự (CSHS), cảnh sát cơ động (CSCĐ), công an xã tăng cường tuần tra, kiểm tra an

ninh trật tự tại các địa phương, nơi công cộng, nhà máy, xí nghiệp và khu công

nghiệp.

Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ cán bộ cấp cơ sở phường xã, thôn bám

sát địa bàn thực hiện hiệu quả tuyên truyền luật phòng chóng thuốc lá và lạm dụng

bia rượu, hài hòa các mối quan hệ và tăng cường đại đoàn kết tại khu vực dân cư,

doanh nghiệp.

Xây dựng nếp sống văn hóa khu dân cư, làng xã và đẩy mạnh công tác thi

đua học tập theo gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chi Minh trên địa bàn toàn tỉnh.

5.3. Giới hạn nghiên cứu

Do thời gian nghiên cứu, kinh phí, nguồn lực có hạn, nên tác giả chỉ tập

trung thu thập dữ liệu của 600 khách hàng mua hàng tại các cửa hàng bán lẻ tại

trung tâm Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, chưa phân loại hết được ảnh hưởng của các yếu

tố ở các cấp độ khác nhau như cá nhân khách hàng, môi trường, đặc điểm thực

phẩm, QLNN, cạnh tranh ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thuốc lá và rượu bia.

Bên cạnh đó là hạn chế kiến thức chuyên sâu, tài liệu tham khảo về kinh tế, quản lý,

hành vi tiêu dùng, chính sách vĩ mô, chế tài quản lý phòng chống tác hại của thuốc

lá và rượu bia... nên có thể ảnh hưởng phần nào đến kết quả nghiên cứu. Ở một khía

cạnh nào đó mẫu nghiên cứu, không gian, thời điểm nghiên cứu, các yếu tố ảnh

hưởng chưa thực sự là đại diện để phản ánh hết bản chất tác động qua lại lẫn nhau

giữa các nhân tố ảnh hưởng và quyết định sử dụng thực phẩm có hại cho sức khỏe

(Rượu, bia và thuốc lá). Các nghiên cứu tiếp theo có thể tiếp tục khảo sát mẫu rộng

hơn và có thể tìm ra thêm các nhân tố mới hoàn thiện mô hình nghiên cứu hiện tại.

Bên cạnh đó, tác giả khắc phục những khó khăn như đã đề cập bằng gia tăng nguồn

70

lực, mối quan hệ và kinh phí nghiên cứu và khảo sát, tham khảo ý kiến của các

chuyên gia, để hoàn thiện hơn mô hình nghiên cứu đóng góp thêm một số giải pháp

đối với việc phòng chống tác hại của thuốc lá, rượu, bia.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

1. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu

với SPSS, Trường ĐHKT TP.HCM, NXB Hồng Đức.

2. Nguyễn Quang Uẩn (2004), Tâm lý học đại cương, NXB Giáo dục.

3. Philip Kotler (2003), Quản trị Marketing, NXB Thống kê.

Tài liệu Tiếng Anh

4. Ajzen, I. (1991). “The theory of planned behavior”, Organizational Behavior

and Human Decision Processes, 179-211

5. Crystal L. Park, Christoffer Grant (2005). Determinants of positive and negative

consequences of alcohol consumption in college students: alcohol use, gender,

and psychological characteristics. Journal Addictive Behaviors, Vol 30 (4): 755 -

765.

6. Dias P, Oliveira A, Lopes C. Social and behavioural determinants of alcohol

consumption.Journal Annals of Human Biology, 38 (3): 337-344.

7. Dodds WB, Monroe KB & Grewal D (1991). The effects of price, brand and

store information on buyers' product evaluations. Journal of Marketing

Research, 28(August), 307-319

8. Engel J. F., Blackwell R., & Miniard P.W. (1995). Consumer behaviour: The

Dryden Press Harcourt Brace College Publishers, Forth Worth.

9. Fishbein, M., & Ajzen, I. (1975). Belief, Attitude, Intention, and Behavior: An

Introduction to Theory and Research.Reading, MA: Addison-Wesley

10. Haynes G , Dunnagan T , Christopher S (2003). Determinants of alcohol use

in pregnant women at risk for alcohol consumption. Neurotoxicology and

Teratology, 25(6):659-666.

11. Hawkins, D.I., Best, R.J. and Coney, K.A., (2001). Consumer behavior:

Building Marketing Strategy. New York: McGraw-Hill/Irwin 9th Edition.

12. James F. Engel, Roger D. Blackwell, Paul W. Miniard (1993). Consumer

Behavior: Dryden Press series in marketing. Dryden Press, 1993

13. K. Michael Cummings, Geoffrey T. Fong, Ron Borland (2009). Environmental

Influences on Tobacco Use: Evidence from Societal and Community Influences

on Tobacco Use and Dependence. Annual Review of Clinical Psychology,

Vol.5:433-458.

14. Kang Y, Cheah, Rasiah R (2017). Analysis of the Determinants of Alcohol

Consumption among Adult Males in Malaysia. Journal of Health Management.

Article Information, Vol 19 (1) : 28-38.

15. Mahnoush Reisi, Seyed Homamodin Javadzade, Hossein Shahnazi, Gholamreza

Sharifirad, Abdolrahman Charkazi, Mitra Moodi (2014). Factors affecting

cigarette smoking based on health-belief model structures in pre-university

students in Isfahan, Iran. J Educ Health Promot,Vol 3: 23.

16. Marques-Vidal P, Dias CM (2005).Trends in overweight and obesity in

Portugal: the National Health Surveys 1995-6 and 1998-9. Obes Res,

13(7):1141-5.

17. Mathieson, A. & Wall, G. (1982), “Tourism: economic, physical and social

impacts”, Longman: Harlow, UK

18. Michael R. Solomon (1992). Consumer Behavior: Buying, Having, and Being,

Prentice Hall - Hardback - 694 pages - ISBN

19. Muli, N; Lagan, Briege M (2017). Perceived determinants to alcohol

consumption and misuse: a survey of university students. Journal Perspectives in

Public Health.

20. Sadan Caliskan (2009). THE FACTORS THAT AFFECT SMOKING

PROBABILITY AND SMOKING EXPENDITURES IN TURKEY. Serbian

Journal of Management 4 (2): 183 – 202.

21. Sproles, G. B., & Kendall, E. (1986). A methodology for profiling consumers

decisionmaking styles. The journal of Consumer Affairs, 20(2), 267-279

22. Werner, P. (2004). Reasoned action and planned behavior. In S. J. Peterson & T.

S. Bredow (Eds.), Middle range theories: Application to nursing research (pp.

125-147). Philadeliphia, PA: Lippincott, Williams, & Wilkins

Xin chào Anh (Chị) tôi tên là Lê Sỹ Khang, hiện đang là học viên cao

học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH). Tôi hiện đang

nghiên cứu chủ đề: “Các yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng thuốc lá và

rượu bia”. Tôi xin cam đoan mọi thông tin Anh (Chị) cung cấp chỉ sử dụng

vào mục đích nghiên cứu và được bảo mật thông tin, không sử dụng vào mục

đích cá nhân nào khác. Cảm ơn Anh (Chị) đã nhiệt tình hợp tác tham gia. Xin

trân trọng cảm ơn.

BẢNG KHẢO SÁT

I. THÔNG TIN CÁ NHÂN

1. Số điện thoại:………………………………………………..

2. Giới tính: O Nam O Nữ

3. Tuổi: ……..

4. Tình trạng hôn nhân: O Độc thân O Đã kết hôn

5. Nếu đã kết hôn thì Anh (Chị) có bao nhiêu người con? ………người.

6. Nghề nghiệp:

O Nông nghiệp O CBCNV O Nội trợ O Hưu trí O Tiểu

thương

O Học sinh, sinh viên O Nhân viên văn phòng O Chủ doanh nghiệp O Thất

nghiệp

7. Trình độ: O THPT trở xuống O Trên THPT

8. Thu nhập: ………………….đồng/tháng

9. Anh (Chị) có BHYT không? O Có O Không

10. Anh (Chị) có mắc chứng bệnh tật gì không?

O Gan O Tiêu hóa O Phổi

O Thận O Tim O Mật

O Đau đầu O Bệnh khác O Không bệnh tật.

11. Số ngày nghỉ làm việc vì bệnh tật trong năm:………………ngày.

12. Nơi sinh sống của Anh (Chị) có mưa không?

O Hiếm khi O Thing thoảng O Thường xuyên

13. Nhiệt độ trung bình nơi Anh (Chị) sinh sống cao hay thấp nhất cả nước?

O Cao O Thấp O tương đương

II. HÀNH VI TIÊU DÙNG RƯỢU BIA VÀ THUỐC LÁ

14. Nếu Anh (Chị) đã kết hôn thì vợ hay chồng là người chi tiêu hằng ngày?

15. Anh (Chị) chi tiêu cho thuốc lá hay rượu bia không? (Nếu không xin bỏ qua câu

(16-19).

16. Mỗi tháng Anh (Chị) chi tiêu bao nhiêu tiền cho thuốc lá, rượu bia? ……..đồng

17. Anh (Chị) thường uống loại bia nào? Tần suất bao nhiêu chai/lon mỗi tuần?

18. Anh (Chị) thường uống loại rượu nào? Tần suất bao nhiêu ly/chén mỗi tuần?

19. Anh (Chị) thường hút loại thuốc lá nào? Tần suất bao nhiêu bao mỗi tuần?

20. Anh (Chị) có hiểu rõ tác hại của rượu bia và thuốc lá?

O Viêm phổi O Ung thư O Thiệt hai kinh tế O Răng miệng

O Ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử O Ảnh hưởng đến môi trường

O An ninh, trật tự giao thông O Không rõ lắm

21. Người nhà Anh (Chị) có sử dụng rượu bia, thuốc lá không?

22. Anh (Chị) đánh giá như thế nào về chi phí cho thuốc lá và rượu bia?

O Chi tiêu cao O thấp hoặc không chi tiêu.

23. Anh (Chị) đánh giá thế nào đối với việc quản lý rượu bia và thuốc lá hiện nay?

O Hoàn toàn không hiệu quả O Không hiệu quả lắm

O Hiệu quả O Rất hiệu quả

24. Anh (Chị) có thường xuyên tiếp cận thông tin về thuốc lá và rượu bia không?

O Thường xuyên O Thi thoảng

25. Anh (Chị) tiếp cận thông tin về thuốc lá và rượu bia qua kênh thông tin nào?

O Ti vi O Băng rồn, áp phích O Đài, loa phường

O Internet O Điện thoại di động O Sách, báo

O Tuyên truyền lưu động O Truyền miệng O Khác

Xin chân thành cảm ơn !

PHỤ LỤC NGHIÊN CỨU

TDBIA

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

không sử dụng

41.3

41.3

248

41.3

su dung

58.7

58.7

352

100.0

Valid

Total

100.0

100.0

600

TDTHUOCLA

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Khong su dung

45.0

45.0

270

45.0

Su dung

55.0

55.0

330

100.0

Valid

Total

100.0

100.0

600

GIOITINH

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Nu

40.0

40.0

240

40.0

Nam

60.0

60.0

360

100.0

Valid

Total

100.0

100.0

600

TRINHDO

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

THPT tro xuong

35.7

35.7

214

35.7

TCCN tro len

64.3

64.3

386

100.0

Valid

Total

100.0

100.0

600

NGHENGHIEP

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

That nghiep

219

36.5

36.5

36.5

Valid

Co nghe nghiep

381

63.5

63.5

100.0

Total

600

100.0

100.0

HONNHAN

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Doc than, ly hon

337

56.2

56.2

56.2

Da ket hon

263

43.8

43.8

100.0

Valid

Total

600

100.0

100.0

CHIPHI

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Binh thuong

28.2

28.2

169

28.2

Chi tieu cao cho thuoc la

71.8

71.8

431

100.0

Valid

Total

100.0

100.0

600

QUANLY

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Quan ly long leo

30.8

30.8

185

30.8

Quan ly chat che

69.2

69.2

415

100.0

Valid

Total

100.0

100.0

600

NGUOITHAN

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Khong co nguoi su dung

34.8

34.8

209

34.8

Co nguoi su dung

65.2

65.2

391

100.0

Valid

Total

100.0

100.0

600

THONGTIN

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

0

27.2

27.2

163

27.2

Thuong xuyen

72.8

72.8

437

100.0

Valid

Total

100.0

100.0

600

BHYT

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

67.7

67.7

67.7

Khong

406

100.0

32.3

32.3

Co

194

Valid

100.0

100.0

Total

600

BENHTAT

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

45.8

45.8

Khong co

45.8

275

9.8

9.8

Gan

55.7

59

11.2

11.2

Tieu hoa

66.8

67

16.2

16.2

Phoi

83.0

97

7.8

7.8

Than

90.8

47

Valid

3.7

3.7

Tim

94.5

22

1.7

1.7

M at

96.2

10

1.7

1.7

Dau dau

97.8

10

2.2

2.2

Benh khac

100.0

13

Total

600

100.0

100.0

THOITIET

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

54.0

54.0

54.0

324

Hiem Khi mua

Thing thoang

34.5

34.5

88.5

207

Valid

Thuong xuyen mua

11.5

11.5

100.0

69

Total

100.0

100.0

600

NHIETDO

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Cao

27.5

27.5

27.5

165

Thap

12.3

12.3

39.8

74

Valid

Tuong duong

60.2

60.2

100.0

361

Total

100.0

100.0

600

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

154

Khong ro lam

25.7

25.7

25.7

333

Rat hieu

55.5

55.5

81.2

Valid

113

Binh thuong

18.8

18.8

100.0

600

Total

100.0

100.0

THONGTIN2

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

123

20.5

20.5

20.5

Ti vi

104

17.3

17.3

37.8

Bang ron, ap phich

116

19.3

19.3

57.2

Dai, loa phuong

81

13.5

13.5

70.7

Internet

85

14.2

14.2

84.8

Di dong

Valid

33

5.5

5.5

90.3

Truyen thanh luu dong

30

5.0

5.0

95.3

Sach bao, tap chi

28

4.7

4.7

100.0

Truyen mieng

Total

600

100.0

100.0

MUCTN

Frequency

Percent

Valid Percent

Cumulative Percent

Duoi 5 trieu

41.8

251

41.8

41.8

Tren 5 trieu

58.2

349

58.2

100.0

Valid

Total

100.0

600

100.0

DOTUOI

Cumulative

Frequency

Percent

Valid Percent

Percent

Tren 30 tuoi

55.7

334

55.7

55.7

Duoi 30 tuoi

44.3

266

44.3

100.0

Valid

Total

100.0

600

100.0

Descriptive S tatistics

N

Minimum Maximum

Mean

S td. Deviation

TUOI

600

18

65

33.76

13.626

THUNHAP

600

0

21650

5244.62

3383.588

Valid N (listwise)

600

Block 0: Beginning Block

Classification Table a,b

Predicted

Observed

TDBIA

Percentage

Correct

khong su dung

su dung

khong su dung

0

248

.0

TDBIA

su dung

0

352

100.0

S tep 0

Overall Percentage

58.7

a. Constant is included in the model.

b. The cut value is .500

Variables in the Equation

B

S .E.

Wald

df

S ig.

Exp(B)

S tep 0 Constant

.350

.083

17.844

1

.000

1.419

Variables not in the Equationa

S core

df

S ig.

GIOITINH

50.038

1

.000

TRINHDO

9.222

1

.002

NGHENGHIEP

3.257

1

.071

HONNHAN

4.508

1

.034

CHIPHI

8.538

1

.003

8.739

1

.003

S tep 0

Variables

QUANLY

NGUOITHAN

4.817

1

.028

THONGTIN

3.738

1

.053

TUOI

6.944

1

.008

THUNHAP

1.537

1

.215

THUNHAP2

.855

1

.355

a. Residual Chi-Squares are not computed because of redundancies.

Block 1: Method = Enter

Omnibus Tests of Model Coefficients

Chi-square

df

S ig.

Step

97.242

11

.000

Block

97.242

11

.000

S tep 1

M odel

97.242

11

.000

Model S ummary

S tep

-2 Log likelihood

Cox & S nell R S quare

Nagelkerke R S quare

1

716.417a

.150

.202

a. Estimation terminated at iteration number 4 because parameter estimates changed by less than .001.

Hosmer and Lemeshow Test

Chi-square

S ig.

df

1

18.807

.016

8

Contingency Table for Hosmer and Lemeshow Test

TDBIA = khong su dung

TDBIA = su dung

Total

Observed

Expected

Observed

Expected

13

60

14.120

1

47

45.880

20

60

21.584

2

40

38.416

23

60

26.266

3

37

33.734

31

60

30.715

4

29

29.285

41

60

34.594

5

19

25.406

S tep 1

44

60

38.132

6

16

21.868

34

60

41.706

7

26

18.294

52

60

45.003

8

8

14.997

47

60

48.011

9

13

11.989

47

60

51.869

10

13

8.131

Classification Table a

Predicted

Observed

TDBIA

Percentage

Correct

khong su dung

su dung

S tep 1

khong su dung

138

110

55.6

TDBIA

su dung

65

287

81.5

Overall Percentage

70.8

a. The cut value is .500

Variables in the Equation

Wald

df

Exp(B)

B

S .E.

S ig.

GIOITINH

1.259

.185

46.367

1

.000

3.521

TRINHDO

.630

.189

11.088

1

.001

1.877

NGHENGHIEP

.367

.188

3.826

1

.050

1.443

HONNHAN

.322

.184

3.078

1

.079

1.380

CHIPHI

-.426

.222

3.688

1

.055

.653

QUANLY

-.375

.215

3.048

1

.081

.688

S tep 1a

.189

3.249

NGUOITHAN

.341

1

.071

1.407

THONGTIN

-.400

.210

3.620

1

.057

.670

TUOI

-.018

.007

7.583

1

.006

.982

THUNHAP

.000

.000

3.702

1

.054

1.000

THUNHAP2

.000

.000

2.004

1

.157

1.000

Constant

-.411

.475

.750

1

.387

.663

a. Variable(s) entered on step 1: GIOITINH, TRINHDO, NGHENGHIEP, HONNHAN, CHIPHI,

QUANLY, NGUOITHAN, THONGTIN, TUOI, THUNHAP, THUNHAP2.

Block 0: Beginning Block

Classification Table a,b

Predicted

Observed

TDTHUOCLA

Percentage

Correct

Khong su dung

Su dung

S tep 0

Khong su dung

0

270

.0

TDTHUOCLA

Su dung

0

330

100.0

Overall Percentage

55.0

a. Constant is included in the model.

b. The cut value is .500

Variables in the Equation

B

S .E.

Wald

df

S ig.

Exp(B)

S tep 0

Constant

.201

.082

5.980

1

.014

1.222

Variables not in the Equationa

S core

df

S ig.

GIOITINH

36.364

1

.000

TRINHDO

10.263

1

.001

NGHENGHIEP

3.173

1

.075

HONNHAN

8.234

1

.004

CHIPHI

6.570

1

.010

5.544

1

QUANLY

.019

S tep 0

Variables

NGUOITHAN

5.773

1

.016

THONGTIN

2.975

1

.085

TUOI

2.892

1

.089

THUNHAP

1.444

1

.229

THUNHAP2

.856

1

.355

a. Residual Chi-Squares are not computed because of redundancies.

Block 1: Method = Enter

Omnibus Tests of Model Coefficients

Chi-square

df

S ig.

Step

79.058

11

.000

Block

79.058

11

.000

S tep 1

M odel

79.058

11

.000

Model S ummary

S tep

-2 Log likelihood

Cox & S nell R S quare

Nagelkerke R S quare

1

746.709a

.123

.165

a. Estimation terminated at iteration number 4 because parameter estimates changed by less than .001.

Hosmer and Lemeshow Test

S tep

Chi-square

df

S ig.

1

17.929

8

.022

Contingency Table for Hosmer and Lemeshow Test

TDTHUOCLA = Khong su dung

TDTHUOCLA = S u dung

Total

Observed

Expected

Observed

Expected

1

47

45.678

60

14.322

13

2

37

39.226

60

20.774

23

3

42

35.206

60

24.794

18

4

31

31.133

60

28.867

29

5

22

28.089

60

31.911

38

S tep 1

6

20

24.958

60

35.042

40

7

28

21.499

60

38.501

32

8

16

18.313

60

41.687

44

9

10

15.073

60

44.927

50

10

17

10.826

60

49.174

43

Classification Table a

Predicted

TDTHUOCLA

Observed

Percentage

Correct

Khong su dung

Su dung

Khong su dung

153

117

56.7

TDTHUOCLA

Su dung

77

253

76.7

S tep 1

Overall Percentage

67.7

a. The cut value is .500

Variables in the Equation

B

Wald

df

S ig.

Exp(B)

S .E.

GIOITINH

1.059

.181

34.290

1

.000

2.883

TRINHDO

.619

.185

11.246

1

.001

1.857

NGHENGHIEP

.335

.183

3.354

1

.067

1.398

S tep 1a

HONNHAN

.452

.179

6.409

1

.011

1.572

CHIPHI

-.375

.214

3.073

1

.080

.687

QUANLY

-.253

.207

1.500

1

.221

.776

NGUOITHAN

.362

.185

3.837

1

.050

1.437

THONGTIN

-.336

.203

2.731

1

.098

.715

TUOI

-.011

.007

3.031

1

.082

.989

THUNHAP

.000

.000

2.746

1

.097

1.000

THUNHAP2

.000

.000

1.458

1

.227

1.000

Constant

-.837

.465

3.238

1

.072

.433

a. Variable(s) entered on step 1: GIOITINH, TRINHDO, NGHENGHIEP, HONNHAN, CHIPHI,

QUANLY, NGUOITHAN, THONGTIN, TUOI, THUNHAP, THUNHAP2.