BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

…………/…………

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN THỊ KIỀU TRINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NÚI, DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2020

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

…………/…………

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN THỊ KIỀU TRINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NÚI, DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG

Mã số: 8 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. ĐINH LÂM TẤN

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2020

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực

hiện cùng với sự hướng dẫn của TS. Đinh Lâm Tấn, công tác tại Bộ kế

hoạch và Đầu tư. Những vấn đề được trình bày trong luận văn dựa trên kết

quả nghiên cứu, tìm hiểu của tôi từ nhiều nguồn khác nhau và từ trong thực

tế. Những kết quả từ luận văn là trung thực, chưa được sử dụng hay công bố

ở bất kỳ một công trình nào khác.

Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2020

Học viên

Nguyễn Thị Kiều Trinh

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành được luận văn này, trước tiên tôi xin chân thành

cảm ơn đến toàn thể quý thầy, cô giáo tại Học viện hành chính quốc gia đã

quan tâm, giúp đỡ truyền đạt những tri thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi

trong suốt quá trình học tập tại Học viện.

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn khoa

học TS. Đinh Lâm Tấn đã tận tình, trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt

thời gian thực hiện đề tài.

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo và công chức đang

công tác tại phòng Dân tộc, phòng Tài chính – Kế hoạch huyện An Lão, tỉnh

Bình Định đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.

Mặc dù bản thân đã có nhiều nỗ lực và cố gắng nhưng do còn hạn chế

về thời gian nghiên cứu nên luận văn không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót. Vì

vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các quý thầy,

cô để tôi có thể hoàn thiện hơn trong quá trình nghiên cứu của mình.

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Học viên

Nguyễn Thị Kiều Trinh

MỤC LỤC

Trang bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục viết tắt

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT

TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NÚI, DÂN TỘC THIỂU SỐ. ................... 9

1.1. Một số vấn đề lý luận về chính sách và thực thi chính sách. .................... 9

1.1.1. Khái niệm chính sách ........................................................................... 9

1.1.2. Khái niệm về thực thi chính sách ....................................................................12

1.2. Chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng núi, vùng dân tộc thiểu số..... 16

1.2.1. Chính sách kinh tế là gì? ..................................................................... 16

1.2.2. Chính sách xã hội là gì? ...................................................................... 16

1.2.3. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số ........ 17

1.2.4. Đặc điểm của chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc

thiểu số. ........................................................................................................ 18

1.2.5. Vai trò của chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số .19

1.3. Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số. .....20

1.3.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội

vùng núi, dân tộc thiểu số. ........................................................................................21

1.3.2. Phổ biến, tuyên truyền, thực hiện về chính sách phát triển kinh tế - xã hội

vùng núi, dân tộc thiểu số. ........................................................................................21

1.3.3. Phân công phối hợp thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi,

dân tộc thiểu số. .........................................................................................................22

1.3.4. Duy trì thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc

thiểu số. ....................................................................................................................22

1.3.5. Điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số. 23

1.3.6. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách triển kinh tế - xã hội vùng

núi, dân tộc thiểu số ..................................................................................................23

1.3.7. Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách phát triển kinh

tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số. .......................................................................24

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sáchphát triển kinh tế - xã hội vùng

núi, dân tộc thiểu số. ..................................................................................................26

1.4.1. Các yếu tố khách quan ....................................................................................26

1.4.2. Các yếu tố chủ quan ........................................................................................28

1.5. Những yêu cầu cơ bản trong thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội

vùng núi, dân tộc thiểu số. ........................................................................................30

1.5.1. Yêu cầu thực hiện đúng mục tiêu chính sách .................................................30

1.5.2. Yêu cầu đảm bảo tính hệ thống trong thực hiện chính sách phát triển kinh tế -

xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số. ..............................................................................30

1.5.3. Yêu cầu bảo đảm tính pháp lý, khoa học và hợp lý trong thực hiện chính sách

phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số. ...............................................30

1.5.4. Yêu cầu đảm bảo lợi ích thực sự cho các đối tượng thụ hưởng chính sách phát

triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số. .......................................................31

1.6. Các phương pháp tổ chức thực hiện chính sáchphát triển kinh tế - xã hội vùng

núi, dân tộc thiểu số. ..................................................................................................32

1.6.1. Phương pháp kinh tế -tài chính .......................................................................32

1.6.2. Phương pháp tuyên truyền thuyết phục ..........................................................33

1.6.3. Phương pháp hành chính.................................................................................34

1.6.4. Phương pháp kết hợp ......................................................................................34

Tiểu kết chương 1 .....................................................................................................35

CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VÙNG NÚI, DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN

AN LÃO, BÌNH ĐỊNH. ......................................................................................36

2.1. Tổng quan về huyện An Lão, tỉnh Bình Định .................................... 36

2.1.1. Điều kiện tự nhiên ............................................................................ 36

2.1.2. Dân cư, dân tộc ................................................................................. 37

2.1.3. Tình hình kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách. ..38

2.1.4. Nhận xét thuận lợi và khó khăn ..............................................................39

2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi,

dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định. ................... 39

2.2.1. Quy trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu

số trên địa bàn huyện An Lão. ..................................................................................39

2.2.2. Thực trạng năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của cán bộ làm

công tác thực hiện chính sách dân tộc ở cấp huyện, cấp xã. ........................45

2.2.3. Thực trạng công tác ngăn ngừa, đấu tranh chống tham ô, tham nhũng 47

2.2.4. Thực trạng triển khai thực hiện các chính sách phát triển kinh tế -

xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định. ..........48

2.3. Đánh giá chung ..............................................................................................55

2.3.1. Công tác quản lý nhà nước trong việc thực hiện các chính sách phát

triển kinh tế - xã hội ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định. ................................55

2.3.2. Những mặt đạt được ..................................................................................56

2.3.3. Những tồn tại, yếu kém .................................................................... 58

2.3.4. Nguyên nhân ..................................................................................... 60

2.3.5. Bài học kinh nghiệm ......................................................................... 61

Tiểu kết chương 2 .....................................................................................................64

CHƯƠNG 3. MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG

CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ -

XÃ HỘI VÙNG NÚI, DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN AN LÃO, TỈNH

BÌNH ĐỊNH .............................................................................................................65

3.1. Bối cảnh, quan điểm ...........................................................................................65

3.1.1. Bối cảnh ..........................................................................................................65 3.1.2. Về quan điểm………………………………………………………….67

3.2. Mục tiêu thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi,

dân tộc thiểu số tại huyện an lão, tỉnh bình định. .......................................... 69

3.2.1. Mục tiêu tổng quát ............................................................................. 69

3.2.2. Mục tiêu cụ thể năm 2020 .................................................................. 70

3.3. Phương hướng, nhiệm vụ thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội

vùng núi, dân tộc thiểu số tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định ....................... 71

3.3.1.Về phát triển kinh tế ............................................................................ 71

3.3.2. Về lĩnh vực văn hóa, xã hội ................................................................ 72

3.3.3. Về quốc phòng, an ninh ...................................................................... 76

3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển kinh tế-xã

hội trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định ............................................ 77

3.4.1. Nhóm giải pháp hoạch định đầu tư phát triển đồng bộ ở vùng núi, dân

tộc thiểu số ................................................................................................... 77

3.4.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách, nâng cao hiệu quả hoạt

động đầu tư .................................................................................................. 78

3.4.3. Nhóm giải pháp thực hiện chương trình, dự án đầu tư phát triển đồng bộ ... 79

3.5. Kiến nghị ............................................................................................... 84

3.5.1. Đối với trung ương ............................................................................. 84

3.5.2. Đối với địa phương ............................................................................. 86

Tiểu kết chương 3 ........................................................................................ 87

KẾT LUẬN ................................................................................................. 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu Nguyên nghĩa

ANCT: BCH: BTV: DSTS: GD – ĐT: GS: HĐND: KT – XH: PGS: QLNN: QP – AN: TDTT: TS: TTATXH: UBND: An ninh chính trị Ban Chấp hành Ban Thường vụ Dân tộc thiểu số Giáo dục – Đào tạo Giáo sư Hội đồng nhân dân Kinh tế - xã hội Phó Giáo sư Quản lý Nhà nước Quốc phòng – An ninh Thể dục thể thao Tiến sĩ Trật tự an toàn xã hội Ủy ban nhân dân

Hình 1.1. Quy trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc

DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU

thiểu số. .....................................................................................................................20

Hình 1.2: Quy trình thực hiện công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện chính sách

phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. ......................................................24

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài luận văn

Nước ta là một quốc gia đa dân tộc với 53 dân tộc thiểu số. Phần lớn các

dân tộc thiểu số sống ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Do

đó, Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự phát triển

kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số. Ban hành nhiều chủ trương, chính

sách, chương trình, dự án và tổ chức triển khai thực hiện trên các lĩnh vực

trong nhiều năm qua, đã góp phần phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, làm thay

đổi bộ mặt nông thôn miền núi, dân tộc thiểu số, tạo cơ sở cho sự phát triển.

Vấn đề về dân tộc và chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở vùng núi,

vùng dân tộc thiểu số là vấn đề hết sức quan trọng và nhạy cảm đối với đất

nước ta, đặc biệt hơn Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc có 53 dân tộc thiểu

số với 3,04 triệu hộ, 13,38 triệu người (chiếm 14,6% dân số cả nước), cư trú

thành cộng đồng ở 51 tỉnh, thành phố, 548 huyện, 5266 đơn vị hành chính cấp

xã, trong đó có 382 xã biên giới (tiếp giáp với Trung Quốc, Lào và Cam Pu

Chia). Địa bàn cư trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và

Tây Duyên hải miền Trung, chiếm 3/4 diện tích cả nước, chính vì vậy việc

thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội hiệu quả, phù hợp sẽ giúp giải

quyết một cách đúng đắn các quan hệ dân tộc, hoạch định chiến lược phát

triển kinh tế. Vấn đề này còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn đối với

Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ

nghĩa Việt Nam.

Trong bối cảnh quốc tế và trong nước hiện nay, vấn đề dân tộc thiểu số

ở vùng núi đang có những diễn biến phức tạp, vừa mang tính toàn cầu, vừa

mang tính đặc thù riêng của từng quốc gia. Dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, nhân

quyền luôn là những vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch, phản động,

1

bọn người đội lốt tôn giáo tìm mọi cách lợi dụng chống phá nhà nước ta, chia

rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, nhằm gây

mất đoàn kết, mất ổn định cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh

quốc phòng. Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách

mạng, Đảng ta luôn xác định vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc và thực hiện

chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi có vị trí chiến lược quan

trọng trong cách mạng nước ta. Quá trình thực hiện chính sách kinh tế - xã hội

của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua đã đưa lại nhiều thành tựu rất

quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khẳng định tính ưu việt của

chế độ mới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, các chính sách

cũng còn nhiều tồn tại hạn chế, chưa phù hợp, chưa thực sự hiệu quả, gây thất

thoát, lãng phí nguồn lực trên phạm vi cả nước nói chung và huyện miền núi

An Lão nói riêng.

Đối với huyện An Lão, tỉnh Bình Định, là một huyện miền núi thuộc 61

huyện nghèo trong cả nước, người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khá cao

trong tổng dân cư của huyện, trên địa bàn huyện có 03 dân tộc đang sinh

sống, đó là dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số người H’re và Bana. Người dân

tộc thiểu số H’re và Bana chiếm 40,11% dân số cả huyện, chủ yếu sinh sống ở

ven các vùng núi đồi, công việc hàng ngày chủ yếu là lên nương làm rẫy, làm

công, trồng lúa nước, bám rừng trồng cây keo, cây mỳ, trong những năm qua

nhờ các chính sách của Đảng và Nhà nước mà các dân tộc trên địa bàn huyện

đã có đời sống ổn định, có đủ cái ăn, có đủ cái mặc, có ti vi để xem, có xe

máy để đi tình hình an ninh chính trị ổn định, bà con sống hòa đồng, đoàn kết.

Các phong tục, hủ tục lạc hậu dần dần được thay vào là những tư tưởng mới

xuất hiện như phát triển kinh tế hộ gia đình, bà con biết và thường xuyên cập

nhật thông tin, nắm bắt các chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, quan

tâm cụ thể hơn về từng chính sách hỗ trợ và dần dần biết cách sử dụng tốt và

2

hiệu quả các chính sách, giúp chính sách về kinh tế - xã hội ngày càng thiết

thực hơn trong đời sống hiện nay.

Trong những năm qua, việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã

hội trong cả nước nói chung, ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định nói riêng đã đạt

được những kết quả đáng ghi nhận. Nhờ thực hiện đúng các chính sách của

Nhà nước mà kinh tế - xã hội ở vùng có đồng bào dân tộc phát triển, đời sống

vật chất tinh thần của đồng bào dân tộc có sự cải thiện đáng kể; truyền thống

bản sắc văn hoá của đồng bào các dân tộc được giữ gìn và phát huy; khối đại

đoàn kết dân tộc được tăng cường; đồng bào các dân tộc đóng góp ngày càng

tích cực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, trong thực

hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở cả nước nói chung cũng như ở

huyện An Lão, tỉnh Bình Định nóiriêng vẫn còn có những hạn chế, bất cập

ảnh hưởng đến hiệu quả các chính sách của Nhà nước.

Thực tiễn hiện nay cho thấy việc thực hiện các chương trình đầu tư phát

triển kinh tế - xã hội ở An Lão có nhiều kết quả nhưng chuyển biến chưa

mạnh, chưa đáp ứng mong đợi của nhân dân. Có nhiều chương trình, dự án

triển khai thực hiện ở miền núi với tổng số vốn đầu tư lớn nhưng sau khi kết

thúc tính ổn định không được giữ vững mang lại hiệu quả thấp. Do vậy, cần

phải có sự đánh giá khoa học, khách quan về hiệu quả các chương trình, dự án

đầu tư cho miền núi, đánh giá việc tổ chức thực hiện sao cho đảm bảo tính

hiệu quả và bền vững của chương trình, dự án.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy nghiên cứu đề xuất các giải pháp

hoàn thiện việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội là hết

sức cần thiết và cấp bách hiện nay, do đó tôi chọn vấn đề nghiên cứu "Thực

hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số tại

huyện An Lão, tỉnh Bình Định” để làm luận văn thạc sỹ với mong muốn

đóng góp, bổ sung thêm lý luận, làm giàu kinh nghiệm thực tiễn trong thực

3

hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong cả nước nói chung và ở huyện

An Lão, tỉnh Bình Định nói riêng.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Vấn đề dân tộc và chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc

thiểu số là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học xã hội khác nhau

như Triết học, Sử học, Dân tộc học, Xã hội học, Chủ nghĩa xã hội khoa học.

Ở nước ta cho đến nay đã có rất nhiều công trình khoa học đi sâu nghiên cứu

về vấn đề dân tộc, những vấn đề thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và

Nhà nước. Có thể kể đến một số công trình như:

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam, của TS. Lê Ngọc

Thắng, Nhà xuất bản Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 2005. Nội dung

cuốn sách tác giả trình bày một cách hệ thống các vấn đề lý luận về dân tộc,

vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc; các quan điểm cơ bản

của vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của

Đảng ta. Đồng thời tác giả trình bày một cách hệ thống chính sách dân tộc của

các nhà nước phong kiến, thực dân đế quốc, tư bản và một số nước khác trên

thế giới. Qua đó tác giả so sánh để thấy được tính sáng tạo, đúng đắn của

Đảng

và Nhà nước ta trong việc giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng dân tộc

dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đánh giá những thành tựu

và yếu kém trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước,

tác giả đề ra định hướng chính sách dân tộc, đặc biệt là chính sách trên lĩnh

vực văn hóa trong thời gian tới.

Vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam do TS. Đậu Tuấn

Nam chủ biên, được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản

năm 2009. Cuốn sách gồm tập hợp các bài viết của các nhà khoa học tập

trung

4

nghiên cứu về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay.

Từ việc xác định khái niệm dân tộc, GS.TS. Phan Hữu Dật đi sâu nghiên

cứu chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề này thông qua việc phân tích chủ nghĩa

Mác cũng như chủ nghĩa Mác - Lênin. PGS, TS. Lê Ngọc Thắng và PGS,

TS.Cao Văn Thanh đã trình bày những quan điểm, chính sách cơ bản của

Đảng và Nhà nước ta về dân tộc cũng như những chính sách kinh tế - xã

hội vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay. Bên cạnh việc đưa ra những

quan điểm, chính sách cơ bản, các tác giả phân tích thực trạng, nguyên

nhân cho những hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân tộc và từ đó

đưa ra những giải pháp.

Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số cho sự

nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước do PGS, TS.

Nguyễn Đăng Thành chủ biên được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội

xuất bản năm 2012. Cuốn sách tuyển chọn một số công trình nghiên cứu của

Đề án “Luận cứ và giải pháp phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số”.

Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

của TS. Phạm Thanh Hà, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất

bản năm 2014 đã phân tích cơ sở hình thành, đặc điểm và nhấn mạnh vai trò

quan trọng của việc giữ gìn bản sắc dân tộc, đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa

và những tác động hai mặt của toàn cầu hóa. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề ra

những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm gìn giữ và phát huy bản sắc dân

tộc Việt Nam, phát triển lành mạnh con người, xã hội và sự phát triển bền

vững của đất nước.

Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Đề tài nghiên

cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã

hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi do TS. Võ Tuấn Nhân làm chủ

nhiệm, hoàn thành vào năm 2014. Huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế

5

- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi của Việt Nam giai đoạn 2010 –

2020, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Nguyễn Văn Dũng.

3. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn

Mục tiêu của đề tài là: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất

lượng, hiệu quả thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ đầu tư phát

triển kinh tế - xã hội ở vùng núi, dân tộc thiểu số huyện An Lão thông qua hệ

thống lý luận chung về thực hiện chính sách phát triển kinh – tế xã hội tại

huyện miền núi An Lão, tỉnh Bình Định.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài có nhiệm vụ: Nghiên cứu cơ sở lý

luận và thực tiễn về sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng núi, dân tộc thiểu số.

Đánh giá tình hình thực hiện một số chính sách, chương trình, dự án phát triển

kinh tế - xã hội tại các huyện miền núi nói chung và huyện miền núi An Lão

nói riêng, qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư ở miền núi.

Đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội miền núi An Lão.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực thi chính sách phát

triển kinh tế - xã hội ở vùng núi, dân tộc thiểu số huyện An Lão và được giới

hạn trong mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên.

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

+ Về nội dung: chú trọng các vấn đề liên quan đến thực hiện các chính

sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số của huyện An Lão -

tỉnh Bình Định.

+ Về thời gian: trong giai đoạn 2016 - 2020 và nhất là những năm gần đây.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Cơ sở lý luận của luận văn: Được thực hiện dựa trên những nguyên lý,

lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm

của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc, đồng

6

thời đề tài có kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học có

liên quan.

- Phương pháp nghiên cứu của luận văn:

Về phương pháp luận, đề tài dựa trên phương pháp luận chung của chủ

nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Phương pháp luận chủ

yếu của đề tài là lý luận Mác - xít được sử dụng trong toàn bộ nội dung của đề

tài. Chủ nghĩa duy vật biện chứng giúp nhìn nhận mọi sự vật và hiện tượng

tồn tại trong mối liên hệ phổ biến và chúng luôn vận động, biến đổi, phát triển

không ngừng. Trên cơ sở quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể và

quan điểm phát triển để xem xét và phân tích nội dung nghiên cứu của đề tài.

Vận dụng các quan điểm này để làm cơ sở cho việc xem xét các sự kiện xã

hội và quá trình phát triển của xã hội, mà cụ thể là kinh tế - xã hội tại huyện

miền núi An Lão. Trên cơ sở phương pháp luận chung đó, đề tài chủ yếu vận

dụng hướng tiếp cận của Lý thuyết cấu trúc - chức năng, Lý thuyết phát triển,

quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình thực hiện đề tài.

Các phương pháp cụ thể tiến hành nghiên cứu cụ thể là:

Thu thập, phân tích tài liệu: Thu thập số liệu thống kê, các tài liệu liên

quan đã có từ các cơ quan Trung ương, ở tỉnh, các huyện miền núi trong tỉnh.

Phương pháp phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung: Thực hiện với các đối

tượng chủ yếu là cán bộ các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thể cấp

xã, cấp huyện, và một số công dân tại huyện miền núi An Lão. Phương pháp

quan sát, được vận dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham

khảo trong nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề có liên quan đến vấn đề dân

tộc và chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số.

7

Kết quả nghiên cứu của luận văn nhằm chỉ ra được những thành công,

bất cập trong một số chính sách, chương trình, dự án đầu tư phát triển kinh tế

- xã hội tại các huyện miền núi trong thời gian qua; đề xuất các giải pháp có

tính khả thi góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi

tỉnh Bình Định nói chung và huyện miền núi An Lão nói riêng giai đoạn 2016

- 2020. Vì vậy, nó hết sức có ý nghĩa nhằm góp phần cho sự lãnh đạo, chỉ

đạo, điều hành quản lý của địa phương trong việc thực hiện chủ trương phát

triển kinh tế - xã hội miền núi nhanh và bền vững của Đảng và Nhà nước. Đề

tài góp phần quan trọng trong việc làm rõ thực trạng, đề xuất các giải pháp có

cơ sở khoa học, sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi

nhanh và bền vững. Vì vậy, đề tài có giá trị thực tiễn, giải quyết vấn đề vừa

mang tính cấp bách, vừa lâu dài, đồng thời góp phần làm sáng tỏ về mặt lý

luận, nhận thức sâu sắc hơn các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế - xã

hội miền núi.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã

hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội

ở vùng núi, dân tộc thiểu số đang diễn ra trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh

Bình Định.

Chương 3: Mục tiêu, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu

quả việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở vùng núi, dân tộc

thiểu số tại huyện An Lão trong thời gian tới.

8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NÚI, DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1. Một số vấn đề lý luận về chính sách và thực thi chính sách.

1.1.1. Khái niệm chính sách

1.1.1.1. Khái niệm

Theo từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách

như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối,

nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên

những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính

sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn

hóa…”

1.1.1.2. Phân loại chính sách

Xét theo chủ thể ban hành chính sách, chính sách được chia thành hai loại:

Chính sách quốc gia (áp dụng cho toàn bộ đất nước), chính quyền trung

ương quyết định các chính sách quốc gia cơ bản về đối nội, đối ngoại, về phát

triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh.

Chính sách địa phương (áp dụng cho cấp tỉnh, cấp huyện, và cấp xã),

chính quyền địa phương cũng có quyền quyết định những chính sách thuộc

thẩm quyền của mình để phát huy tiềm năng của địa phương và giải quyết các

vấn đề kinh tế - văn hoá – xã hội khác có tính đặc thù của địa phương.

Chính sách quốc gia luôn là tiêu điểm chủ yếu và quan trọng nhất trong

lĩnh vực nghiên cứu chính sách. Các kết quả và phương pháp nghiên cứu

chính sách quốc gia có thể áp dụng cho nghiên cứu phân tích chính sách địa

phương.

9

Phân loại theo chức năng của chính sách:

Chính sách phân phối, là những chính sách của nhà nước nhằm phân bổ

nguồn tài nguyên quốc gia cho các đối tượng cụ thể trong xã hội. Chẳng hạn,

đó là những chính sách giáo dục, y tế, đầu tư cơ sở hạ tầng…

Chính sách phân phối lại: là những chính sách hướng tới giảm bớt sự

chênh lệch về thu nhập, khả năng tiếp cận các dịch vụ giữa các tầng lớp dân

cư nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, bất công trong xã hội. Các chính

sách này thường hướng vào việc phân bổ lại các dịch vụ như nhà ở, thu nhập,

tài sản, quyền lợi công dân giữa các bộ phận nhân dân với nhau.

Chính sách điều tiết: là những chính sách hướng tới hạn chế sự phát

triển của bộ phận này, hoặc tạo điểu kiện cho sự phát triển của bộ phận khác.

Chính sách điều tiết giống với chính sách phân phối, song mục tiêu cuả nó là

nhằm tạo điều kiện cho các nhóm thiệt thòi trong xã hội có cơ hội vươn lên.

Đó có thể là những chính sách điều tiết sự phát triển của nền kinh tế, hoạt

động của doanh nghiệp, giao thông; nhưng đó cũng có thể là chính sách hỗ trợ

người nghèo, chính sách chống độc quyền…

1.1.1.3. Tiêu chí đánh giá chính sách

Chính sách tốt phải tiến tới mục tiêu phát triển chung, đối với Việt Nam

thì mục tiêu đó là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” đây

là mục tiêu phù hợp với xu thế chung của thời đại vì mục tiêu chính sách sẽ

phản ánh mong muốn của Nhà nước về những giá trị kinh tế và xã hội, mục

tiêu chung và mục tiêu chính sách luôn có sự gắn bó mật thiết với nhau vì vậy

khi hoạch định chính sách phải đạt được cả hai mục tiêu mới là tốt.

Chính sách tốt phải tạo ra động lực mạnh: có nghĩa là chính sách phải

đề cập được những vấn đề bức xúc mà xã hội đang quan tâm giải quyết tác

động tích cực đến nguyên nhân của vấn đề có mục tiêu cụ thể rõ ràng với biện

10

pháp khoa học chứa đựng cơ chế tác động thích hợp sẽ có ảnh hưởng tích cực

đến kinh tế – xã hội.

Chính sách tốt phải phù hợp với tình hình thực tế: nghĩa là khi ban hành

một chính sách phải xuất phát từ thực tế và tình hình nảy sinh mới và phải

giải quyết được các vấn đề đó, để làm được điều này chính sách ban hành ra

phải phù hợp với điều kiện cụ thể, đáp ứng được yêu cầu bức xúc của đời

sống xã hội vừa không làm phát sinh hoặc hạn chế được với vấn đề mâu thuẫn

thực tế và mục tiêu quản lý.

Chính sách tốt phải có tính khả thi: một chính sách không tốt nếu không

có tính khả thi, vì nó không thực hiện được trong cuộc sống. Tính khả thi của

chính sách thể hiện trên nhiều phương diện như nguyên nhân của vấn đề tạo

ra chính sách, lựa chọn thời điểm ban hành.

Chính sách tốt phải đảm bảo tính hợp lý: muốn chính sách đi vào đời

sống xã hội được thuận lợi thì ngoài những yêu cầu trên còn phải đáp ứng yêu

cầu tính hợp lý. Tính này có thể hiện là sự cân đối hài hoà giữa mục tiêu của

chính sách với đối tượng thụ hưởng của chính sách.

Chính sách tốt phải mang lại hiệu quả cho đời sống xã hội: chính sách

đạt được hiệu quả khi chi phí nguồn lực để đạt tới mục tiêu thấp. Để có được

một chính sách tốt cần dựa vào căn cứ sau đây:

- Căn cứ vào định hướng chính trị của Đảng cầm quyền. Vì Nhà nước

khi quản lý hay đặt ra các chính sách đều phải dựa trên đường lối phát triển

của Đảng cầm quyền, vì vậy khi hoạch định các chính sách đều dựa trên

đường lối phát triển của Đảng và lại được dùng để thực hiện từng bước mục

tiêu theo đường lối ấy.

- Căn cứ vào quan điểm phát triển của chủ thể nghĩa là tuỳ vào từng thời

kỳ có những quan điểm khác nhau hay người lãnh đạo nhận thức khác nhau, qua

đó cũng cần quan tâm tới đường lối của Đảng trong từng thời kỳ đó.

11

- Căn cứ vào nguyên tắc hoạch định chính sách là những quy định bắt

buộc mà các nhà hoạch định phải tuân theo trong quá trình làm chính sách,

tuỳ theo từng quốc gia hay điều kiện thì có còn nguyên tắc khác nhau.

1.1.2. Khái niệm về thực thi chính sách

1.1.2.1.Khái niệm

Thực thi đơn giản có nghĩa là thực hiện hoặc tiến hành. Thực thi là một

quá trình lặp đi lặp lại, trong đó các ý tưởng được thể hiện trong chính sách

được biến đổi thành hành vi, được thể hiện thành hành động xã hội. Thông

thường, hành động xã hội được biến đổi từ chính sách nhằm đạt được sự cải

thiện xã hội; và thường được thể hiện phổ biến nhất dưới dạng các chương

trình, thủ tục, quy định và hành động”. Theo Thomas Dye, thực thi bao gồm

tất cả các hoạt động được thiết kế để thực hiện chính sách đã được thông qua

bởi cơ quan lập pháp. Vì các chính sách có những tác động mong muốn hoặc

có chủ định, nên chúng phải được chuyển thành các chương trình và các dự

án mà sau đó được thực hiện để đạt được một tập hợp các mục tiêu hoặc

mục đích”

Thực thi chính sách là để khẳng định tính đúng đắn của chính sách. Một

khi chính sách được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội, thì

tính đúng đắn của chính sách được khẳng định ở mức cao hơn, được cả xã hội

thừa nhận, nhất là các đối tượng thụ hưởng chính.

Tóm lại, Thực thi chính sách là quá trình đưa chính sách vào thực

tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình,

dự án thực thi chính sách và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa

mục tiêu chính.

1.1.2.2. Chủ thế thực thi chính sách

Tùy thuộc vào chế độ chính trị, những quy định của hiến pháp, nguyên

tắc thực thi quyền lực nhà nước, cách thức tổ chức bộ máy nhà nước, mức độ

12

dân chủ, công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước, trình độ phát triển

kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia mà số lượng và loại chủ thể tham gia vào quá

trình thực thi chính sách ở các nước khác nhau là khác nhau. Có 5 chủ thể

tham gia vào thực hiện chính sách và cùng tác động lẫn nhau trong tiến trình

thực hiện bao gồm: (1) Các cơ quan chuyên trách của chính phủ - các cơ quan

chuyên trách và viên chức của họ là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện

chính sách; (2) Các thành viên của Quốc hội và các ủy ban như ủy ban Đường

lối và Chính sách, ủy ban Ngân sách... quản lý một cách chặt chẽ việc thực

hiện chương trình; (3) Hệ thống tòa án - trực tiếp thực hiện một số chính sách

và tham gia thi hành chính sách với cơ quan chuyên trách của chính phủ; (4)

Các tổ chức lợi ích - gây ảnh hưởng đối với các cơ quan chuyên trách của

chính phủ và tham gia vào cung ứng các đầu ra chính sách; (5) Đối tượng thụ

hưởng chính sách - là tác nhân thụ động nhưng góp phần vào sự thành công

hay thất bại của chính sách.

Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, ngoài những chủ thể tham gia

thực thi chính sách nêu trên, quá trình thực thi chính sách còn có sự tham gia

của các đối tác là các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các nhà tài trợ

quốc tế. Hơn nữa, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, cùng với

xu hướng xã hội hóa các hoạt động của nhà nước, quá trình thực thi chính

sách có sự tham gia tích cực của các đối tác xã hội như các doanh nghiệp, các

tổ chức nghiên cứu, tổ chức đào tạo, hiệp hội, người dân...

Như vậy, có rất nhiều chủ thể tham gia vào quá trình thực thi chính

sách công và các chủ thể này có mối quan hệ tương tác với nhau trong quá

trình thực hiện chính sách; số lượng chủ thể và vai trò của từng chủ thể tham

gia tùy thuộc vào từng chính sách cụ thể và bối cảnh của từng nước. Tuy

nhiên, có thể nhóm các chủ thể tham gia vào thực thi chính sách công thành

các nhóm sau: (1) Chủ thể thực thi là các cơ quan nhà nước và nhân sự của

13

các cơ quan đó - đây là chủ thể chịu trách nhiệm thực thi chính sách công; (2)

Chủ thể tham gia là các đối tác phi nhà nước (các doanh nghiệp, các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước); (3) Chủ thể tham gia với tư cách là đối tượng

thụ hưởng chính sách (các cộng đồng dân cư, các nhóm dân số, thậm chí mọi

người dân).

Ở nước ta, chủ thể tham gia thực hiện chính sách là những tổ chức,

nhóm xã hội, cá nhân mà những hành động cụ thể của họ có tác dụng đưa

chính sách từ lý thuyết trở thành hiện thực, từ đó tạo ra những biến đổi trong

thực tế đời sống xã hội. Lực lượng tham gia thực hiện chính sách ở nước ta rất

đông đảo, gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân.

Trong đó, chủ thể triển khai trước hết và quan trọng nhất là các cơ quan hành

chính nhà nước đứng đầu là Chính Phủ, chi phối các chính sách từ Trung

Ương đến địa phương.

1.1.2.3. Vai trò của thực thi chính sách.

Thực thi chính sách là một giai đoạn rất quan trọng của chu trình chính

sách, bởi sự thành công của một chính sách phụ thuộc vào kết quả của thực

thi chính sách. Theo Wayne Hayes , có bốn khả năng xảy ra: (1) Chính sách

tốt và thực hiện tốt dẫn đến thành công; (2) Chính sách tốt, nhưng thực hiện

tồi dẫn đến thất bại; (3) Chính sách tồi, nhưng thực hiện tốt dẫn đến thành

công; (4) Chính sách tồi và thực hiện tồi dẫn đến thất bại kép. Như vậy, thực

thi chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách, nó là

giai đoạn hiện thực hóa mục tiêu chính sách. Vai trò của thực thi chính sách

được thể hiện ở những phương diện sau:

- Từng bước hiện thực hóa mục tiêu của chính sách. Các mục tiêu chính

sách chỉ có thể đạt được thông qua quá trình thực thi chính sách, bởi thực thi

chính sách bao gồm các hoạt động có tổ chức được thực hiện bởi các cơ quan

nhà nước và các đối tác xã hội hướng tới đạt được các mục tiêu và mục đích

14

đã nêu ra trong chính sách. Trong quá trình thực thi, các cơ quan nhà nước có

thẩm quyền phải thiết lập các văn bản, hoặc chương trình, dự án để hiện thực

hóa các mục tiêu và mục đích chính sách; và tiến hành các hoạt động để thực

hiện các văn bản, chương trình, dự án đó.

- Khẳng định tính đúng đắn của chính sách. Quá trình hoạch định chính

sách cho ra đời một chính sách. Tuy nhiên, chính sách đó có thực sự đúng đắn

hay không chỉ có thể được nhận thức đầy đủ hơn trong thực thi chính sách.

Thực thi chính sách cung cấp những bằng chứng thực tiễn về mục tiêu chính

sách có thích hợp hay không và các giải pháp chính sách có thực sự phù hợp

để mà hướng tới giải quyết hay không, về phương diện lý thuyết, một chính

sách được ban hành đã phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn của một chính

sách tốt và mới chỉ được thừa nhận bởi các chủ thể ban hành, nhưng khi triển

khai vào thực tiễn đời sống xã hội, thì tính đúng đắn của chính sách mới được

khẳng định một cách chắc chắn bởi xã hội và đối tượng thụ hưởng chính sách.

- Thực thi chính sách giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện hơn.

Chính sách được ban hành ban đầu hay chính sách cơ sở thường chỉ mang

tính định hướng về mục tiêu và giải pháp để giải quyết vấn đề. Chính sách

này sẽ được cụ thể hóa cho phù hợp với bối cảnh và điều kiện cụ thể trong

quá trình thực thi của các cơ quan nhà nước các cấp. Căn cứ vào mục tiêu và

giải pháp chính sách ban đầu, các cơ quan nhà nước các cấp theo thẩm quyền

thiết kế và ban hành các quy định, thủ tục hoặc chương trình, dự án để cụ thể

hóa các mục tiêu và giải pháp cho phù hợp với bối cảnh, điều kiện thực thi

chính sách cụ thể. Hơn nữa, thông qua thực thi chính sách, những người thực

thi đưa ra những đề xuất điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn đời

sống xã hội và rút ra những bài học kinh nghiệm cho thiết kế chính sách công

trong tương lai. Chính vì vậy, nhiều nhà khoa học cho rằng có một mối quan

hệ hữu cơ giữa giai đoạn hoạch định chính sách và thực thi chính sách, việc

15

phân tách rạch ròi giữa thực thi chính sách và hoạch định chính sách trước

đây đã không còn phù hợp.

1.2. Chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng núi, vùng dân tộc

thiểu số.

1.2.1. Chính sách kinh tế là gì?

Chính sách kinh tế được hiểu là hoạt động của chính phủ tác động tới

các cơ chế văn hóa, xã hội, kinh tế và thể chế để đạt được những tiến bộ về

kinh tế.

1.2.2. Chính sách xã hội là gì?

Hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm chính sách xã hội,

tùy theo cách tiếp cận của từng nhà nghiên cứu thuộc các môn khoa học xã

hội khác nhau.

Từ góc độ quản lý, chính sách xã hội là sự cụ thể hóa và thể chế hóa

của Nhà nước các đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng về việc giải

quyết các vấn đề xã hội có liên quan đến con người, nhóm người, hoặc toàn

thể cộng đồng dân cư, nhằm trực tiếp tác động vào quan hệ con người, thành

viên xã hội, để điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa họ, bảo đảm phát triển con

người, thiết lập sự công bằng xã hội, trật tự an toàn xã hội, phát triển và tiến

bộ xã hội. Chính sách xã hội là chính sách của Nhà nước đề cập và giải quyết

các vấn đề xã hội tức là giải quyết các vấn đề phát sinh từ các quan hệ xã hội,

liên quan đến lợi ích và sự phát triển con người, cộng đồng dân cư, đó là

những vấn đề có ý nghĩa chính trị cốt lõi của mỗi quốc gia. Do đó, chính sách

xã hội phải dựa trên các quan điểm, chủ trương của Đảng, đồng thời các quan

điểm, chủ trương đó được thể chế hoá để tác động vào các quan hệ xã hội

nhằm giải quyết những vấn đề xã hội, góp phần thực hiện công bằng xã hội,

tiến bộ và phát triển con người.

16

Chính sách xã hội là tổng hợp các phương thức, các biện pháp của nhà

nước, nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, phù

hợp với trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị, góp phần thực

hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

1.2.3. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số

Xét theo nghĩa rộng, chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan

điểm tư tưởng phát triển, những mục tiêu tổng quát và những phương thức cơ

bản để thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước.

Xét theo nghĩa hẹp, chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan

điểm, các chuẩn mực, các biện pháp và các thủ thuật mà nhà nước sử dụng để

tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt đến các mục tiêu

trong số những mục tiêu chiến lược chung của đất nước.

Xét một cách tổng quát, chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan

điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động

lên các chủ thể kinh tế - xã hội nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện

những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước.

Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số là tập

hợp các chủ trương và hành động của chính phủ nhằm tạo cho vùng núi, dân

tộc thiểu số phát triển về kinh tế - xã hội bằng cách tác động vào việc cung

cấp các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng), tác động tới giá

đầu vào hay giá đầu ra, tác động về việc thay đổi tổ chức, trong đó thị trường

đầu vào và cả đầu ra được thực hiện, tác động vào chuyển giao công nghệ,

nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân ở những vùng núi,

vùng dân tộc thiểu số.

Việc xây dựng và áp dụng các chương trình, chính sách vào thực tiễn

đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, ở vùng miền núi có vai trò hết sức

quan trọng. Đòi hỏi các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương phải

17

nâng cao vai trò hoạch định và tổ chức thực thi, cũng như công tác quản lý

trong ngành lĩnh vực liên quan để đạt được kết quả cao nhất.

1.2.4. Đặc điểm của chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi,

dân tộc thiểu số.

Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số là

chính sách của Nhà nước do Nhà nước ban hành, Nhà nước ở đây được hiểu

là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước như Quốc hội, các Bộ,

chính quyền địa phương các cấp… Chính sách này được áp dụng trên phạm vi

vùng núi, dân tộc thiểu số trong cả nước hoặc từng địa phương nhất định.

Chính sách tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống

kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định, là một quá trình hành động

nhằm giải quyết một vấn đề nhất định. Khác với các loại công cụ quản lý khác

như chiến lược, kế hoạch của Nhà nước là những chương trình hành động

tổng quát bao quát một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc điểm của

chính sách phát triển kinh tế - xã hội là chúng được đề ra và được thực hiện

nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề liên quan lẫn nhau đang đặt ra trong

đời sống kinh tế - xã hội. Chính sách chỉ xuất hiện trước khi đã tồn tại hoặc có

nguy cơ chắc chắn xuất hiện một vấn đề cần giải quyết. Vấn đề chính sách

được hiểu là một mâu thuẫn hoặc một nhu cầu thay đổi hiện trạng xuất hiện

trong đời sống kinh tế - xã hội đòi hỏi Nhà nước sử dụng quyền lực công để

giải quyết. Có thể nói, vấn đề chính sách là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ quy

trình chính sách (bao gồm các giai đoạn hoạch định, thực thi và đánh giá

chính sách). Việc giải quyết những vấn đề nói trên nhằm vào những mục tiêu

mà Nhà nước mong muốn đạt được.

18

1.2.5. Vai trò của chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân

tộc thiểu số

Chính sách phát triểnkinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số là một

nhân tố ảnh hưởng thúc đẩy sự phát triển của xã hội, thông qua việc tạo điều

kiện phát triển và khai thác triệt để tiềm lực kinh tế, tiềm lực con người ở địa

bàn vùng núi.Điều đó xuất phát trước hết từ vai trò của con người, của nguồn

lực con người với sức sáng tạo vô tận đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.

Chính sách phát triểnkinh tế -xã hội giải quyết những vấn đề liên quan đến

kinh tế và xã hội, do đó tạo điều kiện phát triển và khai thác triệt để tiềm lực

kinh tế, con người cho sự phát triển. Vai trò này ngày càng to lớn khi đất

nước ta đang chuyển sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhân loại

đang bước sang thiên niên kỷ của trí tuệ, thời kỳ đòi hỏi hơn bao giờ hết phải

phát triển mạnh mẽ trí tuệ và khai thác tối đa trí tuệ con người cho sự phát

triển, đặc biệt là cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi.

Chính sách phát triểnkinh tế-xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số là công cụ

góp phần điều chỉnh sự khác biệt về cơ cấu kinh tế - xã hội để hướng tới sự

công bằng, bình đẳng về vị thế, vai trò và lợi ích kinh tế - chính trị - xã hội.

Chính sách phát triểnkinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số là cầu

nối giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Tăng trưởng kinh tế là một cơ

sở để tạo ra sự tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, sự tăng trưởng, phát triển kinh tế

không tự động trực tiếp dẫn đến sự tiến bộ xã hội. Sự tăng trưởng kinh tế phải

qua các chính sách xã hội mới tạo ra sự tiến bộ xã hội. Việc công bố chỉ số

phát triển con người, biểu hiện của sự tiến bộ xã hội của các nước thông qua

tổ chức phát triển Liên hợp quốc đã chứng minh điều đó. Nhờ có các chính

sách xã hội tốt nên các chỉ số phát triển con người về y tế chăm sóc sức khoẻ

và chỉ số về trình độ giáo dục ở vùng núi đạt cao.

19

Chính sách phát triểnkinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số là công

cụ hữu hiệu để Đảng và Nhà nước ta thực hiện cơ chế kinh tế thị trường có sự

quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển đất

nước nói chung và sự phát triển kinh tế - xã hội vùng núi nói riêng.

Nếu xét trên phương diện kinh tế, từ khi nước ta chuyển từ nền kinh tế

kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà

nước thì các phương pháp và hình thức tổ chức kinh tế của nước ta có nhiều

nét tương đồng như ở các nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới. Tuy nhiên sự

khác nhau cơ bản ở đây là tính chất xã hội, đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa

của sự phát triển nước ta mà mục tiêu là dân giàu, nước mạnh, xã hội công

bằng dân chủ và văn minh. Chính sách xã hội của nước ta là công cụ chủ yếu

để thực hiện ngày một tốt hơn sự công bằng xã hội và tiến bộ xã hội.

1.3. Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân

tộc thiểu số.

Hình 1.1. Quy trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội

Xây dựng kế

Phổ biến, tuyên

Phân công phối

hoạch triển khai

truyền chính sách

hợp thực hiện

thực hiện

vùng dân tộc thiểu số.

Kiểm tra đôn

Duy trì

Điều chỉnh

giá, rút kinh

đốc việc thực

chính

chính sách

nghiệm

hiện chính sách

sách

Tổng kết, đánh

20

1.3.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển

kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Đây là bước đầu tiên và cũng là bước có vai trò quan trọng nhất trong

các bước tổ chức thực hiện chính sáchtriển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc

thiểu số, việc xây dựng kế hoạch tốt sẽ giúp cho công tác triển khai tổ chức

thực hiện chính sách được hiệu quả. Kế hoạch triển khai phải đúng và sát thực

tế, đảm bảo theo các yêu cầu của các văn bản chỉ đạo của cấp trên; kế hoạch

phải rõ ràng, đảm bảo đầy đủ nội dung. Việc xây dựng kế hoạch cần tập trung

nghiên cứu địa bàn thực hiện, nghiên cứu những kế hoạch trước đây, những

kế hoạch của các chính sách tương tự để rút kinh nghiệm và xây dựng kế

hoạch cho tốt. Xây dựng kế hoạch là khâu đầu tiên trong quá trình tổ chức

thực hiện chính sách nên trong quá trình thực hiện xây dựng kế hoạch cần

phải xác định cho đúng mục đích, yêu cầu cần đạt được trong kế hoạch để xây

dựng kế hoạch cụ thể, phù hợp vơi thực tế.

1.3.2. Phổ biến, tuyên truyền, thực hiện về chính sách phát triển kinh

tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Phổ biến, tuyên truyền, thực hiện chính sách triển kinh tế - xã hội vùng

núi, dân tộc thiểu số là khâu đặc biệt quan trọng, thực tế trong những năm

qua, nhờ có công tác tuyên truyền mà các chính sách của Đảng và nhà nước

đã được thực hiện, đồng bào dân tộc chăm lo làm ăn phát triển kinh tế, an

ninh chính trị được giữ vững, bà con người dân tộc biết tự cảnh giác với bọn

đội lốt tôn giáo đến lừa gạt phá hoại chính trị, an ninh trên địa bàn, dần dần đã

từng bước xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, không phù hợp …

Để làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến cần đạt được những nội

dung cơ bản sau:

- Tăng cường tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng,

Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và

21

chủ động tham gia vào quá trình thực hiện; trong đó chú trọng vùng dân tộc

thiểu số ở miền núi.

- Cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp cơ sở, phải thường xuyên đi sâu,

tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc thiểu số; vận động

đồng bào đấu tranh chống lại những luận điệu của các thế lực thù địch, đảm

bảo an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.

- Tổ chức các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc,

trong cùng dân tộc, trong cộng đồng làng, bản,... Tổ chức hoạt động kết nghĩa

giữa các địa phương nhằm tương trợ phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm

nghèo, giải quyết khó khăn trong cuộc sống.

1.3.3. Phân công phối hợp thực hiện chính sách phát triển kinh tế -

xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Tổ chức phân công phối hợp thực hiện chính sách triển kinh tế - xã hội

vùng núi, dân tộc thiểu số, nội dung phải sát thực tế với nhiệm vụ mà người

được phân công đảm nhận, phân công công việc phải theo vị trí việc làm, rõ

người, rõ nhiệm vụ, tránh những trường hợp không có người nên cán bộ xây

dựng kế hoạch đưa vào cho đầy đủ số lượng mà bỏ qua chất lượng công việc.

Việc phân công phân nhiệm phải rõ ràng, minh bạch và phối hợp thực

hiện theo nhiệm vụ đã phân công. Trong những năm gần đây việc phân công

phối hợp thực hiện luôn được xây dựng kế hoạch nhưng khi thực hiện, thường

thì chỉ có đơn vị chủ trì thực hiện chính sách, những đơn vị còn lại chỉ mang

tính chất tham gia nhưng còn rất hạn chế.

1.3.4. Duy trì thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng

núi, dân tộc thiểu số.

Để chính sách thực hiện tốt và duy trì được thường xuyên, cần phải tổ

chức duy trì thực hiện chính sách triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu

số. Đây là nhiệm vụ chính của cơ quan chuyên môn tại địa phương. Việc duy

22

trì thực hiện chính sách triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số có ý

nghĩa hết sức quan trọng giúp chính sách dần dần đi vào đời sống của người

dân, đem lại hiệu quả thiết thực.

Thông qua việc duy trì chính sách triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân

tộc thiểu số sẽ giúp chúng ta nhận biết những vấn đề đúng sai, bất cập trong quá

trình thực hiện chính sách để có hướng điều chỉnh cho phù hợp với thực tế, sát

với nội dung công việc, sát với điều kiện thực tế của người dân địa phương.

1.3.5. Điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân

tộc thiểu số.

Đây là bước hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách

phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số. Quá trình duy trì thực

hiện chính sách sẽ xuất hiện nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống, …

đòi hỏi cần phải có sự điều chỉnh, bổ sung trong thực hiện chính sách phát

triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giúp cho chính sách đầy

đủ hơn, sát với thực tế hơn…

1.3.6. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách triển kinh tế - xã

hội vùng núi, dân tộc thiểu số

Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách pháttriển kinh tế - xã hội vùng

núi, dân tộc thiểu số là khâu rất quan trọng, nó thể hiện năng lực quản lý,

giám sát và trách nhiệm của cán bộ quản lý về chính sách và đây cũng là khâu

giúp cho chính sách được sát với thực tế, sát với nội dung công việc, qua đó

rút ra những kinh nghiệm trong những đợt thực hiện tiếp theo. Để thực hiện

tốt việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách, cán bộ thực hiện chính sách

triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số cần phải có kế hoạch kiểm tra

định kỳ, đồng thời kết hợp kiểm tra bất thường để đánh giá nhận xét cho sát,

đúng, giúp công việc đạt hiệu quả cao hơn.

23

1.3.7. Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách

phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện chính sách triển kinh tế - xã hội

vùng núi, dân tộc thiểu số phải nêu lên được kết quả toàn diện về triển khai

công việc trong kỳ, kể cả mặt được và mặt chưa được trên tất cả các lĩnh vực

chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng; phải chỉ ra được nguyên nhân

khách quan và chủ quan, nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân sâu xa dẫn tới

những mặt đạt được và chưa đạt được của kết quả đã nêu; phải rút ra được

những bài học kinh nghiệm qua việc triển khai công việc, nhất là những bài

học kinh nghiệm tổng kết ý kiến phản hồi của người dân được thụ hưởng

chính sách và chính quyền địa phương; phải đề xuất được các kiến nghị và

giải pháp phát huy những kết quả đạt được và khắc phục những tồn tại, yếu

kém hoặc phải đưa ra được những giải pháp khắc phục những hậu quả do việc

triển khai công việc không thành công. Thông thường, công tác sơ kết, tổng

kết việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số

được thực hiện theo quy trình như sau:

Hình 1.2: Quy trình thực hiện công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện

Xây dựng đề cương

Xác định mục đích

Xây dựng báo

kế hoạch triển khai

cáo tổng hợp

và yêu cầu

thực hiện

chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số.

Bước 1: Xác định mục đích và yêu cầu của việc sơ kết, tổng kết. Mục

đích của việc sơ kết, tổng kết là nhằm đánh giá đúng thực trạng kết quả, hiệu

quả của nội dung chính sách, quá trình tổ chức triển khai thực hiện và đề xuất

giải pháp, kiến nghị bổ sung, sửa đổi nội dung của chính sách cũng như việc

tổ chức thực hiện hiệu quả của chính sách phù hợp với điều kiện thực tế.

24

Muốn việc sơ kết, tổng kết đạt kết quả thì cần phải thực hiện bước xác định

mục đích và yêu cầu của việc sơ kết, tổng kết. Bởi đây là bước định hướng

cho công tác sơ, tổng kết; là bước đặt ra mục tiêu chủ yếu của công tác sơ,

tổng kết cần hướng tới hay cần đạt được.

Bước hai: Xây dựng đề cương kế hoạch triển khai thực hiện việc sơ kết,

tổng kết:

- Căn cứ vào nội dung chính sách cần được sơ kết, tổng kết để xây

dựng đề cương.

- Tổ chức các đoàn kiểm tra thực tế tại địa phương, thường là các địa

bàn trọng điểm, các địa phương tổ chức triển khai tốt và yếu kém trong việc

thực hiện chính sách.

- Xây dựng hệ thống các biểu mẫu thống kê, các chỉ tiêu đánh giá hiệu

quả chính sách và công tác tổ chức triển khai thực hiện chính sách; tuỳ

từng loại, từng đặc điểm của chính sách mà xây dựng các biểu thống kê thu

thập thông tin phù hợp. Các biểu mẫu thống kê phải đảm bảo tính hệ thống,

tính toàn diện, tính cân đối, tính cập nhật thông tin và đặc biệt là có thể so

sánh được.

- Hướng dẫn các địa phương bằng văn bản nội dung kiểm tra sơ kết,

tổng kết, gửi báo cáo kết quả để tổng hợp;

- Tập hợp các tài liệu có liên quan đến nội dung chính sách, các văn bản

hướng dẫn thực hiện để làm cơ sở so sánh kết quả thực hiện so với mục tiêu

và nội dung chính sách;

- Lựa chọn các phương pháp sử dụng trong báo cáo: Sử dụng các

phương pháp như: mô tả, so sánh, phân tích nguyên nhân, …để từ đó xác định

mức độ tác động của từng nguyên nhân đến tổng thể nghiên cứu.

Bước ba: Xây dựng báo cáo tổng hợp. Tập trung phân tích, đánh giá

các nội dung sau:

25

- Đối tượng thụ hưởng chính sách;

- Nguồn lực đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện chính sách;

- Đánh giá quá trình tổ chức thực hiện chính sách (khâu quản lý, chỉ

đạo, đôn đốc, kiểm tra);

- Hiệu quả của chính sách (nhấn mạnh hiệu quả tổng hợp về kinh tế -

xã hội);

- Mặt hạn chế (chưa phù hợp, thiếu tính khả thi) của chính sách đối với

các địa phương qua thời gian tổ chức thực hiện;

- Đề xuất, kiến nghị bổ sung hoàn chỉnh chính sách (cả về nội dung

chính sách, tổ chức thực hiện, nguồn lực đảm bảo và đối tượng thụ hưởng);

- Xin ý kiến đóng góp vào dự thảo và hoàn chỉnh báo cáo và trình cấp

có thẩm quyền (có thể tổ chức Hội nghị sơ kết, tổng kết việc thực hiện chính

sách nếu thấy cần thiết). Mỗi vấn đề đưa ra trong báo cáo phải có nhận định,

có dẫn chứng, phân tích nguyên nhân; bố trí các phần trong báo cáo hài hoà

cân đối nhau theo một quan hệ tỷ lệ.

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sáchphát triển kinh

tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

1.4.1. Các yếu tố khách quan

1.4.1.1 Tính chất của vấn đề chính sáchphát triển kinh tế - xã hội vùng

núi, dân tộc thiểu số.

Tính chất của vấn đề chính sách khi ban hành là nhằm phục vụ chung

cho cả nước; chính vì vậy, một số nội dung có thể phù hợp với địa phương

này nhưng lại chưa phù hợp với địa phương khác, bởi vì còn nhiều vấn đề còn

liên quan đến chính sách mà không thể lường trước được, như các lý do về

điều kiện về vùng núi, giao thông đi lại, thời tiết khí hậu vùng miền, kinh phí,

phong tục tập quán, điều kiện sống … vì vậy vùng đồng bào dân tộc thiểu số

sẽ cảm thấy khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế -

26

xã hội mà không phù hợp với điều kiện với địa phương. Thực tế thời tiết, khí

hậu tại các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta có sự khác nhau, nhưng khi Nhà

nước ban hành một chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, thì các địa

phương thực hiện đồng bộ. Vùng dân tộc thiểu số miền trung giai đoạn tháng

9, tháng 10 thời tiết nơi đây lạnh nhưng Nhà nước lại thực hiện việc giao trâu,

bò, gà cho nguời dân, và tập quán của đồng bào thiểu số nơi đây là chăn nuôi

thả rông nên hiệu quả mang lại của chính sách cung cấp giống vật nuôi của

Nhà nước cho người dân không đạt được hiệu quả cao, nhưng ngược lại thời

tiết vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên khoảng thời gian đó thời tiết

nắng ấm nên hiệu quả mang lại của chính sách cung cấp giống vật nuôi mang

lại rất lớn. Từ đó ta thấy rõ rằng các yếu tố về thời tiết khí hậu vùng miền,

kinh phí, phong tục tập quán, điều kiện sống … là một trong những yếu tố tác

động không nhỏ đến các địa phương khi thực hiện chính sách.

1.4.1.2. Môi trường thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội

vùng núi, dân tộc thiểu số.

Môi trường là yếu tố tác động rất lớn đến chính sách, nếu có một môi

trường tốt thì chính sách sẽ dễ dàng thực hiện và ngược lại nếu có một môi

trường làm việc xấu sẽ làm cho việc thực hiện chính sách xấu đi. Một số môi

trường ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi,

dân tộc thiểu số hiện nay là môi trường làm việc của cán bộ, cơ sở vật chất,

môi trường địa lý tự nhiên, môi trường khí hậu, điều kiện sống , trình độ nhận

thức của người dân tộc thiểu số, tất cả những môi trường này đều có những

tác động tích cực hoặc tiêu cực đến chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng

núi, dân tộc thiểu số.

27

1.4.1.3. Mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách phát

triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Trong các tác nhân gây ảnh hưởng tác động đến chính sách, có một yếu

tố tác động rất tích cực mà ít địa phương quan tâm, chú trọng, đó là mối quan

hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở vùng

núi, ở các địa phương hầu như chưa có văn bản nào cụ thể hóa bằng hành

động thực tiễn mà chỉ có nói chung chung trong chỉ đạo, quy chế phối hợp,

nghị quyết, đây là sự phối hợp trong thực hiện chính sách phát triển kinh tế -

xã hội vùng núi giữa các cơ quan ban ngành, nó được thể hiện qua mối quan

hệ, trao đổi thông tin cho nhau giữa các cơ quan liên quan, giữa đơn vị thực

hiện chính sách và người được thụ hưởng chính sách. Nếu mối quan hệ này

tốt nó sẽ tạo động lực cho chính sách phát triển và ngược lại nếu mối quan hệ

này xấu nó sẽ kìm hãm sự hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế - xã hội

vùng núi, dân tộc thiểu số.

1.4.2. Các yếu tố chủ quan

1.4.2.1. Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực

hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện

chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số là nội dung rất

quan trọng để hoàn thành hiệu quả việc thực hiện chính sách. Nếu vì một lý

do nào đó mà một trong các bước không được thực hiện sẽ gây ra tác động

tiêu cực không nhỏ đến quá trình thực hiện chính sách, làm cho các bước tiếp

theo bị dán đoạn, thực hiện sai lệch, nghiêm trọng hơn là gây ra tác hại đến

chính sách thực hiện. Chính vì vậy cần phải thực hiện đúng, đầy đủ các bước

trong quy trình thực hiện chính sách dân tộc để tránh gây ra tác động không

tốt trong quá trình thực hiện chính sách.

28

1.4.2.2. Tổ chức bộ máy và năng lực thực thi chính sách phát triển kinh

tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số của cán bộ công chức trong bộ máy

quản lý nhà nước

Tổ chức bộ máy và năng lực thực thi chính sách phát triển kinh tế - xã

hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số của cán bộ công chức trong bộ máy quản

lý Nhà nước là một nội dung rất quan trọng, tác động tích cực đến quá trình

thực hiện chính sách. Một bộ máy tốt, có đội ngũ cán bộ giỏi sẽ tác động tích

cực vào quá trình thực hiện chính sách rất lớn và ngược lại sẽ làm giảm hiệu

quả, thậm chí gây tác động xấu đến chính sách trong quá trình thực hiện.

1.4.2.3. Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực hiện chính sách phát

triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Trong các tác động đến việc thực hiện chính sách thì điều kiện vật chất

là một trong những điều kiện cơ bản để hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chính

sách. Nhất là khi thực hiện nhiệm vụ ở vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc

thiểu số, điều kiện thiếu máy móc, trang thiết bị, giao thông không thuận lợi

thì cơ sở vật chất có tác động không hề nhỏ đến quá trình thực hiện chính

sách ở địa phương.

1.4.2.4. Sự đồng tình ủng hộ của nhân dân

Đây là vấn đề quan trọng nhất, tác động trực tiếp đến chính sách. Chính

sách có đạt hiệu quả hay không là do đối tượng thụ hưởng quyết định, chính

vì vậy khi ban hành chính sách đòi hỏi phải phù hợp với người dân, sự tác

động của người dân vào hiệu quả thực hiện chính sách là rất lớn. Nếu chính

sách không tốt sẽ tạo ra những phản ứng, sự không hài lòng, không mang lại

hiệu quả cho chính sách, và ngược lại chính sách tốt sẽ tác động tích cực vào

việc thực hiện chính sách ở địa phương.

29

1.5. Những yêu cầu cơ bản trong thực hiện chính sách phát triển kinh

tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

1.5.1. Yêu cầu thực hiện đúng mục tiêu chính sách

Khi chính sách ban hành, việc quan trọng nhất là thực hiện đúng mục

tiêu của chính sách, chính sách có đạt hiệu quả hay không? Có đảm bảo đạt

theo yêu cầu hay không? là do việc thực hiện theo mục tiêu của cán bộ thực

hiện chính sách. Việc thực hiện theo đúng mục tiêu có ý nghĩa hết sức quan

trọng trong thực hiện chính sách, giúp chính sách đi theo đúng hướng, đúng

theo chủ trương của Nhà nước.

1.5.2. Yêu cầu đảm bảo tính hệ thống trong thực hiện chính sách

phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Khi thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc

thiểu số, phải có tính hệ thống trong quá trình thực hiện, không thực hiện theo

ý chủ quan. Hệ thống này được quy định theo các văn bản, chủ trương của

Nhà nước và bắt buộc mọi cán bộ thực hiện chính sách phải tuân theo, nó thể

hiện rõ nhất là sự phân cấp thực hiện giữa các cơ quan đơn vị, cấp trên cấp

dưới, sự phối hợp trong việc thực hiện chính phát triển kinh tế - xã hội vùng

núi, dân tộc thiểu số.

1.5.3. Yêu cầu bảo đảm tính pháp lý, khoa học và hợp lý trong thực

hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Trong thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc

thiểu số. Việc đầu tiên cần phải đảm bảo đó là tính pháp lý của chính sách.

Thực hiện chính sách phải thực hiện theo đúng pháp luật, đúng những nội

dung mà văn bản quy định. Và đồng thời phải thực hiện một cách khoa học và

hợp lý trong thực hiện chính sách. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng

núi, dân tộc thiểu số là chính sách đặc thù dành riêng cho người dân tộc thiểu

số nghèo, trong quá trình thực hiện sẽ có những nảy sinh mới, những khó

30

khăn mới mà trong chính sách chưa quy định rõ, hoặc không thể quy định rõ.

Vì vậy cần phải thực hiện một cách đảm bảo tính pháp lý, khoa học và phải

đảm bảo hợp lý trong thực hiện chính sách dân tộc để chính sách phát huy

hiệu quả của nó và đem lại lợi ích cho nhân dân vùng đồng bào dân tộc

thiểu số.

1.5.4. Yêu cầu đảm bảo lợi ích thực sự cho các đối tượng thụ hưởng

chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Lợi ích của các đối tượng thụ hưởng chính sách là yếu tố then chốt cần

phải quan tâm, chính sách ban hành là vì lợi ích của người dân tộc thiểu số,

của các đối tượng được thụ hưởng, chính vì vậy yêu cầu phải đảm bảo được

lợi ích thực sự cho các đối tượng thụ hưởng, không nên lợi dụng chính sách

dân tộc để cắt xén chính sách, lách luật, làm chứng từ khống trục lợi cá nhân

thông qua việc thực hiện chính sách. Nói chung, để chính sách phát triển kinh

tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số đạt được những hiệu quả, yêu cầu đặc ra,

người thực hiện chính sách này cần đạt được những yêu cầu cơ bản sau đây:

Một là phải nắm chắc cơ bản, cốt lõi các chủ trương, đường lối của

Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về chính sách phát triển kinh tế -

xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là một nội dung có ý nghĩa hết

sức quan trọng trong việc thực hiện chính sách, nó quyết định sự thành công

hay thất bại của người thực hiện chính sách này.

Hai là phải gương mẫu, nghiêm túc và có ý thức cao trong thực hiện các

chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. Không thực hiện

qua loa, xem nhẹ việc thực hiện chính sách, không coi thường khi làm việc

tiếp xúc với các tộc người thiểu số, tránh những trường hợp lợi dụng sự kém

hiểu biết, nhẹ dạ, cả tin của người dân tộc thiểu số mà lừa gạt, ăn chặn chế độ,

làm sai trái bóp méo chính sách …

31

Ba là khi thực hiện chính sách phải đi từ nguyện vọng, nhu cầu của

người dân và tình hình thực tế của địa phương. Tránh trường hợp áp đặt mù

quáng theo nhận định cá nhân hoặc vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm.

Bốn là phải sâu sát trong việc kiểm tra, đánh giá, đôn đốc nhắc nhỡ và

đặt biệt là phải gần dân để nắm bắt tình hình và lắng nghe những tâm tư,

nguyện vọng của nhân nhân, của đồng bào dân tộc thiểu số mà tham gia xây

dựng và thực hiện chính sách dân tộc.

Năm là công tác triển khai thực hiện các chính sách phải nhanh chóng,

kịp thời. Cần hạn chế các quy trình thủ tục hành chính, các văn bản giấy tờ

liên quan không cần thiết, các cuộc họp liên quan không cần thiết để tránh kéo

dài thời gian thực hiện chính sách, gây chậm trễ trong công việc như: thực

hiện trồng trọt, chăn nuôi sai vụ mùa, tiền chậm không được giải ngân, xây

dựng công trình vào mùa mưa, lũ.

1.6. Các phương pháp tổ chức thực hiện chính sáchphát triển kinh

tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Thực hiện chính sách dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng, chính vì vậy

cần phải có phương pháp thực hiện chính sách hợp lý để chính sách dân tộc

đạt được hiệu quả cao.

1.6.1. Phương pháp kinh tế -tài chính

Mọi chính sách khi ban hành cần phải có phương pháp kinh tế - tài

chính. Điều này giúp cho người thực hiện chính sách dễ dàng triển khai và

thuyết phục người dân thực hiện tốt các chính sách. Một chính sách chỉ nói

xuông mà không có tài chính, không đem lại lợi ích kinh tế cho người dân thì

chính sách đó không khả thi.

Dùng phương pháp kinh tế - tài chính để thực hiện chính sách phát triển

kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong những năm qua đã tạo ra

những tác động lớn làm thay đổi đời sống bà con người dân tộc thiểu số ở

32

vùng đặc biệt khó khăn, người dân đã có những công trình tưới tiêu, có đường

giao thông thuận lợi để lưu thông hàng hóa, có điện nước sinh hoạt, có điều

kiện phát triển kinh tế hộ gia đình , con em hộ đồng bào dân tộc thiểu số có

điều kiện đến trường học, đau ốm có thuốc chữa bệnh, có bảo hiểm y tế.

1.6.2. Phương pháp tuyên truyền thuyết phục

Ngoài việc dùng nguồn lực tài chính, người thực hiện chính sách cần

phải biết đến phương pháp thuyết phục người dân, đặc biệt là cán bộ thực

hiện chính sách ở vùng miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, thì đây không

những là trách nhiệm của Nhà nước giao mà còn là phương pháp hữu ích

nhất, hiệu quả nhất khi tham gia thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã

hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trong những năm qua nhờ làm tốt công tác tuyên truyền thuyết phục

mà các vụ bạo loạn ở Tây Nguyên không còn xảy ra nữa, người dân đã ý thức

được cơ bản bọn người đội lốt tôn giao đến chống phá Đảng, nhà nước ta

thông qua việc lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bà con dân tộc thiểu số; nhờ có

truyên truyền mà ngày nay bà con người dân tộc thiểu số ở khắp nơi trên đất

nước Việt Nam đã từng bước làm ăn, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo,

biết đau ốm đến bệnh viện, biết đến trường để học hành, biết chăm lo đời

sống của mình tốt hơn, có trình độ nhận thức ngày một tiến bộ hơn.

Một chính sách tốt, nếu không có sự tuyên truyền thuyết phục của cán

bộ làm công tác thực hiện chính sách, không được triển khai đúng cách thì

chính sách đó sẽ bị phản tác dụng, không hiệu quả, thậm chí còn gây tác động

xấu đến đời sống người dân.

Hiện nay, Nhà nước ta đang thực hiện rất nhiều chương trình, dự án

chính sách liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc

thiểu số, để chính sách đi vào đời sống của bà con người dân tộc thiểu số thì

việc đầu tiên đó là công tác tuyên truyền, thuyết phục để nâng cao nhận thức

33

cho bà con, từ đó mới mở đường cho các chính sách, chương trình dự án vào

thực hiện tại địa phương.

1.6.3. Phương pháp hành chính

Đây là phương pháp mà người thực hiện chính sách cần phải biết, hiểu

và dùng đến một cách hợp lý. Mọi văn bản, thủ tục, và quy định của Nhà

nước, người thực hiện chính sách phải nghiêm chỉnh hướng dẫn và thực hiện

theo đúng quy định. Trong những trường hợp khi thực hiện chính sách bị

vướng mắc mà người dân cố tình cản trở, chây lì không chịu thực hiện, chúng

ta phải thực hiện phương pháp hànhchính để thi hành nhiệm vụ, trên cơ sở vì

mục tiêu chung của chính sách và sự phát triển của đại đa số người dân.

1.6.4. Phương pháp kết hợp

Phương pháp kết hợp, nghĩa là chúng ta sẽ tổ chức triển khai thực hiện

chính sách bao gồm 03 phương pháp trên. Khi thực hiện chính sách chúng ta

phải khéo léo lồng ghép 03 phương pháp trên để nhằm đạt được mục tiêu,

hiệu quả của chính sách.

34

Tiểu kết Chương 1

Qua nội dung chương 1, cho chúng ta thấy được toàn diện và cơ bản

nhất những vấn đề lý luận chung về thực hiện chính sách phát triển kinh tế -

xã hội vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn huyện An

Lão nói riêng. Qua đó thấy được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với

công tác dân tộc, những hoạt động thực tế trong thực hiện chính sách phát

triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số trong thời gian qua. Giúp chúng ta

có cái nhìn sơ bộ về vấn đề thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội

trong giai đoạn hiện nay.

35

Chương 2

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VÙNG NÚI, DÂN TỘC THIỂU SỐ

TẠI HUYỆN AN LÃO, BÌNH ĐỊNH.

2.1. Tổng quan về huyện An Lão, tỉnh Bình Định

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

An Lão là một huyện vùng cao của tỉnh Bình Định, được bao bọc xung

quanh chủ yếu là những dãy núi, có tổng diện tích tự nhiên 69.201 ha, cách

thành phố Quy Nhơn 120 km. Phía Bắc giáp 2 huyện Ba Tơ và Đức Phổ, tỉnh

Quãng Ngãi; phía Nam giáp huyện Hoài Ân và Vĩnh Thạnh; phía Đông giáp

huyện Hoài Nhơn; phía Tây một phần giáp huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình

Định và Huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

Huyện An Lão có địa hình tương đối phức tạp, chia cắt mạnh, chủ

yếu là đồi núi, độ chênh lệch cao lớn, thấp dần từ Tây sang Đông và từ

Bắc vào Nam.

Đơn vị hành chính trực thuộc gồm 09 xã, đều lấy chữ An làm đầu

(An Hòa, An Tân, An Quang, An Nghĩa, An Toàn, An Trung, An Dũng,

An Vinh, An Hưng), 1 thị trấn (An Lão huyện lỵ), với 57 thôn.

An Lão là huyện có tiềm năng kinh tế nông, lâm nghiệp khá phong

phú, đã và đang được khai thác để phát triển. Tuy nhiên, tiềm lực kinh tế

của huyện còn nhiều hạn chế, đời sống của nhân dân còn thấp.

Núi rừng: Chiếm hầu hết diện tích tự nhiên của toàn huyện. Rừng

núi An Lão có các loại gỗ quý như lim, sơn, chò, nhiều loại thú như hổ,

nai, trăn, nhiều mật ong, song mây.

Sông suối: An Lão có mạng lưới sông suối chằng chịt, lớn nhất là

các sông: sông Đinh, sông Vố, sông Đào, chảy về phía hạ lưu là đầu

36

nguồn của sông Lại Giang lớn nhất nhì trong tỉnh Bình Định. Sông suối ở

An Lão có nhiều loại cá, ốc, đặc biệt có đặc sản cá niêng nổi tiếng. Các

sông suối là nguồn nước quan trọng và còn chứa tiềm năng về thuỷ lợi,

thuỷ điện nhằm phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Các sông ở đây đều có

lòng sông đào sâu, khuất khúc, lòng sông dốc, nước chảy xiết, nên thường

gây lũ lớn về mùa mưa và dễ khô kiệt về mùa nắng.

Đồng bằng: Nằm dọc theo thung lũng các sông, đất đai khá màu mỡ,

như đồng bằng dọc sông Đinh chảy qua các xã An Tân, An Hòa. Đồng

bằng thường có các cánh đồng lúa, hoặc trồng các loại hoa màu.

Khoáng sản: Rải rác trong huyện An Lão có đá chẻ và hiện nay Nhà

nước đang có dự án khai thác các mỏ đá này. Cung cấp nguyên vật liệu

trực tiếp cho các công trình đang xây dựng tại huyện.

Nhìn chung, đất đai ở An Lão khá tốt. Các vùng thung lũng nhiều

nơi tương đối thoáng rộng, được cư dân trong vùng khai phá thành đất

canh tác từ lâu đời. Quá trình khai thác, phát triển đất đai ở huyện An Lão

nói chung đã diễn ra nhiều đời, trong khắp huyện.

Khí hậu: Tương tự như khí hậu các huyện miền núi trong tỉnh Bình

Định. Mùa mưa hay đến sớm hơn các huyện đồng bằng và lượng mưa khá

lớn. Khí hậu lúc bình thường ở An Lão khá dễ chịu. Tuy nhiên, huyện An

Lão được hợp thành từ 2 con sông lớn là sông Đinh và sông Vố nên khi

mùa mưa đến lượng nước hợp lại từ 2 con sông này gây lụt cho các hộ

dân ở hạ lưu.

2.1.2. Dân cư, dân tộc

An Lão là một trong 61 huyện nghèo trong cả nước. Địa giới hành

chính được chia làm 9 xã và 1 thị trấn An Lão. Trong đó, 7 xã thuộc xã

đặc biệt khó khăn. Toàn huyện có 57 thôn với tổng dân số hiện có 7.181

hộ, 28.229 khẩu, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có 2.709 hộ, 10.194

37

nhân khẩu, chiếm 36,11% gồm người Bana, H’re. Tỉ lệ hộ nghèo chung

toàn huyện là 57,42%.

Đồng bào dân tộc Hrê và Bana ở An Lão chủ yếu làm ruộng nước,

nương rẫy, còn lưu giữ được những di sản văn hóa dân tộc quý báu như

cồng chiêng. Dân tộc Kinh cư trú chủ yếu ở huyện lỵ và các xã phía đông

huyện, có đặc điểm chung của người Kinh và có sự giao lưu, giao thoa

văn hóa với các dân tộc anh em trong huyện.

Người H’rê và Bana biết làm lúa nước từ khá sớm, ở vùng cao trước

đây đồng bào sinh sống chủ yếu bằng nghề phát nương, làm rẫy, săn bắn

thú rừng, tính cách thật thà chất phát. Đồng bào có phong tục “ gác chòi

để chứa thóc gạo, để của ở ven khe, không lấy trộm của nhau. Người đồng

bào ở đây sống rất đoàn kết với nhau.

2.1.3. Tình hình kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc thực hiện

chính sách.

Về kinh tế: giá trị sản xuất tăng bình quân 14,06 năm; cơ cấu

chuyển dịch đúng hướng; một số mô hình trang trại, vườn rừng được hình

thành và đem lại hiệu quả. Lĩnh lực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và

dịch vụ có bước phát triển. Hàng năm giải quyết các công ăn việc làm cho

người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện.

Về xã hội: huyện đã tập trung đầu tư vào giáo dục, y tế, chăm sóc

trẻ em, người có công, hỗ trợ người đồng bào dân tộc thiểu số, cụ thể: đã

tập trung xây dựng điện, đường, trường trạm, trong những năm qua huyện

đã xây dựng mới 3/5 trạm y tế xã, đến nay đã có 4/5 trạm y tế đạt chuẩn,

80 % trạm y tế xã có bác sỹ; xây dựng mới các trường học mầm non, tiểu

học trung học cơ sở, đội ngũ giáo viên được chuẩn hóa, hoàn thành phổ

cập giáo dục mần non 5 tuổi…, nhờ vậy các em học sinh người dân tộc

38

thiểu số được đến trường đến lớp, được chăm sóc y tế, có điện đường để

sinh hoạt và phát triển kinh tế gia đình.

2.1.4. Nhận xét thuận lợi và khó khăn

Huyện An Lão thuận lợi phát triển cây lâm nghiệp, cây công nghiệp

dài hạn, cây lương thực, nhất là cây lúa nước và cây công nghiệp ngắn

ngày. Nhưng do lượng mưa phân bố không đều trong năm. Vì vậy, vấn đề

thuỷ lợi có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, nhất là cho sản xuất

nông nghiệp và sinh hoạt của cư dân.

Với vị trí địa lý nêu trên, điều kiện giao thông hiện tại huyện An

Lão gặp nhiều khó khăn cho giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội với khu

bên ngoài, xa tỉnh lỵ, xa các trung tâm kinh tế. Do đó, gặp nhiều khó

khăn, thách thức trong phát triển. Nếu được quan tâm đầu tư thoả đáng về

kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông thì huyện mới có thể bứt phá, phát huy

thế mạnh để hội nhập và phát triển.

Ngoài ra, do ở An Lão thành phần người dân tộc thiểu số chiếm khá

đông trong tổng dân cư, với lối sống cũ xưa, còn nhiều tập tục lạc hậu, cổ

hủ, khó tiếp cận với cơ chế phát triển mà Đảng và Nhà nước đưa ra, tình

trạng nghèo đói vẫn còn kéo dài, cần phải thực hiện các chính sách phát

triển, nâng cao đời sống kinh tế - xã hội cho đồng bào nơi đây.

2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội

vùng núi, dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định.

2.2.1. Quy trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng

dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện An Lão.

Để thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc

thiểu số trên địa bàn huyện An Lão cần thực hiện các bước như sau:

Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển

kinh tế-xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số tại huyện miền núi An Lão.

39

Sau khi có Quyết định của Chính phủ và các văn bản chỉ đạo của

UBND tỉnh, UBND huyện tiến hành thực hiện bước 1, đây là nội dung công

việc đầu tiên của việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở cấp

huyện, trực tiếp thực hiện nội dung này là phòng Tài chính – Kế hoạch huyện.

Đối với nội dung này hàng năm UBND huyện An Lão luôn thực hiện

tốt và kịp thời theo yêu cầu của UBND tỉnh Bình Định. Một số nội dung kế

hoạch có thể có chất lượng chưa tốt, chưa đảm bảo vì lý do thời gian yêu cầu

báo cáo xây dựng kế hoạch gấp, không có thời gian điều tra khảo sát, rà soát,

kiểm chứng để xây dựng kế hoạch. Nhưng cơ bản các nội dụng kế hoạch đều

thực hiện tốt, đảm bảo có chất lượng đạt 80-90 %.

Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền về chính sách phát triển kinh tế - xã

hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Trên cơ sở nhiệm vụ được phân công, UBND huyện giao cho phòng

Tài chính - Kế hoạch phối hợp với phòng Dân tộc với các đơn vị có liên quan

trên từng chính sách để thực hiện tổ chức phổ biến, tuyên truyền, thực hiện về

chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số, cụ thể một số chính sách:

Thực hiện chính sách theo Quyết định 102/2009/QĐ-TTg ngày

07/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người

dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn, thì tổ chức phối hợp với UBND các xã

tổ chức phổ biến, tuyên truyền và thực hiện trực tiếp đến tận tay người dân

hưởng lợi.

Bước 3: Phân công phối hợp thực hiện chính phát triển kinh tế - xã hội

vùng núi, dân tộc thiểu số.

Phòng Tài chính – Kế hoạch là cơ quan trực tiếp tham mưu UBND

huyện về tổ chức phân công phối hợp thực hiện chính sách phát triển kinh tế

- xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số. Trong thời gian qua phòng Tài chính –

Kế hoạch đã tham mưu UBND huyện phê duyệt ban hành các văn bản, các

40

quy chế phối hợp giữa các phòng ban, đơn vị địa phương trên địa bàn

huyện về thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc

thiểu số.

Nhờ vậy trong những năm qua, việc thực hiện luôn được thực hiện

nghiêm túc và duy trì ổn định, các nội dung công việc được thực hiện nhanh

chóng và kịp thời, các cơ quan phối hợp luôn thực hiện có trách nhiệm trong

việc giải quyết công việc. Gắn với đó hàng năm tổ chức họp đánh giá, biểu

dương, phê bình và khen thưởng các đơn vị phối hợp thực hiện chính sách ,

nhờ đó công tác thực hiện chính sách luôn đảm bảo và khắc phục khuyết điểm

kịp thời.

Nhìn chung trong thời gian qua, tình hình thực hiện công tác phối hợp

là rất tốt. Tuy nhiên vẫn còn có những mặt hạn chế của nó, cụ thể như sau:

- Khi ban hành văn bản thì có đầy đủ các cơ quan đơn vị, phòng ban

liên quan để cùng nhau thực hiện chính sách, nhưng khi thực hiện chính sách

thì chỉ có một vài đơn vị tham gia, có những đơn vị cả năm không tham gia

một lần. Đây là vấn đề rất khó khăn chung đối với các đơn vị ở địa phương.

Thường thì đơn vị nào chủ trì sẽ lo thực hiện toàn bộ các nhiệm vụ thực hiện

chính sách, còn những đơn vị có liên quan thì chủ yếu tham gia trong hội họp,

đánh giá nhận xét, còn ngoài ra thì để cơ quan chủ trì tổ chức thực hiện.

- Các đơn vị phối hợp không tham gia hoặc ít tham gia trong các văn

bản góp ý thực hiện chính sách, ít nhiệt tình trong việc trao đổi và cung cấp

thông tin, thường phải tham mưu cho UBND huyện phải sử dụng văn bản để

yêu cầu các đơn vị báo cáo tổng hợp, mất thời gian.

- Các cơ quan đơn vị chưa phối hợp tốt trong công tác cải cách các thủ

tục hành chính, chưa đưa ra một phương pháp giải quyết chung nhằm giải

quyết các nội dung thực hiện chính sách, lấy một ví dụ cụ thể: đối với hợp

phần phát triển sản xuất, sau khi có Quyết định phân khai vốn của UBND tỉnh

41

về, UBND huyện tổ chức phân khai kinh phí cho các xã, sau đó các xã xây

dựng phương án trình UBND huyện thẩm định, UBND huyện thẩm định xong

UBND các xã mới có thể thực hiện. Đó là đúng quy trình, nhưng quy trình

trên nó thường không được thực hiện suôn sẽ như trên, nó rất mất thời gian để

các cơ quan thực hiện qua các bước đó, thường thì mất khoảng 2 - 4 tháng để

xử lý hoàn thành các thủ tục cho UBND xã thực hiện, đến thời điểm thực hiện

thì không đúng mùa vụ, thời tiết không thuận lợi khó thực hiện. Chính vì vậy

cần phải có một giải pháp chung do các đơn vị liên quan phối hợp đặt ra để

hoàn thành các thủ tục hành chính nhanh hơn, giúp bà con thực hiện đúng

mùa vụ, đảm bảo phát huy tốt các loại giống cây trồng con vật nuôi mà vẫn

đảm bảo về thủ tục hành chính.

Bước 4: Duy trì chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc

thiểu số.

UBND huyện giao cho phòng Tài chính – Kế hoạch là cơ quan chủ trì,

tham mưu UBND huyện duy trì việc thực hiện các chính sách phát triển kinh

tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. Hàng năm phòng Tài chính – Kế hoạch

huyện An Lão tham mưu UBND huyện ban hành các văn bản chỉ đạo các xã,

các đơn vị liên quan thực hiện các chính sách cụ thể mà UBND tỉnh chỉ đạo.

Tham mưu cho UBND huyện xây dựng kế hoạch, phương án, dự án, kiểm tra,

đôn đốc nhắc nhở, báo cáo việc các đơn vị thực hiện chính sách đó, từ đó đưa

ra phương hướng giải pháp giúp cho các chính sách đồng bào DTTS được duy

trì thường xuyên và đi vào thực tế đời sống của bà con.

Bước 5: Điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Trong quá trình duy trì hoạt động chính sách phát triển kinh tế - xã hội

dân tộc, sẽ có những nảy sinh, những nội dung không phù hợp cần điều chỉnh,

UBND huyện đã chỉ đạo Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện thường xuyên

theo dõi, tham mưu cho UBND huyện để đề xuất cấp trên điều chỉnh các

42

chính sách cho phù hợp, ví dụ trong thời gian vừa qua đã tham mưu điều

chỉnh Quyết định 102/2009/QĐ-TTg ngày 07/8/2009 về chính sách hỗ trợ

trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn, Quyết định số

33/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 về chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định

canh, định cư cho đồng bào DTTS, đến nay một số chính sách đã được Chính

phủ quan tâm điều chỉnh, bổ sung, hoặc sửa đổi.

Bước 6: Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách.

Các khâu kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm là những nội dung rất quan

trọng, quyết định sự thành công, hay thất bại của việc thực hiện chính sách.

Một chính sách khi được ban hành và thực hiện, muốn nó đi vào cuộc sống

phải tiến hành kiểm tra, giám sát để đánh giá, phân tích và biết được tính ưu

việc của nó, giúp cho chúng ta nhận định, phân tích chính sách công một cách

rõ ràng hơn, sát và đúng với thực tế hơn. Huyện An Lão, việc thực hiện chức

năng nhiệm vụ phát triển kinh – tế xã hội cho bà con vùng đồng bào DTTS

luôn được phân công phân nhiệm rõ ràng cho từng cấp và các cơ quan đơn vị

có liên quan. Vì vậy tùy theo nội dung cụ thể mà phòng Tài chính – Kế hoạch

sẽ tham mưu cho UBND huyện hoặc cùng các đơn vị liên quan tiến hành thực

hiện xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.

Trong những năm qua, việc kiểm tra giám sát luôn được thực hiện một

cách thường xuyên, đặc biệt và luôn được quan tâm trong thực hiện kiểm tra

giám sát, đó là chính sách 30a, chương trình 135, dự án tái định canh định cư,

dự án hỗ trợ trực tiếp theo Quyết định 102/2009/QĐ-TTg ngày 07/8/2009 của

Thủ tướng Chính phủ, trong những đợt kiểm tra này, qua quá trình kiểm tra

cũng đã kịp thời chấn chỉnh những nội dung sai phạm của các đơn vị thi công,

xử lý các trường hợp thực hiện thi công không đảm bảo chất lượng công trình,

dự án nào không đạt phải hoàn trả lại kinh phí cho huyện, kiểm điểm một số

cá nhân trong việc thiếu trách nhiệm dẫn đến sai phạm. Song bên cạnh những

43

kết quả đạt được thì vẫn còn tồn tại những mặt yếu kém trong việc kiểm tra

giám sát, xử lý vi phạm khi thực hiện chính sách này, đó là:

- Chưa thực sự chủ động xây dựng kế hoạch kiểm tra, chỉ khi có kế

hoạch của tỉnh, UBND huyện thì cơ quan thực hiện chính sách phát triển kinh

tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số mới tiến hành phối hợp kiểm tra.

- Việc kiểm tra, đánh giá hiệu quả không mang tính kịp thời, bất ngờ.

Khi cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch và thông báo xuống kiểm tra thì

nội dung thực hiện chính sách luôn được thực hiện tốt, suôn sẽ, đúng quy

định. Vẫn có những lần kiểm tra, giám sát thực hiện gặp trường hợp sai trái,

nhưng cơ bản vẫn là nhắc nhở, đề nghị sửa chữa rồi cho qua.

- Việc kiểm tra chỉ mới nhìn bên ngoài để đánh giá để nhận định, chưa

thật sự đi sâu vào chất lượng công trình, chất lượng cây con giống và tính

hiệu quả của đầu ra sản phẩm, nên kết quả kiểm tra chưa phản ánh đúng với

thực tế.

- Trong đoàn kiểm tra, thường có rất ít người có chuyên môn về lĩnh

vực mà mình đi kiểm tra.

Bước 7: Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách

phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số.

Trong những năm qua, việc tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc

thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội được thực hiện thường xuyên

trên địa bàn huyện An Lão, cụ thể: Tổng kết chương trình 135, Tổng kết công

tác dân tộc quý, năm và giai đoạn. Thông qua việc tổng kết, đánh giá, rút kinh

nghiệm đã kịp thời chấn chỉnh những khuyết điểm trong quá trình thực hiện,

đồng thời đề xuất những thay đổi trong thực hiện chính sách và nội dung

chính sách, giúp chính sách ngày càng hiệu quả hơn.

Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế, đó là: Một số đợt tổng kết chỉ thực

hiện theo kịch bản cho kịp thời gian, chưa dành nhiều thời gian để cán bộ thực

44

hiện chính sách và những đơn vị có liên quan tham gia ý kiến chuyên sâu vào

quá trình thực hiện chính sách cũng như nội dung chính sách dân tộc; một số

cán bộ phát hiện sai phạm không giám phát biểu trong cuộc họp nhưng có

những ý kiến bên ngoài phía sau mỗi đợt tổng kết; chưa thật sự có nhiều ý

kiến đóng góp trong quá trình thực hiện chính sách, cũng như nội dung chính

sách của Chính phủ để có hướng điều chỉnh, bổ sung khi thấy không phù hợp.

2.2.2. Thực trạng năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của cán

bộ làm công tác thực hiện chính sách dân tộc ở cấp huyện, cấp xã.

Năng lực quản lý lãnh đạo, điều hành, quản lý là những nội dung

luôn được đề cập quan tâm nhiều nhất, bởi một lãnh đạo của một địa

phương khi thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội hay bất kỳ

chính sách khác, nếu không có năng lực lãnh đạo, không có năng lực quản

lý và điều hành tốt thì sẽ làm giảm đi tính hiệu quả của việc thực hiện

chính sách, thậm chí còn thực hiện không đúng các chính sách của Nhà

nước. Nói về năng lực nó thể hiện thông qua việc họp hành, điều hành,

quyết định, quản lý nhân viên, một cán bộ có năng lức tốt sẽ biết xử lý

như thế nào cho đúng, hợp lý và hợp tình, không để việc sai trái xảy ra mà

không biết. Có thể nói hiện nay, vấn đề năng lực cán bộ luôn được đề cập

và nhắc tới, nó vừa là mặt để đánh giá cán bộ vừa là cơ sở để khi xảy ra

vụ việc cán bộ có thể đỗ lỗi do trình độ năng lực yếu kém.

Đối với huyện An Lão, là một huyện miền núi, thuộc 61 huyện

nghèo nhất cả nước, cán bộ cấp xã đa số là người dân tộc thiểu số, trình

độ mặt bằng chung của cán bộ huyện và xã, theo nhận định cá nhân có thể

nói ở mức trung bình khá (tức là có thể nhận định và xử lý các chính sách

theo yêu cầu nhưng chưa có thể tận dụng chính sách để phối hợp phát

triển kinh tế - xã hội một cách triệt để). Một chính sách của Chính phủ

ban hành thường đòi hỏi tính hiệu quả và tác động lan toả nhằm gắn kết

45

đẩy mạnh phát triển của cả vùng, địa phương. Nếu một cán bộ có năng lực

lãnh đạo, biết quản lý và điều hành tốt thì sẽ tận dụng những chính sách

này, biến nó thành lợi thế nhằm phát triển địa phương. Về vấn đề này,

thời gian qua, cán bộ lãnh đạo huyện chưa làm tốt, cụ thể: Hàng năm

huyện An Lão có các chính sách 30a, Chương trình 135,… các nguồn vốn

vay, vốn hỗ trợ của các tổ chức trong và ngoàinước, từ nguồn thu ngân

sách, tất cả những nguồn vốn đó thường được tập trung đầu tư vào các cơ

sở hạ tầng như điện, đường, trường trạm, thủy lợi và phát triển nông , lâm

nghiệp. Đây là những công việc cần thiết không thể thiếu, nhưng thiết

nghĩ vẫn chưa đủ, nếu lãnh đạo có năng lực tốt, có khả năng quản lý điều

hành sẽ biết kết hợp từ các nguồn lực sẵn có từ các chính sách của Chính

phủ ban hành, tạo cơ chế mở, thông tin kịp thời để thu hút doanh nghiệp

vào phối hợp với huyện, với các chính sách nhằm tạo ra con đường lưu

thông hàng hóa, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Hiện nay, các

chính sách, đặc biệt chính sách hỗ trợ về nông nghiệp, các hợp đồng mua

cây cây con giốngchưa có đầu ra, chưađược tính toán một cách lôgic khoa

học kết nối được các cơ sở kinh doanh với nguời mua để tạo đầu ra ổn

định cho các hộ kinh doanh.

Đến nay, người dân huyện An Lão phát triển đến ngày hôm nay đó

là nhờ công rất lớn đối với các lãnh đạo qua các thời kỳ đã tập trung đầu

tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, tập trung chỉ đạo sản xuất để người

dân có điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng phải

nhìn nhận một thực tế rằng chính nhờ các nhà máy keo, nhà máy mỳ của

các địa phương khác mà cây keo, cây mỳ được người dân trồng lên, đã

góp phần không nhỏ giúp người dân huyện An Lão thay da đổi thịt, người

dân đã từng bước ổn định đời sống, có nhà cửa, ti vi, xe máy, cuộc sống

đầy đủ sung túc hơn so với trước đây.

46

2.2.3. Thực trạng công tác ngăn ngừa, đấu tranh chống tham ô,

tham nhũng

Năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành không chỉ thể hiện qua việc

lãnh đạo cầm tờ giấy đọc những gì của người tham mưu viết, không chỉ

thể hiện tác phong đi lại phát biểu, không chỉ dừng lại ở những lời hứa mơ

hồ mà nó thể hiện ở cái chúng ta làm được gì? Làm ra cái gì? Và làm như

thế nào? Đó mới là năng lực lãnh đạo thực sự của những người biết lãnh

đạo, điều hành, quản lý.

Đây là nhiệm vụ khó khăn và phức tạp nhất trên địa bàn huyện.

Hàng năm Đảng ủy - UBND huyện và các đơn vị có liên quan đều ra sức

thực hiện nội dung này bằng các khẩu hiệu tuyên truyền, bằng các văn bản

cụ thể như Nghị quyết, chỉ thị, đăng ký thi đua. Nhìn chung trên địa bàn

chưa có trường hợp nào phải đưa ra và xử lý trước công chúng, cơ quan

đơn vị.

Huyện An Lão là một huyện miền núi nghèo, thuộc 61 huyện nghèo

cả nước, có diện tích nhỏ hẹp. Hàng năm, huyện được Nhà nước phân bổ

kinh phí về để thực hiện rất nhiều các chương trình dự án, như: chương

trình 135, chương trình 30a, Quyết định 102/2009/QĐ-TTg, vốn ngân

sách, vốn nước ngoài, nên các hợp đồng luôn được thực hiện trong năm

với các nội dung và dự án khác nhau. Việc có hay không chuyện tham ô,

tham nhũng trong các dự án, chương trình này không khó trả lời, ai cũng

biết, ai cũng hiểu, nhưng có một thực tế có thể khẳng định rằng, huyện An

Lão chưa có vụ việc tham ô, tham nhũng nào bị đưa ra trước công luận.

Đến nay có thể gọi cán bộ huyện An Lão trong sạch.

47

2.2.4. Thực trạng triển khai thực hiện các chính sách phát triển kinh tế

- xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định.

Trong những năm qua, được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà

nước với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số huyện An

Lão. Ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chương trình, dự án và tổ chức

triển khai thực hiện trên các lĩnh vực, đã góp phần phát triển hệ thống cơ sở

hạ tầng, làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, dân tộc thiểu số. Công tác

phối hợp, tổ chức triển khai thực hiện của các cấp, các ngành và nỗ lực

của nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện nên tốc

độ phát triển kinh tế ổn định; sản xuất nông lâm nghiệp có bước phát

triển; quản lý điều hành của chính quyền các cấp có tiến bộ; khối đại đoàn

kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố, công tác quản lý đầu tư xây dựng

cơ bản được chú trọng chỉ đạo, nguồn vốn được đầu tư có trọng điểm nên

công trình đưa vào sử dụng phục vụ tốt. Để góp phần tạo nên sự thay đổi

bộ mặt của huyện nhà, Đảng và Nhà nước đã tập trung thực hiện các

chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số của

huyện,như:

2.2.4.1.Chương trình 135 của Chính phủ giai đoạn 2016 – 2020.

Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn

vùng dân tộc thiểu số và miền núi (hay đọc là: "chương trình một-ba-

năm"), là một trong các chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam do

Nhà nước Việt Nam triển khai từ năm 1998. Chương trình được biết đến

rộng rãi dưới tên gọi Chương trình 135 do Thủ tướng Chính phủ phê

duyệt tại Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg 31/7/1998. Theo kế hoạch ban

đầu, chương trình sẽ kéo dài 7 năm và chia làm hai giai đoạn; giai đoạn 1

từ năm ngân sách 1998 đến năm 2000 và giai đoạn 2 từ năm 2001 đến

năm 2005. Tuy nhiên, đến năm 2006, Nhà nước quyết định kéo dài

48

chương trình này thêm 5 năm, và gọi giai đoạn 1997-2006 là giai đoạn I.

Tiếp theo là giai đoạn II (2006-2010). Hiện nay Thủ tướng Chính phủ vừa

phê duyệt danh sách 2.275 xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn

khu của 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vào diện đầu tư của

Chương trình 135 năm giai đoạn 2016-2020.

Kết quả thực hiện: qua các năm UBND huyện đã chủ động thường

xuyên phân bổ nguồn vốn đúng, đủ và kịp thời cho UBND các xã làm chủ

đầu tư. Kết quả, đã xây dựng 36 công trình, hỗ trợ sản xuất cho bà con:

335 con heo đen, 4.300 con gà, 198 con bò, 2.365.200 cây keo giống,

1.800 kg phân các loại. Việc đầu tư các công trình giao thông, thuỷ lợi,

nhà sinh hoạt cộng đồng, công trình điện đã góp phần tăng trưởng giá trị

sản xuất trên địa bàn huyện; tạo điều kiện cho việc đi lại và lưu thông

hàng hoá; chủ động nước tưới; có nơi sinh hoạt, họp hành; đầu tư kinh phí

hỗ trợ sản xuất, tạo cho bà con từng bước biết áp dụng những tiến bộ khoa

học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả cao nhằm ổn

định, góp phần từng bước công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn.

Những mặt còn hạn chế của chương trình:

+ Hàng năm vốn hỗ trợ sản xuất phân bổ về địa phương để hỗ trợ

cho bà con để bà con có nhiều cơ hội sản xuất, chăn nuôi vươn lên thoát

nghèo và làm giàu chính đáng, đây là việc làm tốt nhưng có một số người

dân nghèo lợi dụng chính sách hỗ trợ không chịu làm ăn, phát triển kinh

tế gia đình, ỉ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước.

+ Việc giao kinh phí về cho các chủ đầu tư là các cơ quan Nhà nước

vẫn còn hiện tượng xin cho, chạy dự án, thất thoát, tham nhũng,…

49

2.2.4.2. Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo

vùng khó khăn theo Quyết định 102/2009/QĐ-TTg

Thực hiện Quyết định 102/2009/QĐ-TTg ngày 7/8/2009 của Thủ tướng

Chính phủ về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc diện hộ nghèo ở

vùng khó khăn, hàng vạn hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Bình Định nói chung và

huyện An Lão nói riêng đã được nhận hỗ trợ, góp phần không nhỏ vào công

tác giảm nghèo tại các địa phương. Song việc hỗ trợ trực tiếp cho người dân

thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn cũng bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc.

Tỉnh Bình Định đã hỗ trợ bằng hiện vật, cây giống, phân bón và muối

iốt cho hơn 1.000 lượt hộ nghèo trên địa bàn huyện, với tổng kinh phí trên 1,2

tỷ đồng. Đối với người dân thuộc hộ nghèo ở các xã khu vực II, xã biên giới,

xã bãi ngang, hải đảo vùng khó khăn được hỗ trợ 80.000 đồng/người/năm.

Đối với người dân thuộc hộ nghèo ở xã khu vực III vùng khó khăn là 100.000

đồng/người/năm, để các đối tượng thụ hưởng chính sách chủ động mua sắm

nguyên liệu, vật tư phục vụ sản xuất và đời sống phù hợp với thực tế của từng

hộ. Bên cạnh đó, các hộ nghèo có thể lựa chọn hình thức hỗ trợ bằng giống

cây trồng, vật nuôi; phân bón hóa học hoặc muối iốt.

Trung tâm y tế huyện đã đã phối hợp với Công ty TNHH Muối Bình

Định tổ chức cấp phát muối Iốt đợt I cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và

không nghèo của các xã: An Hòa, An Tân, An Trung và thị trấn An Lão. Kết

quả đã cấp phát được 25.614 kg.

Kết quả đạt được: Sau nhiều năm triển khai chương trình hỗ trợ theo

Quyết định 102/2009/QĐ-TTg ngày 7/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ đến

nay đời sống người dân, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc

thiểu sốhuyện An Lão đã đổi thay rõ nét. Nhận thức của người dân có chuyển

biến tích cực, nhiều mô hình kinh tế trồng trọt, chăn nuôi hiệu quả. Bà con

mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu câytrồng, vật nuôi, đưa các giống cây con có

50

năng suất cao vào áp dụng. Thay vì lối sống du canh du cư, nay bà con đã biết

an cư lạc nghiệp, đời sống ngày một nâng lên. Nhiều gia đình có của ăn, của

để, mua sắm được tiện nghi sinh hoạt.

Những mặt còn hạn chế:

- Quyết định này nguồn vốn quy định hỗ trợ quá thấp, chỉ có

100.000đ/khẩu thuộc khu vực III, và 80.000đ/khẩu thuộc khu vực II.

- Cấp tiền mặt cho người dân thì một số người dân sử dụng không đúng

mục đích, không mua giống cây trồng, con vật nuôi theo quy định.

- Dễ gây ra tình trạng, tham ô, tham nhũng từ việc chào mua hàng hoá

hỗ trợ.

2.2.4.3 Chính sách thực hiện theo Quyết định 33/2007/QĐ-TTg

Chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào

dân tộc thiểu số nhằm tạo điều kiện cho hộ đồng bào DTTS còn du canh, du

cư có nơi ở ổn định, có đủ điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật

chất và tinh thần, xoá đói, giảm nghèo; góp phần bảo vệ rừng, bảo vệ môi

trường sinh thái và giữ vững an ninh - chính trị, trật tự - an toàn xã hội tại các

địa phương.

Đến nay, UBND xã An Vinh, An Quang đã giao đất cho hộ và hiện tại

đang làm nhà, một số hộ đã làm hoàn chỉnh xong nhà và đã đưa vào sử dụng.

- Dự án định canh định cư xen ghép:

Đối với điểm định canh, định cư xen ghép: ngân sách nhà nước hỗ trợ

cho ngân sách xã với mức 20 triệu đồng/hộ, để sử dụng vào việc bồi thường

đất ở, đất sản xuất cho hộ dân sở tại bị thu hồi giao cho hộ định canh, định cư

theo chế độ quy định, phần còn lại sử dụng để đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng

thiết yếu của xã.

51

- Dự án định canh định cư tập trung:

Đối với điểm định canh, định cư tập trung: ngân sách nhà nước hỗ trợ

đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng thiết yếu, bao gồm: bồi thường,

giảiphóng mặt bằng, san gạt đất ở, khai hoang đất sản xuất; xây dựng đường

giao thông, điện, thuỷ lợi nhỏ, hệ thống nước sinh hoạt, lớp học, nhà mẫu giáo

và nhà sinh hoạt cộng đồng thôn, bản và một số công trình thiết yếu khác theo

nhu cầu thực tế.

Đây là chính sách hỗ trợ tái định canh định cư cho người dân tộc thiểu

số di cư du canh sản xuất. Đối với chính sách này có những nhược điểm, hạn

chế như sau:

+ Nguồn vốn về chậm so với quy hoạch khảo sát nên đến nay nguời

dân tộc thiểu số du canh du cư không còn, khi kinh phí phân bổ về để thực

hiện chính sách này, chỉ có thể đưa người dân ra khu định cư mới, nhưng

những hộ dân đó không phải là đối tuợng du canh du cư làm cho chính sách

này không đúng theo mục đích ban đầu của nó.

+ Nguồn phân bổ kinh phí trái ngược làm khó khăn trong quá trình thực

hiện. Đúng theo quy trình phải phân bổ nguồn vốn xây dựng cơ bản trước, sau

đó mới phân bổ nguồn vốn sự nghiệp nhưng không hiểu sao lại được Chính

phủ phân bổ nguồn sự nghiệp trước làm không thể thực hiện được nguồn vốn

này, vì chưa giải phóng mặt bằng, chuẩn bị cơ sở hạ tầng thì làm sao mà đưa

người dân ra nơi ở mới mà thực hiện nguồn vốn sự nghiệp.

2.2.4.4. Chương trình nước sạch về vệ sinh môi trường nông thôn

Kế hoạch giao là 1.300 triệu đồng, trả nợ các công trình hoàn thành: Hệ

thống nước sinh hoạt tự chảy thôn 3 và thôn 6 - xã An Vinh, thôn 2 - xã An

Toàn là 200 triệu đồng; làng TMangghen là 770 triệu đồng; nâng cấp nước

sinh hoạt tự chảy thôn 4 và thôn 5 – xã An Nghĩa là 130 triệu đồng; sửa chữa

nước sinh hoạt tự chảy thôn Gò Đồn - xã An Tân, thôn 2,3,4 – An Quang là

52

200 triệu đồng, đến nay đã giải ngân đạt 100% kế hoạch. Tiến hành các

hoạt động vệ sinh môi trường làng xóm, thôn bản, tạo không khí an lành

cho người dân.

2.2.4.5. Chính sách hỗ trợ hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn vay

vốn không lãi theo quyết định số 32/2007/QĐ-TTg

Kế hoạch giao 1.550 triệu đồng, thực hiện cho vay với tổng số hộ là

310 hộ, dư nợ đến 31/12/2019 là 1.550, đạt 100% kế hoạch. Trong đó: xã An

Tân 9 hộ, kinh phí 45 triệu đồng; An Trung 55 hộ, kinh phí 275 triệu đồng;

An Dũng 14 hộ với 70 triệu đồng; An Vinh 50 hộ với 250 triệu đồng; An

Hưng 56 hộ với 280 triệu đồng; An Quang 50 hộ với 250 triệu đồng; An

Nghĩa 26 hộ với 130 triệu đồng; An Toàn 22 hộ với 110 triệu đồng và thị trấn

An Lão 28 hộ với 140 triệu đồng.

Kết quả đạt được: Nhờ chính sách hỗ trợ người dân vay vốn không lãi

suất đã giúp những hộ gia đình khó khăn tự tin có nguồn vốn đầu tư ban đầu

vào kinh doanh, có nguồn vốn chủ lực cho gia đình, nuôi con ăn học. Nhiều

gia đình đã vươn lên thoát nghèo nhờ chính sách hỗ trợ vốn không lãi suất.

2.2.4.6. Chính sách hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi

Những hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo, dân tộc thiểu số được cung cấp

trực tiếp giống lúa, ngô, giống keo con phục vụ cho việc trồng trọt. Được các

kỹ sư nông nghiệp hướng dẫn các kỹ thuật trồng trọt để mang lại năng suất

cao. Ngoài ra, mỗi hộ gia đình nghèo còn được giao cho một cặp bò lai để

chăn nuôi, mang lại thu nhập cao, góp phần thoát khỏi tình trạng khó khăn,

cải thiện chất lượng cuộc sống. Cung cấp giống gà lấy thịt tăng thu nhập cho

nguời dân từ nguồn vốn của các chương trình, dự án.

53

2.2.4.7. Chính sách y tế

Chính sách miễn, giảm viện phí đối với đồng bào nghèo, đồng bào dân

tộc thiểu số đã thực hiện và triển khai khá cụ thể đồng bộ xuống tận cơ sở, tạo

mọi thuận lợi cho y tế cơ sở phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân.

Chính sách đảm bảo thuốc thiết yếu thông thường đối với đồng bào dân

tộc thiểu số ở các xã đặc biệt khó khăn. Chính sách y tế thôn, bản: hiện có 57

thôn, bản với tổng số nhân viên y tế, trình độ chuyên môn đã được bồi dưỡng,

tập huấn, đào tạo từ 1 đến 3 tháng. Mỗi thôn, bản có từ 1-2 nhân viên y tế

hoạt động với mức phụ cấp bình quân 400.000 đồng/người/tháng.

2.2.4.8. Chính sách giáo dục

Chính sách cử tuyển đối với các học sinh người dân tộc thiểu số. Cử

các học sinh thuộc dân tộc thiểu số hoặc dân tộc kinh thuộc diện hộ nghèo đặc

biệt khó khăn tham gia học tập tại các trường đại học và sau khi ra trường sẽ

về làm việc tại địa phương. Nhằm nâng cao tinh thần học tập và sử dụng

nguồn năng lực của địa phương một cách triệt để nhất.

Chính sách đối với trường dân tộc nội trú, bán trú: học sinh được ở lại

trường và hàng ngày có riêng khẩu phần ăn. Thực hiện chi trả chế độ cho cán

bộ giáo viên đảm bảo đầy đủ, tương đối kịp thời.

2.2.4.9. Chính sách văn hóa

Cấp, không thu tiền các loại báo và tạp chí, ấn phẩm văn hóa. Bảo tồn

phát huy bản sắc dân tộc. Đã tổ chức kiểm kê thu thập, xử lý số liệu ban đầu

về các di sản văn hóa phi vật thể ở 4 xã An Toàn, An Vinh, An Dũng và An

Nghĩa, đã kiểm kê thu thập hơn 100 bài chiêng, Talêu, các phong tục tập quán

của đồng bào dân tộc thiểu số.

Xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở. Hiện nay, các thôn ở các xã vùng

đồng bào dân tộc thiểu số đều xây dựng nhà văn hóa thôn thể hiện sự quan

54

tâm đến việc gìn giữ phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng

bào các dân tộc thiểu số. Đây là nơi hội họp, sinh hoạt cộng đồng.

2.2.4.10. Chính sách đào tào, bồi dưỡng, quy hoạch và sử dụng cán bộ

người dân tộc thiểu số

Mở 2 lớp đào tạo, bồi dưỡng cho đại biểu HĐND cấp xã với số

lượng học viên là 184 người, trong đó đại biểu HĐND người dân tộc thiểu

số là 111 người.

Lấy phiếu quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt nhiệm kỳ 2016-2020.

Trong đó, số cán bộ người dân tộc thiểu số thuộc diện quy hoạch: cấp trưởng,

phó các phòng, ban trực thuộc huyện là 7/102 người; cấp trưởng, phó đầu

ngành các xã, thị trấn là 225/314 người.

Cử 10 cán bộ cấp xã đi học trung cấp quân sự, trong đó có 7 cán bộ là

người dân tộc thiểu số.

Đối với già làng, trưởng thôn, bản, người có uy tín trong cộng đồng

đồng bào dân tộc thiểu số, được cung cấp thông tin về các chủ trường, chính

sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức,

tham gia học tập kinh nghiệm.

2.3. Đánh giá chung

2.3.1. Công tác quản lý nhà nước trong việc thực hiện các chính sách

phát triển kinh tế - xã hội ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định.

Công tác QLNN trong việc thực hiện các chính sách cần được thường

xuyên tăng cường để thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng.

Việc ban hành các chính sách của cơ quan nhà nước có ý nghĩa rất lớn

trong từng giai đoạn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện An

Lão, tạo tiền đề quan trọng để địa phương phát triển bền vững. Ngày nay,

trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội

nhập quốc tế vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công

55

bằng, văn minh” thì vai trò của kinh tế - xã hội ngày càng được khẳng

định. Từ đó, hàng loạt các chính sách về kinh tế - xã hội ra đời được áp

dụng với từng hoàn cảnh nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt của

địa phương nói riêng và của cả nước nói chung.

Công tác QLNN trong việc thực hiện các chính sách ở huyện An

Lão nhìn chung đã và đang được các cấp chính quyền quan tâm tương đối

đầy đủ. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém như chưa nhất quán,

đồng bộ trong việc triển khai thực hiện. Việc triển khai thực hiện các

chính sách chưa được phổ biến rộng rãi tới người dân. Nhà nước quản lý

việc thực hiện các chính sách còn lỏng lẻo, chưa đi sâu đi sát vào thực

tiễn, dẫn đến việc thực thi các chính sách không mang lại kết quả như

mong muốn.

2.3.2. Những mặt đạt được

Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã không

ngừng phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn, thách thức; tập trung lãnh đạo,

chỉ đạo khá toàn diện, đề ra những chủ trương, biện pháp và giải pháp sát

hợp với điều kiện thực tế của địa phương; kinh tế huyện nhà có bước tăng

trưởng khá (bình quân tăng trưởng 14,06 %/năm). Cơ sở vật chất được

tăng cường; mạng lưới điện, giao thông, trường học, trạm y tế và các công

trình phúc lợi xã hội được quan tâm đầu tư xây dựng; văn hóa xã hội có

nhiều tiến bộ; tình hình ANCT được giữ vững ổn định; TTATXH được

đảm bảo; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được

nâng lên (giá trị gia tăng bình quân đầu người từ 8,5 triệu đồng năm 2018

lên 20 triệu đồng năm 2019, năm 2020 ước đạt 22,3 triệu đồng). Đảng bộ

luôn giữ được sự đoàn kết thống nhất; công tác cán bộ được quan tâm

đúng mức; chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được nâng lên; bộ

máy chính quyền các cấp được kiện toàn, củng cố và hoạt động có hiệu

56

lực, hiệu quả. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể được đổi mới về nội dung

và phương thức tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng

lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH, QP-AN của địa phương, góp

phần xây dựng hệ thống chính trị của huyện nhà ngày càng vững mạnh.

Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số của

Chính phủ đã từng bước làm thay đổi cuộc sống trên buôn làng của người

dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Làm cho kinh

tế gia đình nói riêng và kinh tế huyện nhà nói chung từng bước được phát

triển, đời sống vật chất tinh thần ngày càng tốt hơn, cơ sở hạ tầng được

đảm bảo, hệ thống giao thông, thủy lợi phục vụ sản xuất, kinh doanh, lưu

thông hàng hóa từng bước được xây dựng, đáp ứng nhu cầu phát triển

kinh tế vùng.

Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tôc thiểu

số đã giúp cho người dân tộc thiểu số huyện An Lão nâng cao nhận thức

về nhiều mặt, trong đó có cả chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, giúp

người dân tộc thiểu số từng bước hiểu được bản chất, mục đích của chính

sách và ngày càng tin tưởng hơn vào đường lối chủ trương của Đảng.

Tránh bị các thế lực thù địch xuyên tạc, lợi dụng sự kém hiểu biết của

người dân tộc để chống phá nhà nước.

Chính sách đã giúp cho người dân tộc thiểu số thoát nghèo, người

đau ốm có bảo hiểm y tế, có trạm y tế, trẻ em được đến trường đến lớp,

được vui chơi sinh hoạt cộng đồng; chính sách giúp người dân tộc thiểu

số gần gũi hơn với người dân tộc đa số, giúp kiến thức của người dân tộc

đa số, của thế giới từng bước bước vào đời sống sinh hoạt của người

DTTS, giúp các dân tộc có điều kiện xích lại gần nhau hơn, đoàn kết và

hiểu biết nhau hơn. Đây là cái tinh hoa, cái hiệu quả tốt nhất mà chính

sách dân tộc đã mang lại cho người dân

57

2.3.3. Những tồn tại, yếu kém

Bên cạnh những thành tích đã đạt được nêu trên, thì cũng còn những

khó khăn bất cập tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện các chính

sách như:

Quá trình triển khai thực hiện chính sách chưa sát thực tế nên dẫn

đến nhiều biến động về số xã thuộc Chương trình. Có nhiều chính sách

đang thực hiện, với nhiều chương trình, dự án khác nhau đang làm cho

nguồn lực đầu tư của Nhà nước bị phân tán, dàn trải. Việc có nhiều cơ

quan quản lý các chính sách và mỗi chính sách lại có nguồn vốn, cơ chế

vận hành khác nhau tạo nên sự chồng chéo, trùng lặp trong quản lý điều

hành, làm cho hiệu quả đầu tư chưa đạt được mục tiêu đề ra.

Nguồn đầu tư kinh phí thấp nên chưa thực sự tạo tác động mạnh mẽ

giúp người DTTS rút ngắn thời gian, rút ngắn nhận thức về phát triển kinh

tế, chưa giúp người dân tộc thiểu số sớm bắt kịp với tốc độ phát triển kinh

tế của cả nước.

Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số tập

trung vào vấn đề hỗ trợ, chưa gắn kết được tất cả các khâu từ đầu vào đến

chính sách hỗ trợ đầu ra của sản phẩm; chưa kết nối, kích cầu được doanh

nghiệp đi cùng chính sách.

Chính sách hỗ trợ, đầu tư làm người DTTS trông chờ và ỉ lại chính

sách, gây phản tác dụng và hiệu quả mong đợi chính sách.

Việc phân bổ nguồn vốn của một số dự án, quyết định của Chính

Phủ còn quá chậm. Đến thời gian triển khai thì chính sách này không còn

phù hợp do điều kiện phát triển, do sự thay đổi trong đời sống, sinh hoạt

của người dân.

Nhiều nơi môi trường sinh thái đang tiếp tục bị suy thoái. Tình

trạng tàn phá rừng, khai thác tài nguyên bừa bãi vẫn đang tiếp diễn. Tỷ lệ

58

đói nghèo ở vùng dân tộc và miền núi An Lão còn cao hơn với mức bình

quân chung của tỉnh.

Chất lượng, hiệu quả về GD - ĐT còn thấp. Công tác chăm sóc sức

khoẻ cho đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.

Bản sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc thiểu số đang có nguy cơ bị

mai một. Mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa

còn rất thấp. Một số tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển.

Hệ thống chính trị cơ sở ở miền núi còn yếu, kém hiệu lực, không

sát dân, không tập hợp được đồng bào. Trình độ đội ngũ cán bộ cơ sở còn

hạn chế, công tác phát triển Đảng chậm.

Một số mô hình khuyến nông tuy đạt hiệu quả khá tốt, nhưng chưa

được nhân rộng. Tập quán chăn nuôi gia súc thả rông của nhân dân các xã

vùng cao vẫn còn, việc dự trữ thức ăn gia súc chưa được thực hiện tốt.

Tình hình phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp còn diễn biến phức

tạp ở các địa phương, nhưng công tác xử lý vi phạm của các cơ quan chức

năng và chính quyền địa phương chưa tốt, còn tiềm ẩn nguy cơ tái phạm.

Hiệu quả giao khoán quản lý, bảo vệ rừng ở một số nơi chưa cao, rừng

giao khoán bị xâm hại. Quản lý nhà nước về giống cây lâm nghiệp còn

hạn chế.

Công tác giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp còn chậm so với kế

hoạch; hiện tượng tranh giành lại đất cũ (kể cả đất đã được cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất) xảy ra nhưng chưa được xử lý dứt điểm.

Tiến độ giao đất ở hàng năm còn chậm so với kế hoạch; các chủ đầu tư

chưa tuân thủ các quy định về thủ tục đất đai, vẫn còn tồn tại 51 công

trình chưa có hồ sơ giao đất trước khi triển khai thi công.

59

Phong trào văn hóa, văn nghệ, TDTT ở cơ sở phát triển chưa mạnh;

công tác thông tin, tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị của địa phương chất

lượng có mặt còn hạn chế, nội dung phản ánh hoạt động ở cơ sở chưa nhiều.

Chất lượng GD - ĐT tuy có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, một

số xã vùng cao chuyển biến còn chậm. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy

học còn thiếu. Công tác khuyến học ở cơ sở phát triển chưa mạnh, việc

xây dựng quỹ khuyến học còn nhiều khó khăn.

QLNN về y tế có mặt còn hạn chế; chất lượng khám, chữa bệnh ở

một số trạm y tế xã chưa tốt, cơ sở vật chất ngành y tế chưa tương xứng

với nhiệm vụ.

Công tác xuất khẩu lao động một số địa phương chưa thực hiện tốt;

Việc quản lý đối tượng và phê duyệt đối tượng chính sách xã hội ở một số

xã, thị trấn còn lỏng lẻo. Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em tại các xã, thị

trấn còn nhiều khó khăn.

2.3.4. Nguyên nhân

Nguyên nhân khách quan: An Lão có địa bàn phức tạp, hiểm trở,

chia cắt, thường xuyên bị thiên tai lũ lụt. Cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn,

trình độ sản xuất thấp, tỉ lệ hộ nghèo còn cao. Do tồn tại lịch sử để lại,

kinh tế, xã hội ở vùng dân tộc và miền núi có điểm xuất phát thấp, mang

nặng tính tự cấp, tự túc. Phương thức sản xuất, tập quán canh tác còn lạc

hậu. Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng, kích động đồng bào

DTTS, gây chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc; ý thức của người dân

vẫn còn tư tưởng trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, thiếu năng động,

sáng tạo trong sản xuất; điều kiện làm việc còn thiếu và trình độ của một

số cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm

vụ, nhất là các xã vùng cao; một số văn bản cấp trên còn chồng chéo, gây

khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, nguồn kinh

60

phí còn hạn chế, phụ thuộc vào ngân sách cấp trên. Việc cân đối nguồn

vốn, chính sách của Chính phủ hàng năm, có những chính sách sớm được

khảo sát xây dựng đề án và phân bổ nguồn kinh phí, nhưng cũng có không ít

chính sách phải mất 2-3 năm mới có nguồn vốn thực hiện.

Nguyên nhân chủ quan: Một số địa phương chưa thật sự quán triệt

chỉ đạo thực hiện, thiếu kiểm tra đôn đốc, chưa phối hợp tốt và phát huy

vai trò của các tổ chức xã hội tham gia, chưa coi trọng việc phân công và

bố trí cán bộ có năng lực để điều hành thực hiện chương trình. Nguồn lực

bố trí chưa đáp ứng so với nhu cầu thực tế của địa phương. Năng lực cán

bộ của một số xã còn hạn chế. Trong chỉ đạo điều hành, vẫn còn một số

nội dung chưa có quy hoạch, kế hoạch, còn mang tính sự vụ; trách nhiệm

của người đứng đầu ở một số đơn vị, địa phương chưa cao, chưa chủ động

trong tham mưu, xử lý công việc, chờ mệnh lệnh của cấp trên; sự phối

hợp hoạt động của các cơ quan chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ; công tác

tuyên truyền tuy được thực hiện nhưng chưa được thường xuyên liên

tục.Chính sách làm cho người dân trông chờ ỉ lại, nguyên nhân là do công tác

tuyên truyền của cán bộ chưa tốt, chưa sâu sát làm cho người dân có tư tưởng

trông chờ ỷ lại, không những không muốn làm ăn, phát triển kinh tế mà

ngược lại còn có tác động xấu, gây ảnh hưởng đến chính sách. Và một nguyên

nhân khác là do trình độ nhận thức của người nghèo vùng đồng bào dân tộc

thiểu số, do điều kiện học tập, điều kiện xã hội, điều kiện sống, trình độ dân

trí của vùng đặc biệt khó khăn …

2.3.5. Bài học kinh nghiệm

Phải nắm vững đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng và vận

dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện của địa phương; nhạy bén, năng

động trước những diễn biến không thuận của tình hình kinh tế - xã hội để

chủ động, có biện pháp khắc phục kịp thời, có phong cách làm việc khoa

61

học, sâu sát, nắm bắt kịp thời tình hình cơ sở, tâm tư, nguyện vọng của

nhân dân, biết khai thác tiềm năng, thế mạnh của huyện và tranh thủ các

nguồn lực từ bên ngoài để phát triển kinh tế - xã hội.

Giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong BCH, BTV, Thường trực

Huyện ủy đảm bảo thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tập

thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, là điều kiện quyết định để thực hiện tốt

nhiệm vụ chính trị. Việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện phải có trọng tâm,

trọng điểm, phải kiên trì, quyết liệt nhằm thực hiện có hiệu quả những chủ

trương, chính sách đúng đắn, có lợi cho dân.

Công tác cán bộ là vấn đề then chốt, do đó quy hoạch phải gắn với

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, kiên quyết thay thế những cán bộ năng lực

yếu, thiếu trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, đề

cao trách nhiệm của người đứng đầu.

Phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc

thực hiện các chương trình, Nghị quyết của Đảng. Qua đó phát hiện

những nhân tố mới, những sáng kiến, cách làm hay để cổ vũ, nhân rộng;

đồng thời chấn chỉnh, uốn nắn những mặt hạn chế, thiếu sót và có biện

pháp xử lý nghiêm minh những sai phạm, nhằm góp phần nâng cao năng

lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và nâng cao chất lượng đội

ngũ cán bộ, đảng viên.

Phải làm tốt công tác dân vận của Đảng, nhằm tăng cường sức mạnh

của khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân.

Đồng thời kiện toàn, củng cố hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở thật sự

vững mạnh, để tạo thành sức mạnh tổng hợp trong tổ chức thực hiện

nhiệm vụ và xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân.

Các cơ quan chính quyền cần triển khai thực hiện có hiệu quả và

đồng bộ các chính sách, dự án của các chương trình giảm nghèo và các

62

chương trình lồng ghép khác trên địa bàn. Kiện toàn nâng cao hiệu quả

hoạt động và tổ chức thực hiện của ban chỉ đạo chương trình các cấp, đặc

biệt là cấp xã. Dựa trên tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm để nâng cao đời

sống cho người nghèo.

Đổi mới công tác tổ chức, đảm bảo tính công khai, minh bạch và

làm rõ trách nhiệm trong việc lập kế hoạch, tạo điều kiện để chính quyền

địa phương chủ động, người dân bàn bạc, thảo luận, nhằm tạo ra sự đồng

thuận và hợp tác để phát triển kinh tế-xã hội có hiệu quả hơn. Chỉ đạo

đồng bộ các giải pháp, các chính sách, dự án của Chính phủ, tiếp tục thực

hiện các chương trình mục tiêu. Tăng cường kiểm tra, giám sát, phát triển

năng lực cán bộ cấp xã, thôn, bản về chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức

quản lý và kỹ năng để đáp ứng nhiệm vụ trong khi thực hiện các chương

trình.

63

Tiểu kết Chương 2

Chương 2 là chương tập trung vào những thực trạng thực hiện chính

sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn

huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Nội dung nêu ra những kết quả đạt được và

hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách trên địa bàn huyện. Giúp cho

người đọc thấy rõ về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc

thiểu số trên địa bàn huyện ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách như thế

nào, thấy rõ tính ưu việc của những chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng

đồng bào dân tộc thiểu số đang thực hiện, thấy rõ những kết quả thành công

trong việc thực hiện chính sách và qua đó cũng chỉ rõ những khuyết điểm, hạn

chế, những vấn đề cần phải tiếp tục khắc phục trong thời gian tới để vùng

đồng bào dân tộc thiểu số huyện An Lão, tỉnh Bình Định ngày càng phát triển

hơn, chính sách thực hiện có hiệu quả hơn.

64

Chương 3

MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP

NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NÚI, DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI

HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH

3.1. Bối cảnh, quan điểm

3.1.1. Bối cảnh

3.1.1.1. Bối cảnh trong nước

Trong những năm qua, Đảng và nhà nước, các cấp, các ngành, cả hệ

thống chính trị đã dành sự quan tâm đặc biệt; đầu tư phát triển toàn diện vùng

dân tộc thiểu số, miền núi, vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Hệ thống

cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư đồng bộ, giáo dục, y tế được quan

tâm, an sinh xã hội được đảm bảo; công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt được

kết quả to lớn, đời sống của nhân dân vùng DTTS, miền núi, vùng kinh tế - xã

hội đặc biệt khó khăn được nâng lên rõ rệt; kinh tế - xã hội phát triển, ANCT,

TTATXH được đảm bảo, vị thế đất nước trên trường quốc tế được nâng lên,

lòng tin của nhân dân nhất là đồng bào DTTS đối với Đảng và nhà nước

không ngừng được cùng cố và tăng cường. Chưa bao giờ đất nước ta có được

cơ đồ, vận hội như hiện nay.

Bên cạnh những thành tựu to lớn có tính lịch sử đất nước ta đạt được

qua hơn 30 năm đổi mới, đời sống của một bộ phận đồng bào DTTS còn rất

nhiều khó khăn; tình trạng di cư tự do, tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản

xuất, nước sinh hoạt chưa được giải quyết thấu đáo; khoảng cách giàu nghèo

giữa vùng DTTS, miền núi, KT - XH đặc biệt khó khăn so với vùng phát triển

có xu hướng gia tăng; vùng đồng bào DTTS và miền núi là vùng được hưởng

65

lợi từ thành quả đổi mới ít hơn, dễ bị tổn thương hơn trong cơ chế thị trường

và biến đổi khí hậu, rất cần được sự quan tâm đầu tư để phát triển hơn nữa.

- Biến đổi khí hậu, cùng với sự diễn biến bất thường của thời tiết gây

nên thiên tai bão lũ, sạt lở đất, hạn hán, xâm nhập mặn tác động xấu đến vùng

DTTS, miền núi, vùng KT - XH đặc biệt khó khăn. Một bộ phận đồng bào

DTTS phải di dời nhà cửa, ruộng vườn để xây dựng các công trình thuỷ điện,

thuỷ lợi, giao thông, công trình trọng điểm quốc gia, cuộc sống chưa được ổn

định, đời sống còn nhiều khó khăn.

- Một số tệ nạn xã hội như “cờ bạc”, “ma túy”, “rượu chè”, và phong

tục tập quán lạc hậu chưa được xóa bỏ như “làm ma to”, tảo hôn, hôn nhân

cận huyết thống... tác động xấu đến đời sống nhất là suy thoái giống nòi và

giảm chất lượng dân số.

- Địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng kinh tế - xã hội đặc biệt

khó khăn là nơi xa xôi cách trở, biên giới thuận lợi cho các loại tội phạm ma

túy, buôn bán người hoạt động; đối tượng phạm tội nguy hiểm lẩn trốn, gia

tăng nguy cơ mất an ninh, an toàn cho người dân sinh sống ở vùng này.

- Chính sách đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng kinh tế -

xã hội đặc biệt khó khăn được ban hành nhiều, khá đồng bộ, bao phủ hết các

mặt của đời sống xã hội nhưng thiếu nguồn lực thực hiện, không đạt được

mục tiêu đề ra, tác động đến tâm lý của đồng bào, xuất hiện ý kiến cho rằng

đời sống của đồng bào chưa thật sự được quan tâm.

3.1.1.2. Bối cảnh khu vực và quốc tế

- Trên thế giới và khu vực xu thế hòa bình, hợp tác cùng phát triển vẫn

là chủ đạo. Bên cạnh đó mâu thuẫn, xung đột, ly khai vẫn là các yếu tố không

thể xem thường, có thể tác động không mong muốn đến vùng dân tộc thiểu

số, miền núi, vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhất là hoạt động mê tín

dị đoan, tà đạo, tác động xấu đến đời sống tinh thần của nhân dân.

66

- Toàn cầu hóa, hội nhập toàn diện giữa các nước trên thế giới và khu

vực đang diễn ra mạnh mẽ; tác động của công nghệ, công nghiệp 4.0 đến tất

cả các quốc gia trong đó có vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng kinh tế - xã

hội đặc biệt khó khăn.

- Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình ở

các nước xã hội chủ nghĩa bằng các chiêu bài: dân chủ, nhân quyền, tôn giáo,

dân tộc.

3.1.2. Về quan điểm

- Những năm gần đây, trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước đều

rất quan tâm và có chủ trương đầu tư ngày càng nhiều cho miền núi, vùng dân

tộc thiểu số. Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về “Chương

trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo“, với quan điểm

xoá đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước và là sự

nghiệp của toàn dân. Phải huy động nguồn lực của Nhà nước, của xã hội và

của người dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa

phương, nhất là sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp để xoá đói giảm nghèo,

phát triển kinh tế-xã hội bền vững.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, được Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) xác định:“ Đẩy mạnh

giảm nghèo bền vững, nâng cao thu nhập, không ngừng cải thiện đời sống và

chất lượng dân số của đồng bào các dân tộc thiểu số, chú trọng phát triển hạ

tầng kinh tế, xã hội“.

Để thực hiện các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã đưa ra, chính sách

phát triển kinh tế-xã hội là một trong những công cụ quan trọng không thể

thiếu để hoàn thành nhiệm vụ nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người

dân Việt Nam nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng.

67

- Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số,

miền núi, vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là thực hiện các chính sách

phát triển bền vững đi liền với xóa đói, giảm nghèo; nâng cao đời sống vật

chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số; thu hẹp dần

khoảng cách về mức sống so với vùng phát triển; giữ gìn và phát huy bản sắc

văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, đẩy lùi các tệ nạn xã hội; nâng cao mặt bằng

dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là cán bộ dân tộc thiểu số đáp ứng yêu

cầu phát triển trong giai đoạn mới; góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và

công bằng xã hội, nhằm đạt được mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

- Phát huy cao độ nội lực của vùng, đi đôi với gia tăng sự đầu tư và hỗ

trợ của Trung ương. Huy động mọi nguồn lực thuộc các thành phần kinh tế

trong vùng, thu hút các nguồn lực từ các vùng khác và các nguồn tài trợ quốc

tế để phát triển kinh tế nhanh, bền vững, hiệu quả. Trong đó ngân sách nhà

nước giữ vai trò quan trọng, quyết định.

- Cùng với thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, phải coi

trọng giữ vững ổn định chính trị, không ngừng củng cố khối đại đoàn kết các

dân tộc; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, củng cố quốc phòng

an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất nước, gắn với xây

dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đối với Cộng

hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào và Vương quốc

Campuchia.

- Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi

trường sinh thái, nhất là hệ thống sông suối đầu nguồn, hệ sinh thái động,

thực vật, bảo vệ và phát triển rừng, đa dạng sinh học.

- Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số

có trọng tâm, trọng điểm; là trách nhiệm của các cấp, các ngành và người dân.

68

Trong đó, nhà nước giữ vai trò quan trọng, ý chí tự lực tự cường của người

dân là quyết định.

3.2. Mục tiêu thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội

vùng núi, dân tộc thiểu số tại huyện an lão, tỉnh bình định.

3.2.1. Mục tiêu tổng quát

- Phát triển nền kinh tế của huyện bền vững theo cơ cấu “ Nông nghiệp-

Công nghiệp - Thương mại, dịch vụ”. Phấn đấu đến năm 2020 thu nhập bình

quân đầu người gấp 4 lần so với năm 2016, khoảng 20 - 25 triệu

đồng/người/năm.

- Tạo sự chuyển biến nhanh về đời sống vật chất, tinh thần của người

nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện, đảm bảo đến năm 2020

giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống mức bằng với mức trung bình của tỉnh.

- Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân

trí nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, bảo đảm vững chắc an ninh,

quốc phòng.

- Khai thác tiềm năng, lợi thế so sánh của vùng, đổi mới sáng tạo, đẩy

mạnh phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; giảm nghèo nhanh, bền

vững, giảm khoảng cách về mức thu nhập so với vùng phát triển; thu hẹp dần

địa bàn đặc biệt khó khăn, cải thiện rõ rệt đời sống của nhân dân, gia tăng đầu

tư nguồn lực của nhà nước và các thành phần kinh tế để xây dựng hệ thống

kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, liên vùng kết nối với các vùng phát

triển;đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa để nâng cao chất

lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là người dân tộc

thiểu số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; xóa bỏ phong tục tập quán lạc

hậu đi đôi với giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; chú

trọng xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, giữ vững an ninh chính

trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc

69

gia; củng cố tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, vì mục tiêu dân giàu,

nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

3.2.2. Mục tiêu cụ thể năm 2020

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các huyện trong vùng dân tộc thiểu số,

miền núi từ 8-10%/năm (cao hơn mức bình quân của cả tỉnh).

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 70%, lao động đến tuổi có việc làm

thu nhập ổn định trên 90%.

- Đến năm 2020 thu nhập bình quân người dân tộc thiểu số tăng gấp 2,5

lần so với hiện nay, tỷ lệ giảm nghèo hàng năm giảm 4-5%; giảm 30% số xã

đặc biệt khó khăn; 50% số thôn đặc biệt khó khăn so với hiện nay.

- Trên 90% số xã có đường ô tô được nhựa hóa, bê tông hóa đến trung

tâm xã; trên 80% đường ở thôn, bản được bê tông hóa, cứng hóa theo cấp kỹ

thuật của Bộ Giao thông vận tải.

- 100% xã có trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; trung tâm

cụm xã có trường trung học phổ thông đáp ứng nhu cầu học tập và phổ biến

kiến thức cho người dân; 80% xã có cơ sở vật chất trường học đạt chuẩn nông

thôn mới.

- Trên 70% xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế; trên 90% trạm y tế xã có

bác sỹ, đủ điều kiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Trên 90% phụ nữ

được khám thai định kỳ, sinh con tại cơ sở y tế. Đảm bảo tỷ lệ trẻ em suy dinh

dưỡng dưới 10%.

- Trên 90% cán bộ, công chức xã có trình độ trung cấp chuyên nghiệp

trở lên, trong đó trên 60% có trình độ đại học và trung cấp lý luận chính trị trở

lên; trên 90% được bồi dưỡng kiến thức dân tộc theo Khung đối tượng 4.

- Trên 95% hộ gia đình có phương tiện nghe, nhìn.

- Trên 75% hộ gia đình được sử dụng nước hợp vệ sinh.

- Trên 99% hộ gia đình được sử dụng điện lưới.

70

3.3. Phương hướng, nhiệm vụ thực hiện chính sách phát triển kinh

tế - xã hội vùng núi, dân tộc thiểu số tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định

3.3.1.Về phát triển kinh tế

Khai thác tiềm năng, lợi thế so sánh, huy động mọi nguồn lực đầu tư

phát triển mạnh kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; chú trọng phát triển kinh

tế tập thể, hợp tác xã, kinh tế tư nhân, gắn sản xuất với chế biến, kết nối với

thị trường, tạo chuỗi sản phẩm, gia tăng giá trị.

3.3.1.1. Đối với nông, lâm, ngư nghiệp

- Tiếp tục hình thành và phát triển vùng chuyên canh tập trung với quy

mô hợp lý, chú trọng phát triển sản xuất cây trồng, vật nuôi có giá trị như: cây

chè, cây cà phê, cây điều, cây hồ tiêu, cây ăn quả, dược liệu, hương liệu, hoa,

rau màu... phát triển chăn nuôi đại gia súc như bò sữa, bò thịt, trâu, lợn, gà...

theo mô hình trang trại, gia trại, tạo sản phẩm đặc sản thay thế cho sản phẩm

cao sản, nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất kinh doanh.

- Tập trung đầu tư mạnh cho phát triển kinh tế lâm nghiệp, sản xuất

nguyên liệu gắn với chế biến sản phẩm gỗ rừng trồng. Vùng dân tộc thiểu số,

miền núi phải góp phần quan trọng nhất để thúc đẩy Việt Nam trở thành một

trong các trung tâm chế biến gỗ lớn của khu vực và thế giới. Theo đó phải

kiên quyết rà soát, cơ cấu lại đất đai, sản xuất của các nông, lâm trường; hoàn

thành giao đất, giao rừng gắn với định canh, định cư; giải quyết đất ở, đất sản

xuất cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số; kiên quyết chấm dứt tình trạng phá

rừng làm nương rẫy và hủy hoại đất rừng.

3.3.1.2. Đối với công nghiệp - xây dựng

- Tiếp tục rà soát lại quy hoạch, loại bỏ các công trình thủy điện quy mô

nhỏ, khi đầu tư ảnh hưởng lớn đến rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn và phải di

dời nhiều hộ dân, hiệu quả đầu tư thấp. Đẩy mạnh việc trồng rừng thuộc lưu

71

vực các công trình thủy điệnnhư: Thủy điện hồ Đồng Mít (xã An Dũng), thủy

điện Sông Vố (xã An Trung)

- Tổng kiểm kê, đánh giá, quy hoạch lại việc khai thác, chế biến lâm

sản ở huyện miền núi An Lão. Đảm bảo vừa khai thác chế biến lâm sản có

hiệu quả cho nền kinh tế nhưng cũng phải đảm bảo môi trường sinh thái,

không gian sinh sống của đồng bào các dân tộc ở vùng này. Đổi mới công

nghệ, thiết bị khai thác khoáng sản, nâng cao hiệu quả khoáng sản của các mỏ

đá lớn ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi An Lão.

3.3.1.3. Đối với thương mại, dịch vụ, du lịch

- Khai thác thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, ẩm thực độc

đáo, đặc sắc của huyện để đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm;

du lịch lịch sử - văn hóa , phát triển sản phẩm du lịch “xanh”, tôn trọng yếu tố

tự nhiên và văn hóa địa phương ở vùng dân tộc thiểu số như: Thác đá ghe –

xã An Hưng, Cây số 10 - xã An Toàn, Thác k50 - xã An Toàn giáp ranh với

huyện KBANG tỉnh Gia Lai, Di tích làng Đá Bàng - xã An Hưng.

- Tiếp tục rà soát, quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cấp các tuyến

đường nối liền với các huyện lân cận nhằm phục vụ nhu cầu đi lại cho người

dân và thu hút khách du lịch đến với huyện.

- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các chợ đầu

mối, chợ nông thôn, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của người dân. Đẩy mạnh

ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong phát triển các kênh phân phối và

thương mại điện tử.

3.3.2. Về lĩnh vực văn hóa, xã hội

3.3.2.1. Về giáo dục - đào tạo

- Tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày

04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn

diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

72

trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập

quốc tế.

- Nâng cao chất lượng dạy và học, phòng chống, ngăn chặn, đẩy lùi

bệnh thành tích và tiêu cực trong giáo dục và đào tạo, nhất là trong thi cử.

- Quy hoạch phát triển hợp lý các trường phổ thông dân tộc nội trú; đẩy

mạnh phát triển mạng lưới trường phổ thông dân tộc bán trú. Đổi mới căn bản

phương thức cử tuyển học sinh dân tộc thiểu số đi học đại học theo hướng:

học sinh dân tộc thiểu số rất ít người, học sinh nhóm dân tộc có tỷ lệ tốt

nghiệp đại học/dân số dưới 1%, phải trải qua học dự bị đại học hệ 1 năm hoặc

2 năm để đạt mặt bằng kiến thức chung trước khi học đại học để nâng cao

chất lượng đầu vào làm cơ sở nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng

dân tộc thiểu số, miền núi.

- Nghiên cứu, ban hành chính sách đào tạo tiến sỹ, thạc sỹ, chuyên

khoa ngành y dược, cao học công nghệ thông tin...cho vùng dân tộc thiểu số,

miền núi.

- Tăng cường công tác đào tạo lại, bồi dưỡng giáo viên và đội ngũ cán

bộ quản lý giáo dục, phấn đấu đến 2020 có trên 98% đội ngũ nhà giáo vùng

dân tộc thiểu số đạt chuẩn nghề nghiệp.

- Gia tăng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đầu tư xây dựng

phòng học các cấp để đạt trên 90% phòng học hệ phổ thông ở vùng dân

tộc thiểu số, miền núi và vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được

kiên cố hóa.

- Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để giữ vững thành quả phổ

cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ; phổ cập trung học cơ sở đúng độ tuổi.

3.3.2.2.Về y tế và dân số

- Tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày

25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường

73

công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình

mới, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung

ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới.

- Thực hiện chính sách y tế, chăm sóc sức khỏe và dân số cho đồng bào

dân tộc thiểu số theo 3 nhóm: Ưu tiên giải quyết các vấn đề sức khỏe của

đồng bào dân tộc thiểu số; Tăng cường khả năng tiếp cận cũng như cung cấp

dịch vụ y tế, dân số có chất lượng cho đồng bào; Giảm gánh nặng chi phí

chăm sóc sức khỏe cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó

quan tâm thực hiện một số chính sách cụ thể: bảo hiểm y tế; đầu tư cho y tế

cơ sở, bệnh viện huyện vùng dân tộc thiểu số; chính sách hỗ trợ cho đồng bào

dân tộc thiểu số sinh con đúng chính sách dân số; chính sách khuyến khích

đồng bào dân tộc thiểu số sinh con tại trạm y tế xã; chính sách phát triển

mạng lưới nhân viên y tế thôn, bản; chính sách phát triển mạng lưới và nâng

cao chất lượng dịch vụ về dân số tại vùng dân tộc thiểu số...

- Tăng cường hướng dẫn các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, tăng cường

truyền thông về các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm, các biện pháp kế

hoạch hóa gia đình, vấn đề bình đẳng giới, tác hại của tình trạng tảo hôn,

kết hôn cận huyết thống. Triển khai các chương trình tiêm chủng mở rộng,

dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, khơi dậy các phong trào luyện tập thể

dục, thể thao, có lối sống lành mạnh, chế độ dinh dưỡng hợp lý để nâng cao

sức khoẻ, tầm vóc, thể lực của người dân vùng dân tộc thiểu số, miền núi

huyện An Lão.

- Tiếp tục quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế vùng dân

tộc thiểu số, miền núi huyện An Lão, trong đó chú trọng đào tạo cán bộ có

trình độ chuyên sâu, đặc biệt là cán bộ dân tộc thiểu số người địa phương.

74

3.3.2.3. Về bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc

- Tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày

09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và

phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền

vững đất nước

- Thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể

của dân tộc Hre và dân tộc Bana trên địa bàn huyện; huy động nguồn lực của

toàn huyện cùng tham gia giữ gìn, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

của các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và trên địa bà huyện An Lão nói

riêng; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức bảo vệ và phát huy

giá trị di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số.

- Phát triển toàn diện văn hóa dân tộc thiểu số; giữ gìn, bảo tồn, tôn

vinh và phát huy bản sắc văn hóa thông qua bảo tồn ngôn ngữ, chữ viết của

đồng bào dân tộc thiểu số.

- Xây dựng và phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, tạo điều kiện để

nhân dân tham gia vào công cuộc xây dựng đời sống văn hóa mới, góp phần

nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của người dân vùng dân tộc thiểu số địa

phương.

- Bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu

số, xây dựng, nhân rộng sản phẩm văn hóa phục vụ phát triển du lịch tại địa

phương.

- Hỗ trợ xây dựng, tổ chức phong trào văn hóa, văn nghệ, phát huy vai

trò làm chủ về văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là đối với các

chương trình, hoạt động lễ hội và biểu diễn văn hóa nghệ thuật truyền thống

của đồng bào dân tộc thiểu số.

- Tổ chức hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ đồng bào dân

tộc thiểu số.

75

- Ưu tiên đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ văn hóa là người dân tộc

thiểu số cơ bản đáp ứng được về trình độ, năng lực triển khai các nhiệm vụ ở

cơ sở.

3.3.3. Về quốc phòng, an ninh

- Tiếp tục triển khai, cụ thể hóa các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của

Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác dân tộc liên quan đến quốc phòng

và đảm bảo an ninh vùng dân tộc thiểu số, miền núi An Lão

. Tập trung tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ,

chiến sỹ, tuyên truyền vận động nhân dân về đường lối, mục tiêu phát triển

đất nước và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng trong tình hình

mới, từ đó người dân vùng dân tộc thiểu số, miền núi sẽ nhận diện được rõ âm

mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch nhằm kích động, chia rẽ

khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động tư tưởng ly khai, tự trị dân tộc...

Động viên người dân vùng dân tộc thiểu số tại huyện An Lão tích cực tham

gia vào phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền

lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, đấu tranh phòng chống tội phạm, góp

phần thực hiện thắng lợi các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước

về công tác dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

- Tích cực tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở trên các

địa bàn chiến lược, trọng điểm; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị

động viên vùng dân tộc thiểu số, miền núi An Lão đủ về số lượng, nâng cao

về chất lượng, phối hợp giữa dân quân tự vệ với lực lượng công an xã, thị trấn

và các lực lượng khác trong giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội,

qua đó góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an

ninh nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

- Tổ chức tốt công tác nắm tình hình ở cơ sở, tâm tư, nguyện vọng của

đồng bào dân tộc thiểu số, trên cơ sở đó kịp thời tham mưu cho cấp có thẩm

76

quyền giải quyết các tình huống phát sinh, không để hình thành các “điểm

nóng” về an ninh, trật tự, các vụ biểu tình, bạo loạn ở vùng dân tộc thiểu số

của huyện; các ngành tập trung giải quyết kịp thời những phức tạp liên quan

đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mới, tà đạo vùng dân tộc thiểu số, miền

núi trên địa bàn huyện, đồng thời loại trừ những yếu tố nhạy cảm, không để

kẻ địch và các thế lực phản động lợi dụng kích động quần chúng chống đối

trong lĩnh vực “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”. Phát huy vai

trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trong sự nghiệp xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Chú trọng bồi dưỡng tạo nguồn chiến sỹ, cán bộ người dân tộc thiểu

số trong lực lượng vũ trang, kết hợp chặt chẽ việc đào tạo, bồi dưỡng với quy

hoạch, quản lý, sắp xếp sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số, đảm bảo tính

kế thừa vững chắc. Làm tốt công tác đào tạo phát triển Đảng nhằm nâng cao

chất lượng chính trị, tạo nguồn cán bộ cho các đơn vị lực lượng vũ trang làm

nhiệm vụ ở vùng dân tộc thiểu số huyện miền núi An Lão.

3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển

kinh tế-xã hội trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định

3.4.1. Nhóm giải pháp hoạch định đầu tư phát triển đồng bộ ở vùng

núi, dân tộc thiểu số

Hoạch định ở đây được hiểu là việc tổ chức quy hoạch và xác định

phương án đầu tư để đạt được mục tiêu trong tương lai. Kết quả của hoạch

định là kế hoạch, một văn bản được ghi chép rõ ràng và xác định những hành

động cụ thể mà một tổ chức phải thực hiện.

Trên cơ sở quy hoạch của từng xã miền núi, quy hoạch phát triển

ngành, lĩnh vực, huyện tổng hợp tất cả các nhu cầu cần đầu tư của các xã

miền núi, ngành để xây dựng kế hoạch về phát triển kinh tế - xã hội cho các

xã miền núi, xây dựng một lộ trình cần đầu tư theo từng chương trình, dự án

77

cho từng năm và cả giai đoạn, tránh tình trạng đầu tư dàn trải và trùng lắp,

thiếu tập trung. Trong quá trình tổng hợp phải có sự chọn lọc, phù hợp với

nhu cầu của mỗi địa phương, phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Tạo ra sự

minh bạch trong quá trình đầu tư của các chương trình, dự án.

Trong xây dựng quy hoạch kinh tế - xã hội, quy hoạch cơ cấu hạ tầng,

quy hoạch phát triển ngành, vùng, lĩnh vực, cần phải có sự kết hợp khoa học,

đồng bộ từ cấp xã đến cấp huyện, tỉnh. Tạo sự thống nhất chung và sự hỗ trợ

cho từng lĩnh vực. Để đạt hiệu quả cao, huyện cần phối hợp chặt chẽ với các

Sở, ngành liên quan trong việc triển khai lập, thẩm định quy hoạch, đảm bảo

sự phù hợp và tính liên kết với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng, quy

hoạch phát triển ngành, lĩnh vực. Cần có sự tham gia của các chuyên gia, tư

vấn, phản biện của các nhà khoa học, Hội đoàn thể và tranh thủ ý kiến đóng

góp của người dân, tạo sự đồng thuận cao trong cộng đồng, trong quá trình

xây dựng và thực hiện quy hoạch.

3.4.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách, nâng cao hiệu

quả hoạt động đầu tư

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy trách nhiệm của Mặt trận

và các Hội, đoàn thể trong phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Các cấp ủy

đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng các nhiệm vụ trọng tâm cho

từng thời kỳ về xây dựng, quản lý và phát triển kinh tế - xã hội miền núi, chú

trọng xây dựng chính quyền, đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, trình

độ, năng lực để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội miền núi.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách đầu tư cho miền núi. Các chính sách, dự

án, chương trình cần phải sát với nhu cầu và nguyện vọng của cộng đồng các

dân tộc thiểu số của huyện. Phương thức thực hiện phải cổ vũ cho việc hình

thành ý thức tự lực, khuyến khích nỗ lực vươn lên của đối tượng hưởng lợi.

78

Hoàn thiện chính sách cán bộ đối với miền núi. Xây dựng đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học - kỹ thuật, văn hoá - nghệ thuật, công

chức, viên chức đủ phẩm chất, bảo đảm tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn chức

danh, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực đảm nhiệm chức trách,

nhiệm vụ được giao trong hệ thống chính trị, trong các đơn vị sự nghiệp. Xây

dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ có phẩm chất và năng lực đáp

ứng được yêu cầu của địa phương. Cần thực hiện tốt hơn công tác điều động,

luân chuyển, thu hút cán bộ.

3.4.3. Nhóm giải pháp thực hiện chương trình, dự án đầu tư phát

triển đồng bộ

3.4.3.1. Quán triệt và tuân thủ nghiêm túc quy hoạch các nội dung

chính sách, chương trình, dự án.

Sau khi quy hoạch được phê duyệt, cần thực hiện nghiêm túc việc công

khai quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Tổ chức tuyên truyền,

quảng bá, thu hút sự chú ý của toàn dân, của các nhà đầu tư để huy động sự

tham gia thực hiện quy hoạch. Trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch,

các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm phải tuân thủ, bám

vào các mục tiêu quy hoạch đã được duyệt và tiến độ phải thực hiện trong

từng thời kỳ. Đồng thời, cần có sự rà soát, kiểm chứng quy hoạch phát triển

các ngành và lĩnh vực, các quy hoạch chi tiết sao cho đảm bảo hướng tới mục

tiêu dài hạn, đồng thời phù hợp với những cơ chế, chính sách mới.

3.4.3.2. Đẩy mạnh phân cấp quản lý và kiện toàn bộ máy.

Vấn đề phân cấp quản lý dự án, phân cấp chủ đầu tư, thống nhất đầu

mối cơ quan chủ đầu tư đối với nhiều chương trình dự án có tính chất đặc biệt

quan trọng. Việc phân cấp hợp lý sẽ tạo được những tác động tích cực và

ngược lại sẽ làm hạn chế công tác quản lý nhà nước và dẫn đến hiệu quả

chương trình, dự án không cao.

79

3.4.3.3. Tổ chức lồng ghép, khắc phục tình trạng chồng chéo trong đầu

tư các chương trình, dự án và chính sách hỗ trợ.

Lồng ghép trên cùng một địa bàn đầu tư tức là một địa phương hay một

vùng kinh tế cần tập trung các nguồn lực, các nguồn vốn, các nội dung thuộc

các chương trình, dự án, các chính sách hỗ trợ khác nhau để đầu tư trên một

địa phương, một vùng tạo ra những động lực mới tại địa phương đó, để tạo

điều kiện cho địa phương đó phát triển.

Giải pháp về vốn và quản lý, sử dụng vốn đầu tư.

Để nâng cao nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cần tăng tỷ lệ

tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế của huyện, tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng

cao và có các biện pháp khuyến khích tiết kiệm cho đầu tư phát triển. Đề nghị

Trung ương đầu tư đúng tiến độ vào các công trình kết cấu hạ tầng lớn của

mạng lưới giao thông, thuỷ lợi, cung cấp điện. Làm cơ sở cho việc đầu tư vào

các lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế.

Tổ chức thực hiện gắn liền với kiểm tra, giám sát chặt chẽ:

- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, nâng cao ý thức trách

nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị, tích cực tham gia lãnh đạo,

chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện các

chính sách, chương trình, dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội miền núi.

- Thông qua triển khai thực hiện đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn

để nhân rộng mô hình điển hình tiên tiến và kịp thời phát hiện kiến nghị với

cấp trên điều chỉnh, bổ sung các chính sách cho phù hợp với thực tế để đáp

ứng nhu cầu của cuộc sống đặt ra, nhằm phát huy có hiệu quả nguồn vốn.

80

3.4.4. Nhóm giải pháp đặc thù ở địa phương An Lão

3.4.4.1. Về phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế - xã hội miền núi những năm đến của huyện vẫn dựa

vào nông, lâm nghiệp là chủ yếu. Do vậy, cần tập trung sản xuất nông, lâm

nghiệp và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện cụ thể

của huyện.

Tổ chức thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng cho dân, đồng thời cụ thể

hóa chính sách về cơ chế hưởng lợi từ việc khoanh nuôi bảo vệ, xây dựng và

phát triển rừng.

Xây dựng các mô hình sản xuất ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật

phù hợp với điều kiện tự nhiên trong vùng. Tăng cường tập huấn, hướng dẫn

nông dân nâng cao trình độ canh tác.

Tạo vùng nguyên liệu, phát triển công nghiệp chế biến lâm sản. Nâng

cao năng lực cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến theo trữ lượng

gỗ và giá trị rừng trồng sản xuất theo tuổi của rừng, trữ lượng gỗ và giá trị

rừng trồng sản xuất.

Xây dựng mạng lưới thú y cơ sở đủ mạnh để phòng ngừa dịch bệnh cho

gia súc, gia cầm. Tăng cường đội ngũ khuyến nông, khuyến lâm, thôn, bản.

Hỗ trợ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, vệ

sinh an toàn thực phẩm cho huyện để xây dựng các trung tâm khuyến nông,

khuyến lâm thành những trung tâm chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ

và dịch vụ thúc đẩy phát triển sản xuất trên địa bàn.

Hình thành các mô hình, các nhóm chuyên biệt theo từng địa bàn, từng

khu dân cư để hỗ trợ và liên kết phát triển. Nhanh chóng thay đổi tập quán sản

xuất nhỏ, manh mún, phát triển kinh tế hàng hóa.

Có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang

trại đầu tư sản xuất, chế biến, kinh doanh trên địa bàn miền núi.

81

3.4.4.2. Về nâng cao dân trí, phát triển cộng đồng

Giải pháp nâng cao dân trí, phát triển cộng đồng, tạo sự tham gia của

cộng đồngtại huyện An Lão là rất quan trọng và cần thiết.

Trong nhóm giải pháp đặc thù, giải pháp nâng cao dân trí, phát triển

cộng đồng đặt vào vị trí trọng tâm là phù hợp với lý luận và thực tế.Trong đó,

phát triển con người là mục tiêu quan trọng nhất của quá trình phát triển, là

động lực quyết định sự phát triển xã hội.

Việc nâng cao dân trí và xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở đối với

vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang là vấn đề cấp thiết đặt ra. Một khi dân trí

được nâng lên, đời sống văn hoá tinh thần được phát triển thì người dân sẽ

hạn chế tính thụ động, ỷ lại, biết loại bỏ những tập tục lạc hậu và vương tới

phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp trong sản xuất, sinh hoạt.

Giáo dục - đào tạo là khâu đột phá, là cơ sở và là con đường cơ bản để

phát triển nguồn nhân lực miền núi. Cần thực hiện hoàn thành phổ cập giáo

dục trung học cơ sở; nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo; đẩy

mạnh việc hướng nghiệp dạy nghề. Thực hiện nghiêm túc chính sách thu hút

và luân chuyển giáo viên công tác tại miền núi. Thực hiện tốt Chính sách hỗ

trợ cho các cháu mẫu giáo và học sinh con hộ nghèo các cấp phổ thông ở xã

đặc biệt khó khăn và thôn đặc biệt khó khăn.

Thực hiện tốt công tác đào tạo nghề cho nông thôn. Đổi mới và phát

triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng,

hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để lao động tham gia học nghề phù

hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình.

Tăng cường công tác vận động, tuyên truyền để các hộ gia đình miền

núi nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo, khắc phục

khó khăn, tạo điều kiện cho con em được đến trường học tập văn hóa và

học nghề; chủ động, tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã

82

hội ở địa phương.

3.4.4.3. Về phát triển văn hóa - xã hội

Thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc cơ bản của công tác dân tộc.Thực

hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Từng bước

nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Đảm

bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong

tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc. Tôn trọng

phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên

tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Cần khắc phục các phong tục tập quán lạc hậu trong nếp sống gia đình,

cộng đồng; khắc phục lạc hậu trong tập quán canh tác.

Đầu tư phát triển hệ thống thông tin – truyền thông vùng dân tộc thiểu

số, cung cấp một số phương tiện thiết yếu nhằm đảm bảo quyền tiếp cận và

hưởng thụ thông tin. Tăng cường và nâng cao chất lượng các chương trình sử

dụng ngôn ngữ dân tộc trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Bảo tồn, phát triển văn hóa kết hợp phát triển du lịch. Hỗ trợ việc

nghiên cứu sưu tầm, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống

tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc. Nâng cao nhận thức

các dân tộc thiểu số có trách nhiệm gìn giữ văn hóa truyền thống tốt đẹp của

dân tộc mình.

Tiếp tục triển khai phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống

văn hóa, tăng cường công tác tuyên truyền vận động cán bộ, nhân dân tham

gia thực hiện phong trào, nhân rộng điển hình tiên tiến; xây dựng và nhân

rộng các mô hình câu lạc bộ gia đình văn hóa, họ tộc văn hóa.

Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, cải thiện sức khỏe và thực hiện chính

sách dân số. Tập trung xây dựng, mở rộng cơ sở y tế, khám chữa bệnh; bảo

đảm thuốc phòng và chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc ở vùng có điều kiện

83

kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.

Trong xây dựng Trung tâm cụm xã, các Điểm sinh hoạt văn hóa tại các

thôn, bản nên kết hợp xây dựng khu sinh hoạt thể dục, thể thao nhằm khuyến

khích phong trào rèn luyện thể dục, thể thao nâng cao sức khỏe, thể lực.

Tăng cường nguồn lực thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia

đình. Đẩy mạnh công tác truyền thông, vận động kết hợp cung cấp các dịch

vụ kế hoạch hóa gia đình để nâng cao chất lượng dân số ở miền núi.

3.4.4.4. Về đảm bảo an ninh – quốc phòng

Xuất phát từ điều kiện kinh tế khó khăn, địa bàn vùng sâu, vùng xa;

nhận thức pháp luật còn hạn chế nên miền núi là nơi rất xung yếu để các thế

lực thù địch xâm nhập, tuyên truyền, vận động chống phá nhà nước. Vì vậy,

cần đẩy mạnh xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh ở các địa bàn xung yếu,

vùng sâu, vùng xa, gắn với phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn việc lợi dụng

vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại khối đoàn kết giữa các dân tộc, làm mất

ổn định chính trị - xã hội.

Tóm lại, những giải pháp nêu trên cần phải tiến hành đồng bộ, bằng sự

nỗ lực của toàn bộ hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của chính quyền địa

phương, nâng cao vai trò của nhà nước về quản lý và thực hiện các chính sách

Đảng và nhà nước đề ra. Đồng thời, cần phải nhận thức rõ giải pháp mang

tính đột phá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội miền núi, dân tộc thiểu số.

3.5. Kiến nghị

3.5.1. Đối với trung ương

Nhà nước cần tiếp tục thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã

hội vùng dân tộc và miền núi; rà soát, điều chỉnh, bổ sung để hoàn chỉnh

những chính sách đã có và nghiên cứu ban hành những chính sách mới, để

đáp ứng yêu cầu phát triển các vùng dân tộc và miền núi trong giai đoạn mới.

Trong đó, cần đổi mới một số nội dung sau:

84

Về hoạch định chính sách: Cần rà soát, đánh giá tất cả các chính sách

hiện có, trên cơ sở đó phân nhóm các chính sách có nội dung tương đồng

nhau, trên cùng nhóm đối tượng hưởng thụ, lĩnh vực tác động… để tập hợp

thành các chính sách chung theo lĩnh vực, đối tượng tác động, địa bàn… hạn

chế việc ban hành quá nhiều chính sách chồng chéo.

Về công tác quản lý: Cần đánh giá lại công tác quản lý đối với các

chính sách, chương trình, dự án. Hiện tại, tồn tại quá nhiều đầu mối các Bộ,

ngành, cơ quan trung ương quản lý nhà nước đối với các chính sách, chương

tình, dự án đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý, điều hành.

Cần đẩy mạnh phân cấp quản lý về các địa phương gắn với tăng cường

trách nhiệm để công tác quản lý được thông suốt, đảm bảo tính tự chủ, linh

hoạt và sử dụng các nguồn lực đầu tư phù hợp với thực tế của từng địa

phương, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.

Về ngân sách: Cần đặc biệt tính toán đến tính khả thi về năng lực cân

đối ngân sách, đảm bảo nguồn ngân sách cung cấp kịp thời, đúng kế hoạch để

thực hiện đạt mục tiêu và đảm bảo đúng lộ trình đầu tư, phát huy hiệu quả sử

dụng vốn.

Sớm nghiên cứu ban hành cơ chế lồng ghép và quản lý ngân sách đối với

các chính sách, chương trình, dự án để các địa phương, chủ đầu tư có cơ sở thực

hiện, đảm bảo được khả năng huy động, điều tiết nguồn vốn thực hiện mục tiêu

đầu tư đồng bộ, phát huy hiệu quả các chính sách, chương trình, dự án.

Về công tác kiểm tra, giám sát: Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra,

giám sát của Đảng, Nhà nước và cộng đồng. Có cơ chế quản lý chặt chẽ để

đảm bảo nguồn đầu tư được triển khai đúng quy định, đúng đối tượng, đạt

chất lượng và hạn chế tối đa lãng phí, thất thoát.

85

3.5.2. Đối với địa phương

Nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tổ chức triển

khai thực hiện và giám sát thực hiện có hiệu quả các chương trình dự án ở địa

phương mình.

Nắm vững tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương, đề xuất lên cấp trên

những vấn đề bất cập đang tồn tại để xây dựng phương án giải quyết.

Huy động bố trí các nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra

một cách công khai, minh bạch, nhanh chóng, hiệu quả nhất.

Phân bổ sử dụng nguồn vốn ngân sách hợp lý, hiệu quả, tránh gây thất

thoát, tham ô. Chịu trách nhiệm về các quyết định về xây dựng và thực hiện

chính sách.

86

Tiểu kết Chương 3

Chương 3 là chương tập trung sâu vào những giải pháp, chỉ rõ thêm và

giải quyết những khâu yếu, cái chưa tốt, những việc còn tồn tại của việc thực

hiện chính sách và đồng thời đưa ra những phương hướng giải pháp sát thực

cần phải làm trong thời gian tới, giúp cho người đọc có thể tìm ra đuợc cách

giải quyết ở địa phương mình thông qua thực tế việc thực hiện chính sách

phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện An Lão,

tỉnh Bình Định.

87

KẾT LUẬN

Chính sách phát triển kinh tế - xã hội là một trong những vấn đề cơ bản

và mang tính chiến lược của các địa phương . Trong một quốc gia đa dân tộc

như Việt Nam, đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Cần có chính sách phát

triển kinh tế dân tộc phù hợp mới có thể giải quyết được vấn đề đặt ra về kinh

tế - xã hội. Một chính sách đúng phải tác động làm biến đổi thực sự bộ mặt

kinh tế, văn hoá, xã hội của các vùng; từng bước cải thiện; nâng cao đời sống

vật chất và tinh thần của nguời đồng bào thiểu số. Suy đến cùng, việc thực

hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng núi nhằm bảo đảm nguyên tắc:

bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển. Để thực hiện mục

tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đối với vùng đồng bào

dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách ưu

tiên phát triển miền núi, vùng dân tộc, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Ban

chấp hành Trung ương lần thứ bảy, khoá IX về công tác dân tộc và Nghị

quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Bên cạnh đó, Chính

phủ đã triển khai nhiều chương trình, dự án nhằm đẩy nhanh nhịp độ tăng

trưởng kinh tế - xã hội miền núi tạo ra sự phát triển toàn diện, bền vững các

tỉnh miền núi, trong đó phát riển kinh tế là nền tảng, phát triển văn hoá - xã

hội là khâu đột phá.

An Lão là huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Bình Định, với nguồn tài

nguyên thiên nhiên rừng, xã hội, lịch sử, văn hoá vô giá cho sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Bình Định. Việc thực hiện chính sách phát

triển kinh tế - xã hội của huyện là một vấn đề được các cấp, các ngành quan

tâm, để từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng

bào các dân tộc thiểu số huyện An Lão, góp phần củng cố khối đại đoàn kết

toàn dân, ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu

88

số với những nhiệm vụ chủ yếu: phát triển kinh tế, ổn định dân cư đối với

đồng bào các dân tộc thiểu số; đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo và giải

quyết việc làm; nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các dân

tộc, chăm sóc sức khoẻ nhân dân và xây dựng, củng cố hệ thống chính trị tại

cơ sở, đào tạo bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số; xây dựng, củng cố

nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trên địa bàn huyện

An Lão đã mang lại những kết quả tốt đẹp. Chính sách dân tộc ngày càng

chứng minh được vai trò của mình trong hệ thống các chính sách quốc gia,

đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, với việc cụ thể

hoá chính sách dân tộc của Đảng vào thực tiễn, được sự quan tâm đầu tư của

Nhà nước cũng như sự nỗ lực vươn lên của đồng bào các dân tộc thiểu số,

huyện An Lão đã đạt được những kết quả bước đầu nhưng quan trọng: Quyền

bình đẳng dân tộc thể hiện ngày càng rõ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã

hội, hệ thống chính trị được xây dựng và củng cố; kết cấu hạ tầng xã hội được

quan tâm đầu tư, đáp ứng cho phát triển kinh tế dân sinh; đời sống của đại bộ

phận nhân dân được cải thiện và nâng cao; chính trị ổn định và quốc phòng,

an ninh được giữ vững. Do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, khi

triển khai chính sách dân tộc của Đảng trên thực tế ở huyện An Lão đã gặp

không ít khó khăn, hạn chế: Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực về mọi

mặt, nhưng nhìn chung đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số còn

gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp so với mặt bằng chung trên toàn

huyện. Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của một số hộ chưa cao, một

số trườnghợp hộ còn thiếu đất và không có đất sản xuất. Một bộ phận đồng

bào dân tộc thiểu số còn trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước,

chưa nỗ lực vươn lên, chưa tích cực tham gia góp vốn, góp công sức bằng

89

chính nội lực của mình. Trình độ văn hóa và nhận thức của đồng bào dân tộc

thiểu số còn hạn chế nên công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương,

chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho đồng bào còn gặp nhiều

khó khăn, hiệu quả chưa cao. Thực hiện các chương trình, chính sách trên địa

bàn huyện An Lão từ nguồn ngân sách của tỉnh và của huyện: việc phân bổ

nguồn kinh phí phải tính toán ưu tiên việc đầu tư và thông qua Hội đồng nhân

dân tỉnh và huyện quyết định. Do đó dẫn đến việc phân bổ nguồn vốn thực

hiện và giải ngân nguồn vốn thuộc các hợp phần của Chương trình chậm, kéo

dài. Các chương trình dự án đầu tư cho những xã có đông đồng bào dân tộc

thiểu số triển khai chậm, phát triển kinh tế ở những xã có đông đồng bào dân

tộc thiểu số còn chậm, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao.

Trong những năm tiếp theo, để thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội

miền núi An Lão đạt kết quả, Đảng và Nhà nước phải không ngừng hoàn

thiện hệ thống chính sách; đồng thời, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của

Đảng bộ, chính quyền địa phương các cấp và sự chung tay của đồng bào các

dân tộc thiểu số, đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì

mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công

bằng, văn minh, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội.

Với chuyên đề “ Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở

vùng núi, dân tộc thiểu số tại huyện An lão, tỉnh Bình Định” giúp cho

chúng ta có được những kết quả nghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn; góp

phần trong việc làm rõ thực trạng kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc thiểu

số An Lão; đánh giá cụ thể những kết quả đạt được cùng những hạn chế, yếu

kém còn tồn tại để đưa ra giải pháp cải thiện. Từ đó, đưa ra định hướng, giải

pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc thiểu số ở An

Lão nói riêng và cả nước nói chung góp phần nâng cao hiệu qủa hơn nữa việc

thực hiện các chính sách vào thực tế đời sống kinh tế - xã hội của huyện.

90

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (2002), Vấn đề dân tộc và chính

sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XVII nhiệm

kỳ 2010-2015 trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVIII, nhiệm kỳ

2015-2020.

3. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 nhiệm vụ, giải pháp chủ

yếu phát triển kinh tế-xã hội năm 2019 huyện An Lão

4. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2019 nhiệm vụ, giải pháp chủ

yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 huyện An Lão

5. Báo cáo Tổng kết phong trào thi đua, công tác khen thưởng 5 năm giai

đoạn (2010-2015) và phương hướng nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng

5 năm (2015-2020) huyện An Lão.

6. Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số,

miền núi và vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021-2025,

định hướng 2030

7. Hoàng Công Dũng (2005), Sự tham gia của người dân trong xây dựng

và thực hiện các chính sách dân tộc.

8. Lê Duy Đại (2002), Một số chính sách cán bộ ở vùng miền núi và dân

tộc thiểu số hiện nay.

9. Bế Thu Hương (2003), Thực hiện chính sách dân tộc ở vùng núi phía

Bắc nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Luận

văn tốt nghiệp lớp cao cấp lý luận chính trị.

10. Hoàng Văn Hoan (2014), Xây dựng nông thôn mới vùng đồng bào

dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

11. Nguyễn Văn Lý (2012), Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội

ngũ lãnh đạo quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

12. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành

Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng

cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

13. Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành

Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới.

14. Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 HĐND

huyện An Lão khóa XII.

15. Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (1998), Phát triển kinh tế - xã hội

các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

16. Lê Ngọc Thắng (2005), Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước

Việt Nam, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

17. Lô Quốc Toàn (2010), Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở

nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

18. Nguyễn Đăng Thành (2010), Một số vấn đề về phát triển nguồn

nhân lực dân tộc thiểu số cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại

hóa ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Thông tin từ trang web http://anlao.binhdinh.gov.vn/