TNU Journal of Science and Technology
229(08): 107 - 115
http://jst.tnu.edu.vn 107 Email: jst@tnu.edu.vn
RELATIONSHIP BETWEEN WOMEN AND PLANTS
IN THE TRADITIONAL VIETNAMESE FOLK - SONGS
Pham Van Hoa*
Dalat University
ARTICLE INFO
ABSTRACT
Received:
13/12/2023
The purpose of the article is to affirm the uniqueness of content, and art
of folk songs about women when reflecting on the relationship between
ecology and feminism, opening up an approach to the genre in complex
view. The article has profound implications for future research
approaching folk literary genres from an ecofeminism perspective.
Applying some methods such as interdisciplinary approach to literature
and culture, comparison, statistics, system and analysis and synthesis
operations, this article contributes to deepening and discovering the
unique features of Vietnamese folk songs from an eco-feminism
perspective and refers to semiotics. The article proceeds Vietnamese folk
songs from prestigious collection works. The article has pointed out the
relationship between plants and women in folk songs, specifically, the
conscious selection of plants as artistic images: plants symbolize a
woman’s quality, soul, and life; Plants represent feminine consciousness.
The article shows women and feminine discourse through vividly
expressed images of plants. The unique relationship between plants and
women is the source of humanistic thought for future literature, a model
of symbiotic harmony between humans and nature.
Revised:
01/3/2024
Published:
01/3/2024
KEYWORDS
Folk songs
Women
Plant
Relationship
Imagery
Feminism
MI LIÊN QUAN GIA TH GII C CÂY VI PH N
TRONG CA DAO TRUYN THNG
Trường Đại học Đà Lạt
THÔNG TIN BÀI BÁO
TÓM TT
Ngày nhn bài:
13/12/2023
Mục đích của bài báo khẳng định nét độc đáo về ni dung, ngh thut
ca ca dao viết v ph n khi soi chiếu t mi quan h gia sinh thái
và n quyn, m ra ch tiếp cn th loi này trong cái nhìn phc hp.
Bài viết ý nghĩa sâu sắc đối vi nghiên cu tiếp cn th loại văn học
dân gian t góc nhìn n quyền sinh thái trong tương lai. Áp dng các
phương pháp như tiếp cận liên ngành văn học văn hóa, so sánh,
thng kê, h thng các thao tác phân tích, tng hp, bài viết góp
phần đào sâu, phát hin những nét độc đáo của ca dao người Vit t
góc nhìn n quyền sinh thái đề cập đến hiu hc. Bài viết la
chọn ca dao người Vit t công trình sưu tm uy tín. Bài viết cho thy
mi quan h gia c cây vi n gii trong ca dao, c th vic la
chn c y như hình tượng ngh thut ý thc: c y biểu tượng
phm cht, tâm hn, cuộc đời người ph n; c cây th hin ý thc n
tính. Bài viết cho thấy người ph n din ngôn n tính thông qua
hình tượng c y được th hin một cách sinh động. Mi liên h mang
tính đặc thù này ci nguồn tưởng nhân văn cho văn học hu thế,
là hình mu ca s hòa hp cng sinh giữa con người vi t nhiên.
Ngày hoàn thin:
01/3/2024
Ngày đăng:
01/3/2024
T KHÓA
Ca dao
Ph n
C cây
Liên quan
Hình tượng
N tính
DOI: https://doi.org/10.34238/tnu-jst.9356
*Email: hoapv@dlu.edu.vn
TNU Journal of Science and Technology
229(08): 107 - 115
http://jst.tnu.edu.vn 108 Email: jst@tnu.edu.vn
1. Gii thiu
Ca dao không ch phn ánh nhiu mt của đời sng hội người Vit c: sn xut nông
nghip, tình yêu hôn nhân, ng x xã hội,… mà còn cho thấy mt h thc vt quen thuc gn vi
môi trường lao động ca nhân dân, thấy được mi quan h giữa con người vi t nhiên cũng như
bản thân con người trong mi quan h đó. Trước nay, mt s nhà nghiên cứu đã đề cập đến vn
đề này. Bài viết “Thiên nhiên thực vt ruộng vườn trong ca dao dân ca Bc Bđã th hin s
phong phú của nh tượng thiên nhiên, phn ánh s “thích ứng” với mọi tác động ảnh hưởng ca
con người và t nhiên vùng đất này [1]. Bài viết “Cái đẹp ca thiên nhiên và phong cnh trong ca
dao truyn thống” phân tích cách con người cm nhn v đẹp ca thế gii thiên nhiên xung quanh
mình. Bài viết này ch ra đặc điểm ca những rung đng thm m trong cách s dng t ng,
hình ảnh, trong cách đ cao, khen ngi nhng cnh vật được ưa thích [2]. Trong bài viết Biu
ng thiên nhiên trong ca dao Trung Bộ”, Nguyễn Th Kim Ngân khai thác các biểu tượng thiên
nhiên đã góp phần tạo nên đặc sc ca ca dao Trung B nói riêng và làm đa dạng hơn kho tàng ca
dao người Vit nói chung. Nghiên cu biểu tượng trong ca dao miền Trung cũng là một cách tiếp
cn vi thi pháp ca dao, giúp hiểu thêm đặc điểm duy ngh thut ca dao và xa hơn là hiểu thêm
thế gii tinh thn của con người cũng như bn sắc văn hóa của mi vùng min qua ca dao [3].
Trnh Viết Toàn [4] chng minh trong ca dao Vit Nam, hoa mang ý nghĩa biu trưng riêng cho
cái đẹp, s tinh khiết trng trong, phm cht cao quý, sc sng mnh m tình yêu, hnh phúc
ca con người nói chung hình ng hoa trong ca dao c truyn đều mang du n ca truyn
thng, văn hóa dân tc. Tác gi Th Quế Hương chng minh du ấn văn hoá nông nghiệp
được th hiện đậm nét trong tc ng, ca dao v mi quan h ng x rt gần gũi hòa đồng
của con người vi thiên nhiên [5]. Bài viết “Ẩn d v con người trong ca dao Vit Nam dưới góc
nhìn văn hóa” đã tiến hành kho sát ca dao Việt Nam dưới góc độ văn hóa nông nghiệp để tìm ra
nhng n d v con người Vit Nam [6]. Ngô Th Thanh Quý [7] bàn sâu v vấn đề ngôn ng,
hình nh, biểu tượng gn vi t nhiên trong ca dao người Vit. Áp dng mt s phương pháp
thng kê, phân tích, tng hp, so sánh, bài viết [8] trình bày mt s nét đặc trưng của văn hóa
ng x với môi trưng t nhiên trong ca dao vùng h lưu sông Cửu Long. Đề cập đến cây c
trong ca dao còn có bài viết “Ẩn d tri nhn ph n là cây cỏ” của Lê Đức Lun - Phm Th Kiu
Oanh [9]. Nhìn chung, các công trình trên đã đặt thiên nhiên trong quan h với các đề tài bản
và thế gii ngh thuật ca dao, nhưng các nghiên cứu này ch đề cập đến h thc vật như một biu
ng ngh thut, hay n d ngh thut trong mi quan h vi nhân vt tr tình, và c gng khng
định sắc thái văn hóa vùng đưc phản ánh qua hình tượng thiên nhiên, chưa có công trình nào đ
cp mi quan h gia thế gii c cây vi ph n dưới góc nhìn n quyn sinh thái. Mc vy,
các công trình trên đủ để chng t c cây mt nh thc quan trng ni kết con người vi t
nhiên trong thi k xa xưa. Trong ca dao người Vit, chúng ta nhn thy n gii vi c cây
mi quan h không th tách ri. Ca dao to ra h thng song trùng gia n gii - t nhiên khi so
sánh người ph n vi c cây. Người ph n trong ca dao là người mẹ, người vợ, người ch,
người em gái, người bn gái... Dân gian xây dng h thng hiu tạo nghĩa giữa người ph n
và c cây. Đặc bit, h thng kí hiu song trùng này không ch được dân gian s dng trong vic
miêu t v đẹp của người ph n mà còn được s dụng để th hin hoàn cnh, thân phn và cuc
đời h. Bài viết mang đến cái nhìn h thng v mi quan h gia thế gii c cây vi ph n dưới
góc nhìn n quyn sinh thái.
2. Phương pháp nghiên cu
Để tiếp cn mi liên h gia hình nh c cây với hình tượng người ph n Vit Nam, bài viết
s dng ch yếu là các phương pháp: liên ngành văn học - văn hóa, phân tích, tng hp, so sánh,
thng kê, nghiên cu loi hình, thi pháp hc, nghiên cu h thng cu trúc. Trên sở vn
dụng các phương pháp trên, t góc nhìn n quyền sinh thái và đ cập đến hiu hc, tác gi hy
vng mang li nhng kết qu khoa hc mi m. Bài báo thông qua kho sát 637 bài ca dao đề cp
đến c cây trong các công trình sưu tm ca Nguyễn Xuân Kính, Vũ Ngọc Phan, Ninh Viết Giao,
TNU Journal of Science and Technology
229(08): 107 - 115
http://jst.tnu.edu.vn 109 Email: jst@tnu.edu.vn
Hunh Ngc Trng, La Mai Thi Gia [10] - [16] làm sáng t mi liên h gia hình nh c cây vi
hình tượng người ph n Việt Nam, đng thi góp phn đào sâu mối quan h văn hóa giữa t
nhiên vi n tính.
3. Kết qu nghiên cu
3.1. Hình tượng người ph n qua biểu tượng c cây
T nhiên là điều kin sinh tn của con ngưi, t trong t nhiên con người tìm kiếm thức ăn, s
che ch, trú ngụ. Con người và các loài sinh vt gn bó mt thiết vi nhau trong không gian cng
sinh. Việt Nam là đất nước nm trong vùng khí hu “nóng ẩm, mưa nhiều gió mùa gn vi
hng s t nhiên của văn hoá ng Đông Nam Á chính nó đã góp phần to n đặc trưng của
văn hoá Việt Nam nền n minh thực vt hay nền văn minh lúa nước” [17, tr.17]. Cho đến cui
thế k XIX, Vit Nam vẫn là nước nông nghip tiu nông t cp t túc vi trồng lúa nưc là ngành
kinh tế ch đạo. Các thn thoi dân gian v m lúa cùng với tín ngưỡng dân gian th n thn
còn khá ph biến cho ti tận ngày nay đã phn ánh công lao ca ph n trong vic phát minh ra
ngh nông cũng như vai trò quan trọng ca h trong sn xut nông nghip. n hoá ng nghiệp
lúa nước gn vi tín ngưỡng phn thc một đặc trưng nổi tri của văn hoá Việt Nam. Nn sn
xut nông nghip phát trin không ổn định, do sc sn xut thấp, năng suất sn xut b sc mnh
t nhiên đe da. Trong xã hi xưa, đi sng con người hết sc da dmo t nhiên.
Do đặc trưng về th trng ca nam gii n gii khác nhau dẫn đến s phân công lao động
hội không bình đẳng. Trong hội xưa, nam giới thường đảm nhn nhng công việc đòi hỏi
sc mnh th cht. N giới thì đảm đương sứ mnh quan trng là bo tn nòi ging, thường tham
gia công vic nuôi trng, sn xut nông nghip. S phân công lao động hội như thế càng gia
tăng mối liên h gia c cây với người ph n. Các bài ca dao nói v hoạt động lao động nông
nghip bóng dáng của người ph n, thì h đều gn lin vi c cây. Tình yêu ca h đến t
trong lao động trong lao động h tìm đến với tình yêu: “Cô kia ct c mt mình/ Cho anh ct
với chung tình làm đôi”, “May sao may khéo may/ Thấy nàng gặt lúa anh nay tìm vào”, “Cây
u bông trng xon nh qunh/ Thấy em đi cy một mình anh thương”, “Em về hái rau
mơ/ Thương anh chín đợi mười ch ngóng trông”. C cây không gian thiên nhiên y chính
cu ni cho tình yêu của cô gái, nó cũng chính là trái tim của người con gái kia. Trong s gần gũi
vi t nhiên, người ph n nông thôn Vit Nam hin lên nét phúc hu, cht phác.
Người ph n xưa tô điểm “má hồng, môi đỏ” bằng ăn trầu. Nét cười duyên dáng của hàm răng
đen huyn do tục ăn tru, nhuộm răng đen đã từng tr thành tiêu chí để c định “nét đẹp” ca gii
n trong hi truyn thng: “Có trầu chẳng cau/ Làm sao cho đỏ i nhau thì làm”. Do
trong thi gian i gn bó, thiên nhiên cây c người ph n ny sinh liên h đặc bit, hòa ln
vào nhau: “Già thì đặc đặc / Con i đương thì rng toách toành toanh(câu đ dân gian v
cau già và lúc cau hoa); Cái gì va qu vừa hoa/ Con nít cũng thích ông già cũng mê/ Ra đường
thy tràn tr/ Ngắm nhìn thì được, mân mê thì đừng” (câu đố hai “đào tiên”),... Người con gái
đang yêu trở nên mn cm vi c cây: “Lan huệ su ai lan hu héo/ Lan hu su tình trong héo
ngoài tươi”. Cây c thiên nhiên là nơi gửi gm tình cm ca h: “Hai tay cm bốn trái dưa/ Trái ăn
trái đ trái đưa cho chàng”, “Cây đa trưc miễu cây đa tàn/ Bao nhiêu rụng em thương chàng
bấy nhiêu”. Cỏ cây trong ca dao nơi những nhân vt n tìm đến khi h mun chia s nhng
buồn đau khó nói: “ờn đào, vườn lựu vườn lê/ Bởi người ly nhụy bướm ra ngoài”. Ca dao
n cây c thiên nhiên th hiện thái độ trêu chc, pha trò không kém phn bo dn, tinh nghch
vi chàng trai hay cô gái trong nhng cuc gp g hát ca, hay hẹn hò: “Cau già quá lứa bán trăm/
Ch n l la biết nm vi ai - Cau già quá la b phơi/ Chị đây lỡ la nằm phơi cho giòn”, “Nghe
tiếng anh ăn học bên Tàu/ Em hi anh vy ch cây đào mấy bông?”, Bây gi mn mi hi
đào/ Vườn hồng đã ai vào hay chưa?/ Mận hỏi thì đào xin thưa/ Vườn hng có lối nhưng chưa
ai vào”. Hình nh c cây đây mang thông điệp tình cm của người ph n. Trong bài ca sau, li
chi t thng thn của cô gái cũng mượn c cây gi gm: “Gp em gia chốn vườn đào/ Ướm li
hi bn, nghèo giàu chn ai? - Anh đừng vạch vách phá rào/ Vườn quê mi lp, lu với đào còn
TNU Journal of Science and Technology
229(08): 107 - 115
http://jst.tnu.edu.vn 110 Email: jst@tnu.edu.vn
non”. Xây dựng hình ảnh người ph n trong mi giao cm vi c cây là mt ni dung xuyên sut
trong sáng tác ca dao. H hòa hp vi cây c mt cách trn vn, như th tr v vi thiên nhiên, h
được tr v vi chính mình. T gn vi cuc sng ph n, c cây tr thành biểu tượng phm
chất ngưi ph n, gi gắm tâm tư, tình cảm ca h, kiến to thế gii tâm hn phong phú ca h.
3.2. C cây - kí hiu ngh thuật độc đáo về ph n
C cây không ch hòa vào đời sng người ph nữ, còn được xem ngôn ng biểu đạt
ngh thuật. Quá trình sinh trưởng ca c cây nhng s tương đồng nhất định vi cuc đời
người ph n. C cây cũng tượng trưng cho vẻ đẹp,m tư tình cảms phn của ngưi ph n.
3.2.1. C cây là biểu tượng cho phm cht ph n
Ca dao người Việt thường ly c cây để vi din mo, dáng dp của người con gái. Điều
này không ch th hiện người xưa có thái độ sùng bái và kính yêu t nhiên, mà nó cũng phản ánh
người xưa theo đuổi v đẹp gin d t nhiên, hài hòa vi t nhiên. Trong s 637 bài ca dao đề cp
đến c cây, có 173 bài dùng hình nh c cây miêu t v v đẹp ngoi hình (chiếm 27,2%, phm vi
khảo sát đã giới hn Phương pháp nghiên cứu). V đẹp của thiên nhiên đã hòa quyn vi v đẹp
của người con gái: C tay em trắng như ngà/ Con mt em liếc như dao cau/ Miệng cười như
th hoa ngâu/ Cái khăn đội đầu như thể hoa sen/ Gặp em cũng muốn làm quen”, “Chẳng thơm
cũng thể hoa nhài/ Du không thanh lịch cũng người Tràng An”. Người bình dân đã lấy đặc tính,
hương thơm, sc màu ca c cây đ vi dáng v thanh xuân, nét đẹp du dàng, sc vóc quyến
rũ, tư thế thanh lch, tâm hn tao nhã, phm cht trong trng ca thiếu nữ: “Trúc xinh trúc mọc
đầu đình/ Em xinh em đứng một mình cũng xinh”, “Thân em như c u gai/ Rut trong thì trng
v ngoài thì đen/ Ai ơi nếm th mà xem/ Nếm ra mi biết rng em ngọt bùi”, “Thân em như bông
bưởi trắng ròng/ Mùi thơm nức mũi lòng sạch trong”, “Thân em như trái hạnh/ Rành rnh
đang tròn/ Dẫu sương dầm gió dãi vn không mòn tiết xuân”, “Người mà con mắt răm/ Chân
mày lá liễu đáng trăm quan tiền”... V đẹp ph n đưc to hóa ban tng, t h thy cn phi tôn
vinh sau đó, để mọi người chiêm ngưỡng, tôn vinh. Qua đây, chúng ta thấy người ph n
nhu cu khám phá bc l mình. điều này th hin tiêu chun thm m v v đẹp n tính
trong con mt của người xưa. Cỏ cây góp phn cho thấy người ph n ý thức được v đẹp, sc
hp dn giới tính: “Thân em như thể trái chanh/ Lt lo trên cành nhiu k ước ao”, “Em như táo
rụng sân đình/ Anh như i r đi rình của chua”, “Thân em như trái chuối tiêu/ Ngọt bùi dành để
thương yêu người”, “Thân em như trái mít trên cây/ Một trăm quân tử đến đây hưởng mùi”.
Đối lp vi áp chế trí ca xã hi, ph n gần gũi với c cây trong v đẹp bn th t nhiên. Gn
vi cây c, v đẹp thân th hin lên b phn n nh vi s thánh thin t nhiên, h mi chính
là mình: đam mê, quyến rũ và mơn mởn sc sống, là đối tượng của tình yêu đích thực nam gii,
giúp h thăng hoa và hnh phúc. V đẹp thân th ca ph n gn vi c cây phải chăng mang giá
tr gn với văn hóa truyền thng: Biểu tượng của tín ngưỡng phn thc, một tín ngưỡng ti c
của người Vit. Giá tr đó phải chăng là mầm sng ca ý thc chng li s coi trng thân th đàn
ông ca xã hội Nho giáo “trọng nam khinh nữ” trong ca dao.
3.2.2. C cây biểu tượng cho cuộc đời người ph n
C cây có quá trình sinh trưởng t nhiên t ny chi, n hoa, kết trái, tàn rng. Quy lut sinh
trưởng đó có quan h mt thiết vi cuộc đi gp ghnh lên xung của người ph n. Hình nh lúa
nếp trong bài ca sau như vẻ đẹp thanh xuân, tràn đầy sc sng của người thiếu nữ: “Thân
em như lúa nếp tơ/ Xanh cây tốt r, phởn phơ phơi màu”. Như cỏ cây, cuộc đời của người ph n
xưa luôn l thuc vào k khác chu trói buc bởi gia đình. Khi người con gái đang độ thanh
xuân b trói buc bi cha m: “Em như quả trên cây/ Dang tay m bt những ngày còn non”,
Má mong g thiếp v ờn/ Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh/ Dưa hường nu vi cá chun/
Đến đây em phải bán buồn mua vui”. Khi h bước vào hôn nhân thì l thuộc vào người chng,
h ch biết trách thm, chp nhn: “Khế rng b ao anh ước ao anh muốn lượm/ Ngọt như
TNU Journal of Science and Technology
229(08): 107 - 115
http://jst.tnu.edu.vn 111 Email: jst@tnu.edu.vn
cam sành rng cung anh chê/ Khế rng b ao, thanh thao anh m/ Ngọt như cam sành, héo
cuống anh chê”,“Trách lòng tham đó bỏ đăng/ Thấy quên lu thấy trăng quên đèn”, “Thân em
như miếng cau khô/ K thanh tham mỏng, người thô tham dày”. Qua ca dao, có th thy gia ph
n t nhiên luôn s tương đồng trong cách b đối xử: “số phận người đàn phục tùng,
b chiếm hu, b khai thác như giới t nhiên mà mình là hin thân ca s phì nhiêu huyn diu
b khai thác” [18, tr.98]. C cây trong ca dao còn tượng trưng cho thân phận mng manh, b
đẩy trong cuộc đời ca ph n hay thân phn ph thuc, cuộc đời ca h do người khác đnh
đoạt, tùy thuc vào s đánh giá, quan nim s thích của người khác: “Thân em như thể bèo
trôi/ Sóng dp gió di biết ghé vào đâu”, “Thân em như thể cánh bèo/ Ngược xuôi xuôi ngược
theo chiều gió trôi”, “Thân em như trái bần trôi/ Gió dp sóng di biết tấp vào đâu”, “Thân em
như dây bìm bìm/ Rủi khi rào ngã ai tìm chi em”. Người ph n ý thc được thân phn th động
ca h, t tui trẻ, tình yêu, hôn nhân đang hạnh phúc, vui tươi bước sang bi kịch, tàn héo: Cúc
đang xanh, sao cúc vội tàn/ Kiểng đang xanh, sao kiểng héo, em hi chàng ti ai?/ Mt nhìn, ly
nh hàng hai/ Cúc tàn, king héo tại hai đứa mình”, Thân thiếp như cánh hoa đào/ Đang tươi
đang tốt thiếp trao cho chàng/ Bây gi nhy rữa hoa tàn/ Vườn xuân kém sao chàng lại chê”.
Hoa kia ch rc r tươi sắc trong khonh khc ngn ngi rồi tàn tã rơi đi như nhan sắc của người
con gái d già nua theo năm tháng. Hình ảnh “n tm xuân xanh biếc” trong lời ca: “Trèo lên y
bưởi hái hoa/ c xung n hái n tm xuân/ N tm xuân n ra xanh biếc/ Em chng
ri anh tiếc lm thay!” th hin s tiếc nuối cho người con gái đang đ xuân xanh phải đi lấy
chồng, để ri l hn với tình yêu. N tm xuân n ra xanh biếc” như cái tuổi đời ca gái,
đang xanh non, hay ám chỉ cuộc hôn nhân “xanh biếc” (chứ không phi màu hng) của người con
gái. C cây trong cuộc đời hôn nhân của người ph n một vai trò tượng trưng hết sc quan
trng. Trong bui hn hò, cây c như vật tượng trưng cho tình cm thm thiết của đôi trẻ, sc
xuân tràn tr ca thời con gái: Tru này tru quế, tru hi/ Tru loan, trầu phượng, tru tôi, tru
mình/ Tru này tru tính, tru tình/ Tru nhân tru ngãi, tru mình lấy ta”, “Ra vườn hái qu cau
xanh/ B ra làm u mời anh xơi trầu”, “Thương nhau cau sáu bổ ba/ Ghét nhau cau sáu b ra
làm mười”. Hình nh gái mi tru trong bui thanh tân tht duyên dáng, tru cau biu hin
thái độ kín đáo, tế nh ưng thuận trước chàng trai, trầu cau như lời hẹn ước của tình yêu đôi lứa.
Tc l xưa, người con gái đã “thương thầm” chàng trai nào tchấp nhận ăn miếng tru do h
mi, cm bng không thì thng thng t chối” [19, tr.69-70]: “Đi đâu cho đổ m hôi/ Chiếu tri
không ngi, trầu để không ăn - Thưa rằng bác m em răn/ Làm thân con i chớ ăn trầu người”.
Sau bui hn hò, tình cm của đôi lứa thêm mn nồng tình yêu đến tđơm hoa kết trái. Gia
đình chàng trai sang chơi nhà gái, trong lễ vt phải “quả cau cơi trầu”, nhà i thì mi
trầu nhà trai: “Đôi tay nâng lấy cơi trầu/ Trước mi quý khách, sau mời đôi bên/ Nhớ ân k ng
lương duyên/ Đuốc hoa đành liệu thy nguyn trúc mai”. Lúc này, trầu cau như vật đính ước ca
hôn nhân. C cây còn n d cho ni nim tiếc nui, cay đắng ca một tình yêu không đơm hoa kết
quả: “Ba đồng mt m tru cay/ Sao anh không hi những ngày còn không”. Thân phận người ph
n được lượng giá bằng “miếng trầu cay” - chua chát, đắng cay. Như cỏ cây vi s di chuyn ca
bốn mùa, ngưi ph n tri qua những giai đon tui tr, ly chng, làm v, làm m. Mi thi
khắc phát sinh đổi thay đều đem đến cho cuc sống người ph n nhng ng ngàng, ngc nhiên và
cảm động, cm xúc v cuc đời lng l trôi qua, cm nhn v cây c nbóng dáng đời người
vy. Hình ảnh người m già, tóc bc, da mi chân cht, mc mc, rộng lượng, bao dung vi ý chí
kiên cường, bt khut để đứng vng trong phong ba bão táp ca cuộc đời: “M già như chuối ba
hương/ Như xôi nếp mt, như đường mía lau”. S gần gũi giữa ph n vi c cây được biu th
ngay trong ch so sánh. đây những loài cây c ợng trưng cho vị trí yếu thế trong hôn nhân,
thân phn b ph thuc của người ph n trong xã hội xưa, cũng như vai trò của h trong gia đình.
3.3. Ý thc n tính dưới cái nhìn thế gii t nhiên
V thế ng x giữa người Vit Nam vi t nhiên, Trn Ngc Thêm khẳng định: “Do sng ph
thuc nhiu vào thiên nhiên nên dân nông nghip ý thc tôn trọng ước vng sng hòa hp