Mỹ thuật Việt Nam - những nẻo đường
Điều đầu tiên cn ghi nhận, nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại được bắt đầu từ những
ông thy người Pháp - với trường M thuật Đông Dương mở ra Hà Ni m
1925 - chịu nh hưởng trực tiếp truyền thống mỹ thuật kinh điển phương y.
Tđó đến nay thể nói mỹ thuật phương Tây là vùng nh hưởng truyền thống
của mỹ thuật Việt Nam. Điều này hoàn toàn d thấy qua thực tế là phương y
bao nhiêu khuynh hướng nghệ thuật thì Việt Nam dường như đủ t
khuynh hướng hồn nhiên cđại, khuynh hướng n giáo trung cổ đến c khuynh
hướng hiện đại vi những hậu n tượng, lập thể, biểu hiện, siêu thực, trừu tượng...
kcả hậu hiện đại với những nghệ thuật sắp đặt (Installation), nghệ thuật thực địa
(Land Art) v.v...
Tranh sơn mài của Nguyễn Gia T
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa mỹ thuật Việt Nam là bn sao tĩnh lược nền M
thuật phương y. Sự ảnh hưởng, hay tiếp thu, tùy thi, đều có tính chất và ý nghĩa
khác nhau.
Trlại với các họa sĩ thời trường Mthuật Đông Dương, dễ thấy, ngay tđầu c
họa như Ngọc n, Trần n Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Phan Chánh,
Nguyễn Đỗ Cung... đã làm một cuộc o đối với truyn thống mỹ thuật phương
Tây đang được tiếp thu để tìm kiếm các cội nguồn cảm xúc của mình. Stìm kiếm
bắt đầu tduy hình tượng cho đến chất liệu, kỹ thuật - các họa sĩ đã nhanh
chóng đạt đến sự thống nhất trong tư duy nghệ thuật - tdo biểu xúc tình cảm
thẩm mỹ riêng. Ngày nay, xem lại tranh c bậc tiền bối y, mọi người phải thừa
nhận, họ đã tiếp thu phương y chủ yếu kpháp tạo hình chất liệu - ứng
dụng hồn nhiên cu trúc không gian vật lý; sử dụng hồn nhiên chất liệu n dầu,
đồng thời bác học hóa các chất liệu n gian như sơn mài, lụa, tranh khắc - n v
tinh thn thuần chất Việt Nam - phi lý trí hóa - hoặc biểu hiện các cảm xúc trữ tình
hồn nhiên trước cuộc sống bao quanh tcảnh, vật đến người, hoặc biểu hiện các
cm thức siêu hình ng bạc trong nhân gian ảnh hưởng từ đạo Phật, đạo Lão, đạo
Nho phương Đông. i chung, các họa sĩ thời "Đông Dương" đã thành tu với sự
thật: mọi tiếp thu, nh hưởng từ bên ngoài, trong nghthuật, chỉ ý nghĩa khi
được chắt lọc - thống nhất hóa, xuyên suốt hóa trong tính liên tục của tư duy vốn dĩ
có bối cảnh và phương thức tự thích ứng riêng.
Nền Mỹ thuật Việt Nam hiện đại từ khởi đầu đến cuối những m 1980, về đại thể
không có biến chuyển nào đáng kể về nghệ thuật.
Tranh Nguyễn ng
min Bắc, sự tìm i ngôn ngữ nghệ thuật mới một shọa chỉ thể nghim,
nghiêng về hình thức. Nền mỹ thuật Cách mạng thực chất vẫn sự tiếp tục dòng
mỹ thuật Việt Nam mới được thiết lập tcác họa tiền phong trường Mỹ thuật
Đông Dương với một tinh thần mi đặt nền trên các xúc cm trtình mang tính
công dân thế sự. Trong shọa sĩ Cách mng, có lẽ duy nhất Nguyễn ng là
người tiếp xúc được với hiện thực lịch sử - hội với những tác phẩm giàu tính
khái quát cm xúc mnh (như Giặc đốt làng tôi, Kết nạp Đảng Điện Biên,
Thanh niên thành đồng). Còn lại tuy hin diện trong phương thức tả thực nhưng
phần lớn các họa sĩ đều là những họa sĩ lãng mn - hoc mang tinh thần Cách
mạng xã hội hoặc mang tinh thần dân tộc.
Tranh Nguyễn Pớc