
Nghệ thuật hùng biện và phương
pháp biện luận của luật sư
Tranh luận là quá trình giao lưu ngôn ngữ đòi hỏi cả hai bên phải chứng minh được
quan điểm của mình là đúng đắn, bằng những lí lẽ cần thiết. Đồng thời, phải vạch
trần sai lầm trong quan điểm đối phương, nhằm đi đến một nhận thức chung.Tranh
luận là tinh hoa nghệ thuật của năng lực hành động ngôn ngữ, là cách thức phát
triển trí tuệ, là hòn đá mài sắc tư duy, là vũ khí đánh đổ mọi sai lầm.
Lời Nói Đầu
Thời cổ đại tranh luận đã từng lưu lại những trang sáng chói.
Trần Chuẩn nói rõ lí lẽ mà quân địch phải lui, Tô Tần du thuyết mà sáu nước được an,
Thái Trạch chỉ dăm câu sắc sảo mà thừa tướng Phạm Thư chắp tay nhường chức, Gia Cát
Lượng thiệt chiến quần nho mà Ngô – Thục kết liên minh, đánh cho quân Tào Tháo thất
điên bát đảo.
Ngày nay, tranh luận lại càng toả sáng rực rỡ hơn.
Văn Nhất Đa(1) đối mặt với giặc mạnh mà đập bàn cao giọng, Chu ân Lai tranh luận
ngoại giao mà vẫn vững trong cơn nguy, “cuộc tranh luận thế kỉ”, khiến người người kính
nể…
Biết bao cuộc tranh luận đã thu hút và làm nức lòng mọi người! Thời kì đại chiến thế giới
lần thứ hai, người Mĩ coi miệng lưỡi, bom nguyên tử, tiền vàng là ba thứ vũ khí để sinh
tồn và cạnh tranh. Rồi khoa học đã thay thế cho sức mạnh vũ khí, thế nhưng địa vị bá chủ
của miệng lưỡi vẫn giữ nguyên.
Bạn có muốn hô phong hoán vu trong sục sôi biển sóng của sự cạnh tranh xã hội ngày
nay không? Bạn có muốn đánh bại quần hùng bằng ba tấc lưỡi trong các cuộc luận chiến
không? Bạn có muốn dẽ dàng đại thắng trong đàm phán theo cách giấu kín mưu cơ lộ

mũi tiên phong không ? Xin hãy đọc các bài này, hi vọng Phương pháp biện luật sẽ là
thanh bảo kiếm lóe sáng trong tay bạn, trong các cuộc tranh luận !
1 Thắng bằng Logic.
Biện luận có đường biên không tách rời với logic. Biện luận là cơ sở sinh ra logic, mầm
mống đầu tiên của logic đã nảy nở trên mảnh đất biện luận. Ngược lại logic lại chính là
mạch sống của biện luận, muốn biện luận có sức hấp dẫn tất phải có sức mạnh logic
khuynh đảo.
Stalin từng nhận định về lời biện luận của Lê nin rằng: “Lúc đó, điều khiến tôi khâm
phục chính là sức mạnh logic không thể chiến thắng nằm trong lời diễn thuyết của người.
Sức mạnh logic này tuy có khô khan, nhưng nó lại tóm chặt lấy người nghe, từng bước
từng bước làm xúc động, và cuối cùng thì cầm tù nguời nghe, không trừ một ai. Tôi còn
nhớ, lúc đó rất nhiều đại biểu nói:
“Logic trong bài nói của Lê nin khác nào những xúc tu vạn năng, sẽ kẹp chặt lấy anh từ
mọi phía bằng kìm, khiến anh không thể thoát khỏi. Nếu anh không đầu hàng, sẽ thất bại
hoàn toàn.
2 Giữ cho đồng nhất
Giữ cho đồng nhất nghĩa là trong biện luận, tư tưởng của chúng ta phải có tính xác định
và tính nhất quán đầu cuối.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng sự vật khách quan hàm chứa mâu thuẫn nội tại
không ngừng hoạt động, phát triển và biến hóa. Thế nhưng trong một giai đoạn phát triển
nhất định, sự vật khách quan lại có tính quy luật về chất đặc thù. Chính do tính quy luật
về chất này của sự vật mà khiến cho các sự vật được phân biệt. Luật đồng nhất trong
logic học chính là quy luật cơ bản của tư duy logic được hình thành từ tính quy định về
chất của sự vật khách quan hàng trăm vạn lần phản ánh trong ý thức con người. Chúng ta
muốn nhận thức sự vật khách quan và triển khai biện luận một cách chính xác thì phải
tuân theo Luật đồng nhất, mà tính xác định và tính nhất quán đầu cuối của tư tưởng trong

biện luận lại chính là yêu cầu cơ bản nhất của Luật đồng nhất đối với người biện luận.
Cụ thể là Luật đồng nhất đòi hỏi khái niệm dùng trong lời người biện luận phải giữ được
đồng nhất. Hãy xem đoạn tranh luận sau:
Có một hôm A, B, C và D thấy thùng cứu hoá chỉ chứa cát tới mức một nửa. Thế là họ
bắt đầu cãi nhau.
A – Thùng này rỗng thột nửa.
B – Thùng này chứa một nửa.
C – Thế thì có gì phải cãi nhau, thùng rồng thột nửa chẳng phải cũng như là thùng chứa
một nửa đó sao ?
D – Không phải thế. Nếu xác lập đẳng thức: “thùng rỗng một nửa bằng thùng đựng một
nửa” thì chúng ta có thể cùng nhân hai vế với 2. Thùng rỗng một nửa nhân 2 bằng hai
thùng rỗng một nửa, và hai thùng rồng một nửa bằng một thùng rỗng. Còn thùng chứa
một nửa nhân với hai thì bằng hai thùng chứa một nửa, và hai thùng chứa một nửa bằng
một thùng chứa đầy. Thế là, chẳng phải một thùng trống rỗng bằng một thùng đựng đầy
đó sao ?
Biện luận của D là sai, nguyên nhân là khái niệm “thùng rỗng một nửa” và “thùng đựng
một nửa” đã không giữ được đồng nhất và đã bị đánh tráo hàm nghĩa trong đó. “Thùng
rỗng một nửa” là chỉ thùng này một nửa rỗng một nửa đựng, “thùng đựng một nửa” chỉ
thùng này có một nửa đựng một nửa rỗng. Thế mà D lại lần lượt đánh tráo thành “bộ
phận nửa rỗng trong thùng” và “bộ phận nửa đầy trong thùng”, như vậy sẽ dẫn tới kết
luận giả dối.
Luật đồng nhất còn đòi hỏi luận đề trong biện luận phải giữ được đồng nhất. Ví dụ, một
đơn vị nọ mở cuộc tranh luận với chủ đề: “Thế nào là vẻ vang”, và đã có đoạn đối thoại
như sau:
A – ôi dào, vẻ với chẳng vang. Tôi cho rằng có tiền thì vẻ vang, không tiền thì đừng nói
đến vẻ vang, thật đơn giản. Có tiền mới làm được việc, không tiền thì chẳng làm được gì
cả. Cậu cứ vào quầy hàng mà mua đi, thiếu một xu thì đừng có mà mua. Mà vào rạp xem
phim, thiếu một hào cũng đừng nghĩ đến chuyên vào làm gì.
B – Lí do cậu nêu ra không nói lên được có tiền thì vẻ vang, chỉ nói lên các tác dụng của

đồng tiền…
A – Tiền đương nhiên là có tác dụng rồi ! Có tiền thì sai khiến được cả ma quỷ kéo cối
xay !
B – Cái đó tớ không đồng ý ! Trên thế giới làm gì có ma quỷ, vậy thì làm sao có thể nói
tới việc sai ma quỷ kéo cối xay ?
A – Ai bảo không có ma? Nếu không có ma thì sao xưa nay trong nước ngoài nước bao
người nói về ma ?
Điều mà họ tranh luận vốn là: “thế nào là vẻ vang” thế nhưng vấn đề tranh luận về sau lại
chuyển sang “‘trên thế giới có ma hay không ?” Chuyển đề tài như vậy, đã dẫn tới không
giữ được đồng nhất. Những kiểu tranh luận như vậy thường là lan man, như con ngựa
sổng, kết quả là đi chệch xa đề tài. Và đó là điều mà Luật đồng nhất trong logic học
không cho phép.
3. Khôn khéo đặt điều kiện
Giữa các sự vật khách quan vẫn tồn tại mối liên hệ điều kiện nhất định. Tách rời khỏi
điều kiện nhất định, sự vật khách quan sẽ không thể tồn tại và phát triển. Thuật Khôn
khéo đặt điều kiện là phương pháp dùng cách khéo léo đặt ra điều kiện nào đó. rồi về sau
phán đoán biện luận đối với sự vật.
Trong biện luận, khi đối tượng đặt ra cho chúng ta những vấn đề gai góc mà nếu khẳng
định hoặc phủ định một cách giản đơn đều rơi vào tình huống tiến thoái lưỡng nan. Lúc
này, chi Cần khôn khéo đặt ra điều kiện nào đó là có thể biến hại thành lợi, chuyển nguy
thành an. Ví dụ, trong cuộc tranh luận tại cuộc thi hùng biện quốc tế bằng Hoa ngữ lần
một với chủ đề: No ấm là điều kiện tất yếu để nói tới đạo đức, số 3 của đội đại học
Cambridge nước Anh bỗng nêu câu hỏi:
“Nếu bây giờ 10 người chúng tôi bỏ phiếu tán thành yêu cầu sung công tài sản của số 3
đội bạn để đáp ứng nhu cầu của mọi người thì như vậy có đúng không ?”
Câu hỏi này thực sự dồn người ta vào chỗ bí, vì nếu khẳng định một cách đơn giản thì rõ
ràng không phù hợp với lẽ thường, còn nếu phủ định một cách đơn giản cũng lại làm lung

lay luận chứng của mình. Thế nhưng số 3 của đội Phúc Đáp (trường đại học ở Thượng
Hải) đã dùng thuật Khôn khéo đặt điều kiện để trả lời:
“Nếu tài sản của tôi sung công mà mang lại phúc lợi cho quảng đại dân chúng thì tôi nghĩ
tôi lựa chọn cách này, bởi vì dã làm người phải làm người có đạo đức”. (vỗ tay)
Do đã khôn khéo đặt ra điều kiện mang lại phúc lợi cho quảng đại dân chúng mà đội
Phúc Đáp không những đã trả miếng đối phương một cách hữu hiệu và còn tăng cường
luận điểm của đội mình.
Trong những cuộc thi hùng biện, chúng ta thường phải đối mặt với những luận đề bất lợi
và do đó càng cần phải dùng thuật Khôn khéo đặt điều kiện. Với điều kiện đã khôn khéo
đặt ra, chúng ta có thể phát triển thuận lợi tránh cái khó khăn để triển khai biện luận,
giành thế thượng phong. Ví dụ, trong cuộc thi hùng biện châu á lần thứ nhất (năm 1986),
luận đề là: Phát triển ngành du lịch lợi nhiều hơn hại, đội phản bác là Đại học Sư phạm
Bắc Kinh đối diện với đề khó này đã lật lại và đặt điều kiện: Nếu phát triển ngành du lịch
một cách mù quáng, không kiểm soát và họ đã triển khai một cuộc tranh luận sinh động,
khiến mọi người phải đồng ý với kết luận: hại nhiều hơn lợi. Đại biểu đội Trường đại học
Sư phạm Bắc Kinh biện luận như sau:
“Nếu cứ phát triển ngành du lịch một cách mù quáng, thiếu kiểm soát sẽ dẫn việc chào
mời du khách bằng mọi thủ đoạn. Nhiều quốc gia đã chào mời du khách không phải bằng
phong cảnh tươi dẹp và những hàng hóa rẻ của họ, mà khách của họ ngày càng tăng chủ
yếu do hoạt động Sex. Ngành du tịch ở áo Môn phát đạt, nhưng đó là do họ đã đáp ứng
khách da đen bằng cách cho số người này thưởng ngoạn “non xanh nước biếc” trên chiếu
bạc. Đương nhiên, ở đây chúng ta không đánh dấu bằng giữa ngành du lịch với ngành
Sex và cờ bạc. Về mặt này có thể nói Singapo là một điển hình. Thế nhưng những điển
hình như vậy quá ít, mà những và dù thất bại lại quá nhiều. Cờ bạc, tình dục rất dễ lan
tràn như tế bào ung thật. Sòng bạc dân Đỉnh của Malaixia, hộp đêm của Thái Lan chẳng
nổi tiếng thế giới đó sao ? Nếu cứ cái đà như vậy. mà nói Phát triển ngành du lịch lợi
nhiều hơn hại chẳng hóa ra nói: Phát triển hoạt động tình dục và cờ bạc lợi nhiều hơn hại
đó sao ?”
Đòn tấn công này của đội Trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh quả là lợi hại, trên cơ sở

