
XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
436
KINH T
Ế
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ QR PAY TRONG CÁC GIAO DỊCH THANH TOÁN VÀ CHUYỂN TIỀN ĐIỆN TỬ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
STUDY ON FACTORS AFFECTING THE INTENTION TO USE QR PAY SERVICES IN PAYMENT TRANSACTIONS AND ELECTRONIC MONEY TRANSFERS OF STUDENTS OF HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Nguyễn Thùy Trang1, Phan Kim Ngân1, Nguyễn Thị Quỳnh Liên1, Bùi Hoàng Hào1, Nguyễn Việt Bắc1, Nguyễn Thị Nguyệt Dung2,* TÓM TẮT Dịch vụ QR Pay trong thanh toán và chuyển tiền điện tử được sử dụng đ
ể thay
thế các phương thức thanh toán và chuy
ển tiền truyền thống hiện nay đang trở
nên rất phổ biến. Nghiên cứu lựa chọn phạm vi nghiên cứu tại trư
ờng Đại học Công
nghiệp Hà Nội nhằm đánh giá, xác định các yếu tố quan trọng ảnh hư
ởng đến ý
định sử dụng dịch vụ QR Pay trong các giao dịch thanh toán và chuy
ển tiền điện tử
của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có một số yếu tố quan trọng m
à
sinh viên quan tâm và có tác động đáng kể đến quyết định sử dụng dịch vụ này.Nghiên cứu này xác định các yếu tố quan trọng ảnh hư
ởng đến ý định sử dụng dịch
vụ QR Pay của sinh viên trong các giao dịch thanh toán và chuy
ển tiền điện tử. Độ
tin cậy, tiện lợi, nhận thức và kiến thức, trải nghiệm người dùng và sự tin tư
ởng
vào công nghệ được xác định là những yếu tố quan trọng cần đư
ợc chú trọng để
thúc đẩy việc sử dụng dịch vụ này. Từ khóa: QR Pay, giao dịch thanh toán, chuyển tiền tiền. ABSTRACT Q
R Pay service in electronic payment and money transfer is used to replace
traditional payment and money
transfer methods that are now becoming very
popular. The study selected the scope of research at Hanoi University of Industry
to evaluate and identify important factors affecting the intention to use QR Pay
service in electronic payment and money transfer
transactions. student.
Research results show that there are a number of important factors that
students care about and have a significant impact on their decision to use this
service. This study identifies important factors that influence students'
intent
ion to use QR Pay services in electronic payment and money transfer
transactions. Reliability, convenience, awareness and knowledge, user
experience and trust in technology were identified as important factors that
need to be addressed to promote the use of this service. Keywords: QR Pay, payment transactions, money transfer. 1Lớp Tài chính Ngân hàng 2 - K15, Khoa Quản lý Kinh doanh, Trư
ờng Đại học
Công nghiệp Hà Nội 2Khoa Quản lý Kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội *Email: nguyetdunghaui@gmail.com 1. GIỚI THIỆU Với sự phát triển của công nghệ và sự tiên tiến của thị trường, mã QR đang trở nên phổ biến hơn và được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực, từ giao dịch tài chính đến quản lý chất lượng. Nghiên cứu về cách sử dụng mã QR hiệu quả và an toàn sẽ giúp cho người dùng có trải nghiệm tốt hơn và tối ưu hóa quá trình sử dụng mã QR. Tuy nhiên, sự quan tâm của mọi người ở Việt Nam đối với việc sử dụng thanh toán QR Pay vẫn còn thấp và việc thanh toán QR Pay của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội vẫn còn ở giai đoạn khởi đầu. Các yếu tố có sự ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ QR Pay của mọi người hiện nay và riêng với sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội vẫn còn chưa được thật sự rõ ràng để các tổ chức, các công ty về lĩnh vực thanh toán, các ngân hàng dùng để phân tích dữ liệu, từ đó có thể nhận định được hành vi sử dụng dịch vụ này. Trong bài viết dưới đây, chúng sẽ xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ QR Pay, từ đó có những đề xuất giải pháp (nâng cao trải nghiệm sử dụng/khắc phục nhược điểm, hạn chế/thu hút người dùng sử dụng/công tác/…) trong các giao dịch thanh toán và chuyển tiền điện tử của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dịch vụ QR Pay sẽ giúp cho các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán và chuyển tiền điện tử cải thiện sản phẩm của mình để đáp ứng nhu cầu của người dùng. Đồng thời, nghiên cứu này cũng sẽ giúp người dùng hiểu rõ hơn về ưu điểm và nhược điểm của QR Pay, từ đó có thể sử dụng dịch vụ này một cách hiệu quả và tiện lợi hơn. Đối tượng nghiên cứu hướng đến là sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội là những người quyết định lựa chọn và sử dụng dịch vụ . Câu hỏi đặt ra ở đây là các nhân tố nào sẽ ảnh hưởng ý định sử dụng dịch vụ QR Pay? Trong đó, ngoài

ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 437
03 yếu tố thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức lợi ích kiểm soát hành vi, nhóm nghiên cứu còn đặt ra thêm câu hỏi nghiên cứu cụ thể :Yếu tố lòng tin có ảnh hưởng như thế nào đến ý định sử dụng dịch vụ QR Pay? Mức độ và chiều hướng ảnh hưởng? Xuất phát từ những câu hỏi trên, nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dịch vụ QR Pay trong các giao dịch thanh toán và chuyển tiền điện tử của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1. Tổng quan nghiên cứu 2.1.1. Các nghiên cứu tiếp cận theo sự hài lòng với chất lượng dịch vụ QR Pay Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Quân (2019) về các nhân tố tác động đến sự hài lòng chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử: nghiên cứu tại ngân hàng thương mại tiên phong. Nghiên cứu tập trung xác định các nhân tố tác động đến sự hài lòng dịch vụ ngân hàng điện tử trên cơ sở dữ liệu khảo sát với 225 khách hàng thường xuyên sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng thương mại Tiên Phong. Kết quả nghiên cứu đã chỉ có 6 yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng đối với việc sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử của các ngân hàng thương mại, bao gồm: độ tin cậy của dịch vụ e-banking, khả năng đáp ứng dịch vụ e-banking, phương tiện điện tử, năng lực phục vụ e-banking, sự đồng cảm khách hàng e-banking, giá cả, chi phí dịch vụ e- banking. Nghiên cứu cũng đã đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử cho các ngân hàng thương mại của Việt Nam. Tóm lại, các nghiên cứu trên cho thấy rằng người dùng rất hài lòng với tính năng và tiện ích của dịch vụ QR Pay, đặc biệt là tính năng thanh toán trực tuyến và trải nghiệm thanh toán nhanh chóng, tiện lợi. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề cần được cải thiện để nâng cao chất lượng dịch vụ của QR Pay. 2.1.2. Các nghiên cứu tiếp cận theo ý định hành vi lựa chọn sử dụng dịch vụ QR Pay trong các giao dịch thanh toán và chuyển tiền điện tử Nghiên cứu của Nguyễn Vân Hà và Đào Thị Minh Hậu (2021) về các nhân tố tác động tới ý định sử dụng dịch vụ thanh toán di động dựa trên phân tích lợi ích - chi phí và ảnh hưởng xã hội. Nghiên cứu được thực hiện với mục đích xác định các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán di động của các cá nhân dựa trên phân tích lợi ích - chi phí và ảnh hưởng xã hội. Nghiên cứu áp dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để phân tích 201 mẫu quan sát thu thập được thông qua khảo sát. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng giá trị cảm nhận, chuẩn mực xã hội và hình ảnh xã hội có tác động tích cực tới ý định sử dụng dịch vụ thanh toán di động. Cụ thể, giá trị cảm nhận chịu ảnh hưởng bởi lợi ích cảm nhận (lợi thế tương đối), chi phí cảm nhận (chi phí phải trả) và hình ảnh xã hội. 2.1.3. Các nghiên cứu tiếp cận vấn đề lòng tin Nghiên cứu của Felix B. Tan và Paul Sutherland (1975) về lòng tin của khách hàng trực tuyến. Mục đích của bài báo này là tổng hợp các quan điểm từ khắp các lĩnh vực và kết hợp chúng lại với nhau trong một mô hình tin cậy đa chiều. Từ nhiều lĩnh vực này đã xuất hiện ba khía cạnh của niềm tin là niềm tin theo từng thời điểm, niềm tin thể chế và niềm tin giữa các cá nhân, mỗi khía cạnh đưa các yếu tố ảnh hưởng riêng của mình vào ý định tin cậy tổng thể. Từ mô hình này nảy sinh quan điểm cho thấy người tiêu dùng với tư cách là một cá nhân là trung tâm của niềm tin, và do đó, tính cách và văn hóa của cá nhân đó tạo nên nền tảng cho sự phát triển của lòng tin. 2.2. Cơ sở lý luận 2.2.1. Các lý thuyết về ý định hành vi sử dụng dịch vụ QR Pay Lý thuyết hành vi hợp lý hay thuyết hành động hợp lý (TRA-Theory of Reasoned Action) được phát triển bởi nghiên cứu của (Fishbein và cộng sự ,1980), cho rằng ý định là yếu tố dự đoán quan trọng nhất về hành vi của con người, và con người có lý trí trong việc sử dụng có hệ thống bất kỳ thông tin sẵn có nào. Lý thuyết TRA giải quyết các tác động của những người có cùng nhận thức. Bên cạnh, lý thuyết TRA phân tích các hành vi không theo quy trình, đối với những hành vi đòi hỏi sự cân nhắc quan trọng Lý thuyết hành vi có kế hoạch hay thuyết hành vi hoạch định (TBP - Theory of Planned Behaviour) dược nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, kể cả hành vi tiêu dùng xanh (Ajzen, 1991). Trong mô hình, ngoài yếu tố tác động đến ý định hành vi của một cá nhân là thái độ thì có thêm hai yếu tố nữa đó là chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Chuẩn chủ quan là sự thúc đẩy làm theo ý muốn của những người ảnh hưởng. Nhận thức kiểm soát hành vi đề cập đến khả năng một cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định, phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không. Theo thuyết hành vi hoạch định, thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến ý định và từ đó tác động trực tiếp đến hành vi. Nhận thức kiểm soát hành vi có thể vừa là nhân tố ảnh hưởng tới ý định vừa là nhân tố tác động tới hành vi tiêu dùng thực tế. 2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ QR Pay Sự tiện lợi trong quá trình sử dụng: Sự tiện lợi của việc thanh toán QR Pay đang được xem là một trong các yếu tố quan trọng trong việc quyết định sử dụng hình thức thanh toán này. Cả người mua và người bán đều quen với việc thanh toán bằng tiền mặt dẫn đến một sự không linh hoạt và mất thời gian trong quá trình trao đổi. Việc sử dụng thanh toán QR Pay tạo sự tiện lợi và đơn giản hóa trong quá trình mua bán và trao đổi giữa cả người mua và người bán. Người sử dụng không cần mang theo tiền mặt hoặc thẻ ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện thanh toán, trao đổi một cách nhanh chóng và dễ dàng. Sự an toàn trong giao dịch: Việc đảm bảo an toàn trong khi sử dụng dịch vụ thanh toán QR Pay là một yếu tố quan trọng khác, đảm bảo tính an

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
438
KINH T
Ế
toàn trong giao dịch mua bán. Xét ở khía cạnh người mua, việc không cần mang theo tiền mặt, người dùng sẽ không phải lo lắng về mất mát, mất cắp hay mạo danh. Đối với người bán, nhà cung cấp, việc sử dụng QR Pay sẽ giúp đơn giản hóa trong quá trình giao dịch, tiếp kiệm thời gian, ngoài ra còn tránh được sự sai lệnh, mất mát, giả mạo và dễ dàng quản lý hơn trong qua trình thanh toán. Sự tin tưởng vào dịch vụ: Sự tin tưởng của người dùng vào dịch vụ thanh toán QR cũng là một yếu tố quan trọng. Nếu người dùng không tin tưởng vào tính an toàn, tiện lợi hoặc khả năng sử dụng của dịch vụ này, họ có thể không sử dụng dịch vụ thanh toán QR. Trên thế giới, sự tin tưởng của người dùng đối với dịch vụ thanh toán QR được củng cố bởi những bảo mật an toàn và khả năng xử lý giao dịch nhanh chóng của nó. Điều này đã thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ này và góp phần tạo nên một cuộc cách mạng thanh toán trên toàn cầu. Bên cạnh đó, các yếu tố thái độ, lòng tin, chuẩn chủ quan, và nhận thức kiểm soát hành vi đóng vai trò quan trọng trong ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ QR Pay và mức độ chấp nhận sử dụng hình thức thanh toán này. Dưới đây là mô tả về các yếu tố này và cách chúng có thể ảnh hưởng: Thái độ: Thái độ của người dùng đối với dịch vụ QR Pay có thể ảnh hưởng đến ý định sử dụng. Nếu người dùng có một thái độ tích cực và cho rằng sử dụng QR Pay mang lại nhiều lợi ích và tiện ích, họ có khả năng cao hơn để sử dụng dịch vụ này. Thái độ có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như ý kiến của bạn bè, người thân hoặc đánh giá từ phía người tiêu dùng khác. Lòng tin: Lòng tin đề cập đến niềm tin và sự tin tưởng của người dùng vào tính an toàn, bảo mật và đáng tin cậy của dịch vụ QR Pay. Nếu người dùng tin rằng thông tin tài chính cá nhân của họ được bảo vệ một cách an toàn và rằng giao dịch qua QR Pay không gặp phải rủi ro lớn, họ sẽ có sự lòng tin cao hơn và sẵn lòng sử dụng dịch vụ này. Nhận thức kiểm soát hành vi: Nhận thức kiểm soát hành vi đề cập đến sự tự tin của người dùng trong việc sử dụng dịch vụ QR Pay. Nếu người dùng tin rằng họ có khả năng kiểm soát và sử dụng dịch vụ này một cách hiệu quả, họ có khả năng cao hơn để chấp nhận và sử dụng nó. Điều này có thể liên quan đến mức độ kỹ năng công nghệ của người dùng, sự quen thuộc với công nghệ di động và khả năng xử lý các vấn đề kỹ thuật. Chuẩn chủ quan: Chuẩn chủ quan liên quan đến tiêu chuẩn cá nhân mà người dùng sử dụng để đánh giá dịch vụ QR Pay. Nếu người dùng đặt chuẩn chủ quan cao về tính dễ sử dụng, tương thích với thiết bị của họ và đáp ứng nhu cầu cá nhân, họ sẽ có khả năng chấp nhận và sử dụng dịch vụ này. Chuẩn chủ quan cũng có thể bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm trước đó với dịch vụ tương tự hoặc ý kiến của người khác. Qua đó có thể thấy, thái độ, lòng tin, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ QR Pay và mức độ chấp nhận sử dụng của người dùng. Các yếu tố này có thể được nghiên cứu để hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của chúng và phát triển các chiến lược tăng cường để tăng cường ý định và chấp nhận sử dụng dịch vụ QR Pay. 3. PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu Nghiên cứu chính thức cũng được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định lượng này được thực hiện thông qua phương pháp gửi phiếu khảo sát online chủ yếu là sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Số phiếu thu về được sử dụng để kiểm định lại mô hình đo lường cũng như mô hình lý thuyết và các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu chính thức này được thực hiện vào tháng 3 năm 2023. Ở đây, thang đo Likert đã được sử dụng , thang đo này bao gồm 2 dạng trả lời, mỗi dạng gồm 5 mức độ như sau: (1) Rất không đồng ý, (2) Không đồng ý, (3) Bình thường, (4) Đồng ý, (5) Rất đồng ý. (1) Rất không tốt, (2) Không tốt, (3) Bình thường, (4) Tốt, (5) Rất tốt 3.2. Phương pháp xử lý dữ liệu Nhóm tác giả đã đưa ra 8 thang đo cho nghiên cứu của mình, đó là: Thái độ (TD), Chuẩn chủ quan (CQ), Nhận thức kiểm soát hành vi (KS), Lòng tin (TR). Các thang đo của các biến này đã được đánh giá sơ bộ thông qua phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA thông qua phần mềm SPSS 26 với dữ liệu đã thu thập được từ nghiên cứu chính thức qua bảng hỏi. 3.3. Mô hình nghiên cứu Hình 1. Mô hình nghiên cứu Từ mô hình nghiên cứu (hình 1), nhóm tác giả có đưa ra các giả thiết sau:

ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 439
Giả thuyết H1: Thái độ của người dùng ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng QR-Pay trong giao dịch thanh toán chuyển tiền điện tử. Giả thuyết H2: Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng QR- Pay trong giao dịch thanh toán chuyển tiền điện tử. Giả thuyết H3: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động tích cực đến ý định sử dụng QR-Pay trong giao dịch thanh toán chuyển tiền điện tử. Giả thuyết H4: Lòng tin có tác động tích cực đến sự chấp nhận sử dụng hình thức thanh toán QR -Pay khi mua hàng. 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu Để đảm bảo độ tin cậy cao nhóm tác giả quyết định lựa chọn kích thước mẫu cho giai đoạn này là n = 500 lớn hơn kích thước mẫu tối thiểu. Với hơn 500 phiếu phát ra, tổng số phiếu thu về và hợp lệ là 437 phiếu. Quá trình khảo sát được thực hiện thông qua phiếu khảo sát được trình bày ở phụ lục. Ban đầu, nhóm tác giả sẽ đánh xử lý sơ bộ qua thống kê tần số. Hình 2. Thống kê các hình thức sinh viên Đại học Công nghiệp Hà Nội đang sử dụng Với 437 phiếu hợp lệ được thu thập theo hình thức khảo sát trực tuyến, mẫu nghiên cứu định lượng chính thức được thống kê mô tả trên địa bàn Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội cho thấy thực trạng, rào cản của sinh viên, họ đang gặp khó khăn khi tiếp cận dịch vụ sử dụng QR Pay trong thanh toán. Theo số liệu nhóm nghiên cứu thống kê trên 437 mẫu nghiên cứu, cho thấy 64,6% lựa chọn thanh toán giao dịch bằng phương thức tiền mặt, 67,3% sử dụng thanh toán bằng thẻ tín dụng cho các giao dịch . Có 77% số lượng người lựa chọn ngoài thanh toán bằng tiền mặt, thẻ tín dụng, còn sử dụng thêm ví điện tử như Momo, Viettel Pay, Zalo Pay. Và ngày nay khi phương thức quét mã QR Pay được sử dụng rộng rãi, phổ biến hơn, thì có đến 83,9% sinh viên tin dùng thanh toán qua di động QR Pay. Còn lại 25% trên tổng số, sinh viên lựa chọn hình thức khác để giao dịch, thanh toán hàng ngày như chuyển khoản trực tiếp,... Trên tổng số 437 mẫu nghiên cứu sinh viên lựa chọn rất thường xuyên sử dụng thanh toán QR Pay trong giao dịch thanh toán là 46,6% chiếm phần trăm lớn trên tổng số. Bên cạnh đó, có 40,9% trên tổng số sinh viên khảo sát chọn thường xuyên sử dụng QR Pay. Theo thống kê thì chỉ có 10% là thỉnh thoảng và 1,4% là hiếm khi sử dụng thanh toán bằng QR Pay mà thay bằng các hình thức thanh toán khác .Hơn nữa, thống kê cho thấy, trong ngày có đến 39,6% rất thường xuyên và 47,4% thường xuyên tích cực sử dụng dịch vụ QR Pay trong các giao dịch thanh toán và chuyển tiền điện tử. Hình 3. Thống kê mức độ thường xuyên sử dụng dịch vụ QR Pay Hình 4. Thống kê tần suất sử dụng trong ngày Dựa trên những khảo sát thu thập được, cho thấy việc sử dụng QR Pay đang ngày càng được phủ sóng và được sinh viên DHCN sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề chưa thỏa mãn nhu cầu sử dụng của người dùng, do đó để giảm thiểu rào cản này cần khắc phục những tình trạng vẫn còn đang tồn đọng được thể hiện ở phần kết quả phân tích nghiên cứu. 4.2. Kiểm định độ tin cậy thang đo Bảng 1. Cronbach Alpha của các khái niệm nghiên cứu Biến
Trung bình thang đo nếu loại biến
(Scale Mean if
Item Deleted)
Phương sai thang đo nếu loại biến (Scale Variance if Item Deleted)
Tương quan biến tổng
(Corrected Item
- Total Correlation)
Cronbach’s Alpha
nếu loại biến (Cronbach’s Alpha if Item Deleted) Thái độ - Hệ số Cronbach’s Alpha = 0,881 ATT1 12,83 4,194 0,720 0,856 ATT2 12,70 4,168 0,753 0,843 ATT3 12,68 4,123 0,753 0,843 ATT4 12,72 4,258 0,742 0,848 Chuẩn chủ quan - Hệ số Cronbach’s Alpha = 0,909 CCQ1 7,72 2,722 0,820 0,868 CCQ2 7,62 2,815 0,814 0,873 CCQ3 7,73 2,803 0,820 0,868

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
440
KINH T
Ế
Nhận thức lợi ích kiểm soát hành vi- Hệ số Cronbach’s Alpha = 0,892 KS1 16,82 7,110 0,786 0,857 KS2 16,80 7,408 0,728 0,871 KS4 16,81 7,116 0,785 0,858 KS5 17,00 7,454 0,696 0,878 KS6 16,95 7,552 0,686 0,880 Yếu tố lòng tin - Hệ số Cronbach’s Alpha = 0,569 TR1 8,26 1,576 0,348 0,536 TR2 8,08 1,763 0,461 0,354 TR4 8,19 1,945 0,345 0,518 Thang đo khái niệm về khía cạnh chuẩn chủ quan và thái độ (thang đo cảm nhận) nếu loại từng biến quan sát không làm tăng đáng kể độ tin cậy của thang đo. Các tương quan biến tổng của các biến quan sát đối với các chỉ báo này đều lớn hơn 0,5. Do đó các biến quan sát đo lường cho các chỉ báo này đều được giữ nguyên. Đối với thang đo về lòng tin nhận thức kiểm soát hành vi, do biến quan sát TR3 và KS3 khi chạy số liệu không đạt (hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item - Total Correlation) của các biến quan sát nhỏ hơn 0,3) sẽ gây ảnh hưởng tới các bước chạy số liệu tiếp theo trong phần nghiên cứu. Vì vậy, nhóm tác giả quyết định loại hai biến quan sát trên. Như vậy, tất cả các biến quan sát sẽ được sự dụng tiếp tục cho phân tích nhân tố khám phán EFA. 4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA Kết quả phân tích nhân tố khám phá trên phần mềm SPSS đối với nhóm nhân tố độc lập được trình bày như bảng 2. Bảng 2. Hệ số KMO và kiểm định Bartlett’s đối với nhân tố độc lập KMO and Bartlett’s Test Kaiser - Meyer - Olkin Measure of Sampling Adequacy 0,940 Approx. Chi-Square 5516,629 Bartlett’s Test of Sphericity df 378 Sig. 0,000 (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SPSS 26 ) Bảng 2 cho thấy, hệ số KMO đạt 0,902 > 0,5 chứng tỏ các biến quan sát cần thiết để tạo thành một nhân tố và tất cả các biến quan sát đều có mối tương quan với nhau trong tổng thể và phân tích nhân tố thích hợp với dữ liệu nghiên cứu (Sig.= 0,000 < 0,05), thỏa mãn các điều kiện của phân tích nhân tố và dữ liệu dùng để phân tích nhân tố là hoàn toàn thích hợp. Sau khi loại bỏ biến quan sát TR3 và KS3, tất cả các biến được đưa vào phân tích nhân tố với phép trích Principal axis factoring và phép quay Promax và điểm dừng khi trích các yếu tố có eigenvalue là 1 cho thấy EFA rút ra được 4 nhóm nhân tố tương ứng với 4 khái niệm như đã được phân tích ở trên với tổng phương sai là 72,968% tại eigenvalue là 1,658. Nhân tố có trọng số nhỏ nhất là 0,573 (KS6), và nhân tố có trọng số lớn nhất là 0,873 (KS4). Như vậy tất cả các biến quan sát này đều được dùng để đo lường trong nghiên cứu chính. Bảng 3. Kết quả EFA Ma trận xoay (Pattern Matrixa) Factor 1 2 3 4 KS4 0,873 KS1 0,863 KS2 0,790 KS5 0,607 KS6 0,573 CCQ1 0,872 CCQ2 0,866 CCQ3 0,859 ATT4 0,785 ATT2 0,779 ATT3 0,736 ATT1 0,722 TR2 0,784 TR1 0,724 TR4 0,691 Extraction Method: Principal Axis Factoring. Rotation Method: Promax with Kaiser Normalization. a. Rotation converged in 4 iterations. (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SPSS26 ) Kết quả ma trận xoay cho thấy, 15 biến quan sát được phân thành 4 nhân tố, tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố Factor Loading lớn hơn 0,5 và không còn các biến xấu. Từ kết quả kiểm định các thang đo, EFA cho thấy các khái niệm: yếu tố lòng tin, thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi là các khái niệm phân biệt và là các khái niệm đơn hướng về cả lý thuyết và thực tiễn. Trên cơ sở này mô hình nghiên cứu vẫn được giữ nguyên như mô hình tác giả đề xuất ban đầu. 4.4. Phân tích hồi quy Bảng 4. Kết quả độ phù hợp của mô hình Model Summaryb Mô hình (Model) R R2 (R Square) R2 điều chỉnh (Adjusted R Square) Sai số chu
ẩn
của ước lượng (Std. Error of the Estimate) Durbin- Watson 1 0,315a 0,099 0,309 0,67044 2,084 a. Predictors: (Constant), mean_TR, mean_KS, mean_CCQ, mean_ATT b. Dependent Variable: YDHVC (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SPSS 26 ) Kết quả hồi quy cho thấy, hệ số R bình điều chỉnh = 0,309, điều này có nghĩa là các yếu tố đưa vào phân tích trong mô

