
ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 367
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA HIỂU BIẾT TÀI CHÍNH ĐẾN KHÓ KHĂN TÀI CHÍNH CỦA SINH VIÊN: THỰC NGHIỆM TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
STUDYING THE IMPACT OF FINANCIAL LITERACY ON STUDENTS' FINANCIAL DIFFICULTIES: EXPERIMENT AT UNIVERSITIES IN HANOI CITY Hoàng Phương Ngân1, Phạm Thị Thanh Trà1, Nguyễn Thị Thủy2, Lê Thị Lan Anh3, Nguyễn Thị Hồng Nga4,* TÓM TẮT Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến khó khăn tài chính cá nhân dẫn đế
n
những ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứ
u quan
tâm trong thời gian qua. Bài nghiên cứu này được thực hiện nhằ
m khám phá tác
động của hiểu biết tài chính đến khó khăn tài chính của sinh viên, thực nghiệm tạ
i
các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội, Việt Nam. Dựa trên kết quả
phân
tích số liệu khảo sát của 260 sinh viên cho thấy, sinh viên có kiến thứ
c tài chính có
tác động ngược chiều với khó khăn tài chính, thái độ và hành vi tài chính có mố
i
quan hệ thuận chiều với khó khăn tài chính. Từ đó, nhóm nghiên cứu đề ra nhữ
ng
giải pháp nhằm nâng cao hiểu biết tài chính của sinh viên, làm giả
m khó khăn tài
chính cho sinh viên. Từ khóa: Hiểu biết tài chính; khó khăn tài chính; kiến thức tài chính; thái độ
tài
chính; hành vi tài chính. ABSTRACT
Research on the inuence of personal nancial difficulties leading to negative
impacts on society has been a topic of considerable interest among
researchers in
recent times. This study aims to explore the impact of nancial literacy on the
nancial difficulties of students, conducted through empirical research at
universities in Hanoi, Vietnam. Based on the analysis of survey data from 260
studen
ts, nancial knowledge has a reverse relationship with nancial difficulties,
while nancial attitudes and behaviors are positively correlated with nancial
strains. Consequently, the research team proposes solutions to enhance students'
nancial literacy and reduce nancial difficulties. Keywords:
Financial literacy, nancial stress, nancial knowledge, nancial
attitude, nancial behavior. 1Lớp Kế toán 2 - K16, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2Lớp Kế toán 9 - K16, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
3Lớp Kiểm toán 2 - K16, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội4Trung tâm Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội *Email: nguyenthihongnga@haui.edu.vn 1. GIỚI THIỆU Khó khăn tài chính có liên quan đến những hậu quả tiêu cực trên nhiều khía cạnh của cuộc sống bao gồm sức khỏe, hạnh phúc, học tập và các mối quan hệ (Northern và cộng sự, 2010). Hiệu trưởng các trường đại học đã chỉ ra rằng nhiều sinh viên bỏ học đại học do gặp khó khăn tài chính hơn là do thất bại trong học tập (Borden và cộng sự, 2008). Khó khăn tài chính kéo dài đối với các vấn đề tín dụng có thể có tác động tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần (Drentea và cộng sự, 2000). Tại các quốc gia phát triển, kiến thức tài chính, thái độ và hành vi tài chính được đưa vào chương trình giáo dục ngay từ khi người học là học sinh bậc trung học đặc biệt ở các quốc gia như Anh, Mỹ, Hoa Kỳ, Nhật Bản,… Tại đây, giáo dục đưa mô hình tích hợp phát triển năng lực giúp học sinh, sinh viên dễ dàng tiếp cận kiến thức về tài chính song song cùng lý thuyết các môn học. Tuy nhiên, tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, hiểu biết tài chính còn nhiều hạn chế nên dẫn đến khó khăn tài chính. Thực tế, nhiều sinh viên Việt Nam đã gặp khó khăn khi vay những khoản vay không rõ ràng, hoặc bị lừa đảo bởi sự kém hiểu biết tài chính. Sinh viên phải đối mặt với khó khăn tài chính ngày một gia tăng vì sự phát triển của công nghệ, tiền ảo, các chiêu trò,... đánh vào sự kém hiểu biết của sinh viên. Điều này đã gây ảnh hưởng rất lớn đến sinh viên về cả vật chất và tinh thần. Nhiều nghiên cứu trong thời gian qua đã tiếp cận vấn đề này, tuy nhiên, nghiên cứu được thực hiện tại các quốc gia có nền kinh tế, xã hội ở mức phát triển khác nhau, ở các giai đoạn khác nhau nên các kết quả nghiên cứu vẫn có sự xung đột, chưa thống nhất. Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu tác động của hiểu biết tài chính được đo thông qua ba nhân tố: thái độ tài chính, hành vi tài chính, kiến thức tài chính đến khó khăn tài chính được nghiên cứu trên mẫu ngẫu nhiên trên sinh viên các trường đại học tại Hà Nội, Việt Nam. Từ việc nghiên cứu tác động của hiểu biết tài chính đến khó khăn tài chính của sinh viên, nhóm nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao kiến thức tài chính, có thái độ và hành vi tài chính phù hợp hơn nhằm hạn chế khó khăn tài chính đối với sinh viên.

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
368
KINH T
Ế
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Cơ sở lý thuyết - Hiểu biết tài chính Theo quan điểm của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD, 2013), “hiểu biết tài chính là tổng hợp nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi tài chính cần thiết để có thể đưa ra được các quyết định an toàn và cuối cùng đạt được lợi ích về tài chính”. - Khó khăn tài chính Nghiên cứu của Sonya và cộng sự (2015) về khó khăn tài chính khi cho rằng “Khó khăn tài chính là không có khả năng đáp ứng các trách nhiệm kinh tế của một người và bị ảnh hưởng bởi thái độ, niềm tin và các yếu tố tâm lý khác (tham chiếu theo nghiên cứu của Northern và cộng sự, 2010)”. - Tổng quan nghiên cứu Trên thế giới, có nhiều công bố quan tâm nghiên cứu về hiểu biết tài chính, khó khăn tài chính cũng như mối quan hệ giữa chúng, có thể kể đến các nghiên cứu của Haiyang Chen và cộng sự, 1998; Lajuni và cộng sự, 1998; Cude, 2006; Faoziah và cộng sự, 2013. Nghiên cứu của tác giả Haiyang Chen và cộng sự (1998) đã chỉ ra sinh viên ít hiểu biết tài chính hơn có xu hướng giữ những quan điểm sai lầm và đưa ra những suy luận không chính xác. Nghiên cứu kết luận rằng sinh viên đại học không am hiểu về tài chính cá nhân, hoặc mức độ hiểu biết thấp sẽ hạn chế khả năng đưa ra quyết định sáng suốt của họ. Lajuni và cộng sự (1998) đã chỉ ra tôn giáo và kiến thức tài chính có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tài chính của thanh niên và cuối cùng làm giảm bớt khó khăn về tài chính. Nghiên cứu của Cude, B. J., và cộng sự (2006) điều tra cách sinh viên đại học tiếp thu kiến thức, hành vi tài chính và các yếu tố khiến một số sinh viên gặp rủi ro tài chính lớn hơn những sinh viên khác. Mark Attridge (2009) cho rằng một số nhân viên gặp khó khăn về tài chính và nguyên nhân chính thường là bốn lý do sau: (1) biến cố cuộc đời, (2) hiểu biết tài chính, (3) yếu tố tâm lý, (4) thu nhập trì trệ. Nhân viên thiếu hiểu biết về cách quản lý, tiết kiệm và đầu tư tiền cùng với đó là việc lạm dụng tín dụng, vượt quá khả năng tài chính của bản thân dẫn đến gặp khó khăn về tài chính. Các hành vi tài chính tích cực như giảm chi phí tiêu dùng hàng ngày được được cho là có liên quan đến việc giảm khó khăn tài chính. Mức độ khó khăn thấp hơn có thể sẽ có tác động tích cực đến sức khỏe của một người; trong khi đó, mức độ khó khăn cao có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm các bệnh về thể chất (Drentea và cộng sự, 2000). Nghiên cứu của tác giả Faoziah và cộng sự (2013) cho thấy mức độ khó khăn tài chính và hiểu biết về tài chính của những người được hỏi ở mức trung bình. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có một mối quan hệ tích cực giữa hiểu biết tài chính và mức độ kiệt quệ tài chính. Do đó, cần nhận thức được tầm quan trọng của kiến thức tài chính đang gia tăng hiện nay. Các khuyến nghị đưa ra nhằm nâng cao mức độ hiểu biết về tài chính, đặc biệt là đối với việc tiến hành đào tạo, các chương trình khóa học về quản lý tài chính. Nghiên cứu của Mohamed và cộng sự (2013) đã kiểm tra hiểu biết về tài chính của một số mẫu cá nhân cư trú tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) và mối quan hệ của nó với các hình thức nợ cá nhân khác nhau. Kết quả chỉ ra rằng mức độ hiểu biết tài chính trung bình ở UAE (0,433) thấp hơn đáng kể về mặt thống kê so với mức trung bình được báo cáo trong tài liệu (khoảng 0,50). Kết quả cũng chỉ ra rằng những cá nhân có thái độ tài chính mạnh mẽ có xu hướng vay ít hơn từ thẻ tín dụng. Nghiên cứu của Sonya và cộng sự (2015) chỉ ra rằng sinh viên có nhiều khả năng gặp khó khăn tài chính hơn bao gồm sinh viên năm nhất, những người có nhận thức thấp và những người có khoản nợ vay sinh viên trung bình so với những người không có khoản nợ vay sinh viên. Theo Herdjiono và cộng sự (2016) cho rằng hiểu biết tài chính không liên quan chặt chẽ đến khó khăn tài chính, chỉ có thái độ tài chính ảnh hưởng đến hành vi quản lý tài chính trong khi kiến thức tài chính và thu nhập của cha mẹ không có ảnh hưởng đến hành vi quản lý tài chính. Kết quả của nghiên cứu này phù hợp với Kholilah và cộng sự (2013), Nababan và cộng sự (2013), rằng kiến thức tài chính không có tác động đáng kể đến hành vi tài chính của sinh viên. Tại Việt Nam, theo Lê Văn Hinh (2017) chỉ ra hiểu biết tài chính, hành vi tiết kiệm, mức thu nhập là yếu tố có tác động tích cực (có ý nghĩa thống kê) đến tiết kiệm cá nhân. Nghiên cứu gợi ý rằng cần có các chương trình đào tạo bài bản, có tầm nhìn nhằm nâng cao hiểu biết tài chính cho mọi tầng lớp dân cư, nhờ đó cải thiện nguồn cung vốn từ nội địa cho tăng trưởng kinh tế bền vững. Nghiên cứu của Lê Hoàng Anh và cộng sự (2018) chỉ ra phần lớn sinh viên còn thiếu hiểu biết về tài chính, nữ giới hiểu biết về tài chính hơn nam giới, và những sinh viên đi làm thêm lại có điểm số hiểu biết tài chính thấp hơn những người chưa đi làm. Nghiên cứu cho thấy mức độ hiểu biết tài chính bị ảnh hưởng bởi các nhân tố giới tính, ngành học và việc đi làm thêm. Nghiên cứu của Vũ Thị Mai (2021) chỉ ra hiểu biết tài chính có tác động thuận chiều đến hành vi quản lý tài chính cá nhân của sinh viên. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị cho sinh viên, nhà trường, và gia đình nhằm nâng cao mức độ hiểu biết tài chính để đưa ra các quyết định và có những hành vi quản lý tài chính hợp lý và hiệu quả nhất. 2.2. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu Hiểu biết tài chính là tổng hợp nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi tài chính cần thiết để có thể đưa ra được các quyết định an toàn và cuối cùng đạt được lợi ích về tài chính. Dựa vào các nghiên cứu tổng quan trước đó và thực tế tác động của hiểu biết tài chính đến khó khăn tài chính. - Kiến thức tài chính là khả năng hiểu biết của chủ thể đối với các khái niệm của các thuật ngữ trong tài chính (lãi suất,

ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 369
trái phiếu, trái tức,...) và phương thức hoạt động của các tổ chức tài chính (ngân hàng, tổ chức tín dụng,...). Kiến thức tài chính có tác động đến khó khăn tài chính, mối quan hệ này đã được chỉ ra trong nghiên cứu của Lajuni và các cộng sự (1998), Cude, B. J., và cộng sự (2006), Mohamed và cộng sự (2013), Faoziah và cộng sự (2013), Sonya và cộng sự. Các nghiên cứu này chỉ ra kiến thức tài chính ảnh hưởng ngược chiều đến khó khăn tài chính. Do đó, nhóm nghiên cứu đề ra giả thuyết về kiến thức tài chính là: Giả thuyết H1: Kiến thức tài chính có tác động ngược chiều đến khó khăn tài chính - Thái độ tài chính là quan điểm của chủ thể đối với sự diễn ra của tình hình tài chính xung quanh. Theo nghiên cứu của Mohamed và các cộng sự (2013), Faoziah và cộng sự (2013) và Herdjiono và cộng sự (2016) thì thái độ tài chính cá nhân có ảnh hưởng đến quyết định vay nợ dưới một hình thức cụ thể, tác động mạnh đến khó khăn tài chính. Từ đó, nhóm nghiên cứu đề ra giả thuyết H2 về thái độ tài chính đến khó khăn tài chính: Giả thuyết H2: Thái độ tài chính có tác động ngược chiều đến khó khăn tài chính - Hành vi tài chính là những tác động của chủ thể đối với sự biến động của nền kinh tế xung quanh. Theo Lajuni và cộng sự (1998), Cude, B. J., và cộng sự (2006), Mohamed và các cộng sự (2013), Faoziah và cộng sự (2013) thì hành vi tài chính ảnh hưởng ngược chiều đến kiệt quệ tài chính. Từ đó, nhóm nghiên cứu đề ra giả thuyết về hành vi tài chính tới khó khăn tài chính như sau: Giả thuyết H3: Hành vi tài chính có tác động ngược chiều đến khó khăn tài chính Với các giả thuyết đề xuất ở trên, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu với biến độc lập “Hiểu biết tài chính” được đo thông qua “Thái độ tài chính”, “Hành vi tài chính”, “Kiến thức tài chính” tác động tới biến phụ thuộc “Khó khăn tài chính”. Mô hình nghiên cứu được thể hiện như hình 1. Hình 1. Mô hình nghiên cứu tác động của hiểu biết tài chính đến khó khăn tài chính 2.3. Phương pháp nghiên cứu Nhóm nghiên cứu đã gửi phiếu khảo sát online đến sinh viên của các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội, đã thu về được 260 phiếu hợp lệ được sử dụng cho nghiên cứu. Các biến thái độ tài chính, hành vi tài chính trên được đo lường theo thang đo likert 5, như sau: 1- Không bao giờ; 2- Hiếm khi; 3- Khá thường xuyên; 4- Thường xuyên; 5- Rất thường xuyên Biến số kiến thức tài chính: biến số trên được xây dựng trên 15 câu hỏi để đánh giá về kiến thức tài chính. Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được các tác giả xử lý và phân tích thông qua phần mềm SPSS phiên bản 20.0 gồm: Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach’s Alpha và phân tích yếu tố khám phá EFA; Kiểm định giả thuyết bằng phương pháp phân tích tương quan Pearson kết hợp với phương pháp phân tích hồi quy; Lập phương trình hồi quy tuyến tính và dò tìm các khuyết tật của mô hình hồi quy. 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Mô tả mẫu nghiên cứu Bảng 1. Bảng kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu Chỉ tiêu phân tích Phương án Số lượng Phần trăm Giới tính Nam 122 46,9% Nữ 138 53,1% Khu vực sinh sống Khu vực 1 48 18,5% Khu vực 2 169 65% Khu vực 3 43 16,5% Sinh viên năm 1 68 26,2% 2 157 60,4% 3 24 9,2% 4 11 4,2% Chuyên ngành đang theo học Nhóm ngành kinh tế - xã hội 106 40,8% Nhóm ngành kỹ thuật - công nghệ
125 48,1% Nhóm ngành khác
29 11,2% ( Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp) Bảng 1 chỉ ra rằng số lượng phiếu thu được sau khi điều tra và sàng lọc phân bố không đồng đều chủ yếu là sinh viên sinh sống ở khu vực 2 (65%) và đa số là sinh viên năm 2 (60,4%). 3.2. Kiểm định độ tin cậy thang đo Nghiên cứu thực hiện kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo được tổng hợp tại bảng 2. Kết quả các hệ số Cronbach’ Alpha đều lớn hơn 0,7 cho thấy thang đo cho các biến nghiên cứu đảm bảo độ tin cậy.

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
370
KINH T
Ế
Bảng 2. Kết quả kiểm định chất lượng thang đo. Biến nghiên cứu Thang đo Cronbach’s Alpha Thái độ tài chính TD1, TD2, TD3, TD4, TD5 0,881 Hành vi tài chính HV1, HV2, HV3, HV4, HV5 0,879 Khó khăn tài chính KK1, KK2, KK3, KK4, KK5 0,807 3.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA Kết quả phân tích nhân tố khám phá trên phần mềm SPSS đối với nhóm nhân tố độc lập được trình bày như bảng 3. Bảng 3. Hệ số KMO và kiểm định Barlett's đối với nhân tố độc lập KMO and Bartlett's Test Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. 0,879 Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square 1406,622 df 45 Sig. 0,000 Nguồn: Phân tích SPSS Bảng 3 cho thấy hệ số KMO đạt 0,879 > 0,5 chứng tỏ dữ liệu dùng để phân tích nhân tố là hoàn toàn phù hợp. Kết quả kiểm định Bartlett’s 1406,622 với ý nghĩa Sig = 0,000 < 0,05. Như vậy giả thuyết về ma trận tương quan giữa các biến là ma trận đồng nhất bị bác bỏ, có nghĩa các biến có tương quan với nhau và thỏa mãn điều kiện phân tích nhân tố. Bảng 4. Bảng hồi quy tương quan Coefficientsa Model Unstandardized Coefficients
Standardized
Coefficients
t Sig.
Collinearity Statistics B Std. Error
Beta Tolerance
VIF 1 (Constant)
0,799 0,157 5,075 0,000
KT 0-,106
0,039 -0,107 -2,732
0,007
0,996 1,004
TD 0,560 0,040 0,600 14,000
0,000
0,835 1,197
HV 0,259 0,037 0,297 6,940 0,000
0,836 1,196
a. Dependent Variable: KK Có 3 yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tài chính thì thái độ tài chính tác động nhiều nhất xong đến hành vi tài chính và kiến thức tài chính. Nhân tố thứ nhất thái độ tài chính ảnh hưởng mạnh nhất đến khó khăn tài chính (beta = 0,560). Như vậy cho thấy rằng sinh viên có thái độ tài chính cao, chủ quan vào thái độ tài chính của mình nên khó khăn tài chính ngày càng cao. Nhân tố thứ hai ảnh hưởng đến khó khăn tài chính là hành vi tài chính (beta = 0,259). Hành vi tài chính cao sẽ càng gặp nhiều khó khăn tài chính. Nhân tố thứ ba ảnh hưởng đến khó khăn tài chính là kiến thức tài chính (beta = 0,106) chứng tỏ kiến thức tài chính càng thấp, hạn hẹp thì càng gặp khó khăn tài chính cao. Như vậy, kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H2 và H3. Với giả thuyết H1, kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lajuni và cộng sự (1998), Mohamed và cộng sự (2013). Tuy nhiên, phát hiện này mâu thuẫn với nghiên cứu của Kholilah và Iramani (2013), Nababan và Sadalia (2012) và Herdjiono & Damanik (2016) vì các nghiên cứu đó chỉ ra rằng kiến thức tài chính không tác động đến khó khăn tài chính. Giả thuyết H2 và H3 bác bỏ lại nghiên cứu của Lajuni và cộng sự (1998), Mohamed và cộng sự (2013) khi chỉ ra thái độ tài chính và hành vi tài chính tác động cùng chiều tới khó khăn tài chính. Sinh viên có thái độ và hành vi tài chính cao càng chủ quan, tự tin vào khả năng giải quyết các vấn đề khó khăn và chi trả đúng hạn cho các khoản nợ của mình, dẫn tới gặp nhiều khó khăn tài chính như vay nợ quá hạn, không hoàn trả được các khoản nợ. Từ giả thuyết nghiên cứu, nhóm tác giả chỉ ra rằng có mối quan hệ giữa hiểu biết tài chính và khó khăn tài chính, điều này phù hợp với nghiên cứu của Haiyang Chen và cộng sự (1998), Mark Attridge (2009) và Faoziah và cộng sự (2013). 4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 4.1. Kết luận Hiểu biết tài chính có thể giúp giảm khó khăn tài chính của sinh viên bằng cách cung cấp cho họ một số kỹ năng và kiến thức cơ bản về quản lý tài chính cá nhân. Điều này có thể góp phần giúp sinh viên có thể chi tiêu hợp lý, tiết kiệm chi phí và quản lý tài khoản ngân hàng một cách hiệu quả hơn. Về kiến thức tài chính, kết quả cho thấy sinh viên có kiến thức tài chính rất thấp do có nhiều nguyên nhân từ việc đào tạo và bản thân sinh viên. Về thái độ tài chính, sinh viên có thái độ tài chính cao, đúng đắn do thái độ được hình thành từ cuộc sống thực tế. Sinh viên cũng có hành vi tài chính cao, đúng đắn. Nhưng sinh viên vẫn gặp khó khăn chủ yếu do chưa có kiến thức tài chính cơ bản, tự tin thái quá về thái độ và hành vi tài chính của mình, từ đó cần có giải pháp phù hợp nâng cao kiến thức tài chính. Hiểu biết tài chính có tác động tích cực đến khó khăn tài chính của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội. Sinh viên có mức độ hiểu biết tài chính cao hơn thường có xu hướng quản lý tài chính cá nhân tốt hơn, đặt mục tiêu tài chính rõ ràng và có khả năng lên kế hoạch và tiết kiệm tiền hiệu quả hơn. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng cần có sự hỗ trợ từ gia đình và trường học để tăng cường hiểu biết tài chính cho sinh viên. Hiểu biết tài chính sẽ giúp sinh viên trang bị các kỹ năng và kiến thức cần thiết để đối phó với khó khăn tài chính và xây dựng một tương lai tài chính ổn định. 4.2. Khuyến nghị Trên cơ sở các kết quả định lượng thu được từ mô hình, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng các nhân tố nêu trên đều có mức độ ảnh hưởng nhất định đối với việc nghiên cứu về khó khăn tài chính của sinh viên trên địa bàn Hà Nội. Với mục đích tăng khả năng hiểu biết tài chính trong sinh viên và triển khai cấu phần giáo dục tài chính qua đó thực hiện hiệu quả chiến lược tài chính toàn diện quốc gia, nhóm nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị chính như sau: Thứ nhất, cải thiện giáo dục tài chính trong trường học: Bằng cách đưa vào chương trình giảng dạy các kiến thức cơ

ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 371
bản về tài chính, đầu tư, tiết kiệm và quản lý tài chính cá nhân. Nhà trường cần đưa những môn học về quản lý tài chính cơ bản vào chương trình học cho học sinh cấp ba thuộc độ tuổi vị thành niên, bởi vì đây là độ tuổi đã đủ lớn để bắt đầu tiếp thu những kiến thức về tiền bạc, tiết kiệm, rủi ro để làm bước nền cho tương lai của các em sau này. Từ đó, khi lên đại học những kiến thức này sẽ giúp sinh viên có thể hiểu rõ hơn về tài chính và cách quản lý tài chính cá nhân của mình, có đủ những kiến thức cần thiết cho mình để đối mặt với cuộc sống sinh viên xa gia đình, tránh được những rủi ro tài chính cho bản thân. Thứ hai, đối với những sinh viên không học khối ngành kinh tế, các trường đại học nên xem xét phương án đưa các môn học về hiểu biết tài chính như kĩ năng đầu tư cơ bản, kỹ năng quản lý tiền bạc, kĩ năng lập kế hoạch tài chính vào các chương trình ngoại khoá để sinh viên có thể tiếp cận được với nguồn kiến thức tài chính một cách cơ bản nhất để làm hành trang cho tương lai. Thứ ba, tạo ra, tổ chức các khóa học, diễn đàn, tọa đàm về hiểu biết tài chính và các vấn đề xung quanh khó khăn tài chính: Trường học hoặc các tổ chức có thể tổ chức các khóa học, tọa đàm cung cấp các kiến thức, củng cố hành vi và thái độ tài chính đúng đắn dành cho sinh viên để giúp họ nâng cao kiến thức và kỹ năng tài chính từ đó nhận biết được các rủi ro và hạn chế các khó khăn tài chính. Các tọa đàm, khóa học này có thể tập trung vào nhận biết, nhận diện rủi ro tài chính, các kỹ năng quản lý tài chính, đầu tư, tiết kiệm, … Sinh viên có thể theo học một số chứng chỉ quốc tế về tài chính ở nhiều trung tâm. Qua đó, cải thiện cho sinh viên phần nhận thức cũng như các kiến thức về hiểu biết và khó khăn tài chính. Thứ tư, các công cụ hỗ trợ quản lý tài chính: Các công cụ như ứng dụng quản lý tài chính, phần mềm quản lý ngân sách, hoặc các bài tập giúp sinh viên áp dụng các kiến thức tài chính vào cuộc sống hàng ngày của mình cũng là một giải pháp hiệu quả để giúp họ quản lý tài chính tốt hơn. Hiện nay có rất nhiều ứng dụng có thể tham khảo để quản lý tài chính cá nhân tốt hơn, có thể kể đến như: Money Lover, MISA Money Keeper, Ngân hàng số Timo,... Sinh viên nên làm quen với thói quen quản lý chi tiêu, có thể nhờ sự hỗ trợ của các ứng dụng để đảm bảo việc cân đối thu chi các khoản tiền, tránh tình trạng vay nợ khó khăn. Thứ năm, trường học hoặc các tổ chức có thể cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính cho sinh viên. Các chuyên gia tài chính có thể giúp sinh viên tìm hiểu về các sản phẩm tài chính, đầu tư, tiết kiệm và các vấn đề liên quan đến quản lý tài chính cá nhân. Sinh viên có thể đăng kí học các chứng chỉ tài chính. Thứ sáu, mỗi sinh viên cần phải có ý thức tự trang bị cho mình những hiểu biết về tài chính cơ bản nhất để từ đó tự bảo vệ mình trước những rủi ro tài chính và hơn thế nữa, điều này còn góp một phần rất lớn vào việc cải thiện nền kinh tế. Mỗi sinh viên cần nâng cao ý thức rèn luyện các hành vi, thái độ tài chính đúng đắn, có sự nhận diện với các rủi ro khó khăn để từ đó tránh rơi vào các “cạm bẫy” tài chính. Sinh viên nên chủ động học hỏi, tìm hiểu các kiến thức tài chính cơ bản, học cách quản lý tài chính nhỏ nhất từ việc thu chi hàng ngày đến xa hơn là tiết kiệm và đầu tư. Bổ sung kiến thức là điều quan trọng để giảm thiểu khó khăn tài chính đối với sinh viên hiện nay TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Attridge M., 2009. Employee personal financial distress and how employers can help. Research Works. [2]. Anh L. H., Duy Đ. N., Phong N. G., Huyền N. T. T., Quang H. M., 2018. Nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết tài chính cá nhân của sinh viên Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo Quốc gia: Kinh tế Việt Nam [3]. Borden L. M., Lee S. A., Serido J., Collins D., 2008. Changing college students’ financial knowledge, attitudes, and behavior through seminar participation. Journal of family and economic, 29, 23-40. [4]. Britt S. L., Canale A., Fernatt F., Stutz K., Tibbetts R., 2015. Financial Stress and Financial Counseling: Helping College Students. Journal of Financial Counseling and Planning, 26(2), 172–186. [5]. Chen H., Volpe R. P., 1998. An analysis of personal financial literacy among college students. Financial Services Review, 7(2), 107–128. [6]. Cude B., Lawrence F., Lyons A. C., 2006. College students and financial literacy: What they know and what we need to learn. ResearchGate. [7]. Drentea P., 2000. Age, debt and anxiety. Journal of health and Social Behavior, 437-450. [8]. Herdjiono I., Damanik L. A., 2016. Pengaruh Financial Attitude,Financial Knowledge, Parental Income Terhadap Financial Management Behavior. Jurnal Manajemen Teori Dan Terapan, 9(3). [9]. Idris F. H., Krishnan K. S. D., Azmi N., 2013. Relationship between financial literacy and financial distress among youths in Malaysia-An empirical study. Malaysian Journal of Society and space, 9(4), 106-117. [10]. Khan M. E. I., 2013. Financial Literacy, Personal Financial Attitude, and Forms of Personal Debt among Residents of the UAE. International Journal of Economics and Finance, 5(7). [11]. Kholilah N. A., Iramani R., 2013. Study financial management behavior pada masyarakat surabaya. Journal of Business and Banking, 3(1), 69. [12]. Lajuni N., Bujang I., Karia A. A., Yacob Y., 2018. Religiosity, financial knowledge, and financial behavior influence on personal financial distress among millennial generation. Journal Manajemen dan Kewirausahaan, 20(2), 92-98. [13]. Lê H. V., 2017. Mối quan hệ giữa hiểu biết tài chính và tiết kiệm cá nhân: Trường hợp Việt Nam. Trường Đại học Duy Tân. [14]. Northern J. J., O'Brien W. H., Goetz P. W., 2010. The development, evaluation, and validation of a financial stress scale for undergraduate students. Journal of College Student Development, 51(1), 79-92. [15]. Nababan D., 2013. Analisis personal financial literacy dan financial behavior mahasiswa strata I fakultas ekonomi Universitas Sumatera Utara. Journal Media Informasi Manajemen, 1(1). [16]. OECD, 2013. OECD/info toolkit to measure financial literacy and financial inclusion: guidance, core questionnaire and supplementary questions. [17]. Vũ M. T., và cộng sự, 2021. Tác động của hiểu biết tài chính đến hành vi quản lý tài chính cá nhân của sinh viên. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 290(2), 71-80.

