
XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
430
KINH T
Ế
NHẬN THỨC TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN NGÂN HÀNG GỬI TIỀN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
AWARENESS OF SOCIAL RESPONSIBILITY INFLUENCES THE DECISION TO CHOOSE A DEPOSITS BANK OF INDIVIDUAL CUSTOMERS IN HANOI CITY Nguyễn Thị Thùy Dinh1, Đào Thị Quỳnh Trang1, Nguyễn Việt Duy1, Nguyễn Thị Hải Yến2,* TÓM TẮT Nghiên cứu nhằm đánh giá vai trò của nhận thức trách nhiệm xã h
ội đến
quyết định lựa chọn ngân hàng gửi tiền của khách hàng cá nhân trên địa b
àn
TP. Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, đa phần khách hàng cá nhân đ
ều có
kiến thức về trách nhiệm xã hội. Kết quả phân tích mô hình h
ồi quy tuyến tính đa
biến cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hư
ởng tới quyết định gửi tiền (trong đó nhận
thức trách nhiệm đạo đức ảnh hưởng nhất, tiếp đến là nhận thức trách nhi
ệm kinh
tế, nhận thức trách nhiệm từ thiện, và cuối cùng là nh
ận thức trách nhiệm pháp
lý). Kết quả nghiên c
ứu góp phần cung cấp thông tin về thực trạng nhận thức trách
nhiệm xã h
ội ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số khuyến nghị thúc đẩy các ngân
hàng thương mại kinh doanh có trách nhiệm. Từ khóa: Trách nhiệm xã hội, gửi tiền tiết kiệm, khách hàng cá nhân, ngân hàng.
ABSTRACT
The research aims to evaluate the role of social responsibility awareness in
the decision to choose a depositing bank of individual customers in the city. Hanoi.
Research results show that most individual customers have knowledge about
social responsibilit
y. The results of the multivariable linear regression model
analysis also showed the factors affecting the decision to deposit money (in which
the perception of moral responsibility has the most influence, followed by the
perception of economic responsibil
ity, the awareness of philanthropic
responsibility, and finally awareness of legal responsibility). The research results
contribute to providing information on the status of social responsibility
awareness in Vietnam, thereby proposing some recommendations
to promote
responsible commercial banks. Keywords: Social responsibility, save money, individual customers, banks. 1Lớp Tài chính Ngân hàng 01- K16, Khoa Quản lý Kinh doanh, Trư
ờng Đại học
Công nghiệp Hà Nội 2Khoa Quản lý Kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội *Email: yennthdhcn@gmail.com 1. GIỚI THIỆU Đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế, các ngân hàng luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu. Hoạt động có trách nhiệm và duy trì danh tiếng đáng tin cậy là điều rất quan trọng đối với các ngân hàng, bởi vì hoạt động kinh doanh của ngân hàng chủ yếu dựa trên sự tin tưởng của khách hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng là tổ chức tài chính có vị trí quan trọng trong hệ thống tài chính của một quốc gia nên mục tiêu hoạt động của các ngân hàng ngày nay không phải chỉ giới hạn ở phạm vi tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn mà phải hoạt động có trách nhiệm. Tuy nhiên, trong hơn một thập kỷ qua, lòng tin của công chúng đối với lĩnh vực tài chính và các ngân hàng bị ảnh hưởng do cuộc khủng hoảng tài chính và các vụ bê bối khác. Do lĩnh vực ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào lòng tin của công chúng nên vai trò của trách nhiệm xã hội càng trở nên quan trọng và được quan tâm hơn nhiều trong những nam qua. Hơn nữa, đại dịch COVID-19 xảy ra có tác động mạnh đến nền kinh tế, các doanh nghiệp, cá nhân, người lao động, các đối tượng yếu thế trong xã hội đều cần sự hỗ trợ từ nhiều phía để có thể vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất. Khách hàng, đặc biệt là khách hàng cá nhân có những đặc điểm khác với khách hàng là tổ chức trong sử dụng các dịch vụ của NHTM (như gửi tiền, đi vay, sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế,…) đều có các loại chọn khác nhau về hệ nhận thức trách nhiệm xã hội của các NHTM ở Việt Nam hiện nay cũng là khác nhau. Từ đó có những quyết định lựa chọn ngân hàng thương mại gửi tiền. Thực tế, rất nhiều nghiên cứu về chủ đề trách nhiệm xã hội của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên các nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng thương mại để gửi tiền, là một yếu tố vô cùng quan trọng nhưng dường như chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của nhận thức trách nhiệm xã hội đến quyết định lựa chọn ngân hàng thương mại để gửi tiền của khách hàng cá nhân. Nhận thức được vấn đề đó, nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của nhận thức trách nhiệm xã hội đến quyết

ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 431
định lựa chọn ngân hàng gửi tiền của khách hàng cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội. 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1. Tổng quan nghiên cứu Nghiên cứu “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp gắn liền với sự hài lòng của khách hàng và hiệu quả tài chính, điển hình với Ngân hàng Nhà ở ở Jordan” được thực hiện bởi Khaled Alafi và Fares Jamiel Husain Al Sufy. Nghiên cứu này tập trung điều tra tập hợp các mối quan hệ giữa thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và sự hài lòng của khách hàng. Bằng cách nghiên cứu sử dụng một thiết kế tiếp cận duy nhất liên quan đến việc sử dụng một công cụ định lượng cho khách hàng từ các ngân hàng Nhà ở Jordan. Một mẫu đại diện của khách hàng của ngân hàng (n = 203) đã được tuyển chọn từ các ngân hàng được lựa chọn để tham gia tự nguyện vào nghiên cứu. Kết quả từ bảng câu hỏi tìm kiếm thông tin cho thấy trách nhiệm xã hội thường liên quan đến sự hài lòng của khách hàng trong ngân hàng và các dịch vụ trách nhiệm xã hội tốt đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì thực tiễn kinh doanh và sự hài lòng của khách hàng, các tổ chức chính phủ và khuyến khích các ngân hàng cải thiện việc tích hợp các dịch vụ CSR để các tổ chức tài chính có trách nhiệm với xã hội. Nghiên cứu “Vai trò của ngân hàng trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” của ShirleyYeung (2011). Mục đích của bài báo này là tìm hiểu nhận thức của người được hỏi về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) và hoạt động ngân hàng của các ngân hàng lớn ở Hồng Kông. Bài báo này đánh giá các tài liệu về quản lý, quản lý chất lượng, các ngành ngân hàng và các hoạt động CSR. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi từ các nhà ngân hàng / tài chính và học giả ở Hồng Kông, Hoa Kỳ và Scotland. Các yếu tố chính liên quan đến CSR được xác định từ phân tích định lượng trên bảng câu hỏi được thu thập là: hiểu các dịch vụ tài chính phức tạp, thực hiện đánh giá rủi ro, tăng cường đạo đức kinh doanh, thực hiện chiến lược đối phó với khủng hoảng tài chính, bảo vệ quyền lợi của khách hàng và thiết lập các kênh để khách hàng giải quyết các khiếu nại. Hiểu được các yếu tố chính của khung CSR có thể giúp thực hiện các nguyên tắc của CSR và cải thiện mức độ hài lòng của khách hàng để cuối cùng là tăng thị phần và lợi nhuận. Nghiên cứu về “Ảnh hưởng của hoạt động CSR đến sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng tại các ngân hàng thương mại thành phố Hồ Chí Minh” của Vũ Quốc Khánh. Mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét hoạt động trách nhiệm xã hội (CSR) của các ngân hàng thương mại (NHTM) tại TP. Hồ Chí Minh ảnh hưởng như thế nào tới sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng. Nghiên cứu này tiếp cận dựa trên lý thuyết các bên liên quan và mô hình CSR của Carroll (1991) bao gồm: Trách nhiệm từ thiện, trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm kinh tế. Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và phân tích hồi quy đa biến được áp dụng trong nghiên cứu này nhằm tìm hiểu xem liệu những nhân tố nào thật sự tác động lên sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng. Dữ liệu gồm 434 mẫu được thu thập bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện tại các NHTM trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, thời gian thực hiện trong quý 4 năm 2016. Các biến nghiên cứu được thiết kế dựa trên bốn thành phần của định nghĩa CSR của Carroll (1979). Kết quả phân tích cho thấy, trách nhiệm từ thiện có ảnh hưởng mạnh nhất tới sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng, kế đến là trách nhiệm đạo đức và sau cùng là trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý không có ý nghĩa. Với kỳ vọng gia tăng sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng, nghiên cứu còn gợi ý một số giải pháp hữu ích. Nghiên cứu “Nhận thức của người tiêu dùng về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và ý định mua - một nghiên cứu từ ngành hàng điện máy” của Nguyễn Phan Thanh Nhã và Lê Thị Thanh Xuân (2014). Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá nhận thức của người tiêu dùng đối với 04 loại trách nhiệm trong tháp trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (gọi tắt là CSR) theo mô hình của Carroll (1991), bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Nghiên cứu cũng nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhận thức về CSR của người tiêu dùng đến ý định mua sản phẩm điện máy của họ. Nghiên cứu đã đưa ra một số kết quả đáng lưu ý. Thứ nhất, cách đánh giá tầm quan trọng của người tiêu dùng đối với bốn loại trách nhiệm xã hội khác với trật tự sắp xếp của Carroll (1991). Thứ hai, trong điều kiện tiến hành nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh, với sản phẩm cụ thể là sản phẩm điện máy, yếu tố quyền lực mua không có ảnh hưởng đến tác động giữa sự nhận thức về công bằng về giá và ý định mua, hay nói cách khác, thu nhập tăng cao không làm tăng ảnh hưởng của sự nhận thức về công bằng về giá lên ý định mua. Cuối cùng, nhận thức của người tiêu dùng về CSR có tác động tích cực đến ý định mua. Các kết quả này là nguồn tham khảo cho các doanh nghiệp trong việc triển khai thực hiện CSR nhằm tác động tích cực đến người tiêu dùng. 2.2. Cơ sở lý luận 2.2.1. Ý định sẽ dẫn tới quyết định gửi tiền Theo lý thuyết hành vi có kế hoạch (I. Ajzen, 1985, 1987), “Ý định hành vi” (Tiếng Anh: Behavioural intention) là một dấu hiệu cho thấy sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định. Nó được coi là tiền đề của việc thực hiện hành vi. Nó dựa trên thái độ đối với hành vi, quy chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi. Ý định thực hiện các hành vị thuộc các loại khác nhau có thể được dự đoán với độ chính xác cao từ thái độ đối với hành vi, các chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức được; và những ý định này, cùng với nhận thức về kiểm soát hành vi tạo ra sự khác biết đáng kể trong hành vi thực tế. Theo lý thuyết hành động hợp lý (I. Ajzen & Fishbein, 1975) “Ý định thực hiện hành động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hành động, ý định thực hiện hành động càng cao thì khả năng thực hiện hành động này càng lớn”. 2.2.2. Hành vi quyết định gửi tiền Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) phát triển từ lý thuyết TRA trong việc cho rằng hành vi của KH hoàn toàn do kiểm soát lý trí. Nhân tố

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
432
KINH T
Ế
trung tâm trong lý thuyết TPB là ý định của KH trong việc đưa ra quyết định. Ý định được cho là nhân tố động cơ dẫn đến hành vi. Tuy nhiên, ý định trở thành quyết định thực hiện hành vi chỉ khi có sự kiểm soát của lý trí, cụ thể, cá nhân quyết định thực hiện hay không thực hiện hành vi thông qua lý trí. Như vậy, trong TPB, các tác giả cho rằng ý định thực hiện hành vi chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố: (1) thái độ đối với hành vi, (2) chuẩn mực chủ quan và (3) nhận thức về kiểm soát hành vi. 3. PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu Nghiên cứu chính thức cũng được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định lượng này được thực hiện thông qua phương pháp gửi phiếu khảo sát online là các khách hàng cá nhân đã và đang có ý định gửi tiền tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại. Số phiếu thu về được sử dụng để kiểm định lại mô hình đo lường cũng như mô hình lý thuyết và các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu chính thức này được thực hiện vào tháng 6 năm 2022. Ở đây, thang đo Likert đã được sử dụng, thang đo này bao gồm 1 dạng trả lời, gồm 5 mức độ như sau: (1) Rất không đồng ý; (2) Không đồng ý; (3) Bình thường; (4) Đồng ý; (5) Rất đồng ý 3.2. Phương pháp xử lý dữ liệu Nhóm tác giả đã đưa ra 4 thang đo cho nghiên cứu của mình, đó là: Nhận thức trách nhiệm kinh tế (TNKT), Nhận thức trách nhiệm đạo đức (TNDĐ), Nhận thức trách nhiệm pháp lý (TNPL) và Nhận thức trách nhiệm từ thiện (TNTT). Các thang đo của các biến này đã được đánh giá sơ bộ thông qua phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA thông qua phần mềm SPSS 26.0 với dữ liệu đã thu thập được từ nghiên cứu chính thức qua bảng hỏi. 3.3. Mô hình nghiên cứu Hình 1. Mô hình nghiên cứu Từ mô hình nghiên cứu (hình 1), nhóm tác giả có đưa ra các giả thiết sau: Giả thuyết H1: Nhận thức trách nhiệm kinh tế có tác động tích cực đến quyết định lựa chọn NH gửi tiền của khách hàng Giả thuyết H2: Nhận thức trách nhiệm đạo đức có tác động tích cực đến quyết định lựa chọn NH gửi tiền của khách hàng Giả thuyết H3: Nhận thức trách nhiệm pháp lý có tác động tích cực đến quyết định lựa chọn NH gửi tiền của khách hàng Giả thuyết H4: Nhận thức trách nhiệm từ thiện có tác động tích cực đến quyết định lựa chọn NH gửi tiền của khách hàng 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu Với số phiếu hợp lệ là 3500 phiếu, nhóm tác giả đã tiến hành xử lý và phân tích thông qua EXCEL và phần mềm SPSS 26.0. Quá trình khảo sát được thực hiện thông qua phiếu khảo sát. Ban đầu, nhóm tác giả sẽ xử lý sơ bộ qua thống kê tần số. Bảng 1. Bảng kết quả thống kê mô tả Đặc điểm Tần số Tần suất Độ tuổi 18-25 tuổi 142 40,57% 25-35 tuổi 127 36,29% 35-50 tuổi 60 17,14% Trên 50 tuổi 21 6% Trình độ học vấn Phổ thông 59 16,86% Cao đẳng, đại học 228 65,14% Sau đại học 63 18% Nghề nghiệp Công chức/viên chức, Nhân viên văn phòng 93 26,57% Nội trợ 24 6,86% Công nhân 40 11,43% Lao động tự do 66 18,86% Học sinh, sinh viên 125 35,71% Khác 2 0,57% Tần suất gửi tiết kiệm Thường xuyên 128 36,57% Thỉnh thoảng 155 44,29% Hiếm khi 67 19,14% Điều KH quan tâm nhất khi lựa chọn ngân hàng gửi tiền Trách nhiệm kinh tế 101 28,86% Trách nhiệm pháp lý 40 11,43% Trách nhiệm đạo đức
128 36,57% Trách nhiệm từ thiện
81 23,14% Tổng 350 100% (Nguồn: Thống kê mẫu nghiên cứu của nhóm tác giả) 4.2. Kiểm định độ tin cậy thang đo Kết quả kiểm tra độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha cho thấy thất cả các hệ số Cronbach’s Alpha của các nhóm biến quan sát đều lớn hơn 0,6. Tất cả các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 và việc loại bất kỳ biến nào cũng sẽ làm giảm độ tin cậy của thang đo. Nhìn chúng các biến quan sát đều đảm bảo độ tin cậy để thực hiện các phân tích cần thiết của nghiên cứu. Như vậy, tất cả các biến

ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 433
quan sát sẽ được sự dụng tiếp tục cho phân tích nhân tố khám phán EFA. 4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA Kết quả phân tích nhân tố khám phá trên phần mềm SPSS đối với nhóm nhân tố độc lập được trình bày như trong bảng 2. Bảng 2. Hệ số KMO và Kiểm định Bartlett’s đối với nhân tố độc lập KMO and Bartlett’s Test Kaiser - Meyer - Olkin Measure of Sampling Adequacy 0,917 Bartlett’s Test of Sphericity Approx. Chi-Square 1910,638 df 78 Sig. 0,000 (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SPSS 20.0) Bảng cho thấy hệ số KMO đạt 0,917 > 0,5 chứng tỏ các biến quan sát cần thiết để tạo thành một nhân tố, độ phù hợp của mô hình cao và tất cả các biến quan sát đều có mối tương quan với nhau trong tổng thể và phân tích nhân tố thích hợp với dữ liệu nghiên cứu (Sig. = 0,000 < 0,05), thỏa mãn các điều kiện của phân tích nhân tố và dữ liệu dùng để phân tích nhân tố là hoàn toàn phù hợp. Qua kiểm định chất lượng thang đo và kiểm định mô hình EFA, nhận diện có 4 thang đo đại diện cho các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng để gửi tiền của các khách hàng cá nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội: Nhận thức trách nhiệm kinh tế (TNKT), Nhận thức trách nhiệm đạo đức (TNDD), Nhận thức trách nhiệm pháp lý (TNPL) và Nhận thức trách nhiệm từ thiện (TNTT). 4.4. Phân tích hồi quy mô hình Bảng 3. Kết quả phân tích hồi quy Mô hình Hệ số chưa chuẩn hóa Hệ số chuẩn hóa t Sig. Thống kê cộng tuyến B Sai số chuẩn Beta Độ chấp nhận VIF Hằng số 0,438 0,143 3,059 0,002 Nhân tố nhận thức trách nhiệm đạo đức 0,344 0,033 0,399 10,298
0,000 0,568 1,759
Nhân tố nhận thức trách nhiệm kinh tế
0,258 0,037 0,348 7,035 0,000 0,583 1,714
Nhân tố nhận thức trách nhiệm từ thiện 0,260 0,022 0,344 8,060 0,000 0,775 1,291
Nhân tố nhận thức trách nhiệm pháp lý 0,299 0,030 0,269 9,818 0,000 0,692 1,445
Kết quả cho thấy VIF của các khía cạnh phân tích đều <2 và Sig. < 0,05 do đó các biến đều có ý nghĩa thống kê. Qua bảng cũng cho thấy tất cả khía cạnh nhận thức trách nhiệm đạo đức, nhận thức trách nhiệm kinh tế, nhận thức trách nhiệm từ thiện, nhận thức trách nhiệm pháp lý đều có tác động đến quyết định gửi tiền của khách hàng cá nhân. Trong đó, nhận thức trách nhiệm đạo đức tác động mạnh nhất (Beta = 0,399), tiếp theo là nhận thức trách nhiệm kinh tế (Beta = 0,348), nhận thức trách nhiệm từ thiện (Beta = 0,344) và tác động yếu nhất là nhận thức trách nhiệm pháp lý (Beta = 0,269) Phương trình hồi quy chuẩn hóa: QD = 0,399*TNDD + 0,348*TNKT + 0,344*TNTT + 0,269*TNPL + e Quyết định = 0,399*Nhận thức trách nhiệm đạo đức + 0,348*Nhận thức trách nhiệm kinh tế + 0,344* Nhận thức trách nhiệm từ thiện + 0,269*Nhận thức trách nhiệm pháp lý + e Các hệ số hồi quy đều mang dấu (+) thể hiện các biến độc lập có quan hệ thuận với biến phụ thuộc. So sánh mức độ tác động của 4 biến này vào biến phụ thuộc QD (quyết định gửi tiền) theo thức tự giảm dần nhưu sau: Ta thấy yếu tố Nhận thức trách nhiệm đạo đức (TNDD) có tác động mạnh nhất (Beta = 0,399), tiếp theo là yếu tố Nhận thức trách nhiệm kinh tế (TNKT) (Beta = 0,348), yếu tố Nhận thức trách nhiệm từ thiện (TNTT) (Beta = 0,344) và tác động thấp nhât là biến Nhận thức trách nhiệm pháp lý (TNPL) (Beta = 0,269). 5. KẾT LUẬN Như vậy nghiên cứu này đã xây dựng được mô hình nghiên cứu, các thang đo và kiếm định, phân tích thang đo mối quan hệ các nhóm nhân tố tác động đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của các khách hàng cá nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Theo kết quả nghiên cứu định tính và định lượng, phần lớn việc các khách hàng cá nhân nhận thức về trách nhiệm xã hội (CSR) đang ở mức khá. Trong đó nhận thức trách nhiệm trách nhiệm đạo đức (Beta = 0,399) có mức ảnh hưởng cao nhất đến quyết định lựa chọn ngân hàng gửi tiền của khách hàng cá nhân, tiếp theo là yếu tố nhận thức trách nhiệm kinh tế (TNKT) (Beta = 0,348), yếu tố nhận thức trách nhiệm từ thiện (TNTT) (Beta = 0,344) và tác động thấp nhât là biến nhận thức trách nhiệm pháp lý (TNPL) (Beta = 0,269).Một phần là do các khách hàng chưa hiểu rõ về các hoạt động thực hiện trách nhiệm xã hội của các ngân hàng cũng như chưa hiểu rõ về ý nghĩa của trách nhiệm xã hội, hoặc họ không tin rằng việc gửi tiền của họ sẽ tác động tích cực đến xã hội từ đó không có động lực quan tâm đến trách nhiệm xã hội của ngân hàng. Thứ nhất, đối với yếu tố nhận thức trách nhiệm đạo đức, kết quả cho thấy khách hàng có mức độ quan tâm và chịu hưởng lớn nhất đối với nhận thức này (Beta = 0,399). Như vậy khách hàng quan tâm đến những nguyên tắc, giá trị đạo đức được tôn trọng trong hoạt động chiến lược của ngân hàng từ đó đưa ra được quyết định lựa chọn các ngân hàng có trách nhiệm đạo đức cao.

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
434
KINH T
Ế
Thứ hai, đối với yếu tố nhận thức trách nhiệm kinh tế. Mặc dù đứng sau yếu tố nhận thức trách nhiệm đạo đức nhưng trách nhiệm kinh tế cũng được đa số các khách hàng gửi tiền quan tâm trong 4 yếu tố (Beta = 0,348). Điều này có nghĩa là sau khi đánh giá về trách nhiệm đạo đức của ngân hàng, khách hàng sẽ quan tâm đến chịu trách nhiệm về quản lý tài chính và đảm bảo không gây ra rủi ro tài chính cho các bên liên quan hay tối đa hóa lợi nhuận, giữ tốc độ tăng trưởng ở mức cao nhất có thể. Thứ ba, đối với yếu tố nhận thức trách nhiệm từ thiện và pháp lý có mức độ quan tâm gần như ít hơn (Beta = 0,344 và Beta = 0,269). Việc khách hàng ít quan tâm hơn đến trách nhiệm từ thiện, pháp lý được thể hiện ở ảnh hưởng nhận thức của họ dẫn đến quyết định gửi tiền của mình. Theo nghiên cứu, việc ngân hàng thực hiện tốt các hoạt động từ thiện hay cạnh tranh lành mạnh theo khuôn khổ của pháp luật chủ yếu được đánh giá ở mức trung lập hoặc đồng ý. Do vậy, thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị như sau: (i) Đối với khách hàng cá nhân Tìm hiểu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hoặc tổ chức: Khách hàng có thể dành thời gian để tìm hiểu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hoặc tổ chức mà họ giao dịch hoặc mua sắm sản phẩm của họ. Lựa chọn giao dịch với các doanh nghiệp hoặc tổ chức có trách nhiệm xã hội: Khách hàng có thể lựa chọn giao dịch với các doanh nghiệp hoặc tổ chức có trách nhiệm xã hội, từ đó đóng góp tích cực đến xã hội. Phản ánh khi có hành vi thiếu trách nhiệm xã hội: Khách hàng có thể phản ánh khi có hành vi thiếu trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp hoặc tổ chức mà họ giao dịch hoặc mua sắm sản phẩm của họ. Những phản ánh này giúp các doanh nghiệp hoặc tổ chức nhận ra và cải thiện những hành vi thiếu trách nhiệm xã hội và đồng thời tạo ra sức ép để các doanh nghiệp hoặc tổ chức thực hiện các hoạt động trách nhiệm xã hội tích cực hơn. Tham gia vào các hoạt động trách nhiệm xã hội: Khách hàng có thể tham gia vào các hoạt động trách nhiệm xã hội do các doanh nghiệp hoặc tổ chức tổ chức. Các hoạt động này có thể là các chương trình xã hội, các hoạt động bảo vệ môi trường hay các hoạt động hỗ trợ cộng đồng. Việc tham gia vào các hoạt động này giúp khách hàng có thể đóng góp tích cực đến xã hội. Sử dụng sản phẩm có trách nhiệm xã hội: Khách hàng có thể lựa chọn sử dụng các sản phẩm có trách nhiệm xã hội để đóng góp tíh cực đến xã hội. Các sản phẩm này có thể là sản phẩm thân thiện với môi trường, được sản xuất bằng nguyên liệu tái chế hay các sản phẩm có tác động tích cực đến cộng đồng. Tăng cường kiến thức về trách nhiệm xã hội: Khách hàng có thể tăng cường kiến thức về trách nhiệm xã hội bằng cách đọc sách, tạp chí hoặc theo dõi các trang mạng chuyên về trách nhiệm xã hội. Việc nâng cao kiến thức giúp khách hàng có thể hiểu rõ hơn về trách nhiệm xã hội và đưa ra quyết định đúng đắn khi giao dịch với các doanh nghiệp hoặc tổ chức. (ii) Đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam Ngân hàng thương mại nên cung cấp thông tin chi tiết về các hoạt động trách nhiệm xã hội của mình, bao gồm mục đích và tác động tích cực của các hoạt động đó đến xã hội. Việc này giúp người gửi tiền có thể đánh giá được trách nhiệm xã hội của ngân hàng và có thể quyết định gửi tiền dựa trên giá trị và tiêu chí của riêng mình. Tăng cường giáo dục cho khách hàng về trách nhiệm xã hội và tầm quan trọng của nó trong kinh doanh. Các chương trình giáo dục như các buổi hội thảo, workshop hoặc tài liệu hướng dẫn có thể giúp khách hàng hiểu rõ hơn về trách nhiệm xã hội và tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển bền vững của xã hội. Thể hiện minh bạch về các hoạt động trách nhiệm xã hội của mình, bao gồm cách thức hoạt động, chương trình đã triển khai và tác động của các hoạt động đó đến xã hội. Từ đó giúp khách hàng có thể đánh giá và đưa ra quyết định gửi tiền dựa trên các giá trị và tiêu chí của riêng mình. Tạo ra các sản phẩm tài chính có trách nhiệm xã hội, ví dụ như các khoản vay ưu đãi dành cho các doanh nghiệp hoặc cá nhân thực hiện các hoạt động có tác động tích cực đến xã hội. Điều này sẽ giúp khách hàng có thể đóng góp vào các hoạt động trách nhiệm xã hội và cũng thúc đẩy các doanh nghiệp và cá nhân thực hiện các hoạt động có tác động tích cực đến xã hội. Đưa ra các chương trình khuyến khích để khách hàng tham gia vào các hoạt động trách nhiệm xã hội, ví dụ như các chương trình tặng quà cho khách hàng khi tham gia vào các hoạt động này. Điều này giúp khách hàng cảm thấy hứng thú và có động lực để tham gia vào các hoạt động trách nhiệm xã hội. Tạo ra mối liên kết với các tổ chức trách nhiệm xã hội để cùng thực hiện các hoạt động có tác động tích cực đến xã hội. Điều này giúp khách hàng có thể tham gia vào các hoạt động này thông qua ngân hàng và cảm thấy được sự đóng góp của mình đến xã hội. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Đặng Thị Hoa, Giáp Thị Huyền Trang, 2020. Vấn đề trách nhiện xã hội của doanh nghiệp trường hợp nghiên cứu điển tại công ty TNHH Long Hà - Bắc Giang. Tạp chí Kinh tế và chính sách. [2]. Đạt Đ. D., 2021. Giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội doanh nghiệp theo hướng bền vững tại ngân hàng thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank). Trường Đại học Kinh tế HCM. [3]. Nguyễn Hoàng Khởi, Huỳnh Khải Văn, 2019. Tác động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến lòng trung thành của khách hàng: trường hợp khách hàng gửi tiền tiết kiệm tại thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học và Kinh tế phát triển. [4]. Nguyễn Ngọc Hiền, Nguyễn Trọng Minh Thái, 2018. Các yếu tố tác động đến nhận thức và thái độ của khách hàng đối với hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Tạp chí khoa học và Công nghệ.

