
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hội nhập kinh tế quốc tế và các hiệp định thương mại tự do không chỉ là cơ hội giúp
Việt Nam xuất khẩu được các mặt hàng thế mạnh, mà còn thúc đẩy hàng hóa nhập khẩu
xâm nhập thị trường trong nước, trong đó có các sản phẩm thịt.
Thịt và các sản phẩm từ thịt là nguồn cung cấp protein chính trong chế độ ăn và
đóng vai trò trung tâm trong bữa ăn của nhiều gia đình người Việt. Xu hướng tiêu dùng
thịt của người Việt đang chuyển dần từ thịt lợn sang thịt bò và thịt gia cầm (OECD,
2021). Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2021) dự báo đến năm 2026, tiêu
thụ thịt bò bình quân đầu người ở Việt Nam có thể đạt đến mốc 10,56 kg/người/năm.
Nhu cầu đối với thịt bò ở Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng 5-6%/ năm.
Việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng mang lại ý nghĩa to lớn cho các doanh nghiệp
kinh doanh, cho phép cải thiện sự hiểu biết và dự báo không chỉ việc mua hàng mà còn động
cơ mua hàng và tần suất mua hàng (Leon & cs., 2014). Thành công của các nhà tiếp thị
trong việc tác động đến hành vi mua hàng phụ thuộc phần lớn vào mức độ hiểu biết của họ
về hành vi của người tiêu dùng. Armstrong (1991), giải thích rằng nghiên cứu về hành vi
của khách hàng dựa trên hành vi mua hàng của người tiêu dùng, với khách hàng đóng ba vai
trò riêng biệt: người dùng, người trả tiền và người mua.
Trong thời gian qua đã có rất nhiều nghiên cứu ở Việt Nam nói chung và thành phố
Hà Nội nói riêng về hành vi tiêu dùng thực phẩm, nhưng các nghiên cứu về thực phẩm
nhập khẩu còn rất khiêm tốn. Trong đó, điển hình có nghiên cứu của Nguyen Bao Ly &
Tran Quang Trung (2016), về các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng táo nhập khẩu ở Hà
Nội. Một nghiên cứu khác của Thu Thanh Tran & cs. (2017) về các yếu tố ảnh hưởng
đến tiêu dùng các thương hiệu thịt bò nhập khẩu ở Việt Nam tập trung vào đối tượng
người tiêu dùng tại các nhà hàng về thịt bò. Tuy nhiên, vẫn thiếu vắng các nghiên cứu về
hành vi tiêu dùng thịt bò nhập khẩu của các hộ gia đình ở Việt Nam. Thêm vào đó, các
nghiên cứu trước đó về hành vi tiêu dùng thịt bò chưa xem xét tới yếu tố nguồn gốc xuất
xứ, đây cũng có thể là nhân tố góp phần làm tăng ý định mua dẫn tới hành vi mua thịt bò
nhập khẩu ở tương lai.
Thủ đô Hà Nội nằm ở trung tâm của vùng đồng bằng sông Hồng và là một trong hai
thành phố lớn nhất cả nước, dân số thủ đô năm 2022 là hơn 8,3 triệu người. Trong hơn thập
kỷ gần đây tốc độ đô thị hóa nhanh cùng với sự thay đổi điều kiện sống đã làm cho một bộ
phận dân cư ở nông thôn di cư mạnh ra các đô thị làm cho dân cư sống ở thành thị tăng đột
biến. Thêm vào đó, Hà Nội là nơi tập trung nhiều cơ quan hành chính, trung tâm đầu não
của cả nước, các cơ quan ngoại giao, các trụ sở của tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp lớn... Vì
vậy, đây là một trong số khu vực có sức tiêu dùng thực phẩm nói chung và thịt bò nhập khẩu
nói riêng lớn nhất cả nước. Năm 2022 lượng tiêu thụ thịt bò bình quân ở Hà Nội là 6,18
kg/người so với Việt Nam là 5,61kg/người, lượng tiêu thụ thịt bò nhập khẩu bình quân ở Hà
Nội là 4,72 kg/người so với 3,69 kg/người (OECD/FAO, 2022).
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng thịt
bò nhập khẩu của hộ gia đình ở thành phố Hà Nội và đề xuất hàm ý quản trị cho các chủ
thể trong ngành kinh doanh thịt bò nhập khẩu trên địa bàn Thành phố.