NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA TỔ CHỨC
ĐẾN SỰ GẮN KẾT CỦA NHÂN VIÊN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
ThS. Cấn Hữu Dạn1
Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định tính và định lượng để kiểm định tác động của
các khía cạnh văn hoá tổ chức đến sự gắn kết nhân viên trong các doanh nghiệp Việt Nam. Mô hình nghiên
cứu được phát triển dựa trên nghiên cứu của Recardo & Jolly (1997) và Zain (2009), tác giả phát hiện và bổ
sung thêm một khía cạnh, đó là “hành vi lãnh đạo” cho phù hợp với thực tiễn ở các doanh nghiệp Việt Nam.
Kết quả cho thấy 9 khía cạnh của văn hoá tổ chức có tác động tích cực đến sự gắn kết của nhân viên. Với
mẫu khảo sát 267 nhân viên đang làm việc trong các loại hình doanh nghiệp Việt Nam, kết quả nghiên cứu
cho rằng khía cạnh hành vi lãnh đạo có ảnh hưởng mạnh nhất, khía cạnh khen thưởng và sự công nhận có
mức ảnh hưởng thấp nhất đến sự gắn kết của nhân viên. Dựa trên kết quả nghiên cứu này, nhóm tác giả đề
xuất doanh nghiệp xây dựng văn hoá tổ chức cần tập trung vào các khía cạnh trên cơ sở mô hình nghiên
cứu để góp phần nâng cao mức độ gắn kết của nhân viên với tổ chức.
Từ khóa: Văn hóa tổ chức, gắn kết nhân viên, doanh nghiệp Việt Nam.
Abstract: The research was carried out using qualitative and quantitative methods to test the impact of
organizational cultural aspects on employee engagement in Vietnamese enterprises. The research model
was developed based on the research of Recardo & Jolly (1997) and Zain (2009), the author discovered and
added one aspect, which is “leadership behavior” to suit the reality of Vietnamese enterprises. The results
show that 9 aspects of organizational culture have a positive impact on employee engagement. With
the survey sample of 267 employees working in different types of Vietnamese enterprises, the research
results show that the aspect of leadership behavior has the strongest influence, the aspect of reward and
recognition is low most to the cohesion of employees. Based on the results of this study, the authors propose
organizational culture enterprises should focus on aspects of research models to contribute to improving
the level of employee engagement with the organization.
Keywords: Organizational culture; employee engagement (commitment); enterprises.
1. GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khi điều kiện hội đang
chuyển sang nền kinh tế tri thức, việc cạnh tranh dựa vào vốn, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên
không còn là lợi thế cạnh tranh cốt lõi nên việc phát triển nguồn nhân lực chính là chìa khoá thành
công. Việc sử dụng nhân lực trong tổ chức như thế nào để họ phát huy được năng lực, làm như thế nào
khai thác được tối đa các tiềm năng, để nhân viên hết mình vì tổ chức, gắn kết với tổ chức là những
câu hỏi luôn cần những câu trả lời thoả đáng. Hơn nữa, sự thành công của doanh nghiệp thì văn hoá
1 Email: dankhanh81@gmail.com, Khoa Quản lý NNL, Trường Đại học Lao động - Xã hội.
305
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
doanh nghiệp thường đóng vai trò then chốt. Bởi lẽ, văn hoá doanh nghiệp có những đặc trưng riêng,
rất khó hoặc không thể bắt chước được toàn bộ, sẽ tạo nên sự khác biệt cho doanh nghiệp.
Một số nghiên cứu thực tiễn đã cho rằng, VHTC mạnh sẽ nền tảng cho việc nâng cao vị
thế, thương hiệu, thị phần của tổ chức và là yếu tố thu hút nhân viên gắn tâm huyết với tổ chức.
Những giá trị tích cực của VHTC thể hiện hình ảnh tốt đẹp môi trường làm việc hấp dẫn sẽ
giúp thu hút, duy trì nguồn nhân lực chuyên môn; sẽ thu hút được những con người cùng
chí hướng, tin tưởng lẫn nhau, cùng chấp nhận thách thức cống hiến vì mục tiêu lâu dài. Theo
Thompson & Luthans, (1990), “VHTC tích cực sẽ làm gia tăng sự gắn kết và hợp tác của đội ngũ
nhân viên. Kết quả hiệu quả hoạt động của tổ chức được nâng cao, sự quan tâm cao đến các định
hướng chiến lược, năng suất lao động tăng, các quyết định được thực hiện hiệu quả hơn, sự gắn
kết cao ở bộ phận trong tổ chức” và tạo ra lợi thế cạnh tranh của tổ chức (Saeed và Hassan, 2000).
Hiện nay, người lao động bên cạnh việc xem xét các yếu tố như thu nhập, mức độ hấp dẫn của
công việc,… thì họ ngày càng thể hiện sự quan tâm đến văn hoá tổ chức trước khi lựa chọn tham
gia tổ chức mới. Văn hoá tổ chức được coi một trong những tiêu chí đánh giá, đo lường sức
mạnh nội lực của tổ chức. Các yếu tố tạo nên VHTC được xem xét kiểm nghiệm tính liên hệ
với sự gắn kết nhân viên bởi các nghiên cứu của Recardo Jolly (1997), Zain (2009) hay Naidoo
(2014). Nhiều khía cạnh của VHTC được xem xét, tuy nhiên sự phù hợp của các nghiên cứu này
tại Việt Nam lại là một vấn đề khi mà văn hóa Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với thế giới.
Qua kinh nghiệm làm việc nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị nguồn nhân lực, đồng thời
kết hợp với những phỏng vấn sâu người sử dụng lao động người lao động, tác giả thấy những
yếu tố bản của văn hoá tổ chức phần phù hợp nhưng không hoàn toàn thể hiện hết đặc thù của
Việt Nam. Trong bối cảnh một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thì
các khía cạnh của VHTC có sự khác biệt nhất định. Xuất phát từ những do trên, mô hình nghiên
cứu kế thừa và bổ sung biến mới sẽ được kiểm định là cơ sở quan trọng rút ra các khía cạnh thuộc
văn hoá tổ chức tác động đến sự gắn kết nhân viên. Từ đó, đề xuất doanh nghiệp tạo dựng văn hoá
tổ chức vững mạnh, phù hợp và góp phần giúp nhân viên tự hào, trung thành, nỗ lực/cố gắng hơn.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Văn hoá tổ chức
“Văn hoá tổ chức” hay “văn hoá doanh nghiệp” là một khái niệm được biết với tên khác như văn
hoá công ty, một khái niệm khá quen thuộc và cũng khá hồ. Quen thuộc, bởi nó được nhắc tới
nhiều khi người ta muốn nói tới một cái đó thân thiết với một tổ chức: gần như chi phối mọi hoạt
động của một tổ chức, ảnh hưởng mạnh mẽ lên hành vi của các thành viên và đồng thời nó cũng tạo ra
sự khác biệt để phân biệt tổ chức này với một tổ chức khác. Nhưng cũng bởi được hiểu với nghĩa
quá rộng, quá bao quát nên trở nên hồ, trừu tượng. Mỗi một lời nói, cử chỉ, hành động, quy trình,
kế hoạch, chiến lược… của nhân viên, tất cả đều liên quan tới văn hoá. lẽ bản chất trừu tượng nên
khái niệm về VHTC đã được đưa ra nhiều. Theo Schein (2004), “VHTC chính nền tảng cho các hành
vi và hoạt động của mỗi nhân trong tổ chức, là sản phẩm và tài sản của mỗi doanh nghiệp”.
Sau ba thập kỷ xuất hiện, khái niệm về VHTC ngày càng được hoàn thiện cùng với đó thì số
lượng công trình nghiên cứu về VHTC ngày càng đồ sộ đa dạng hơn (Barney, 1986; Schein,
2004). Mặc dù không được phân định một cách rõ rệt, các công trình nghiên cứu vẫn thể hiện hai
306 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
hướng nghiên cứu khác nhau. Trong nghiên cứu này, khái niệm văn hóa tổ chức được hiểu: Văn
hóa tổ chức bao gồm một hệ thống các giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức, các thói quen
truyền thống và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận, chia
sẻ và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên”.
2.2. Gắn kết nhân viên
Thời gian gần đây, khái niệm “gắn kết nhân viên” đã trở thành một khái niệm quan trọng trong
nghiên cứu của các tổ chức, nhà quản trong sự hiểu biết về hành vi của người lao động tại
nơi làm việc. Một cách để tăng năng suất trong nhiều tổ chức là tăng cường cam kết của nhân viên.
Mowday, Steers & Porter (1979), quan điểm “Sự gắn kết với tổ chức một sự kiên định
mạnh mẽ (nhất quán, đồng nhất hay bất di bất dịch) của nhân viên với tổ chức sự tham gia tích
cực (involvement) của nhân viên trong một tổ chức nhất định”. Khái niệm này nói đến mối quan hệ
tích cực với tổ chức khiến họ luôn sẵn sàng đầu tư công sức để đóng góp cho sự thành công và phát
triển của tổ chức. Do vậy, sự gắn kết không chỉ xuất phát từ niềm tin lời nói của nhân viên còn
từ hành động thiết thực trong công việc. Meyer & Allen (1991): “khái niệm gắn kết với tổ chức
một trạng thái tâm lý mà biểu thị mối quan hệ của nhân viên với tổ chức, liên hệ mật thiết đến quyết
định để duy trì là thành viên trong tổ chức”. Legge (1995) cho rằng “sự gắn kết của nhân viên hoàn
toàn khác biệt với hành vi phục tùng một cách nhẫn nhục được xem đặc trưng của quản trị nhân sự
truyền thống”. Sự phục tùng được duy trì bởi hệ thống kiểm soát áp đặt dẫn tới sự phản ứng hơn
các hành vi phản hồi tích cực chủ động trong công việc. Mathis Jackson (2000), sự GKNV với
tổ chức thể được khái niệm “mức độ các nhân viên tin tưởng chấp nhận mục tiêu tổ chức
mong muốn lại với tổ chức”. Jex (2002) xác định sự gắn kết đại diện cho cả hai “cảm xúc xu
hướng hành vi” mà người lao động phải hướng tới một tổ chức. Towers Perrin (2003), khái niệm sự
gắn kết là sẵn lòng và có khả năng để giúp đỡ tổ chức thành công, ở mức độ lớn bằng những nỗ lực,
cố gắng trên một cơ sở bền vững. Sự gắn kết này bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tình cảm và nhận
thức liên quan đến công việc và những kinh nghiệm làm việc.
Với cách tiếp cận và quan điểm khác nhau trong nghiên cứu, các nhà nghiên cứu chưa có một
khái niệm nhất quán về sự GKNV với tổ chức. Theo quan điểm của tác giả gắn kết nhân viên
một trạng thái tâm lý của cá nhân mà trạng thái tâm lý đó tạo ra các cảm xúc khiến cho cá nhân
tự ràng buộc mình vào tổ chức và nỗ lực thực hiện một công việc hay hành động của cá nhân đó
đối với tổ chức vì sự rung động, trách nhiệm hoặc nhu cầu của cá nhân”.
2.3. Tác động của văn hoá tổ chức đến sự gắn kết nhân viên
Nhiều nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng tổ chức văn hóa mạnh sẽ có cơ hội thu hút những
con người có cùng hướng nhìn, tin tưởng nhau, cùng chấp nhận những thách thức và cống hiến vì
mục tiêu lâu dài. Một môi trường làm việc tốt, đồng nghiệp vui vẻ, lãnh đạo luôn tạo điều kiện làm
việc tốt nhất cho nhân viên thì đó cũng là một lý do để người lao động có thể chung sức và đồng
hành cùng DN. VHTC tích cực sẽ làm gia tăng sự GKNV, từ đó nâng cao được hiệu quả hoạt động
của tổ chức, tăng năng suất lao động, việc ra quyết định tốt hơn, sự gắn kết cao ở mọi cấp bậc nhân
viên và tạo ra lợi thế cạnh tranh của tổ chức.
Theo Lok Crawford (1999), “HTC đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự gắn kết
nâng cao hiệu suất”. Bằng chứng nghiên cứu (Deal Kennedy, 1982; Denison, 1990; Kotter
Heskett, 1992; Peters Watermann, 1982) cho rằng VHTC tạo nên một ảnh hưởng đáng kể
307
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
về hành vi tổ chức, đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan đến hiệu quả sự gắn kết. Deal
Kennedy (1982) lập luận rằng VHTC ảnh hưởng đến sự GKNV trong tổ chức sức mạnh
của sự gắn kết với tổ chức tương quan với sức mạnh của văn hóa tổ chức. Best (1994) cho thấy
sự GKNV với tổ chức như một hành vi ràng khi “cá nhân cam kết những hành vi chính
thức, cụ thể do niềm tin về mặt đạo đức hơn là mang lại lợi ích cá nhân”. Theo Martins & Martins
(2003), VHTC liên quan đến tiêu chuẩn, chuẩn mực quy định nhân viên nên xử như thế nào
trong tổ chức. Zain (2009), nghiên cứu ảnh hưởng của VHTC đến sự GKNV với doanh nghiệp
dưới bốn khía cạnh, cụ thể là: làm việc nhóm; đào tạo và phát triển; giao tiếp trong tổ chức; khen
thưởng sự công nhận. Trần Hữu Ái, Nguyễn Minh Đức (2014) đo lường mức độ ảnh hưởng của
các yếu tố VHTC đến sự GKNV đối với tổ chức, trong đó yếu tố VHTC bao gồm: (i) làm việc theo
nhóm, (ii) giao tiếp trong tổ chức, (iii) đào tạo phát triển, (iv) khen thưởng công nhận, (v)
sự công bằng và nhất quán trong các chính sách quản trị. Nghiên cứu Naidoo (2014), cho rằng có
7 yếu tố của văn hóa tổ chức có tác động mạnh đến sự gắn kết nhân viên là: phong cách lãnh đạo;
nhu cầu và mục tiêu của nhân viên; phương tiện để đạt được mục tiêu; quy trình quản lý; tầm nhìn
và nhiệm vụ; hướng ra môi trường bên ngoài; và chiến lược đa dạng hóa.
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tác động của VHTC tới sự GKNV trong mỗi tổ chức khác
nhau. Chính vì vậy, cần tìm ra quy luật sự tác động của VHTC với sự gắn kết của nhân viên là rất
cần thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
3. HÌNH NGHIÊN CỨU
Tổng hợp các nghiên cứu đã được công bố về tác động của VHTC đến sự GKNV với tổ chức.
Tác giả tổng hợp lại, lựa chọn tám khía cạnh VHTC phù hợp với các doanh nghiệp của Việt Nam
được bổ sung thêm một thành phần (Hành vi lãnh đạo). Các thang đo được kế thừa, bổ sung
phù hợp với DNVN.
Hình 2: Mô hình nghiên cứu
Hành vi lãnh đo
Định hưng KH tương lai
Công bng trong CSách
QTr
Đổi mi và chp nhn ri ro
Hiu qu ra quyết đnh
- Gii Tính
- Độ tui
- Vị trí vic
làm
-Tình trng GĐ
- Thu nhp
Học vn
- Thâm niên
công tác
Trung thành
T hào
C gng
Đào to và phát trin
Khen thưng & s công nhn
Làm vic nhóm
Giao tiếp/truyn thông
trong t chc
Văn hoá t chc
308 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Để đơn giản trong cách trình bày, hình nghiên cứu được thể hiện như Hình 1, trong đó
bao gồm:
Biến độc lập: Các biến được lập trong hình gồm 9 khía cạnh của VHTC. Biến phụ
thuộc: Biến phụ thuộc trong hình nghiên cứu sự GKNV với tổ chức gồm 3 thành phần:
(i) Lòng trung thành, (ii) Lòng tự hào, (iii) Sự cố gắng nỗ lực. 3 thành phần GKNV với tổ chức theo
nghiên cứu của Mowday và cộng sự (1979). Khi nhân viên cảm nhận được lãnh đạo là người giữ
chữ tín, đem lại niềm tin, nhân viên sẽ gắn kết hơn với tổ chức (Saks & Rotman, 2006). Các biến
kiểm soát: Trong mô hình nghiên cứu còn có các biến kiểm soát khác về cá nhân doanh nghiệp.
Với hình nghiên cứu được tổng hợp xây dựng, tác giả sẽ nghiên cứu tác động của
VHTC tới sự GKNV với tổ chức, đồng thời kiểm định sự tác động đó sự khác biệt giữa các
nhóm doanh nghiệp và nhóm nhân viên.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả tham khảo và phỏng
vấn một nhóm chuyên gia về lĩnh vực quản trị nhân lực, các vị trí quản chủ chốt và một số người
lao động làm việc tại Hà Nội.
Tác giả tiến hành khảo sát NLĐ trong các DNVN. Nghiên cứu lựa chọn mẫu nghiên cứu dựa
theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều giai đoạn. Kết quả tác giả thu được 289 phiếu trả
lời trong đó có 22 phiếu không trả lời đầy đủ và không chứa đủ thông tin cần thiết cho nghiên cứu
nên không được sử dụng. Số phiếu trả lời được sử dụng trong nghiên cứu là 267 phiếu đến từ 126
doanh nghiệp (với tỷ lệ phản hồi là 12,6%).
Bảng hỏi sử dụng thang đo Likert năm mức độ (bao gồm (1) “rất không đồng ý”, (2) “không
đồng ý”, (3) “chưa quyết định”, (4) “đồng ý”, (5) “rất đồng ý”) để đo lường VHTC sự GKNV
trong doanh nghiệp. Mục đích sử dụng thang đo Likert năm mức độ và tác giả dùng câu hỏi đóng
để luôn có câu trả lời trong việc thu thập thông tin cần nghiên cứu.
Kết quả phỏng vấn và khảo sát vẫn kế thừa các thang đo ban đầu nhưng có một số điều chỉnh
cho phù hợp với thực tiễn các doanh nghiệp Việt Nam. Mỗi khía cạnh văn hoá tổ chức trong
hình được đo lường bằng các câu hỏi, nhận định. Thước đo biến văn hoá tổ chức được dựa vào
kết quả nghiên cứu của các tác giả: Recardo & Jolly (1997); Bass (1997); Zeffane (1995); Nijhof
(1998); Ooi & Arumugam (2006); Zain (2009); Huma (2014). Các thước đo về sự gắn kết nhân
viên với tổ chức dựa trên thước đo của nổi tiếng của Mowday, Steers, & Porter (1979); Dung &
Morris (2005); Trần Kim Dung (2006).
5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
5.1. Kiểm định độ tin cậy và tính hiệu lực của thang đo
Phần xử dữ liệu này được tiến hành dựa trên kết quả khảo sát và quy trình tiến hành phân
tích, đánh giá thang đo được thực hiện như sau:
Đánh giá độ tin cậy của thang đo: Kiểm định Cronbach’s Alpha cho thấy các biến quan sát đều
hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,8. Kết quả đánh
giá độ tin cậy thang đo cho thấy tất cả các thước đo và các biến quan sát đều đạt yêu cầu (Bảng 1).