
Nhà Mạc - Nam Bắc Triều (1527 - 1592)
6
2.2.2. Phát triển kinh tế
Kinh tế công thương nghiệp thời kỳ này được sự quan tâm của nhà nước nên có
điều kiện phát triển hơn so với các thời kỳ trước và sau đó. Trong một xã hội có sự
dung hòa giữa các tôn giáo và tín ngưỡng dân gian đã tạo ra một thế giới quan hài
hòa và sự cân bằng trong nhận thức về thứ bậc và các ngành nghề trong xã hội.
Thứ bậc "sĩ, nông, công, thương" và quan niệm "dĩ nông vi bản" đã không còn chi
phối xã hội quá nặng nề. Kinh tế phát triển là một trong những cơ sở để duy trì sự
tồn tại một triều đại. Nhà Mạc trong quá trình trị và đã tạo điều kiện cho nền kinh
tế công thương nghiệp phát triển.
Những biện pháp nhà Mạc thi hành để phát triển kinh tế công thương nghiệp là:
Thứ nhất: Nhà Mạc rất chú trọng trong việc tuyển dụng những nghệ nhân phục
vụ cho nhu cầu sinh hoạt của hoàng cung. Những công tượng dưới thời Mạc có vị
thế cao hơn thời Lê rất nhiều, không bị đối xử như những người lao động khổ sai
mà thực sự được đề cao, được ban thưởng và giữ những chức vụ tương đương với
tài năng và công lao.
Thứ hai: Trong hoàn cảnh chiến tranh triền miên, nhà Mạc không có điều kiện
chú tâm nhưng cũng không tỏ ra quá khắt khe với sự phát triển của thủ công

nghiệp và thương nghiệp. Điều này đã tạo ra một diện mạo mới cho xã hội Đại
Việt. Thế kỷ XVI được chứng kiến sự phát triển nở rộ của các sản phẩm gốm sứ.
Đặc biệt, vào thời điểm bấy giờ, nhà Minh cấm tư nhân Trung Hoa buôn bán với
nước ngoài (1371 đến 1567) đã tạo điều kiện để ngành thủ công của Đại Việt được
khu vực và thế giới biết đến và ưa chuộng.
Thứ ba: Dưới thời Mạc, sự dung hoà tôn giáo và sự phát triển mạnh mẽ của các
tín ngưỡng dân gian đã tạo điều kiện cho ngành thủ công nghiệp phát triển. Những
kiến trúc chùa, đạo quán, đình làng, bia đá… đã giúp cho sản phẩm các ngành thủ
công được tiêu thụ với số lượng lớn và trí tưởng tượng của các nghệ nhân được
"chắp cánh", vì vậy, thủ công nghiệp thời Mạc có điều kiện phát triển.
Thứ tư: Nhà Mạc cũng có những biện pháp tạo điều kiện cho ngành thủ công và
thương nghiệp phát triển như chú trọng mở đường sá, xây dựng tu bổ cầu, mở một
số chợ, thậm chí khuyến khích hoạt động ngoại thương chứ không "bế qua tỏa
cảng" như triều Lê Sơ. Trong thời gian trị vì, nhà Mạc đã cho xây dựng mới và tu
sửa 15 chiếc cầu [6;215], mở thêm 7 chợ hoạt động khá quy củ, tấp nập để trao đổi
hàng hóa [6;219]. Điều này đã tạo điều kiện cho việc đi lại giữa các vùng miền
thuận lợi, trao đổi hàng hóa dễ dàng, sản phẩm thủ công được tiêu thụ mạnh ở
trong và ngoài nước trở thành thế mạnh để xuất khẩu.
Thời kỳ này, Đại Việt được nhiều quốc gia biết đến với những sản phẩm nổi tiếng
như gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội), gốm Thanh Lâm (Nam Sách, Hải Dương),
gốm Chu Đậu (Hải Dương)… Chính vì thế, những người thợ thủ công có điều
kiện thi thố tài năng của mình. Từ thế mạnh đó, thương nghiệp thời kỳ này phát

triển mạnh mẽ, thịnh vượng hơn so với trước. Hệ thống chợ được mở rộng và hoạt
động hiệu quả, tấp nập, trong đó, gốm sứ là mặt hàng phổ biến cả thị trường trong
và ngoài nước. Cụ thể là "Trên một bản đồ nước ta do người thời Minh vẽ vào
cuối thể kỷ XVI, Annan tu (An Nam đồ) có rất nhiều cửa biển, nơi thuyền buôn
nước ngoài có thể ra vào tiện lợi" [6;224], cùng thời gian này đã có nhiều nhà
truyền đạo phương Tây vào Đại Việt (1535) và rất có thể họ cũng ấn tượng và bị
hấp dẫn bởi các sản phẩm gốm sứ. "Trong con tàu buôn bị đắm ở Cù Lao Chàm
(thuộc địa phận Hội An, Quảng Nam) mà các nhà khảo cổ học vừa trục vớt gần
đây, có rất nhiều gốm thương phẩm có niên đại XV-XVI, được sản xuất từ Chu
Đậu (Hải Dương)" [6;224]. Tiếc là, "những nhà sản xuất đương thời nói chung
chưa biết đầu tư vốn nhằm mở rộng sản xuất để sinh lợi mà khi có chút vốn liếng
liền quay về với việc tâm linh như dựng chùa, mua ruộng thờ cúng về sau"
[6;229]. Xã hội Đại Việt ì ạch trong mô hình một nước quân chủ nông nghiệp theo
văn minh lúa nước vì lẽ đó. Tuy vậy, điều đáng nói là, trong một xã hội quân chủ
chuyên chế, đạt được những thành tựu trên là một cuộc thay đổi lớn cả về thiết chế
xã hội cũng như hệ tư tưởng.
2.3. Chính sách ngoại giao khôn khéo, mềm dẻo bảo vệ độc lập dân tộc
Kế thừa truyền thống các triều đại trước, sau khi lên ngôi nhà Mạc đã thực hiện
trách nhiệm của một nước nhỏ, thần phục đối với thiên triều Trung Hoa. Nhà Mạc
bằng mọi cách để nhà Minh công nhận sự xác lập quyền thống trị dòng họ mình để
có tính chính đáng như các triều đại trước. Trước chủ nghĩa Đại Hán và âm mưu
phù Lê của các thế lực trong nước, nhà Mạc đã thi hành những chính sách ngoại

giao mềm dẻo, khôn khéo, linh hoạt, cụ thể là nhà Mạc đã đặt quan hệ tốt với các
sứ thần nhà Minh, triều cống nhà Minh trên cơ sở giữ vững chủ quyền dân tộc
song đồng thời cũng ra sức chuẩn bị tiềm lực để đối phó với kẻ thù trong tình
huống xấu nhất.
Những điều nhà Mạc làm không khác những triều đại trước đó như cách nói của
Phan Huy Chú là "trong thì xưng đế, ngoài thì xưng vương". Nhưng nhà Mạc
không giống các triều đại khác ở chỗ: trong khi các triều đại trước đặt quan hệ
bang giao với Trung Quốc đều đứng trên thế mạnh của một dân tộc và triều đại
từng giành chiến thắng trước kẻ thù thì một xã hội mang trong mình sự khủng
hoảng, trong nước còn bao thế lực thù địch sẵn sàng cấu kết với nhà Minh, nhà
Mạc đã tiến hành một cuộc đấu trí để tránh binh đao, tàn sát thảm khốc để xã hội
được thái bình, đồng thời không vội vàng đối đầu với quyết tâm xâm lược của nhà
Minh để tránh một sự thất bại như nhà Hồ trước đây.
Kết quả là nhà Mạc đã thành công. Trong suốt 65 năm tồn tại, nguy cơ chiến tranh
xâm lược đã bị đẩy lùi, nhưng Mạc Đăng Dung và các vua Mạc sau này lại bị lịch
sử quy tội "dâng đất", "hèn hạ" suốt một thời kỳ dài. Trong xã hội phong kiến,
mưu đồ bá vương là điều thường thấy, khi âm thầm lúc mạnh mẽ, kiên quyết. Việc
nhà Lê Trung Hưng cầu cứu nhà Minh nên đánh giá như thế nào hãy để hậu thế
phán xét những việc làm đó đã đặt dân tộc trước nguy cơ bị kẻ thù ngoại bang xâm
lược, là "đem thân trăm họ làm công một người".
Những nỗ lực của nhà Mạc đã đem lại hệ quả là "Vua Minh bèn phong cho Mạc

Đăng Dung làm An Nam Đô thống sứ ty đô thống sứ, cho ấn bạc và cho thế tập"
[3;133], nghĩa là nhà Mạc đã được thiên triều công nhận và quan trọng hơn nhà
Mạc đã nỗ lực để nhân dân Đại Việt đã tránh được một cuộc binh đao.
3. Kết luận
Nhà Mạc tồn tại như một vương triều phong kiến chính thức trong lịch sử chế độ
phong kiến Việt Nam, là triều đại có nhiều cống hiến cho lịch sử, đặc biệt trong
lĩnh vực giáo dục khoa cử và phát triển kinh tế. Điều quan trọng nhất là nhà Mạc
đã phục hồi xã hội Đại Việt sau một thời gian khủng khoảng và duy trì nền độc lập
trong suốt thời gian cai trị. Trên thực tế, nhà Mạc đã khẳng định được tính chính
đáng của dòng họ mình, nhưng đó là một quá trình gian khó, bởi "từ đầu thế kỷ
XVI, vua Lê chỉ còn hư vị, là bức bình phong là chỗ dựa cho các tập đoàn phong
kiến giương cao ngọn cờ "phù Lê, diệt Mạc" nhằm thu phục nhân tâm, chiêu tập
những công thần của Lê cựu" [7;73]. Nhà Mạc đã nỗ lực không ngừng để ổn định,
phát triển đất nước dưới triều đại mình nhưng thời thế đã không ủng hộ. Trong
trường hợp này, thắng lợi thuộc về những ai "thờ bụt ăn oản" và "biết tìm thóc
giống mà gieo". Nhà Mạc chấm dứt vai trò thống trị chính thức năm 1592 với sự
kiện Mạc Mậu Hợp bị thất bại thảm hại trước nhà Lê Trung Hưng, nhưng dư âm
của triều đại này vẫn ngự trị trong lòng bao thế hệ trong một khoảng thời gian và
không gian dài rộng.
Nhận thức đúng về vấn đề này không chỉ trả lại sự thật cho lịch sử mà còn góp
phần giải quyết những vấn đề trong thực tiễn để các thế hệ sau có những hiểu biết
sâu sắc về một triều đại từng tồn tại và có nhiều đóng góp cho lịch sử dân tộc.

