LÊ VĂN SIÊU

KIIOA^HỌC TIIUỠNG T l l i r DÀNH CHO NGUỜI LAO ĐỘNG

LÊ VĂN SIÊU

VIỆT NAM

VÀN MINH SỬ

Lược KHẢO

TẬP THƯỢNG Từ nguồn gốc đến thế kỷ th ứ x

Hiệu đính: NGUYỄN HÀO HỪNG Hội nghiên cứu khoa học Đông Nam Á Việt Nam - Tạp chí Đông Nam Á -

NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG

LỜI NÓI ĐẦU

ến nay thì hết thảy các nhà nhân chủng học, sử học, xã hội học đều đã công nhận là lối thời, cái ý niệm của thế kỷ XIX vê trung tâm điểm châu Alt chiếu toả ánh sáng văn minh ra khắp nơi. Đến nay thì hết thủy đã công nhận không phải chỉ châu Âu mới có văn minh , dù những tiến hộ khoa học kỹ thuật có đem lại cho châu Âu cái sức mạnh vật chất siêu phàm để thắng thế về mọi phương diện.

Không phải đã chỉ có MỘT nền văn minh, mà có NHIÊU nền văn minh, không xếp theo một trật tự tôn ti nhất định nào cả, và tập đoàn người có tổ chức nào cũng có nền văn minh của họ, ngay một giống dân dã man cũng có nền văn minh riêng của họ nữa^‘K

Cái thứ bảng lập thành mà ngưiyi ta dùng ở thế kỷ XVUI, XIX và đầu thế kỷ XX như một cái khuôn diều kiện, cho các dân tộc ngoài châu Âu không thế có điêu kiện dầy dã về văn, mỹ, nghệ, khoa học để phải tự thấy là kém cỏi, không văn minh, thứ háng lập thành ấy nay đã được thay thế bằng cách chiếu cô' dến thực chất những thể hiện ít rực rỡ hơn, theo khía cạnh di sản văn hoá, (tư tưởng, công cụ, kỹ thuật, hí quyết nâ'u ăn, hay chi tiết y phục) hoặc theo khía cạnh môi trường văn hoú (căn cứ địa dư của các nền văn minh). Người ta tiến bộ tới đây là đã tới chỗ muốn xác định những khung cảnh thiên nhiên và xã hội cho cuộc sống của một nền văn minh, mà lề lối sử học cũ dã dề cập sai, hay ít ra cũng đã đề cập quá vội vàng.

Chúng ta đón chào sự tiến bộ về phương pháp nghiên cứu ấy. Nhưng nhăn danh một người nghiên cíni, thuộc một giống dán nghèo nàn chậm tiến, từng bị đô hộ cá ngàn năm, lại từng bị lệ thuộc tinh thần thêm 900 năm nữa, với gán 100 năm sau cùng mất quyền tự do, chúng tôi thấy có bổn phận phải nói là KHÔNG DẾ, cái việc nghiên círu về Lịch sử nền Văn minh Việt Nam.

(1) Lòi của Maurice Crouzet trong bài tựa bộ sách: Lịch sử đại cươn^ các nền

văn minh (Histoire génerale des civilisations):

Qu’il y fait cTaillcurs, non pas UNE civilisation, mais DES civilisations sans hiérarchie de droit, fixée une fois pour loutes, voilà qui semble acquis: ethnologues, historiens, sociologues ont constaté que tout groupe humain organisé possède sa civilisation que même “un peuple sauvage” a sa civĩlisation propre.

Khôm> (lễ là vì đ()ì V('n tùi liệu cũ của bân xứ, dù C() trên íỊŨÍy tỉdnẹ mực den, cũtuị plidi nụìa cái diều ngiửyi bản xứ dã phải dón V kẻ mạnh dê tự mình làm sai diều mình nghĩ thực di. Không dễ lìi vì dối với tài liệu của người dô hộ, cũng vẫn phủi ngừa dã chử/c viết V('n m()t dụng tâm chèn ép và khinh bỉ người bản xứ.

Klưĩng dẻ là vì bao nhiêu t()n tích, văn, mỹ. nghệ phẩm dián chếdộ dô lu), ai dám nói chắc là không bị kể d() lư) tưírc docư? Củ những nhân tài nữa, vê khoa học, cpiân sự, văn nghệ, công nghệ, ai dám nói chắc là đã không bị hắt đem về chính cpiốc dể phục vụ cho chính cpư)'c? (Cả V('rì hình thức là tiến Cííng nữa). Không dễ nữa là vì sống trong lòng bàn tay ke bạo tàn vù tham lam, làm gì C() ai dai mà đi khoe khôn, khoe giỏi ... dể mất hết hay sao?

N()i chung, thì ngay trong nluĩng gì là huv hoàng lộng lẫy của các nền văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà, Hy Lap, Ba Tư, La Mũ ... C() ai dặt vấn đê là dã không có sự đóng góp phần nao của những người (ý những thuộc quốc của cúc dểqiuíc ấy? Nói riêng, thì qua những cổ vật, tác phẩm mỹ nghệ chứng minh trình độ tiến hoá văn minh rực rỡ của Trung Hoa ở các đời Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, v.v... chúng tôi nhìn thấy dường như có những giọt mồ hôi nước mắt của cha ông chúng t()i g()p vào.

Nhưng tất nhiên ai cũng nnưín hỏi: bằng C('y cụ thể là dâu? Thì dấy chính là ,sợi dây trói của phưc/ng pháp, cho nghi ng(ỳ không chứ/c kể lù xác định V(à diện mạo thật của nưự nền văn minh vẫn cứ bị che bớt di, không bằng tấm mùn nọ cũng bằng tấm màn kia, dể chinh phương pháp nghiên cứu gọi là đã tiến cũng chưa tiến dược bao nhiêu.

Cần phải phú vỡ vòng dây trói ấy, mới tìm giải thích nổi cho nhiều sự kiện lịch sử mù hiện tư(/ng đã khác vớ/ thực chất, d ể soi roi bâng các ()'ng kính nhận thức theo các khía cạnh, mà thấy thực nó là gì, thì mới phủ hợp V(ýị cà diễn trình của lịch sử. ông kính quan trong hơn cả đã không phải là của một cá nhản mình, dù C(í hết sức để khách quan, trong trình độ nhận thức của thế kỷ XX hiện tcú, ma là của chính người ở từng thời kỳ lịch sứ muốn nghiên cứu, trong trình đ() hiểu biết và trong những điều kiện sinh sống của từng thời kỳ ấy.

Trong sách này, chúng tôi dã làm C()ng việc tìm tòi bằng lê lối ấy dế nhận dịnh ra nhiều diều bất ngờ mà người dọc sẽ thấy Ici có thể tin đưỵrc. Chẳng hạn như nlư'/ nhìn bâng con mắt người thưong cổ, chúng tôi thấy tính cách thiêng liêng của chất đồng, chỉ dành làm những vcìt thiêng liêng và chỉ riêng một số người đưi/c ân sủng nnn biết vù chử/c làm những vật ấy. Rồi sau đó, hàng hao nhiêu tlỉếkỷ, Mã Viện tịch thu trống dồng, đập bẹp ra trước mắt người bản xứ, rồi bỏ cà vào lò, dúc con ngựa kiểu dế

chơi íliì chúmị tôi mới Cíỉm thômị được với niềm uất hận nhục nhã ciìư Iìí>ư(yị han xứ. cũm> như trânịỉ rõ dược củi vẻ iu>ạo nghễ, hống hách của Mã Viện. Sau dó ứní> chiểu ra, mới lại kết luận dược là nhất dịnh hắn có dựm> CÚI cột dồng dể chữ “Đồng trụ chiêt, G iao Chỉ d iệ t” dể trêu tức và tlìoá mạ cả giông dân Giao Chỉ. Vù hể dã dựng thì hắn phải dựng à nơi thị tứ dông người qua lại chứ không phải ở hiên giới để đi tìm tận vùng núi non của Lâm Âp xa xôi.

Sự kiện lịch sử nọ dã có liên hệ dển sự kiện lịch sử kia. Phải tìm dược cho nỏ kiểm soát nhau, lùm nhân quà cho nhau, mới trông rõ dược cả dòng dùi của cuộc sống cũ. Đ ể dính chính lại nhiêu diều mà trước đã hiểu sai hay chưa hiểu dến nơi. Đ ể dặt lại nhiều vấn dề lịch sử mà người ta cô' ý dem lập trường chính trị vào lái hướng những hùi học lịch sử cũ, tuy có lợi phần nào cho nhu cầu chính trị nhất thời nhưng lại có hại rất lớn cho sự lệch lạc của nhận thức.

Với lòng chán thành:, chỉ tìm sự thực vò trình bòụ sự thực, chúng tôi viết sách này dể cống hiển hạn dục một dịp vể rnịuồn, dể nhận dịnlì rõ hơn những công dức của tổ tiên .xây dựni> nên dấr nước và cà nhữn^ nỗi dau thương nhục nhã mù các nụ'n' dã phải chịu dựng, cho chúng ta hưởmị lấy di sàn ngày hỏm nay.

Nếu trong sách có nhfím> doạn mù chúng tôi khômị dằn được uất hận phải thể hiện tâm tình qua lòi văn, thì xin các hạn dọc dừng lấy lủm lạ, mù dòi hói sách viết plìdi là một sự mổ xe’ khô khan thì mới lù khoa học. ClĩúníỊ tôi không thế theo dược cái lè lối khoa học ấy d ể kể chuyện nhục nhã dau thươmị của cha Ô I1Í> mình, mà lại hằng một giọng hình thản của người diúií’ nước lã, không can dự ợ tớl mình cd.

Trái lại, chúng tôi nhận rằng phủi nói dược lòiu> mình ra như thế mới khoa học, mới thực, mới sống dộm>, và nhận thêm rằng mỗi dân tộc càng mang tiếng là lạc hậu, lại vì thế, càng cần phải có iu>ười của dán tộc ấy tự viết về lịch sử của mình, (cả nịch sử nữa), thì mới nói lên dược những diêu mà người ngoại quốc dù tinh mắt dển mấy eũm> khôm> thể trỏng ra dược.

Chúng tôi dựa vào những quốc hiệu dã có dê’ chia sách này ra lùm

4 phẩn chính.

Tập Thượng gồm: Quyển /: Văn minh Văn Long, từmịuỏn gốc dến cuối d('ri vua Hùm>.

Quyển //: Vồn minh Loc Việt, từ nhà Thục đến trận Bạch Đằng của

Ngô Quyền, nêu cao ngọn cờ độc lập (938).

Tập Trung sẽ gồm: Quyển III: Võn minh Đoi Việt, từ thế kỷ thứ X đến hết nhà Lê, thế

kỷ XV111.

Tập Hạ sẽ gồm: Quyển IV: Von minh Việt Nom, từ nhà Nguyễn ị 1802) đến hiện đại.

MỤC LỤC

Nguồn gốc dân tộc

CHHONC. M(J ĐẨII: Nguồn gốc thần kỳ. 18 - Sự nghiên cứu nguồn gốc thực. 18 - Tại .sao vậy. 19 - ích dụng của việc tìm nguồn gốc dân tộc. 20 - Đi tìm nguồn gốc thực. 21 - Danh từ Lạc Việt. 21 - Danh từ Giao Chỉ. 22 - Danh từ Vãn Lang. 23 - Thời tiền Lạc Việt. 26 - Địa bàn gốc tổ. 32 - Địa lý của Cửu Chân (Thanh Hoá). 36 - Địa lý của Phong Châu. 38 - Những nguyên nhàn đẩy người đến Cửu Chân. 39 - Nhũng người đầu tiên đến Cửu Chân. 40 - Họ tới vào thời khoảna lịch sử nào?. 41 - Giống Giao Chỉ. 41 - Giao Chi miền Nam và Giao Chỉ miền Bắc. 41

ỌUYỂN1

PilÀN TMÚ NHÀT GIAO CHỈ MIỀN NAM

VÀN MINH VĂN LANG Từ khởi thiiỷ dấn cuối dời Hùng Vươm>

: Vấn để từ ngữ : Đời sống bộ lạc

c h ư ơ ní; 1 CHirơNtỉ II Quyền uy của lù trưởng. 52 - Vật lổ. 53 - Trống đồng Đông Sơn. 53

- Tác dụng của trống. 59 - Trống đồng có từ hồi nào? 60.

: Kỹ thuật

: Đời sống vô hình thần b í. 69 : Chữ viết và tiếng nói

( HƯƠNÍỈIII Kỹ thuật đổ đồng. 63 - Kỹ thuật đồ dá. 65 - Kỹ thuật đóng thuyền. 67. cniiơN t; IV CHƯƠNG V Khảo về những âm gốc. 75 - Những âm tượng thanh. 77 - Những tiếng tượng thanh. 77 - Những âm tượng hình xốp thành 22 bộ. 77 - Những tiêng tượng hình. 80 - Những tiếng diễn tả màu sắc, mùi vị, hương vị, phong thái. 81

7

PHÂN THỨ HAI GIAO CHỈ MIỀN BẮC

: Cuộc di dịch về gốc tổ Phong Châu. 83

; Dấu vết Sự định cư. 89

Các sách sử cũ. 90 - Các

CHƯƠNG I Đồng bằng Bắc Bộ. 84 - Vùng trung du. 87 CHƯƠN(Ỉ II Công cuộc tìm tòi dấu vết sự định cư. 89

: Di tích lịch sử . 95

tài liệu khác. 92.

CHƯƠNG III Kết quả khảo cổ học. 96 - cổ tích ở Phong Châu. 97 - Họ Hùng

: Bộ lạc canh nông. 101

Vương. 99

CHƯƠNIỈIV Bộ lạc canh nông. 102 - Dân số. 103 - Sự hình thành của những cái làng. 103 - Đời sống bộ lạc. 105 - Đời sống gia đình. 106 - Mộ cổ Lạch Trường. 107

: Đa thần giáo và đạo Tiên. 111

: Sinh hoạt kinh tế. 114

; Sự vui chơi. 119

CHƯƠNC, V Đa thần cổ sơ. 111 - Đạo Tiên. 1 12 CHƯƠNG VI Những điều kiện thiên nhiên. 114 - Kỹ thuật canh tác. 117 CHƯƠNG VII Sự vui chơi. 119 - Tiếng đệm. 120- Nói lái. 121 - Nói xuôi. 121 -

: Cuộc Sống vật chất

Nền văn chương truyền khẩu. 122

CHƯƠNG VIII Nhà ở, y phục, ăn uống. 126 - Việc mở rộng thêm dất đai. 127 - Cuộc tiếp xúc đầu tiên với văn minh mién Nam Trung Hoa. 128 - Mười lăm bộ. 128 - Họ Thục chiếm Văn Lang và dút họ Hùng Vương. 130

QUYỂN II

PHẨN THỨ NHẤT THỜI KỲ PHỤ DUNG VÀ T ự TRỊ

. Họ Thục và thành cổ Loa. 135

VĂN MINH LẠC VIỆT Từ nhù Thục dển thếkv th ứ x

CHƯƠNG I Tại sao dời đỏ? Qui mô thành cổ Loa. 141 - Tại sao thành hay đổ? 141 - Tại sao làm lớn và Icàm gấp? Sự de dọa chiến tranh. 142 - Tại sao

thành không giữ được? 143 - Tại sao họ Triệu đuổi họ Thục đến đườna CÙ112? Tổ chức quân đội và chiến tranh du kích. 143

: Họ Triệu và sự đồng hoá dân Bách Việt CHiroNtỉ II Lên ngôi Nam Việt vương. 148 - Cuộc sống chung với người Bách

: Đời sống xã hội.

Việt. Hiện tượng đồng hoá. 148 - Kỹ thuật canh tác. 149

CHƯ()N(Ỉ III Làng Lạc Việt. 151 - Quy mô của làng. 153 - Những thứ lưu nhiều

: Nhà ở. 157

kỷ niệm. Những dịp hội hè. Dư luận trong làng. 155.

CHƯƠNt; IV Cách diệu kiến trúc nhà tre. 161 - Quan niệm kiến trúc nhà ở và lề

: Thế giới thần bí. 169

thói sống. 164.

CHƯƠNt; V Linh hồn. 170 - Tliế giới thần bí. 172 - Ảnh hưởng đến phong hoá. 175

PHÂN T IIỨ H A I

THỜI KỲ TRỰC TRỊ

: Sinh hoạt chính trị. 179

CHliơNtỉ I Hán Vũ Đế. 181 - Tại sao cần chiếm Nam Việt?. 182 - Chính sách cai trị. Nông dân và thị dân. 183 - Những tội nhân Trung Quốc. 184 - Quý tộc ban xứ. 186 - Các quan lại của Hán Triều. 187 - Hai Bà Trrmg. 190. - Mã Viện. 193 - Cột dồng Mã Viện. 195.

: Sinh hoạt xã hội. 199

CHƯƠNt; II Làng Lạc Việt. 200 - Tinh thần dân chủ trong làng. 201 - Tổ chức nhân sự trong làng. 203 - Tmh liên dới thiêng liêng. 205 - Đình làng . 206 - Hướng dinh và vị trí. 208 - Qui mồ của đình 208.

CHƯƠNC. III

: Sinh hoạt tinh thẩn

Sự tiếp đóh hạt giống tư tưởng Khổng, Lão, Phật. 214.

Khổng giáo. 214 - Lão giáo 219 - Phật giáo. 220 - Gốc văn minh Ấn Độ. 222 - Đạo Phật viên thành. 234 - Đạo Phật và Giao Châu. 245 - Mục dích chính của sự truyền bá đạo Phật ra nước ngoài. 246 - Những người di truyén dạo. 248. ciiiroN d IV : Chính sách vân trị của Sĩ Nhiếp. 259 Chữ Nôm. 261 Học phong thời Sĩ Nhiếp. 263 - Bà Triệu. 265-

9

Tinh thán bài Ngô. 265.

PMÂN THỨ BA THỜI KỲ QUÂN ĐỘI CHIẾM ĐÓNG

: Giặc Lâm ấp. 269

CHƯƠNG I Họ là những người theo đạo Bà La Môn. 271 - Chế độ đẳng hạng người trong xã hội. 277 - Đặc tính của dân Lâm Âp. 280 ~ Những thổ dân xưa ở vùng bị Lâm Âp cưỡng chiếm. 281 - Kinh thành Khu Túc. 282 - Địa thế của Lâm Ap. 282 - Những cuộc xâm lăng của Lâm Âp. 283 - Quân đội chiếm đóng. 284 - Một cổ hai tròng. 285 - Vai trò của người Ân Độ theo Phật giáo. 286.

: Nền thương mại thực dân của Trung Hoa. 287

CHUONt; II Bán chất thương mại. 288 - Khinh thường người bản xứ. 288 Chuyện người Tàu giấu của. 288 - Người Tàu thương mại. 289 - Sự bóc lột. 290 “ Những công trình xây dựng cho địa phương. 291 - Sự cải tiến điều kiện sinh hoạt. 292 - Điều kiện đế mất giống. 292.

CHƯƠNG III

: Tư tưởng triết lý sống còn và sự giãy giụa tìm lối

thoát. 293

Sự chịu dựng khổ sở, rét lạnh, thiếu thốn, cực nhọc, dau đớn nhục nhã. 294 - Sự chịu đựng thân phận mình. 295 - Sống không cho bản thân mình. 297 - Sống là để chết. 297 - Nhưng chết lại là để sống. 298 - Sự giãy giụa tìm lối thoát. 299 - Loạn Hấu Cảnh - Lý Bôn khởi nghĩa. 301- Triệu Quang Phục dùng du kích chiếm. 302 - Lý Thiên Bảo cũng mưu đồ khôi phục. 302.

; Sự xây dựng nền móng của Phật giáo Thiển tông. 305

CHư ơ n í; IV Chủ trương của Thiền tông - Bất lập văn tự. 308- Nhà tu thiền dắc

đạo 310.

: Dưới quyển cai trị của nhà Tuỳ và Đường. 313

CHươNCi V Sùng thượng Phật giáo. 314 - Cải tổ nền hành chính. Đặt An Nam đô hộ phủ. 320 - Các quan lại sang cai trị. 321 - Các danh sĩ người bán xứ. 323 - Giặc Đồ Bà và Côn Lôn. 327 - Giặc Nam Chiếu. 329 - Ảnh hưởng đến tàm lý người Lạc Việt. 331.

PMẨN T IIỨ T Ư THỜI KỲ T ự TRỊ

: Truyện nguồn gốc Rồng Tiên. 333

CHƯƠNG I Tại sao hiểu nó là truyện? 335 - Truyện có những gì ở nội dung? 335 - Đời sống của câu chuyện. 339 - Đặc tính văn hoá và chính trị của

10

truyện. 341 - Đáp ứne cầu dùng của giai đoạn. 341 - Truyện nảy sinh vào hồi nào?. 342 - Truyện do ai mà có? 342 - Tính cách thần kỳ quái đản. 343.

: Giành giật quyền tự trị

CHƯƠNt; II Họ Khúc - Dương Diên Nghệ - Kiều Công Tiễn. 345 - Trận Bạch

Dằn. 348.

TỔNG LUẬN 62 vấn dể dã trình hùv troiĩíỊ sách. 354

11

NGUỒN GỐC DÂN TỘC

c h ư o n í; m ỏ đ ầ u

NGUỒN GỐC DÂN TỘC

TÓM LƯỢC

Nguồn gốc thần kỳ về người Việt Nam là con Tiên cháu Rồng, chỉ

là một tác phẩm văn hoá và chính trị, không phải là sử.

Những giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt Nam chí mới là lấy lý

suy ra chứ chưa có gì đích xác.

Các học giả phương Tây có phương tiện, uy tín, phương pháp và bề thế hơn nên dễ được tin theo. Tuy nhiên, sự di dịch của người tiền sử ở phương Tây khác ở phương Đông, sự hiểu biết về diện mạo thực của trái đất hồi ấy vẫn còn dể nhiều nghi hoặc. Chứng tích là những sọ người ở lẫn lộn trons; những lớp đất không đồng tuổi; cả những dụng cụ cũng gây nhiều thắc mắc, và cũng khó đặt niềm tin cậy hoàn toàn vào những cổ thư Trung Hoa và Việt Nam.

Việc tìm nguồn gốc thực không nên coi là một cách làm chính trị

Đi tìm nguồn gốc thực

thì mới dễ có được thái độ phải chăng.

Vấn đề chính không phải tìm một vị thuỷ tổ rồi. sau sinh ra cả dân

Bộ lạc Giao Chỉ

tộc dông người mà là tìm một bộ lạc thuỷ tổ.

Danh lừ Lạc Việt chỉ nên dùng từ sau khi họ Thục dứt họ Hùng Vương đặt tên nước là Âu Lạc và có việc dân Hán lai giống với Bách Việt và Bách Việt lai giống với Giao Chỉ là dân Lạc ấy. Từ biến cố lịch sử ấy trở về trước, người Giao Chỉ là Giao Chỉ, không phải Lạc Việt.

15

Trong bài Sử Ta so với Sử Tàu, Nguyễn Văn Tô' đã trình bày rõ chữ Giao Chỉ đã được chép trong Sử Tàu lừ trước đời vua Nghiêu, và các quyển cổ sử khác đều không thấy có chữ tên Lạc Việt. Danh từ Văn Lang cũng như Việt Thường cũng đã dược chép trong các cổ sử ấy.

Duy có quyển Hậu Hán Thư (đời Hậu Hán) chép chữ Lạc Việt đồns

Thời tiền Lạc Việt dài tới đâu?

cổ trong truyện Mã Viện, nhưng vẫn viết “chinh Giao Chỉ”. Vậy, từ Hán trở về trước phải là tiền Lạc Việt, là Văn Lang, là Giao Chi.

Thử dẫn chứng khoa học

Theo Linh mục Lương Kim Định, luận theo nghĩa chữ Viêm tộc, Hữu Miêu, Tam Miêu, Xích Quỷ, Thái Hạo, Đế Minh v.v... có thấy ra mối liên hệ giữa Hồng Bàng với văn minh nông nghiệp của dòng họ Thần Nông thì niên kỷ lập quốc của họ Hồng Bàng, 2879 tr CN là có thể chấp nhận được.

Con sông Hồng và đồng bằng Bắc Bộ với những đặc tính của dòng nước và phù sa cho phép họ Hồng Bàng định cư ở Phong Châu nơi không ngập nước, lại đến đời Thục mới nổi vùng Đông Anh lên và cho phép họ Thục dựng thành cổ Loa. Thời gian cho sông Hồng bồi đắp 23 cây số như vậy phải ít nhất là 23 thế kỷ.

Họ Hổng Bàng

Vậy họ Hồng Bàng ở ngôi từ 2879 dến 257 tr. CN (tức là 26 thế kỷ) so với 23 thê kỷ là ít để có thành cổ Loa, ta thấy niên kỷ lập quốc không có gì ngoa cả.

Không thể chấp nhận được gốc cũ của ta là Tam Miêu. Cũng không thể nhất thiết cho ta là thuần giống của người Mân Việt

- Phúc Kiến di cư vào thời Việt Vưtmg Câu Tiễn (600 năm tr. CN).

Cũng không thế chấp nhận ta là thuần giống Thái từ Tây Tạng xuống. Thuyết được đông người tin hơn, với nhiều bằng chứng tồn tích nói

rằng ta là giống Anhđônêdiêng (Indonésien).

Nhưng công cuộc khảo cứu về tiền cổ sử vẫn chưa có những kết

luận dứt khoát để tin hẳn theo một chiều nào.

Địa bàn gốc tổ

Vậy thử làm ngược lại điều các nhà khoa học đã làm để nghiên cứu địa bàn gốc tổ của ta trước, xem nó cho phép một sự sống như thế nào, rồi sau đó sẽ tìm biết nhũng giống dân nào dã cư ngụ ở đó.

Sự cấu tạo địa hình của vùng bán đảo Trung ấn ở các nguyên đại I, II,

III, IV.

Đồng bằng Bắc Bộ 14.700 km' do sức nước của sông Hồng 700m Vg và 30.000m3/gvới sô' lượng phù sa 0,7 đến 3kg mỗi mét khối bồi đắp

16

hàiiíỊ ngày, mỗi thế kỷ đất lấn ra biển, ít ra được Ikm. Đất thoai thoải 22m mới có 1 ly thấp hơn nên lúc nào cũng sám sấp nước và ẩm ướt. nhiều khí độc khó sống. Đường sông chưa thành rất khó lưu thông.

Đồng bằng Thanh Hoá 3.100km‘ với sông Mã ít phù sa hơn, lại có những hòn đảo và tay núi vươn ra biển, dễ có đường vào, men theo sườn núi đế dễ thành một hái khẩu.

Vùng Thanh Hoá xưa là Cửu Chân có nhiều núi và hang động hiểm hóc cho người tiền sử cư ngụ và dùng làm căn cứ chống địch, lại thêm có muối và cá biển là lương thực thiên nhiên, nên được kể là dịa bàn lý tưởng của người tiền sử.

Nguyên nhân đẩy người đến cửu Chân

Vùng trung du Bác Bộ xưa là Phong Châu chỉ tốt cho việc canh nông khi các bộ lạc chuyển dời sống sang canh nông, còn trước là vùng đâì bất đắc dĩ mới phải đến trú ngụ.

Những người đầu tiên ở cửu Chân

Luồng sóng nước biển dẩy giạt các hải thuyền vào. Xoáy nước ở cửa Thần Phù cũng có thể làm đắm thuyền để người trôi giạt vào. Đầu tiên là tạm trú. Sau thấy là đất lý tưỏng thì định cư luôn.

Họ tới vào thời điểm lịch sử nào?

Con vượn bạc mày Quả nhiên hay Ca nhiên có phải là di duệ đã tàn tạ của một giống người tiền sử gốc ở địa phương chăng? Các người đi biển, từ Bắc Hải xuống và từ Nam Hải lên đều có thể đã có một phần hội tụ lại đó. cùng với những giống khác ở Trường Sơn và ca Tây Tạng nữa, để lai giống nhau thành người Giao Chỉ.

Giống Giao Chỉ

Đời vua Nghiêu (2359-2259) nãm thứ năm đã có sứ Việt Thường cống con rùa thần, trên mai có chữ khoa đẩu. Vậy gần 3.000 năm trước Công nguyên đã có giống Giao Chỉ.

Người Mường hiện nay còn giữ nhiều đặc chất Giao Chỉ. Người Mường ở rải ra trong vùng rừng núi từ Thanh Hoá ra tới Phú Thọ. Rõ ràng đã có một cuộc di cư từ gốc tổ thứ nhất (Cửu Chân) đến gốc tổ thứ hai (Phong Châu). '

V) vậy có thể chia ra Giao Chỉ miền Bắc và Giao Chỉ miền Nam

17

trong cùng một nền văn minh Vãn Lang.

NGƯỔN ( ỉ ố c THẨN KỲ

Truyện nguồn gốc thần kỳ về người Việt Nam cổ là con Tiên cháu Rồne chỉ là một tác phẩm văn hoá để tác động tâm lý quần chúng, xuất hiện trong thời điểm lịch sỉr tranh đấu quyết liệt để giành lại quyền tự chủ. Không thể khẳng định điều nói trong truyện là việc có thực“ ’.

Sự NGHIÊN CÚG N(ỈUỔN ( ỉ ố c THỤC

Cho đến cuối đời Lê đầu đời Nguyễn, người Việt Nam đã không coi .sự lìm hiểu nguồn gốc đích xác này là việc quan trọng. Để khỏi bận tâm nhiều, các sử gia có nhắc đến truyện thần kỳ ấy nhưng dè dặt không dám tin hẳn, cũng không dám bác hẳn, chí ghi lại một truyền thuyết.

Khi có các học giả phương Tây của Trường Viền Đòng Bác cổ Pháp

đặt thành vấn đề để tìm tòi. người ta mới lưu ý theo dõi để có ý kiến.

Vì những di tích lịch sử cũ ở những thời quá xa, đã không còn gì lấy làm chuẩn đích về sự di dịch hay hướng di dịch của các giống dân; lại vì đặc tính của các dân tộc cổ phương Đông cũng chỉ được miêu ta bàng một vài nét sơ sài trong một vài cổ thư của Trung Quốc, rồi cổ thư nọ chép lại của cổ thư kia, ngay cả tên dân, tên đất cũng có nhiều diều sai chệch, người ta dành chỉ còn cách căn cứ vào hình dáng bề ngoài của sọ người còn sống, so sánh với một vài sọ người thượng cổ còn sót lại, hay một số dụng cụ tự khí nào còn sót lại, để đặt ra những giả thuyết cho người Việt Nam cổ gốc từ dâu, lai với những giông nào, rồi di dịch từ đâu đến đâu. Người ta dã lấy ý để suy ra, mỗi người theo một chủ trương. Nhưng ai cũng có thể lại lấy lý để suy đi có lẽ cũng được cả.

Các nhà khoa học phương Tây có lợi thế hơn nhờ có chút ít di tích làm bàng chứng để nói có tính khoa học hơn, lại có các chứng chỉ chuyên môn về nhân chủng học, khảo cổ học và sẩn phương tiện xê dịch, khai quật, in ấn, lại có một phương pháp dẫn dạo cuộc lìm tòi, lẫn uy tín tinh thần của tổ chức Trường Viễn Đông Bác cổ.

Còn các học giả người bản xứ đã phái dùng không lì thì nhiều những công trình khảo cứu của các nhà khoa học phương Tây. Nếu có những điểm không đồng ý với nhau thì bên này và bên nọ lại viện dẫn tài liệu và lập luận của các nhà ấy ra cho thêm vững điều mình tin là đúng chân lý.

Việc nghiên cứu như vậy tuy đã tốn nhiều công nhưng đến nay vẫn

chưa soi sáng được gì nhiều vào cái thời còn hỗn mang cũ.

Xem quyển II, phần thứ tư, chương I.

18

U ớc mone lại sẽ có một thế hệ các học giả mới người bản xứ, thực sự tha thiết với công việc tìm tòi và thành lập được một tổ chức đứng đắn, có dồi dào phương tiện tài chính, để soát lại hết những gì đã tìm tòi về vấn đề này, rồi lại có điều kiện hoà bình để làm những cuộc khai quật ở những vùng gốc tổ. Như thế, trong một thời gian khá lâu, hoạ may mới‘ thấy có s;ì tương đối có thể tin được?

TẠI SAO VẬY? 1. Tại sự di dịch người các bộ lạc ở phương Tày không dùng làm lệ

chung cho bên phương Đông này được.

Phương Tày, thời tiền sử, bị băng giá rồi băng giá tan đi đóng lại tới ba bốn lần, các bộ lạc du mục phải dời bỏ các vùng băng giá mà xuống kiếm ăn ở vùng ôn đới.

Còn phương Đông thời ấy đã là vùng ấm áp. Gon ma mút đào được ở Xibêri trong miệng và trong bao tử còn cỏ tươi và còn cả hoa mọc ở nơi có mặt trời ấm áp, dã chứng tỏ diều ấy. Các bộ lạc người ở phương Đông vì thế đã không kéo nhau thành đàn di chuyển đi đâu ấp áp hơn mà sống cả. Nếu có cũng chỉ lẻ tẻ một số người phiêu lưu mạo hiểm đi tìm đất mới để sinh sống mà thôi.

Bên phương Tây dù đến vùng ôn đới cũng vẫn còn lạnh nên người ta phải vào ẩn núp trong hang đá để lại những xương hoá thạch, những dụng cụ, nhũng bích họa và còn cá những sự chồng chất lên nhau lớp trước lớp sau, cho phép có thể nhận ra những đoàn người nào đã từng di dịch tới vào thời khoảng nào.

Còn bên phương Đông đã ấm áp, người ta bất đắc dĩ mới phải vào hang, còn thường là ở hốc cây, ở nhà chòi trên cây. Đây là những thứ dễ bị mất dấu vết nên ít có những di tích thượng cổ sử.

2. Tại chính sự hiểu biết thực khoa học của người ta về diện mạo thực của trái đất ở thời tiền sử, trên đó con người sinh sống, di dịch, vẫn còn nhiều nghi hoặc.

19

Không tìm hiểu chỗ tại sao, chỉ nhận biết như R.A Daly trong Our Mơbile Earth, rằng vùng đồng bằng từ New lersey đến Nouvelle Ploride của miền Tây Hoa Kỳ gần đây còn bị ngập nước, sóng biển còn đập vào sườn núi Appalache và cả vùng Đông Nam rặng núi còn ngầm dưới nước, và tất cả nhô lên tạo thành vùng bờ biển Đại Tây Dương, chúng ta thứ đặt vấn đề: biết đâu chừng cả vùng đất ven biển Thái Bình Dương này lại đã không chìm sâu dưới nước và chỉ nhô lên về sau theo với núi Himalaya? Hoặc ngược lại, biết đâu cả vùng biển

Thái Bình Dương này vốn nổi trên mặt đất, mà chỉ mới chìm xuống theo hiện tượng tạo sơn của núi Himalaya?

Nếu điều ấy chưa có sự nhận định đích xác để có diện mục thực của những địa bàn, thì chưa thể nào có quyền dứt khoát ràng các giông dàn nào đã di dịch từ nơi nào đến nơi nào.

3. Việc có chứng tích là những sọ người, thì ta hãy nhớ sự ghi nhận sau đây của nhà khoa học Nga Immanuel Vclikovsky trong sách Tinh cáu va chạm {Mondes en collision, tr. 18): ''Nhiều văn đề tế nhị đã dặt ra, khi người ta tìm thấy sọ người mới, lổn với những xương hoá thạch của các giống vật dã mất tích trong những lớp dất cũ. Đôi khi, người ta dào mó rồi thấy sọ người à giữa trái núi dưới lớp hasalte hay dú rắn granit thật dẩy, như sọ ở Calaveras (Cali/ornia)".

Vậy không phải vì có mấy cái sọ ở Bắc Sơn mà đủ bắt được ai tin rằng đấy đã là người thuỷ tổ của giống Việt. Tại sao không thể có giả thuyết rằng đấy là sọ của mấy tên tù binh mà cha ông chúng tôi bắt về làm nô lệ?

4. Cả những dụng cụ bằng đá mài, bằng xương, hay những đồ đất nung và xương người tìm thấy dưới những lớp đất sét và sỏi do nước bồi, sâu có khi tới 30 thước, cũng đặt ra những vấn đề-thắc mắc không phải ít.

5. Đối với những văn kiện trong các cổ thư Trung Hoa và Việt Nam cũng vậy. Thường người nọ người kia về sau lấy ý riêng luận thêm vào, lẫn tài liệu nguyên bản với lài liệu dịch thuật (để bảo rằng cho người đương thời dễ hiểu) thì khó thể lấy đấy làm đích được. Chúng ta đặt vấn đề. với tất cả những điều thắc mắc trong mớ tài liệu và tồn tích quá lì ỏi ấy, việc tìm nguồn gốc liệu có bõ công khócủa kẻ tìm tòi không? Và tìm được hay không được thì lợi hại nhũng gì?

ÍCH DỤNG CỦA VIỆC TÌM NÍỈUỔN G ốc DÂN TỘC

Nhiều người di theo một mục đích chính trị đã nghiêns về chủ trương người Việt và người Thái cùng phát tích từ miền núi Tây Tạng, một đường theo dòng sông Hồng xuống, một đường theo dòng sông Mê Công. Dụng tàm của họ là mở lối sẵn cho một thứ chủ trương Đại Thái, qui tụ vào một mối các lãnh thổ từ Thái Lan đến bờ biển Đông. Đó là thứ chủ trương đế quốc đã lỗi thời, mà người như Hitler đã từng muốn làm để chứng minh dàn Đức là giống dân siêu việt.

20

Thế giới tương lai không phải là thế giới chia ra manh mún như vậy để chiến tranh liên miên với nhau. Vậy thì cái định kiến tìm nguồn gốc vì kiêu hãnh dân tộc đã chứa đựng ngay trong tự thân nó một sự cố ý dối trá rồi. Đấy không phải thái độ của người chân thành tìm chân lý.

Vả chăng, một nước như Hoa Kỳ, chẳng có nguồn gốc dân tộc nào xa xôi lâu đời, inà rồi hùng cường vẫn hùng cường, kiêu hãnh vẫn kiêu hãnh thì việc có hay không một nguồn gốc anh hùng không hẳn là một yếu tố tinh thần trọng đại cho sự tiến hoá.

Vậy thiết tưởng, chỉ nên có một thái độ phải chăng, không cần phải quá gay gát vì sự bất đồng ý kiến, để tìm nguồn gốc là để thoả mãn phần nào cái ý muốn biết về nòi giống cũ, rồi dốc tâm lo cho hiện tại và tương lai. Cô nhiên với thái độ ấy, càng bỏ được mưu định trình bày cho sự thắng thê cúa tư tưởng này hay tư tưởng khác thì càng khách quan hơn.

ĐI TÌ.M NÍÌUỚN (ỈỐC THỤC

Không thể đơn giản hoá câu chuyện đến mức như đổ nói vào trí tưởng tượng của người ta. mà tìm đến người Ihuỷ tổ chi duy nhất có ông và bà rồi sinh hoá thêm dần ra về sau.

Câu chuyện cháu ba đời vua Thđn Nông sinh Lộc Tục (Kinh Dương Vương) Lộc Tục sinh Sùng Lãm (Lạc Long Quân) Sùng Lãm sinh Hùng Vương v.v... cũng không khác bao nhiêu truyện ông Adam và bà Eva ăn trái cấm sinh Cain, Cain sinh Hênóc. Hênóc sinh Yrat, v.v...

Vấn đề chính vì vậy không phải là tìm một vị thuỷ tổ, mà là tìm một

BÓ LAC GIAO CHỈ

bộ lạc thu ỷ tổ.

DANH TỪ LẠC VIỆT

Không thể chấp nhận rằng người Giao Chi xưa vốn có tên là Lạc Việt. Chính người mình không tự gọi như thế. Từ Ngô Sĩ Liên qua Ngô Thời Sĩ. tới thời Tự Đức làm Khám Định Việt Sử, lại qua thế hệ Trần Trọng Kim (1919) soạn Việt Nam sử lược, không thấy ai dùng danh từ ấy.

Chi’ bát đầu từ Đào Duy Anh mới thấy có danh từ ấy trong sách Ni>nồn gỏc Dán tộc của ỏng. ông đã hiểu hình con chim khắc trên trống đồng theo các nhà khoa học phương Tây là có ý nghĩa tô tem và gọi nó là chim Lạc. Rồi ông lại dựa theo thuyết của Aurousseau mà cho rằng người Việt có máu anh hùng của Việt vương Câu Tiễn nằm gai nếm mật để phục quốc Vcà cuối cùng suv luận rằng người Việt ở vùng Phúc Kiến đã đi thuyền theo bóng chim Lạc rồi ghé lại vùng gốc tổ của ta mà trở thành người thuỷ tổ của ta.

21

Ông đổi cho người Việt ấy đi đường thuỷ để dùng được con chim Lạc, thay vì cho là họ chạy theo đường bộ như Aurousseau. Luận cứ của

ỏng có sai lầm lớn về địa điểm và thời gian nhưng lại gợi đúng tiềm thức quật khởi của dân tộc và thêm cả hai chữ Lạc với Việt vốn có từ xưa, nên ông móc nối lại thành từ kép mà không ai thấy là xa lạ đế đặt mối hoài nghi gì cả. Từ đó (1943) yên trí là đúng, người ta mới quen gọi Lạc Việt.

Ông lại nhân mạnh thêm rằng những người Việt ấy vẫn giữ tên Lạc khi đến nơi định cư mới, nên chính bằng tên Lạc Việt mà từ nay sử sách Trung Hoa gọi họ. Trái lại, sử sách Trung Hoa không hề gọi họ là Lạc Việt khi nào cả, vẫn chỉ gọi người ở Văn Lang là Giao Chỉ mà thôi.

D.ANH TỪ (ỈIA O CHỈ

Nguyễn Văn Tố, trong bài SửTa so với SửTàii có viết: "Chữ Giao Chỉ chép (ỷ sử Tàu trước nhất vào thời Thẩn Nông

(32 J 7-3077 tr. CN).

Quvển Thiếu Vi Tliông Giám {ngũ đế ngoại ki, uy 25a) viết chữ chỉ với hộ "phụ" bên. Cũng một íỊiivển sử Tàu nữa là quvển Ngự Phê Thông Giám Thọ Lãm {cỊuyển /, tờ Ilh) chép chữ Giao Chỉ vào thời Chuyên Húc (2513 tr. CN) thì lại viết chữ chỉ với "túc” hên. sử Ký (quyển ỉ, tờ Ih) của Tư Mã Thiên cũng chép chữ Giao Chỉ về dời Chuyên Hức, mà lại viết chữ chỉ với bộ "phụ ” bên. (Xem như thế thì viết chữ "chỉ” nào cũng dược).

Xưa nay người ta vần tưởng rằng Giao Chỉ dược chép trước tiên à Kinh Thư (thuộc về đời vua Níịhiêu 2357 tr. CN) nhưng chính ra trước dời vua Nghiêu độ 200 núm dã thấy chép trong sử Tàu. Bộ Lịch Đại Thông Giám (quyển I, tờ Ib) chép rằng: Vua Chuyên Húc 2513-2435 tr. CN đặt nước Tàu bấy giờ lủm chín châu (Duyệt, Ký, Thanh, Từ, Dự, Kinh, Lưưng, Ung, Tương) thông lĩnh muôn nước, phía Bác dến u Lăng, phía Nam đến Giao Chỉ, tức Nam Giao phía Tây dến Lưu Xi, phía Dông dến Bản Lộc". Quyển Thông Giám này của Triều dinh nhà Thanh lùm lại, sợ không dược chắc lắm.

Cho nên, tôi lại mở quyển sử Ký của Tư Mã Thiên là quyển sử có giá trị xưa nay, thì thấy chép về đời Chuyên Húc nước Tàu cũng giáp với Giao Chỉ nhưng lại chú là Giao Cháu, chứ không chủ lù Nam Giao như quyển Thông Giám.

22

Quyển Thiếu Vi Thông Giám {ngoại kỷ, tờ 25a) chép dời vua Thần Nông (3217-3077 tr. CN) đã có chữ Giao Chỉ: "Nam chí Giao Chi”' (phía Nam đến Giao Chỉ), dưới chú một doạn con rằng: "Giao Chỉ lù tên Quận nay là nước An Nam, .sách Thông Điển ciìa Dỗ Hưu chép rằng: người rợ phương Nam (dây là lời người Tàu) ngón chân cái mở rộng, nếu hai chân cùng dứní> thì hai ngón chân cúi Gao nhau, cho nên gụi là Giao C hỉ”.

Cứ như thế thì hai chữGiưo Chì đã có từ đời Thần Nông, so với chữ Giao Chỉ chyi Chuyên Hức cách nhau dến 600 năm. Quyển sử Ký của Tư Mã Thiên sc'f dĩ khôníị có doạn này là vì không chép đến đời Thần Nông.

Sử ta, như hộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (tiền hiên quyến I, tờ ỉa, và 4h) chép: “Vua Hùng Vương (chinh là Lạc Vương) dặt tên nước lù Vân Lang, dóng dô ở Phong Châu, chia nước làm 15 bộ, là hộ Giao Chỉ, hộ Việt Thường... Thế là Giao Chỉ về đời Hồng Bùng chỉ gọi là một tên hộ trong nước. Xem trong Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi thì hộ Giao Chỉ là Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên ngày nay. Nhưng người Tàu lúc thời hây giờ gọi nước ta là Giao Chỉ, một là theo đời trước, hai là Giao Chỉ là thủ dô nên gọi tắt như thế, ha lù nhân hình dụng ngón chân, vì có lẽ hấy giờ còn di díít hoặc di dép, chưa có mấy người di giầy nên sô dông vẫn có hai ngón chán cái giao nhau

Vậy Giao Chi là tên dân, sau được người Tàu coi là tên nước. Cho đến hồi Hán dẹp được Triệu (thế kỷ III tr. CN) thì là tên quận trung ương và tên bộ. Các sách Tàu như Hán Thư. Tiền Hán Kỉ, Thiếu Vi Thông Giám, Khâm Định Thông Giám Tập Lãm (do Nguyền Văn Tố dẫn) cũng đều chép tên là quận Giao Chỉ. Đó là những sách cổ, có trước thời Bắc thuộc.

Những quyển sách cổ có sau thời ấy của Tàu như: Nguyên Hoà Quận Huyện Chí, Thái Bình Hoàn Vũ Ký, Ngự Chế Thông Giám Tập Lãm, Thiếu Vi Thông Giám cũng chú.' nhà Hán định dặt chức Giao Chỉ Thứ sử.

Ta thấy không có tên Lạc Việt.

DANH TỪ VÃN LAN(Ỉ

Cũng trong bài đã dẫn, Nguyễn Văn Tố viết: “Hai chữ Văn Lang hắt dầu có từdcìi vua thứ ba họ Hồng Bàng (2879-

258 tr. CN) tức là Lạc Vương mù xưa nay vần nhầm là Hùng Vư(/ng

Mấy quyển sử ta dều chép rằng: “Khi Hùng Vương dã nôĩ ngôi của Lạc Long thì dặt tên nước là Văn Lang.

Mấy quyển sách Tàu cũ nhất cũng nói dển Văn Lang: Thuỷ Kinh Chú (của Lý Đạo Nguyên d('fi Hậu Nguy vào khoảng năm 386-534) chép tên nước Văn Lang, nhưng viết chữ Lang “Khuyển" hên, rồi đến quyển Thông Điển, quyển Nguyên Hoà, cùng trong dời Tống (khoảng năm 806- 820) thì một quyển chép Văn Lang (Thông Điển) một quyển chép Đại Lang (Nguyên Hoà). Sau đến quyển Thái Bình Ngự Lãm và Thái Bình

' Chúng tôi chú trương thí dụ có lầm, cũng cứ Hùng Vương mà gọi.

23

Hoàn Vũ, thì một quvển chép Văn Lanq chữ Lang “Ấp" hên (Thái Bình Nrự Lãm) chữ Lang nàv đúng với chữ tên nước ta mà sử thần dã chép ra khắp các sử Nam

Nhiều quyển khác, iheo Nguyễn Văn Tố, cũng có dùn2 chữ Nam Giao. “Chữ Nam Giao thấv trước nhất ở Kinh Thư. Bộ Ngũ Kinh Tường Thuyết, Thư Kinh (q.l5, tờ 14a) chép: “mệnh Hv Thúc trạch Nam Giao" (sai H\’ Thúc sang à Nam Giao) dưới chú thích rằng: “Nam Giao lù đất Giao Chì ở phương Nam" (Nam Giao: Nam phương Giao Chỉ chi dịa). Khâm Định Việt Sử Tiền Biên ql tờ 5h chép nguyên văn và chú thích dũng như thế. Sử Tàu cũng vậy, nay quyển Ngự Phê Thông Giám Tập Lãm (q.I tờ I3h) viết chữ “cư ” chứ khômị viết chữ “trạch"như Kinh Thư, vù chép vào năm Giáp Thìn (2357 tr. CN) lù năm thứ nhất dời vua Nghiêu, dưới chú thích rằny: “Nam Giao là dất Giao Chỉ, sách dịa lý Kim Thích cho lù nước An Nam lĩíỊày nay". Mấy chữ An Nam là lội của triều thần Kiền Long (1736-1793).

Năm thứ nhất vua Nghiêu m>ang với năm 523 của họ Hồng Bùng: bên ta đã có tên nước thểniLt hên Tàu vẫn gọi là Nam Giao hay Giao Chỉ. Có lề tại bấy giờ nước ta chỉ tiếp giáp với Tàu, chứ chưa cố giao thiệp gì nên hân Tâu vẫn chưa biết tên ”.

Người ta cũng dùng chữ Việt Thường nữa. Nguyễn Văn Tố viết: “Đến Việt Thường (nghĩa là xiêm nước Việt) một bộ của Văn Lang, người Tàu cũng cho là tên nưk/c. Sách Ngự Phê Thông Giám Tập Lãm (q.l tờ 14 a) chép: “Năm thứ năm dời vua Nghiêu (tức năm Mậu Thân, 2353 tr. CN) người Việt Thường đến chầu; phải hai lần thông ngôn dâng rùa lớn sống nghìn năm, vuông non 3 thước, trên mai cỏ dấu chữ Khoa dẩu (lù tối chữ Tàu cổ, hình giống con nòng nọc) chép từ khi mà trời đất. Vua Nghiêu sai chép vào sách.

24

“Chỗ này sử Tàu chú nghĩa chữ Việt Thường: ở phía Nam Giao Chỉ, dời Tần lả huyện Làm Ẩp, đời Hán lù Tượng Lủm, từ d('n Tần về sau là nước Lâm Âp, sau rồi là nước Chiêm Thành (chữ Phạm gọi là Champa). Xem qua chỗ chú nghĩa ấy có người tưởng Việt Thường không phái nước ta, nhưng dây sửTàu chỉ chú từ dời Tần trà xuống cỏn Tẩn trở lên ngang với nước ta vào dời Lạc Vương thì trong 15 hộ của Lạc Vương có hộ Việt Thường, sử Táu không chép Việt Thường hộ, mà chép lả Việt Thường thị, gọi tắt là nước Việt Thường. Cùng một việc ấy, hèn sử ta chép rằng: “mới hắt đẩu sai sứ sang nhà Đưcmg dáng thân quỉ” Tuy không chép rỗ Việt Thường hay Giao Chỉ nhưng chép vào đời Lạc Vương, mà Lạc Vương hấy giờ dã có tên là nước Văn Lang; chính việc sai sứ sang Tàu là việc của nước Văn Lang mà hên Tàu gọi là Việt Thưèmg. Quyển Việt Kiều Thư (q.3 tờ la) chép hẳn lù Việt Thường quốc.

“Cáclì một tỉí>hìn năm, đến nùm Tân Mão ị l l 10 tr. CN) là năm thứ sán dírì viiư Thành Vinmg nhà Chu, sửTùii chép rằng: '‘Phía Nam Giao Chỉ có người Việt Thườníị sang Tàn dâm’ hạch trĩ, qua hai ha lần thông ngón, nói rằng: "dường sú xa xôi non sông cách trử, sự rằng một lần thông sứ klìôni’ hiển tiếng nhan, cho nên phải qna ha lần thông ngôn để sang chân Chn Công nói: "Đức trạch không khắp ú/i nơi, người quán tử không nhận lể sơ kiến. Chính lịch không khắp tới mri, người quán tử không nhận người ấy .xưng thán". Ngitời thòng ngôn dáp rằng: "Tôi váng mệnh những ỏng già nước tôi hdo: TiTri không gió dữ mưa dầm bể không nổi sóng dã ha năm, hẳn là Trung Quốc có thánh nhân, sao không sang chầu Chu Công dem dâng cho vua nlìù Chu, dế dâng cho thần linh của tiên vương, rồi dem dáng lên cung diều. Dến khi sứ gid về, quên mất dưkmg, Chu Công cho năm cỗ hiền .xa, hấn mặt có diềm che dêu làm cách thức chỉ nam, sứ giả di xe ấy, từ dường hể nước Phù Nam ở cõi dất nước Cao Mên thời .xưa của Lâm Ảp (Chiêm Thành) dây năm tròi mới về dển nước. fNgự Phê Tliông Giám Tập Lãm (q.3 tờ 10) Thiếu Vi Thông Giám quyển Chu ngoại kỉ ịtờ 70h-7Ia) Khâm Định Việt sử Tiền Biên (q.Ị tờ ố a-h).

SửTàu Thiếu Vi Thốna Giám (tờ 70a) chú giai rằng: “Việt Thường tù tên một nước âphương Nam, ứ phía Nam Giao Chỉ (Nam phương quốc danh, tại Giao Chi’ Nam) lại dẫn Hán Địa Lý Chí, chép: có quận Giao Chỉ nguyên là dất Nam Việt. Năm thứ sáu hiệu Nguyên Đình (ìỉỉ tr. CN) dời Vua Vũ Đ ế đặt ra và chú: "Hai ngưcyi thông ngôn gọi lá dịch: trùng tam dịch, qua ha người thông ngôn. ('Thiếu Vi Thông Giám t('r I7a). Thực ra cũng lại không thấy có chữ tên Lạc Việt.

SỚ Dĩ CÓ TÊN LẠC VIỆT LÀ 1)0 ĐÂU?

Ngay những sách Giao Châu Ngoại Vực Ký (Aurousseau cho Là xuất hiện vào đòi Tấn 205-420) mà Thiíỷ Kinh Chú (thế kỷ thứ VI) lập lại, hay Quảng Châu Ký mà Tư Mã Trinh chú giải Sử Ký của Tư Mã Thiên đã dẫn lời họ Đào, cũng chỉ thấy nói đến Lạc dân, Lạc vương, Lạc hầu. Lạc tướng, Lạc diền, không có chữ nào là Lạc Việt cả.

Duy chỉ có sách Hậu Hán Thư của Phạm Việp chép chuyện Mã Viện có dùng đến chữ Lạc Việt đồng cổ mà thôi, nhưng lại vẫn viết: chinh Giao Chỉ

Trong bcài Lịch sử Lạc Việt của Linh mục Nguyễn Phương đăng ở Bách Khoa số 196, đoạn dẫn lời Hậu Hán Thư kế truyện Mã Viện: Viện hảo kỵ, thiện hiệt danh niã, chinh Giao Chỉ, dắc Lạc Việt dồng cớ v.v’...Viện cưỡi ngựa giỏi, khéo phân biệt (thiện biệt) hình dáng những con ngựa hay nổi tiếng (danh mã), khi qua đánh Giao Chỉ, bắt được trống dồng Lạc Việt ...

25

Sách này có sau đời Hán. nghĩa là sau khi nước ta đã bị nội thuộc Trung Hoa, và đã có một sự kiện lịch sử là họ Thục thay ngôi Hùng Vưoìig, đổi tên nước Âu Lạc, thêm một thực tế xã hội khác là sự pha giống giữa người Bách Việt và người dân Lạc. Tên Lạc Việt nói lên sự pha giống ấy

Vậy cần xác định thời gian để chính danh: Lạc Việt chí nén được ké’ từ thời Thục về sau, còn từ đời Thục về trước là Văn Lang, Giao Chỉ, hay nếu thích dùng Lạc Việt thì phải chỉ đích là tiền Lạc Việt.

THỜI TIỀN LẠC VIỆT DÀI TỚI H ốl NÀO?

Linh mục Lương Kim Định trong bài Ba cíợt văn minh đãng trong

Bách Khoa .vơ 305 ngày 15-9-1969 đã viết:

“Cớ người cho rằmị cúc cụ xưa thêu dệt khi tnóc nối tổ’ tiên Việt vào họ Thần Nông. Đó không plìdì là thâu dệt, mù tất nhiên phải như thế, hài vì Bách Việt với Tam Miêu là hai ngành lớn của Viêm tộc. Viêm tộc là dòng dõi Thần Nông và Thần Nông dây không nên hiểu là một nhân vật, nhưng là một đợt văn minh dã di vào nghề nông. Thổn Nông lấv hiệu là Viêm Đế. Chữ Viêm ghép hởi hai chữ Hod nên Thần Nông cũng là thần Lửa, vì có thể do hai lý do sau: một là để duy trì kỷ niệm phút minh ra lửa (Toại Nlìưn) hai nữa là dùng lửa dốt rảy phú hoang dể cấy lúa. Vì một hoặc cả hai lý do mà từ dấy vể sau nông nghiệp và lửa gắn liền với Viêm tộc trong rất nhiều danh hiệu như Xích Quỷ ịíỊué li) Thái Hạo, Đ ế Mình v.v... vì thế, con cháu Thần Nông hay những người lùm nghe nông dầu tiên gọi là Viêm tộc. Và khi sử viết rằng cháu ba dời vua Thần Nâng là Đ ế Minh thì chỉ có ỷ nói dến mối liên hệ nông nghiệp dó. Có lẽ người .xưa dã muốn ghi mối liên hệ này vào dạng tự chữ Việt và Miêu, vì chữ "Việt’' han dầu viết với bộ me lù gạo, còn chữ "Miêu " lù bộ tháo với chữ diền, nói lén rõ tính chất nông nghiệp, nên trong Kinh Thư gọi là Hữu Miêu, nghĩa lù dân có ruộng. Vì mối liên hệ văn minh nông nghiệp này nên việc gì xdy tới cho Thần Nông, cho Hữu Miêu thì cũng âm vang .sang Bách Việt vì cả hai dều là con cháu Thần Nông, cùng là Viêm tộc, tức cùng .sống trên cảnh vựd~' cùng chung một nền văn hoá nông nghiệp, mù

Và cần dược hiểu theo nội dung ấy, chứ không phải nội dung của Đào Duy Anh coi tố tiên trực tiếp và thuần khiết của ta là người Lạc Việt vùng Phúc Kiến (Có nói rõ ớ những trang sau).

Miền đất chiêm cứ của Tam Miêu có thế quy định phần nào xuyên qua sử liệu cúa Tứ truyện (Chiêu Nguyên Niên) hay Chiến (/Iiốc .sách (quyến 14) phía trái là hồ Bành Lãi (Bành Dương Hồ) phía phải là Động Đình Hổ và Vân ,Scm ở mạn Nam, còn Bắc là núi Hành Sơn. Có thể xem thêm Kinh r/;;r(Legge p. 39). Như thế Tam Miêu lân bang với Bíích Việt nếu không phải là quê hương Bách Việt (Lbi chú của tác giả).

26

sự kiện lịch sử lớn lao hơn hết tronịị nền văn hoá này là việc chânq lại nên văn hoá du mục của Hoa lộc, tuy dến sau nhưng lại mạnh hưn Nhưng mạnh hơn vê vỗ lực mù lại yếu hơn về tinh thần, nên cuối cùng mỗi hèn dóng góp một klìía cạnh để tạo ra nền Nho ^iúo nguyên thuỷ.

“ Theo lưu truyền thì Phục Hy .xuất hiện vào lối 4480 đến 4396. Thần Nông từ đời 3320-3080. Huyền sử nước ta cũng đặt họ Hồng Bùng vào giai doạn đầu này tức là năm 2879. Hoàn^ Đ ế năm 2697, như thế là Hổng Bàng có trước Hoàng d ế 182 năm tức là ba con Giáp.

“... Dầu sao thì niên kỷ Hồng Bàng 2879 muốn nói lên rằnẹ nưéìC Việt dã được khai CỊUỐC trước dời Hoùni> Để, trước khi Hoa tộc tràn vào lối ha con giáp, tức lù dã hiện diện ngay tự đời Tam HoàitíỊ, và dặt nền móng cho văn hoá, rồi mãi .sau Hoa tộc mới lếch thếch kéo tới”.

THỦ DẪN CHÍTNG k h o a h ọ c

Vì nhiều lý do khiến ta không thể nhìn nhận sự móc nối tổ tiên Việt vào họ Thần Nông là sử được. Nhưng để tránh khỏi bị những nhà khoa học bây giờ chê câu chuyện Rồng Tiên là trâu ma rắn thần rồi phủ nhận luôn cả đoạn lịch sử đời vua Hùng, chúng tôi xin có những dẫn chứng khoa học sau đây, hiện nay vẫn có thể kiểm chứng được để nói rằng; Thần Nông và họ Hồng Bàng, dù có liên hệ gì với nhau, như lời Lương Kim Định, hay là hoàn toàn biệt lập không biết đến nhau, thì cái niên kỷ Hồng Bàng 2879, vẫn là cái niên kỷ có thể nhận là đúng được.

Dẫn chứng khoa học ấy là con sông Hồng và vùng đồng bằng Bắc Bộ, mà những đặc tính thiên nhiên của nó từ năm ngàn năm trước đến nay vẫn không vì một dổi thay chính sự nào của loài nsười mà thay đổi chút gì cả.

Con sông ấy dài 1200km bắt nguồn từ Vân Nam rồi vào Bắc Bộ. Các nhà chuyên môn Pháp trong sở Trị thuỷ đã đo đạc, nghiên cứu trong nhiều năm, đã nhận định rằng:

1- Lưu lượng của con sông ấy là 700 mét khối mỗi giây lúc bình thường Vcà 30.000 mét khối mỗi giây vào mùa nước lũ. 2- Nó chứa trong dòng nước của nó một số lưọng phù sa cân được từ 0,7kg đến 3kg mỗi mét khối nước.

3- Đồng bằng Bắc Bộ tiếp nhận được 130 triệu tấn hay 80 triệu mét khối đất phù sa mỗi năm.

4- Nếu có đê dồn nước về một phía thì đất phù sa bồi lên, mỗi năm có thê đẩy lùi biển ra được lOOm tức là lOkm mỗi thế kỷ.

27

5- Nếu không có đê, cứ mặc cho nước loang ra thì mùa nước đồng bằng Bắc Bộ sẽ có từ 10 đến 1 l.OOOkm^ ngập nước và Hà Nội cao 4m sẽ ở dưới mực nước, cao 12m30.

Sách này có sau đời Hán. nghĩa là sau khi nước ta đã bị nội thuộc Trung Hoa. và đã có một sự kiện lịch sử là họ Thục thay ngôi Hùng Vương, đổi tên nước Âu Lạc, thêm một thực tế xã hội khác là sự pha giống giữa người Bách Việt và người dân Lạc. Tên Lạc Việt nói lên sự pha giống ấy

Vậy cần xác định thời gian để chính danh: Lạc Việt chí nên được kể từ thời Thục về sau, còn từ đời Thục về trước là Văn Lang, Giao Chi, hay nếu thích dùng Lạc Việt thì phải chí đích là tién Lạc Việt.

THỜI TIỀN LẠC VIỆT DÀI TỚI H ổl NÀO?

Linh mục Lương Kim Định trong bài Ba đợt vùn minh đăng trong Bách Khoa .vô'305 ngày 15-9-1969 đã viết:

“Có m>ười cho rằníỊ cúc cụ xưa thêu dệt khi móc nối tổ tiên Việt vào họ Thần Nông. Dỏ không phdi là thêu dệt, mà tất nhiên phủi như thế, hài vì Bách Việt với Tam Miêu lù hai ngành lớn của Viêm tộc. Viêm tộc là dòng dõi Thần Nông và Thần NÔUÍ> dủv khàng nên hiểu là một nhân vật, nhưng lù một đợt văn minh dã di vào nghê nông. Thần Nông lấv hiệu là Viêm Đế. Chữ Viêm ghcp hài hai chữ Hod nên Thần Nông cũng lù thần Lửa, vì có thể do hai /ý do sau: một là dể duy tri kỷ niệm phát minh ra lửa (Toại Nlìưn) hai nữa lù dùng lửa dốt rẫy phá hoang dể cấy lúa. Vì một hoặc cd hai lý do mù từ dấy vể sau nông nghiệp vù lửa gắn liền với Viêm tộc trong rất nhiều danh hiệu như Xích Quy ịcpiẻ li) Thái Hạo, Đ ế Minh vi thế, con cháu Thần Nông hay những người lùm nghề nông dầu tiên gọi là Viêm tộc. Vù khi sử viết rằng cháu ba dời vua Thần Nông là Đ ế Minh thì chỉ có ý nói dến môi liên hệ nông nghiệp dó. Có lẽ người .vua dã muốn ghi mối liên hệ này vào dạng tự chữ Việt và Miêu, vì chữ “Việt ” han dầu viết với hộ mễ là gạo, còn chữ “Miêu ” lù bộ thảo với chữ diền, nói lên rõ tính chất nông nghiệp, nên trong Kinh Thư gọi là Hữu Miéu, nghĩa là dán có ruộng. Vì mối liên hệ văn minh nông nghiệp này nên việc gì xdy tới cho Thần Nông, cho Hữu Miêu thì cũng âm vang .sang Bách Việt vì cả hai dều là con cháu Thần Nông, cùng là Viêm tộc. tức cùng sống trên cdnlĩ vựC~' cùng chung một nền văn lĩoá nông nghiệp, mù

Và cấn được hiểu theo nội dung ấy, chứ không phải nội dung của Đào Duy Anh coi lố tiên trực liếp và thuần khiết của ta là người Lạc Việt vùng Phúc Kiến (Có nói rõ ở những trang sau).

Miền đất chiếm cứ của Tam Miêu có thê quy định phần nào xuyên qua sử liệu của Tá truyện (Qúêu Nguyên Niên) hay Chiến cỊuấc sáclì (quyến 14) phía trái là hồ Bành Lãi (Bành Dưong Hổ) phía phải là Động Đình Hồ và Vân Srm ở mạn Nam, còn Bắc là núi Hành Sơn. Có thể xem thêm Kinh 7/»r(Lcgge p. 39). Như thê'Tam Miêu lân bang với Bitch Việt nếu không phái là quê hưoìig Bíích Việt (Lơi chú cúa tác giả).

26

sự ki ân lịch sử lớn lao hơn hết troiĩịỊ nén vãn hoú này lù việc chốmị Un nển vún hoá chi mục của lloa tộc, tuy dến sau nhưng lại mạnh hơn Nhưng mạnh hơn vể võ lực mù lại yếu hơn về tinh thổn, nên cuối cùnu mỗi hên dóng góp một klìía cạnh dể tạo ra nền Nho giáo nguyên thuv.

"... Tlìco lưu truyền thì Phục Hy .xuất hiện vào lối 4480 đến 4396. Thán Nông từ dời 3320-3080. Huyền sử nước ta cũng đặt họ Hồng Bùng vào giai doạn dầu này tức là năm 2879. Hoàng Đ ế năm 2697, như thế là Hổng Bùng có trước Hoàng d ế 182 năm tức là ha con Giáp.

"... Dầu sao thì niên kỷ Hổng Bùng 2879 muốn nói lên rằng nước Việt dã dược khai qiưíc trước díìi Hoàng Đê, trước khi Hoa tộc tràn vào uíi ha con giáp, tức lù dã hiện diện ngay tự dời Tam Hoàng, và đặt nền móng cho văn hoá, rồi mãi sau Hoa tộc m('n lếch thếch kéo tới".

THỬ DẪN CHÚNG KHOA HOC

Vì nhiều lý do khiến ta không thể nhìn nhận sự móc nối tổ tiên Việt vào họ Thần Nông là sử được. Nhưng để tránh khỏi bị những nhà khoa học bây giờ chê câu chuyện Rồng Tiên là trâu ma rắn thần rồi phủ nhận luôn cả đoạn lịch sử đời vua Hùng, chúng tôi xin có những dẫn chứng khoa học sau dây, hiện nay vẫn có thể kiểm chứng được đế’ nói rằng: Thần Nông và họ Hồng Bàng, dù có liên hệ gì với nhau, như lời Lưong Kim Định, hay là hoàn toàn biệt lập không biết đến nhau, thì cái niên kỷ Hồng Bàng 2879, vẫn là cái niên kỷ có thể nhận là đúng được.

Dần chứng khoa học ấy là con sông Hồng và vùng đồng bằng Bắc Bộ, mà những đặc tính thiên nhiên của nó từ nãm ngàn năm trước đến nay vẫn không vì một dổi thay chính sự nào của loài người mà thay đổi chút gì cả.

Con sông ấy dài 1200km bất nguồn từ Vân Nam rồi vào Bắc Bộ. Các nhà chuyôn mòn Pháp trong Sở Trị thuỷ đcã đo đạc, nghiên cứu trong nhiều năm, đã nhận dịnh rằng: 1- Lưu lượng của con sông ấy là 700 mét khối mỗi giày lúc bình thường và 30.000 mét khối mỗi giây vào mùa nước lũ. 2- Nó chứa trong dòng nước của nó một số lượng phù sa cân được từ 0,7kg đến 3kg mỗi mét khối nước. 3- Đồng bằng Bắc Bộ tiếp nhận được 130 triệu tấn hay 80 triệu mét khối đất phù sa mỗi năm. 4- Nếu có đê dồn nước về một phía thì dất phù sa bồi lên, mồi năm có thô’ dẩy lùi biển ra được lOOm tức là lOkm mỗi thế kỷ.

27

5- Nếu không có đê, cứ mặc cho nước loang ra thì mùa nước đồng bằng Bắc Bộ sẽ có từ 10 đến 11 .OOOkm^ ngập nước và Hà Nội cao 4m sẽ ở dưới mực nước, cao 12m30.

6- Đồng bằng ấy đất thoai thoải, không cao thấp hơn nhau nhiều. Điểm gốc ở Việt Trì mà sông Hồns bát đầu vào đồng bằng đã chí cao hơn mặt nước biển lOm, mà ra tới biển còn 220km nữa. Như vậy là 22m mới có 1 ly thấp hơn, mà ra tới biến còn 220km nữa. Như vậy là 22m mới có 1 ly thấp hơn, kế như khône có dốc vậy. 7- Và biển Bắc Bộ dưới đáy chí thoai thoải, với nhiều chất hữu cơ do phù sa tải đến, để ăn lấn ra rất xa. hiện tới 20km, mà cũng chí sáu có 80m.

8- Trong diều kiện ấy, nếu sông Hồng không có đê giữ nước và dồn về một phía thì nước sẽ tráng phù sa lên khắp đồng bàng và phần nào cá dáy biển thoai thoải nữa, đổ mỗi năm đất liền cũng vẫn sẽ cứ đẩy lùi biển ra, nhưng rất chậm khoảng 1 km mỗi thế kỷ thôi, nghĩa là mỗi năm lOm. Chúng lỏi dựa vào con số tối thiểu là 1 km mỗi thế kỷ (lOm/mỗi năm) để suy luận:

A- Hồi họ Hồng Bàng bắt dầu đến dịnh cư tại đồng bằng Bác Bộ, chưa rõ vào năm nào, chỉ biết ràng cố nhiên phủi ở trôn vùng đất cao ráo không bị nước ngập.

B- Vùng cao ráo không bị nước ngập, lại có những ruộng làm ơ trên dồi (nay vẫn còn) là vùng Phong Châu gồm Việt Trì, Phú Thọ, Sơn Tâv, Vĩnh Yên, Phúc Yên. C- Vậy bên dưới vùng ấy ở hồi dầu, họ Hồng Bàng đến dinh cư còn ngập nước cả. D- Vùng bị ngập nước ây hàng năm vẫn được phù sa bồi dắp, dể vì không có đê mà dẩy lùi biển hàng km một thế kỷ.

E- Đến năm 257 tr. CN. Thục Phán chiếm nước Văn Lang, dứt được họ Hồng Bàng đặt tên nước là Âu Lạc và dời đổ về thành cổ Loa tại Phong Khê, thuộc phủ Đông Ngạn (Đông Anh) tỉnh Bắc Ninh. Vậy năm 257 này, vùng cổ Loa đã ở trên đất liền.

F- Từ Phúc Yên tới cổ Lơa cách nhau 23km. ít nhất đã phải có 23 thê kỷ tròi qua, thì cổ Loa trước chìm dưới nước mới nổi lên mặt đất được. Vậy họ Hồng Bàng định cư ở Phong Châu, bôn bờ biển ít nhất cũng đã tồn tại dược 23 thê' kỷ rồi mới bị họ Thục dứt nghiệp.

Như thế, họ Hổng Bàng từ 2879 đến lúc mất ngôi năm 257, theo sử chép, đã trị vì được 2622 năm, lức là 26 thế kỷ. so với số 23 thê kỷ cần phái có, để vùng Đông Anh nổi dược trên mặt dất mà dựng thành c ổ Loa. ta thấy niên kỷ lập quốc không có gì là ngoa cả.

HỌ HỔN(; BÀN(Ỉ

28

Trừ khi chứng minh được bộ lạc thuỷ tổ của Giao Chỉ là bộ lạc Tam Mièu thuộc nhóm Bách Việt ở miền Nam Trung Hoa thì cả đoạn sử tiền

Lạc Việt 26 thế kỷ mới kể được là Lạc Việt. Còn không thì phải kể nó là Văn Lang và dân Việt thái cổ vẫn chỉ có tên là Giao Chi.

Nhưng làm thế nào chứng minh nổi gốc cũ là Tam Miêu? Mặc dầu sử cũ có ghi, và mặc dầu có những lý luận của Lương Kim Định dựa vào những nghĩa chữ, chỉ có ở 1500 năm sau? Cụ thể htm, chúng tôi muốn hỏi làm thế nào đem được một nhóm bộ lạc canh nông đương có ruộng (gọi Hữu Miêu), đi qua cả ngàn vạn ngọn núi, đến một nơi cách xa cả 1300 cây số đưòìig chim bay, mà nơi ấy ruộng lại chưa thành ruộng? Nếu là bộ lạc du mục săn bắn thì có thế chấp nhận cuộc di cư xa đến như thế hay hơn nữa cũng được. Còn canh nông thì không hề có bộ lạc nào ngoi đi xa đến thế. Bởi canh nông dù bị Hoa tộc đánh đuổi thì trên đường tỵ nạn, hễ thấy đất trồng trọt được là họ dừng chân dịnh cư liền. Cho nên không thể nhận gốc cũ của la là Tam Miêu. * *

*

Thuyết khác dựa vào sắc thái Mông cổ trên một sọ người tiền sử lìm thấy ở Bác Sơn pha trộn với sắc thái Anhđônêdiêng, và vì hiện tại người Việt có lai Trung Hoa, nên nhận rằng con chim Lạc vẽ trên trống đồng là con chim vật tổ của giống dân đi biển theo gió mùa và theo cánh chim dẫn mà xuôi ngược. Lại bởi thanh âm của ta hao hao giống thanh âm người Phúc Kiến nên thuyết ấy cho rằng có lẽ ta là dân nước Việt của người anh hùng Câu Tiễn từng nằm gai nếm mật để phục quốc.

Chúng ta không thể chấp nhận được thuyết ấy, bởi lẽ Việt vương Câu Tiễn chỉ đốn đời Xuân Thu mới có (khoảng 6-700 năm tr. CN) còn người Giao Chỉ và họ Hồng Bàng đã định cư ở Phong Châu trên 26 thế kỷ rồi. Vả chăng, một cái sọ người lai là không đủ để nói rằng cả nhóm người ở đó lai Mông cổ hết, và cái vết ấy theo nhiều nhà khoa học Pháp khác chí là một sự tráng men vé sau này mà thôi.

Thuyết khác nữa dựa vào tiếng nói (cố đạo Souvignet tìm thấy có 1088 tiếng Việt giống với tiếng Thái) và dựa nơi tầm vóc cùng màu da giống nhau để cho rằng ta và người Thái cùng gốc ở miền Tây Tạng, một nhánh đã theo sông Mê Công xuống lập ra nước Thái Lan, Lào và một nhánh theo sông Hồng xuống lập ra nước Nam ta.

29

Thuyết ấy cũng không vững ở điểm những điều kiện khí hậu bắt một bộ lạc ở phương Tây phái di cư dã không hề giống với những điều kiện khí hậu ở phương Đông. Bên phương Tây trải những thời băng giá,

rồi băng giá tan, đế lại băne giá, lại tan, có đến 3,4 lần, khiến những bộ lạc du mục ở Bắc Băng Dương phải lùi mãi xuống vùng ôn đới. mới có ãn và có cỏ cho gia súc. Còn phương Đông cả vùng Xibêri đã có thời là ấm ấp cho cỏ hoa vùng ôn đới mọc và cho con ma mút ăn cỏ ấy rồi đột nhiên bị chết vùi trong tuyết lạnh đến bây giờ, nghĩa là khí hậu chỉ thấy có một lần thay đổi, dân nào ở dâu đã quen thì ở đó chứ không bị xáo trộn như phương Tây. Cho nên khó có dân vùng núi tuyết lãnh lẽo ở Tây Tạng lại sống quen nổi thuỷ thổ nóng bức vùng Bắc Bộ và Thái Lan.

Còn thấy vì có những người thiểu sô' là Thái trắng, Thái đen, hiện ở vùng sơn cước của ta, mà cho rằng hẳn phái có cuộc xê dịch từ Tây Tạng xuống thì chỉ là một cách suy luận, không phải một sự chứng giải.

TLiuyết khác nữa, được nhiều người tin hem, dựa nơi hiện còn nhữna người Mường ở vùng núi từ Thanh Nghệ ra tới Ninh Bình, Hoà Bình, Sơn Tây, Phú Thọ không bị chất men Trung Hoa tráng lên quá đậm như người Việt ở vùng đồng bằng và còn giữ được nhiều đặc tính của giống dân Anhđônêdiêng mà các nhà khảo cố chứng minh được ra bằng những sọ người tiền sử tìm thấy ở Thanh Hoá, Hoà Bình, Bắc Sơn, có dấu tích chứng tỏ thuộc giống Anhđônêdiêng, thêm những hình vẽ trên trống đồng đào được ở Đông Sơn, Ngọc Lũ, có hình thuyền còn thấy nơi một bộ lạc Dayak, ở đảo Boméo dùng để cúng và dưa hồn người chết về Tây Phương cực lạc.

Nghĩa là theo những bằng chứng còn di tích ở thời cổ và những bằng chứng hiện có thì cái gốc Anhđônêđiêng của người Việt xưa đã có vẻ rất chắc. Nhưng lại còn đáng ngờ một điều không rõ là người Anhđônêdiêng ở quần đảo đã di cư tới đông đảo tại vùng sơn cước của ta hay họ đã từ vùng sơn cước ấy mà di cư ra các hải đảo rồi sinh hoá ra nhiều như bây giờ

Tuy nhiên, công cuộc khảo cứu về tiền sử ấy, dù đã được các nhà khoa học phương Tây kiên nhãn và nối tiếp nhau làm đã 60 năm rồi

(I ) Theo các tác giả J. Hornell, p.v. van Callentels, R.von Heine Gelder, N.I. Krom thì đã có một làn sóng người lừ Đông Dương và Nam Hái tràn vào Ân Độ trước khi có cuộc xâm lăng của người Aryen.

Các tác giả khác s. Lévi, H. Kern, P.Pr/.yluski, A.M. Hocart, R. c. Mạiumdar chủ trương ngược lại là người Aryen xâm nhập Ân Độ ở phía Tây Bắc đã xô đẩy thổ dàn ở Đông và Nam Ân về Đông Dương và Nam Hải, những thổ dân này dã làm một cuộc Ân Độ hoá tiền Aryen, tại các vùng đất họ mới di cư đến, trong khi dân chúng Anhđônêdiêng thì đã có thế bỏ đất liền để về sinh sống trên quần đảo.

30

nhưntỉ cũng vẫn chưa tới được mộl kết luận dứt khoát, dể có thể tin một cách chắc chắn, chỉ nói nội phạm vi của cái gọi là gốc Anhđônêdiêng này. Hầu như gđn hết các nhà khoa học đã không quên dùng ctiữ có lẽ, dể nói rõ sự tồn nghi, như J. Sion, trong sách Asie cles moussons (tr. 483).

Người Anhđônédiêng có lẽ lù tu>ười cổ Mã Lai (proío - Malais) mù thời iỉian sốníỊ làn ở trung tám nltữn^ tìdi cỉào lớn dã cho phép họ giữ dược nhiéii tính chất thuần tuỷ của dỏng giốiĩíị, mặc dầu có sự pha trộn máu với thổ dân dịa phươmị: như người Bataks ở đáo Sumatra, níịười Davaks ở dáo Bornéo, rưịười Al/ours ở ddo Célèhes và Moluques. Nqười Mã Lai có lẽ chi’ là m>ười AnhdôncdiêníỊ ở các bờ hiển hi lai với nhiều giống? Dó lù một giốmị dân tạp chùm>, dỏiiíỊ vì sự hành trướng vù da dạní> vì nhiều loạN\

Xét chung công cuộc khủo cứu cổ sử, ta thấy chính G.Coedès, Giám đốc trường Viễn Đông Bác cổ, đã dẫn lời của P.Huard và E. Saurin trong bài Hiện trạmị của môn học vê xương sọ n^ười Đônẹ Dương (tạp chí của Sở Địa Dư XXV - 1.1938) viết rằng:

“Từ thời kỳ lịch sử xa xưa nhất, dán clỉúníỊ VÙIU> tnịoại Ân íỊổm những thành phần rất phức tạp, nhóm thì có liên hệ họ hàng với mịười Négritos và người Veddas, nhóm lại liên hệ với nụtời úc (Australien) vù rn>ư(yi Papou Mélanésicn, và nhóm khúc nữa lại liên hệ với tìíịười Indonésicn. Cáu kết luận rõ ràiií’ có thể rút ra từ sự kiện ấy lù những n^ười tiền sử à Đỏng Dươmị và ở Nam Hải có dính tới nhữin> m>ười hiện nay còn cư /7gụ ở nhfíiu> lìdi dảo Thái Bình Dương vù yếu tô'Mông c ổ chi’ là cúi ÍỊÌ mới thêm vào íỊần dây thôi’’.

Rồi ông tiếp: “NlnìiUị giống dân thái cổ ấy có dê lại những dồ dùng bằng dá, hằiuị xươtuị, hằng kim khí, những mãnh dổ sành, thiiỷ tinh, hay trong một vài vùiìíị những thạch trụ (mégalithc). Niên hiểu của nhữní> tổn tích ày cỏn chưa dược xác dịntì một cách tlìod dáng (La chronologic de CCS vestiges est toin d'être étahlie d'une manière satisỷaisante), không những khó dinh niên dại, mà ngay trình tự phát xuất của các loại dụng cụ cũng không dược dặt dinh dúng mức nữa

“Les Indonésiens scraienl dcs Proto-Malais, auxquels leur séjour dans rintérieur des grandcs ĩle s aurait pcrmi.s de conserver d ’avantage leur pureté de race, malgré dcs Iinions avcc les aborigènes: ainsi Ics Bataks de Sumatra, les Dayaks de Bornéo. les Alíours de Célèbes ct de Moluques. Les Malai.s seraient dc.s Indonésiens dcs côlcs, beaucoup plus atteints par des métissages Irès divers... .’ C’est donc une race mixtc, grande par sa difl'usion, mutiple par ses variétés”.

31

ông có liệt kê những công trình của các nhà khao cứu về Đỏng Dương và Mã Lai, Nam Hải, Thái Lan, Miến Điện và không sợ mất lòng họ. ông đã thẳng thắn nói: nlìữnq điều nghiên cứu về tiền cổ' sử của vùng m>oại Ân mới chỉ cíển chặng dò dẫm ịstade de l 'cxploration) vù những công thử lùm tổng hợp khúc cũng chỉ mới nên dược coi lù những gid thiết (hvpotlìèse) mà thôi”.

ớ đoạn khác, ông viết: “Tốt hơn hết, lúc nàv chưa nên .xác dịnh gì dứt khoát”

và ông tiếp; “cần phải ngờ những sự phân loại quá chặt chẽ, vù những khuôn khổ quá cứng rắn, trong dó người ta muốn nhét vào một thực tế uyển chuyển và mém dẻo

Như thế nghĩa là riêng về vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam trong đại khôi Nam Á (austro-asiatique) ở thời cổ cho đến nay vẫn chưa thể có gì gọi là biết được đích xác cả.

Điều biết được đích xác sợ rằng chưa biết chừng lại chính là chỗ lệch lạc khởi điểm mà các nhà khoa học đã hướng cuộc tìm tòi và suy luận. Khi lưu ý và giữ chặt lấy những cổ tích, những di cốt, những trùng họp ngôn ngữ, tín ngưỡng, những chế độ gia tộc v.v... đổ dựa vào đấy nhận định sự liên hệ mà đặt giả thiết những cuộc di dịch ở thời cổ của các giống dân vùng Đông Á này, quả thực người ta đã chỉ chú mục vào những giá trị nổi như lời Maurice Crouzet đã nói'^*.

Vì vậy chúng ta thử làm ngược lại điều các nhà khoa học Đông và Tây đã làm, để nghiên cứu địa bàn nơi gốc tổ của ta trước xem nó cho phép một sự sống như thế nào sau đó sẽ tìm biết những giống dân nào đã cư ngụ thì dù vẫn còn phủi dè dặt song những điều tìm thấy có lẽ cũng dọi được phần nào ánh sáng vậy.

ĐỊA BÀN GỐC TỔ

Trước khi xét coi giống người nào đã là thuỷ lổ của giống Việt, cần xem xét địa bàn cư trú cho phép sự sinh sống. Địa bàn từ vùng sông Mã trở ra, núi non thuộc cùng một hệ thống với những núi ở Trung Hoa. được xếp nếp sau kỷ tam điệp (trias) là thời có hoá thạch của loài bò sát trên lớp đá nền nguyên thuỷ.

II cst préíérable pour le moment de ne pas cherchcr à trop préciser. II faut se défier des classibcations trop systématiques, des caders trop rigides

dans lesquels on force, non sans dommage, une réalité mouvante et souple.

Trong lời tựa sách Histoire générale des civilisations, p.u.p, 1963

32

Các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc Đòng Nam thành những dải song song theo sông Hồng và được hình thcành vào cuối nguyên đại đệ I. Thời này chưa có người, mới chí có cá và ếch nhái.

Theo Birol, trong bài Morphologic de rExtrême Orient (Sự cấu tạo địa hình cứa vùng Viễn Đông) thì sự cấu tạo địa hình vùng này, qua nguyên dại dệ II, hiện tượng dịa chất trầm tích, nghĩa là đã chuyển động ngám khiến dãy núi phía Nam sông Lam nhô cao lên và vùng Lai Châu, Mộc Châu có đá vòi vận tống (charriage) lừ Vân Nam qua, chồng lên lớp đá nền và kẹt giữa dãy Hoàng Liên Sơn và rặng sông Đà. ớ Sơn La thì lớp dấl ở nguyên dại đệ 1 lại thấy chồng lên lớp đất ở nguyên đại dệ II. Chính là do sự vận lòng ấy. Thời này cũng chỉ mới có loài bò sát và bắt đầu có loài chim.

Đến nguyên đại đệ III mới có nhiều hiện tượng chuyển động mạnh mẽ theo với sự tạo sơn của dãy Hy Mã Lạp Sơn. Những vùng bị xếp nếp trước đều bị chuyển động. Các cao nguyên dã nâng cao lên, rồi nứt nở ra và nghiêng chiều. Phía Bắc có 3 dãy núi nhô cao lên ở phía Bắc sông Hồng là những dãy hình vòng cung sông Cầu, Bắc Sơn, Thái Nguyên. Rặng Đông Tricu bị chuyển dộng làm thun lại. Các vùng duyên hủi mang nhiều dấu vết chứng tỏ nước biển hạ xuống khoảng từ 10 đến 20m (nghĩa là chính các vùng ấy nhô lên). Miền Thanh Nghệ Tĩnh ở nơi cao hơn mực nước biển khoảng từ 10 đến 20 m còn có các vỏ sò vỏ hến. Và ở chân núi dá vôi vùng Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hoá còn mang dấu vết xâm thực của biển.

Sang nguyên dại dệ IV, những chuyển động mạnh mẽ ấy là căn nguvên của hiện tượng hoá sơn ở miền Nam, từ phía dưới Thanh Hoá trở vào. Di tích còn lại là những phún thạch của hoả sơn và những suối nước nóng. Tới đây mới bắt dầu có loài vật bốn chân, có vú như voi, heo rừng, cùng các thứ cây cỏ. Và dất bồi do phù sa mới tạo dần những đồng bàng cùng dấp lên những thung lũng.

Đồng bằng Bác Bộ rộng 14.700 km^ hình tam giác, cấu thành do hai con sông Hồng (phụ lưu là sông Đà, sông Lô, sông Chảy) và Thái Bình (phụ lưu là sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam). Phù sa do sông Hồng bồi đắp đáng kể hơn.

33

Sông Hồng bắt nguồn ở Đại Lý ở Vân Nam, phía Tây Côn Minh, có tên trên dất Trung Hoa là Mã Long Giang. Nó chảy lao đi rất nhanh như mũi tên, cuốn theo chất sắt của dất sét ở Vân Nam và đá ong ở hai bên bờ nên dòng nước đỏ ngầu. Khi cháy vào Việt Nam ở Lào Cai, nó tiếp nhận vào lòng sông hẹp, sâu lại thẳng táp của nó thêm nhiều dòng ngắn để’ rồi lưóft qua những tang dá rắn mà chảy thành nhiều thác.

Nhung nước của nó vẫn bị ép dổn như thế gần 100 cây số nữa, bởi chân rặng núi Fan Si Pan bên hữu và chân cao nguyên đá vôi Lang Ca Phu, Binh Lang, Trà Linh bên lá. nên lưu lượng của nó rất mạnh; 700m Vgiây lúc thường và 30.000mVgiây vào mùa nước lũ.

Đến khi bắt đầu vào tới đồng bằng thì ở Hung Hoá, nó lại tiếp nhận nước của sông của sông Đà, và đến Việt Trì (cách đó chỉ 10 cây số) lại liếp nhận luôn nước của sông Ló khiển lòng sông rộng ra từ 500 tới lOOOm mới kịp chảy. Nhưng Việt Trì ra tới biển chỉ còn 220km nữa, mà đất lại thoai thoải gần như bằng phẳng, chỉ cao hon mực nước biển có lOm thôi (tính ra 22rn mới cao thấp hơn nhau 1 ly), thành ra cả mảng nước ấy đã tráng lên khắp mặt đất cho phủ phíi sa lên.*''

Địa hình vùng gốc tổ ở chùn thô sông Hồng vù sông Mã Chỉ rõ khu vực của đồi cao và khu vực dồng bằng dược hổi đắp về sụii.

Số lưọng phù sa ấy là 0,7 lới 3kg mỗi m^ (tức là 130 triệu tấn hay 80 triệu mét khối mỗi nám). Nó vừa đắp cao đồng bằng lên. vừa đẩy chất

Xem Mamicl de Géographie du Viel Nam cúa M.M. Duíeil. Kim Lai An Quán,

1957, Saigon.

34

hữu cơ xuống đáy biến thoai thoải, xa tới 20km mà chỉ sâu có 80m. Đồns bằng như vậy có thế mở rộng và lân ra biển trung bình gần đều đặn là lOm mỗi năm, tức là Ikm mỗi thê kỷ. Cả chiều dài của đồng bàng 200km như vậy là đã được bồi địtp trong vòng 20 thế kỷ. Đó theo theo lý thuyết. Thực tế thì chậm hơn nhiều. Thực tế thì có lẽ phải là một khoảng thời gian gấp đôi. Bởi lẽ chỉ sau này có sức người thêm vào để phá rừng, làm thoát nước ở bãi lầy, đắp đê quai và trồng cói, cùng đắp đè ngân nước ở hai bên bờ sông, thì phù sa mới đồn hết về một hướng để tiến ra biển nhanh hơn. Còn hồi đầu khi, người la để nước lớn tản ra khắp mặt đồng bằng, thì củ đồng bằng lầy lội. Hiện nay người ta tính rằng nếu không có đê thì mỗi năm sẽ có từ 10 đến 1 l.OOOkm^ diện lích đồng bằng bị ngập nước, trong đó có cả thành phố Hà Nội, vì thành phố ở dộ cao + 4,00m mà mùa nước thi mực nước sông cao +12,30m. Đồng bàng Bắc Trung Bộ thì rộng 3.100km^ do sông Mã và sông Chu bồi đắp, phía trên lan lới Phát Diệm chỉ ngăn cách bởi một dãy núi đá vôi ở phía Nam Ninh Bình, còn phía dưới thì hạn chế bởi dẫy gò núi dưa ngang ra đến Biển Sơn.

Người ta thấy ngang chân những rặng núi ở nguồn các sóng có những đồi do phù sa bồi đắp, nó chỉ là những mảng đá ong bị nước ăn lũng rồi đẩy tới, rất khó cày cấy và rất nghèo, chỉ bỏ hoang dành cho những đồng bào íhicu số ở sơn cước. Sau đó mới tới khu vực của sòng nhỏ, có nơi chỉ còn vài trăm cây số là tới bờ biển. Phù sa do các sông ấy đem tới không nhiều. Hình cons vào của biển ở khu vực ấy với những luồng nước biển đã đẩy cát vào tạo thành hiện tượng tombolo nghĩa là hòn đáo ở ngoài khơi dán dần dược nối liền với bờ biển bằng những lưỡi cát đế sau thành núi. Hiện tượng này còn đang diễn ra ở Mũi Né, phía Bắc Nga Sơn (Thanh Hoá).

Bày giờ hãy để ý xem điều kiện sống ở hai vùng đồng bàng nơi gốc

tổ ấy.

A. Vùng châu thổ sông Hồng, 3000 năm tr. CN, từ Việt Trì trở ra tới biển có thể kể như chưa có. Nước biển còn lênh láng cả. Nhưng dưới lớp nước biển ấy đã có phù sa do sông Hồng không có đê làm toả rộng ra. Cả khoảng đất ấy như vậy, trừ những đồi cao, lúc nào nước cũng mặn. Khi nước biển rút thì vẫn sình lầy. Đến mùa nước lũ lại có nước sông với phù sa tràn ngập cả. Các giống cây hoang ở vùng nước mặn mọc khắp nơi, chỉ nhô lên cho thấy khi không có nước hiển. Còn khi nước biển dâng lên thì chỉ thấy nước, không sao phân

3.^5

biệt được lối đi cho thuyền vào khỏi mắc cạn. Mà đi bộ thì tuyệt đối khôns đi được vì gặp sình lầy.

Sống trên một số những giồng đất cao*‘* ở đồng bằng đương hình thành hình ấy lại càng không thể được vì lam sơn chướng khí. (Hồi Mã Viện sang đánh Hai Bà Trmig đến vùng Tây Hồ còn thấy quạ đang bay mà phải lộn nhào xuống chết vì khí độc bốc lên).

B. Vùng châu thổ sông Mã và sông Chu thì có những hòn đảo ở ngoài khơi dùng làm đích, thêm những tay núi vươn ra, người đố bộ từ ngoài có đường đi sâu vào trong, men theo sườn núi. Dòng nước biển chảy thành luồng ở ngoài, đến khúc quanh tròn vào ấy, lại lượn vào nên dễ đẩy thuyền vào đấy.

Hai vùng như thế kể như hai vùng ven biển cả thì vùng trên không thể là cửa biển được. Chỉ vùng dưới mới thuận tiện cho thuyền bè xuôi ngược, nghỉ tạm. Hiện còn thấy trên đường Thanh Hoá di Phát Diệm, cách Thanh Hoá 22,5km, ở cửa sông Lạch Trường có đảo Gò Ba Quân nổi lên để thuyền bè neo sau lưng không sợ sóng gió.

ớ thời thượng cổ, những người đi biển từ Bắc Hái xuống hay Nam Hải lên, theo gió mùa, tâì phải lấy khu vực Thanh Hoá làm chỗ tạm trú, tiếp tế lương thực, nước uống. Mà những người phiêu lưu đi tìm đất sống bằng đường biển tất cũng phải giạt vào đấy trước, không thể vào vùng Việt Trì được. Những bộ lạc du mục ở vùng núi cao ven theo dòng sông mà xuống có thể đến Việt Trì, nhưng dến để chuyển đời sống sang canh nông thôi, còn nếu vẫn giữ du mục thì phải tới vùng Thanh Hoá mới tiện việc trao đổi gia súc.

Cho nên Thanh Hoá mới thật là dịa bàn nơi gốc tổ đấu tiên.

ĐIA LÝ THANH HOÁ

Thanh Hoá có tên ớ thời cổ là cửu Chân bộ. Trong mục Sơn xuyên của sách Đại Nam Nhất Thống Chí, tỉnh Thanh Hoá, thấy có hệt kê tên tới 75 ngọn núi trên loàn tỉnh. Không kể núi Hàm Rồng có 99 ngọn nhỏ quanh co liên tiếp theo ria sông chạy lại, như hình con rồng bò lượn, cuối cùng nổi lên một ngọn rất cao như cái đầu rồng.

*" Khi nước sông có phù sa tráng lên mặt đất nền của đồng bàng thì có những dợn đất đóng chắc dần dần lại thành bờ con trạch, (bourrelet) dế mỗi năm lại lớn và cao hơn lên, thành những giồng đất, (có khi dài cả cây số, rộng 100-200m và cao 3 hay 4m). Nhưng trong khi những cái giồng dất song hành với nhau cứ cao dần thì ở khoảng giữa, nước không thoát đi dược mà trở thành những bãi lầy khí hậu độc địa.

36

NÚI ớ Thanh Hoá có nhiều ngọn đáng kể lù những kỳ quan, sức tướng tượng của con nsười dù phong phú tới đàu cũng không thể ngờ có nhũ'nư hang động được bỏ cục tự nhiên như vậy*" .

Núi Long Hạm: phía ui có một ngọn có động lớn chứa được 4,50 người, rồi xuyên qua hang lại có động, đằng sau chứa được dăm sáu người, tục cho là hai mắt đực, cái cúa rồng. Phía hữu lại nhỏ ra một ngọn nữa gọi là mũi rồng, bèn dưới thì dá xếp tầng tầng, hé ra làm hai, như trên hơi chếch mà cao, nửa dưới sa xuống dưới mặt nước, y như miệng con rồng dang hớp nước. Phía dưới hàm rồng ấy lại có những đá ngầm lồi lõm quanh co. Đối ngạn bên kia có hòn núi Hoả Châu nên có tên là Ọuần Long Tranh Châu hay Long Hý Châu, Long Thố Cháu. Núi Kỳ Lân: Đá kVm chcVm như hình dầu lân cúi xuống nhìn bờ sông. Dưới núi có hang miệng rộng, 7,8 thuúc, bé cao có thê dứng vừa, trong hang thạch rủ xuống như buông rèm, giữa có phiến đá nằm, sau tuần mưa cuối xuân, trong động có nước rất trong. Núi Bàn A: Núi vắt ngang cửa sông, dá chồng ven nước, sóng đục sâu vào chân núi. còn dinh thì cao chót vót. Cách mặt dất hơn trượng lại có một miếng đá vuông vừa một người ngồi dựa lưng vào vách dá dê xem nước (nên Ngô Thời Sĩ còn gọi là Quan An Sào). Núi Tam Thai: Có ba ngọn dứng sững cao thấp vừa tầm, như hình ba ngôi sao. Lưng chừng núi có chùa, phía trôn có hiên bằng pháng, người dứng trỏng nom được xiiốns dòng sổng, nên gọi là Triều Thiên Quán (quán chầu Trời). Phía sau có dền thừ trông ra bén dò cổ va làng xóm dân cư. Trong dền có trống đồng nên còn tên là Đồng Cố Sơn. Núi Xuân Đài: Đứng cạnh núi Hy Mã có sông bọc 2 phía, khi trèo lên nhìn xuống thây như chim loan chim phirợng lượn trên trời, và ngựa trâu cúi đấu uống nước. Trên núi có dộng Hồ Công, trong dộng có hai pho tượng dá, khe dộng có hòn đá giống như con cóc và một nhũ dá giống như nổi nấu thuốc. Phía trong lại có một hang nhỏ vừa một người di lọt, soi đuốc vào thấy sắc đá hai bên tường lóng lánh như kim nhũ. Ngày 9 tháng Giêng mỗi năm, nữ sinh các nơi kéo dến thưởng ngoạn và làm thơ ngâm vịnh rất vui. gọi là ngày Thăng hội. Vua Lê Thánh Tông liệt động này hàng thứ nhất trong 36 dộng cứa nước ta. Núi Cô San: Núi đất nổi lên như hình sư tử, mặt trước có lảng đá tròn như quả cầu (nên gọi Sư Tử Hỷ Châu) lại có dú 28 táng đá như hình nhị thập bát tú rái rác bên phía tá. Chính giữa cổ ngọn núi phẳng vách dựng giữa trời, trên khắc tám chữ Nho Thanh tri diền trí, thanh trí diền tri, không rõ từ đời nào và nghĩa là gì. lại có một ngọn núi đất nhô lên giữa dắt phảng, khum lèn một cái tò vò tựa như cạnh nhà mở ra một cửa. Núi Kim San; Núi chạy dọc theo sông Mã nhô lên thành dẫy 29 ngọn, xa trông có chỗ như tàn như lọng, như lâu dài, cờ quạt, voi ngựa, hoa gấm, khi tạnh khi mưa khác vé, buổi sáng buối chiều lại khác màu.

Trong núi có hai dộng: Ngọc Long động và Tiên động, có nhiều nhũ đá rủ xuống. Phía Nam núi có ngọn Mai Sơn mọc nhiều giống trúc nhỏ, sườn núi mở ra một ao sen rộng chừng vài mầu, phía Đông có ngọn Cốc Sơn (núi hang) dưới chân có lỗ khá lớn hai bèn có dầm sâu. di thuyên suối từ dàng trước tới dàng sau được. Trên lỗ hổng ấy lại có một tầng dộng nữa gọi là dộng Kim San. Động này rộng và nước sâu có thể di thuyền suốt từ bên tá sang bên hữu núi. Càng đi vào giữa hang càng cao rộng hơn. Đá xếp như bầy hàng, mầu xanh như lá biếc, nước sáng như

37

Mỗi động hay núi, trải bao nhiêu đời đã có các văn nhân nho sĩ, cũng như các vua chúa, quan lại, tới thăm viếng rồi làm thơ, chúng tỏ ra người ta yêu mến cảnh đẹp ấy lắm.

Nhưng chúng ta tự hỏi; những người tiền sử khi đặt chân trên vùng núi và những hang độn? ấy thì họ đã dùng tất cả vào việc gì? nếu không phải là việc ẩn nấp khi cần đánh chém lẫn nhau?

Trong cuộc sống của loài người khi còn ở thời bộ lạc, sự giao tranh với bộ lạc khác là một trong những sinh hoạt căn bản. Muốn giao tranh như thế bát buộc phải có địa điểm thuận tiện. Nơi bằng phẳng không có hang hốc thì không thích hợp. Chỉ có những nơi như Cửu Chân này có chỗ tiến lui hóc hiểm, mới kể là thích hợp.

Vả lại, cuộc di dịch của những con người tiền sử không phải chỉ là những cuộc đi ung dung từ nơi này qua nơi khác như những lữ khách mà cần được quan niệm đích xác là những cuộc đánh đuổi nhau của các bộ lạc.

Thêm nữa, điều kiện địa lý đặc biệt của Thanh Hoá (Cửu Chân) thoả mãn được người tiền sử, để coi là địa khu lý tưởng, ấy là sẵn có muối và cá biển*'^.

ĐIA LÝ CỦA PHONC, CHÂU

Phong Châu có những đặc điểm hơn Cửu Chán, nhưng hơn về sau này thôi khi người ta chuyển qua cuộc sống canh nông. Còn khi vẫn là du mục thì Phong Châu thiếu muối để ướp thịt dã thú, không có cá biển để

^ gương. Thạch nhũ rủ xuống gõ vào có chỗ kêu như tiếng chuông đồng. Trong chỗ hang cùng có một lỗ thông thiên, trên miệng có cầu đá bắc ngang, không chằng mà vững nhưng không ai dám leo lên, tục gọi là cẩu Tiên.

Núi Kim Tử: Trên núi có một cái động rộng hẹp xen nhau như ngôi nhà năm gian. Cửa động cao rộng tạo thành một ngôi chùa thiên nhiên, trong đó đặt mười mấy toà hoa sen thếp vàng. Núi Diệu: Thê núi hình như con sư tử, dưới chân có thác nước lượn quanh chín khúc, trong núi có động dựng nền chùa. Trong chùa có tượng đá có biin khắc kinh. Trịnh Sâm gọi là cám Vân Diệu Trí. Núi Tăng: Trên núi có nhiều hang động quanh có tới 27, 28 trượng, có rất nhiều nhũ đá rú xuống. Có cái gõ vào kêu như chuông đồng. Những nhũ hoặc như chuông úp hoặc như vẩy gấm, trông nghiêng thấy lóng lánh như rắc hạt vàng.

Đó là kể sơ qua, rồi còn Biện Sơn, Bảng Sơn, Sầm Sơn, Na Sơn. Thần Phù Sơn, Tam Điệp Sơn, Từ Thức Động v.v... là những nơi danh thắng đã được mọi người nhìn nhận hoặc là nơi có di tích lịch sử hoặc có kỳ quan, giai thoại văn chương.

Cách Thanh Hoá 22 km trên đường đi Vinh, tại Ngọc Giáp trên sống Ghép còn ruộng muôi và cách 42km cũng trên đường ấy là Ba Làng, chuyên làm nghề đánh cá và sản xuất nước mắm.

38

ãn, nước ngọl cũng hiếm nốt. Lại thêm lầy lội khí hậu độc địa vừa khó sốne;. vừa đăt bằng nhiều, không có thể chống giữ cả đối với dã thú lẫn với các hộ lạc đối nghịch (xem phần II chương I). Ví thử có bị đánh đuổi đến đấy. người tiền sử cũng coi là tột cùng mặt đất rồi, để chịu đựng sự thiếu thốn khổ sở tôl cùng.

Điều ta nên ghi nhận là ở các vùng đồng lầy còn nước mặn, ngay đến những giống cây lớn cũng không mọc được để con người có thể làm chòi trên cây mà trú ngụ.

Vậy có thể kết luận: ở thời tiền sử, Phong Châu chưa có người, có lẽ chỉ mới lác đác trôn các núi cao, mà cũng không có gì hấp dẫn cho người ta tói. Chỉ Cửu Chân mới là nơi hội tụ đầu tiên của các cư dân mà thôi.

NH ĨÍNr, N(ỈƯ YÊN NH ÂN ĐẨY n g ư ờ i ĐẾN CỦU c h â n

Ngoài nguyên nhân kinh tế: cỗ lương thực trời cho là muối một món ăn căn bản dể ướp thịt, và cá lúc nào cũng có sẩn đổ săn bắt, không nguy hiểm bằng săn bắt dã thú, còn nhiều nguyên nhân khác thuộc về địa lý và phong tục sống.

Địa lý thì như ta dã biết, rất tiện chỗ ở và chỗ thủ thế đương đầu với địch trên bộ, lại rất tiện chỗ cho thuyền bè liên lạc với ngoài khơi. Thêm sóng gió còn đánh giạt thuyền vào cho ai xuôi ngược ngoài khơi đều phải đến địa điểm.

Một tài liệu cổ sử nói ràng người Giao Chỉ có tục vẽ mình để lặn xuống nước bắt cá thì không bị gióng thuồng luồng làm hại, chứng tỏ rằng việc ấy xảy ra ở vùng Cửu Chân có nước biển sâu thì mới lặn xuống được, còn Phong Châu lầy lội làm gì có cá biển lớn bơi lội vào.

Một tài liệu cổ tích khác về An Tiêm trồng dưa, thả trái dưa trôi ra biển cho thuyền bè đi ngang biết có nơi trồng và tìm đến mua, cũng nói rõ việc ấy xảy ra ở Cửu Chân (Thanh Hoá hiện còn bãi An Tiêm).

Một tcài liệu khác chiêm nghiệm về cửa Tliần Phù nơi có xoáy nước nguy hiểm đánh đắm nhiều thuyền bè cùng đẩy giạt người vào địa khu ấy. "'Lênh đênh qua cừu Thán Phù, khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìnỉ\ Núi Thần Phù xưa là hòn đảo nay đã ỏ trong đất liền.

Như vậy, với phong thói sống cua"người tiền sử, cửa biển Cửu Chân

đã trở nên rất hấp dẫn.

39

Người đi biển xuôi ngược bằng thuyền bè theo gió mùa, th) hoặc là những kẻ phiêu lưu đi tìm đất sống, hoặc là dân chài lưới bị trôi giạt tới, hoặc là những bộ lạc di làm giặc cướp ngoài biển, tất cả có thể ghé vào (hoạc bị bắt buộc vào) trước còn tạm một Vtài ngày, sau thấy là đất lý

tưởna thì ở lại hẳn. Còn người ở rừng núi cao, hoặc bị các bộ lạc khác đánh đuổi, hoặc bị các dã thú rượt, hoặc chính họ dẫn một đàn gia súc đi tìm han? hốc an toàn mà nhốt vào. tất cá cũng có thể đã đến vùns núi Cửu Chân và thấy là nơi dun? thân được nên định cư lại.

NHỦTSG NCỈƯỜI ĐẨU TIÊN ĐẾN c ủ u CHÂN

Trước hết, nsười ?ốc gác tại đây có thể có khôns? Ta chưa có điều kiện để làm việc tìm tòi và chưa thấy có chứng tích gì nên chưa thể kết luận ngav được.

Một điều làm cho ta nghĩ rằng rất có thể đã có người tiền sử gốc gác ở đấy, là vì sang nguyên đại đệ IV, chỉ phía Nam Đông Dương còn hoả sơn phún thạch, chứ từ Cửu Chân trở lên, địa hình coi như đã cấu thành. Các loài vật bốn chân, có vú, đã có đầy dủ như ở các nơi khác. Cho đến loài khỉ cũng đã không thiếu gì.

Sách Đại Nam Nhất Tlĩốiu’ Chí chép về con vưcỊìi bạc mày gọi là Quả nhiên như sau đây: 'Theo trom> sách Hoàn Vũ Ký thì à Ái Châu có ÍỊÌỐIIÍ’ Quà Nhicìì mù lUịười Thổ à cíấv í>ọi lù Cu Nhiên. Giâní> này trôm> khôiut khác con hầu. nhưiu> thân hình ìớn lum; mặt mũi hệt tựa loài níịười, lôní> mém và trơn, clùní> làm đệm rất tốt. Loài này rất có iiQũa. Khi (li thì con lớn di trưcỉc, con nh() di sau, íịặp qud gì ăn điu/c thì con nhỏ dưa cho con Urn ủn tnử/c, rcíi nu/i ăn sau. Vg//'ờ/ Thổ dùm’ tên thmíc hắn. Hễ trútuị m()t con thì tcíl hắt dưc/c cd hai con. Vì khi nu)t con hi thương thì tất con kia rút tên của con hi thưtmiị mà tự dúm vào mình dể tự từ".

Như thế. tại Cửu Chân, hoặc là giống khỉ chỉ tiến được đến đấy rồi thiếu điều kiện phát triển thêm, hoặc giống Ca Nhiên này là di duệ nhưng hèn yếu dần đi của một giống người thuỷ tổ, mà xương ắt phái còn trong lòng dất chưa khám phá ra dược. Ta dặt giả thuyết như vậy để có diều kiện thuận tiện thì sau này sẽ có người tìm hiểu.

Dù có một giống Ca Nhiên gốc gác ở dó hay không, vẫn đã có một cuộc tứ chiếng quần cư do người Bác Hai, Nam Hải cũng như người từ dãy Trường Sơn và xa hơn từ Tây Tạng dến.

Họ không đến ồ ạt cả bộ lạc theo lối di cư trốn băng giá như ở bên phương Tây mà dần dần, lẻ tẻ, do những tai nạn ngoài biển hay do những cuộc dánh nhau từ ở xa.

40

Những giả thuyết của các học giả phương Tây cho ràng gốc Giao (Mélanésie), hoặc (Thibétain), Mêlanêdi Chi hoặc Tày Tạng Anhđônèdiêng (Indonésien (Indonésicn), Anhđônêdiêng Mông cổ Mongol) v.v... ta có thể nhận là có tất cả, nhưng không thuần một giống nào hết. Để cho thấy giống Giao Chỉ là một giống lai nhiều dòng máu.

HO TỚI VÀO THỜI K H OẢNÍỈ LỊCH s ứ NÀO?

Điéu ấy chưa thể biết rõ được. Những khám phá mới nhất về tiền cổ sử cho biết: khu vực từ Samrong Sen qua sông Mê Nam, sông Mê Công là khu vực xưa nhất của trái đất và đó đã có nền văn minh lâu đời có thể tới 7000 nãm.

Nhưng ta văn nên chờ những kết quả chính thức của cuộc nghiên cứu, chưa vội kết luận gì hết,

Chỉ căn cứ vào những niên biểu của các tài liệu cổ sử của Tàu chép về đời vua Nghiêu và vua Thành Vưcíng nhà Chu đã có sứ Việt Thường sang cống rùa và chim bạch trĩ, ta có thổ đoán chắc là từ trước đời vua Nghiêu khá lâu, đã có các giống người đến hội tụ ở Cửu Chân để tạo thành giống Giao Chí.

(ỈIỐ NÍỈ (ỈIA O CHÍ

Danh từ Giao Chỉ của Tàu dùng để chỉ định giống dân ta theo họ nhận xét thấy có hai ngón chân cái giao nhau. Tên ấy thành phổ thông cho dến bày giờ người Thái còn gọi là Keo, cả người Nùng, người Thổ ở Cao Bằng, Lạng Sơn cũng gọi người Kinh là Keo nữa. Mặc dầu có những lập luận cho rằng nhiều giống dân ở các vùng khác vì đi rừng leo núi phải bám chặt chân vào dá và cành cây nên dần dần ngón chân cái cũng xoạc để giao nhau nhưng dấy không phái một đặc tính riêng của dân tộc, ta cũng vẫn phái gọi bằng cái lên đã thành và được hiểu là nó không chỉ dịnh cho một giống dân nào khác.

Người Giao Chí như vậy, dù chưa pha giỏng thì ngay những ngày đáu sông chung trên cùng dịa bàn phải leo núi, bám vào đá, vào cành cây, ngón chân cái cũng xoạc ra, dê người khách lạ gọi chung là Giao Chí cả. Chí dương sự mới sống riêng ihcành nhóm, ở riêng rừng hang động và có riêng những tập tục.

Theo nhiều người nhìn nhận thì người Mường hiện nay còn giữ nhiều dặc chất của giống Giao Chỉ. Đó là giống người dầu ngắn, trán vuông, mũi gãy và hếch, cầm bạnh, mặt vuông và xương xương, môi dầy, mắt đen hơi xếch, gò má cao, tóc đen và cứng, da nâu xậm.

41

Người Mường hiện ở nhóm lại thành 15 châu: An Lập, Thanh Thuỷ và Thanh Sơn (Phií Thọ); Kỳ Sơn, Đà Bạc, Lương Sơn và Lạc Sơn (Hoà Bình); Lạc Thuỷ (Hà Nam); An Hoá và Phụng Hoá (Ninh Bình); Quan Hoá, Cầm Thuỷ, Thạch Thành, Ngọc Lạc, và Như Xuân (Thanh Hoá); thêm những làng nhỏ khác còn thấy ở vùng núi của các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây.

Nhìn chung, khu vực của họ định cư là một dải đất dài 200km rộng từ 30 tới 65 km nằm ép ở giữa khu vực người Việt ở đồng bằng và người Thái ở vùng núi cao hơn.

Năm 1904, người ta thống kê tại Hoà Bình thấy có 97 tiểu khu được cai trị bởi 82 quan Lang có quyền thế tập và 15 ông do dân bầu. Trons số ấy có một người đàn bà 60 tuổi làm quan Lang vì quyền thế tập ở Du Nghiệp, châu Lạc Sơn, từ năm 1868, Người ta ước lượng khoảng 500 người nam có thể được, nối dòng giữ chức quan Lang. Xem vậy thì thấy rõ người Mường còn ở đông đảo hơn ở phía Nam, từ Thanh Hoá đến Hoà Bình. Ra dần dần tới Phú Thọ thì đã thưa thớt.

Nếu quả họ là người Việt cổ, thì nơi định cư đầu tiên của họ phải là ở Cửu Chân chứ Phong Châu là nơi không thích hợp cho cuộc sống du mục chài lưới, một nơi khổ sở và bất dĩ lắm mới phải tới ở, một nơi chỉ sau này chuyển sang canh nông mới sống được, còn chưa biết kỹ thuật canh tác thì quả là thiếu hầu hết điều kiện để sống. Tại sao vậy?

Nếu ta lưu ý đến tập tục sống bộ lạc, ta tất đoán ra để có giả thuyết là đã có một cuộc đánh nhau kịch liệt giữa các nhóm bộ lạc ở Cửu Chân mà nhóm thắng trận thì ở lại, còn nhóm yếu kém và thua trận phải chạy mãi vể tận vùng Phong Châu ấy.

42

Bởi vậy có sự chia ra Giao Chỉ miền Nam và Giao Chỉ miền Bắc trong cùng một nền vãn minh Văn Lang.

QUYỂN I

VÀN MINH VẢN LANG Từ nguồn gốc đến cuối đòi Hùng Vương

PHẦN THỨ NHẤT

G IAO CHỈ MIỂN NAM

CHƯƠNÍỈI

VẤN ĐỀ TỪ NGỮ

[ ÓM LƯỢC

Danh từ Văn Lang gốc ở chữ Nho, dùng đặt tên cho nước của người Giao Chỉ đã không có ngay từ hồi đầu, chưa giao thiệp với Trung Quốc và chưa biết chữ. Cả những nhân danh Hùng Vương, Mị Nương, những chức phẩm Lạc hầu, Lạc tướna và những địa danh Phong Châu, Cửu Chân v.v... cũng vậy.

Con cháu về ,sau yêu nước mình và trọng tổ tiên mình mới tìm chữ đẹp để đặt tên.

Lang có 13 tự dạng với 13 nghĩa khác nhau. Ai cũng phải lựa nghĩa hay nhất, viết với bộ nữ, theo thành ngữ Ngục Kinh Lang Hoàn là nơi trời để kinh sách hay Lung Hoàn Phúc Địa, có nghĩa là khu đất được diễm phúc trời cho. Sau có lẽ bị Tàu đô hộ, phải sợ và rút xuống chữ Lang với bộ ấp, có nghĩa là một chức quan nhỏ. Tên nước thành ngớ ngẩn, chỉ dùng đặt tên người thì hợp hơn.

Vậy nay có lẽ nên lấy lại nghĩa nguyên thuỷ của nó.

VẤN ĐỂ TỪ NGỮ

45

Danh lừ Văn Lang gốc ở chữ Hán, dùng đặt quốc hiệu cho nước của người Giao Chỉ, đã không thể có được ngay từ hồi đầu (cũng như các nhân danh Hùng Vương (hay Lạc Vương), Mị Nương, và các chức phẩm Lạc háu, Lạc tướng) vì hồi dầu không có chữ Nho, lại không hề có giao thiệp thường xuyên với Trung Quốc. Chỉ về sau này, vào cuối đời Hùng Vương, bên Tàu có loạn, đã có một số nho sĩ Tàu di cư lánh nạn qua đem chữ Nho ấy dạy dân và đem sách Nho qua để phổ biên, rồi nhân đấy mới cùng người bản xứ tìm chữ hay để đặt tên.

Chữ tên được đặt như vậy là theo lối con cháu đặt tên cho ông vải. Con cháu người Giao Chi, yêu tổ tiên đất nước của mình, đã cùng với những người Tàu ở miền Nam Trung Hoa tị nạn chạy qua, lòng còn đầy oán hận đối với bọn tranh bá đồ vương, gây ra cảnh loạn ly chết chóc, và họ tới đây gặp cảnh thái bình trị, cũng mến người mến cảnh, mà cố ý tìm những cái tên đẹp đặt cho đất nước này. Họ đặt là Văn Lang. Văn thì có nghĩa là văn vẻ đẹp đẽ. Còn Lang thì đã tuỳ theo tự dạng mà có thật nhiều nghĩa: Có nghĩa theo thành ngữ Ngọc Kinh Lang H o à n i ^ “BỘ ” là chỗ trời để kinh sách, hay Lang Hoàn phúc địa: đất được NŨ’ diễm phúc Trời dành cho.

f

BỘ NGHIỄM BỘ MỘC Có nghĩa Có nghĩa i i

là mái hiên, hành lang, là cây quang lang với minh lang là cái phách của người đánh cá là cây cau là chảy xiết Ì là con chó sói

f

là lang can, ngọc lang can là cỏ vực là tre non là một thứ cỏ để làm thuốc khương lang là con bọ hung là một chức quan nhỏ lang đang là cái khoá, cái xích BỘ MỘC ^ BỘ THUỶ BỘ KHUYỂN BỘ NGỌC Ẵ BỘ HOÀ ậ. BỘ TRÚC vt BỘ THẢO H BỘ TRỪNG í BỘ ẤP BỘ KIM ^

Có nghĩa Có nghĩa ^ Có nghĩa >1$. Có nghĩa ÍẬ. Có nghĩa ^ Có nghĩa Ịl Có nghĩa \f(. Có nghĩa ^ Có nghĩa )’Ịl Có nghĩa Tựu chung có hai chũ’ Lang có nghĩa đẹp hơn cả để dùng được, là một chức quan và một nơi chứa kinh sách của Trời. Theo thành ngữ Ngọc Kinh Lang Hoàn hay Lang Hoàn Phúc Địa, nơi Trời dành diễm phúc cho.

46

Những quyển sử như Khâm Định Việt sử Thông Giám Cương Mục và sau đấy Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim đều chép Lang theo tự dạng là một chức quan. Có lẽ những quyển sử về trước nữa cũng chép như vậy. Việc ấy gây cho người nghiên cứu ở đời sau, một thắc mắc: Người cố ý tìm chữ đẹp để suy tôn danh hiệu quốc gia của mình, thì giữa hai chữ có khác hẳn nhau và chênh lệch hơn nhau rõ rệt ấy, tất ai cũng phải chọn cái nghĩa là nơi chứa kinh sách của Trời, nơi phước địa Trời dành cho mới đủ thoả lòng mình. Không ai lại đi lựa chữ có nghĩa một chức quan, để cả danh từ gọi tên một nước mà lại có một nội duna ngớ ngẩn là một ông quan cai trị có văn vẻ.

Vậy mười phần chắc chín là ở nguyên thuỷ, người ta đã lựa chù’ Lang có nghĩa cao đẹp nhất, nhưng đến khi bị trong vòng đô hộ của Tàu, người ta đã vì sợ các quan lại của Thiên triều không bằng lòng mà tự ý hoặc cũng có thể bị ép, phải dùng theo cái nghĩa nhũn nhặn đi, với sự mạc nhiên nhìn nhận là ở trên còn có Thiên Tử, và đất của ThiêaTử mới là Ngọc Kinh Lang Hoàn.

Dẫu sao, kẻ học sử ở đời sau cũng phải có thái độ dút khoát. Hoặc không nhận gì hết vì ở thời thượng cổ chí có những chữ tên nôm nào đó đã mất đi, không tìm được ra; hoặc nhận là Văn Lang, thì nay không còn phải sợ “Thiên triều” nữa, ta nên lấy lại cái nghĩa nguyên thuỷ của nó‘" .

Ta nên ghi nhứ kỹ, sách Thuỷ Kinh Chú ciía Lý Đạo Nguyên đời Hậu Nguỵ (386- 534) đã chép chữ Lang với bộ khuyển, ô n g nho sĩ Trung Hoa này đã giả vờ ngớ ngấn, không biết mà viết như vậy để miệt thị cả dòng giống chúng ta là chó sói. Chúng ta nên ngỏ lời cám ơn ông ấy vậy! Xin xem thêm trong Từ Hải: Lang (nữ bộ), kiến Lang Hoàn điều. Lang H oàn: (nữ bộ) Ngọc Kinh Long Hoàn, thiên đế tàng thư xứ, Trương Hoa mộng du chi, Kiến: Tự vị bổ, án: diệc tác Lang Hoàn (ngọc bộ) Tham duyệt: Lang Hoàn phúc địa điều. Lang Hoàn Phúc Địa Y Sĩ Trân, Lang Hoàn ký: Trương Hoa du vu động cung, ngộ nhất nhân dẫn du nhất xứ, biệt thị thiên địa, mỗi thất các hữu kỳ thư, Hoa lịch quan chư thất thư, giai Hán dĩ tiền sự, da sở vị văn giả. Vấn kỳ địa? - Viết; Lang Hoàn Phúc Địa dã. (Lang (bộ nữ) xem chữ Lang Hoàn. Lang Hoàn (bộ nữ) Ngọc Kinh Lang Hoàn, nơi chứa sách của Trời, Trương Hoa, nằm mơ thấy được đến chơi đấy, Xem Tự Vị bổ, cũng thấy viết Lang Hoàn (bộ ngọc). Xin xem thêm chữ Lang Hoàn Phúc Địa. Lang Hoàn Phúc Địa Y Sĩ Bổ Trân, tác giả truyện Lang Hoàn ký viết; Trương Hoa mơ tháy vào chơi một hang động nước, gặp một người dẫn đi đến thăm một nơi biệt hản trần gian, ở đó mỗi gian phòng đều có chứa những sách kỳ lạ. Hoa xem qua các sách, thấy nói toàn những chuyện xảy ra từ trước đời Hán mà mình chưa từng được nghe. Bèn hỏi: nơi ấy là đâu? Đáp: đây là Lang Hoàn Phúc Địa đó).

47

c h ư ơ n í ; II

ĐÒI SỐNG BỘ LẠC

TÓM LUỢC

Văn Lang đã sống rất lâu trong cảnh bộ lạc ở Cửu Chân. Đã có nhiều bộ lạc gom thành nhiều nhóm, ở theo từng vị trí địa dư và sinh sống theo từng nghề chuyên môn săn bắn, mục súc, chài lưới. Tất cả đều theo chế độ thị tộc mẫu hệ.

Quyển uy của tù trưởng

Can trường nhất là nhóm người săn bấn ở rừng núi, thường xuyên phải đương đầu với các dã thú và các bộ lạc đối nghịch ở rừng núi lân cận. Thứ đến là nhóm người chài lưới ở ven biển phải đương đầu với sóng gió và những thuyền cướp. Nhóm mục súc sau chuyển thành canh nông đã yếu đuối nhất.

Vật tổ

Quyền tôn giáo, được thay dân thờ thần linh, cầu đảo trừ ma quỷ. Quyền kinh tế, hưởng sự phục dịch của dân bằng cách góp thuế. Quyền chính trị, tập họp, chủ huy ra trận, bảo vệ an ninh và trừng phạt.

Đã có nhiều theo số lượng bộ lạc và nhóm bộ lạc cư ngụ ở những

Trống đồng Đông Sơn

hang động riêng, không phải chỉ có một con chim Lạc.

Cũng có nhiều thứ trống, hình chạm không giống nhau. Cần phải nghiên cứu hình chạm theo ý nghĩa tượng trưng. Nếu lấy hình ấy làm căn cứ để hiểu sinh hoạt, y phục ở cổ thời thì dễ bị lầm lắm.

49

Trống chỉ tù trưởng mới có, dùng riêng vào những dịp lễ trọng về tôn giáo hay những biến cố có tính chất thiêng liêng. Người ta muốn truyền một ma lực vào tiếng trống ấy mà những hình vẽ với số lượng cũng đã có một nội dung ma thuật nào, chưa tìm ra được. Trống còn là một nhạc cụ nữa.

Trông đồng có từ hồi nào?

Các học eiả phương Tây cho là vào khoảng 1, 2 thế kỷ trước hay

sau còng nguyên.

Chúng tỏi không đồng ý. chỉ nhắc rằng thời đồng ở Ai Cập, Lưỡng Hà được định niên đại vào khoảng 3000 năm tr. CN. còn ở đày sao lại bị chậm tiến đến thế?

ĐỜI S ổ N t; BÔ LẠC

Văn Lang đã từng có một khoảng thời gian lâu dài sống trong cảnh bộ lạc ỏ Cửu Chân. Không phải một bộ lạc duy nhất mà nhiều bộ lạc. Mỗi bộ lạc có thể chiếm giữ một hay nhiều hang động. Mỗi bộ lạc đã tuỳ theo vị trí của hang mà có những sinh hoạt và phong tục riêng.

Bộ lạc ở sát bờ biển thì dánh cá, làm muối, và dùng thuyền xuôi ngược ngoài khơi. Bộ lạc ở lui vào trong rừng núi thì săn thú, nuôi gia súc. Bộ lạc ở khoảng giữa và ven sông thì trồng trọt và làm việc trao đổi thực phẩm giữa hai vùng.

Bộ lạc ở sát bờ biển phải cứng cỏi nhưng cũng phải chịu đựng giặc bể vào cướp phá luôn luôn, để lai giống với những dân hải dảo, từ phía Nam lên phía Bắc xuống. Bộ lạc ở sát rừng núi phải có tài săn bắn leo trèo nhanh nhẹn để chống với thú dữ và những bộ lạc khác ở các vùng núi xung quanh, cùng lai giống với các bộ lạc ấy. Chỉ bộ lạc mắc kẹt ở giữa là yếu đuôi thì phải dùng trí thông minh mà chịu dựng với cả hai bên.

Chế độ thị tộc mẫu hệ được kéo dài trong những thời khoảng khá lâu. nhất là dối với những bộ lạc săn bắn và chài lưới. Bởi dời sống của người dàn ông gặp nhiều hiểm nguy khi đi ra khỏi hang. Các con cái chỉ còn có thể biết đến mẹ. Chỉ duy bộ lạc canh nông là chuyển sớm sang phụ hệ để bắt đầu có tổ chức gia dinh với nhiều nhân công để phát triển nghề nông.

Xét thế thì thấy những bộ lạc ở rừng núi dỗ trở thành dàn anh vì quen với chiến trận lại hay có những tên tẩm thuốc độc và những vũ khí hiểm hóc. Sách Đụi Nam Nhất Thống Chí chép:

50

"Theo tục truyền dân pluì Trấn Man, thường có ba cúi thuật lạ: Một là cái phép Năng Siêu. Có dược phép ấy dể giữ mình thì hắn không trúng, dâm không dau, vào lửa không cháy, .xuống nước không chìm. Phép này rất lợi cho việc chiến trộn. Khoảng dầu dời Gia Long có tên Phạm Văn Dần là trưởng châu Trình Cô giỏi về ílìuật dó, khi ra trận không ai dịch nổi, các mán .xung quanh thày dều khiếp sợ. Sau truyền cho con lù Vân Hanh cũng thế. Nhưng nay hỏi thổ dân â dó thì phép ấy dã thất truyền

kìiôiìíị ai hiết nữa. Hai là phép Ma Bồn: phép này dừng đè’ trà thủ rất nglỉĩẹm. Mỗi khi thù ai thì ngầm lăv sát dá ha\ lù cây gỗ hém vào người kia, có thế lùm cho vật dó lặn vào trong hạng người kia rỗi phát bệnh rất nguv, không thể nào trị nổi. Trừ phi lại cần dến người ném dó mới có thể lùm cho vật kia nít ra thì mới khỏi dược. Ba lù phép Tàng Hình; luyện dược phép này thì ngay ghĩa han ngày mà làm cho không trỏng rhâv mình. Hoặc khi muốn hại ai thì ngấm ngầm chém vào hóng người ấy, rồi trở vé lun gươm di thì tự khác người kia phải chét. Hai thnật san này vì cptan trên cấm ngặt cho nén gần dây không thấy xảy ra án mạng ấy nữa. Xin chép vào dây dê’ thêm plìdn kiến văn ",

Điều đó chứng tỏ: trong vùng rừng núi hồi xưa có nhiều điều kv bí và trong cuộc sống thái cổ tạo truyền thống cho đời sau, các thị tộc ở vùng rừnc núi vẫn là những thị tộc hùng trưởng và dễ có diều kiện giữ được thuần giông từ nguyên thuỷ.

Gần như mọi người đều đồng ý: những người ấy là những người

ngày nay gọi là Mườno.

Theo Nguyễn Bạt Tuy thì danh từ Mưòíng vốn không có nghĩa là tên một giốnơ dân mà có nghĩa chung là làng ở sơn cước. Người Giao Chỉ ở scm cước là Mol Mườnc và nsười ở đường xuôi, ở kẻ chợ là Mol Chợ. Sau này nsười ta gọi tắt luỏn người ở trên Mường là người Mường nên danh từ mới được hiểu là tên một giống dán.

Người Mường Anhdỏnâdiêng

51

Hiện nay người Mường vẫn còn nhiều ở vùng rừng núi Thanh Hoá. Trải nhiều đời vua thống nhất bờ cõi ở miền xuôi, họ phải theo vương hoá

mà có thay đổi đi phần nào chế độ Mường cũ thành chế độ quan Lang. Nhưng phần lớn hàng Lang vẫn cha truyền con nối như những tù trưởng cũ. Do đó, có thể căn cứ vào sống hiện lại của họ mà đoán được phần nào cuộc sống cũ.

QUYỂN UY CỦA TÙ TRUỎNG

Tù trưởng tuy chưa đến độ là thay trời trị dân nhưng có quyền thay dân để cảm ứng với quỷ thần mà cẩu đảo, khu trừ ma quỷ, giúp dân an cư lạc nghiệp và có quyền triệu tập dân lại sai bảo làm những việc cần dùng thuộc phạm vi gia đình tù trưởng hay chỉ huy đi chinh chiến các nơi.

Sách Tuỳ Thư Địa Lý Chí viết: “Từ núi Ngũ Lĩnh đến hơn hai mươi quận phía Nam, cúc rợ đều đúc đổnẹ lùm trống lớn. Khi mới hoàn thành để ở giữa sân, đặt rượu mời đồng hào. Người đến dự có trai gái nhà giầu lấ\ vùng hạc làm chiếc thoa lớn cầm đánh vào trốiUị, xong rỏi đ ể lại cho chủ nhân, gọi là thoa đổng cổ. Chúng hav chém giết nhau gây thù oán. Muốn đánh nhau thì đánh vào trống ấy, người kéo đến cuồn cuộn như máy vần. Kẻ nào có trống lủ Đô Lão. Quần chúng đổng tình suy tôn và tùng phục ”

Vậy là tù trưởng có quyền tôn giáo. Chỉ riêng tù trưởng mới cảm thông được với thần linh bằng tiếng trống. Lại có quyền lãnh chúa, tụ dân lại cũng bằng tiếng trống và chỉ huy người ra mặt trận cũng bằng tiếng trống nữa.

Sự tích núi Đồng cổ với đền thờ Đồng cổ Sơn Thần (còn ở Thanh Hoá) chép là: “đời vua Hùng Vương đem quân vào dẹp giặc, khi cắm trại lại, ở chân núi Khả Lao, đến đêm vua nằm mơ thấy sơn thần tâu sáng mai sẽ xin có tiếng trống đồng giúp nhà vua thắng trận. Sáng mai khi lâm trận, quả nghe có tiếng trống văng vẳng trên trời, quân sĩ nức lòng nên thắng trận. Vua phong cho thần là Đồng c ổ Sơn Thần và đổi tên núi lù Đồng Cổ Sơn, trong đền còn cái trống cổ bằng đồng"

Truyện nằm mộng không biết đâu mà tin là có hay không. Duy truyện ấy có thể khiến ta đoán là đã có một vị tù 'trưỏíng thúc trống kéo dân tới đánh giúp vua để thắng trận và khi chết thì được vua phong chức cho dân thờ với cái trống là kỷ vật.

Ngoài ra, tù trưởng còn có một quyền về kinh tế nữa, có lẽ là sự góp thuế của dân ở các làng.

Trong sử nhà Minh có truyện Lưu Hiểu, năm đầu Vạn Lịch đi đánh dẹp Từ Châu, thu phục được 80 trại, bắt dược trồng đồng Chư Cát tới 93 chiếc. Tây Man A Đại khóc mà rằng: “tiếng trống lớn là quý nhất có thể

52

dổi dược mịàn trâu, thứ dến có thể dổi dược lấy hẩy túm trăm trâu. Ai có dược hai ha chiếc trrìm’ thì có thể tự xưmị là chúa. Đánh trống đồng lên ở sơn trại thì quần chúng man dán tụ tập lại. Nay hết rồi, trống mất, thì mệnh vận của dân Mán suy vi vậy”.

Như vậy ta có thể hiểu rằng, tù trưởng có nhiều thứ trống cũng như nhiều loại tiếng trống, đánh lên thl dân chúng ở xa phân biệt được ý của tù trưởng muốn gì. Trong hàng ngũ tù trưởng cũng có chia ra cấp bậc, mỗi hạng được dùng một loại trống riêng trong những dịp riêng.

Không thấy tài liệu nào nói rõ, nhưng chắc tù trưởng có quyền xét xử tội lỗi của dân và cả trừng phạt nữa nếu phạm vào những điều kiêng hay vật tổ của bộ lạc.

VẬT TỔ

Từ trước, người ta không quan niệm rằng Cửu Chân tụ tập nhiều bộ lạc khác nhau nên người ta nhận chỉ có một vật tổ duy nhất là con chim Lạc và một thứ trống đổng có hình chim Lạc ấy. Nhưng thực thì còn bộ lạc lấy rồng làm vật tổ. Chuyện Long Quân ở hang động nước, dân bị người ở phương Bắc quấy nhiễu gọi Bô ở đâu thì Long Quân hiện lên cứu dàn chứng tỏ có bộ lạc thờ rồng làm vật tổ. Và thực thì người ta đã thấy nhiều loại trống đồng với những hình vẽ khác nhau. Đó là điều cần nhận định rõ khi nghiên cứu về trống đồng Đỏng Sơn.

TRỐNG ĐỔNG ĐÔNG SƠN

Đọc trong sách Hướng dẫn du lịch của Madrolle (1932), ta thấy ông ghi trên đưòng Thanh Hoá đi Suối Dút gặp làng và núi Đam Nê trên có đền thờ thần Đồng cổ và trong đền có một cái trống. Trống nặng cỡ 100 cân ta, đo được 2 xích 1 thước bề tròn và 2 xích 5 thước bề cao (tức là 0,83m đường kính và cao 0,675m) mặt trống có 8 vòng với ngôi sao ở giữa.

Nhưng sách Đại Nam Nhất Thống Chí thì chép là đường kính 1 thước 5 tấc, cao hơn 2 thước, trong rỗng không có đáy, bên tai hơi khuyết, trên mặt có 9 vòng khuyên, lưng thắt mà rốn kín, bốn bên có dây khắc chữ thập ngoặc, có văn như lối chữ khoa đẩu, nhưng lâu ngày không thể trông thấy rõ.

53

Cũng trong sách của Madrolle lại thấy viết: cũng trên đường ấy đi khỏi làng Mưcmg sang làng Thái, cây số 115 đến cửa sông Huei Hua, ở phía Bắc, có một ngôi đền tầm thường lợp cỏ tranh, còn chứa 2 cái trống đồng rất xưa. ông không tả rõ hình dáng cùng những nét điêu khắc trên mặt trống.

Như vậy tức là nsoài nhữns trống đã tìm về được ớ Hà Nội, Sài Gòn, tại Thanh Hoá cũnc vẫn có thể còn nữa (nếu cuộc chiến tranh này không làm cho mất hết). Trống đê ở viện Bao tànư Sài Gòn thì trên mặt có 12 con ếch và ở

thành trống, nơi mối hàn, có 3 con ốc và 3 con voi. Dường như trống để ở viện Bảo tàng Hà Nội không bị mòn và hư hỏns nhiều, các hình chạm trông rõ h(m nên được lưu ý nghiên cứu nhiều nhất.

Trống đồng để ở Hà Nội mang trên mặt hình vẽ sáu chiếc thuyền ở giữa có những con chim lớn đậu. Các thuyền đều cùng một kiểu, vỏ thuyền khum khum vòng vòng nứa vành trăng, ó giữa nhô lên một cái ụ có trang trí, có lẽ là cột buồm. Giữa cái ụ với đôi thuyền có một kiến trúc mái phắng. ở trong có một cái trống. Những trang trí ở mũi thuyền và đuôi thuyền gợi lên hình ảnh cái đầu và đuôi chim. Thuỷ thủ của thuyền là một số những chiến sĩ mang giáo cầm tên hay rìu, và trong sô' đó có hai người: một người đánh trông treo ở cột buồm, một người cầm bơi chèo. .Một chiến .sĩ khác đứng ở trên mũi thuyền, sẵn sàng bắn tên. Các đồng ngũ cũng có vẻ rộn rịp. Toàn bộ cho ta cảm tưởng một cuộc dàn trận theo nhịp trống và người cầm lái đang đẩy mạnh bơi chèo uốn cong trong tay.

.34

Trầm’ (íồníỊ ở Viện Bdo ĩà/ỉíỊ Sài Gòn

Nhìn kỹ đến cách ãn mặc của các nhân vật thì thấy tất cả, trừ người băn cung, đéu mặc áo lông chim hay khoác cánh chim giương lên không trung như những mào kỳ quặc.

Sự trá hình như thế chưa hết. Các đồ vật, khí giới, dụng cụ trên thuyền cũng đều đội lốt đến nỗi cái thuyền không còn hình dáng thông thường của một chiếc thuyền nữa. Nhưng dấy không phải là một sự hoá trang tầm thường mà chắc hẳn là một sự biến cải tế nhị mà mục đích là để minh chứng lính dồng nhất của một bộ lạc chiến sĩ với con chim vật tổ (totem). Sách Đư('mi’ Thư do Hirth đã trích dẫn có ghi: trong các bộ lạc xứ Bắc Bộ bây giờ dân Leao có cái đầu bay hay đầu chim mà lễ nghi thi hành theo điệu trống đồng.

Mặt trốn ít đồng NíỊọc Lũ ỞViện Bảo tàng Hà Nội (ãnh của B.E.P.E.O)

Mắt chim hình ra bằng các vành khuyên có chấm ở giữa, ngoài ý nghĩa riêng còn là đề lài nhắc di nhắc lại khắp các nơi khác, ở đàng trước thuyền, ở chỗ mà người ta thường thấy đôi mắt của ghe tam bản, ở trên

mái chèo, bánh lái, trên tất cả trang trí, và ở mũi tên nữa. Trên mặt trống cũng thấy hình vẽ ấy, với vành khuyên, lông cánh chim, khiến người ta có cảm tưởng cái trống có đức tính siêu hình của các hình vẽ nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trên tang trống cũng thấy hình bóng nửa người nửa chim. Chắc hẳn tất cả những hình vẽ ấy có quan hệ với tín ngưỡng thần bí và nghi lễ gì đầy vẻ ma thuật của một đoàn thể cổ xưa.

L.Pinot đã kết luận về trống đồng kiểu Hà Nội rằng: "Những đồ đồng xưa phô hủy hình ảnh một dân tộc canh nông, săn hắn, thuỷ thủ thờ vật tổ mà cách ăn mặc không còn thấy ở Đônq Dươníị, nhưng trái lại, lại thấy ở trên các hải đảo Thái Bình Dương. Phải chăm> chính đấy lù dân tộc Indonésien mà về ngôn Hiịữ chủmị tộc đã từng sốníỊ trân bán dào Đông Dương rồi hổ hán đảo lại cho dân mới đến dể di sang những quần đáo trong Thái Bình Dương? Trên hán dáo Đông Dươn^ chỉ còn lại những dấu tích về ngôn ngữ cùng phong tục mà chúng đã quên dần d i”.. (B.E.P.E.O. XXỈX, ỉ 929, L ’Age de bronze au Tonkin et dans le Nord Annanĩ, Victor Goloubew).

Hoàng Trọng Miên trong sách Việt Nam Văn Học Toàn Thư chép: "Văn hoá cự thạch hi kéo dài từ thời dại dồ dá mới kỳ đến thời đại dồ dỏng, mà ở Việt Nam vá Đông Nam Á íỊọi tên chung là nghệ thuật Dông Sơn, một địa điểm trên hữu hạn sông Mã (Thanh Hoá) gần dây dã khai quật được những cổ vật thời ấy. Tiêu hiểu nhất cho nền văn hoá Đông Sơn là chiếc trống đồng Ngọc Lũ (ngày nay còn ở Bảo tàng viện Hà Nội) với những hình khắc trổ làm sống lại một hộ lạc sơ khai làm ruộn^, săn hắn, đi biển, sùng bái vật tổ. Chung quanh ngôi sao nhiều cánh ở chính giữa mặt trống, một đám nhiều người ăn mặc dị kỳ tung tăniỊ í>n(a bầy nai và loài tlĩuỷ điểu đang bay. Họ cầm ở tay những cái xênlĩ để iịõ nhịp cho điệu múa. Có những người thổi kền và đánh trốnq hoù nhịp. Cạnh nhà sàn, có những người mang lông chim phấp phới daiĩíỊ cầm chầy giã gạo như cùng hoà điệu chung. Vòng quanh mặt trống dồng manẹ hình những chiêc thuyền chở cúc chiến sĩ mang rìu, cung tên và lao, trên n^ười giắt những lông chim dài. Quang cành các chiếc thuyền này giốníỊ như chiếc thuyền dưa linh hồn người về cõi cực lạc của giống dân Dayak ở dảo Bornéo (Nam Dương) ngày nay còn cử hành trong tang lễ. Chiếc thuyền này về sau có lẽ phối hợp với ảnh hưởng đạo Phật mà thành ra chiếc thuyền bát nhã hình rồng chở hổn người về cõi Tây phương.

56

"Theo nhà nữ khảo cổ Colani thì hình ảnh chạm trên trốnq dồng chứng tỏ những di tích của sự thờ cúng mặt trời. Chung quanh ngôi sao chiếu sáng chính giữa, hình ảnh của mặt trời, người, nai và chim cùng theo một điệu múa xoay tròn của trái dất quanh mặt tr()i soi sáng muôn loài.

“Nhà bác học Louis Finut cho rằng: Hình chiếc thuyên trân dó hoạt dộng những người mưng cung vù deo lông chim phấp phới cptanh mình, khiến ra phdi nghĩ dến một dân tộc háng hái khi ra di chinh phục viền phương, mặc thứ V phục lòng chim dể mong cũng dược tiện gió hay xa như cúc loài hậu diểu

51

Chi tiết hình khắc trên mặt trống dồng Ngọc Lũ (ánh của B.E.P.E.O)

Đào Duy Anh, tác giả Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nơm, khi nói về chiếc trống đồng Ngọc Lũ mà ông cho là đại biểu vẻ vang của kỹ thuật thuần tuý Việt, xác nhận rằng: “rá/ lùnlĩ thuyền với những thuỷ thủ mù cúc nhà khảo cổ học Pháp cho là có ý nghĩa tô tem, chính lù biểu hiện của các thuyền đã từng chở người Lạc Việt (tổ tiên trực tiếp của dân tộc Việt Nam) ở miền Phúc Kiến (Trung Hoa) .xuống miền Bắc Việt Nam trong thời tiền sử. Đến đây họ vần giữ tên thị tộc cũ là Lạc vù chính bằng tên Lạc Việt mà từ nay sử sách của Trung Hoa gọi họ. Sau khi đã dồng lỉoá người Anhdônêdiêng mù lùm chủ ở miền trung châu sông Nhị và .sông Mã rồi, thì trừ nhữníị nhóm người ở biển, hờ sôm>, phần nhiều dân tộc Lạc Việt dã theo sinh hoạt dinh cư mà lấy canh nông làm nghề chính.

Thời dán tộc Việt Nam lệ thuộc Trung Hoa dã kéo dùi 10 thế ky có một kết quá lù có nhiều người Trung Hoa đến ở Bắc Bộ. Vì đó nên có sự pha giống, trong dó thành phần Mông c ổ mỗi ngày thêm quan trọng trong dân sô'Việt Nam.

“Cũng vì những người Trung Hoa đến Bắc Bộ nên đã làm cho giống Anhđônêdiêng di cư dến những miền núi ở Đông Dương vù đến những hòn đảo Đông Nam Á Châu. Những người Mường, người Mọi (dồng báo Thượng), những người Anhdônêdiêng ở các hòn đảo Bornéo, Sumatra là những dòng dõi của giống Anhdônêdiêng ở Bắc Bộ khi xưa. Những tổ tiên của giống Anhdônédiêng hiện nay, sống ỏ những nơi dó, dã có thể mang theo với họ những vết tích của các nền văn lĩoá cũ. Vì thế nên những dê' tài trang hoàng của người Dayak ở đảo Bornéo giống những đề tài trang hoàng của những trống dồng thời Đông Sơn.

Vê phương diện nhân chủng hình thể và vãn lĩoá, ta có thể nói chắc là dân Việt Nam, kể từ thời lịch sử, là một giống Mông c ổ dã chồng chất tên hân chất Anhdônêdiêng

Chúng ta có mấy điều nhận xét như sau: Việc căn cứ vào hình vẽ để hiểu sinh hoạt, y phục ở thời cổ có thể có trường hợp thấy là rất đúng, như trường hợp những hình vẽ trong các mộ cổ Ai Cập, vì mục đích người ta vẽ là để có hồn người làm ăn hầu hạ hồn người đã quá cô' ở thế giới u minh. Còn trường hợp hình vẽ mặt trống thì khác hẳn.

.'S8

Trống chỉ riêng tù trưởng mới có. Trống và tiếng trống tượng trưng cho uy quyền tối cao tù trưởng, chỉ trong những dịp đặc biệt mới dùng tới. Hằng ngày đem ra dùng thì sẽ nhàm đi. Còn trong những dịp đặc biệt đem ra dùng là để cho tiếng trống trở nên thiêng liêng và mặt trống cũng đã phải khắc hình để giúp thêm tính cách thiêng liêng ấy. Ta hướng sự

tìm tòi về đấy sẽ thấy xác đáng hơn là căn cứ vào những hình vẽ tưỏfng là đê cho vui mát người mua.

Giũa mặt trống, quả đúng như nhà nữ khảo cổ Colani nói là hình mạt trời, nhưng mặt trời với 14 lia sáng. Tại sao lại 14 mà không hơn hay khôna kém? Liệu có thể chăne, ràng đây là trống của một ông trùm tù trưởng cai quản 14 tù trưởng nhỏ khác? mà tiếng trống gióng lên là để cho cả 14 nơi ấy phủi nghe?

Nơi trung lâm phát lệĩih ra là nơi thiêng liêng nhất. Nó được cách biệt với thế giới trần lục ở ngoài bằng rất nhiều vòng tròn xếp thành ba cấp. Chắc là để cho tôn quý hơn lên.

Vòng thế giới trần tục, trang trí có vẻ như một đám rước với những sửa soạn cho việc cúng lễ chứ không phải tả cảnh sinh hoạt thường nhật. Có người ăn mặc kỳ dị, nhảy múa, cầm Xênh, gõ nhịp và đánh trống. Lại có những nhà sàn, thuyền mà ta có thể hiểu là những loại kiệu của đám rước. Người khoác áo lông chim, đội mũ cánh chim, lông giương lên, cả với những mất chim thể cách hoá khắc ở trên thuyền, trên các dụng cụ, khiến có thể nhận là một đám rước để đón mời thần linh là chim. Không thế nói rằng ngày thường người ta cũng ăn vận như thế và làm những việc như thế. Tất cả những hình vẽ và xếp đặt không đăng đối nhau thì không phải có dụng ý làm đẹp để bán như một món hàng hoá thường. Có điểm nào là đầu đám rước và điểm nào là cuối đó mà mình chưa nhận ra được.

Vòng ngoài ngăn cách bởi. nhiều vòng chạm chỉ có cầm và thú. Ta đếm thấy 10 con hươu, 6 con chim như gà, rồi lại 10 con hươu đến 8 con chim như gà nối đuôi nhau trong cả vòng. Có thể chăng là những phẩm vật để dàng cúng? Nhưng sao lại 20 con hươu vặ 14 con gà?. Và đến vòng ngoài cùng là 18 con chim cánh lớn nối đuôi nhau và mỗi con dường như có một con nhỏ theo sau. Nhưng sao lại 18?

TÁC DỤN(Ỉ CỦA TRỐNG

Điều này chưa thấy nhà khảo cổ nào nói ra; trống bằng đồng với nhũìig âm tiếng vang đi xa có theo những ý nghĩa ma thuật nào đó, ngoài cái điều người ta hiểu nó Icà một nhạc cụ. (Một nhạc cụ mà các điểm trên mặt trống, lừ trung tâm ra đến vành ngoài, gõ vào tiếng kêu đều có thể khác nhau. Chưa biết chừng còn chỗ dày, chỗ mỏng, chỗ có nhiều vết chạm, và chỗ không cũng có những tiếng khác nhau nữa).

59

Nhũng hình khắc ở trên quả không hề phục vụ mục đích mỹ thuật để nhìn cho đẹp mắt. Biết đâu lại chẳng có thể là một trật tự của một bài nhạc nào? Ngoài ý nghĩa là những hình phù chú để tăng thêm quyền uy cho tù trưởng và sự linh thiêng cho tiếng trống?.

TRỐNG ĐỔNG c ó TỪ H ốl NÀO?

Theo các nhà khảo cổ phương Tây được Nghiêm Thẩm ghi (trong

bài Sự tồn tại của bản chất Indonésien trong nền Văn hoá Việt Nam).

“Tại Đông Sơn, ngav trong một di tích, có thấv vài đồ hằng sất lẩn với những dồ bâng dồng rất dẹp và nhiều dồ dùng mãi nhẵn, cũng có cả những dồ dá dẽo kiểu như (ý Bắc Sơn Anhdônêdiêng’’

“Văn minh Đông Sơn là một sự pha trộn những truyền thống kỹ thuật và mỹ thuật địa phương và những sự góp phần của văn minh Trung Hoa. Vì vậy, ta thấy cà những dồ dùng xuất xứ từ Trung Hoa như gươm, lọ, gương hằng dồng gốc của giống Anhđônâdiêng như các thứ khí giới, dèn, trống dồng, kiểu bản xứ ”.

Mặt khác, Nguyễn Đăng Thục trong sách Tư Tưởng Việt Nam (trang 27) cũng nhận xét:

“Làn với các trống đồng, người ta còn tìm thấy những tiền đồng dời Hán hên Tàu. Vì thế có thể định được niên dại. Một sô' các trống đào được đều thuộc vào loại I và chế tạo vào khoang đầu kỷ nguyên dương lịch ”.

Chúng tôi nghĩ rằng việc đời đã không giản dị quá như vậy. Nhà tôi có một món đồ xưa, truyền lại từ rất lâu đời. Nay có giặc, tôi chạy, tôi phải chôn nó xuống đất. Khi chôn, tôi đánh rớt một vào đồng tiền đang tiêu xài. ít trăm năm sau hay cả ngàn năm sau, có người đào được, bảo rằng đồ xưa ấy ở cùng thời kỳ có đồng tiền ấy. Thì thật là nói điều ức hiếp.

Kể chung về sự tiến hoá của nhân loại, sau thời đá mài, đến thời đồ đồng thì ở Ai Cập, Lưỡng Hà được định niên đại vào khoảng ba ngàn năm trước công nguyên. Nay gập cái trống đồng ở Đông Sơn, người ta lại chỉ cho nó được sản xuất ra vào đầu kỷ nguyên dưofng lịch thôi, nghĩa là hụt cho gần ba ngàn năm. Lấy cớ rằng tuỳ vùng mà thời đồ đá kéo dài vì chậm tiến.

Có điều chúng ta để ý ràng: đầu kỷ nguyên dương lịch thì họ Hìmg

Vương đã bị họ Thục thay thế rồi, từ năm 257 tr. CN.

Năm ấy họ Thục đã biết dùng những mũi tên đồng. Người ta mới đào thấy tại cổ Loa hàng vạn mũi. Và trước họ Thục, sử chép vua Hùng còn đem quân vào dẹp loạn ở Cửu Chân, có một tù trưởng gióng trống đồng để nhà vua thắng trận. Ta không rõ cuộc dẹp loạn ấy diễn ra vào hồi nào để định niên đại. Dù sao khống phải lúc gióng trống ấy người ta mới đúc trống mà trống phải đã có từ trước nữa rồi.

60

Kết luận lại, chúng ta chưa rõ được trống xuất hiện từ hồi nào nhưng chúng ta vẫn có thể xác nhận là không phải đến khoảng đầu kỉ nguyên dương lịch mới có.

61

Cuộc sống ở rừng núi rất cần đến sự truyền âm để gọi nhau và ra lệnh cho nhau. Dù có chạm tiến, kéo thật dài thời đồ đá, người ta cũng phủi lình cờ gõ vào một vài nhũ đá cho nó bật lên thành tiếnu như tiếng chuông đồng, để khi đem cục đá ấy ra chỗ khác gõ thi nó không kêu nữa khiến người ta phải đi tìm một cái gì khác để gõ. Do đó mà tình cờ người ta lượm được những quặng đồng để gõ, cũng không kêu, nhưng liệng vào đống lửa thì dần dần độ nóng làm cho chảy để rồi gõ lại thấy kêu. Ta thí dụ cái trình tự tìm tòi lự nhiên là như thế. Chẳng hề dợi có người lạ đến và mang theo những dồ bằng dồng, rồi người ta mới đi tìm cách đúc đồng.

KỸ THUẬT

CHƯƠNG III

TỏlVl LƯỢC

Kỹ thuật đồ đồng

Kỹ thuật đồ đá

Đồng không thấy dùng đúc một vật gì khác ngoài trống và những mũi tên (gọi là tên thần). Chứns tỏ nsười ta cho đồng một tính chất thiêng liêng và chi’ một số người nào được ân sủng mới được phép sờ vào và làm việc đúc đồng. Bí quyết vì vậy không được phổ biến. Rất có thể kỹ thuật đồ đồng có từ lâu và rất tiến mà ngoài xã hội, người tiền sử vần dùng đồ đá như xưa.

Những di tích về trụ đá và chum bằng dá của khu vực Thượng Lào

Kỹ thuật đóng thuyền

chứng tỏ rằng khu vực ấy có người tiền sử từ thời đồ đá cũ.

Tất cả cũng đã có, khi đã có hình thuyền khắc trên trống đồng.

KỸ THUẬT ĐỔ ĐỔNÍỈ

63

Điều khiến ta băn khoăn là chất kim khí bàng đồng chỉ thấy dùng làm trống với những mũi tên mà không thấy còn dùng vào việc gì khác. Những mũi tên thì theo truyện Thần Kim Quy, với lẫy nỏ thần, ta thấy có chứa đựng một nội dung thần bí thiêng liêng. Và trống cũng là vật chi dùng trong những việc thiêng liêng. Chắc hẳn đối với người xưa đồng và những cục quặng để nấu ra đồng phải là một sự ban ơn nào đặc biệt của thần inh, cho riêng một bộ lạc và tù trưởng nào biết, để chỉ làm những vật t liêng liêng, mà không dám dùng làm những công cụ thường. Nếu trống đồng, rồi sau các bộ lạc khác cũng có, thì ắt có sự trao đổi lấy trâu dê. Và các bộ lạc có kỹ thuật đúc đồng ấy ất trở nên minh chủ và giầu nhất, để lại càng giữ bí mật kỹ thuật ấy.

Không nói đến nội dung những hình điêu khác. Chỉ nguyên việc tìm hiếu người xưa đã dùng những công cụ gì để khắc hình tương đối là rất linh xảo trên mặt và thành trống, cùng những Cíích thức làm ra sao cũng dã thấy nó phải trải qua một kỹ thuật đồ gốm rồi mới tới dược.

Muốn Icàm được những dồ gốm như nồi, lu tròn thì phai dùng kỹ thuật nặn và xoay tròn để tiện đứng và phải có khuôn gỗ. Nói dên khuôn gỗ lại không thể quên được diều người ta cần phải có những dụng cụ sắc bén đê cưa và gọt gỗ. Dù dụng cụ ấy bằng đá thì cũng phải mài mỏng đến độ bén cần thiết.

Những hình khắc trên mặt trống, nhỏ chỉ vài ba phân mà nét vẽ những con hươu với sừng, những con gcà với cánh đcã thật khôn, có lẽ người đời nay cũng chi’ vẽ sắc sáo nổi dến thế mà thôi. Hình thì đều nhau nhưng đặt cách khoảng không đều nhau chứng tỏ rằng có mẫu để khắc dần. Và phải khắc trên cốt sáp ong dể in hẳn vào khuôn trước khi đúc. Khuôn nặn bàng đất sét khi hấp nóng thì sáp chảy tan đi hết để chừa khoáng trống cho đồng chảy vào.

Với bàn tay khéo léo và những đồ dùng chắc là nhỏ bé, người ta làm dược những nét ấy thì không phải là không làm nổi những đồ trang sức hay những dồ gì khác. Tim nhiều và tìm kỹ ắt thấy. Hoặc giả không thấy thì đúng là người xưa dã coi chất kim khí này là quá thiêng liêng, chỉ dành riêng để làm những vật thiêng liêng mà thôi.

Nếu thế, dịa vị người thợ khéo trong xã hội cổ này đã phải thế nào? Hẳn là tôn quý, chỉ một dòng người nào mói dược làm, coi như việc sửa soạn đ ể dâng cúng, nên nghề không phổ biến, và trong khi nghề kim khí đcã liến thì ở xã hội ngoài, người ta vẫn dùng dồ dá như xưa.

Theo nhận xét ấy, ta hiểu hiện tượng chậm tiến của khu vực đã không phái là đến 1,2 thế kỷ tr. CN mới có kỹ thuật đồ đồng mà có thể là có dã lâu. Nhưng tại óc mê tín dị đoan quá nặng của khu vực, lại được nhóm bộ lạc chuyên môn có thể còn vì quyền lọi mà đẩy thêm sâu nữa để giữ độc quyền và bí mật sản xuất nên tuy có từ lâu, mà có rồi thì đứng lại nguyên chỗ cũ.

64

Đặt minh vào sống trong khung canh ấy, ta có thể phỏng đoán ràng mỗi khi làm việc đúc một cái trông ắt dã phải có lễ lạt linh đình, ăn uống phè phỡn, rồi ca vũ nhạc rộn ràng, hàng rất nhiều ngày và nhân dân thì từ khắp nơi dã phải đến đóng góp cône quá, có khi cầu nguyện đèm ngày nữa. Rồi người thợ cả thủ vai một thầy pháp luyện kim thạch, dã có thể có những y phục rợn người dể làm nhiều phù phép vào lò nấu, cho đến hoa-mắt dàn chúng lên.

Nhớ lại tài liệu ghi trong sách Tnỳ Thư Địa Lý nói về tục thoa đồng cổ, con eái con trai nhà eiầu lấy vàng bạc làm chiếc thoa lớn cầm đánh vào trống rồi để lại cho chủ nhân, ta hiểu mỗi dịp đúc trống là một dịp trọng đại trong đời sống bộ lạc, tốn kém cho hết thảy mọi người, nhưng tập trung tin tưởng mọi người vào ma lực của tiếng trống thì cũng tập trung được hết thảy*'^.

Ta thấy kỹ thuật đúc đồng riêng để làm trống đã nghiêng về tính cách ma thuật của tín ngưỡng cổ sơ (không phải kỹ thuật sản xuất công nghệ) mà chính người chủ trương lễ đúc ấy nhiều khi đã có thể rất chân thành dể nghĩ rằng người ngoài không được ân sủng mà đòi biết thì họ sẽ gặp tai họa.

Việc đúc trống đã nghiêng về tính cách ma thuật như thế, ta nên tránh nhìn vào khía cạnh tiến bộ vật chất mà nghiên cứu, như các nhà khoa học phương Tây. Ta lại nên hiểu những hình chạm đã có thể được vẽ trong những lúc lên dồng cầu cúng, con người thấy không còn tự chủ nữa mà đã như có một hồn thiêng nào khác nhập vào chỉ huy cái óc mình nghĩ và cái tay mình làm, dể cuối cùng hình vẽ ấy là bùa thiêng và số lượng bùa thiêng ấy, xếp đặt ra sao đó, sẽ giúp cho cái thiêng chung của tiếng trống khi hành lễ.

Chưa có một sự nghiên cứu về ma thuật cổ sơ này thì chưa thể tìm hiểu ý nghĩa tượng trưng của các hình vẽ. Nhưng hiểu về hình thức rằng dấy là căn cứ biết sinh hoạt và y phục ở cổ thời như các nhà khoa học phương Tây, thì có quyền dè dật.

KỸ THUẬT ĐỔ ĐÁ

Sách Đại Nam Nhất Thốníị Chí, tỉnh Thanh Hoá c d nói: “Nghê côrnị thì cũng không có nghề gì đặc hiệt. Họa chăng có nghề thợ dá lù môn sà trường. Những người ở về An Hoạch thuộc huyện Đông San có thể lấy đá chế dược cúc dồ thường dùng trong nhà ”

Sách Hướng Dần Du Lịch của Madrolle cũng ghi: trên đường Bỉm S(rn di Nhân Lộ khỏi khu Đầm Tôm của họ Trịnh 3km, có tìm thấy những xương hoá thạch của loài vật, những đồ gốm, những khí giới và dụng cụ

Có lẽ lục Pcày đã không mất trong xã hội Việt Nam về sau mà chỉ biến thái ít nhiều trong những lễ đúc chuông. Phải có phần đóng góp của bá tính: ai có đồng cũ thì bỏ vào nổi nấu, ai có một vài phân vàng hay bạc đem đến bỏ vào thì công quả ấy mới khiến chuông đúc ra được hoàn toàn thành khí và tiếng mới thanh. Thiếu phần đóng cúa bá tính, chuông đúc sẽ có lì vết và phải đúc lại. Điều đặc biệt là dù nhà sư chủ trương việc đúc chuông đã chuán bị đủ số lượng đồng đế’ nấu rồi nhưng vẫn không dám từ chối việc đóng góp của bá tính.

65

bằng đá ở thời đồ đá mới, cùng những bộ xương người ngồi xổm. Cũng sách ấy ghi ở nơi gợi là Đá Nhảy ở bờ biển có những tảng đá lớn như tuồng người rắc ra và trên một táng đá thấy có dấu chân người rất to lớn. Phải chăng đấy là dấu chân người tiền sử?

Cũng nên kể thêm ở trong cùng khu vực Thượng Lào ấy gần Xiêng Khoảns có Cánh Đồng Chum còn nhiều di tích trụ đá lớn thời tiền sử. Có 3 nhóm 16, 24 và 120 cái, đẽo tròn ở ngoài và đục rỗng ở trong hình cái chum, còn thấy cả vệt đẽo của đồ dùng. Những chum này bằng sa thạch, ớ trên đường đi Siu thì bằng đá rán granil và đường Mường Phan thì bàng dá vôi, đường Mường Tsé bằng dá schiste. Khuôn khổ to nhỏ hơn nhau. Có cái cao tới 2,9m đường kính l,28m. Người Lào coi những chum này là vật linh thiêng không dám dụng tới.

Ta thấy khu vực từ Thượng Lào ra tới bờ Đá Nhảy của vùng Thanh Hoá. đã có đủ bằng chứng là có người tiền sử cư ngụ. Những người ấy dính gì tới người Giao Chỉ chăng? Hoặc phải chăng dây là người thuỷ tổ của giống Giao Chỉ? Có lẽ phải chờ điều kiện và có phương tiện làm việc khai quật mới có thể trá lời được.

Riêng về kỹ thuật đồ đá này, ta thấy cũng như kỹ thuật đồ dồng, sự giũ’ bí mật nhà nghề dã là nguyên nhân chính khiến cho cuộc tiến hoá ở thời thượng cổ chững lại, không giống như đà tiến hoá chung ở các khu vực châu Âu. Mà sở dĩ có sự bí mật nhà nghề cùng dành riêng cho một bộ lạc nào làm nghề thỏi, cũng lại vì mê tín dị đoan nữa. Công dụng của đồ đá dể phục vụ nhân sinh đã chỉ có về sau này vào thời cổ thôi. Còn ở thời thượng cổ nó là tôn giáo. Những trụ đá, những đá chồng do hiện tượng tự nhiên bày ra đã dược người xưa hiểu là do huyền lực thần linh để cho những đá ấv có tính cách thiêng liêng, không dám phạm tới như những đá khác trong các núi non, hoặc lẫn vào các hang động. Chỉ những người làm nghề chuyên môn mới phàn biệt nổi những loại đá thiêng để tránh đụng tới kẻo gặp tai họa. (Tai hoạ không những cho đương sự mà có thể cho cả bộ lạc nữa). Cho nên nghề làm đá chỉ cần sức khoẻ và phương tiện, ai cũng làm được cá, vậy mà người ta dã lự hạn chế đi.

66

Sau này, đến tận gần đây, dân chúng cũng vẫn còn có người tin rằng có những cục đá thành tinh chôn sâu dưới đất từ trước hoặc lõ không biết đem về nhà, nay có quấy phá không yên thì phải cúng bái rồi đem tha xuổng sông. Bới có cái niềm sọ' hãi ấy từ rát lâu dời nên tư gia không dùng đến đá vào việc xây dựng, dù là dùng làm đá tảng kê chân cột. Mà chỉ có những nơi thờ tự, có thần linh chế ngự được yêu tà thì người ta mới dám dùng dá để làm bia. làm con rùa dội bia, làm tượng phỗng đá. voi

nsựa. cũna như bó nền, đỡ chân cột. Còn những di tích, những nông cụ bằng đá đẽo, đá mài, hoặc rìu búa, mũi lao, thì hẳn nhiên người ta đã dùng những đá vô hại để làm ra.

Về diểm này, cũng phải nhắc đến con chó đá, là vật bằng đá gần như duy nhất trong việc dựng nhà ở thôn quê thời xưa. Mục dích người ta chôn cục đá hình con chó ấy ở đầu cổng, đầu góc đao đình là để trấn yểm những tà ma. Chó ấy, theo lời đồn, còn vẫy đuôi được để mừng anh học trò trong làng sắp đi thi và sắp đỗ dể báo hỉ nữa. Vậy đã rõ là có người đã có thể vì mê tín mà gán cho dá một tính chất linh thiêng.

KỸ T H U Ậ T Đ Ó N (; TH UYỂN

Trong những hình vẽ khác trên mặt trống có hình thuyền. Nếu những bộ lạc ở sơn cuớc không có kỹ thuật đóng thuyền, ắt là những bộ lạc ớ ven biển phái có.

G. Cocdès trong sách c ổ sử nlìữiu> Quốc í>ia An Độ hoú ở Viễn Đóní> đã nói: ‘‘'Bán đào ĐôniỊ Dương vù những quần íỉào ở Nam Hải lù những nước à vùng nhiẹt cíới chịu ảnh hưởng của gió mùa. Mặc dầu những tha\ dổi hùng nũm khác nhau, rất hại cho sự trổng trọt nhưng vần có sự nối tiếp nhau của những mùa khô ráo và mùa mưa, nó qux dinh dời sốmị của dân dinh cư, vù vẫn có xen kẽ nhau những hỏi có gió mạnh dể dịnlì hướng di cho những thuyền buồm ”.

Nhìn chung C ií khu vực Đông Nam Á , ông viết: “ổè/ỉ kia phòng ngự thiên nhiên của hán dào Mã Lai vù nhữní^ quần ddo nổi tiếp là cả một thứ Dịa Trung Hải tạo thành hởi hiển Trung Hoa, vịnh Xiêm La, và hiển Java. Dịa Trung Hdi này mặc dầu có gió hão và dá ngầm, luôn luôn vẫn dược dân ven hiên coi là phương tiện d ể giao tiếp với nhau, lum là nluìng chướnịị ngại. Từ trước khi có những íhuy thủ lUịoại quốc t('fi, dán chúìU’ à dây dã có hdi thuyên của họ ”.

Sylvain Lévy bài Đ ể viết lịch sử Rarnayana, đăng trong hảo dournal

Asiatique 1/2/1918 cũng viêì:

''Chiều con nước vù chiều gió rất cần cho hdi vận, từ rất lâu dã sắp dặt hệ thống Hên lạc, từ h('f hiển Châu Phi dcấi Á Rập, vịnh Ba Tư, Ấn Độ, Đông Dương và sau lù cả Trung Hoa đều có dựphârí'.

Theo Pelliot, Ân Độ và Trung Hoa hồi đầu kỷ nguyên đã có những hái thuyền chở được 600 dến 700 htành khách, dóng theo kỹ thuật ở vịnh Persique.

67

Chắc hẳn những thuyền cỡ ấy phủi ghé vào hải kháu Cửu Chân. Và dân ở ven bicn Cửu Chân phái trông thấy mẫu đổ học theo mà đóng.

Hiện nay có nhiều làng ở ven biển có thợ chuyên môn đóng thuyền, ắt là theo thuyền thống từ xưa.

68

Về việc hải lưu và giang lưu, la nhớ một tài liệu cổ sử nói ràng vua Hùng có dùng thuyền vào dẹp giặc ở Cửu Chân. Không rõ đường thuyền đi ra sao. Chỉ thấy nói thuyền quân gặp sóng gió đi không được. Sau có một ông già người bản xứ nhận hướng dẫn, ba quân cứ theo thuyền của ỏng mà đi là thoát chỗ hiểm nghèo. Trận ấy như vậy vua đại thắng. Nhưng quay lại tìm thi không thấy ông đâu nữa. Vua cho là thần nhâ' nên phong tặng là Áp Lãng Chân Nhân.

c h ư ơ n í; IV

ĐÒI SỐNG VÔ HÌNH THẨN BÍ

TOM LƯỢC

Do ảnh hưỏfng của thổ vũ, vùng rừng núi Cửu Chân có nhiều đặc

tính giống với khu vực địa dư của Ân Độ để nảy sinh loại thần bí hư vô.

Nhưng người Giao Chỉ có những tin tưởng phiếm thần và những hiện tượng đồng bóng như những dân thái cổ khác, vì mục đích phụng sự nhân sinh mà không có sự trầm tư để’ tìm tòi những lẽ huyền bí siêu hình như người An Độ.

Sự đãi ngộ của thiên nhiên đã kim hãm con người ở mức làng nhàng về phương diện siêu hình huyền bí; mà về phương diện thực tế thì cũng luẩn quẩn mãi trong vòng chậm tiến.

Qua những sinh hoạt nghề nghiệp kể trên, ta thấy người Giao Chỉ bị đắm chìm trong bầu không khí vô hình thần bí, nó ghìm chặt cứng lại không tiến hoá được.

Một phần rất lớn là do ảnh hưởng của thổ vũ, những ảnh hưởng đã

mọc từ dưới đất lên và rơi từ trên trời xuống, như lời người ta thường nói.

ớ đây là một mảnh nhỏ hẹp của khu vực địa dư loại Ân Độ, có rừng rậm thâm u, đưòfng núi đèo hiểm trở, bóng tối bao trùm suốt ngày trên những cây cối xum xuê, hang động ẩm ướt, mưa thì mưa tầm tã hàng tháng không dứt nắng thì gió Lào thổi tới như thổi lửa vào mặt và lạnh từ miền Bác xuống thì lạnh đến buốt xương. Con người cựa quậy trong khung cảnh ấy thấy mình nhỏ bé đi trước những cái để mà sợ. Cho nên, loại đất này, theo sự nghiên cứu của các nhà thần bí học, dã rất hợp cho sự nảy nở của một loại thần bí hư vô (quiétisme) và thụ động trước những mãnh lực thiên nhiên.

Vùng đất này không giống với khu vực ở Trung Đông, vùng ludée, Apennis, Cévennes và đồi núi Á Rập, đất cát khô cằn, nóng bỏng với đồi

( 1 ) Hiện tượng Poehn gió nóng và khô từ mạn Đông Nam tới, thổi tạt vào sườn núi dồn không khí khiến nóng hết sức.

Ó9

hoang núi trọc, nó đẩy con người xông xáo chiến đấu tích cực chống những ngược đãi của thiên nhiên để tìm phục vụ nhân sinh và tìm về những ven sông phì nhiêu mà tranh chiếm lấy đất sống. Con người ở đấy khôns bị mất tự tin, lắm khi còn ngang tàns dưới những bầu trời sáng sủa như muốn bốc mình bay bổng lên. Cho nên ở khu vực ấy sinh ra một loại thần bí khác là loại tiên tri (prophète).

Trong buổi sơ khai, bất cứ giống dân nào cũng sợ những hiện tượng thiên nhiên. Người Giao Chỉ ở vùng rìmg núi Cửu Châu còn phai sợ nhiều thứ hơn và sợ nhiều hơn nữa nhất là sợ bệnh tật do khí hậu độc địa gây ra, sợ chết chóc không cách gì cưỡng được, sợ những gì quái dị nảy ra với bóng tối mà tưởng tượng của chính người ta còn làm cho ghê rợn hơn.

Những cái sợ này chưa phải là thẩn bí. Nhưng là những cái cửa mở sẵn để người xưa bước vào đời sống thần bí, bằng những cơn khủng hoảng tinh thần, những cơn mê hoảng đến hoa mắt, nhìn cục dá ra người, nhìn rễ cây ra rắn, nhìn bóng tối ra thần thánh ma quỷ với những hình thù tuỳ tưởng tượng của mình mà có. Đó là trường hợp nếu người bệnh thành điên cuồng thì người ta cho là bị ma làm, không thuốc nào chữa được. Lại phải dùng đến cách ngồi đồng nghĩa là một cách làm bạt hồn mình đi bằng những chất kích thích như rượu mạnh, thuốc phiện và những tiếng đàn hát, trống phách dồn dập cho nhức óc đinh tai lên để một hồn thiêng nhập vào xác. Người ngồi đồng mất tự chủ, mất hẳn bản ngã cũ và mất luôn những xúc cảm thông thường, để có những ý nghĩ, những xúc cảm mới khác, như tiếp nhận được nơi người khác, mà cảm thấy mình không còn là mình nữa và đã là một người khác rồi. Đó là trạng thái đổng bóng thần bí (mysticisme orgiastique).

Cũng có khi đồng lên với người này thì khó khăn lắm, mà với người khác lại quá dễ dàng. Chỉ cần ngửi thấv mùi hương, nghe thấy tiếng đàn ca là đã bắt đầu lên dồng ngay được rồi. Người ta gọi đó là đồng thuộc. Và vì sự chữa bệnh có khi cổng hiệu, có khi khổng, những lời rao truyền báo trước các sự việc cũng có khi đúng, có khi sai nên người đời hay bán tín bán nghi cho là vờ ra thế. Ta không có thể có gì đích xác để chứng minh mà công nhận hay đả kích trạng thái tàm lý ấy.

70

Chỉ có một điều đáng ghi nhận, ở phạm vi này của chúng ta, là trong buổi cơ khai, người Giao Chỉ xưa đã rất quen thuộc với những vụ đồng bóng ấy như phần lớn những giống dân cổ sơ khác. Để rồi trong những con mê hoảng, trong những lúc mơ màng như xuất hồn khỏi vòng trần tục mà vào thế giới vô hình, người ta mới dụng ý mê hoặc chúng hay có khi rất chân thành cảm thấy theo tưởng tượng của mình, để mách bảo

cho mọi người biết các thứ thần linh trú ở gốc cây, hốc đá, các thứ hồn thiêng trong cá những con vật (rán, ngựa, cọp ...) có khả năng sinh phúc giáng hoạ cho người, cũng như các hồn ma, quỷ, yêu quái cần phải cúng cấp trừ yểm.

Đó là gốc phát sinh những tin tưởng phiếm thần, chưa gọi được là tín ngưỡng tôn giáo và cũng chưa có người quan niệm được thật rõ hệ thống trật tự của thần linh cùng thế giới vô hình nơi sinh hoạt của các thẩn linh ấy.

ớ ngay địa hạt này, so với Ân Độ, người Giao Chi cũng chậm tiến. Như đã nói trên, khu vực địa dư có những đặc tính giống với khu vực địa dư của Ân Độ. Nhưng dáng lẽ phải nảy ra những nhà tu hư vô, dấm hồn triền miên trong cuộc sống thần bí mà tạo dimg những hệ thống tư tưởng siêu hình vĩ dại như tại Ân Độ thì đã lại không có gì cả. Người ta chỉ hạn sự hiếu mãnh lực của thê giới vô hình vào phạm vi mục tiêu phục vụ nhân sinh, nghĩa là vì cần dùng trong của cuộc sống thực tế, thì người ta phải tin như vậy thôi, khổng vì một thao thức tìm tòi chân lý về nguồn gốc của vũ trụ và đời sống. Ây cũng là tại rừng rậm cũng chưa thật là rậm, núi cao cũng chưa thật là cao, không có hẳn những nơi biệt lập khởi đời sống phàm tục để trầm tư, và cá khu vực quả là còn chật hẹp, ngay cho sự rong ruổi kiếm sống thường ngày của các bộ lạc. Có thể chắc rằng sự kiếm sống đã auá chật vật nên bắt buộc con người phải thực tế ở mặt dất, ngay trước mắt, nhiều hơn là thả hồn đến những từng trời xa thẳm ở đâu đâu.

71

Vì vậy, có thể kết luận rằng sự dãi ngộ của thiên nhiên đã hạn chế, con người Giao Chí lạí ở mức làng nhàng, không có gì xuất sắc về phương diện siêu hình thần bí, mà như đã nói ở chương trên, về phương diện thực tế thì người Giao Chỉ cũng lại bị bó gối vì những tin tưỏfng phiếm thần, không tiến hoá được.

CHỮ VIẾT VÀ TIẾNG NÓI

CHƯƠNG V

iO M LƯỢC

Chữ viết

Tiếng nói

Nhiều người cho những chữ hoả tự còn lại ở Châu Quan Thanh Hoá của người Mưòfng bủy giờ là chữ cổ của người Giao Chỉ. Nhưng sự nghiên cứu chưa đến nơi, không rõ chép ở đâu, trường hợp nào, những chữ ấy có nghĩa gì, có nhiều cổ vật nào khác thấy dấu chữ ấy không? ... nên chưa thể nhận được.

Những âm gốc

Cần người thạo tiếng Mường nghiên cứu tìm những tiếng gốc của hai bên xem có chỗ giống nhau chăng. Phần tiếng của ta thì còn một tài liệu của sứ thần nhà Nguyên ở thê' kỷ XIII, nhấc đến nhiều tiếng mà nay vần còn dùng.

Có 900 âm Việt thuần tuý. Nhưng có 644 âm chưa được dùng tuy người Việt vẫn phát âm được. Sô' âm còn lại và thường dùng là 256. Trong số những âm này, không kể những âm tượng thanh làm ra những tiếng tưọĩig thanh (mà tiếng nước nào cũng có) đã có 204 âm tượng hình gồm 22 bộ để tạo nên những tiếng tượng hình. Khi nói lên thì người nghe nhận ra chiều hướng, hình dáng, động tác, các vật và việc, cả mùi vị, màu sắc, phong thái, là những gì trừu tượng nữa.

Bởi vậy có quyền nói tiếng Việt là tiếng tượng hình mà danh dự sáng tác ra bộ tiếng nói ấy của người Việt đã không kém gì danh dự của người Trung Hoa đã sáng tác ra chữ tượng hình.'

CH Ữ VIẾT

71

Trong một quỳển sách nghiên cứu về Thanh Hoá hồi tiền chiến là Thanh Hoú Quan Phong của Vương Duy Trinh, ta thấy những chữ mà tác

giá cho là chữ Mường và viết: Tỉnh Thanh Hoá một Châu iỊiian cỏ chữ lù lối chữThập Cháu dó. Níỉiỉời ta ĩhườmị nói: "nước ta khỏiìíỉ có chữ". Ta nỉ>lũ râmị không phải. Thập Cháu vấn là đất nước ta, trẽn châu còn có chữ, tẽ nào dưới chợ lại khômị? Lối chữ châu là lối chữ nước ta dó.

Sau đó Nguyễn Đổng Chi trong sách Việt Nam c ổ Vân Học Sử có in lại. Gần đây Hoàng Trọng Miên cũng có in lại trong sách Việt Nam Văn Học Toàn Thư quyển I.

Không rõ đây có đúng là chữ Mường không và Mường mới ngày nay hay Mường từ xưa? Các tác giả không nói rõ được là chép ở dâu, trong trường h(Tfp nào, những chữ ấy có nghĩa gì? Nếu đó là những chữ cái thì những chữ cái ấy ghép với nhau ra sao để thcành những âm tiếng ra sao và có nghĩa thế nào? Nêu lại là những chữ từ xưa thì bây giờ ai đọc được?

Chúng tôi thấy chưa đủ yếu tố để tin. Nhất là khi bảo rằng đấy là những chữ cái thì phải có sự sắp đặt hợp lý cho thành chữ. Đầu óc người phương Đông dường như không hợp với những sáp xếp phương Tây ấy.

Trong tài liệu nói về trống đồng ở đền Đông c ổ Sơn Thần, có thấy ghi là có những hình chữ khoa đáu mờ không trông rõ. Vậy nếu như có chữ. thì chữ cũng thuộc loại ngoán ngèo và phần nào tượng hình chứ không thể là biến thái của những nét chữ nửa Tàu nửa Tây dược. Ta còn cần để ý nghiên cứu vấn đề này nếu có cơ hội.

TIẾN (Ỉ NÓI

Tiếng nói thì nhất dịnh phái có rồi đối với bất cứ một dân tộc cổ sơ nào. Nhiều người nbận rằng trong tiếng Mưcmg còn có nhiều tiếng tương tự với tiếng Việt để có thể đoán \ÌI hình thức tối cổ của những tiếng Việt tương đương.

(Theo Nguyễn Bạt Tuy, tiếng Mường hiện nay còn được nói ở vùng rừng núi trong các tỉnh Phú Thọ, Son Tây, Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình, khãp lỉnh Hoà Bình, một phần tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Quáng Bình và ngay ở tỉnh Khăm Muộn bên Lào).

Đế có thể so sánh mà biết được chắc chắn điều ấy, cần phải người thạo tiếng MưcTng lập bảng kê những âm gốc của họ rồi xem có đối chiếu được với những âm gốc trong tiếng ta không. Đày là một việc làm khó khăn, tốn công nhiều vì sinh ngữ của la trải nhiều năm tháng chịu ảnh hưởng của các sinh ngữ khác, cũng nhiều tiếng còn nói đến bây giờ, nhưng nhiều tiếng dã mất. lại không có tự điển ghi lại.

74

Trong Sứ Giao Châu Tập, Trần Cương Trung đời Nguyên, (thế kỷ XIII) đi sứ nước Nam, có ghi trong tờ sớ tâu vua Nguyên về tiếng nói của ta như sau:

"N^ữ âm tru li, vị thiên viết hột mạt, địa viết vến, nhật viết phù hột mạt, nịịiiyệt viết hột văn, phong viết giáo, vân viết mai, sơn viết can ngồi, thuỷ viết lược, nhãn viết mạt, khẩu viết mạnh, phụ viết chú, mẫu viết ná, nam tử viết can da, nữ tử viết can úi, phu viết chùng, thê viết đà hị, hảo viết lĩnh, hất háo viết chương lĩnh, đại tuất loại thử thanh cấp như phù, dại tựdiểu ngữ”.

(Tiếng nói của dân Tru Li , gọi trời là bột mạt, đất là yến, mặt trời là phù bột mạt, mặt trăng là bột văn, gió là giáo, mây là mai, núi là can ngỗi, nước là lược, mắt là mạt, mồm là mạnh, cha là chá, mẹ là há, con trai là can đa, con gái là can ái, chồng là chùng, vợ là đà bị, tốt là lĩnh, không tốt là chương lĩnh, cả thảy giọng như thế, tiếng nói gấp mà nổi, phần lớn giống như giọng chim).

Trong 18 tiếng mà người chứng ở thế kỷ xin dẫn ra, thì có 11 tiếng hiện ta còn dùng là gió, mây, nước, mắt, miệng, cha, nạ, con gái, chồng, lành, chẳng lành, còn 7 tiếng kia chưa đoán ra dược.

Như vậy để cho thấy vẫn còn những manh mối tìm về những tiếng

gốc và âm gốc.

KHẢO VỂ NHŨNG ÂM ( ỉ ố c

Trước hết chúng tôi thấy cần đính chính sự ngộ nhận của nhiều người cho rằng tiếng Việt của ta có 11 âm gốc theo mẫu tự La Tinh là a, ă, â, e, ẽ, i, o, ô, ơ, u, ư.

Những mẫu âm tự này có được dùng để diễn 11 âm ấy của ta, cũng như khi xếp đặt những mẫu tự ấy trước sau và xếp đặt thêm với các phụ âm cuối nữa, cùng thêm các dấu giọng là để diễn các âm khác. Chứ không phải chúng là gốc sinh ra các âm khác.

Vì nhận xét của chúng ta bị chi phối bởi lọi ghi âm của chữ quốc ngữ nên chúng ta đã dễ nhận lầm như đã nói. Nếu chúng ta tưởng tượng ràng không có chữ quốc ngữ theo mẫu tự La Tinh, và chúng ta để ý rằng xưa nay người Việt chúng ta vẫn phát âm: i, ác, ìm, uông, ái ... như a, e, ê vậy, thì chúng ta phủi nhìn nhận sự đồng giá của các âm, và 11 âm kia đã không hề bao giờ là gốc sinh ra các âm khác.

75

Chúng ta nên tỏ ý kính phục cái tài thu xếp khéo léo của những nhà sáng chế ra chữ quốc ngữ, chỉ bằng một số tối thiểu những chữ dùng làm dấu hiệu mà ghi được hết mọi âm trong tiếng ta, dùng sự sáng chế ấy, thực ra chỉ là tham khảo kĩ những cách ghép vần đã có từ trước của các tiếng châu Âu.

Dựa theo lối xếp đật ấy, người ta vẫn có thể dùng những dấu hiệu khác (không phải là mẫu tự La Tinh) để ghi âm mà cũng vẫn tới được cùng một kết quả, có khi còn phần nào giản dị hơn. Nhưng nói thế không phải là muốn tìm một đường lối sáng chế một thứ chữ quốc ngữ khác, mà chỉ là một cách nói cho thấy rõ: việc thành các âm trong tiếng nói đã không phải là việc xếp đặt những dấu hiệu để ghi những âm ấy.

Theo bảng kê chúng tôi đã lập trong sách Tiếng Việt, tiếng tượng phân theo nhóm A, E, 1, u, Y, chúng tôi thấy có 900 âm Việt hình thuần tuý, theo khả năng phát âm của miệng, môi, răng, lưỡi. Nhưng cũng còn người âm khác, mọi người có thể phát âm được mà không liệt kê, vì không dùng đến và chỉ do một số đồng bào của một số địa phương nói thôi, như ing, ìng, uung, uùng, hay aen, aet, aeng, aèng ... Ngoài ra còn nhiều âm khác của tiếng Pháp, tiếng Anh như: al, ar, as, il, ir, of, or, v.v... mọi người cũng có thể phát âm được, nhưng không liệt kê.

Trong số 900 âm kể trên không phải âm nào cũng đã dùng hết. Nhiều âm đơn như thế khống được dùng. Nhiều âm cũng chưa được hợp với bộc âm để thành tiếng mà dùng nữa. Có khi toàn bộ trong số chưa được dùng. Có khi trong mỗi số thứ tự chí có vài âm được dùng thôi. Chúng tôi đã tách ra và đã tìm thấy:

Các nhóm âm Số âm chưa được dùng

A E I 0 u Y Cộng 85 53 46 175 201 24 644 Số âm chưa dùng cả với bộc âm 18 8 0 52 44 36 158

Số âm còn lại thực được dùng là 900 - 644 = 256. Xin lưu ý bạn đọc về điểm dùng nói ở đây là dùng một cách đơn thuần. Còn dùng phối hợp với các phụ âm để thành tiếng thì tất cả đều có thể dùng được, tuy có nhiều trường họfp để thành nhiều tiếng chưa được dùng chưa có nghĩa. Thí dụ như: Đạ, Cã, Phĩ, Lõng, Việng, Khuổn, ...v.v... mà số lượng không đếm được xuể. Cũng như số âm chưa được dùng với bộ clm đã đếm là 158.

Chưa xuất bản

76

NHĨíNG â m t ư ợ n í ỉ t h a n h

Trong số 256 âm kể trên, có một số lớn là âm tượng thanh:

: on en : oang oang : ồ : ồn ồn, ồn ;

: ù : ùm, ủn ỉn : ụt ịl ; ư, ử : ứ ự : ử, ừ : vân, vân... à, ái àm, ạp ào ào, àng ặc ăng ẳng âu âu eng éc, ẹo ếch ộp, eo, ếp ò ó o. oà, oai oái oap oạp oeo oeo Ồm ộp

NHŨNG TIẾNÍỈ TƯỢNÍÌ THANH

Một số lớn âm nữa thêm bộc âm thành tiếng tượng thanh: ba ba, a ha, ha hả, hầm hừ, hú, hu hu, khà, quạ, càm cạp, mâm măm, càng cạc, khàn khàn, cằn cặl, lạch cạch, sang sảng, sáo sạc, hăng hắc, đàng hắng, bành bạch, bì bạch, cạch, đành đạch, khanh khách, lạch cạch, phành phạch, phào, gâu gâu, nheo nhéo, hềnh hệch, bò, xôn xao, lao xao, lào xào, xì xào, rào rào, gào, quang quác, tu hú, tùm, tùng bi li. tùng tùng, huỳnh huỵch, ứ hự v.v...

Không kể những âm và tiếng tượng thanh ấy, vì tiếng nước nào cũng

có, không lấy g'i làm lạ, chúng tôi chí đề cập đến ám tượng hình thôi.

Các âm này chúng lôi đã tìm được một phần và xếp đặt thành 22 bộ,

xin kể ra như sau: 1- Bộ tròn a) Với những âm gốc Itm>, ônị>, chính khi nói cũng phái phồng

má cho người đối thoại nhìn thấy hình cong.

Bộ âm này dùng diẻn tá những hình tròn, cong như: cái nong, cái võng, cái lọng, cầu vồng, quả bóng, cái vòng, thòng lọng, cái bụng, bòng bong, v.v...

77

b) Với những âm gốc oăn, oan, nôn, nán, để diễn ta hình tròn nhiều lần, lại có thêm sức người làm cho tròn nữa như: quăn, ngoằn ngoèo, xoăn, quấn, khoan, xoăn xoe, băn khoăn, luẩn quẩn, uốn éo, v.v...

Khi nói miệng người la cũníỉ phái làm như đánh một vòng từ trons ra. c) Với những ãm gốc oav, Iiâ\\ oai, ta sự cử động theo chiều tròn cứa noười hay vật như: quay xoay, ngoai ngoái, ngoáy, khoáy, quây, loay hoay, v.v...

Khi nói miệng cũng tựa hồ làm nhịp cho cử động ấy. d) Với những âm gốc oe, na, oa, ư, ưa, tủ hình tròn có nở lớn ra như: xoà, nhoà, hoa, loe, xoè, lở, nở, chửa, v.v... chính miệng nói cũng nở tròn như động tác ấy.

e) Với những âm gốc om, ôm, um, lá hình tròn hõm sâu xuống hay dưới một vòm của hang dộng như: thom lỏm, tõm, lổm ngổm, lùm tum. lom khom, dòm, lồm cồm v.v... Khi nói môi cũng mím lại và mắt mở trừng trừng như khi nom dòm cái gì ở bên dưới. 2- lìộ dẹt với nhũng ám gốc ot, el, op, cp, tả những gì đương bị làm cho dẹt hay không lớn được như: bóp, móp, tóp, hóp, sọp, bẹp, lép v.v...

Khi nói miệng tròn cũng cho môi khép lại thành bẹp. 3- Bộ nhỏ với những âm gốc u, ỏ tá những gì đương bằng phẳng mà nhô caơ lên như: khóc hu hu, mộ, tú hụ, rồ máy, lù lù, xù, nhô, lồ lộ, mó đất, lộ hầu, u đáu. mu rùa v.v...

Khi nói tiếng cũng từ nhỏ lên lớn, như nổi lừ một mặt phẳng lên. 4- Bộ méo với âm gốc co, ta những hình méo, mà chính miệng khi nói cũng méo trẹo sang một bên; méo, vẹo, ngoẹo, chéo, héo, queo, teo. đèo v.v...

5- Bộ nằm a) Với âm gốc ủm, ám, im lả những gì ngả mình trên đất hay dưới nước, như: nằm dầm, chìm, ngâm, lịm, ỉm, ngấm, ngầm v.v... Khi nói miệng cũng mím lại, như mặt nước khép lại khi có gì chim xuống dưới. b) Với âm gốc êììlì tá những gì nàm ngửa bụng lên trời như: lênh hênh, lênh dênh, chênh vênh, bềnh bồng, kềnh, ghềnh v.v... Khi nói miệng cũng đưa hàm dưới ra như làm nhịp cho sự trôi nối

bồng bềnh. c) Với âm gốc amị, âììiị, an, ăn, án, tả những gì nằm ngang như cán, chăng, lâng lâng, lan tràn, đăng, dăng, dàn, dàn v.v...

Khi nói miệng cũng mở ngang ra. 6- Bộ ấp với âm gốc ăp, ắp, úp, ụp, tá những gì từ trên cao ngã sấp xuống như; gà ấp, vấp, nấp, ngập, dập, lập cập, khấp khểnh, mấp mô, lấp ló, sấp. sập, úp, chụp v.v...

Khi nói miệng mở theo chiều dứng và bập mòi xuống. 7- Bộ vun với âm gốc un, ôn tả những gì vun lại thành dống như

7K

vun. dồn, đùn. đùn, hôn v.v...

Khi nói miệng cũng diễn động tác gom lại. 8- Bộ án với âm gốc ân, ủn, tả việc làm những g'i từ cao chận lại hay ấn xuống, đúng như khi nói răng đè xuống lưỡi: lặn, chặn, dận, nặn, ngãn. ấn. hằn, lán, xắn v.v...

9- Bộ hát với âm gốc ât, ất, tả việc làm bật những gì từ dưới lên

như: hất, cất, giất(giứt), mất, đứt, dứt, ngắt v.v...

10- Bộ vót với âm gốc ót, út, tủ động tác từ thấp lên cao, từ lón thành

nhỏ như: vót, tót, hun hút, chót vót, ngút ngàn, hút, rút, lút mắt, ngót v.v... Khi nói miệng cũng như thổi tiếng ra từ lớn đến nhỏ để mất hẳn. 11- Bộ bốc với âm gốc ốc, úc, tá dộng tác nhấc những gì từ dưới lên

cao như: bốc, vốc, xúc. múc, tốc, xốc v.v...

Khi nói môi mím lại như để giữ vật ấy không rớt xuống. 12- Bộ cúi với âm gốc Lii, tá động tác gò mình từ cao xuống như:

chúi, lúi húi, lùi, vùi, lủi, lùi lũi. bụi, cặm cụi, dúi, cúi v.v...

13- Bộ co a) Với âm gốc o, ỏ ta hình dáng dúm dó như : so đo, lò dò, mò, cò, lo, co quắp v.v...

b) Với ãm gốc ó tá hình dáng người co ro hay từ trong tối nhin ra

như: ngó, ló, hó hé, nhăn nhó, khó, bó, thó, v.v...

c) Với âm gốc ọ cũng là hình dáng ấy thêm vỏ cáu kỉnh: quạu cọ, lợ mọ. nhọ v.v...

14- Bộ to với ám gốc ổ, ù, tả những gì to lớn như: đồ sộ, gà tồ,

khổng lồ, xù, lù lù v.v...

Khi nói miệng cũng há lớn như dể mặt to ra. 15- Bộ béo với âm gốc ị, c, ì, ể, ờ, tả những hình dáng béo mập như:

béo ị, béo phị, phệ bụng, phát phì, bị, bị xị, xệ, bè, v.v...

16- Bộ bé với âm gốc â, í, tả những hình bé nhỏ như: bé tí. ti hí, tí tị, mí, chí, dí, lé, hé, v.v...

Khi nói miệng cũng nhỏ lại và phát âm nhỏ đi. 17- Bộ dài với âm gốc ai, tả những hình dáng dài hay những việc

kéo dài như: lài nhài, dai, nài, mài, dài v.v...

Khi nói miệng cũng kéo dcài hơn ra. 18- Bộ ưót với âm gốc líốt. ưưt, tả những gì trơn trượt như: mướt,

lưói thưcrt, tuốt, buột, mượt, vuốt, tuột v.v...

19- Bỏ !ạ với âm gốc c/.

bơ vơ, ngớ, đờ, ờ, ngừ ngờ, khù khờ, lớ lớ v.v...

79

20- Bợ toang với ám gốc oan}’, tá cảm tưỏtig từ chật ra rộng, từ tối ra sáng như: toang hoác, choáng, thoáng, quáng, loang, hoàng, quang đãng v.v...

21- Bộ bay với âm sốc í/v, ây tả những gì ở trên không, hay những

cảm tưởng vui như: mây, say, hay, may ,v.v...

22- Bộ lạy với âm gốc ạ, ạy, tả cử động cúi đầu làm lễ: ạ, dạ, tạ,

lạy, dậy v.v...

Nhũng bộ âm trên đây chưa phải là gốc tạo nôn tất cả âm và tiếns của ta nên chưa thể coi như những bộ chữ tạo thành toàn thể chữ Hán. Nhưng giá trị của nó là hé mở một dưcmg hướng nghiên cứu mà sự kiên nhẫn làm việc chắc hẳn tiếng tượng hình sẽ không phụ công người tìm tòi.

.

.

80

Danh hiệu tiếng tượng hình không phải là một danh hiệu kỳ dị, nếu ta dể ý nhận định những điệp âm, điệp ngữ hết xức nhiều trong tiếng ta, khôiiỉỉ nhữna dùng vào việc tượng thanh như tiếng các nước mà ta không kể đến mà còn dùng vào việc diễn lá như vẽ ra trước mắt hình ảnh những sự, việc, người, và vật. Xin tạm kể như sau đây: Thập thò mà lo chẳng chết Đủmị đỉnh như chĩnh trôi sông Đ/ỈA7g đỉnh như đề lĩnh vào kho Chấp cha chấp chới như quạ vào chuồng lợn Ngựa long cong ngựa cũng đến bến Voi thung thỉnh voi cũng dến bờ Đường đi khấp khểnh vó câu gập ghềnh Ngoe nguẩy như bà quẩy tôm Mặt mũi méo mó thì có đồng tiền Khói lên m>hi ngút Chồng cô vợ cậu chồng dì Tiếns kêu bằng dượng tình thì ỉãtuỊ lênh. Kễnh tha con lợn mắt coi chừng chừng Lủi thủi mà đi Im ím như gái ngồi phiii cọc Của đi rề rê của về mịhễu nghện. Ăn no rồi lại nằm khoèo Đăm đăm tưởng dạng ngân hà Đom đóm lập loâ Miệng /ừ/ỉg hùfu> lúng húiỉíỊ Ngất ngư ngất m>ưởng Cá lội mịù lìíỊỜ Tẩm tu>ẩm tầm ní>ầm dấm thầm chết voi Chưa tho lo đã thom lỏm V ’ . V .

Nehĩa là chính noười Việt chúng la, không cần phải là người có chữ nghĩa, chỉ nghe qua những tiếng ấy cũng mường tưcmg ra được hình ảnh của sự, việc hay người và vật. Nhất là với sự gợi ý ở đây, người ta sẽ tự tìm ra được không biết bao nhiêư tiếng lượng hình khác: Ngơ ngác, ngây ngô, bỡ ngỡ, lăn lóc, lập cập, len lél, bòng bong, ngất ngưởng, lừ đừ, loe toét, phất phơ, lép bép, lật đât, lập loè v.v...

Chúng la hãy để ý xem sự diễn tả về màu sắc: xanh, đen, vàng, trắng, đỏ, tím.

Xanh thuộc bộ nằm, với âm gốc ênh mà anh là biến âm, lủ sự trôi nổi bổng bềnh mà người xưa thuần phác nhìn trời và nước một màu thấy lan xanh lên chiều cao. Đen thuộc bộ ấn, với gốc ân, ân, mà en là biến âm, ta những gì từ cao chặn xuống và lừ sáng thành tối. Vàng thuộc bộ toani> với gốc oanịỉ, ta sự lênh láng tràn lan và cảm

tưởng loá mắt từ tối ra sáng. Trắng thuộc bộ nằm với âm gốc am>, ănịị, tả sự nằm ngang ở đường chân trời mỗi lúc mỗi rộng hơn.

Đỏ thuộc bộ eo với àm gốc o, ọ, tả sự thu gọn về mỗi lúc nhỏ hẹp hơn. Tím thuộc bộ nằm với âm gốc im, tả những gì chìm xuống và ngâm

ở dưới.

Từ nhận dịnh sơ khởi và đơn gián về chiều hướng và đặc tính của các màu, đến sự dùng những âm thích hợp dể dặt tên gọi, ta thấy ở đây có nổi lên một cách nhận thức và lý luận riêng. Nhất định không phải sự tán rộng hay cô' ý nói ép gượng của lác giả. Bởi ta thử coi như mình còn cổ sơ chưa có tiếng, và thử dổi âm chơ lần lộn đi, thì ta sẽ thấy ngay là khống tả dược những màu ấy. Chẳng hạn như dỏ mà gọi là danh, và/ìíỊ mà gọi là ró, deh mà gọi là dàin> thì nhất định không làm được người nghe mường lượng ra màu â'y.

Chúng la lại để ý xem sự diễn lả về mùi vị: Ngon, khi nói rồi thì nuốt không khí cùng với nước miếng vào. Ngọt cũng nuốt vào. Nhưng Chua thì há miệng ra cho hoi ra; Chát thì dặt lưỡi vào đầú răng; cay thì nhe cả răng ra cho hơi thổi qua đầu lưỡi; Mận thì nhăn cả mặt lại; đắng cũng vậy. Sự tạo thành nên những tiếng ấy hán cũng không phải tình cò. Mà nếu ta dạt mình vào thời xưa, khi chưa có tiếng nói, ta sẽ thấy sự biểu thị những nhận xét đã phái có trước, bằng những dáng điệu kèm theo những tiếng kêu, dể dần dần tiếng kêu ấy thành âm. khiến người nghe và nhớ lại kinh nghiệm bán thân là hiểu được người nói. Và cuối cùng đê bây giò hễ đổi âm thì không thể nào diễn tá dược những mùi vị ấy nữa.

Chúng ta lại để ý về sự diễn ta hương vị: Thơm, nói mím miệng và hít hơi vào. Thối, nói rồi thì hơi phải phụt ra cả đàng mồm và đàng mũi. Thủm cũng vậy, Khắm cũng vậy. Hác khi nói thì nhăn mặt và giữ chơ hơi bất động. Khét cũng vậy. Thoang thoảng thì rõ ràng là hương bay loang loang ra. Thơm ngát thì rõ ràng là hơi được hít thật sâu vào.

Rồi chúng ta lại xem sự diễn tả tình cám: Cười, đố ai nói mà không nhếch mép nhe răng và tươi mặt lên. Khóc thì cả môi lẫn mắt cùng có một động tác cúp xuống. Tức thì nói như hắt hơi từ trong ra. Giận thì vừa nói vừa nghiến răng lại. Buồn thì hơi ra thườn thượt. Vui thì mặt tươi lên. Cáu thì nhãn mặt và quác mắt. Thích thì nhe răng... Tất ca những biểu thị tình cám ấy với những âm tiếng thích đáng ấy đã không đổi chỗ cho nhau được.

Như thế nghĩa là từ màu sắc đến mùi vị, hương vị, tình cảm thật là hoàn toàn trừu tượng, tiếng Việt cũng có âm tiếng riêng để diễn tả nổi. Mà đến những phong thái người cũng lại có tiếng để diễn tả nữa, như:

Lử khử lừ khừ, ngây ngô, lờ đờ, lắng nhắng, luẩn quẩn, lơ láo, ngơ

ngẩn, nghênh ngang, vênh váo...

Thì hiển nhiên tiếng Việt phải là một tiếng tượng hình. Sau đó, chúng tôi đcã lập bảng kê các âm tượng hình và các tiếng cùng gốc theo 22 bộ đã nói, thì thấy kết quả: có 204 âm tượng hình (tỷ lệ 4 phần 5 âm tượng hình) nên nhận ràng tiếng Việt là tiếng tượng hình, ta đ ã không nhận điều gì quá đáng vậy.

Chúng ta ghi nhận thêm ràng không chắc những âm tiếng này là những âm liếng có từ nguồn gốc; nhưng từ nguồn gốc chác đã có những mẩm mống của những liếng kêu tương tự.

Chưa biết chừng người Việt cổ chúng ta không có chữ viết thực. Và chỉ vì không có chữ đế ghi nhũ'ng điều thấy biết nên người xưa đã phải ghi vào trong trí nhớ những diều nhận xét rất tinh tường của lai và mát, để cho tiếng nói có khả năng tượng hình như vậy. Trí nhớ của người xưa quả là sợi băng thâu hình ghi lại những gì mà tai và mắt là những dây trời (antenne) truyền về, để khi quay trở lại, thì bộ máy phát âm lại diễn trở ra tất cả một cách rất trung thực.

Điều tưởng rằng sở đoản dã chính là sở trường. Và cái vốn ngôn ngữ cửa tiền nhân để lại tưỏfng chỉ loàng xoàng thôi đã chính là kho tàng vô giá, dám chắc ít có tiếng nước nào đặc biệt như thế.

82

Sự kiện không có chữ viết chưa hán đã chứng tỏ là dân tộc kém thông minh và kém văn minh hơn.

PHẨN T H Ứ HAI

CHƯƠNG I cuộc DI DịCH VỀ Gốc Tổ PHONG CHÂU

G IA O CHỈ MIỂN BẮC

róM Lược

Đồng bằng Bắc Bộ

Đã có sự lan rộng của người Giao Chỉ từ Cửu Chân về Phong Châu mà bàng chứng là người Mường còn sót lại ở vùng sơn cước từ Thanh Hoá ra Phú Thọ. Đã không thấy dấu vết sự lan xuống phía Nam vì phía dưới Cửu Chân là đồng khỏ cỏ cháy, với cồn cát nóng bỏng không tiện canh nông.

Vùng trung du

Phù sa của sông Hồng bồi đắp đã khiến đất lan dần và đẩy lui biển cá, cho dường viền bờ biến thời thượng cổ có thể xác đinh được là ở Việt Trì. Sơn Tây.

Bây giờ là trung du nhưng hồi ấy là đồng bằng, giới hạn ở phía Nam Tây Nam bởi một đường thẳng táp của rặng núi Fan Si Pan với cả vùng cao nguyên lan tới Trấn Ninh, Thượng Lào, sông Mê Công. Giới hạn phía Tây là khu dá vôi vận tống lẫn với đá ong không trồng trọt được. Còn giới hạn phía Bắc đồng bằng là dãy núi Tam Đao, Bắc Sơn, Đông Triều.

Người Giao Chỉ miền Nam khi di dịch tìm đất sống đã phải men theo vùng bờ biển ấy lên lận vùng đồng bằng Việt Trì, Phú Thọ, Sơn Tây, Vĩnh Yên, Phúc Yên bây giờ là vùng đất thấp ngày xưa, quanh năm bị ngập nước, ở liền ngay chan các rìẶng núi baơ bọc ở ba mặt, còn một mặt Đông Nam là biển cả và sình lầy.

CƯÔC 1)1 DỊCH VỂ (.Ố C T () P H ()N (Ỉ CHÂƯ

Sự còn sót lại những người Mường nói tiếng Mường từ vùng núi sơn cước Thanh Hoá đổ ra Phú Thọ chứng tỏ đã có một sự lan rộng dần. Sự 83

lan rộns ây không thể từ Phú Thọ lan vào, vì những lý do đã trình bày; Cứu Chân xưa mới là hái khẩu, mới là địa bàn lý iưưng cho người tiền sử. Nếu lại nhận thấy ràng người Mường có nhiêu đặc điểm của giống dân Anhđônêdiêng ở vùng Nam Hải thì việc họ di dịch tới Cửu Chân dầu tiên là điều chắc chắn, để rồi sau đó mới tiến dán về Phong Châu, nơi gốc tổ thứ hai.

Không còn tài liệu nào dể tìm biết vì sao có việc di cư ấy. Chúng ta chi đoán là có chuyện xích mích trong cuộc sống bộ lạc, Vcà kc phai ra đi đã không phái kẻ mạnh mà là kẻ yếu kém và bại trận. Chính là những kẻ bị kẹt giữa nhóm bộ lạc sơn cước và hải khẩu, nhũng kẻ đã chuyến hướng cuộc sống về canh nông. Họ chạy di và tìm một chỗ dất mầu mõ' dc dung thân.

Họ không chạy xuôi xuống phía dưới vùng Cửu Chân ấy, vì phía dưới dồng khô cỏ cháy, và quá xuống nữa chỉ có cồn cát. Họ dã ngược hướng Nam tiến để tìm về Phong Châu và dồng bằng Bắc Bộ.

ĐỐNG BẰN(; BẮC BỘ

Không có tài liệu nàơ chi rõ bờ biến ở thời cổ ấy như thế nào Vcà đất dã rộng tới đâu. Henri Maspéro trong bài khao về cuộc dô hộ An Nam của nhà Đường (B.E.P.E.O, 11, 12, 1910, p.680) dã viết: “7V5/ í/ụ//g ý dê qua ruột hèn vấn dề tìm hiếu dịu hình hờ hiên, vì khónq thứv rnột tài liệu nào xưa hơn thế kỷ AV. Nhu'm> tới có thế chắc rằiìỉ> cũníỊ khôiìí> nên cho sự hiến cdi đã diễn ra quá nhiều. Khỏmị thế căn cứ vào con sô' tăm> ítia diện tích hiện thời của huvện Kim Sơn liav Tiền ìỉdi, tromt dó chi khoâmị một thế k\’ sức người dã làm thay dổi dược nít nhiêu nhũưiỊ diều kiện thiên tạo. Đường viên hờ hiển, níỊUÙi ta có thể khôi phục cho dầu thc k\' XV dã không khúc nhiều với dường à dầu thế kv thứ XỈX, trước khi có nhữmt CÔIỈÍỈ túc của N^uxễn Công Trứ, và ở một vùi mn duửng ấv vẫn lại còn dũng như ngàv na\' nữa. Khàng có /Ý’ nào dểdochì rằng ở những thời k\ lịch sử cũ, phía dưới dồng hằng dã là một hdi vịnh và cà doán như người ta thường nói là ỉỉù Nội hax Hưng Yên dã có hồi ớ hên hờ hiển ”.

84

Tuy nhiên, theo Pierre Gourou trong sách Người dân quê ở dồng hằng Bắc Bộ thì.' “sự tăng gia diện tích dát ở Ninh Bình rất nhanh chóng hãy giờ lại không thể dã không từng nhanh chóng như thế à thời cổ. Nếu sự tiến ra hiển dồng loạt là ỈOkm, một tịìếkx thì quả là Hà Nội cách hiến lOS km dã ở hên hờVịnh Bắc Bộ truYtc 12 tlìếkx. Bây gUy. khu tập trung sự tăng gia diện rích là ơ vùng Lạch Giang và hiên giới Thanh Hoá. Nhưng nếu díít phù sa tích lux vào Kim Sơn rồi trải ra khắp vùng hờ hiên từ Đỗ Srm dến Thanh Hoá thì quả là dất liên ra hiên chậm lắm, khoang Ikm một thê kx thỏi.

Các đường đê do con người đắp dần để ngăn nước mặn mà cướp lại đất của thiên

nhiên đế làm ruộng.

1. Bãi mới bồi, nổi cao hơn mực nước biển, chi khi nước triều dâng rất cao mới ngập.

2. Đồi núi đá vôi. Tỷ lệ xích 1.250.000 (Tài liệu cúa p. GOUROU).

85

Bàn dồ chỉ rõ vùỉiíị dất lân ra hiển ở khu vực Ninh Bình

“Vùng phía Nam hán đào Đồ Sơn luôn luôn dược phù sa bồi dấp dã không thể nào lại không như thể từ xưa. Nếu d ể ỷ dốn sự thành lập cúc lùiuị ven hiển mà ranh giới các làng cứ xếp thẳng hùng thẳng lớp thì thấy dúm> như những miếng đất .xắn ra vù .xếp vào theo sự lớn rộng của dồng hâm> Tuy nhiên, Gourou nói tiếp: “chúng ta khôníị dọc dược những dâu hiệu mà dất liền mà rộng dã dặt ra, bài chúng ta không hiêr phải mất hao nhiêu thời gian đểdư('mg ven hiển ấv thành hình

Trong sách khảo cứu giá trị của ông, ông có bản vẽ những đưòfng bờ đê, khởi đầu là Hồng Đức năm 1471 lan dần ra biển là những đường đê năm 1830, 1899, 1927, 1934 để chứng tỏ đất mở rộng ra. Trong bản đồ còn ghi địa điểm Thần Phù xưa là cửa biển, cùng với đường sông con nối sông Đáy vào Thần Phù mà theo ông, người Việt đã dùng từ thế kỷ thứ V để liên lạc với Thanh Hoá và cửa Đại An là cửa sông Đáy ra biển hồi xưa‘“*.

Để kết luận, ông viết: Chúng ta thực không được biết hờ hiển tiến ra sao về trước thế kỷ XIX. Một sự kiện có thể chắc chắn dược lù từ 1470 đến 1830 dất liền ở Ninh Bình đã tiến ra hiển dược từ 10 đến 12 km (trung hình là 3km mối thếkv). Vùng Đông Bắc sông Đáy nếu hờ hiển là ở Đại An năm 1044 thì đất lán ra là 25 km trong 900 năm (trung hình 2,5km mối thế kỷ); nếu hờ hiển là ở Quần Phương giữa thế kỷ XV thì đất lân ra 12,5km trong 300 năm (trung hình 4km mồi thế kỷ); nếu huyện Hưng Nhân ở hờ hể năm 1000 thì đất lấn ra 40km trong 9 thế kỉ (trung hình 4km một thế ky).

Người ta đếm không dưới 24 đường thẳng tắp những vết tích đất lan ra biển trong khu sông Trà Lý và sông Hồng. Đó là kể từ Tây Bắc xuống Đông Nam: ranh làng Đức Hiệp (tống Cự Lâm, huyện Thư Trì, Thái Bình), làng Ngoại Lãng, (tổng Vô Ngại) Mỹ Lộc (tổng An Điền), làng Văn Lâm (tổng Vó Ngại), làng Nguyệt Lãng (tổng Nội Lãng), làng Thọ Lộc (tổng Bồng Điền), làng Huyền Trực (tổng Nội Lãng), làng La Uyển (tổng Khê Kiều), hàng Bình Yên (tổng Khê Kiều), làng Tri Lai (huyện Vũ Tiên, tổng Tri Lai), làng Tường An (tổng o Mễ), làng Đại Lai (tổng Tri Lai), làng Đoan Túc (tổng Tri Lai), tỉnh Thái Bình , làng Lạc Đạo (tổng Lạc Đạo), làng Tống Vũ (tổng Hội Khuê), làng Hội Khê (tổng Hội Khê), làng cổ Ninh (tổng Xuân Vũ, phủ Kiến Xương), làng Luật Ngoại (tổng Xuân Vũ), làng Cao Bạt Lũ (tổng Nam Huân), làng Phương Ngài (tổng Nam Huân), làng An Bồi (tổng An Bồi), làng Phương Trạch (tổng Cao Mại), làng Lưu Phương (lổng Tân An), p. Gourou, Sđd, tr 242. *■’ Thần Phù, nơi vua Hùng được một ông già hướng dẫn để dưa quân vào Cửu Chân dẹp giặc, sau khi thắng trận, không tìm thấy người, vua cho là Thần nhân và phong là Áp Lãng Chân Nhân, thì không phải chí đến thế kỷ thứ V người Việt mới biết dùng đường sông dào ấy.

86

Kết quá cuộc nghiên cứu của Gourou cho chúng ta một ý niệm: dù với con số trung bình đất lấn ra chậm hết sức là Ikm một thế kỷ thì cá đồng bàng từ Việt Trì ra biển cũng phải mất dăm chục thế kỷ mới thành được và cách đây khoang 40 thế kỷ thì tất nhiên Nam Định, Phủ Lý, Hưng Yên, Bắc Ninh và Hà Nội, còn ngập nước (hoặc không ngập nước hết, thì cũng là những cỏ đảo ở giữa vùng còn lầy lội, không ở dược)'.

Khu vực đồng bằng mà người Giao Chỉ từ phía Nam chạy lên đã có thè dược hạn chế từ Việt Trì dến Sơn Tây khoảng 30km, qua tay núi Tam Đảo và thung lũng sông Cầu tức là gồm vùng gọi là trung du bây giờ. Ta hãy dể ý xem vùng trung du ấy.

VÙNG TRUNG DU

Nằm giữa vùng đồi núi cao từ 1 OOni trớ lên, thìuih hình nhờ sự bồi đắp phù sa của sông Hồng.

(Tài liệu của p. GOUROU)

Vùng trưng du (ở bây giờ, nhưng là vùng đồng bằng hồi xưa) nằm trên vùng đất thấp liền ngay chân các rặng núi mà hàng năm bị ngập nước cúa sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, sông Cầu. Tại đây có những thung lũng rộng, thường bằng phẳng với núi thấp như những ngọn đồi tầm thường, mà núi Tam Đảo là một biệt lệ. Cả ba mặt Đông, Tây, và Bắc. đều có núi bao bọc, nó đồn nước theo hướng Tây - Bắc, Đông - Nam tạo thành dòng sông chảy theo chiều hướng ấy mà ns;ười ta còn thấy chất đất phù sa miopliocène đắp ở các lòng sông.

U ) Phần Hưng Yên, ta còn câu tục ngữ: “Tránh anh Sóng Cả ngã phải anh Tuần Vường”, Tuần Vường ở Hưng Yên. Nên Hưng Yên tất đã có thời ở bên bờ biến.

87

Nhất là sông Hồníỉ về phía Nam và Tây Nam, chân núi ngưng lại trên một đường thẳng táp cạnh sông đã tạo thành đường ranh rất rõ rệt giữa hai vùng Bắc và Nam. Vùng phía Nam thì núi cao gồm dãy Fan Si Pan ăn lan ra tới cao nguyên Trấn Ninh và đến sông Mê Công. Vùng phía Bác thì đất trải thấp ra đến khu vòng cung của những chân núi Cao Bàng, Lạng Sơn, Tiên Yên. Trung du và sau là củ đồng bàng Bác Bộ đã nằm lệch về phía Bắc sông Hồng như vậy.

Bờ phía Tây từ trên đổ xuống Xuân Miii trên lớp dá nền có một lớp đá vôi yận tống còn cả tảns, cao như những-ngọn đồi, và ngay phía Nam Xuân Mai thì thành mảng rộng và liền mặt. Một lớp đất phù sa phủ ra vành ngoài đá vôi. có doạn dài 50km. rộng 8()km ăn xoai xoải xuống từ 45m tới 15m. Phù sa trùm lèn cát và dâì sét với một lớp đá ong. Cũng có đoạn đá ono nổi trên mặt đất.

Ca vùng ấy không trồng trọt gì được, cỏ tranh và lau sậy mọc lan

tràn, ngay gia súc cũng khó kiếm ra cỏ để ăn.

Phía Nam Xuân Mai bên kia đưcmg từ Ngã Ba Thá tới, nổi lên những gò núi đá vôi, nó di suốt xuống Nho Quan bên chân phía Đông của rặng Cao Phong. Đó là lớp đá vận tống đè lên trên cả những lớp đất phù sa mới. Nước trong chảy bên chân núi đá vôi, đã không có chút phù sa nào cả, Động Hương Tích nằm trong khu vực này. Dưới Hương Tích thì đá vôi lại còn rộng lớn hơn, cao tới 532m. Dưới nữa, tới Nho Quan ở chân núi Cao Phong thung lũng choán hai sưòfn núi đá vôi mà ở trung tâm có vết xâm thực của biển. Và dưới Nho Quan nữa, vùng Gia Khánh là những dồi núi dá vôi lẻ tẻ dựng đứng và có vết xâm thực dưới chân, chứng tỏ rằng đây là một loại vịnh Hạ Long ngày xưa.

Giữa khu Gia Khánh và dãy núi Thanh Hoá là những đồi dá schiste

đất khô cằn cho cỏ tranh và lau sậy mọc.

Vậy ngược lại, từ Thanh Hoá qua Gia Khánh, Ninh Bình, Nho Quan lên tới Ngã Ba Thá, Xuân Mai, đất đã không thể thích hợp cho người Giao Chi canh nông. Mà phải tiến lên nữa, về vùng Phong Châu gồm Việt Trì, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên.

88

Trên đường di cư, có lẽ người ta cũng gặp những thung lũng nhỏ có thể làm ruộng được để một số người ở lại. Nên người Mường còn thấy ở rải ra trong vùng đất có đổi núi ấy, trên những địa bàn nhỏ hẹp như Gia Khánh, Chợ Gành, Ninh Bình, Chợ Bến, Mỹ Đức, Xuân Mai.

CHƯƠNÍỈ II DẤU VẾT sự ĐỊNH Cư

TÓM LƯỢC

Các sách sử cũ

Công sức của các học giả phương Tây trong việc tìm tòi này thật đáng kính phục để lấy làm gương. Nhưng vì gặp nhiều khó khăn, kết quả cũng chưa được như mong muốn.

Khó biết đích xác những địa danh cũ ở vào những địa điểm nào mới. Không có một tài' liệu nào nói rõ về sự thành lập một cái làng hoặc một yếu tố nào để có thể xác định vùng nào trên đồng bằng có người ở vào hồi nào.

Sử cũ lại ra đời rất muộn và hiếm hoi, lại còn bị mục nát vì thời

Các tài liệu khác

gian, khí hậu, chiến tranh.

Tim những văn tự cũ người ta mua bán đất ruộng có lên làng, nhưng

đời Gia Long đã có lệnh tiêu huỷ hết.

Tim ở các thần tích thì đời Lê đã cho tổng soát lại để nhất loạt hoá

các truyện tích, bỏ hết những điều khác nhau ở nhiều làng.

Tim ở những gia phả thì nhiều gia đình lớn có người làm quan đã tô

điểm thêm rồi.

Còn tiền cổ thì người Việt lại đúc rất ít loại. Văn bia cũng có ích

nhưng chưa được địch hết để khai thác.

Cho nên phải chờ điều kiện hoà bình để khai quật có hệ thống tại

nhiều tỉnh và nhiều nơi có cổ tích.

CÔNG c ư ộ c TÌM TÒI DÂU VẾ r sụ ĐỊNH c ư

Đối với người phương Đông chúng ta, chi’ từng ấy dẫn chứng là đủ

89

để xác nhận: hiển nhiên có người Giao Chỉ đã đến ở đây.

Nhưng đối với người phương Tây thì thế là chưa đủ. Cần phải có những vết tích, những tài liệu cụ the, những công cụ gì, kiến trúc gì còn lại, hoặc những nhận xét gì của người ngoài có in ra trong những quyển sách cổ để có căn cứ tìm tòi, nhận định, và nếu có thể được thì hiểu luôn cả là lịch sử cuộc sống cũ ấy như thế nào.

Đó là những đòi hỏi rất phải chăng của người tìm tòi. Nhưng càng đưa những đòi hỏi ấy ra cho thật đúng phương pháp khoa học mới dám tin thì con đường tìm tòi của người ta lại càng bế tắc, cơ hồ không có lối nào thoát ra được.

ớ điểm này chúng ta phái ngỏ ý khâm phục người học gia phương Tây. Cái đức chịu khó và kiên nhẫn tìm tòi của họ thật đáng làm gương mẫu cho ta. Họ đã lần mò và tìm tòi bằng đủ mọi cách, đủ mọi hướng, công phu kể phải dùng chữ vĩ đại mới xứng. Mà kết quả thì chính họ cũng phải thừa nhận là chưa đến đích muốn tìm.

1 ■ Đối với các sách sử của Việt Nam

Đơn cử ông p. Gourou nghiên cứu về địa lý nhân sinh, viết sách NíỊiiửi dán quê ở dổníị hằfĩị> Bắc Bộ (Les paysans du delta tonkinois). Sách khổ lớn dày trên 600 trang, đề cập dến thật đủ mọi khía cạnh, từ địa dư, khí hậu, mưa gió, nước lụt, đến làng xóm, nhà ở, nghề nghiệp, phong tục, tập quán, ông lại đọc qua các công trình nghiên cứu khác của các bạn đồng nghiệp nữa. Vậy mà đến cái mục căn bản là lịch sử sự cư ngụ cứa người dân quê trên đồng bằng Bắc Bộ ấy thì ông cũng đành chịu bó tay. Ông có đưa ra những nhận xét sau đây về công cuộc tìm tòi này:

90

Có những đoạn sử biên niên do Abel de Michels dịch được một phần, in ra sách Les Annales Impériaìes de l ’Annam dày 476 trang, nhưng thiếu phê bình nên rất khó dùng. Có thể rằng khi tất cả các cổ thư của Việt Nam được dịch và in ra thì ta sẽ tìm thấy nhiều điều lý thú cho cái đích của chúng ta muốn tìm. Nhưng muốn dùng dược những tài liệu ấy, các sách dịch phải kèm theo những lời bình giải để cho thấy có thể tin được cùng không và để biết rõ những địa danh cũ ở vào những địa điểm nào mới. Mà cũng còn phải ngờ rằng chưa chắc những tài liệu ấy đã soi sáng được bao nhiêu vào cái lịch sử sự cự ngụ này. Một phần ít mà chúng ta được đọc thì không hiệu quả lắm. Chỉ có những nãm tháng ghi những biến cố trong triều đình, những chiến công, những thần thoại, cũng như những việc tìm thấy chim sẻ trắng, nai trắng, hoặc những lời dụ của vua, lời tâu của thưọmg quan. Mà không hề có chút gì có thể cho chúng ta biết về sự thành lập một cái làng, hoặc xác định vùng nào trên đồng bằng có người ở vào hồi nào.

Phần khác, những sử gia Việt Nam lại xuất hiện rất muộn. Sử gia đầu tiên được vua uỷ cho làm Việt Chí là Lê Văn Hưu vào thế kỷ XIII. Quyển sử xưa nhất là An Nam Chí Lược của Lê Tắc, viết ở bên Tàu. Còn những quyển ghi những thần tích là Việt Điện u Linh của Lý Tế Xuyên thì viết khoảng 1329. Đã ít giá trị như thế, đã không xưa gì nhiều, các sách sử lại không nhiều và còn bị hành hạ bởi thời gian nữa. Cadière và Pelliot đã nhận xét: “V/?z7Vỉg sách sử đã hết sức hiểm ở nước Nam, khí hậu vù chiến tranh còn qóp công tàn phá thêm nữa. Sách sử thường cỏn là tài sản riêng độc quyền của một lớp nho sĩ ít ỏi. Việc ấn hành sách ở Bắc và Trung Việt, không được mở mang, không những so sánh với Trung Hoa hay Nhật Bản không nổi mà so với Cao Ly cũng còn kém. Một vài túc phẩm in ra được một số nhỏ ấn hàn. Còn phần lớn vẫn ỏ thế bán thảo viết tay, clể rồi khí hậu ẩm ướt, mối mọt, cháy, loạn ly, nó làm tiêu tan đi. Không có ở đâu, người ta thấy tài sản văn hoá của một dán tộc lại tiêu tan chóng đến như thế. Lại phải sang Tàu chúng ta mới thấy hai quyển cổ sử của Việt Nam. Những bản viết ở những thế kỷ trước đã không còn dược bao nhiêu; một vài túc phẩm mới dược soạn gần đây thôi mà cũng chỉ còn những đoạn nhỏ”J^’

Những tìm tòi mới đây của Gaspardonne đã chứng nhận điều ấy. Sách in xưa nhất là ở thế kỷ XVIII. ông Gaspardonne nói: rất ít sách đạt tới tuổi thọ ấy. Ông vạch rõ những thói quen đáng tiếc của những sử gia Việt Nam: Khi nhận được lệnh vua biên soạn một quyển sử, thì thường chỉ sao chép lại một tài liệu nào dó, nhưng sao chép mà lại sửa đi phần nùo theo ý của mình, nghĩa là thay dổi hay xoú bỏ những chữ mà họ nhận thấy là tối nghĩa, vì thể những tài liệu cổ cứ mỗi lẩn tu sửa lại mỗi lần khác di; rồi đến cuối cùng chỉ còn những bản sửa mới thôi nên cúc tài liệu mất hết giá trị.

Kết quả sự nghèo nàn về cổ thư là không thể biết được địa lý cổ của Bắc Bộ ''Những thay dổi ranh giới các huyện phủ và cả tỉnh nữa đã rất

(i) Ong Cl. E. Maitre dẫn chứng sự tiêu tan mau chóng những sách của Việt Nam (trong bài tựa sách Nghiên cứu vé nền tư pháp của Việt Nam cổ, BEPEO, 1908, tr. 177): “ không còn gì để nhận ra sự tiêu tan mau chóng kinh khủng của các sách cổ Việt Nam bằng bản dịch phần sách tham khảo của sách Lịch Triều Hiến Chương cúa Phan Huy Chú viết năm 1821. Đại đa số các sách liệt kê và phân tích bây giờ đã không còn nữa. Các tác giả khi viết Khâm Định Việt sử Thông Giám Cương Mục năm 1856 cần nhắc lới những sự kiện lịch sử ở đời Lê là đều trích dẫn sách Hiến Chương. Việc mà họ không đến nỗi phải làm như thế nếu họ còn trong tay những cổ thư mà Phan Huy Chú đã dùng. Rõ ràng rằng chỉ cách nhau có 35 nãm mà sách đã mất hết rồi.”

91

khó biết vé trước thế kỷ XIX. Rứt hiếm những hnvện lỵ mà người ta có thẻ biết đích xúc được nó nâm ở chỗ nào trước thế kv XVII. Người Việt Nam lại bắt chước người Trung Hoa thay dối luôn luân những địa danh, mà cúc tài liệu thì lắm khi lại không nói gì đến những vụ thav dổi ấy. Thành ra khi cẩn chí đích địa danh nào trên bàn đồ hành chính thì chịu. H.Maspéro còn thêm: '"Khi muốn tìm tên thế kỷ XIII hay hơn nữa thì các tài liệu lại càng không có gì củ ”.

2- Các tài liệu khác

Kết luận, Gourou phải thú nhận: "'Những tài liệu cổ sử dã cho biết rất ít dịa danh và những dịa danh ấy hù rất khỏ dể chí dích xúc trên bdn dồ. Trong những diều kiện ấy, việc vẽ lại lịch sử cuộc cư ngụ có thê nói gần như không thể làm dược'".

Tài liệu ở các sách sử cũ đã không thể đạt được kết quả, Gourou lại tìm nhữne; bán văn tự mua bán đất cũ để xem có thấy ghi tên làng tên đất nào không. Thì gặp ngay phái đời Gia Long làm sổ địa bạ mới, xong rồi là có lệnh cho bao nhiêu văn tự cũ đều phải huỷ hết. ông lại xoay về tìm những thần tích ở các làng, người ta thờ thần ở các đình và đền miếu tất có những thánh tích, để hoạ chãng có thấy những tên làng tên đất nào cũ chàng. Thì năm 1572, triều đình nhà Lê đã cho tổng soát lại để nhất loạt hoá những truyện tích của các thần hoàng làng: người ta tạo tiểu sử cho những vị nào chưa có, và mỗi vị thần từ đây chỉ có một thần tích thôi, dù được thờ ở nhiều nơi, những nơi ấy cũng phải bỏ hết những điểu khác nhau đi, để cho nhất loạt .

Tuy nhiên, nhà kháo cứu cũng đã được một phần nào kết quả ở điểm có một số làng thuộc huyện Quỳnh Côi (Thái Bình) thờ Thần là những người gốc ở vùng Trung du trong những tỉnh trên như: Bắc Ninh, Hà Đông, Sơn Tây, đã đến khai phá lập làng ở Quỳnh Côi vào những thế kỷ XI, XII, XIII <2'.

Robequain trong sách Địa dư tinh Thanh Hoá (191 I tr. 282) cho rằng trong những truyện thần kỳ hay bán thần kỳ có khi có chứa đựng một vài điều đạc biệt và chính xác về truyền thống địa phương vào hồi người ta viết ra những truyện ấy.

Ngô Vi Liễn trong sách Địa dư huyện Quỳnh Côi (Lê Văn Tân, Hà Nội, 1933) đã cho biết Thần thờ ở làng Cam Mỹ (tổng Tiên Bá) là người sinh ơ phủ Thuận Thành, Bác Ninh; Thần thờ ở tổng Tiên Bá là người gốc ở phủ Từ Sơn, Bấc Ninh, Thần thờ ở thôn Đoàn Xá, làng Quỳnh Côi, tổng Quỳnh Côi, gốc ở huyện Bất Bạt, Sơn Tây; Thần thờ ở thôn Lê Xá, làng Quỳnh Côi. gốc ở làng cổ Pháp, Sơn Tây; Thần thờ ở làng Xuân La gốc ở úhg Hoà, Hà Đông; Thần thờ ở làng Mỹ Giá huyện Quỳnh Côi gốc ở Hoài Đức, Hà Đông; Thần thờ ở làng Hạ Phán huyện Quỳnh Côi gốc ở cố

92

Nhưnc muốn có nhũns tài liệu dùiiíỉ được, phải đọc được rất nhiéu thun lích, lại phái lhòn» thuộc về địa dư cổ dê’ dò tìm những biến đổi qua các triều dại. Thì dến dấy lại gặp những trở lực dã nói.

Người la cũng dã tìm dọc cả những gia pha. Nhiều gia đình-có quan sang dã sửa và lô dicm thêm rồi. Nhiéu nhà giữ mực trung thì vẫn dê nguyên vẹn nên cũng có ích phần nào. Nhưng nói chung, việc xem những gia phá của người la là vạt tôn kính, đã không phái là việc dễ. Phương pháp học về tiền cổ dem dùng cũng chẳng kết quá gì vì người Việt Nam dúc ít tiền lắm‘" .

Những văn bia thì có ích hơn. Người ta cho di dập chữ bia ở kháp nơi. Hiện nay, tại thư viện trường Viễn Đồng Bác cổ Hà Nội có 13.500 tấm. chưa dược dùng hay chép lại và phiên dịch.

Đên việc dò hỏi những truyện lích truyền khẩu ở các làng để tham chiếu với những bán văn khác mà kiểm nghiệm thì người dân quê cũng nói lung lung, ngay cả lần trước qua lán sau nói dã mâu thuẫn. Người la dang dịnh việc khai quật ở những thắng tích lại nhiều tinh một cách có hệ thống dể hy vọng rằng sẽ có những tài liệu hŨLi ích.

Liên, Hà Đông, Thần ihờ ớ làng Hv Hà gỏc ớ huyện Gia Lợi, Hái Dưííng. Phần nhiêu được ihờ bắt đầu từ đời Lý (1010 -1225) và một vài vị xìược thừ dưới triều Trấn (1 2 2 5 -1 4 0 0 ).

Trong mớ tiền cổ ùm thấy ớ gần Hà Nội. người ta dêm có 22925 đồng cúa Trung Hoa. (phím nhiéu ớ đời Tống) lừ 618 tói 1 163. mà chí có 37 đồng licn của Việt Nam (từ 970 tới 988).

93

Còn trong hiện tại, với những điều kiện hiện hữu Vcà cái công phu thật dã hết sức nhiều rồi. ta dcành phai bằng lòng với việc dựa vào kết quả kháo cố và phần nào lài liệu lịch sử mà xây dựng dại khái lấy một ý niệm khái quát, dù biết như vậy là chưa khoa học.

DI TÍCH LịCH SỬ

CHƯƠNG III

TÓM LƯỢC

Kết quả khảo cổ học

Kết quá cho thấy có hai nén văn minh: Hoà Bình có thể liệt vào thời

kỳ đồ đá cũ và Bắc Sơn có vẻ kém xưa hơn.

Cổ tích ở Phong Châu

Đó là ghi nhận quan trọng cho giá thuyết mà chúng tôi nêu ra có phần nào căn cứ: có hai nhóm Giao Chí, miền Nam và miền Bắc. Nhóm miền Bắc đã rút lui từ miền Nam ra, và có hai vùng gốc tổ mà vùng Cửu Chân xưa hơn vùng Phong Châu.

Các sử cũ của Tàu đời Đường. Tống đều nhìn nhận nước Vãn Lang ở khu Phong Châu, huyện Sơn Vi. ớ Sơn Tây còn ngọn đồi có đền thờ vua Hùng.

Vùng lân cận Phúc Yên còn dấu vết 9 đường bờ con trạch là những

vòng đồng lâm, có lẽ chân móng bao quanh huyện.

Phía Nam Phúc Yên Ikm. tại làng Đàm Xuyên năm 1898 có thấy

làn tích một ngôi mộ cổ.

Cách PliLic Ycn 8 km về Tây Bác có làng Hương Canh, trung tâm

sủn xuất đồ gốm và gần làng có đền thờ Lý Phật Tử.

Vĩnh Yên ở trên, cách I3km có đền thờ Nguyễn Khoan, 1 trong 12

vị sứ quân đời Đinh.

95

Bạch Hạc xưa là điếm giao liên của các đường sông cổ giống cây chiên đàn, hạc hay vổ làm tổ, nên có tên Bạch Hạc. Có giống hồng rất ngon gọi là hổng hạc. Có tảng đá ngầm cao mấp mé mặt nước có vết chân người. Đó là nơi xưa có tên là huyện Mê Linh, ớ dâ\’ cổ làng Bổ Sơn, nơi còng chúa con vua Hùng thứ 18 bị Thục Phán bắt và giết nên còn đền thờ.

Vua thì chết ở làns cố Tích còn lăng mộ và đền thờ với cả gia đình, với những ngày cúníỉ giỗ đã thành lệ. Quanh vùng còn nhiều làng khác cũng thờ vua Hùng.

KẾT QUẢ K HẢO CỔ HỌC

p. Gourou, trong sách đã dẫn, trang 131 có ghi nhận: Các nlìù tiền sử học phún hiệt ở phía Bắc vù phía Nam dồng hằng Bác Bộ cô di tích của hai nền văn minh cổ khác nhan: văn minh Hoù Bình phía Nam xưa hơn, dã có ở nhữníỊ ìớp dất dưới dáy, rất nhiều dồ dã dễo có thể liệt vào thời kị’ dồ dá cũ; và phía Bắc (do tên núi vù hang Bác S(fn) cũm> có di vật cũ dể mịhiân cứu, thì tuy có nét tương dồng với dồ ử Hoà Bình nhưng có vc kém xưa lum. Những di vật này ử trên từng dđt cao, có nhiều rìu có cán mài nhẵn mà không cùn thấy ở Hoù Bình

Điểu ghi nhận này rất quan trọng. Giả thuyết mà chúng tôi nêu ra đã có phần nào càn cứ: có hai nhóm Giao Chỉ miền Nam và miền Bắc; nhóm miền Bắc đã rút lui từ miền Nam ra, và có hai vùng gốc tổ mà vùng Cửu Châu xưa hơn vùng Phong Châu.

Những di cốt Bác Sơn gồm có 17 bộ xương sọ vỡ nát ít nhiều. Trong số ấy có 6 bộ thu()c loại Mclanèdicng (mélanésien), 2 bộ có dung (australoYde), 8 bộ có dung mạo Anhdônêdiêng mạo Ôtxtraloit (indonésien) rõ rệt, và một bộ lo. tỏ ra cho la thấy sự pha giống Anhdỏnêdiêng và Mông cổ. Ngoài ra, có những búa bằng đá với rìu mà dầu lưỡi dược mài nhẵn, những mảnh dồ dất nung, những dồ trang sức bàng xương, vỏ sò và một sô những xưcmg loài vật ở nguyên dại dệ tứ.

Mansuy dã tìm thấy vào tháng 12-1906 trên một ngọn dồi ở Bắc Sơn cách 400m về phía Tây châu Phố Bình Gia, ở cây số 71 trên đường bộ từ Đồng Mỏ dến Thất Khê.

Les préhistorieiis dislingucnl au nord el au sud Delta deux civilisatioiis préliistoriques différentcs: la civilisation hoahinhicnne au .sud, plus anciennc et présenlant à scs nivcaux iníéricurs une abondance dc picrrcs taillécs qui lail dasscr ses prcmicis étages au paléolitliiquc supórieur (grandc icsscm blancc avcc les objcts clicllccns ei acliculéens d'Europc, cl, d ’aulrc parl, la civilisalion bacsonienne, au nord - du nom du massif du Bắc Sưn dont Ics grotles ont livré les débris éludiés; la civilisation bacsonicnnc n’cst pas sans présentcr des traits avec la civilisalion hoabinhienne, mais ellc cst. semblc-t-il plus récentc el présente à son niveau supóricur une proíusion dc liaches à tcnon polics qui ne se rclroLivent |X1S dans le Hoabinhicn. Les débris humains que l’on a trouvés sont ratlacbés aux Indonésicns. aux Mélancsicns (à moins qu’il ne s ’auisse de prolo - mélanoídes, et inême d ’une population de race blanche) el aux Négrilos.

96

Trích hàn cíồ khu Hù Nội - Việt Trì Tu lưu ý: trên đường tàu lioả xa Hà Nội đi Việt Trì

Cổ Loa ớ cây sô 16, Phúc An ớ cây số 39 (cách nhau 23km)

Rặng núi Bắc Sơn là rặng núi đá vôi, thấp sàn sàn đều nhau trôn lớp đá nền sa thạch râì sít vào nhau. Nước ăn lõm từng mảng tròn một xuống như những cái phễu. Rừng cây mọc ở trên. Còn dòng nước thì đục rỗng núi ra thành những hang động. Tại Phố Bình Gia nơi tìm thấy cổ vật đã có- đường hầm thiên tạo dcài đến lOkm.

Chứng tỏ rằng: như chúng tôi đã giả thuyết, khi người Giao Chỉ chạy từ miền Nam dến cư ngụ tại vùng trung du bây giờ, thì đồng bằng Bác Bộ còn sinh lầy chưa ở được mà chi có người trên những khu dổi cao thôi.

CỔ TÍCH () PH ()N (Ỉ CHÂU

97

Phong Châu là địa bàn nơi gốc tổ thứ hai gồm một khu đất bây giờ là Phú Thọ, Việt Trì, Hưng Hoá, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Sơn Tây. Khám Định Việt SửThỏm> Giám CưoníỊ mục có ghi : Theo Đường Địa Lý Chí thì Châu Plìoiìíĩ qồm 5 hộ. Theo Thái Bình Hoàn Vũ Ký và Nhạc Sử đời Tốníị thì Cháu PhouiỊ, quận Thừa Hoá là nước Văn Lang cũ. Theo nhận dinh ấv, Châu Phong phải rộng .xuống đến phủ Vĩnh Tường và Lâm Thao, thuộc Sơn Tây ngùv nay. Huyện Sơn Vi hiện còn một ngọn dổi vá cỏ dền thờ Hùng Vương dể lùm chứng. Vì vậy, Phong Châu không plìài chỉ hạn tới Bạch Hạc mà thôi.

Vậy, dựa theo biện luận ấy, của Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, ta thấy: phía Bác và Đông Bắc là dãy núi Tam Đảo. Phía Nam và Tây Nam là dãy Ba Vì (Tản Viên) cùng núi Lưỡi Hái và vùng rừng núi sông Đà, Hoàng Liên Sơn. Phía Tây Bắc từ Phú Thọ đổ lên cũng tOcàn núi. Còn Đồng Nam từ Tản Viên qua Sơn Tây. Phúc Yên là bát đầu vùng dồng bằng đương thành hinh còn ngập nước.

Phúc Yên nằm trên bờ cao của vùng ấy, xưa là huyện Phong Khê thuộc quận Giao Chí. Vùng lân cận của tỉnh bây giờ còn dấu vết của 9 đườns bờ con trạch là những vòng tròn đồng tâm, có lẽ là chân móng cổ luỹ bao quanh huyện. Cách 1 km về phía Nam tỉnh là làng Đàm Xuyên, năm 1898 người ta có tìm thấy những tàn tích của một ngôi mộ cổ. Những người dân phu khi bạt một ngọn đồi dã moi ra được hai hầm mộ bằng gạch xây. Gạch lớn 31 phân, rộng 18 phân và dày 5 li rưỡi. Gạch có cải hoa hình quả trám. Hình vẽ này giống những hình gạch lát nền của mộ cổ Tàu đời Hán. Lối Vcào hầm có bàn thờ nhỏ vuông bằng gạch xây, che bởi một tấm màn, có ánh sáng vào thì bục và rơi vụn ra. Trong các tự khí, người ta thấy một cái bình đất trắng ngà và nhiều bình bằng đồng, nó mủn cả thành bụi khi đặt tay vào.

Đất ở đây là đất sét lẫn sa thạch đỏ. Cách Phúc Yên 8km vé hướng Tày Bắc có làng Hương Canh (Hươne Nha cũ) là truns tâm sản xuất đồ gốm. Gần làng có đền thờ Lý Phật Tử, đáng lưu ý đến hình mũ và quần áo của các pho lượng thờ.

Và lên trên nữa, cách Phúc Yên 15km là Vĩnh Yên, chính phạm vi đất của Phong Châu. Gần đấy là Vĩnh Mộ, có dền thờ Nguyền Khoan là 1 trong 12 vị sứ quân dời Đinh. Đền dựng trên ngọn đồi Nguyễn Gia Loan, cao 18m. Tại dây có đường di lên Thác Bạc trên dãy núi Tam Đảo, xa 24km về phía Bắc.

Ngang với Vĩnh Yên về phía Tây, cách 15km là Bạch Hạc nằm trên tá ngạn sôns Chảy. Đó là điểm giao liên của các đường sông. Tại đây xưa có giống cây Chiên Đàn rất cao, hạc hay đến làm tổ. Nay vẫn còn giốnơ hồng rất ngon và quý gọi là hồng hạc, xưa dùng tiến vua. Gần sông có chùa Hoá Long tự, cũng sọi là Tam Giang tự hay Bạch Hạc tự. Có một táng đá ngầm cao mấp mé mặt nước trên có vết chân mà người ta cho là vết chân Phật. Hồi xưa Bạch Hạc là huyện lỵ của huyện Mê Linh. Phía Nam là làng Bồ Sơn, nơi còng chúa con vua Hùng Vương thứ 18 bị Thục Phán bất và giết. (Còn vua thì chết ở làng cổ Tích, tại đổ còn lăng mộ). Gần làng có ngôi đền thờ nhà vua và gia đình.

98

Đền ngoài ba gian bày cờ lọng, làn quạt, bát bảo. Đến sân có bia và câu dối rồi mới tới dền thờ chính. Tại diện thờ, sau hương án có tượng hai

võ tướng. Trong cùng có tượng vua to lớn ngồi chính giữa. Hoàng hậu và côna chúa thờ ở hai bàn hai bên. Cạnh đấy là hai hầu trai và hai hầu gái. Người ta để ý tóc của hầu gái búi lên đỉnh đầu, có khăn trùm rồi buộc chặt về sau gáy, hai đầu khăn chìa ra hai bên tai, và rơi xuống vai. Ngày cũng giỗ vua là 12 tháng 3, hoàng hậu 15 tháng 5 và công

chúa là 12 tháng 11. Sau đó đến Việt Trì, nằm bên hữu ngạn sông Chảy, và cách đó 6km

về tay trái là đền chính, thường gọi là đền cổ Tích.

Đền chính dựng trên đồi Nghĩa Cương tục gọi núi Đển, thuộc làng Hy Cương nhưng vẫn quen gọi làng cổ Tích. Đường lên ở phía nam đồi, có 296 bậc. Từ dưới lên trên gặp một ngôi chùa và một ngôi đền nhỏ, rồi lại một ngôi dền nữa. Đến dỉnh đồi là đền thờ chính và gần đấy là lăng mộ của vị vua cuối cùng bị tử trận tại đấy.

Bài vị chính giữa đền đề chữ: Đột Ngột Cao Sơn cổ Việt Hùng thị,

thập bát thế Thánh Vương vị.

Ngoài đền thờ chính này, còn những làng khác quanh vùng ấy cũng thờ. như làng Thanh Mai, Vi Cương, Tiên Cương, Văn Cương. Đó là những đồi thấp mà dân chúng cho là rồng uốn khúc để đến Nghĩa Cương cao hơn là chính đầu rồng. Tại những làng trên, hàng năm thường một vị bô lão được công cử giữ việc thờ tự. Người ấy đặt bát hương tại chính giữa nhà mình cho dân làng ngày đêm lúc nào muốn đến cúng lễ cũng dược. Mồng 7 và mồng 8 tháng giêng thì mở hội và rước. Những ngày vía khác cũng mở hội vào mcSng 1, 2 tháng ba, mồng 3, 4 tháng năm, mồng 1, 2 tháng tám, mồng 8, 9 tháng mười. Các làng Bô Sao, Lương Đài, Diễm Xuân cũng thờ hoàng hậu và công chúa.

HỌ HÙNC; VIIONÍỈ

Có thể thấy: ngoài những tài liệu lịch sử nói về 18 đời Hùng Vương và ngoài những cổ vật của thời tiền sử còn những di tích về đền đài hay lăng miếu, còn những lễ lục truyền đời trong dân gian và cả một khu đất với con sông ở lại để làm chứng chắc chắn về sự dã có người Giao Chỉ đến định cư tại đày, ít ra cũng 23 thế kỷ rồi mới tới dời Thục (257tr. CN).

99

Một điều khiến ta còn thắc mắc là 18 đời vua Hùng mà sao thời gian trị vì có thể dài quá sức, tới 2879-257 = 2622 năm? Dù cho có bớt lại theo con số tính ở lý thuyết là 2879-300 -257 = 2322 năm nữa thì cũng vẫn còn quá dài. Hoặc giả mỗi dời là trỏ một chi họ trị vì gồm nhiều vua khi vua cuối cùng không còn con nới dõi thì lại truyền cho người ở chi dưới?

Dẫu sao ta chỉ nên kể họ Hùng Vương là một bộ lạc lớn, khi mới tới Phong Châu chỉ mới có tổ chức tù trưởng thống lãnh nhiều tù trưởng khác, mà chưa có tổ chức triều đình gì hết.

100

Cái danh hiệu là Hùng Vương (hay Lạc Vương mà H. Maspéro muốn đính chính) ở thời kỳ đầu này, chắc đã không có, vì người ta không biết chữ Nho, mà cũng không hề giao thiệp với Trung Quốc để học chữ Nho ấy. Có lẽ là một cái tên bằng tiếng nôm nào đó mà nay không tim ra được. Chỉ đến đoạn cuối đời vua ấy, khi có người Tàu và chữ Tàu qua, bấy giờ mới có việc đặt lên này.

Bộ LẠC CANH NÔNG

CHƯƠNG IV

TÓM LƯỢC

Dân sô

Bốn đặc tính của bộ lạc canh nông: 1- Gia đình phụ hệ ; 2- Tư hữu tài sản; 3- Tim về những khu đất ven sông; 4- Sống tụ lại thành làng.

Sựthành hình của những cái làng

Khó biết chính xác ở hồi đầu dân số là bao nhiêu. Nhưng chắc là thưa thớt, cỡ vài trăm đến một ngàn người là cùng.

Đời sống xã hội

Đoàn người di cư từ miền Nam lên, gặp hang động có địa thế ẩn núp thì tụ lại thành những nhóm nhỏ. Những bộ lạc khác chậm chân phải lên ở trên những đồi đất để tránh nước lụt và làm nhà sống tụ thành làng, có hàng rào tre bao bọc đê’ ngăn ngừa thú dữ, giặc cướp. Ruộng thì làm ở sườn đồi. Khi có kinh nghiệm về nước mới dần dần làm ruộng ở chán đồi và ven sông.

Họ Hùng Vưcfng là một họ tù trưởng lãnh đạo, có lẽ có công dẫn dắt dân chúng dến vùng này, rồi có lỗ, cũng là đa đinh hơn cả, để toả rộng ra các đồi xung quanh, lấn át các họ khác. Giữa họ tù trưỏfng lãnh đạo và các họ khác còn liên hệ hôn nhân, ngoài uy quyền tôn giáo.

Đời sổng gia đình

Chỉ có sự cứu ứng lẫn nhau khi cần chống giặc cướp thú dữ sau rồi bộ lạc nào lại về khu của bộ lạc ấy sống đời sống tự trị. Không có kỷ cương triều đình gì hết. Tù trưởng lãnh đạo và gia đình có lẽ cũng cuốc đất làm ruộng như các gia đình khác.

101

Ý niệm dòng dõi nảy nở, cùng với liên hệ cha con chặt chẽ hơn trong gia đình phụ hệ đã sinh ra tục thờ cúng tổ tiên và giữ gìn di hài của người quá cố.

Di hài thường dân thì chôn giấu giếm ở các khu đất chỉ con cháu mới biết. Các tù trưởng mới xây được mộ. Nhưng không bao giờ chôn xác người chết trong hang động đá, vì họ coi là nơi của Thần Tiên. Còn chôn ở trong lòng các đồi đất là ký thác cho Thần gìn giữ cho không kẻ nào dám đến phá.

BỘ LẠC CANH NÔNG

Trong nội bộ của bộ lạc canh nông sống định cư trên khu dất trồng trọt được đã có sự chuyển mình từ thị tộc mẫu hệ sang phụ hệ. Đời sống của người đàn ông không bị đe doạ vì những tai nạn như khi săn bấn và chài lưới. Mà người đàn bà thì những thời thai nghén sinh sản đã làm cho yếu đi, không thể quán xuyến được việc trồng trọt hoa màu. Cho nên xu hướng chính của đời sống canh nông là lôi kéo người con trai, ở lại nhà mình, và bao nhiêu vợ mà anh lấy cùng bao nhiêu con đều trở thành nhân công để sản xuất cả.

Việc chuyển dịch này là rất quan trọng, nó quyết định sự tiến hoá của canh nông. Nếu không chuyển dịch được thì gia đình sẽ rã rời ra, mọi người đều ăn xổi ở thì, không trồiíg trọt gì được để ăn về lâu dài mà chỉ săn thú, bắt cái ăn ngay lúc ấy mà thôi.

Vậy đặc tính thứ nhất của bộ lạc canh nông là gia đình phụ hệ. Đặc tính thứ hai là tư hữu tài sản về ruộng đất. Trong đời sống du mục và săn bắn, người ta giết được con thú trên bất cứ mảnh đất nào chỉ mang con thú đi là xong, không cần biết đất của ai. Nhưng trong đời sống canh nông, cây cối đã do bao nhiêu công săn sóc của người mới mọc được để người hưởng thụ hoa màu về lâu dài, năm này năm khác, thì cây là của người đã đành, nhưng đất mà cây mọc cũng phải được nhận là của tư hữu của người nữa. Ví thử có con thú đến phá hại cây cối trên sở đất tư sản của người ta thì khi giết được, người ta cũng thấy có quyền đối với thịt của nó. Đó chính là đầu mối bất hoà giữa bộ lạc canh nông và bộ lạc săn bắn, nó gây ra chiến tranh và đẩy bộ lạc Giao Chỉ canh nông về Phong Châu.

Đặc tính thứ ba của bộ lạc canh nông là tìm về những khu đất ven sông cho tiện canh tác. Như thế tức là phải lìa xa hang động đá, tìm đến những đồi cao làm nhà, mà nếu đồi cao hết chỗ, phải ở chỗ thấp thì phải làm nhà sàn cho khỏi bị nước ngập, hoặc nếu phải ở trên nước thì làm nhà nổi.

102

Đặc tính thứ tư của bộ lạc canh nông nữa là sự sống tụ lại thành làng để nương tựa lẫn nhau, giúp nhau về nhân công và cùng chống chọi với thú dữ, giặc cưófp.

DÂN SỔ

Các triều đình của ta xưa không Icàm kiểm kê dân số. Thường làng nào biết dân số của làng ấy, mà cũng chỉ biết đại khái để dùng con số đại khái ấy mà nộp thuế cho chính quyền. Các viên chức ở làng mới nương theo đấy mà làm chuyện phù thu lạm bổ.

Theo LẠch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú năm 1660, vua Lê có ban sắc dụ cho các làng lập tờ khai thật đííng dân số, lại nói rõ là không truy thu những số thuế của ai nắm trước chưa khai, và thuế đinh và điền vẫn chỉ lấy theo lệ cũ để cho thấy lượng khoan hồng của triều đình. Vậy lý trưởng và quan huyện sở tại không được ẩn nặc, ai ẩn nặc sẽ bị trừng phạt, còn những người nào cố ý giấu giếm dê’ không có tên trong sổ bạ, khi có việc kiện tụng, các quan án sẽ không nhận đơn của họ.

Vậy mà cũng chẳng có kết quả dứng nào cả. Năm 1773, nhà vua cho làm việc kiểm tra gắt gao thì dân chúng xôn xao và có một người xưng là vua thuế nổi lên làm giặc, đến nỗi triều đình phải bỏ không kiểm tra nữa. Nay muốn tìm biết dân số ở thời Hùng Vương tại Phong Châu thì thật là việc khó'" .

Có lẽ dân Giao Chỉ ở đồng bằng Bắc Bộ trong đời Hùng Vương rất thưa thóft. Không hẳn vài chục người, thì cũng chỉ vài trăm người, đến số ngàn là nhiều, ở lưa thưa trên các ngọn đồi, rồi trồng trọt hoa mầu và sinh sản đông dần ra. Không có những thiên tai như động đất, lụt nước, giặc giã, thì chỉ một ngàn năm, đã thấy dân số từ trăm người lên đến triệu.

SỤ TH ÀNH H ÌNH CỦA NHỮNG CÁI LÀNG

Những bộ lạc đến vùng có hang động, tức là có địa thế ẩn núp chống chọi với thú dữ và giặc cưófp thì sẵn chỗ ở thiên nhiên rồi.

Theo tài liệu của Trung Hoa, đồng bằng Bắc Bộ ở đầu thế kỉ I có 92.440 nóc gia, 746.237 người . Sang cuối thế kỷ III có 25.600 nóc gia, khoảng năm 610, có 23.000 nóc gia và 85.000 dân, đầu thế kỷ thứ VIII có 30.000 nóc gia, năm 726 và 27.000 nóc gia năm 742, với 108.000 dân. Năm 807 có 28.000 nóc gia.

Những con số này đã không thể nào coi là đúng được, vì có đâu dân .số lại sụt

khi đáng lẽ phải tăng lén.

Theo lời dẫn của H.Maspéro, Nguyễn Trãi trong .sách Dư Địa Chí cho dân số ở đời tiền Lê là 5.006.500 tráng dinh, đời Lý là 3.300.100 và đời Trần là 4.900.000 tráng đinh, còn toàn dân là khoảng 15.000.000.

Mặt khác, khi nhà Minh xâm lăng nước ta năm 1408, tướng Trương Phụ có ghi

số dân là 3.120.000 người Việt, và 2.087.500 người Thổ, Mán, Mường, ở sơn cước.

103

Mỗi nhóm nhỏ nhỏ sẽ tụ lại mà ở trong một hang động nào đó. Những bộ lạc khác chậm chân, hang động nào cũng bị chiếm cả thì bát buộc phủi tới sống trên những ngọn đồi trong các thung lũng. Địa hình khu Phong Châu hiện nay, còn cho ta thấy những đồi cao nhô trên đất bàng ở ven sông. Ta có thể hiểu rằng vết chân của người Giao Chỉ đầu tiên đã đặt lên đây. Bởi lẽ nước sông lên vào những mùa nước lũ thì chỉ ở đây mới không bị ngập nước. Cây cối hoa mầu, gia súc, nhà cửa mới không bị trôi đi.

Nhưng cũng bởi ở đày không có hang động đá, người ta sẽ không đủ sức chống chọi lại với thú dữ hay giặc cướp nếu ở lẻ loi quá. Cho nên bắt buộc họ đã phải sống tụ lại thành làng, và điểu bắt buộc nữa tạo thành đạc điểm của làng Việt Nam là làng có hàng rào tre bao bọc.

' * ■ * '

'" . k ị s ^ • -Ị

Hiện nay, trên đường từ Vĩnh Yên lên Thác Bạc ở núi Tam Đảo, người ta còn gặp những thửa ruộng làm trên đồi, theo những bậc cao dần lên. Ây là nền nếp làm ăn xưa còn sót lại .

Ánh chụp vùng dồi đất ở Vĩnh Yên

Khu đất bằng dưới chân đồi do phù sa bồi dắp hồi đồng bằng đang thành hình, đã có thổ bị ngập hết vào mùa nước lũ và ở mùa nước cạn còn bị thuỷ triều xâm nhập, chưa cày cấy được. Người xưa đã làm ruộng ở trên đồi.

104

Làng với nhà ởlụ cả trên đỉnh đồi, còn ruộng thì theo sườn đồi. Khi người đồng hơn, làng lớn dần, lan xuống dưới, ruộng -lại lan xuống thấp hơn. Khi ruộng không thể xuống hơn được, người ta lại đi khai phá ngọn đồi bên cạnh để lập lại làng khác. Và khi hết đồi, bấy giờ người ta mới lưu ý đến những giồng đất là những dọc đất cao do nước sông bồi lên (khi còn thấp gọi là những con trạch , khi cao và lớn không thể ngập nước nữa thì gọi là giồng). Người ta lập làng trên những giồng đất ấy. Và đến đấy là bắt đầu đã kinh nghiệm ra nước lớn vào những tháng nào trong năm, để chừa những tháng ấy ra, mà canh lác trên những ruộng không bị ngập.

Sau này người đông hơn nữa và thiếu chỗ ở, người ta mới phải làm nhà sàn nơi đất trũng, dù biết rằng mùa nước thì ngập, để rồi kinh nghiệm lại dạy người ta cách đắp đê ngăn nước cùng tính nước triều lên xuống mà làm ruộng.

Sách An Nam Chí Nguyên của Cao Hùng Trưng chép rằng: ‘‘‘‘thời mà đất Giao Chỉ chưa thành quận huyện (tức là chưa ở trong vòng nội thuộc nhà Hán) cố những ruộng do nước triều lên xuống và chừa ra. Ní^ười cày cấy ruộng ấy lù dân Lục, n^ườì cai trị dân ấy là vua Lạc, các quan hầu văn là Lạc háu, cúc tướng vỗ là Lạc tướng , phong tục thuần phác, thắt nút để ghi nhớ công việc”.

ĐỜI SỐNG BỘ LẠC

Xét như thế , ta có thể phỏng đoán rằng họ Hùng Vương chỉ mới là một họ tù ừưởng lãnh đạo cả đám dân. Họ ấy cùng với gia đình đã có thể ở cả trên đồi Nghĩa Cương, rồi lan dần qua các đồi có làng Thanh Mai, Vi Cương, Tiên Cương, Văn Cương, Bô Sao, Lương Đài, Diễm Xuân. Còn các tù trưỏíng và bộ lạc khác theo họ khác thì ở trên những ngọn đồi khác, rải rác về phía Phúc Yên (tức là Phong Khê), Bạch Hạc (tức là Mê Linh) v.v... Tất cả đều lấy canh nông làm nghề căn bản.

Giữa họ Hùng Vương và các họ khác ở xa nhau cả cây số. Mùa nước lũ lên thì đồi cao như những cô đảo ở giữa biển nước mênh mông. Mùa khô thì cây cỏ mọc tràn khắp cả. Đường liên lạc chỉ là những đường sống trâu ngoằn ngoèo giữa hai bên cỏ rậm. Làm sao tạo thành liên hệ để thiết lập chủ quyền trên cả khu Phong Châu ấy?

Nếu cùng một lúc ấy mới có nhiều bộ lạc đến cư ngụ trên địa bàn có sự cách biệt nhau như thế, chưa chắc họ Hùng Vương đã được dân chúng suy tôn mà có thể có họ khác được hưỏfng danh dự ấy cũng nên.

105

Ó đây, họ Hùng Vương được suy tôn làm thống lĩnh thì hẳn phải có cái công dẫn dắt tất cả từ phía dưới tới đây. Hoặc dòng họ này đa đinh

hơn cả đã lấn át hết dòng họ khác, và càng lâu dần về sau càng toả rộng người ra mở mang thêm đất mới. Khiến cho từ đồi nọ qua đồi kia có liên hệ huyết thống, ngoài liên hệ bộ lạc thống lãnh với bộ lạc chư hầu. Liên hệ ấy mới làm được người xưa dù đường đi gieo neo cách trở, khi có lệnh gọi tù trưởng là phải lục tục tới, hoặc khi có việc đao binh thì phải đến cứu ứng nhau.

Câu chuyện Phù Đổng Thiên Vương, khi có giặc Ân đến xâm lăng, vua Hùng cho sứ đi rao ở các làng tìm người tài giỏi ra giúp vua dẹp giặc, đủ cho ta mường tượng được cuộc sống xã hội thời ấy đã như thế nào. Nghĩa là vua và hoàng hậu ở riêng một ngọn đồi . Quan và tù trưởng bộ lạc nhỏ khác ở ngọn đồi khác. Dân ở ngọn đồi khác. Thường nhật ai làm nấy ăn. Đến ngày lễ tôn giáo mới có sự kéo nhau từ khắp nơi tới làm lễ. Có giặc cướp đến phạm vào cung vua thì vua cùng các tướng chống trả và kêu gọi người các nơi về giúp dẹp giặc. Mà giặc xâm phạm những ngọn đồi khác, có sự cầu cứu thì vua cho lệnh các nơi cùng đến cứu ứng. Xong rồi lại đâu về đấy.

Giữa vua và dân không có sự cách biệt về quyền uy tối thượng, để chém, giết hay cho sống là tuỳ vua.

Gần như chẳng có tổ chức và kỷ cương triều đình gì hết. Những chức phẩm Lạc hầu, Lạc tướng, là những chức phẩm người ta dặt ra về sau này. Ngày lúc đầu chắc không có.

Như vậy có lẽ vua và họ hàng của vua cũng cuốc đất và trồng trọt như ai vậy. Chỉ khi có lễ lớn mới thấy có trật tự nào trong sự hành lễ.

Câu chuyện Áp Lãng Chân Nhân, có ông già địa phương đứng ra nhận hướng dẫn thuyền vua để đưa quân đi dẹp giặc, một người thưòfng dân vô danh nói chuyện thẳng ngay với vua như thế chứng tỏ tương quan giữa vua và dân đã không có gì cách biệt cả.

Tóm lại, chúng ta được thấy một đời sống xã hội thật là giản dị (đúng là thuần phác và thắt nút để ghi nhớ công việc). Đời sống ấy có lẽ cũng giống với đời sống Nghiêu Thuấn bên Tàu, dân ần no lại vỗ bụng nằm ca hát, đi ngủ không phải đóng cửa, ra đưòfng không ai lượm của rơi. Đó là thời đại hoàng kim.

ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH

106

Câu chuyện vua không chấp nhận việc công chúa Tiên Dung kết duyên cùng Chử Đồng Tử tố cáo rằng đã có cái ý niệm về cấp bậc người trong xã hội phải xứng đôi vừa lứa. Thêm vào đó là truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh, phải đều là con nhà dòng dõi cả mới được tranh hôn công chúa.

Khi ý niệm dòng dõi ấy đã nảy nở như vậy, liên hệ giữa cha mẹ và con cái đã phải chặt chẽ lắm trong gia đình phụ hệ. Chặt chẽ để sinh ra tục thờ cúng tổ tiên. Và cũng chặt chẽ là nhờ tục thờ cúng tổ tiên ấy.

Chử Đồng Tử chôn cha với cái khố chung của hai cha, con, còn mình chịu ở truồng. Vua Hùng hứa lời truyền ngôi cho đứa con nào biết tìm lễ vật dâng cúng tổ tiên ngày tết cho ý có nghĩa.

Những chuyện ấy cho ta thấy người xưa xem đạo hiếu là hệ trọng

lắm, để chôn cất cha mẹ tử tế và giữ gìn mồ mả.

Madrolle trong sách Hướng dẫn du lịch có nhắc lại việc năm 1898 tại gần làng Đàm Xuyên (Phúc Yên), người ta nhân một công tác nào đó, đã bạt một ngọn đồi rồi tìm ra một ngôi mộ. At hẳn đó là mộ của những hàng lù trưởng hoặc quan chức lớn. Mộ chôn ở trong hang, đào moi ở một ngọn đồi ra, rồi lâu ngày cửa lại bị lấp, bao nhiêu năm tháng qua không hề ai ngờ biết, giữa ngọn đồi ấy lại trống rỗng để có một ngôi mộ. Thì ta hiểu cái ý muốn giữ gìn thể xác người quá cố như thế nào.

MỘ CỔ LẠCH TRƯỜNG

Giáo sư Olov iansé đã viết về mộ cổ Lạch Trường như sau: (trong sách Nguồn Gốc VÚn Minh Việt Nam - Đại Học Huế xuất bản) “Thời kv thứ hai dược tiêu hiểu bởi thứ kỹ nghệ gọi là kv nghệ Lạch Trường, và đại dể thuộc ba thế kỷ dầu trước và sau Thiên Chúa. Sự phân phối về địa lý của kỹ nghệ ấy, bao gồm Bắc Bộ, một phần Trung Bộ và một vài vừng khác chưa dược xác định rổ rệt của miền Tây Nam Trung Quốc. Vân minh dó phần lớn thuộc giống người gốc Thái. ”

107

Và ông tiếp: “Khi chúng tôi bắt dầu công việc (1934-1939) thì ông Giám dốc Trường Viễn Đông Bác c ổ đã giao phó cho tôi điều khiển công cuộc tìm kiếm cổ mộ trong tỉnh Bắc Ninh, cách ít chục cây số vê' phía Đông Hà Nội, nhầm mục đích nghiên cứu một sô' phần mộ bằng gạch lúc bấy giờ, theo ỷ kiến thông thường, người ta cho là những kiến trúc của người Tàu. Trước tiên chúng tôi đã phát lộ ra gần chợ Lim, một kiến trúc gồm có h(fn một trăm phòng, mỗi phòng giống như một tụy đạo (đường hầm). Có những kiên trúc khác nhau giống như thế dược phát lộ trong vùng. Chúng tôi cũng tìm thấy những phần mộ chỉ gồm có một phòng, thường chia làm ba ngăn, bởi những lớp vách vòng cung. Vật liệu đã dược dùng và cơ cấu của những kiến trúc đó trông qua có ve’ bí ẩn, va chứng tỏ những sáng kiến mài mẻ hẳn lên đến nối làm cho ta phải ngạc nhiên trong cách kiến trúc 'mộ phần. Những mộ phần đầu tiên chúng tôi quan sát ở Bắc Ninh được xây cất trong những đồi núi thiên nhiên và cho

ta cám tưànỊ> những hang dộng nhân tạo. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, vì thực ra clĩẳn^ hạn ỞTiĩXuvên miền Nam Trung Hoa đã thấy có nlìữn^ mộ phần cất troníị sườn núi. Những mộ phần ham> dộng ấy có vào khoảng thời dại nhà Hán. Người ta cũng lại phải nhận dinh rằng cái ý niệm hang dộng siêu nhiêu có một vai trò trọng yếu trong tín ngưỡng đạo giáo. Theo tín ngưỡng này thì trong lòng một quả núi lớn có nlĩiĩng hang dộng, mà củi vòm tiựmg trưng vòm trời lòng dáy phù hợp với đất. cửa vào những hang ấy là hiên giới giữa thế giới vật chất và thế giới siêu hình. Tín ngưỡng ấy dã lưu hành (ý thời dại nhà Hán, hằng chứng lù có nhiều lư hương, dỉnh trầm bàng dồng hay hằng dất nung mô phỏng hình quà núi với những hang dộng siêu nhiên. Những tác phẩm ấy thuộc vào thời kỳ người ta hắt dầu nhập cảng vào nước Tàu những gỗ thơm từ Việt Nam hay Ba Tư ịPerse). Quả núi dược coi như dại diện thiên dộng của dạo giáo có các vị thẩn tiên cư trú. D ĩ nhiên là các nghệ sĩ đã muốn cho những lư hương dỉnlì trầm ấy một hình dáng và trang trí tượng trưng dể gợi lên không khí cực lạc mà mùi hương trầm đã dem lại.

Chúng tôi ghi nhận ràng có những ngôi inộ chôn trong lòng các đồi đất nhờ công tìm tòi của nhà khảo cổ của nhà khảo cổ học Olov Jansé. Nhưng còn nhận định thêm như ông rằng cái ý niệm hang động siêu nhiên có vai trò trọng yếu trong tín ngưỡng đạo giáo thì có lẽ cần mất chút thì giờ bàn lại.

Người ta đã moi đất ở đồi ra xây đường hầm, xây những gian phòng ... thì làm gì còn hang động với vòm động tượng trưng vòm trời gì nữa. Trừ phi mộ đật trong hang động đá lớn, tự nhiên đã thế rồi, với những nhũ đá thì mới nói đến ý niệm hang động siêu nhiên được.

ớ đây đơn giản chỉ có một sự ký thác thi thể người quá cố, ký thác cho sơn thần mà dân chúng ai nấy đều sợ, ký thác vào lòng quả đồi mà thần ngồi ở trên cho ai nấy không dám phạm vào. Ảnh hưởng về địa cát phong thuỷ đối với đời sống của con cháu chưa hề ai nghĩ ra ở hồi ấy. Cả chuyện tín ngưỡng đạo giáo cho rằng người chết đi vào cõi trường sinh bất diệt, có lẽ cũng không ai nghĩ thế. Vì người chết đã là diệt rồi, còn đâu là trường sinh nữa! Đạo giáo tìm cách tu để được trường sinh, là trường sinh đối với người còn sống; không có dân nào ngây thơ đến độ tìm trường sinh cho người dã chết. Hoặc giả có một sự chúc tụng, một sự mong ước chăng, là chúc tụng ước hồn người chết đầu thai kiếp khác.

(I ) Nguyễn Đăng Thục dẫn theo: Việt Nam - Carreýbur des peuples et des civilisations của Olov Jansé, Prance - Asie, Éd. Tokyo, 1961.

108

Vậy. đây chỉ là mộl cách giữ gìn thể xác người quá cố về lâu dài. Những cái chum bàng đá của người Lào ở Cánh Đồng Chum, những vại sành đimg tro và xương người quá cố chôn ở bãi biển Sa Huỳnh cũng chí có công dụng ấy.

Có điều khiến la phải suy nghĩ là sao những cổ mộ ấy không tìm thấy có nhiều, khi trải bao nhiêu đời, đã có bao nhiêu người chết rồi? Ta tất hiểu ra, mộ chôn một cách thật công phu như cỡ ấy phải là mộ của hàng quv tộc, nhiều liền của, nhiều quàn hầu dầy tớ. Còn mộ thường dân thì ở đâu? Cũng bởi cái ý muốn giữ gìn mà người ta đã chôn thi hài thàn nhân một cách giấu giếm chứ không tập trung về một khu nghĩa trang, chôn ở bờ ruộng, ở khe đồi, ở bất cứ một nơi nào, để chi con cháu biết thôi. Khi con cháu vì cớ gì mà lan tác, đời các cháu xa không nhớ nữa thì những ngôi mộ ấy lần dần vào đất xung quanh, để xương cũng tan đi mà sau này không ai tìm thấy nữa.

Người ta không hề tìm thấy mộ cổ ở hang động đá. Chỉ thấy đồn ràng trên đinh núi Ba Vì có cái áo quan nhưng không ai thấy. Mà theo thánh tích thì đấy lại là cỗ thọ đường do chính Thán Tản Viên dành cho bà mẹ nuôi vần sống ở dẩy lừ trước. Núi và hang động là nơi thanh sạch của thần tiên. Người phàm tục tới đó chi làm nhơ uế nơi thiêng liêng ấy. Huống chi mang thể xác người chết dến đấy lại càng là việc phái kiêng. Cái xác của sư Từ Đạo Hạnh ở hàng động chùa Thầy (bị quân Minh đốt) cũng là xác của vị Phật sống dể lại. Nhất dịnh người thường không dám chôn vào hang dộng đá. Chính điều này mới lại đúng với ý niệm của Jansé muốn nói. Nhưng những sọ người mà người ta thấy ở hang động Bác Sơn thì sao? Thấy ở dấy không kèm theo những tự khí thì đấy là những người sống hoặc di đánh nhau bị thương, vào đấy rồi chết, hoặc bị người ta giam cầm ở trong, hoặc đem nhau Vcào dấy đánh nhau để rồi cùng chết. Không phai dấy là một nghĩa trang để có một lúc lới mười cái sọ người chết tiền sử.

Phân biệt rõ như vậy, chúng la thấy trong nội dung việc chôn xác cha mẹ này, tuy là có tôn kính mà cỏn phải dưới mức tôn kính nhữnỊị bậc thần tiên. Chúng ta sẽ nói về tín ngưỡng niìy sau ở mục đời sống tâm linh. Đây tiếp tục nói về đời sống gia đình. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí, tính Thanh Hoá chép về phong tục người Mường có ghi là xác cha mẹ chết thường dược để lại trong nhà đến ba năm mới chôn. Điều ấy tỏ rằng người ta để lại là để phụng dưỡng như khi còn sống.

109

Với ý niệm về dòng dõi, với tục quàn xác tại nhà và tục tìm đất chôn người chết, ta hiểu rằng cuộc sống gia đình đã rất sớm có tổ chức

theo phụ hệ. Và đời sống canh nông lúc nào cũng cần nhiều nhân công đê tự nhiên dẫn người ta đến đời sống đại gia đình của ba bốn đời ở chung với nhau. Khi di dịch là cùng di dịch cả. Nếu thực họ Hùng Vương di cư từ miền Nam ra thì cũng là theo lối ấy, để khi tới nơi, mới toả dần sang những ngọn đồi kê bên bên.

Nếp sống đại gia đình của bộ lạc canh nông no đói vui buồn có nhau đĩi khiến tình người nảy nở và cố kết, để sống có luân lý theo thiên tính.

Trong một vài tài liệu Trung Hoa có thấy nói đến cổ tục loạn hôn: anh chị em trong nhà lấy nhau. Có lẽ có. Chuyện trầu cau cũng gần gần nhìn nhận việc ấy. Chính trong dòng họ vua thiên thần Pharaon ở Ai Cập cũng có việc ấy. Khône lấy làm lạ. Chỉ là vì hễ có vấn đề quyền lợi và vấn đề gia tài đặt ra là người ta nghĩ ngay đến cách giải quyết ổn nhất, để thêm vào tình thân đã nói, còn có cái ân nghĩa truyền đời của gia tài, nó khiến sự thờ kính cha mẹ tổ tiên đến mức như một tôn giáo.

Điều đáng lưu ý là khi sang qua canh nông, nhà càng đông người càng làm dược nhiều ruộng đất để càng có nhiều hoa lợi nuôi nhau, người ta không bị đói để cấu xé lẫn nhau, như khi còn là săn bắn hay chài lưới, cho nên nếp sống đại gia dinh tồn tại lâu dài.

ĐA THẨN GIẢO VÀ ĐẠO TIÊN

CHƯƠNÍỈ V

TÓM LUỢC

Khi ra tới vùng Phong Châu, người Giao Chỉ còn nếp tin tưởng phiếm thần cũ và không thay đổi niềm tôn kính tù trưởng là người thay mình cảm thông được với thần linh để xin ban ân phước.

Tùy các tù trưởníì quan niệm về quyền năng của các thần và động phủ ngự trị cùng cuộc sống của các thần ấy ở thế giới vô hình mà người ta có sự xếp đặt trật tự ngôi thứ của các thần. Quan niệm đã dựa theo chính cuộc sống của người ta mà luận ra và được phức tạp dần lên.

Đạo Tiên

Sắc thái đặc biệt phán nào trong tín ngưõng của người Giao Chỉ là Đạo Tiên, với ước mơ một cuộc sống trường sinh bất tử ở cõi vô hình, ngoài thế giới phàm lục. Những nơi kể là thiêng liêng đều ở trên các núi cao rừng thẳm và trong các hang động có hình dáng kỳ ảo. Tản Viên sơn thán ở núi Tản Viên là một trong bốn vị bất tử theo tin

tưởng cũ. ĐA TH ẦN (H Ả O C() so

I I I

Người Giao Chí trước những hiện tượng thiên nhiên ở Phong Châu như mưa, gió. bão, sấm, nước lụt, lửa, sáng, tối, v.v... đã chiêm nghiệm ra thấy năng lực vĩ dại quá, cũng như ở Cửu Châu, khiến cho con người không bao giờ làm nổi, nên phai kinh sợ và cho mỗi hiện tượng ấy là một huyền năng của một vị thần. Huyền năng ấy là để trừng trị một cái tội nào của một sô' kẻ nào. Cũng có khi là một sự ban ân phước cho một số kẻ nào. Không biết đâu chừng là hay dở, may hay rủi thì cứ nhỏ di, mọp người xuống mà van vái. Chẳng những thế, cả những nơi, những vật mà các vị thần có thể trụ vào hay biến hình ra cũng dều là thiêng liêng cả đế van vái. Những nơi hay những vật ấy, hoặc là hang động núi non, trên bộ

dưới nước, trên mây, hoặc là cái cây cao bóng cả âm u, cái cục đá lâu ngày hấp thụ tinh khí của trời đất, hoặc là con cọp, con ngựa, con rắn, hoặc nữa là những đồ thờ, cái trồng đổng, cái bình đốt nhang trầm, cái đèn, cái ngai thờ, cái nhà để thờ ... tất cả để là của thần, không được phạm đến, vì phạm đến là có tội, và phải kính trọng tất cả, càng kính trọng lại càng khôn. Rủi khi xúc phạm đến thần mà mình không ngờ biết đê gặp điều không hay như đau ôm, chết người hại của thì phải cúng và kêu xin. Cách cúng và kêu xin có hiệu quả là nhờ trung gian của ông thầy pháp mà thường các tù trưởng .sắm vai này trong xã hội, nên đối với các tù trưỏìig, người ta đã kính mến tuy không bảng thần nhưng cũng ở mức hơn cha mẹ mình.

Xã hội thái cổ nào cũng vậy, tuỳ các tù trưởng quan niệm về năng của các thần và động phủ ngự trị. tức là quan niệm về cả cuộc sống của các thần ấy, mà đa thần giáo có sự xếp đặt trật tự trên dưới cho vị nào chỉ huv vị nào. Quan niệm này dã nương theo chính cuộc sống của người ta mà luận ra.

Cuộc sống của người Giao Chỉ Văn Lang dã hết sức giản dị. Các thẩn cũng đã chỉ liên hệ với nhau rất lỏng lẻo và hết sức giản dị như thế. Chỉ dần dần về sau này, khi sự tôn kính tù trưởng tăng gia mức dộ với liên hệ con cháu trong dòng dõi nữa, bấy giờ tù trưởng mới ý thức về quyền chi đạo và chủ quyền lãnh địa. dể đòi hỏi sự góp thuế, sự chầu hầu phụng sự, mà xã hội bắt đầu chia ra cấp bậc, có tôn ti trật tự rõ ràng.

Đến chừng ấy, đã thần giáo cổ sơ và giản dị lại được quan niệm cho chuyển theo, dể có trật phức tạp hơn lên, với những thần thoại mà các tù trướng tưởng tượng ra, hoặc qua cơn mộng mị, hoặc qua những hình ảnh của cuộc sống hiện tại trong xã hội.

ĐẠO TIÊN

Đạo Tiên là một sắc thái đặc biệt trong tín ngưỡng của người Giao Chỉ. Nguyễn Văn Huyên, hội viên trường Viễn Đông (Bác cổ Pháp, dã viết trong sách Le culte cles ìmmortels en Annam . (Sự thờ kính những vị bất tử ở Việt Nam).

112

“ Từ tlĩiíợní> cổ iu>ười ta âã than thở về sự m>ắn m>ủi của đời sốníị trần gian. Vậy nên người Việt Nam tin vào (lời sống của một thế giới hên kia về san. trên hờ hiển xa xăm theo ngư()‘i nciv, hav siêu việt trên mổív từng mâv cao thâm theo người khác. Hầu hết khao khát nư}t cUn sống lâu (lài và ham muốn theo (ỈU(ÍÌ tự (lo những ngùv sống trong trang thái híít tử, vĩnh cửu, theo kiểu những thổn tiên của núi .xanh, diện vàng và ngọc, có vườn đào hao quanh, có máv hiếc V() h()ng phủ kín”.

Người ở xã hội cổ sơ nào cũng iưởng tượng và quan niệm có những thần tiên bất tử, vĩnh viễn trẻ đẹp, đi không chạm chân xuống đát, sống ở những nơi không kẻ phàm tục nào tới được, thỉnh thoảng về những đỉnh núi cao uống rượu đánh cờ, và biến hiện khôn lường, thần thông quảng đại. pháp lực cao cường.

Nguyễn Văn Huyên cho ràng: người Việt Nam tin vào đời sống ở một thế giới bên kia về sau, nếu ông hiểu vổ sau lức là sau khi chêt, sống một kiếp khác thì là nói sai. Chính người ta tin rằng một số người nào đó có thể đạt lới cuộc sống ấy ở ngay kiếp này, bằng sự tu theo đạo Tiên. Ây là cái truyền thống tu hành luyện thuốc trường sinh ở phưcmg Đông, đi cùng với truyền thống luyện kim thuật ở phương Tây.

Phương Tây dừng lại ở cuộc sống hiện tại, thiết thực, đổ tìm cách chỉ đá hoá Vcàng mà dặt nền tảng cho khoa học. Phương Đông hướng mắt về cuộc sống vĩnh cửu tương lai, không nghĩ hưởng thụ nhiều cho nặng người, mà nghĩ lu cho nhẹ xác đổ thành tiên.

Vậy nên. bên cạnh tín ngưỡng da thần đã nói, người Giao Chí còn một ước mơ thành liên dế trường sinh bất tử nữa. Người ta tôn trọng những hang động ở núi cao rừng thẳm, dường vào khúc khuỷu cheo leo và liệt là những động tiên để không dám làm gì nhơ uế. Những hang động ấy có nhũ'ng nhũ đá, những vòm hang, những hình trạm trổ kỳ quái, mà không sức người nào làm ra được. Chí phép tiên mới biến hoá được thôi. Người ta sán sàng tin là có tiên thật, và nếu gặp cơ duyên may mắn được tiên truyổn phép cho thì người ta cũng sẽ được bất tử.

Sách Dại Nam Nhất TlìốniỊ Chí, tỉnh Sơn Tây, mục Son Xuyên, dã kê ra quanh vùng Phong Châu có trên 20 ngọn núi, mà gần như núi nào cũng có hoặc chùa hoặc đền miếu để thờ cúng.

Núi Tán Viên thờ Tan Viên sơn thán. Núi Sài Sơn có chùa Thầy thờ Thiền Sư Đạo Hạnh. Núi Nghĩa Cương có dền thờ Hùng Vương. Rồi núi Tử Trầm, núi Tam Đảo, núi Không Lộ, Viên Sơn, Mộng Sơn, Phục Tượng, Lòi Sơn v.v... dều có đền miếu chùa chiền.

Việc xây dựng và thờ phụng này về sau mới có. Thời kỳ dầu, người

Giao Chi chí biết coi các núi ấy là nơi thiêng liêng mà thòi.

Có lỗ để thính thoảng rảnh rỗi thì hành hương tới đó cầu sự phù trợ của thần linh. Hoặc cũng có người muốn tìm thầy học đạo thì đi lén đấy rồi không thấy về nữa.

Dđu sao dạo Tiên cũng dã tự nhiên nảy ra ở thòi thượng cổ của

113

ngưừi Giao Chỉ mà không cần dọi đến ngày đạo Lão du nhập.

SINH HOẠT KINH TẾ

CHƯƠN(; VI

TÓM LƯỢC

Người Giao Chi’ có đặc tính chịu đựng những điều kiện khe khắt của

Đất

hoàn cảnh thiên nhiên để tìm thích ứng.

Thiếu nước sông bồi đăp phù sa thì đất kém mẫu mỡ. Phái thêm

Sông

nhiều phân tro.

Thuỷ triều

Mùa nước thì những con nước lên bất thường không biết đâu mà lường.

Hàng ngày lại có nước mặn tràn vào rồi lại rút ra.

Mưa

Kỹ thuật canh tác

Những tháng mưa nhiều lại Icà những tháng nắng d ữ . Phái chiêm nghiệm lâu năm mới làm chủ được đồng bằng Bắc Bộ.

Là kết quả của nhiều năm chiêm nghiệm ấy, để làm ruộng trên sườn

đồi, đắp bờ nước và san phang ruộng cho cây lúa ở các góc có đều nước.

Ruộng mở rộng dần xuống chân đồi thì phải đắp bờ ngăn được nước

mặn và giữ được nước sông.

NHỮNG ĐIỂƯ KIỆN TH IÊN NHIÊN

Sự sinh hoạt kinh tế ở thời này dã không do sức lực và ý muốn của con người mà được định hướng. Tất cả đã do sự an bài của thiên nhiên về địa lý, khí hậu, phong thuỷ.

114

a. Đất

Đâì phù sa clo sông Hồng mang đến bồi đắp lên đồng bằng đã gồm có cát. đất sét và đất mầu. Cát thì hạt lớn từ 0,05mm đến 2mm, đất mầu thì hạt lớn từ 0.002mm đến 0,05mm, đất sét thì hạt nhỏ hơn 0,002 mm.

Đất mầu thì hoặc nâu hồng, hoặc vàng, hoặc xám. Tốt nhất là nâu hồns. Khi đất ấy khò thì cứng như đá. Phải cuốc lên thành tảne rồi đập cho tan vụn ra mới trồng trọt được.

Đất sét bị ngâm nước thì mất dần chất vôi và bồ tạt, đế những hạt nhỏ phân hoá thành bột phèn như mỡ dính, lắng sâu xuống khoảng 30cm, tạo thành một lớp đất không thấm nước, khiến cây trồng không lớn dược. Còn cát là những bột vụn ở dá ra, có hại cho nghề nông. Nó chỉ có tác dụng là chất dộn cho xốp dất mà thỏi.

b. Sông

Cần luôn luôn có nước sông bồi dắp thêm phù sa vào đất mới mău mỡ. Còn đăp đê ngăn nước thì dược đàng nọ lại hỏng đàng kia. Nếu không cổ phân tro thèm vào, dấl sẽ cứ dần dần kém đi.

c. Thuỷ triều

Sông Hổng ít nước về mùa đông, tháng 11. tháng 12. Tại Hà Nội, nước sòng chi cao 2m50 trên mực nước biển. Mùa nước lên bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 10. Suốt 5 tháng ấy nước lên nhưng chập chòfn khi cao khi thấp, khó đoán biết. Nếu gập lúc nước dồn ở thượng lưu về của củ ba con sông Chảy, sông Đà và sông Hồng thi nước dâng lên ở Hà Nội có khi cao tói 13m. Trong cả mùa nước lên, có khi nước lên vọt thật cao rồi lại xuống, lại lên tới 7 lán. không biết dâu mà lưcĩng. Những giồng đất cao đã không đủ cao đối vói những con nước ấy và tất cá đều bị ngập. Mà nhũng luồng sóng ngầm của nó thì bạt phăng hết nhũng nhà cửa, cấy côT".

Thuỷ triều ở miền Bắc một ngày lên một lần. Cứ 15 ngày có một lần lên thật cao gọi là nước phát, lại 15 ngày có một làn lên thật thấp, gần như không lên, gọi là nước sinh. Sở nghiên cứu nước biển còn cho biết: cứ 18 năm 2/3 lại có một lần nước triều lên thật cao tối đa, rồi lại 18 năm 2/3 lại có một lần nước tricu lên thật thấp tối thiểu.

Lưu lượng cứa sông Hồng vào mùa nước lũ là 230 lít mỗi giây. Sông Rhône ở

Pháp vào năm lụt 1840, chí có 30 lít mỏi giây mà thôi. Sông Cửu Long nước lên đcu và lừ từ, nên người ta đoán biết trước được đế có thể trồng được lúa sạ cho nó vưưn theo mực nước lên cao dần. Còn sông Hồng bị kẹt giữa những rặníỉ núi cao và đứng như tường thành trước khi vào đồng bằng, nên sức nước bị ép dồn. dến khi túa vào dồng bằng thì nó chảy ào thật mạnh.

1 15

d. Mưa

Tuy nhiên, đất ở Bắc Bộ không có nơi nào thấp hơn mực nước biển vì ở đáy biến đất thoai thoái nên thuỷ triều dù lên dữ cũng chi lên cao lni80 để tràn vào mặt đất chứ không tàn phá dữ dội. Mà rồi những đụn cát, những bờ dất thấp cũng đủ sức ngàn dược.

Mưa ở miền Bắc có chia ra ba mùa. Từ tháng 10 đến tháng 12 mưa nhỏ, gần như không mưa, độ ám cũng kém; sò ngày mưa, số giờ mưa cũng kém. Đó là mùa khô, mùa hanh. Ruộng khô và nứt nẻ. Không khi mát, hơi lành lạnh. Công việc gặt vụ tháng 10 không vội vã và không sợ bão.

Từ tháng 1 đến tháng 4, mưa còn ít nhưng độ ẩm dã cao. Đó là mùa mưa phùn, nhiều ngày có mưa và mưa cũng kéo dài. Nhiều ngày không có mặt trời và sương mù dầy đặc. Có năm tói 60 ngày mưa phùn trong 4 tháng. Hàng tuần không có mặt trời. Đất ẩm ướt và trơn trưcn.

Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa mưa. Thường là mưa rào và có bão. Trời nắng gắt, hết sức nóng và khô trong chừng một tuần lại có một tuần mưa làm dịu bớt nóng xuống. Nhiều vùng chậm mưa quá 10 ngày là hạn hán và lúa chết.

Độ ẩm

Số giờ mưa

Tổng số nước mưa

Tổng số ngày mưa

Số ngày có mưa phùn

Số ngày không có mặt trời

Nước bốc hơi thành

Tháng theo Dương lịch)

.

1 m /m

Dưới đây, là bảng kê của Đài Thiên Văn, Phủ Liễn (Kiến An); MÙA MƯA VÀ NẮN(; ở BẮC BỘ

10 16 17 11 1

Số giờ trung bình có măt trời trong ngày 2,7 1,7 1.6 2,9 5 3 5,7 5,9 5,2 6 6,2 4,9 3,7

116

1 2 3 4 5 6 7 8 . , . 9 10 11 12 22 ĩ ĩ 22 11 3 3 4 1 1 1 6 14 81%3 87,4 89,2 893 85,5 853 84,4 86,2 833 79,3 76,1 78 40 44 76 189 348 293 327 298 118 64 30 16 20 33 22 20 19 20 20 20 16 13 14 3 7 91 157 164 104 64 69 86 92 74 55 56 74 46 41 61 82 74 89 84 94 133 107 53

Trong những điều kiện thiên nhiên như vậy, người nông dân gặp nhữii2 khó khăn là: khi có mưa, đất mềm dễ cuốc, dễ trồng thì đến mùa 2ặt mùa khô, đất nứt nẻ, cây chết. Cho nên khởi đầu chỉ trồng trọt được trên sưòfn đổi, rồi mới lan xuống dần dần và hàng năm, hết năm này qua nãm khác, phải chiêm nghiệm nhiều lần mới dùng được những đất thấp ven sông, cùng lợi dụng được nước sông, nước mưa, cũng như lợi dụng được ánh nắng mặt trời mà trồng trọt.

KỶ T H U Ậ T CAN H TÁC

Câu chuyện nói ràng đến đời Hán có mấy ông quan thái thú Tàu (Nhâm Diên 23 s. CN) dạy cách làm ruộng tlTi dân Giao Chỉ mới biết làm là một câu chuyện chỉ người Tàu mới tưởng lượng ra được"’. Kĩ thuật canh tác gồm trong nó cá một mớ hiểu biết rất phức tạp, chi’ kinh nghiệm năm này qua năm khác mới có dược mà thòi. Nó là sự cuốc nông hay sâu ở thửa ruộng này mà không ở thửa ruộng khác; nó là sự giữ nước ở đầu này. tháo nước ỏ đầu kia, sự làm cỏ, sự bón phân, sự gặt hái, phơi phóng, sự lựa và giữ lúa giống... Không phải với ba câu dạy về lý thuyết mà người ta có thể làm nhà nông được.

Huống chi chính Cao Hùng Trưng trong sách An Nam Chí Niịuvên đcã nói: khi Giao Chỉ chưa thành quận huyện, dân Lạc đã theo nước triều lên xuống mà làm ruộng rồi.

Vả lại, từ đời Triệu Đà đã có chuyện rắc rối về vụ mua trâu dực trâu cái và lưỡi cày ở Trung Quốc, khiến Triệu Đà đem quân sang đánh quận Tràng Sa thì đâu cần dến hết đời Triệu (207-111 tr. CN) sang qua thời đô hộ năm 23 s. CN (tức là 230 năm sau) dân mới biết làm ruộng nhờ Nhâm Diên? Thêm nữa, ngoài giông Giao Chỉ ta ở phương Đông này ăn gạo, còn người Thái, người An, người Nhật, người Phi, người Lào, người Miên v.v. cũng ăn gạo. Nếu không có ông Nhâm Diên nào dó đến dạy cho thì làm sao những người ấy cũng biết làm ruộng đế có gạo ăn nhỉ?

Còn người Pháp thì quá ta lấy làm sừng sốt khi thấy một người như Maspéro mà cũng viết lầm như sau; “Cả vìtmị dó hâu hết lù dổiu> lầy và rửnq rậm, trotnị đỏ nhiều voi, tâv mịUu, cọp, vù (ỷ dó dân SỐIÌÍỊ hẳmị m>hê săn hắn và chài lưới. Dán này ăn thịt trăn và thịt các thú rừnt’ khác. Họ sân dược nlìty nlỉữiuỊ mũi tên cỏ dầu .xươm> nhọn, họ côn sốmỉ, nluì nhữní> hoa màu nìịhèo nán của nhữní> đám rẫy họ đốt ờ nhilnv, dám rửnii trước mùa mưa dến, khòm> mất cỏm> cày hay tưới ÍỊÌ. Khôni> hơn khớníỊ kém, họ là thứ ní>ười ở.vutu’ quanh các rruiuỉ tâm hành chính chịu ảnh hưởn^ của các thái thú Truniị Hoa, nhất là Nhàm Diên, và nhờ dó, kê từ mấy năm vê trước, họ dã hắt dầu trồní> trọt một cách dều dặn theo gí/ơ/tẹ của nhữiìíỊ ní>ười Tàu. kiểu cu’(ý Giao Chỉ. mà Nhâm Diên dã dem vào dây".

117

Có thể Nhâm Diên đã chỉ dạy dân một kỹ thuật dẫn nước vào đó, hay đắp bờ ngăn nước mặn nào đó mà thỏi. Còn nguyên vẹn kỹ thuật canh tác cổ sơ là kết quả của nhiều năm kinh nghiệm.

Hồi đầu này, khi chưa có sự giao dịch với Trung Quốc thì hiên nhiên lưỡi cuốc phải bằns đá, và người ta cũng chỉ đập đất chứ chưa có cày và bừa. Nhưng làm được bờ đắp để giữ nước trên sườn đồi và làm phang đất để nước lan đều mặt ruộng đã là một bước tiến xa về kỹ thuật.

Theo những điều kiện thiên nhiên mà ta biết, ta có thể đoán được người nông dân đã bắt đầu làm đất vào tháng 3 để gieo mạ rồi cấy và dùng nước mưa của mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, qua tháng 10 thì gặt. Đó là thời dụng biểu thuận tiện nhất.

Sự VUI CHƠI

CHƯƠNG VII

TÓ M LƯỢC

Tiếng đệm

Nhà nông có khá nhiều thì giờ rảnh rang. Tháng tháng 11 đến tháng 3 không có việc gì cả. Hàng ngày cũng rất nhàn hạ. Phải có các hội hè vui chơi tại nơi công cộng. Còn vui chơi trong gia đình là trò chơi tiếng và âm thanh, tạo thành cách dùng tiếng đệm và nói lái.

Nói lái

Do không có chữ viết để định chế, người ta nói gần gần âm hưởng của các âm gốc, rồi thêm tiếng đệm thành những tiếng kép theo một quy luật riêng về âm thanh.

Nói xuôi

Cũng là một cách chơi âm thanh đổi dấu giọng theo một quy luật riêng.

Nền văn chương truyền khẩu

Trái hẳn với tinh thần của tiếng Trung Hoa nói ngược vì chịu ảnh hưởng việc làm văn khi có chữ, tiếng Việt đã được bố trí xuôi theo luận lý thông thường.

Được phát triển dần dần. Từ những thành ngữ, để nhận xét, chiêm nghiệm những vật và việc quanh mình, người ta so sánh các thứ ấy để thành tục ngữ, rồi người ta ghép nhiều những câu 2 tiếng hay 3, 4 tiếng với nhau theo âm thanh trầm bổng và theo vần để thành những câu đồng dao, ca dao, vừa dễ nhớ, vừa dễ hiểu, vừa dễ chế biến ra những câu khác.

S ự VUI CH Ơ I

Người nông dân được thong thả chơi vui suốt từ Tết qua mùa xuân. Không chơi vui cũng không biết làm gì cho hết thì giờ. Cho nên các hội

119

hè đều tổ chức vào dịp ấy. Và những cuộc hành hương lên các núi non cũng vào dịp ấy. Những trò vui công cộng như ca vũ, đánh vật, chọi gà, chọi chim, dánh đu, thi chắc cũng như ở tất cả các xã hội cổ sơ khác.

Riêng có một trò chơi vui khá dặc biệt là trò chơi tiếng và âm thanh trong gia đình, chắc phát xuất từ sớm lắm, dể tạo thành bộ tiếng nói. Đó là cách dùng tiếng đệm và liếng nói lái.

TIẾN(Ỉ ĐỆM

Đây là hiện tượng của một ngôn ngữ không có chữ ghi đích xác và dứt khoát. Có nhiều những tiếng mà tuỳ người nói đúng hay chệnh đi một chút, nhưng nếu vẫn phát âm trong vòng của âm gốc, như đã nói trên, thì người nghe cũng vẫn hiểu được.

Hiện tượng ấy, là khuyết điểm của một giống dân không có chữ viết, nhưng lại là một ưu điểm để dân ấy có một bộ tiếng nói phong phú vô cùng. Khi có cơ hội làm việc điển chế dứt khoát, người ta sẽ tha hồ lựa chọn để tinh nghĩa.

Oằn, ngoằn, vàn, rằn, loằng, ngoằng, quằn... Đó là những tiếng có thể do sự nói sai của một số người mà khác nhau như thế, nhưng rồi dần dần dông naười cứ nói, đông người khác cứ hiểu, không ai làm việc lấy nhất định hẳn một tiếng nào đúng, nên tất cả cứ dược tuỳ tiện mà dùng để cùng tồn tại.

Rồi để giúp thêm cho sự dễ hiểu, người ta mới cho thêm tiếng đệm vào. là cái tiếng có thổ cũng gần gần với âm vận của liếng gốc, để hoạ chăng người nghe không quen hiểu liếng nọ, át cũng quen hiểu tiếng kia: lom khom, dòm nom, hom hỏm, thom lỏm, lõm õm, xoang xoảng, loảng xoảng, choang choảng v.v...

Khi quen miệng như vậy, thì một mặt người ta có những tiếng kép, kép đôi, kép ba, kép tư, một mặt người ta quen tai để đòi hỏi một âm hưởng trong tiếng nói. Và vì thế tiếng dệm mới trở nên một đặc tính của tiếng ta.

120

Tiếng đệm có khi là một tiếng có nghĩa (tay chân, nhà cửa, giường phản, sách vở...), cũng có khi không (nóng nảy, nhảy nhót, nhẹ nhõm, chạy vạy...). Tiếng đệm thêm vào đằng trước hay đằng sau tiếng chính có khi làm thay đổi nghĩa (đo đỏ, tim tím, vàng vàng, trăng tráng, nho nhỏ...) mà cũng có khi không (một mai, giấy má, của cải, xe cộ...). Có khi sự thêm vào chỉ để cho tiếng khỏi cộc (cộc lốc, tròn trặn, đầy đủ). Có khi chỉ để nói chơi (đàn điệc, nhà nhiếc, ăn iếc, chơi chiếc).

Dù với nguyên cớ nào, lác dụng nào, việc thêm tiếng đệm cũng đã tạo cho tiếns Việt một âm vận theo thói quen, mà chỉ cái tai thẩm âm của người ta mới có quyền phán xét là đúng hay sai.

Người la nói ỡm ờ, ậm ừ, hầm hè, mà không nói ngược lại là ờ ỡm, ừ ậm, hò hầm. Đấy là luật ngôn ngữ, cũng như nhiều luật khác mà nhà ngôn ngữ học sẽ thn ra.

NÓI L Á I

ớ đây, chúng ta chỉ tự hạn trong phạm vi khảo về văn minh để có nhận định ráng: bộ tiếng nói của ta ở thời Vãn Lang, đã vì không có chữ viết mà có thế phong phú được như thế. Cố nhiên, ngay hồi đầu, không có nhiéu tiếng kép và tiếng đệm này. Nhưm> niỊơv hổi đần đã có sự quen dùng và sự cho plìcp dùng, nó đặt nền tang cho bộ liếng nói phát triển về sau.

Cách nói lái là cách chơi âm thanh (như các dùng tiếng đệm là một cách chơi tiếng). Đây cũng là một phát hiện đặc biệt của tiếng ta. Những tiếng liên âm như của Châu Âu, Nhật Bản, ... không nói lái dược. Mà tiếng độc âm như của Tàu thì cũng không thấy người Tàu nói lái được như ta.

Lái hai tiếng một: cái bàn - bán cài; bánh mì - mí bành; nhà tôi - tồi nha; ....Lái ba tiếng một; bản lên dề, mịt quả mốt, vái ông củng. Nhưng còn lái một tiếng một nữa: chỏm him (hôm) chay nim (nay) chôi tim (tôi) chi dim (đi) chơi chim (chơi).

Sự nói lái cũng phải theo một quy tắc về âm và thanh mà chỉ cái tai

nghe quen mới phán xét là đúng hay sai.

NÓI X U Ô I

Nhờ những cách chơi tiếng và chơi âm thanh ấy, bà dạy cháu, mẹ dạy con, trong các gia đinh, đời này qua đời khác, tiếng nói của người Giao Chỉ từ hổi chưa tiếp xúc với văn minh Trung Hoa đã có tính cách uyển chuyên của giọng nói trong bộ máy phát âm, và có nhạc điệu trầm bổng ngán nga trôi chảy và êm dịu.

121

Còn một điểm đặc biệt khác của tiếng nói để đến khi người Giao Chỉ tiếp xúc với văn minh Trung Hoa, rồi sống chung hàng ngàn năm với người Tàu, mà cũng không mất dược, ấy là nhờ không có chữ viết, không tự gò bó vào việc làm văn chương, những ngữ tố đã dược bố trí xuôi theo nhận xét thông thường hợp lý: Người ta biết rằng mưa rồi mới phân biệt ra mưa lớn thì nói mưa lớn, mà không nói lớn mưa, dại vũ như Tàu. Thấy

con ngựa đã, rồi thấy nó trắng thì nói ngựa trắng, và không nói trắng nsựa, hạch mã như Tàu*".

NẾN VÀN CHƯƠNÍỈ TRUYỀN KHẨU

Có những buổi vui chơi, hội hè, có tiếng nói để thông cám với nhau, có ca hát nháy múa đế vui với nhau thì hẳn nhiên phái có một nền văn chương ở thể truyền khẩu. Nay không còn ghi gì lại nèn bắt buộc chỉ phỏng đoán mà thôi. Theo .sự phỏng đoán của chúng tỏi, văn chương truyền khẩu của ta có lẽ đã phát triển theo trình tự này:

Đầu tiên ra đời là những thành ngữ thuộc về cuộc sống gia đình và nông nghiệp, gồm hai tiếng, hoặc bốn tiếng để so sánh sự giống nhau giữa hai vật sau khi chiêm nghiệm, với mục đích không ngoài việc dặn bảo nhau để cho dễ nhớ như: cá lứa, chim dàn.

Tiếp nữa, cũng là những thành ngữ 2 hoặc 4 tiếng để hình dung những sự việc so sánh với những vật chung quanh trong đời sống. Những thành ngữ này đã giúp cho người xưa nảy nở óc nhận định về mùa màng, thời tiết, sự vật, như: chào mào đo đít, chùn cứnq đú mềm, đánh rắn dập dần, mặt sứa Ịịan lim.

Kế tiếp, từ chỗ nhận định những sự vật quanh mình ấy người ta quay về nhận định tâm tình để biến những thành ngữ trên ra tục ngữ sau khi chiêm nghiệm thấy đúng và rồi có những câu cũng 2, hoặc 4 tiếng để trao dổi tâm tình giữa trai và gái như: mèo hay ỉa bếp, mẹ qà con vịt, ròng ròn^ theo nạ.

Đến cuối cùng mới là những câu hát ru, hát huê tình, hát chơi, gồm nhiều câu 2, hoặc 4 tiếng có vần có điệu giản dị mà nội dung cũng chưa có gì sâu sắc như kiểu “ro/? vỏi, con voi...'\ '"ông ^iẳng ông giăn^... ” hay “Mồng một lá trai mồng hai lá lúa... ” với "con chim chích choè..." "mày tát chuôm tao."...

Điều đặc biệt trong những câu ấy là không có một tiếng Hán Việt nào, cũng không có một tiếng nào chi’ định trạng thái tâm tình rắc rồi hay phức tạp.

Những câu ấy là những câu gốc trong nền thi, ca của ta. Có thể nó đó là những bông hoa chỉ mọc ở xứ ta vì đã hợp với phong thổ khí hậu của ta để rồi sinh sôi nảy nở ra những bông hoa khác về sau.

Con dài sông, trường giang; thanh ngán kiếm, đoản kiếm; cái đỏ cờ, hồng kỳ; loài trắng quỷ, bạch quỷ; người lớn anh, đại huynh; người bé em, tiểu đệ v.v... đó là những cách nói của Tàu, mà theo người Việt là ngược và buồn cười.

122

Điéu mà ai cũng nhìn nhộn thấy ngay là những vần điệu của những câu ấy hết sức rộng rãi. Có những câu chỉ có bốn tiếng thôi mà cũng có vần với nhau.

Khi thì tiếng thứ ba vần với tiếng thứ hai; Bồi ở, lở đi Tay lùm, hùm nhai Bới dất, nhặt cỏ Lắm tlĩóc, nhọc xay.

Khi thì tiếng thứ hai vần với tiếng thứ nhất:

Thắm lấm phai nhiều Lo hò trắng răng Mèo trào cây cau

Khi thì tiếng thứ tư vần với tiếng thứ hai:

Người chếl, của lìểt Ngỗng ớ/7g, lễ ông Thương thán trách phận Vàơ nhà ra to Khi thì tiếng thứ ba vần với tiếng thứ nhất:

Tay dao tay thớt Tay chèo, tav lái UY/C sao dược vậy Tát cạn hắt lấy

Còn khi nói về điệu cao thấp của những tiếng trắc, tiếng bằng xen

nhau, câu nào cũng có đủ.

Hoặc là BBTT như Tai qua nạn khỏi. Hoặc là TBBT như Ngọn nguồn chân sóng Hoặc là TBTB như Ngọt như mía lùi Hoặc là BBTB như Mồm năm miệng mười Hoặc là TTBT như Miệng cắn chân đá Hoặc là TTTB như Mật ngọt chết ruồi Hoặc là TTBB như Mặt rác mày dơ. Không hề có thành ngữ nào toàn bằng cả hay toàn trắc cả. Thành ra đứng đơn độc, mỗi thành ngữ có một nhạc điệu, mà đặt vào trong giữa câu thì thành ngữ ấy lại khiến cho toàn câu có nhạc điệu và nhịp nhàng. Đó là nhạc tố tự nhiên của tiếng nói mà khi nhập tâm rồi, người ta cứ đặt theo nhau, câu nọ tiếp câu kia, là có ngay được bài hát nhịp nhàng.

Chẳng hạn như những càu có hai vế. Người ta có thể bắt vần một

123

cách rất rộng rãi:

Tiếng thứ nhất của vế dưới vần với tiếng cuối của vế trên:

Khôn cho người ta dái Dại cho người ta thương Tiếng thứ ba của vế dưới vần với tiếng cuối của vế trên

Ai trông thấy ma Biết đàn hù ăn bớt Tiếng thứ tư của vê dưới vần với tiếng cuối của vê trên:

Có của thêm vào Chẳng có của hào ra. Tiếng thứ năm của vế dưới vần với tiếng cuối của vế trên:

Biết thì thưa thốt Không biết thì dựa cột mà nghe Tiếng thứ sáu của vế dưới vần với tiếng cuối của vế trên:

Ãn lấy thơm tho Chứ không ai ăn lấy no lấy béo.

Với tính cách uyển chuyển tự nhiên của tiếng nói và với tính cách đặt câu thật phóng khoáng như vậy, ta có thể tin chắc rằng ca dao tục ngữ của ta xưa đã nhiều vô tận. Bởi vậy, nếu không nhớ được thực đúng thì ai cũng lại có thể biến báo được ra một câu tương tự. Và bất cứ gặp trường hợp nào, người ta cũng có thể đối đáp được với nhau, bằng những câu có vần có điệu.

Thơ lục bát, song thất lục bát sau này của ta là hình thức tiến hoá tự nhiên của tiếng nói vạ bắt gốc ở ngay từ những câu ca dao vừa nói trên đây.

124

ớ thời sơ khai này của văn chương truyền khẩu, hình thức của câu vãn thơ như ta đã thấy, là giản dị và tự nhiên có nhạc điệu, theo với nhạc lính trong tiếng nói của ta.

CUỘC SỐNG VẬT CHẤT

rỏM L ir ợ c

Nhà ở

CHirơNí; VIII

Hồi đáu là nhà sàn, có lẽ theo kiểu nhà của người Mường. Còn

Y phục

nhiều đình cổ làm trên sàn sỗ.

Ăn uống

Chưa có sự nghiên cứu đê’ biết đích xác.

Việc mở rộng thêm đất đai

Ua những món thanh dạm. Có tục nhai trầu và có những món ăn quen giọng cho ca nước: nước mắm, mắm tôm, tương.

Cuộc tiếp xúc với văn minh miền Nam Trung Hoa

Tuỳ ở thiên nhiên nhiều hơn. Cuối đời vua Hùng, dân chúng đã ở lan xuống các giồng dất cao ở đồng bằng Bắc Bộ và dân ở đồng bằng sổng Mã cũng phai thần phục triều dinh trung ương của vua Hùng. Đường sông bắt dầu di dược dỗ dàng hơn và sự buôn bán cũng đã phồn thịnh.

Người Tàu đến buôn bán, không phai với cương vị chú nhân ông nên đã uốn lưỡi nói theo người bán xứ.

Loạn Xuân Thu Chiến Quốc tiếp theo đíi đẩy một số dông dán chúng và nho sĩ Trung Hoa đến tị nạn, cũng không phải với cương vị chú nhân ông. Họ dạy dân chữ Nho nhưng lại để mặc cho đọc theo giọng người bản xứ.

12Í1

Nhờ có chữ Nho ấy, họ mới bát đầu dùng đặt lên vua, lên nước, tên các bộ. Còn cương giới thì họ cho Văn Lang bao gồm cương giới nước Dạ Lang cúa họ. đến tận hồ Động Đinh và Ba Thục.

Họ Thục

Họ Thục chiếm Văn Lano đổi tên là Âu Lạc. Cùng với dân Bách Việt ở miền Nam Trung Hoa sống chung, hai giống dân dã lai nhau và thành giông Lạc Việt dổ bắt đầu nển văn minh mới: văn minh Lạc Việt.

NHẢ ớ

Nhà ở có lẽ là những chòi cao hoặc nhà sàn, bôn dưới nuôi gia súc, dế các nông cụ, bên trên đổ ở, như kiểu những nhà sàn của người Mường còn lại ngày nay. Mục đích là dể tránh nước ngập, thú dữ và giặc cướp.

Nhưng nhà của người tù trưởng thì lớn hơn vì đông người hơn. Người ta còn thấy ở Sơn Tây. Bắc Ninh, có nhiều cái dinh hàm theo kiểu nhà Scàn như vậy với những cột gỗ lớn, có lõ dó là di tích phỏng theo kiến trúc cũ.

Y PHỤC

Chưa có một công trình tìm lòi nào về hướng này cá. Người ta hiểu dại khái là người đàn ông thì đóng khố, không có quấn áo gi cả, tóc búi lèn đính đầu. Người dàn bà cũng búi tóc lên dinh đầu, có thêm cái khăn trùm buộc sau gáy như kiểu pho tượng thị nữ trong đền thòi Hùng Vương, còn quần áo cũng chí là một cái váy. Ngực để như người Mường ngày nay. Nhưng cũng không rõ có dúng vậy không.

ẢN UỔNG

Người Giao Chi ãn uống thường thanh dạm, nhiều chất rau, không ưa những món nhiều mỡ béo ngậy. Sau này dưới quyền dô hộ của Tàu, dân ta lại nghèo di, dẫu muốn ăn nhiều thịt cá như họ cũng không có mà ăn. Lâu dán thành một nếp của thị hiếu. Trong việc ăn uống, có việc nhai trầu là dặc biệt có từ xưa. Một tài liệu cổ cho biết: sứ Tàu có hỏi tại sao người Giao Chỉ vẽ mình, nhai trầu và nhuộm răng? Trả lời: vẽ mình cho thuổng luồng khỏi làm hại, nhai trầu và nhuộm răng để trừ lam sơn chướng khí.

Người ta đã quí trầu cau dến mức dùng làm phẩm vật dâng cúng, cưới hói, lễ vào cửa quan và tiếp dãi bạn bè. Xung quanh trầu cau đã có rất nhiều câu ca dao chứng tỏ ráng đây là một đặc phẩm của dân tộc.

126

Ngoài ra, món nước mắm và mắm lôm, tương, không rõ đã có từ thời xưa ấy chưa, nhưng đúng là ca nước đã quen dùng, mà người Tàu sau này sống chung với người Nam hàng ngàn năm, có những món ngon hơn cũng vẫn không làm mất được.

VIỆC M ỏ RỘNC, TH ÊM ĐÂT ĐAI

Do sức thiên nhiên nhiều hơn. Cả một hai ngàn năm trong cảnh thái binh ở đời Hùng Vương, người ta sinh sản ra nhiều, cần thêm nhiều đất đai để ở và canh tác, thì con sông Hồng hằng năm đã cứ bồi thêm đất phù sa vào, để có thật nhiều giồng đất, có khi xuống sâu tận bên dưới mạn Hung Yên mà ở trên thì còn có chỗ thấp. Người ở và làng mạc không loang từ gốc tổ ra như vết dầu loang, mà nhảy cách những chỗ thấp đến những chỏ cao. Nên rất có thể có những làng ở phía Nam đồng bằng thành lập trước làng ở sẩn sốc lố.

Nsười đi làm việc mở mang như vậy thường là những người trùm họ, hoặc không thì đến dất mới vài đời và sinh sản thêm người ra, cũng trở thành trùm họ. Ây tức là những hàng Lans, những người mà người ta quen gọi là Lạc hầu, Lạc tướng, được quen hiểu là quý tộc, trực tiếp nhận lệnh của trung ương đế cai trị khu vực của mình. Đó là những lãnh chúa ở từng địa phương nhỏ có quyền chủ đất dai đĩi khai phá, đê lấy thuế, lại có quyền siữ gìn an ninh ở địa phươns.

Mỗi lãnh chúa ở mỗi địa phương phái xưng thần với Thiên Tử Hùng Vương ở trung ương có lẽ dể hàng năm tiến cống (như các vua chư hầu đối với vua Thiên Tử ở Trung Hoa, hệ thống tổ chức theo thiên tính). Nơi Iicào bướng bỉnh khôns chịu mới phải đem binh vấn tội, như hai lần vua Hùng đem quân vào Cửu Chân, còn sau đấy lại thôi, ai lo giũ’ an ninh ở địa phương nấy.

Như vậy, ở đầu đời vua Hùng, đất đai có thể đã chỉ giới hạn ở vùng trung du như ta đã biết. Nhưng dến gần cuối thì nó dã gồm luôn cả vùng đồng bằng Bắc Bộ lẫn dồng bằng Cửu Chân. Tuy gọi là cả vùng nhưng chỉ chỗ cao mới có người, còn chỗ thấp thì chưa. Chỗ thấp vãn bị sình lầy, cây hoang cỏ dại mục, và khí độc bốc lên nghi ngút mà đến mùa nước thì lại ngập nước.

127

Điểm đặc biệt khác là con sông Hồng ra khỏi vùng trung du, xuống đến phía dưới đồng bàng, bắt đầu nạo lòng sông để thuyền bè dễ việc xuôi ngược. Thêm người đông đúc ra, canh nông trồng trọt phát triển, dân chúng no đủ và có thể nói là dư dật, nên sự buôn bán cũng bắt đầu phồn thịnh. Và những thuyền buôn của người Trung Hoa cũng bắt đầu đi lại nhiều trên sông Hồng. Truyện công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử mở khu buôn bán ven sông, cùng dùng thuyền đi buôn ở ngoại quốc cho thấy bắt dầu từ dấy đã có sự giao thương với các nước láng giềng. Cũng bắt dầu từ đấy, người Trung Hoa biết có một địa khu đê đi lại làm ăn buôn bán.

c ư ộ c TĨẾP XÚC Đ Â lỉ TIÊN VỚI VẢN MINH M IỂN n a m T R U N í ỉ h o a

Cuộc tiếp xúc đã diẻn từ từ với nước người Tàu ở miền Nam Trung Hoa qua lại buôn bán. Có khi họ tới bàng thuyền rồi lại theo thuyền về. Có khi họ ở lại lập cơ sở thương mại trên đất liền, sống lẫn với dân bủn xứ.

Cương vị của họ không phái cương vị chủ nhân ông, họ dến ăn nhờ ở đậu. Thiên tính thương mại của giống dân ấy là uốn mình theo tất cả những chế độ địa phương và uốn lưỡi tập nói theo người địa phương để giao dịch buôn bán kiếm lời. Đó là điều phúc đức vô cùng, mưy mán vỏ cùn^ cho m>ười Giưo Chỉ, dế không hao giờ mát dược tiếng nói và ván minh Trim(> Hoa khỏm> thể làm mất dược giống Giao Chỉ.

Thời gian tiếp sau là thời gian bên Tàu có loạn Xuân Thu Chiên Quốc, kéo dài từ thế kỷ VIII dến thế kỷ thứ III tr. CN. Hết thảy các nước lớn nhỏ trong lục địa Trung Hoa dều cổ chiến tranh khốc liệt, đẩy một sô đông dân chúng rời khỏi luc địa dể đi tị nạn. Và phần lớn họ chạy đên Văn Lang.

Đó là Icàn sóng dầu tiên của văn minh Trung Hoa ào ạt tiến vào đất nước ta. Trong số dàn chúng tị nạn này có những người biết chữ Nho. Họ dạy dân chữ ủ'y. Nhưng dạy theo cái lối thuộc mặt chữ, hiểu nghĩa chữ, còn đọc thì không gò ép dúng như họ. Thế là một cái mav vô củng nữa, nó giữ cho tiếng của mình nguyên vẹn, trong khi nó cho mình một hộ chữ chung với tất cà các dán tộc châu Á, nhưng riêng với mình thì thành bộ chữ sau này gọi là chữ Hán Việt. Đầu đuôi chí tại những người Tàu ấy là người người đến ở nhờ, không phai đến làm chủ, nên không có những hạch sách đáng lẽ phải có, khi dạy chữ.

Trở về vấn đề danh xưng Hùng Vương (hay Lạc Vương) với Lạc Hầu, Lạc Tướng, Văn Lang v.v... Những người Tàu này là những người không ưa cảnh tranh bá dồ vương, chết người hại của. Họ tới dây được sống trong cảnh hoàn lOcàn yên ổn. Vua quan chẳng ai nỡ làm khó dễ gì. Tự nhiên họ cám thấy mến đất nước và người, dể cùng các nho sĩ địa phương tìm chữ mà đặt tên cho dân, cho nước, cho vua, cho quan. Họ lại tự gán họ và đất đai quốc thổ của họ vào chung với quốc thổ của Hùng Vương, cho nó lan tới hồ Động Đình, Ba Thục v.v... tận những vùna đất mà có khi vua Hùng cũng chi mới nghe thấy lần thứ nhất.

MƯỜI LẢM BỘ

128

Theo sự nhận định củíi hồi ấy để rồi ghi vào sử thì Vãn Lang gồm 15 bộ: 1. Văn Lang 2. Châu Diên (Bạch Hạc, tính Vĩnh Yên) (Sơn Tây)

(?)

(Sơn Tây) (Hưntz Hoá, Tuyên Quang) (Thái Nguyên, Cao Bằng) (Bắc Ninh) (Lạng Sơn) (Quảng Yên) (Hải Dương) (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình) (Thanh Hoá) (Nghệ An) (Ha Tĩnh) (Quảng Bình, Quáng Trị)

3. Phúc Lộc 4. Tán Hưng 5. Vũ Định 6. Vũ Ninh 7. Lục Hái 8. Ninh Hủi 9. Dương Tuvền 10. GiaoChr 11. Cửu Chân 12. Hoài Hoan 13. Cửu Đức 14. Việi Thường 15. Bình Văn Như vậy, đất đai không lan sang Tàu. Nhưng khi nói về biên giới thì lại thây ghi là Đông ra tới biến Nam Hai, Tây đến nước Ba Thục, Bắc đến Động Đình và Nam đến nước Hồ Tòn.

Nguyên những bộ đã ghi thuộc về cả vùng rừng núi Bắc Bộ và vLing phía Bắc Trung Bộ, chưa chắc vua Hùng đã ngự giá được đến nơi khi đường giao thòng chưa cớ. Đừng nói sang đến cá hồ Động Đình nữa.

Chính vua và ca sử thần đời Nguyễn khi soạn sách Khúm Định Việt SửThỏnịi Giám CươìUị Mục, trong bài cẩn Án cũng bác điều ấy và cho là sai. Năm 1918. Henri Maspéro khi viết về Văn LaiiỊỊ quốc, đăng trong tập san B.E.P.E.O quycn XVII, số 3. cho rằng sở dĩ cổ việc nhận lầm ấy là tại sách chép lầm chữ Vãn với chữ Dạ, ông viết: “Quyển Thónịị Điển (q./Ã’4 tờ 25 h) chép rằm> Pho na, Chân là nước Văn Lanị’ đời xưa (chỗ này viết chữLãn\>, lưoníị hcn chữ nanvệt) vù chú rchỉị> cỏ sòiiịỊ Văn Laní>. Ní>nvcn ỉỉoà Qnận Hitvện Chi (qJ8 tờ 9h) nói quâ quyết rànị’

Plìona Chân là íỉất của Dạ Lam> clời xưa ”. Theo Maspéro thì bởi có sự nhận lầm địa danh ấy nên người ta mới gán cương giói của Dạ Lang cho Văn Lang, ông viết tiếp:

129

“Trona cỉịa phận huyện Tân XươììỊị húy ịịiờ có khc nước Dạ Lanỵ. Dau íỉời Hán, Dạ Lana lù tên một nước Miêu Tử (tức Mèo) ở phía Nam nước Tần. Nước dó lan dến một phần Quàìu> Châu và Quý Châu, các chỗ a,iáp {>iới khômị chép rõ. chỉ chép dển một phần Quàng Cháu phía Tây a,iúp Lala (Lola) ÌỊỌÌ lù Diền ở phía Tây Ván Nam, phía Đỏng hồ Vân Nam phú. NIuíiìíị ai cùm’ biết nước dó tìma, phục nhủ Hán từ núm I I I tr. CN vù tân là huyện Kiện Vi. Sau quận ấy chia làm hai: phía Bắc lù Kiện Vi phía Nam là Thươna, Niịò. Muốn biết biên thủy nhữna, quận đó klìóiìg phải khó cho lắm. Cuối dời tiền Hán quận Kiện Vi ụáp phía Bắc vù phía Tây .sông

Dưoiìí’ Tứ. Sâiìí> Dưưiìi’ Tứ cách quận Kiện Vi với Quận Ba. Còn ThưưniỊ Ní>ò íỊÌàp phía Bắc quận Kiện Vi và phía Tâv qnận Tân Ninh. Tân Ninh là nước Điờn ni>à\’ xưa (ýphía Đôní> Bắc Tlnửrniị Ní>ô ịịiúp quận Vũ Lăní’ (tức là quận Kiển Trung nước Tàu) à cláv có hồ Động Đình. Như thế. người ta có thê nói rầng nước Dạ Laní> (.sau lá quận Kiện Vi vù quận Tlnư/ng Ngó) íỊÌáp một hớn với nước ta. một hên là hồ Động Dinh ".

Nguyền Văn Tò. trong bài “5í? Ta .so với s ử Tàu" đănsỉ ở Thanh Nghị 1944 định bác thuyết của H. Maspổro vc sự chép lầm tên ấy nhưns lúim IÚI12 VỚI nhiều sử sách quá, thành ra khône bác được 2Ì mà cũn2 không làm sáii2 thêm được 2Ì. Nguyễn Văn Tố đọc Tlìuv Kinh Chú của Lý Đạo Nguyên đời Hậu N2uy (khoang năm 386-5.^4) thấv chép lẽn nước Văn Lang với chữ Laii2 có bộ khuvển một bèn. Tác giả đọc quyến Thôn^ Diển đời Tống (khoang 806-820) thấy chép Văn Lang; quyến Nguyên Hoù cũng đời Tống thấy chép Dạ Lang. Tác giả lại đọc Thái Bình Ntịự Lãm thấy chép Văn Lang với bộ Âp một bên, cũng như các sử cúa la đã chép vậy.

Thế rồi trọng tâm của vấn đề là Dạ hay Vãn đây thì Nguyễn Văn Tố không nói gì tới. Chi ghi nhận là các sách sử cứa Tàu chi chcp đồng âm nicà không đúng mặt chữ là chuyện thường, và quyển Nguyên Hoù chép Dạ không lẩv gì làm chác chán đúng. Có khác gì là tác giá củng cố thêm ihuyèl cúa H. Maspéro?

Nay cần làm sáng tỏ thêm vấn đề ấy: chúng ta nghĩ có lõ khổng phải là sách cổ đã vô ý chép lầm, nicà rất dơn gián, là đcã có một số người di cư tị nạn lừ cái vùng Dạ Lang ấy dến Phong Châu, sỏ' người ấy dã dụng ý gán quốc thổ của họ vào với quốc thổ cúa Văn Lang là vùng dấl của Bách Việt ó phía Nam sông Dương Tử nôn nó mới tới Hồ Động Đình và Ba Thục. Tài liệu kháo cổ về nguồn gốc dân tộc, ghi có giống Tam Miêu, từ Là Miêu Tứ này chạy xuống ở với người Giao Chỉ mà lạo thành giống Giao Chí, dã có thế dược dùng làm căn cứ dê hiểu không có sự vô ý chép lầm.

HỌ THỤC CHIẾM VÀN LAN(Ỉ VÀ DÚT HỌ HÌJN(Ỉ VƯƠN(;

Đất nước rộng ra Vcà giàu có lên, người tứ xứ di lại mua bán nicà trong nước của vua Hùng lại vẫn theo nếp cũ không có tổ chức quân dội thường trực dê’ phòng bị thì chí khi tất ca các lãnh chúa dịa phương dồng lòng gìn giữ. trung ương mới vững. Còn thiếu diều kiện ấy. dất nước dễ bị xâm lăng.

Đó là việc xảy ra với họ Thục năm 257 tr. CN khiến vãn minh Văn

1.30

Lang chuyển mình sang một nền văn minh mới là văn minh Lạc Việt.

Q U Y Ể N II VĂN MINH LẠC VIỆT Từ nhà Thục đến thế kỷ thứ X

hữiiíĩ naày tàn của họ Hùng Vương cũng là những ngày khói lửa mù mịt trời ở lục địa Trung Hoa.

Tán Thuỷ Hoàng gồm thâu lục quốc. Các khu đất phía Nam sông Dương Tử đều không thoát khỏi việc binh đao. Tuy hồi đầu (-256), Tần không tiến xuống đất ta nhưng đã biết có miếng mồi để dành sẵn đó. Thục chiếm được Văn Lang (-257) đổi tên là Ầu Lạc dựng ngay thành cổ Loa để tự vệ, nhưng cũng vẫn hồi hộp lo sợ. Cho đến năm - 214 theo Đại Việt Sử KÝ, Tần Thuỷ Hoàng mới sai hiệu uý là Đồ Thư dem quân đi. Sử Lộc dào kênh vận lương đổ lấy đất Nam Việt đặt ra Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận.

Họ Thục nhân dấy xin thần phục nhà Tán, để tránh cuộc binh đao và kéo dài thêm thời kỳ tự trị. Vậy là khôn, nhưng đất Âu Lạc trên giấy tờ đã trở nên dất phụ dung của Tượng Quận. Sách Ngự Phê Thông Giám Tập Lãm (q.l 1 tờ 6b - lã) chú thích rằng: Nam Việt tức Bách Việt, cũng có khi gọi lủ Dương Việt. Hán Thư chú nghĩa: Nam Việt họ Mi cùng nước Sở chung một ông Tổ. Q uế Lâm nay lù phủ Quế Lâm, Bình Lạc và Ngô Tầm, thuộc tỉnh Quảng Tây. Nam Hài nay lù các phủ Quảng Châu, Thiêu Châu, Trào Châu, Huệ Cháu, Triệu Cao, cũng thuộc tỉnh Quảng Đỏng. Còn Tượng Quận rộng lâm tức là phủ Liêm, phủ Lỏi ở Quảng Đông, phủ Khánh Viền, phủ Thúi Bình ở tỉnh Quảng Tây vù nước An Nam hđy giờ''

Như vậy khi họ Thục dứt khỏi họ Hùng Vương, đổi tên nước là Văn Lang là Âu Lạc thì người Tàu gọi đất của ta là Nam Việt hay Dương Việt, Lĩnh Nam, Ngũ Lĩnh, gồm chung với Tượng Quận là một quân cùng với Quế Lâm, Nam Hải thành khu vực người Việt ở phía Nam.

Tên thì như vậy, mà thực cũng đã có một số đồng đảo người Bách Việt dạt tới cư ngụ trên đất Âu Lạc để chuyển nền văn minh Văn Lang cũ thành văn minh Lạc Việt.

Bài giải thích còn có câu rằng: lấy đất Lục Lương của Nam Việt đặt ra ba quận đem 50 vạn dân bị tội đầy sang Ngũ Lĩnh cho ở lẫn với người Việt. Dưới chữ Lục Lương có chú thích ràng người Lĩnh Nam phần nhiều ở đồi núi tính cứng cỏi cho nên gọi là Lục Cương.

133

DANH TỪ ÂU LẠC

Âu Lạc không phủi là tèn gọi tắt của hai vùng Tây Âu, Lạc Việt trên đất Trung Hoa, mà sau Trung Hoa gọi là Quý Châu. Nguvén Hoà Quận Hiivện Chí (q.37 tờ b) chép: QuÝ Châu cốTâv

Âu, Lạc Việt chi địa (đất Quỷ Cháu nguyên lù Túv Ầu, Lực Việt). Thông Điển (q. 184 tờ 18b) cũng chép: Qui' Cháu hàn Táy Âu, Lực Việt chi dịu (nghĩa lù Quý Châu bâv gũy vốn là Tứv Âu Lạc Việt ngày xưa)

Âu Lạc của Thục Phán đã chỉ có nghĩa là nước Lạc vững vàng. Mà vãn minh Lạc Việt nói đày, là sự pha trộn văn minh Âu Lạc (Văn Lang cũ) vói văn minh của Bách Việt ở miền Nam Trung Hoa. Đó là cuộc pha trộn của dân Lạc với dân Việt, diễn ra trên đất Âu Lạc của ta, với căn cốt chính là giống Giao Chi"’.

"•Đất Âu Lạc ấy của ta sau Triệu Đà gồm vào đất Nam Việt. Còn Quý Châu là Tây Âu Lac Việt cũ của Tàu thì vẫn ở ngoài phạm vi của Triệu Đà.

134

PHẨN TH Ứ NHẤT

CHƯƠNC; I HỌ THỤC VÀ THÀNH cổ LOA

THÒI KỲ PHỤ DUNG VẢ Tự TRỈ

TÓIVI LLỈỢC

Họ Thục

Không phủi người từ xứ Ba Thục bên Tàu đem quân sang xâm lăng.

Có thể ông là một người Tàu đã nhicLi đời cư ngụ ở Vãn Lang vì:

1. Khi chiếm dược Văn Lang thì ông dời đô đến vùng đất của mình

có đông dân ủng hộ nicà không đóng ở kinh đô cũ.

2. Nãm mươi nãm ở ngôi cao không lúc nào ông nghĩ trở về Ba

Thục dể phục quốc.

3. Khi bị Triệu đánh bại ông đã chạy xuôi theo bờ biển tìm thần

Thành cổ Loa

Kim Quy mà không chạy ngược về Ba Thục.

Tại sao cẩn làm lớn và làm kỳ được?

Theo tài liệu cũ thì có 9 vòng thành, nay chỉ còn di tích 3 vòng mà diện lích đã tới 567 ha, xấp xỉ diện tích kinh thành Huế (618 ha). Khối lượng đất đắp thành là 2 triệu 196 ngàn mét khối, và phải huy dộng trên 219 ngàn người mới dắp xong được. Vì vậy lòng dân oán hận, đêm đêm kéo nhau tới phá đi, nên phải đắp nhiều lần mới xong.

135

Tại sao phòng ngừa quân Tần tràn xuống, lúc ấy đương hoành hành ở Trung Hoa. Thành đã được xây dựng theo binh thư đồ trận của thời đánh nhau bàng cùng tên gươm giáo.

Nhưng tại sao thành bị mất vào tay Triệu Đà?

HỌ T H Ụ C

Thục thần phục nhà Tần để yên thân. Triệu là tướnc của Tần sai đi cai trị cõi imoài đã phản Tần để cắt cứ riêng của mình một cõi và đã có chính nghĩa để tụ hội nhữns nhân tài cùng chống Tần. Thục bị mắc kẹt trong nước cờ chính trị xu phụ bạo chúa nên bị cô lập, khi thua chí còn hai cha con lúi thủi chạy.

Không rõ họ Thục có phải ở đất Ba Thục tràn xuống hay chỉ Icà một họ vốn ở trong địa giới của Văn Lang. Điểu này quan trọng ở vấn đề nhận định của họ Thục là ngoại nhân hay một dòng vua kế tiếp dòng cũ.

Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sừ Lược cho rằng: "Nhù Thục chép troiĩí> sử nước tư khâníỊ phcỉi lù nước Thục hên Tàu vì rầnỊị cứ theo sử nước Tàn thì dời hđ\ Ị>iờ dốt Ba Thục (Tứ Xiixên) dã thuộc về Tàn cai trị rồi thì cỏn có vna nào nữa. v ả sử lại chép rằiUỊ khi Thạc Vương Phán !â'v dược nước Văn Lưng thì dổi quốc hiệu lù Ầu Lạc. tức lù nước Âu Lạc gồm cd nước Thục và Vân Lang. Song, xét trong lịch sử không thấy dâu nói đến dất Ba Thục thuộc về Âu Lạc. Huống chi lấy dịa dư mà .xét từ dất Ba Thục (Tứ Xuyên) sang đến Văn Lưng (Bắc Kỳ) cách hao nhiêu dường dất vù có hao nhiêu núi sông ngăn trở làm thế nào mà quân nhà Thục sang lấy nước Văn Lang dễ dùng như vậy? s ử cũ lại có chỗ chép rằng An Dương Vương họ là Thục, tên là Phán. Như vậy chắc hân nhà Thục tức là một dòng họ nào dộc lập ở gần nước Văn Lang chứ không phải lừ Thục hên Tàu ”, Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng có lời cẩn án như sau;

"Hừ năm thứ 5 í/rV/ vua Thận Tĩnh nhà Chu, thì Chu đã hị Tẩn diệt làm sao còn có thê’có một ông vua mới nữa. Va lại dất Kiện Vi (nay sáp nhập với Vân Nam) cùng đất Dạ Lưng, Cùng Tạc, Nhiễu Bùng (xưa lù rợ ở Táy Nam nước Tàu nay đã sáp nhập Vân Nam) hồi ây vẫn cồn, để ngăn cách Thục với Văn Lang, bâng khoảng 2, 3 nghìn lý, làm thế nào Thục từ xa có thể nháy qua những nước ấy d ể thôn tính Văn Lang?".

136

Theo Đào Duy Anh thì trái lại, Thục Phán có thể là một người con của vua Thục ở Tứ Xuyên. Năm 316 là năm thứ 5 đời vua Chu Thành Vương, nước Thục bị tiêu diệt, dân Thục chạy về phía Nam Lĩnh nương náu ở đất Điền Trí là đất nước Sở cừu địch của nhà Tần mới chiếm được. Phán thấy đất dung thân chật hẹp liền từ miền núi Vân Nam tiến xuống lưu vực sông Hồng, thôn tính Tây Âu và Lạc Việt (nước Văn Lang) rồi lập ra nước Âu Lạc.

Đào Duy Anh cũng chỉ suy đoán như thế, chứ không có bằng chứng nào cá. Đất Điền Trí của Sở đã bị Tần chiếm rồi thì còn lấy đâu ra chỗ cho Thục nương náu để chê ràng chật hẹp nữa? Còn nói ràng tiến quân lừ miền núi Vân Nam xuốnc thì đấy chính là điều khó mà Việt SửThôní> Giám Cươníị Mục đã nêu ra, làm sao nhảy qua được nước Dạ Lang, Cùng Tạc, Nhiễu Bàng để tớỉ đồng bằng sông Hổng? Mà đem quân đi xa như vậy thì lấy đâu lương đổ ãn? Vả lại, ông hiểu Âu Lạc là tên tắt của Tây Âu và Lạc Việt thì quả là sai. Hai vùng này sau có tên là Quý Châu, còn cách một phần tỉnh Ọuanư Tây mới lới địa giới của Bắc Bộ, mà tính từ trung tám Quế Dương của tỉnh ấy tới Phong Chàu thì còn xa nhau khoảníỉ 700 km. Thục Phán tiến từ Vân Nam xuống lưu vực sông Hồng, đã không hề bao giờ gặp Tây Âu và Lạc Việt. Mà chắc chắn là gặp nước Văn Lang, thì hồi đó chưa gọi nước này là Lạc Việt cả.

Bởi vậy có lẽ suy đoán như sau đây may ra mới đúng; Hồi loạn ly ở Trung Hoa có những người thường dân chạy loạn, có những con vua cháu chúa thất thế phải tìm chỗ lánh mình và cũng có ca những bại tướng anh hùng chạy xa tìm cách tích cỏ đồn lương để nuôi chí phục thù tìm cơ hội quay về mưu đồ việc lớn. Thục Phán có thể Icà một trong số những người ấy. Nhưng trải qua 50 năm ở ngôi cao, không hề có việc sửa soạn binh mã nào để trở về, tức là không biết về đâu, thì Thục Phán không thuộc số những người ấy. Đó là một người có cái họ như vậy, mà từ một vài đời hay nhiều đời trước đã ở quanh đâu gần đấy. Cho nên khi bị Triệu Đà đánh thua mới không chạy ngược về Tàu mà đã men theo bờ biển chạy về phía Nam tìm thần Kim Quy ở Cửu Chân"’

Ngay cả thần Kim Quy cũng cần hiểu là một thứ anh hùng hảo hán ngồi chờ thời ở Cửu Chân, đã giúp cho họ Thục thành công việc xây thành Cổ Loa, lại cho bí thuật về nỏ thần, ấy cũng là mong khi có cơ hội phản hồi thì sẽ có họ Thục giúp.

Vậy, kết luận, họ Thục là một họ ở trong nước Văn Lang và cần

được kể như một đời vua kế tiếp đời Hùng.

Tại 'ĩhanh Hoá còn đền thờ Triệu Võ Đế, nơi hành tại cua vua khi rượt theo An Dương Vương năm 208 ở Trình Há gần ga xe lửa Nghĩa Trang cách Hàm Rồng 9 km. lại cớ đền Cổng ở chân núi Mộ Dạ, cây .sô' 108 trên đường 'Thanh Hoá đi Vinh, thờ An Dương Vương nơi nhà vua gieo mình xuống nước tự tử. Và trên nữa ở cây sô 56 cũng có đường ấy, cũng đường ấy, có đến thờ công chúa Mị Châu, gần cửa Bạng và Biến Sơn nơi nàng bị vua cha chém chết.

137

THÀNH CỔ LOA

Vua Thục chiếm được Văn "Lang thì đắp thành cổ Loa"’ tại Phona Khê thuộc phủ Đông Ngạn lỉnh Bác Ninh*"’ rồi dời đô về đấy. Hiện nay còn di tích ở cách Hà Nội 16 km.

Các sách cố nói thành có 9 lớp, nhưng chỉ thấy vết tích của ba lần

tường thành.

D%r ịíc h 'iUã*vh đ ắ ì

ÍÍÍSI ------------ ũưứrUT ■ ciâ^t'

................................. .^ọcdùýt ........................ởng đ citg

- - ữưdnỹT ■ õ iắ t’ Đ ê iv C h ii» Xớryp ÍẬ rtỹ

• B ãi' cao

i . C M ' irAụ^é*i' íữ t iiaotẶủỊ/ ư đ ấ í; 4. • - ............................... -gó 4 . ...... ................ ..................... .......ƠỔ' 5 6 2. Mộ^ cứa ỉ/ác ^t/uĩuA/ 3. X ạ đ ã ò , *vờỳ 'ỉập^ b ắ * v . *.

Thành c ổ Loa

" Xem bán đồ trang sau. ’’ Sau đổi là huyện Đòng Anh thuộc tinh Phúc Yên.

138

Thành có 9 vòng thành nay chỉ còn di tích 3 vòng. Diện tích ước lượng 2580 X 2200 = 5676000 ni" lức 567 ha so với diện tích kinh thành Huế.

(2564 - 2446.72) (2435.16 + 2503.56) = 618 ha

'20+4

Số lượng đất dùng đáp 3 vòng thành:

X 12 = 2.196.000 m' (7600 + 6150 + 1500)

So với Kim Tự Tháp Khéops lớn nhất của Ai Cập 2.500.000 m^ Nghiêm Thẩm viết; Trong chu vi của thành c ổ Loa có những làng c ổ Lua, lùnv, Thu Cựu, một phần làm> Liumg Quán, làng Gia Lộc vù lùng Dục Tú. Trom> các lùng kể trên chỉ có lùng c ổ Loa thờ An Dương Vương.

Các sách cổ nói thành c ổ Loa lùm theo hình xoúv ốc, nhưmị hiện

nay ta chỉ thấy có vết tích của ha lần tư('mg thành.

Hình dáng của lần tlĩùnh ngoài lá một cái hình gần như bầu dục lớn chiêu níỊaiut rộiìíỊ nhất từ Đôní> .saniị Tâv do dược 2.580 thước và từ Bắc xuống Nam do dược 2.200 thước. VÒIĨÍ’ thành níịoùi do dược 7.600 thước. Vòm> thành thứ nhì do dược ố.150 tluưyc. Vòng thứ ha do dược 1.500 thước. Phía Dông Bác của vòrtíị thành ở mịoùi cũmị dã iịần như hị san hằng, có lẽ là đ ể lấy dát dắp dườìUị hoả xa Lào Cai chạy quanh gần sát chân vòng thành thứ hai. Lần vòng thành ngoài cùní> có lẽ cũng chỉ dê m>ăn cản sức tiến của các quân dội dịch dến dúnh thành chứ khônv, phải lù một lẩn thành kiên cô' d ể hảo \Ỵ’ kinh thành và dân cư troníị thành.

( 1 ) Thành cổ Loa còn được gọi là thành Việt Tliường (theo sách Việt sử Lược) hay thành Khá Lư (theo sách An Nam Chí Lược của Lê Tắc), hay Loa Thành (theo sách Lĩnh Nơm Chích Quái của Trần Thế Pháp).

Sách Thúi Bình Hoàn Vũ Kỷ của Nhạc Sử đời Tống (thế kỷ XVIIl) cho ta biết An Dương Vương đắp thành ở đất Phong Khê rộng 1000 trượng, quanh co hình ruột ốc gọi Loa Thành lại có tên là Trung Quy Thành, người Đường gọi là Côn Lỏn Thành, có Ý nói thành ấy rât cao.

Sách Khám Định sử Việt Thôni> Giám CươiìíỊ Mục (cuối thê kỷ XIX) cho la biết là tháng 3 năm Bính Ngọ (25-‘i tr. CN) An Dương Vương hoàn tất công việc xây Loa Thành. Vua xây thành ở Phong Khê rộng 1000 trượng, xoay quanh tròn như hình con ốc, gọi Loa Thành, cũng gọi là Tư Long Thành.

139

Hình cláníỊ của vòn}> thành thứ hai khỏm> dược đâu dặn như hình dáiií> vòng thành thứ nhất. Nhitng trái lại, lần tường thành này tương dối còn khỏní> hi dổ nát nhiều. Phần tường thành phía Bắc có vé như còn nguyên vẹn, hề cao còn do dược tới 12 thước, phía chân tường thành dày tới gần 20 thước và phía trên đầu tường thành rộng 4 thước. Ta thấy lẩn thành thứ hai quan trọng hơn lần thành ngoài và chắc chắn là dê hảo vệ kinh thành. Phía trên tường thành chắc cỏn có thêm những hàng rào tre, nứa hay go mà ngây nay dã bị phá di rồi.

Chĩa hai lẩn tường thành thứ nhất và thứ hai, ờ phía Tây Bắc, còn có những mỏ dất cách xa nhau từ 10 đến Ì5 thước d ể quán dội tập hắn cung, hắn nỏ.

Ta không thấy vết tích của cúc cửa ở lần thành ngoài cùng, nhưng ớ lần thành thứ hai, ta thấy những miếu nhỏ (ỳ những địa điểm của cúc cổng thành khi tnuyc. cổng thành phía Đông ỏ trước chùa của làng Lương Quán, gần ga .xc lửa Xuân Kiều. Theo truyền thuyết thì tại nơi này trước có những ngôi nhà đế’ lùm chuồng voi. cổng thành phía táy ở trên con dường di lại qua tường thành và dẫn ta dến xóm Giung. Tại phía Bắc không thấy có cổng thành có lẽ lá tại hướng Bắc bi coi là hướng xấu. Cổng thành chinh là ở hướng Nam, ở ngay sau clĩỢi ngày nay vù còn có hai cái miếu â dịa diểrn này. Chắc chán cống thành phía Nam này plìài dược .xây cất kiên cố và có một con sóng nhó dược sử dụng như hào hão vệ cửa thành.

Lần thành thứ ha nhỏ hơn nhiều vù có hình chữ nhật. Hiện nay hai thôn của lùng c ổ Loa ở trong lòng của lân tường thành thứ ha, đó lù xóm Chùa vù .xóm Chợ.

Thời trước trong thành thứ ha này có cung diện của vua, có dinh thự cả các quan đại thần và có trại lính. Lần tường thành thứ ba này không còn nguyên vẹn, ở phía Dông Nam và phía Nam không thấy rõ vì có nhiều cây cối mục che lấp cả vết thành cũ. Nhưng nếu có một hình chụp từ trên máy hay vào những lúc mặt trời chênh chếch ta có thể thấy rõ những vết của các chỏ dất cao hơn các mặt ruộng vù làng xóm.

140

Hiện nay những vết tích của những lần tường thành dều không dược nguyên vẹn, nhiều chỗ bị dứt quãng vì hiện có những con dường di xuyên qua các lẩn tường thành. Đất để đắp thành là loại đất sét màu vùng đỏ. Hồi trước dán ở vùng dó vẫn lấy dất này để dúc gạch và ngói. Vì vậy có chỗ tường thành đã hị san hàng gần ngang với mặt ruộng. Có khi dất tường thành cỏn dùng dể đắp dường

T Ạ I SAO DỜI Đ ỏ ?

Khi đã dứl được họ Hùng Vương làm chủ Phong Châu rồi, tại sao Thục An Dương Vương không dùng ngay những cơ sở xây dựng cũ hoặc xây dáp thêm vào, mà lại lui xuống hơn 30 cây số nữa đến Phong Khê dể đắp thành mới?

Q U Y M ỏ T H À N H c ổ L O A

Ta ngờ rằng họ Thục phát lích và dấy quân từ Phong Khê ấy, khi thành công thì sợ bị đánh úp nếu ở lại Phong Châu, nên phải rút về nơi mình có nhiều dân ủns hộ*'*.

Ba vòng thành còn lại là 3 vòng ở trong. Nếu kế còn 6 vòng nữa ở ngoài thì thành đã hết sức rộng. Riêng chỉ tính với 3 vòng còn lại dã thấy diện lích Icà 567 hecta, suýt soát với kinh thành Huế rộng 618 hecta.

Nếu lại tính số lưcmg dất dể đăp cao 12 m, chân rộng 2()m, mặt rộng 4 m, dài vòng ngoài 7.600 m, vòng thứ hai 6.150 m, vòng thứ ba 1.500 m, thì không kể còn 6 vòng nữa đã mất, cũng đã hết 2 triệu 196 nghìn mét khối (Kim Tự Tháp Ai Cạp, cái lớn nhất tháp Khéops là 2 triệu rưởi mét khối).

Nếu thành được khởi công dấp từ tháng 3 năm Giáp Thìn (-257) đến tháng ba năm Bính Ngọ (-255) hoàn tất thì mất 24 tháng. Nhưng phủi trừ ba tháng mùa mưa lụt mỗi năm không làm việc dược. Vậy phải mất 24 - 6 = 18 tháng tức là 540 ngày. Nếu tính C íi đào dắp, mỗi ngày một người dân phu làm dược một mét khối, trong

= 4066 người 540 ngày hoàn tất, thì đã phái huy dộng mỏi ngày tói huy dộng mỏi ngày tói 2.196.000 540

T Ạ I SAO T H À N H H A Y Đ ổ ?

Thật là một công trình xây dựng hết sức lớn ở thời cổ.

Khi đương xây dựng, thành cứ gần xong qua một đêm đến sáng lại thấy dổ. Xem dến số người phải huy động mỗi ngày tới 4066 người, thì ta hiểu ngay lại sao. Những người ấy phái cơm đùm cơn nắm từ xa đến làm việc chắc là thí công như vậy thì sao cho thoát khỏi oán hận? Huống chi. mỗi người chỉ có thể làm nổi 10 ngày thôi, rồi lại luân phiên đổi cho toán khác. Như vậy, trong 540 ngày dã phai có 54 lần dổi và số người dược huy động đi đắp thành là: 4066 X 54 = 219.564 người, chưa kể người chi huy.

' Thcm mộl cứ nữa clurng tỏ rằng họ Thục khổng phai ở Ba Thục bên Tàu.

141

1 Ạ1 SAO CẮN LẢM l.O N VA CẤN LẢM CHO KỲ Đưọc?

Xem kỹ bản đồ nhữns di chỉ, thấy chỗ xoáy trôn ốc dành cho vua naự ứ phía Nam. còn các vòng thành déu thấy ngăn phía Bắc cá, chứng tỏ người la có sợ quân địch đến xâm lăng từ phía Bắc xuống. Và thành làm lớn là dê dương đầu với những giặc lớn (cỡ Tần Thuỷ Hoàng) cho tha hồ Vày hãm thành, ở trong vẫn đủ lương thực nuôi dân và quân. Còn địch quân liều xông lên khỏi vòng thành thì sẽ bị vây lại để tiêu diệt.

Thành dã dược xây dáp Iheơ binh thư đồ trận, mà ở thời đánh nhau hàng cung tên giáo mác thì binh hùng tướng mạnh đến đâu cũng không chiếm được. Đây qua là một kiến trúc và kỹ thuật chiến tranh phòng thuv cớ giá trị lớn, tiêu biếu cho nền vãn minh Lạc Việt. Người ta dã rút những kinh nghiệm chiến trận ở Trung Hoa dương thời đổ bổ sung tài bố trí trộn luyến trong những dịa thế hiểm hóc của người Giao Chỉ mà tạo nên thứ thành đất này. Thần Kim Quy cố vấn của Thục An Dương Vương, quá là một tay tài ba lỗi lạc vậy.

Sơ dĩ vua Tliục cần đáp thành này cho nhanh là vì sức tiến quân của Tần

Tliuý Hoàng ở bên Tàu dưoìig như vũ bão, không chùng dâu sẽ tới dây.

SỤ ĐE DOẠ CH IẾN TRANH

Sách Đại Việt s ử Ký (íỊ.I tờ Ỉ4a) chép: “Năm Đinh Hợi (2Ỉ4 tr. CN tức là năm thứ 44 của An Dươní> Vươní> và thứ 33 của Tần Tlìiiv Hoàní^) nhà Tần ham nước Việt ta nhiên của hán, miíốn lấY tỊiiận lĩiivện, hắt n}>ư()’i hô VOIIÍ’ (trấn tránh) dểchnếtnế(n^ịhèo khỏniỊ có tiền cưới vợplìdi di g/ív' rể) và nụíời di hnôn (ỳ các dạo lùm lính, 50 vạn níỊười, sai Hiện nÝ là Dồ Thư dcm di, s ử Lộc dào kênh vận hamíị, dật QitếLâm, Nam Hài, Tượmị Qnận

Khâm Định Viột SửThỏiìíỊ Giám Cươiìíỉ Mục giải thích rõ việc đào kcnh vận lương như sau dây;

“Theo sách Lĩnh Nam Di Thư cha Án Đại Nhâm thì tổ tiên cha Sử Lộc là /ỉgítóv' Việt. Hồi nhà Tần dánlì Bách Việt, vna Tần sai Hiện ný Đồ Thư Invển mộ c/nân lính lập thành 5 dạo hình, lại iịiao cho Lộc trách nhiệm vận lươnịị vù dào kênh dể có dưò'm> vận tủi. Lộc khới từ nhi Dưoiuị Son ịthnộc dịa phận Phiên Ní>iíní>) hắt dần lUịăn dỏiuị nước lại. Vốn sôní> Tifo'in> clìdv iu>ược lên phía Bắc dế nhập với SÔIÌÍỊ Sở Dnm> tạo thành hạ ln'n .sôm> Trnúng Kha vù chã\ về hướng Nam ra hiển, sựchnvên chở cpuui hfo'ng rất khó khăn. Lộc .vứv một tường ngân hằng dá dế lái dòng nước di. Dưới dây sòng trên lớp cát và rdng dá, Lộc dặt một con kênh lát dá cho nlnìiuị sòng Tương dồn về dấy và chảy dài trên 60 lý. Lộc dặt 36 cửa tlìiiv

142

nìòn, khi một cúi tầu vào troiuỊ lòtìíỊ sôin> rồi thì thiiv môn dómị lại, nước dan dần ứ lại và dâní> cao. Nhò' thể, mịười ta có thể di rhuvền mịưực dòiìíi mcn vách núi, rồi lại di xuôi xu()ní> một cách dẻ dùuíị. Con kênh vừa dùm> cho thuycn hc di lại, cilní.t vữa dìim> dẫn nước vào các ruộììịị”.

Đây là một thứ đơn vị CÔIIÍÌ binh của Tần Tluiỷ Hoàng đc có thể tiên sâu vào àmg núi, xâm lăng tất cả những noi nào được coi là hiểm địa. Nền bạo chính của họ Tần với sự chém giết người không gớm lay, cá sự đốt sách giết nho sĩ, đã khét tiếng thời ấy. Do vậy. ở bén rặng núi Ngũ Lĩnh, An Dưorng Vưctng phái lo thân trước đáp thành, đã là một việc dĩ nhiên.

NHLỉNd TẠI SA O TM.ÀNH KHỔNO (ỈIŨ Đ lỉỢ C ?

Ta biết ràng đến nãm 208 tr. CN, An Dương Vương ở ngôi được 50

năm thì thành bị mất vào tay Triệu Đà. Tại sao?

Triệu đã nhiéu phen thử thách với cái thành ấy không được nên đcã dùng mưư. Truyện cũ nói ông cho con Icà Trọng Thuỷ qua ở rể rồi lừa vọ dánh tráo cái lẫy nỏ thần, nén mới tivàn dược quân vào thành. Ta sợ không phai mà có lẽ là Trọng Thuỷ dọ thám dược bán đồ của thành ấy, và tìm biết những địa diểin không phòng bị có thể cho quân phá được dê lọt vào. Chứ dầu lẫy nỏ liên châu có mất thiêng, quân dịch cũng văn không leo thành vào lọt được.

TAI SAO HỌ TRIỆU f ) u ổ l HO TH ỤC ĐẾN Đ Ư Ờ N (ỉ C Ủ N (ỉ .>

Đuổi xa C(3 the dến 300 cây số. Chỉ còn hai cha con chở nhau trôn mình ngựa dê’ chạy. Câu chuyện rác lông ngỗng cũng không dáng tin, vì gió biến sẽ thổi hay lung tung di, nếu cứ theo vê’l lông ngỏng mà tìm thì sẽ lạc. Mà hẳn dã có nhiéu dạo binh chia dường dể đuổi. Trong nội dung việc duổi cùng dường này. vừa có thè’ vì một mối thù riêng gì ghê gớm lãm, lại vừa cỏ thế kà đòi lại Mị Châu, chứ sợ rằng đê họ Thục sống, rồi lại lập hợp binh mã dánh tra thù, thì họ Thục già 7, 8 mươi tuổi rồi. làm gì còn sức nữa?

TỔ CHỨC QUẢN ĐÔI VÀ CHIẾN I RANH 1)11 KÍCH

Khỏng rõ quán dội dã dược lố chức thành hàng ngũ ra sao mà khi thua dã chỉ còn có hai cha con lùi thủi chạy.

143

Viột Sử Lược (q.I tò 2i0 chép truyện Triệu Đà có câu: “Clìiâu phủ Âu Lạc, Mân Việt, g/o/ thuộc vê//” fvò' vớ nưó'c Ảu Lạc, Mân Việt dcu thuộc íỊUYcn cai trị) 'Lù' Nyuxcn (q. ngọ, tr 48) dần truyện 1TÌỘU Đcà cũng cổ câu,- “dcm ticn cho Mân Việt, 'Lây Au và Lạc hắt thuộc quvén sai khiến

Ta hiểu rằng năm 214 tr. CN nhà Tần đem 50 vạn dân đày sang sống lẩn với người Việt, rồi đến 208 tr. CN Triệu Đà toàn dùng mưu, lấy dược cả bí quyết giữ thành thì hẳn cũng có sự mưu mẹo dùng tiền mua chuộc tay chân và quân dội của Thục, cũng như dùng danh nghĩa dựns nước Nam Việt riêng, mà luno lạc đám dân bị lưu đày kia.

144

Vì vậy dàn chúng từ 257 ir. CN đã từns dùng chiến thuật du kích phá thành c ổ Loa, cả dân chúng ở trong rừng đã dùng du kích chiến giết dược Hiệu uý Đồ Thư của Tần năm 214 tr. CN, mà đến nay lại không dùng một chút gì chiến thuật ấy dể dối phó với Triệu Đà nữa. Tại sao vậy?

c h ư ơ n í; II

HỌ TRIỆU VÀ

Sư ĐỒNG HOÁ DÂN BẢGH VIỆT

TÓM LIIỢC

Triệu Đà với Nhâm Ngao được lệnh Tần đem 50 vạn dân từ phía Bác xuống sống chung với dân Bách Việt nhằm mục đích đồng hoá hết di. Đám dân ấy căm hòn bạo chúa xoay ra ủng hộ Triệu để dựng nền tự trị ở Nam Việt.

Cuộc sông chung với người Bách Việt

Triệu lên ngôi sau khi diệt dược Thục lại muốn thử sức với Hán nhưng không chắc thắng, nên cuối cùng đã lại thần phục Hán cho Nam Việt thành một nước phụ dung.

Hiện tượng đồng hoá

Sự lai giống Âu Lạc và Bách Việt dể thành dân Lạc Việt. Nhờ giữ dược tiếng nói thêm chữ viết đọc theo giọng riêng của mình, lại nhờ ở sức sống, sức sinh sán và nền nếp sống đã viên thành, người Giao Chỉ thành Lạc Việt thì vẫn nguyên vẹn là một giống dân riêng, còn người Bách Việt thì một phần bị hút vào đại khối Trung Hoa và một phần nữa bị Giao Chỉ dồng hoá mà hốt giống.

Nhũng nguyên nhân khiến kẻ yếu kém đồng hoá được kẻ mạnh và tiến bộ hơn;

1. Dân Lạc Việt bám chặt lấy đất làng mà sống không phiêu lưu. 2. Dàn Bách Việt dến với tư cách nương nhờ nên chiều theo người bán xứ dể nói theo họ và lái cả thị hiếu nếp sống theo. 3. Dân Bách Việt buồn bán ở nơi thị tứ, chỗ nào kiếm ăn dễ hơn lại bỏ đi. Con cái lai giống bị bỏ rơi, lại trở thành Lạc Việt cả. 4. Phần nghi thức dời sống tiến bộ, được người Bách Việt đem đến

145

đã chí là lớp sơn tráng ở ngoài.

3. Tinh người và nếp sốnư cổ sẩn đã nhờ thêm tiến bộ hình thức mà sâu đậm thêm.

Triệu Đà là một ké mưu cơ trùm đời, từns đã nói ra miệns: “Tiếc thay ta không được khới nghiệp ớ Trung Hoa, chứ không thì ta cũng cháng kém gì Hán Đê'”. Lời ấy pliát ra được hiển không phái một lời khoác lác, nếu tìm hiếu rõ họ Triệu.

Họ Triệu nguvên là thuộc hạ của Tần, cũng như Hán Lưu Bang đã thụ phong của sở vậy. Trong lúc tình hình chính trị còn rối bời, Lưu Bang đã lui về Ba Thục đốt đường Sạn Đạo thì Triệu Đà cũng lui về Phiên Ngung và híp các dường núi Ngũ Lĩnh, Lưu Bang vỗ về trám họ ớ Ba Thục. chióLi binh mãi mã rồi minh lu Sạn Đạo, ám độ Trần Thương đưa quân ra đánh sở. Triệu Đà cũng vỗ về trăm họ ở Nam Việt dẹp nhà Thục dê lạo diều kiện khởi nghĩa lớn. Khác một điều Lưu Bang thành công trên lục dịa Trung Hoa, mà Triệu Đà thì chỉ nám giũ’ được ha quận miền Nam. Ầy là lại không khởi nghiệp ử Trung Hoa vậy.

Họ Triệu là một tuv tướng của Nhâm Ngao, dược giữ việc cai trị huyện Long Xuyên"’ thuộc quyền Hiệu uý Nhám Ngao, củ hai được Tần cử di tràn nhậm Ngũ Lĩnh'"’. Hai người ấy từng đã phái tỏ ra trung thành với Tần lắm mới dược dcm một lúc lới 300.000 người dến vùng bicn vicn này.

Sứ mạng Tần giao cho họ là cai trị vừng Nam Việt gồm ba quận Qué Lâm. Nam Hái, Tượng Quận nicà năm -214 Đổ Thư dã thu gồm về cho nước Tần. Nhirng mục dích riêng cúa họ là xa dược nanh vưôl cúa Tán thì dùng luôn nơi mình cai trị dể cắt cứ thcành một khoanh riêng cho

Huyện Lons Xuvêĩi ià mội huyện nhỏ Ihuộc Nam Hái. nay là đất Tuần Châu. Nuũ Lình theo sách Nam Klìơiìiị Ký cúa Đạnu Đức Minli là rậii” núi cỏ .“ĩ nsọn. Nỉỉọn thứ nliát là eo Đài Lĩnh ở Đại Dũ, thứ hai là Kỵ Điền ớ Quế Dưcíng, thứ ha là Đỏ Bami ó' Cứu Cháu (tức Thanh Hoá). thứ tư là Minh Trừ ờ Lâm Hạ và thứ năm là Việt Thành (')■ Thi An.

Sách QuànỉỊ Cháu Kỹ cùa Bùi Uyên thì nói: Ngũ Lĩnh là các núi Đại Dũ, Thi An. Lâm Hạ. Quế Dưcrng. YC'I Dirmm ranh uiói hai linh Quáim Đông và Ọuáiiíi 'IViy. Phưonu Dĩ Tri' thì cho rằng Cửu Chán vỏn xa quá. phái nhạn như Qiíàiìíị Châu Kỷ mói đúns.

Theo Lĩiìlì Ni^oại Dại Dớp của Chu Khứ Phi, thì từ đời Tần người ta dã nói imọn núi. Ai cũng cho tên Ngũ Lĩnh ấy là Iró về 3 ngọn núi. Nhưng xét kỹ thì đèn đó là đường xâm nhập vùng núi, chớ không hán dã là núi. Đường thứ nhất di từ sòng Đinh ớ Phúc Kiên dốn Tuần Mai ớ Quáng Đỏng. Đường thứ hai lừ Nam An ở Giang Tây di Nam Hùng qua Đại Dũ. Đường thứ ba từ huyện ,Sám ở Hồ Nam dên huyện Uẽn. Đường thứ tư từ huyện Đạo qua huvậi Hạ ở Quang Tâv. Đường thứ năm từ huyện Toàn di lin h Giang.

146

mình. Họ lới nơi (năm -210) thì gặp họ Thục. Họ Thục đã thán phục Tần từ hồi trước rồi. Nay biết rõ m ư L i cơ của Nhâm Ngao và Triệu Đà. át hán họ Thục phai báo ngay chơ Tần biết, và một mặt phải chống lại.

Trận chiến đầu tiên cliỗn ra năm -210 tại Tiên Du, Triệu Đà thua, rút quân lên đóng trên núi Tiôn Du*'* thuộc Bác Giang. Soái thuyền của Nhâm Ngao thì neo trên .sông Tiểu Giang. Khi Ngao bị bệnh lui về Phiên Ngung thì giao lại binh quyền cho Triệu Đà. Triệu Đà đem hết quân lên đóng lại Vũ Ninh'"’ rồi cho sứ đi giảng hoà. lấy sông Bình Giang làm ranh giới'^’. Triệu Đà cai trị phía Bác còn An Dương Vương phía Nam. và hai nhà kết thống gia vói nhau. Ây là kế hoãn binh.

/

/

/

Đên nãm -208. tức là 2 năm sau, khi sắp chết. Nhâm Ngao cho gọi Triệu Đà đến giao quvền quân sự và cai trị cho làm Hiệu L i ý quán Nam Hái thay mình lại dặn; ‘Tồ/? sỡ khâní> còn m>ồi lâu nữa. Trần ThănỊi và nhiều nhân vật kluu' dã dấy binh khắp nơi. Sự rầnỊị ly loạn sẽ lan tới vùn}> này. Tôi muốn dđv binh cát hết dườrn> núi dể chống í>iữ niọi cuộc xâm lăm>. Dìít Phiên NguníỊ của ta có núi sông cách trở. Từ Đông sang Tây rộníỊ hủiu> / 7 g í dậm. Với sụ' trợ iịiúp của mịiừYi Trumị Hoa, chúng ta có thể dựng dược một nước riêng. Trong hùng cpian chức toàn quận không iường ai dương nổi việc này. Vì vậy tôi trông cậy nơi ỏng tất cà".

Khi Nhâm Ngao mất, Triệu Đà truyền hịch đi các quan ai Hoàng Phố, Dương S(Jn, Hoàng Khê, nói giặc cướp sắp lan tràn đến, phái cắt hết các đường giao thông và tập trung quân đội sẽ đê chống giữ.

Thấy lất ca các noi đều đã tuân theo lệnh ấy, Triệu Đà cho lệnh giết hết các quan lại của Tần và bắt giữ quyến thuộc của họ. Thục An Dương Vươns là một trong những quan lại ây.

Chi tiết Iicày đã dược Khâm Đinh Việt sử Thông Giám Cương Mục ghi rõ trong lờ 18v, 19r. Nó cho ta thấy Triệu Đà dã dùng chiêu bài chống Tần dế có danh nghĩa ly gián và cắt hết tay chân của Thục. Chiêu bài ấy rất họp với những lưu dân bị Tán dầy vồ sống ở Nam Việt để có dịp trá thù, nicà dối vói dân chúng dịa phương thì việc xây dựng riêng mình một cõi dã thật dáp ứng dúng nguyện vọng của họ.

Tlico An Nam Chí Ngnỵên của Cao Hùng Trưng núi Tiên Du cũng là núi Lạn Kha thuộc ve huyện TiCm Du. Trôn đính có núi đá và có bàn cờ Tiên. Truyện cố tích í n rìu mủn ra rứt ké có một người tién phu mái xcm liên đánh cờ láu quá, đến nỗi C i xuống mà kliổng biết.

Theo A/ì Nam Chí Ngiiỵên. núi này ở châu Vũ Ninh, nay thuộc Vũ Giang. Trên

núi có ngọn Tinh 1'huỷ và có con rắn bằng đá. Người la còn gọi là Ngọc Kinh.

Bình Giang tức là sông Tliicm Đức tách ớ Đỏng Ngạn Lô Giang ra rổi cháy xuống

dưới lại nhập thành Bình Than. Cũng gọi là sống Đông Ngạn.

147

Cho nên phải nhận đấy là cuộc chiến tranh chính trị đầu tiên trong lịch sử, không phải chỉ thuần quân sự mà thôi. Thành c ổ Loa kiên cố của Thục đã có nội phản thì việc liến quân vào của Triệu đã dễ như một trò chơi. Và khi dời khỏi nơi cố thủ ấy, Thục đã không còn người theo giúp và không còn đất dung thân nữa.

LÊN N(ỈÔ I NAM VIỆT VƯ Ơ Ntỉ

Triệu Đà chiếm dược Âu Lạc, chia thành 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân rồi gộp vào với quận Nam Hải lập thành nước Nam Việt và lên ngôi xưng là Nam Việt Vương năm 207 dóng đô tại Phiên Ngung. Việc Triệu bênh vực dân Giao Chí đem binh đánh quận Tràng Sa, đúng là nại cớ dê thử sức với Hán, cũng chỉ là việc riêng của Triệu. Sau dú Triệu lại xin thần phục Hán triều thì trên nguyên tác, Âu Lạc đã là một nước phụ dung của Tần, mà Nam Việt cũng là nước phụ dung của Hán. Đó là một loại bán thực dân địa, còn giữ được phán nào quyền tự trị mà thôi.

CUỘC SỒNG CHUNCỈ VỚI NGƯỜI BÁCH VIỆT

Riêng dân Giao Chí cũ mà bây giờ đổi gọi là Lạc Việt, quả họ dã không lưu ý dến danh nghĩa lớn lao gì của các biến cô' chính trị. Họ chỉ biết sống mà thôi. Họ sống chung với người Bách Việt từ phía Bác xuống mỗi ngày mỗi đông, rồi lại giống với nhau, đồng hoá lẫn nhau và biến dần người Bách Việt thành Lạc Việt hết.

Đáng sợ nhất là hiện tượng ngược lại: người Lạc Việt bị Bách Việt đồng hoá thì mất giống. Nhưng hiện tượng ấy không xảy ra, nhờ ở sức sống, sức sinh sản của dân tộc và nhờ nền nếp sống đã viên thành từ lâu, cả thị hiếu, thị dục cũng đã có truyền thống trước khi có sự chung sống.

Quan hệ nhất là tiếng nói. Tiếng nói không bị mất, chỉ phong phú thêm. Người Bách Việt dần dà quên tiếng của mình mà nói theo tiếng Lạc Việt. Rất nhiều họ Bách Việt hồi mới còn phân biệt ra, sau vài ba đời chung sống thì trở thành họ Lạc Việt cả.

Đến chữ viết cũng được người Lạc Việt dùng luôn như của riêng mình mà đọc theo lối của mình và nhân đấy tạo ra một số rất nhiều tií'''no nói gọi là tiếng Hán Việt.

HIỆN TƯỢNG Đ Ổ N í ; HOÁ

148

Đây là một hiện tượng đồng hoá hiếm có và đặc biệt để các nhà xã hội học nghiên cứu. Một đám dân văn minh tiến bộ hơn, nhiều quyền thế hơn, đến sống chung với một dám dân hiền lành chất phác hơn thì hẳn ai

cQim phai tin chắc đám kia hoá đám này theo mình. Nhưng sao lại thành ra ngược lại, đến mức độ đám kia mất luôn cả liếng nói của mình, quên luôn cả nơi xuất xứ của mình và con cháu nhiều đời về sau thì trở thành người bản xứ cá?

Chúng tôi xét thấy có những nguyên cớ sau này: 1. Dân Lạc Việt sống thân mật thành làng, có một tình yêu chân thành và sâu đậm lắm đối với quê hương làng mạc của mình, sống cũng ở đấy, chết cũng ở đấy. Còn dân Bách Việt là dân phiêu bạt giang hồ đi kiếm tiền làm giầu, sa đâu ấm dấy.

2. Dân Bách Việt đến với tư cách nương nhờ. không phải chủ nhân ông nên dã phải chiều theo nguời bản xứ, để uốn lưỡi nói theo người bán xứ và lái thị hiếu của mình theo thị hiếu người bản xứ.

3. Dân Bách Việt ở nơi thị tứ làm việc buôn bán, chỗ nào có lời hơn lại đi, mà không có căn bản ở làng mạc nào cá. Những đứa con lai bị bỏ rơi đều trở thành người Lạc Việt hết.

4. Những phong thói, nghi thức, lễ tục, tiến bộ hơn trong đời sống đã chỉ là một lớp sơn bọc ở ngOcài, cho người xa lạ thấy là Lạc Việt bị đồng hoá. Mà thực chất ở trong, cái đám người đến làm việc đồng hoá ấy không còn nữa. Vậy thì ai đã đồng hoá ai?

5. Những tình người trong gia dinh, họ hàng, làng mạc, vốn vẫn có, nay mượn thêm phong thói, nghi thức, lễ tục, tiến bộ hơn dể thể hiện, đã chỉ làm sâu đậm thêm tình nghĩa ấy, nó khiến cho người ta giữ cốt cách Lạc Việt và lấy làm thú hơn là biến mình thành người Bách Việt.

KỶ T H U Ậ T CANH TÁC

Đến đây người ta dã được người Bách Việt mang lưỡi cày sắt tới đế càv ruộng bằng trâu, và đem kỹ thuật dẫn thuỷ tới để mùa gật chắc chắn nhiều kết quá hơn, cùng đem kỹ thuật đắp bờ, tháo nước, rửa dất phèn mà mở rộng diện tích canh tác.

149

Các làng mạc cũng nhờ đấy mà mọc thêm ra ở các vùng trước kia bị ngập nước. Thêm dân sô canh nông sinh sản nhiều đã khiến đời sống phú túc thêm lên.

ĐÒI SỐNG XÃ HỘI

K)M Lirợc

Làng Lạc Việt

CHUONÍỈ III

Quy mò của làng

Uàng là mộl nước nhỏ, có nếp sốim lự trị và có nhữno lệ khăi khe vổ imụ canh naụ cư đổ bảo vệ quyền lợi chiiníỉ cùns giữ lấy người ở irong đ(Tfn vị cư trú. Có làii2 chí 2ổm một hai họ lại có liên hệ hôn nhân với nhau.

Những thứ lưu nhiều kỷ niệm

Vì cần dùno nghề nghiệp, chỏ làm là ruộng không xa chỗ ở quá 1 giờ đi bộ Vcà dát trâu, nên làng thường chi rộng 200 hecta.

Những dịp hội hè

Cih quán gió giũa dồng với cây da dầu làng và cái giếng chung của làng.

Dư luận trong làng

Thường tổ chức vào mùa Xuân, ngoài nhĩrng cuộc cúng tế có những trò chơi vui còng cộng.

Dư luận của làng nhưng chính cũng Icà của các bậc trưởng thượng trong họ. dã khuôn nán con người Vcào vòng lẻ giáo và tôn trọng phong tục luật lệ cứa làng.

LÀN(Ỉ I.ẠC VIỆT

Lcàng của người Lạc Việt thành hình tù làu. từ khi chuvển sang canh nông dưới thời Hùng Vương. Nhưng đến nay. có những diều kiện xã hội mới đòi hỏi gắt gaơ một tổ chức chặt chẽ hơn. Điều kiện xã hội mới ấy Là có rất đông người Bách Việt dến ở. không những tại những bến sông, những thành thị mà còn ớ lan vào các làng nữa.

Từ trước, làng vẫn là inột nước nhỏ, ông vua của làng là òng tù trưởng, hoặc ông trùm một họ. có công khai phá dẫn dắt người đến định cư, chỉ báo nghề canh lác, giữ gìn trật tự an ninh, lại vẫn thường thay mặt dân giao thiệp với vua cùng điều dinh với các làng khác khi có xảy ra xích mích. Công việc làm ăn trong làng vần là đất của ai thì nấy ở và làm, chính tù trưởng và gia dinh của ông cũng vậy.

Nhưng mỗi nhà cũng phải cung đốn những hoa mầu cho tù trưởng

vào những dịp lễ lạt, tuần tiết coi như không phải thuế mà là thuế.

Vai trò của tù trưởng lúc đầu chỉ thế, nhưng rồi đã lớn dần lên, nhất là với hồi phải cắt đặt người và đôn đốc đến đắp thành c ổ Loa. Tù trưởng trở thành một ông quan sở tại, có những quyền bắt bớ giam cầm. trừng trị người không luân lệnh và có những quyền cho hay không cho người đến cư ngụ trong làng, coi như làng là vật sở hữu của ông vậy.

Những người dân Bách Việt di cư muốn dến ở trong một cái làng,\ đã phủi chịu theo những thể lộ về ngụ canh, ngụ cư thật chặt chẽ, và trải một thời gian thật lâu mới trở thành những người làng, để hưởng đủ quyền lợi như những người khác.

Làng nhỏ thì chỉ là một thôn, một chòm xóm. Làng lớn và đông dần lên thì gồm chia thành nhiều xóm, nhiều thôn. Thưòíng khi mỗi xóm hay mỗi thôn chỉ có toàn người trong cùng một họ. Mà nếu có xen người khác họ vào là do liên hệ hòn nhân. Người tự nhiên ở ngoài xa tới đã không thể vào sống trong giữa thôn xóm được. Bơi lẽ không có dất và không có ai nhưèmg dất cho. Nên phái ở ngoài bìa làng. Mà những dịp hội hè, tế lễ thì suốt thời gian chưa được nhận là người làng, người ta vãn không có những chỗ ngồi và không có quyền có ý kiến về những việc của làng.

152

Làng như thế đã thân mật hết sức với người ta vì tính cách trong họ ngoài làng. Người ta từ lọt lòng mẹ đến lúc lớn lên, rồi đến lúc già và chết, lúc nào cũng ở trong làng. Lấy vợ lấy chồng cũng ưu tiên lấy người trong làng. Có đi đâu xa rồi lại trở về đấy. Mỗi làng có một phong thói sống và làm ăn riêng. Mỗi làng tin có một ông thần riêng che chở, như có một ông tù trưỏìig riêng cai trị. Sự ăn uống, chơi vui, trò chuyện, đi lại thăm viếng gần gũi nhau, lúc buồn, lúc vui, lúc cười, lúc khóc... đã làm cho dày rễ tình cảm chằng chịt người ta với làng. Cho dến không ai muốn dời xa làng đi đâu cả. Vá lại, đi qua sống ở làng khác thì lại ngụ cư không thể có những điều kiện và quyền lợi mình thường hưởng, mà cũng không có người thân nào cả, cuộc sống sẽ buồn lắm.

QUY MÔ CỦA LÀNC

Theo những điều kiện thiên nhiên về mưa nắng và theo thời dụng biểu của nhà nông như đã nói ở trên, dù còn cuốc đất với lưỡi cuốc bằng đá hay bắt dầu cày ruộng bằng lưỡi cày sắt và có trâu kéo, người ta cũng chỉ làm dồng được vào thánư tư. Ca dao có câu:

TlìáníỊ í>iêiiị> là tháng ủn chơi Tháng hai trồmị dậu trổng khoai trồng cà Tìuhuị ha thì dận dã g/ừ Ta di ta hái về nhà phơi khô Thú nít tư di tậu trâu hò Đê’ta sắp sứa làm mùa thám’ năm.

Ây là vì tháng chạp, giêng, hai, ba ít mưa, đất khô núi nẻ và hết sức ràn, không thể cuốc hay cày được. Nhà nông chỉ làm nối những đám ruộng nhỏ để trồng hoa màu phụ như đậu, khoai, cà. Đến tháng tư bắt đầu có mưa rào thì đất mới mềm ra để cày được.

Nhưng mùa tháng tư ấy lại là mùa nắng rát lắm. Người ta chỉ có thể làm việc vào lúc sáng sớm, mặt trời chưa lên cao, và lúc chiều tà đã nhạt nắng. Còn buổi trưa hè thì phủi nghỉ. Như vậy, phải dời nhà lùa trâu ra dồng lừ rất sớm mới trông rõ mặt người, để làm việc ngay, đến khoảng 10 giờ thì nghỉ. Và buổi chiều thì cỡ 4 giờ bắt đầu làm cho đến xâm xẩm tối là về. Điều kiện giờ giấc làm việc như thế bắt buộc ruộng phủi ở gần nhà.

Càng ở gần càng tốt. Nếu có xa thì xa nhất là 1 giờ dắt trâu đi bộ. Cho nên làng chỉ nho nhỏ thôi. Người la đã có bảng thống kê như

sau đây về diện tích của các làng Bắc Bộ:

100 hecta thì có 1300 làng. 200 hecta thì có 2400 làng. 300 hecta thì có 1260 làng. 400 hecta thì có 610 làng.

- Làng rộng từ 0 đến 20 hecla thì có 160 làng. - Làng rộng lừ 20 dến 50 hecla thì có 500 làng. - Làng rộng từ 50 đến - Làng rộng từ 100 đến - Làng rộng từ 200 dến - Làng rộng từ 300 dến - Làng rộng hơn 500 hecta thì có 450 làng.

Nghĩa là làng chi có một quy mô trung bình cỡ 200 hecta, với đường bán kính đi ra ruộng xa cỡ 800 m, để đi về làm ăn cho tiện, lúc nắng còn lúc mưa.

153

Vì lẽ ấy, hễ làng đông người hơn, phải làm ruộng ở xa hơn, thì người ta đến dựng một làng mới ở giữa khu ruộng mới, và cũng sống theo

nền nếp ớ làn2 cũ. Sự chnyen dịch này là con cháu tronỵ họ cluiyển dịch di, còn gốc ízác vần còn imuyèn ơ làng cCí. Khi 2ÌỔ. ncày lêi. imười la di Ihãni vicnc nhau, rồi dựii2 vợ sá chổim cũns lại lựa chỗ ở nsLiyèn quán, có khi xin cá duệ hiệu vị Ihần làng cũ dế ihờ nữa.

Bày aiừ còn nhữnc làna, có lẽ là xưa nhất, nhà ở choán ca ngọn đổi cứ xếp chổng lổn nhau thành từng bậc bên .sườn dồi. trông rất dẹp, như những làng Ngọ Xá (lổng Phù Lưu Tế. phủ Mỹ Đức, Hà Đông), làng Hà Xá (tổng Trinh Tiết, cũng ờ Mỹ Đức. Hà Đông) làng Đổng Lư ( tổng Tiên Lữ, phú Ọuốc Oai. Son Tây), làng Sơn Lộ. làng Thổ Ngoã. hàng Tiên LCr, làng Phưong Khc (cũng ớ Quốc Oai, Son Tày). Không có nhà nào án ngữ nhà nào. Từ dưới lên trên theo dirờng dồi ngoằn ngoéo, nền nhà và sân trước được vạc dât ở dổi ra dc dáp bàng. Mái nhà nọ ở bậc dưới xấp xi dến chân nén nhà kia ử bậc trên. Nhà nào cũng trông ra khoáng trời rộng, không bị cái gì vướng mắt. Xung quanh ở nhà dưới, ở cá trên, là cây cối. hoa lá rực rỡ muôn màu. Đi trong đường làng uốn lượn ngoằn ngoèo dưới bóng mát cua những tán cây lớn, nhìn lên trên là nhà với sàn lộ thiên bên nhũng cày cảnh dủ màu in trôn nén đất của sườn dồi. cứ hun hút lên dần. Nhà không ngay hàng thảng lối nhàm mắt. mà đột ngột hiện ra thật là vui. Nhìn xuống dưới là những nóc những mái nhà. những sân lộ thiên với những cây cao bóng mát in hình trôn nôn trời và xa xa bên dưới là đổng ruộng.

Có những làng khác, nhà (V chi choán một vòng riềm từ lưng chừng dồi xuống tới chân, còn trên dinh dổi trồng trọt hoa mầu. với những thửa dâì lượn tròn theo dịa hình cúa dồi. và những hàng cây trổng cũng lượn tròn như thế. Đó là những làng trên dổi Bồ Sơn, tổng Khắc Niệm, huyện Võ Giàng, Bác Ninh, làng Hiền Ngang, làng Vãn Khám cũng ở dây, Vtà làng Long Khám ở Tiên Du Bãc Ninh.

Lại cũng có những làng khác, nhà tụ ca trên đỉnh đồi bằng phẳng còn từ sườn dồi xuống tới chân dể trồng trọt. Trỏng những dường bờ ruộng với những đường cây uốn lượn lự nhiên theo hình của dổi đã như bức tranh vẽ. Đó là những làng Bá Hạ (Tổng Son Lôi, huyện Bình Xuyên, Vĩnh Yên) làng Hạ Lôi (tổng Cần Kiệm huyện Thạch Thất, Sơn Tây) làng Thượng Lâm (tổng Viên Nội. phủ Mỹ Đức, Hà Đổng) và làng Tuy Lai (tổng Tuy Lai cũng ở Hà Đông).

'54

Đấy là những làng mà hồi người ta tới ở, dưới chân đổi còn bị ngập nước, nhất là vào mùa nước lớn, hiện còn thấy ở Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Tliọ, cùng vùng phía Bác sông Cầu. Rồi dán dần sau dó, đất bổi xa hơn, nhờ biết cách đắp bờ tháo nước Vcà người đông hcm cần nhiều đất đế ở hon, người ta mới ở lan toá xuống nhũng giồng cao và xuống giữa đồng bằng.

N H Ĩ NC TH Ứ LITI NHIKI KÝ NIỆM

Làng nào cũng có một giốns nước cluins, một cái quán trốna gió dưới một cáv đa. để khi mưa khi nắng người ta làm ruộng hay đi đâu xa vc thì ghé lại đấy trò chuyện, chơi vui. Người ta đón chờ nhau, hẹn hò nhau cũng ở đấy. Những mối tình duyên và những cuộc hôn nhân cũng ở đấy mà thành. Có thể nói CL1()C .sống xã hội của người Lạc Việt là cuộc sông trong làng, nhưng nơi tích tụ cuộc sống ở làng ấy lại chính là cái quán gió và cái giếng nước, dưới bóng một cây đa.

Khòng ai di xa mà quên dược làng. Khi nhớ đến làng thì ITmh ánh đáu tiên người ta gợi ra trơng dầu lại chính là hình ánh cây da với quán gió là nơi người la dể nhiểu ký niệm nhất. Rơi mới tới luỹ tre, cống làng, cùng những người thân ở trơng làng.

n h CN í ; d ị p h ô i h k

Những dịp mà cả làng đéii nhàn rỗi. mừng vui mùa gặt hái đã xơng, không lo sợ mưa bãơ nữa, những dịp mà không chơi vui thì không biết hàm gì chơ hết thì giờ trong đời sống canh nông đã có rất nhiều nhất lại là vào mùa xuân. Trai gái, trẻ già, lứa tuổi nào tìm lứa tuổi ấy rồi tự nhiên bày ra các trò chơi vui, ngoài việc cúng lễ. Năm nào không có thì nhớ. Nãm nào cũng có thì thành lục lệ cho những dời sau cứ thế đi theo.

Điều dó giai thích tại sao người ta gắn bó với làng.

D ư LUẬN T R ()N (; LÀN(Ỉ

Vì lẽ một mặt, làng nhỏ bé, một chuyện không đáng gì xáy ra chi thoáng cái là ca làng dổLi biết hêì. Và vì mặt khác, người ta yêu mến cái làng không bao giờ muốn dời nó ra. nên khổng ai bảo ai, ai nấy dều sợ dư luận trong làng, dể giữ mình lừ lòi nói dến cách đối xử, cho không ai chê trách diều gì cả.

Cuộc sống đã theo thiên tính dối với cha mẹ, vợ con, anh em trong nhà thì cuộc sống ấy cũng theo thiên tính đối với họ hàng bà con gần trong làng. Cho nên nó là thiện. Nó luôn luôn được dư luận khen chê đê khuôn nán mọi người trong vòng thuần phong mỹ tục. Mặc dầu chữ nghĩa không có. dạo lý của thánh hiền dạy cũng chưa tới nơi, người ta đã sống với nhau thành một nếp sống tình nghĩa, mà trong dó đủ cả hiếu đễ, trung tín. lễ nghĩa, liêm si.

líĩ.^ĩ

NHÀ ỏ

CHƯƠNÍỈIV

lóivi Lirợc

Nhà ớ của người Mường là nhà sàn, cao rộng và sườn nhà rất đơn giản nhờ có gỗ và nứa sẵn ở trong rừng.

Khi xuống đồng bàng, không có sẩn những vật liệu ây, lại sinh sôi đỏng người thêm và cán đến nhiều nhà ở, người Lạc Việt đã phái làm nhà tre vách đất, mái lá hay cỏ rạ.

Do điểu kiện kỳ thuật quy định, nhà đã phải thấp cỡ 3 - 4m đến nóc với nhũ’ng khoảng cách cột ngăn đi, đế các gian nhà nhỏ đi, chỉ từ 2 đến 2,5m. Cột hiên chỉ cao khoáng 2m. Lại có ngưỡng cửa từ hiên bước vào nhà cao cỡ 40 phân để ngăn nắng mưa tạt. Nhà quay hướng Nam. Tường hậu hướng Bác bít kín. Hai vách Đông Tây cũng bít kín. Mùa nóng vào nhà thì mát, mùa lạnh thì ấm.

Tỷ lệ Cổ điển

Nhcà có bàn thờ gia tiên ở chính gian giữa. Hai gian bên không ngăn vách đế người già cá nằm ngồi và tiếp khách. Khi nhà có việc cúng giỗ, lễ tết thì cá hai gian bên ấy cũng thuộc về cái bàn thờ. Nhà trở thành nhà để thờ là việc chính, còn ỏ' là việc phụ. Hàng ngày ãn uống, chuyện trò, làm việc, người la đã có cái nhà bếp.

Những tin tưởng thần bí

Giữa chiều dài chiều rộng và chiều cao của các nhà đã có một công thức nhất định. Khi làm đúng công thức ấy thì nhà nào cũng giống nhà nào cả. Sau này, nhcà gỗ và cả nhà gạch cũng đã được người thợ làm theo công thức ấy nên chỉ khác ở vật liệu còn đường nét kiến trúc vẫn y nguyên.

157

Về cái đòn đông, về sự lựa ngtày để cất nóc, sự tính số lượng những đòn lay dể gặp chữ sinh, tránh chữ bệnh tứ. trong tứ khố, là nhũTig điều mà người Lạc Việt đã phái lưu ý lới khi làm nhà.

Nhà ở hổi khởi thuv, cổ lẽ theo lôi kiên trúc nhà ư của nsưừi Mườim

nav còn sót lại.

Đó là nhữn

Vào nhà thì nerrời la có cám tưởne nhà rất rộng vì chi ihâv hai hàim cột 2ỗ đứng cách xa nhau 8m còn cột ngoài cách l,5m thì lẩn vào vách và b é sâu của nhcà là I7m. Hai cột lớn giằng một đà ngang hằng gố và đội một đà dọc cũng hằng gồ cho kèo nhà gối lèn và hãm bởi một con bọ ăn từ đà ngang ra. Chi có .7 vì nhà cách nhau 4,5m. đã hết sức gian dị, không cổ chống dứng, chống xiên nào hết. Trỏng loáng thoáng rất nhẹ và râì rộng.

Mái dốc và cao 60". Từ mặt dất lên nóc 10 m, trừ sàn trên 8 m, khiến thấy vỏ thênh thang. Đồ dạc lại không cổ gì, ngoài mấy bộ ván ỏ' góc nhà. Một cái bếp ngồi dặt ó ngay trên sàn. Ngirời làm bếp ngồi ngay dây và khách vào nói chuyện cũng ngồi ngay trôn sàn ấy. Vách có cứa số nhưng làm bằng tre dập dập và dan nên vẫn còn chỗ hử. Sàn cũng làm băng tre dan, di ọp ẹp. Mái bang ông nứa che dôi và úp lén nhau hay đập dập rồi dan nên dược thật dài.

Trên dầu người chỗ dun bếp, có một gác bếp. Người ta dể các thực phám cho khỏi bị ám mốc. Cạnh dấy cũng có một gác nhỏ nữa, người ta xếp những ống bằng tre chứa nước de cá nhà dùng dấn. khi hết lại di gánh bằng nhĩrng ông ây.

Cạnh nhà là sân phơi cũng kàm trên sàn. Nhà làm bòn mái. Hai mái nhó ứ hai dầu hồi lẩn và trong cho chìa

dáu mái chính ra ngoài (không làm dấu góc).

178

Đó là loại nhà bằng cột gỗ và tre nứa của quan lang ở châu Lạc So'n. Mần Đức. Hoà Bình. Nhà của thường dân thì làm nhỏ hơn nhung cũng theo kiếu ày là kieu phổ thòng lừ Hoà Bình xuống Nho Quan, hiện còn dến bâv giờ.

Ĩ H i E T £>Ở' A 0

Nhủ của Laiuị Miỉờn^ châu Lạc Sơu. Míìn Đức - Hoù Hình (lai liệu của p. GOUROU)

Tại sao người Lạc Việt lại Ihỏi khổng làm nhà theo kiểu ấy nữa? Người Lạc Viột có ihcni kỹ thuật làm gỗ của người Bách Việt ứ Hoa Nam. khi không còn sợ nước ngập nhờ hiếl cách tháo nước thì đã bỏ kiểu nhà sàn mà làm nhà ngay trên nền đất. Lại vì khi ở lui xuống dồng bàng n‘ưròi dõng ho'n. sỏ lưo'ng nhà ư cần nhiều hơn. mà gô lừ trên rừng dưa

L'^9

\Lioim đãi đo, nên phái liếl kiệm để làm Ihấp, làm bàns tre và bó cái sàn, bỏ luôn vách bàng nứa đan (cũng chí sần rừns mới sán) để làm bằng vách đâì. mái cũng bỏ luôn nứa mà làm bàng dạ hay làm bằnc cỏ tranh. Rất nhiều nhcà làm cột kèo hoàn toàn bằng tre, không có một tí gõ nào cả, như thê để tạo thành kỹ thuật kiến trúc nhà tre, để sau thành cách điệu cho ca nhà sỗ. nhà gạch.‘”

Trc cũiig là giống cây có nhiều loại. Mỗi loại được dùng làm một bộ phận ricns trons một cái nhà. Tre vầu, Ire bương có đường kính lừO,l.‘ĩm đến 0.20m dùng làm cột. Tre mỡ đường kính 0,1 Om tới 0.15m dùng làm kèo. Trc hóp, tầm vông đường kính O.O.^ĩm dến 0.08m dùng làm dòn lay, khung cứa, dừng vách. Tre lao màn, dường kính 0 .0 Im dến 0,02m làm nẹp. làm song cửa sổ. tre giang dùng che làm lạt buột chật như mây v.v... Còn trc lồ ô, mạnh tông, tre gai, nứa, trúc... có tới 36 loại.

Tre cột nhà phái lựa thứ 6. 7 tuổi. Đến cỡ năm thứ 3, người ta leo thang lên

chặt đoạn ngọn dùng vào các việc khác, còn doạn gốc dê lại cho đến tuổi thật già.

Khi dán goc phai dán vào mùa xuân, tháng giêng, hai là mùa khô. cây không còn chứa nước ớ trong, rồi đem ngàm xuống đáy ao bùn ca nãm, có khi chưa được luối làm nhà thì hai hay ba năm, rồi mới vớt lên đế làm thì tre sẽ khổng bị mọt.

Giông cây này là giống cây trồng không mặt công phu gì nhiều, thường dược trồng làm hàng rào nhà và hàng rào của làng. Mỗi năm lại V ('tt bùn ao vật lên đáp cho nó. Nó sẽ ra măng đê ăn và phơi khô cũng dế ăn. Măng nào già không kịp ãn thì mọc thành cây. Cây chen nhau lạo thành một hàng rào thiên nhiên, người không thế chui lọt. mà cũng không dễ gì chặt phá dược.

Nhờ là giống cây phổ thông dẻ có ở ngay quanh nhà, nên tất cá các dồ dùng của người Việt Nam xưa đều đã làm bằng tre cá, trừ những thứ bắt buộc phải bằng sát. Cái nhà bằng tre cũng là sán phám tất nhiên của khu vực địa dư, có thiên nhiên dãi ngộ giống cây dặc biệt áy.

Đề có thêm ý niệm vé giốns cây đặc biệt này la nhớ;

Ong nứa: ở trons ruột nó có chất muối tháo mộc, là cái lớp tinh trắng, người la cạo ra ăn thấy mặn, khi dốn tre nứa đứt tay thì láy linh â'y ra mà đắp vào là cầm máu. Người sơn cước cho gạo nếp và nước vào ống nứa nấu cơm, ăn ngon hơn là nàu bãnư nồi vì có thêm chất dậm ấv.

Trúc lich: Là thứ mãng trc «ai nhỏ và dài, ăn không ngon nhưng khi có

nsười nhà hấp hối, lấy ra văt nước cho uống thì tính lại.

Hoa tre: Nhữns năm thật là hạn hán, đất khỏ cằn mãng không mọc được, tre bật ra hoa dế rồi tàn rụi. Hoa và hột ấy bay di de truyền giống. Kinh nghiệm cho thấy hễ tre có hoa là mất mùa. Người Tàu dùng hoa dế ướp thành một thứ trà gọi là thiên hoa trà, theo lời họ dồn thì người già lão uống sẽ hổi xuân.

Lá tre. Dùng để nấu nước xông dể bị cảm nắng và cho ngựa ăn, lá lớn dùng

gói bánh.

Độc dược: Người la lấy râu và lông mép con cọp cắm vào măng dương mọc thì toàn cá cây măng ấy thối và náy ra một giống sâu, doạn dem con sâu ấy ra nơi khác nuôi cho nó ia ra phán, rồi lấy phân ấy dùng làm dộc dược, ai bị đầu độc thì không thè chữa khỏi.

^

160

Bởi lẽ vách đâì rất nặno. kliòim thế làm cao được đã đành, đến làm tháp miiỏn nó đứnu vữniỉ, cũng lại phái nhiều cột nữa. Cột chi cách nhau khoaniỉ 1.3m đến 2m hav 2,5m là nhiều, nó t|uy định nhữns gian nhà chỉ họỊ) như thế. Muốn có gian nhà rộng lớn hơn thì phái chịu có cột ớ giữa cho ãn đúnL' vói hàng cột ớ vách. Mà nêu thấy là lốn thì cổ ihc án b(Vt một cột đi. nghĩa là cho đầu cột ngồi lên quá giang đế chịu cái kèo cho càn với bên kia.

Ngay cái mái, khi bỏ mái bằng nứa nhẹ để làm bằng rạ. cỏ tranh hay lá gổi, người la phai kòm thêm vào đấy nhiều hoành để đỡ. ỉàm cho ihcm nặng mái ra và thêm oằn cái hoành xuống nếu để khoang cách của kèo xa quá.

Sau này nhà làm bằng gồ, cũng lúng cúng nhiều cột rất thừa, cũng đặt chồng giường, câu đau, nghé ke, cho những chỏ ráp nối và mộng mẹo, theo lối Vcào mộng của tre, ây là người la đã theo kỹ thuật kiến trúc của nhà tre vậy.

Do dó, chúng la hiểu cái nhà thân mật dấu tiên của người Lạc Việt làm bàng tre. vách đất, mái lá. khi bát dầu xuống sống ở đổng bàng dã kh.ỏng do ánh hướng kiên trúc nào từ dâu dên mà bị quy định bời chất liệu và kỹ thuật dùng chãi liệu ấy, nó tự nhiên náy ra với người dịa phương. Ây là kỹ thuật riêng cứa Lạc Việt.

CÁ( H Đ IÊ L KIẾN T RỦC NHÀ TRE

Nhà tháp lò tè, cỡ bốn thước dến nóc. Mái ngang, dốc 15 đến 30". Cột có rât nhieu chi cách nhau từ 2 đến 2.5m. Cột hiên chỉ cao hơn đầu người một ú cỡ 2m. Mồi nhà là một nhà biệt lập, xung quanh có cây cao

Trúc se điếu: Clii lon bằiií: cái bút chì, phủi dùi lỗ bàiic ihuỷ neân đun cháy.

Cá rc trúc cú;i dicu ỏns cũne vậy.

Trúc giá: Cụ Nuuyễn cỏni: Tiõu cho vạt một bén rổ tre ãn ra suối, đợi ít lâu rẻ nó đâm ra. cụ lấy cây nứa, rạch vào một khc dạt bC'n cạnh hàmz rẻ ãy cho rẻ chui vào Iront!. Mây Ihánu sau ra căt vào ăn như eiá dậu xanh vậy.

Tre vuong: Bẽn Nhật còn có lói chơi làm khuôn vuông, lục lanc, bát 2Ìác.

ìồmi vào mãng dẽ cho câv Irc mọc thành nhữim khuôn hình ấy.

'l're Mạnh Tông: Cáy trc mang tên một nhàn vật trong Nhị Thập Tứ Hicu. mọ muõn im maim vào mìia dóim khỏ ráo, Mạnh Tỏng ra ngồi bụi trc khóc mà mãim mọc rti. Trc Mạnh Tôm: rât cao nc'ii cò hay dậu. Thịt cò phái xáo với măii<: và maim Mạnh Tỏne mới nưon.

'I’re ngãin. - Trước khi dùnt: trc phái nưám dưới dãy ao, vì bùn ao có nhiều chát sãl (oxvdc dc fcr) nó nuãm vào thớ trc làm cho rĩin hơn. Và nhữiiỉ: chất dáng dưới dáv ao chui vào Ironu cây trc làm chết hốt các ưiống bọ cùng trứni: của chúns Ironư cãv.

161

1- Mái hil dóc ('f mién Iniic^ du: cd hóii mái CÙIIÍ^ mộl dộ dóc

la CÙIIÍ’ loại ớddiiíỊ hàiiỊ’. hai mái dắii hổi dóc diìiiỊi hơn.

Ih Cíiiiiỉ h>ại ớ vùn;.’ hiên, mái có lop lá dỡ iỊÌtĩlá dỡ iỊÌữlá nóc.

2- Mái dứn'ỉ vì: chi có hai mái íhâi

2a Càn;; loại, ihcm Incn ti'dần hói.

21) Bón mái nhmií; khòn\i hil dòc

2c Mái ddn hồi Inồn hắn vào tron;.’ mái chinh cha chái nhà.

bóna inál. Mùa nóna vào Irona nhà Ihì mál, mùa lạnh Ihì âm nhờ mái rạ vách đã't cách nhiệt.

162

Nhà thường quay hưmia Nam. Nánc sána và chiéu chi chiếu xiên ớ hai cạnh nhcà. và hất ánh sána plian chicu vào trong nhà. Ánh sáng ấy lại dược lọc qua một lớp rại bằng tre (một loại mành ,sáo dứng) và dược giảm thiểu bởi một ngưỡng cửa cao dốn dầu gối. nên trong nhà. nóc và mái .sáng hơn vách tường, iTicà mắt người thì không bị nắng chói chang khó chịu. Trời mưa tạt cCíng bị bực cửa ngăn lại không Vcào nhà.

Nị>òì nhà ílìóníỉ thườns’ của ní>ười Việt

Trone nhà không có vỏ thênh thane hống hách nhưiiíí có vỏ đầm cíin, thân mật. Nhữnc cột ítiữa nhà cổ câu đối đỏ đứne hai bèn bàn thờ gia tiên, đật cao nhất, với Iihữiiíí đồ thờ sơn son thiếp vàng, ánh nắng từ sân liất vào làm nổi bật tâì ai 2Ìữa khoáns nhà hơi tối tối.

Tường hậu nhà bít kín khônư có cửa thông ra sau nhà. Ba gian chính ưiữa, chỉ cổ cứa ớ vách imanti dê vào hai buồng bCm hay hai chái nhà. Sự bố trí của nhà như vậy cho thấy nhà đế thờ gia tiên, tiếp bà con họ hànc mói là việc chính, còn ở lại trỏ thành việc phụ.

Nhủ với hàn thờ gia tiên

163

Nưười ta ăn làm, trò chuyện, thường ở một căn nhà bếp khác, dựng vuônư ÍZÓC vói căn nhà chính trỏng ra sân. Ngày thường cửa nhà chính dóng. Chí những ngày lỗ tết. hay cổ việc hiếu hý dông khách khứa họ hàng bà con mới mở hết cửa. rồi làm rạp che ở sân, cho khách ngồi dưới sân tròng lẽn thấy bàn thò LIV nghi và trang trọng.

Cách điệu kiên Irúc nhà Ire như Ihế là cách điệu oiáii dị đến tột cùng đc sốim hoà hựp với cánh vật iliicn nhiên (V xuim quanh nliưng vẫn giữ dtrợc vc trang trọng chỗ nào cần trang trọng nhát.

Q l AN NIỆM KIẾN TRÚC NHẢ ơ VẢ LỂ t h ỏ i SỐ N C

'ĩy lệ giũa chiều dài. chiều rộng và chicLi cao của nhà cũng như của cửa. bực thềm, nén nhà là tỷ lệ do nhiều dời kinh nghiộm làm Vcà nhìn ngam quen inăt nen trớ thành cổ diển. Đổ sau đó, khi có gỗ nhiéu. có phưong tiện làm nhà gạch, mái ngói, người la cũng vẫn giữ tỷ lệ cổ diên ẩy. Tỷ lệ ấy, Nguyền Bạt Tuy dã tìm thấy trong bcài NlìữnỊ> kiến nhà cô à QuàIIí’ Trị như sau;

Nói riêng về nhà rường là loại dưực nhiồu người ưa Icàm vì trông cổ bé thê. nhà gỗ thường làm theo ba kích thước, căn cứ vào chiéu dài của trống, tinh biìng ihưức mộc (llh = 0 .4 m ) từ tim cột này tới lim cột kia. hay vào chiều cao của cột nhất, tính từdá tíing lên dốn trốc cột (tức là dầu cột).

Nhà l)a hai: Có trêng dài 3 th 2, thì cột cao 8 th 6, nên còn gọi là

nhà tám sáu.

Nhà ba bay: Có trống dài 3 ih 7. thì cột cao 9 ih 1, nên còn gọi là

nhà chín mốt.

Nha bòn liai: Có tiững dài 4 th 2. thì cột cao 10 th .3. Hai con sỏ ấy liên hệ với nhau như vậy, de làm gốc cho sự liên hệ cua các bộ phận khác trong nhà, người thợ mộc chi thuộc lòng rồi do cát gỗ. dù nhà lớn hay nhỏ di, ciỉng vần giữ dều một điệu kiến trúc. Dưứi dây là một vì báng tre để so với một vì nhà bằng gỗ. với cách xếp dặt vào mộng, cho thày là nhà gỗ đã thoát thai lừ nhà tre ra.

Đicu dáng lưu ý là cứa chính cúa nhà cũng như cửa nách vào hai gian bèn, chi cao chừng l,3m dến l,5m, nhưng người di không phái cúi, vì cửa ấy dạt IrcMi ngạch cửa cao khỏi dáu gối. Ây cũng là vì nó bằng tre, không thê cổ khung tre cao lới 2m, mà không sợ oằn. Cả cái lối lổng cửa vào cối xoay ở bạo cửa và ngạch cửa dê’ mở ra đóng Vtào. mà không cổ ban lề, cùng khi cần mở thì cửa mang từng cánh ra dùng vào việc khác, cũng la gốc ỏ' cái cứa bãng tre nữa.

Không rõ ngay từ hổi dầu này dã có những tin tương dê’ kiêng cữ về

164

cái dòn dông chưa?

165

Đòn đông là cây đòn lay đặt chính nóc nhà. Nó là chủ chốt của cãn nhà. Khi đặt nó phai lựa Iiíĩày giờ và phai làm lẻ. gọi là lẻ cất nóc. Đầu ttốc và đầu nsọn của cây đòn đông ấy cũng phải đặt cho trúng cách. Đấu gốc phải để về phía bên ta (trái), vì theo ước lệ, Đôiu> vi ki Tây vi hữu. Nếu nhà đặt trúng hướng Nam thì bên tá của nhà cũng Icà đỏng. Vì vậy mà cổ tên là đòn đông"’

Người ta kiêng cây đòn đông của nhà phía trước đàm vào chính nhà

mình, sợ người trong nhà sinh ra đau ốm hay làm ãn không ra gì.

Bàn thờ ông Táo cũng đặt ở gian trái, nên bài vị của ông mới đế là Dôui’ Trù tư mệnh Táo plìii Thần quân. Cả cái bếp làm biệt lập khỏi nhà, cũng đặt về phía trái ấy, lức phía đông mới kể là thuận.

B(Vi lẽ gió Nam và Đòng Nam thổi tới thì có vách bếp ngăn. Nếu đặt bêp ở bên phái quay mặt về hướng Đông thì gió vào nhà tạt ngược lại sẽ làm cho lứa rom cháy bùng vổ sau bếp hết. Coìĩi sẽ không lành mà canh sẽ không ngọt, mà rất dễ cháy cá bếp. Đó là kết quá của kinh nghiệm vạy. Ngoài ra khi tính ngcày cất nóc, theo nghiên cứu của Nguyễn Bạt Tuy, người chủ cần phải xem tuổi mình, tránh ngày sát, ngày cấm, và nhất là phái chú trọng vào sự lựa chọn một trong 12 trực sau đày: Kiến, trữ. mã, hình, dinh, chííp, phú, níỊuv, thành, thu, khai vù hể.

Nếu căn cứ vào chiều dài của trêng ở mỗi kiểu nhà mà cộng sô

thước với số phân la dã có:

Nhà ba hai: 3 + 2 = 5. ứng với trực thứ năm là dinh. Nhà ba bảy: 3 + 7 = 10, ké’ 10 là 1 nên ứng vói trực dầu là kiến. Nhcà bốn hai: 4 + 2 = 6, ứng với trực thứ 6 là chấp. Nếu căn cứ vào chiều cao của cột nhất mà cũng làm như thế thì kết quả cũng không khác, vì người ta đã tính sẩn cho các con số ăn hợp với nhau.

Nhà tám sáu; 8 + 6 = 14 kể 10 là 1 với 4 là 5, cũng cùng một trực

dịnlỉ như tính theo lối kia của nhà ba hai.

Nhà chín mốt: 9 + 1 = 10 kê là 1. cũng cùng một trực kiíấì như tính

theo lối nhà ba bảy.

Nhà có cột cao 10 thước 5 không thấy có tên theo cột, có lẽ một phấn vì cái tên mười lăm hay mười năm nghe không hay chăng, nhưng chắc chắn là vì một tên bốn hai người ta thấy cũng đủ rồi, nhất là loại này hiếm hơn cả. 10 + 5 = 15, kể 10 là 1 với 5 là 6, cũng cùng một chấp với lối tính nhà bốn hai.

" Cũng gọi là đòn nóc. và có nơi gọi chệch là đòn đông. 166

Trực nào ứng với imày nào thì cứ xem lịch là rõ.'" Đốn số lượng nhũng đòn tay cũng phải định số sao tránh được hai

điều tệ nhất là bệnh và tử trong tứ khổ: sinh, lão, bệnh, tử.

Thí dụ nhà hai mái. mỗi mái có 6 đòn tay, thêm đòn nóc thành 13. Người la cứ đêÌTi dán: sinh lão bệnh tử ... sinh lão bệnh tử, ba lần là đủ ra đòn lay, đến đòn tay thứ 13 vừa gặp chữ sinh, là tốt. Còn nhà hai mái, mỗi mái có 7 dòn tay. thêm đòn nóc thành 15. Người ta cũng đếm dần như thế: đến dòn thứ 15, vừa gặp chữ hệnh là không tốt.

Tất cả quan niệm ấy trong việc kiến trúc nhà ở không rõ người Tàu có không và thời kỳ đầu này của lịch sử đĩi có chưa? chúng ta ghi lại để rồi sau sẽ nghiên cứu'"'. Điểu căn bản cần biết là cái nhà tre đã C(5 trước, để nhà gồ bắt chước theo, ca khi làm nhà gạch, cũng có những gian nhỏ hẹp với cột rất nhiều.

'"Nguyễn Bạt Tuỵ ghi nhận là có những trực nhất định phải tránh mà kinh nghiệm nhiều đời đã ghi lại trong mấy câu sau:

Mần chim thì ti ực phá, mần cá Ihì trực nguy Trực bình trực định làm chi Lại đcm trực phá nguv làm nhà

Theo nội dung liên quan dến chữ nhà cửa của Trung Hoa, la thấy:

Tộ là bậc thềm phía Đông, chỗ tiếp khách. Đòng sàng là giường phía Đông cho con rê coi là khách. Yếu là góc Đông Nam trong nhà Aơ là góc Tây Nam trong nhà.

Chũ’ Ao chiết tir ra, có miên là mái nhà, hiện là phân biệt, củng là hai lay: khi vào ntíi góc Tây Nam, chỏ tỏi nhất trong nhà phái dùng tay sờ mó mà phân biệt vật này vậi nọ.

Cho nén có những thành ngữ: Tàng nhục ư áo nội là câì thịt nơi kín dáo tối tăm ở phòng tay nam trong nhà. Kinh đuòiig nhập áo là di ngang qua chính đưcmg thì vào góc tây nam sâu tối. Tiéu lan chi áo phòng là buồng sáu kín có mùi hồ liêu và hương hoa lan. Đoan toạ ư áo thất là người con gái ngồi doan trang trong phòng kín. Vậy, nhà cúa người Trung Hoa ngày xưa có lẽ quay mặt hướng đông, chỗ tiếp khách cũng ở noi bậc thềm phía Đông và góc kô giường cho con rể là khách đông sàng cũng ở dấy. Chủ nhà thì ở những nơi áo và yếu, tức là góc Tây Nam và Đông Nam. Mà con gái chưa chồng thì (V áo, nơi sâu lối nhất phía Tây Nam, cũng là nơi dùng làm kho chứa lương thực.

Còn nhà của người Lạc Việt quay mặt hưcíng Nam, bếp ở phía Đông, con cái ở

chái phía Đông và Tây, cót lúa cũng ở trái phía Đông, liếp khách ở thềm phía Nam.

Ọuả có khác hán nhau.

167

c h ư ơ n í; V

THẾ GIÓI THẦN BÍ

K ) M lAỉỢC

Linh hổn

Neười Lạc Việi tin cỏ 3 hồn 7 vía (nếu là đàn ông) và 9 vía (nếu là đàn bà). Phái chăng đó Là ba nguvcn lò vô hình: tinh. khí. thần, nó làm cho mỗi bộ |')hộn và toàn thân người có sự sống, rồi đồng quv thành cái phần vô hình căn ban trong người là linh hồn'.’ Ba nguycn tố ấy cùng tác động vào việc làm huy động những liềm năng nó khiến linh hoạt những quan nãng chính trong thân ngưừi. Và những liềm năng này là phách hay vía'?

Thế giới thẩn bí

Ọuan niộm của xã hội cổ Trung Hoa được người Bách Việt đem đến Vãn Lang với nét dại cương phán ánh thế giới thực tại cúa vua thiên tứ 0 trung ưoìig có các vua chu' hấu là các tiên và linh quân hằng năm về Iriồu bái dàng cống phám và duực Tây Vương Vlfiu đãi tiộc. Các tiên dều bíít tử, khỏng nhận sắc phơng của Ngọc Hơàng Thưoìig Đế và khòng có một công tác gì nhất dinh ca. Chi có Ihấn cớ cổng tác làm mây, mưa. gió. brio, lửa. bệnh tật v.v... Ngơài ra ở tầng dưới lại có là mà yêu quv làm hại người lành.

Người Lạc Việt qưan niệm gian dị thế giới thần bí ấy đi phần Iicào dê việc thờ củng mang tính cách dịa phương của những đạo tam phú, tứ phủ. Các thán và các tiên ít h(rn Trung Hoa nhưng có những nét không phai Trung Hoa. c ả những pham vật dâng cúng, nhũìig nghi thức thờ cúng và nhiéu tin tưởng thán hí cũng giữ những đặc tính riêng của dịa phương. Nhất là việc tin rằng cha mẹ có thê de’ dược phúc đức lại cho con cháu hưởng những may mán trên dời. Đổ là cái gốc của nhân sinh quan lưu ám. là quan niệm dặc biệt cúa người Lạc Việt.

169

Cứ xem cái nhà ở với nơi tôn nghiêm nhất dể thờ gia tiên, người la ắt nhận ra quan niệm cưa người Lạc Việt về linh hồn và thế giới vồ hình thần bí.

l ì n h h o n

Naười ta tự nhận xét khi chết ngất đi rồi sốna lại, hay khi ngủ mà mê thấy cánh. vật. naưừi. làm ãn. trò chuyện như lúc thức trông thấy, lại có khi thày cá nhũnc naười đã chết nôn naưòi ta tin rằng có phần nào trong thc xác cùa mình đã thoát ra đế làm nhữna việc âv. Phần thoát ra khỏi xác như vậy là cái hồn naưừi. Hồn làm cho xác thân có sự sốns. Khi hồn bay đi mất không trở vé thì xác không cựa quậy được nữa và chốt hán.

Naười mới chếl để hoạ chãna cổ sốna lại, ngrrời con trai lớn lây áo lót của nsLiời chết treo lên ncíc nhà căna ra hú hồn vía của naưừi ấy ba tiêna. rối cuộc áo lại leo xuốna đê cạnh xác chốt. Đứa trỏ lé sinh hoáng sự, naười ta cũng cho là nó lạc mất một phần hồn vía, đê hàm việc hú vía cho nó. rồi nám báy nắm cơm (nếu là trai) hay chín nắm (nếu là gái) đô cho nó ăn thì nó sẽ trở lại trạng thái bình thường. Ngirời ta sợ hay lo, đờ đán người ra. lúc tinh lúc mè thì gọi là như người mất hồn mất vía. Người thoát được một tai nạn hiếm nghèo thì nói: hú vía hay SỌ' hết cả hồn! Nguừi chốt rồi con cháu thưong nhớ th'i nhừ cò hồn tìm gọi về cho nhập vào xác cô đê nói chuyện. Cũng có khi người la nhờ thầy pháp đánh đồng thiếp đê hồn thoát ra đi lìm hổn người chết.

Tất ca những người cổ xua ở tất ca mọi xã hội cổ xưa đcu tin ngrrời cổ linh hồn. Những không minh định được rõ rệt"’

Phần người Việt Nam cổ và người Trung Hoa thì cho ràng mỗi người có ba hổn và báy vía (nếu là đàn ông) hay chín vía (nếu là đàn bà): Tam lu)n thát phách hay cừu phách. Tại sao vậy?

Nhiều giống dán quan niệm linh hồn là một thc cua xác thân nhỏ trụ ở xác thân lớn. Nó cũng béo gầy lứn nhỏ tuỳ theo người. Đê rồi nó thoát ra khói thê xác, bủng lỗ miệng hay lỗ mũi. Tại đảo Célòbcs người la dế lưỡi câu ở lỗ mũi người bệnh, ớ lỗ rốn, ơ gan bàn chân dô nếu hồn muốn thoát ra thì sẽ bị mắc vào lưỡi câu và giữ lại. Khi ngáp người Ân Độ búng tách hai ngón tav dê ngăn cho hồn khói chạy ra. Còn dãn ó dao Marquiscs thì bịt kín mũi và miệng người sáp chết lại dổ ngăn cho hồn khỏi ra và kéo dài thêm giờ sống.

Người Ai Cập cho linh hổn là thần vật của từng cá nhân. Nó có hình y như người thực nhưng nhỏ hơn và có cánh dô bav liệng trên xác người sắp chết. Người Hébrcux cho hổn ở trong máu. Người Hy Lạp vẽ linh hồn trên những bình thờ người chết, bằng một hình vẽ nhỏ nét giống người chèl hay vẽ hình một con vật nhó như chim hay bưcVm. Tại các nhà thờ dạo ThiCm Chúa thời trung cổ, người ta chạm hình linh hổn hay vẽ hình ấy trcMi kính: dó là một hình người nhỏ khoá thân.

Theo tiếng La Tinh hay Hy Lạp. những danh từ dê chỉ linh hổn xưa dều có

nghla là gió và sinh khí.

170

Lươnc Đức Thiệp, trons sách Xã hội Việt Nam viết: "'Theo dị doan, dàn ÔIĨÍỊ có 7 phách (vía) hợp vói thất khiếu (7 lỗ) trong thân thể, dàn hà có 9 phách họp với cửu khiếu (9 lổ) trong níỊuửi. Đàn ông vù dàn hà dêu có ha hồn phụ thuộc vào tam tiêu. Đó là thượng tiêu (miệng dạ dầy), trung riêu (giữa dạ dầy), hạ tiêu (khoang trên hàng cptang)".

Nói như vậy dễ khiến neười ta hiểu lầm vía hay phách là những cái lỗ ấy và cũng vẫn chưa giai được rõ hồn là cái gì mà lại phụ vào tam tiêu ấy.

Theo nhận xét của chúng tôi, dựa nơi người khổ luyện theo đạo tu tiên truvcn tụng là luyện tinh hoá khí, luyện khí hoá thần, luyện thần thành hư, thì chúng tôi thấy người xưa đã có thể quan niệm phần vò hình của linh hồn cổ phát hiện ra ba nguyên tố vô hình là tinh, khí, thần và linh hồn có lẽ Icà tổng hợp của ba nguyên tố ấy.

Tinh là tinh anh nó giúp cho sự biết, sự cảm thấy, nó là thán thức của

sự sống. Khí là ìinh khí nó giúp tiềm năng có khí lực làm linh hoạt các bộ

phạn trong co' thê .

Thần là thổn thái nó nhuốm màu, nhuận sắc cho sự sống. Tất củ ba nguycn tố vô hình ấy dồng quy thành phần hình căn bản trong người là linh hồn, nó làm cho toàn thân và mỗi bộ phạn trong thân có sự sống. Riêng mỗi nguyên tố ấy kể là một hồn. Củ ba hồn không trụ riêng một nơi Iitào trong cơ thể mà thấm vào cơ thể và cùng tác dộng vào việc làm huv động những liềm năng nó khiến linh hoạt những quan năng cơ sở trong người. Những quan năng Itcày là bảy đối với đàn ông, thức giác (đầu óc), thị giác, xúc giác, vị giác, khứu giác, thính giác và dục giác; và chín dối với đàn bà có lẽ là thêm phần cấu tạo bào thai và phần cho con bú. Những tiềm năng kích dộng quan năng ấy là phách hay vía.

Có thể một, hai, hay tất cá quan năng đều liệt, tức là vía không làm hoạt nổi được nữa, nhưng nếu ba hồn vẫn còn thì người ấy vẫn chưa chết. Đó là trạng thái bị ngất di.

Có thế một hồn bị mất (thí dụ là tinh anh), người sắp chết chí không biết g'i nữa thì thôi nhưng mọi cơ quan vẫn hoạt động và trỏng thần thái vẫn là người sống.

Có the một hồn thứ hai nữa bị mất (là linh khí) thì toàn thân người trơ ra như khúc gỗ, không biết gì nữa nhưng trông thần thái vẫn có thể là người sống.

171

Bao giờ mất nốt cái thần thái thì mới thực là chết.

ớ trườnc hợp vì một cớ tzì khicn người ta lioảng sợ đến mất thần thái nhưng hai hồn kia vẫn còn, cho các cơ quan tronj> người vẫn linh hoạt thì sự linh hoạt ấy dần dán sẽ kéo thán thái trở về. Ây là sự hổi tỉnh.

Khi nưuời chết hán thì hồn phi phách tán, hồn bay di và phách lan ra. Phách hoà vào quan nãniỉ và cơ quan trong cơ thể mà tự tiêu huỷ hêt. Riêng hồn vẫn còn ở trong thế giới vô hình thần bí.

THẾ (ỈIỚ I TH ẨN BÍ

Quan niệm về thế giới thán bí vốn dã phát triển lừ sớm ở xã hội cổ d rung Hoa theo hình thức than thoại, dế lan xuống miền Nam cho người Bách Việt truyền cho người Lạc Việt, ớ những nét dại cương, thế giới thần bí da thần cũ đã phán ánh dứng thế giới thực lại, cứa vua thiên tử ở trung ương có các vua chư hầu là các liên ở các dộng phú xung quanh cùng các vì tinh tú, các tinh quân hằng năm về triều bái. dâng cống phẩm vật và dự tiệc bàn đào do Tây Vương Mẫu thốt. Các thần nhỏ khác mỗi thần một phận sự, chịu sắc phong của Ngọc Hoàng và tuân hành mọi còng việc mưa, gió, sâm. chớp, sáng lối... ớ trần gian, cũng như trừng phạt ke dữ. ân thưởng người lành cV trung giới và ở ca hạ giới, cùng cấp háo những nguy cơ nếu có về thiên dinh dể chờ lệnh. Các tiên là những vị bất tử lu ở các động phủ, và luyện các phép thuật, có hay không dạy các môn đồ, ngcày thường thánh th(Vi ngao du các núi non. thăm các bạn tiên, đánh cờ, uống rượu, rồi cớ việc gì bất cổng ở trần gian, đáng can thiệp thì can thiệp giúp. Các tiên ỏng thì theo hệ thống tinh thần của các vị chúa tiên đàn cĩng. Các tiên bà thì có vị chúa tiên đàn bà. Tất cả biệt lập không nhận sắc phong của Ngọc Hoàng Thượng Đế và không phải chịu trách nhiệm về một công tác gì ca.

Chi các thán là có công tác. Gốc của các thần ở thời hỗn mang hoặc là những tinh tứ xuống phàm, hoặc là những kỏ tu hành dang dở theo dịa tiôn, duy pháp luật cao cuờng nhưng thiếu lòng ihcành không dược trường sinh, hoặc là những thiên tiên nhưng vẫn không dập tát được lửa lòng, vẫn dấn thân vào vòng chinh chiến, nên tất cá bỏ mạng nơi sa trường, còn hổn thì về đài phong chờ Hỗn Ngươn giáo chủ Ngưỡn Thỉ ThiêiToon ban sắc chỉ phong chức cho di trị nhậm các nơi, khỏi phái chịu khổ luân hồi. nhưng vần thường xuyên phải lơ báo bổ giúp đời, có công sẽ thưởng và có tội sẽ phạt. Các thần ấy là; một vị coi tam sơn. 5 vị coi ngũ nhạc, 1 vị là Lôi Bộ chánh thần, 24 vị làm gió mưa. mây, chớp, 1 vị Hoá Đức chánh thần, 5 vị thuộc quyển hoa bộ, 1 vị làm chủ việc ôn hoàng, 6 vị giúp việc làm bệnh, 1 vị 172

I12Ổ Ì trấn phươne bắc coi 84 ngàn vì sao lớn nhỏ, 28 vị là nhị Ihập bál tú, 36 vị sao thiên caníi. 72 vị sao địa sát. 9 vị sao cửu diệu, 5 vị sao Ihuý linh. 4 vị cốim tào coi về năin thána ngày giờ. 5 vị giúp người lương thiện. 4 vị coi việc mưa gió thuận hoà, 1 vị coi vể cây trái, 2 vị coi việc nguời sinh thai, 1 vị coi nước triều và ấm lạnh hai mùa.

Tất cá các thần đéu có tên, có tiêu sử và có phép thuật cũ đế dùng vào

còng vụ.

Phần những vị tiên không bị chết trận thì dược trở vồ tu lại cho thành

chính qua.

Ngoài hai loại thán và tiên ấy, thế giới thần bí còn nhũng ma quỷ làm hại người lành, còn những âm hồn, những yêu linh gian ác. phai cầu cúng các thần tiên để xin trừ giúp và phải cổ các mòn dồ của thần tiên hay các thầy pháp làm giúp cho việc ấy.

Đối với người Lạc Việt, thố giới thần bí dược quan niệm giản dị di phần nào. coi như trôn nguyên lác lổ chức chung dã dĩ nhiên là thế. mà ớ dây chi là một dịa phương, nên việc thờ cúng cũng mang tính cách dịa phương, dể chỉ có dạơ Tam Phủ là thiên phú, địa phủ. thuỷ phủ, Vtà đạo Tứ Phủ là thêm nhạc phủ nữa.

Cớ những điểm khác với thế giới thần bí Trung Hoa, nếu có điều

kiện và cơ hội, cần nghiên cứu kỹ. Chẳng hạn như:

- Thần Tam So'n Ngũ Nhạc của Trung Hoa là dàn ổng, cha con Hoàng Phi Hổ và bạn kct nghĩa với Hoàng Phi Hổ mà ở Lạc Việt thì lại là dàn bà: bà chúa Thượng Ngàn.

- Thần coi về nước triều ở Đông Hái là đàn ống Thân Công Báo, mà

ở Lạc Việt thì lại là dàn bà: dức mẫu Thoai (thuỷ).

- Thần coi vé lửa của Trung Hoa là Hoa Đức Tinh Quân và .6 vị hoá bộ chánh thần đàn ông, còn ông Công ông Táo của Lạc Viẹt là hai ỏng một bà.

- Các vị tiên bất tứ cúa Trung Hoa. không vị nào trùng tôn với bôn vị bất tử của Lạc Việt: đức thánh Tán Vicn, Chử Đổng Tử, Phù Đổng Thiên Vương, Liễu Hạnh Công Chúa.

173

- Có những chuyộn dánh nhau mù trời đất ở Trung Hoa với những ma quái thi triển pháp thuật ghê rợn, nhưng ở Lạc Việt chí thấy người la lu một cách ôn nhu, ca ma quái trong chuyện thần kỳ về thcành cổ Loa cũng không có gì rùng rợn ca.

Ấy là đại khái nhữnc nét cá biệt cúa hai nền văn minh trong CÙIIÍI một phạm vi của thế iĩiới thán bí. Một đằng phức tạp, một đãna 2Ìan dị. Một đănc hống hách nạt nộ. một đằng bình thiin nhu hoà.

Nhiều sự kiện khác ớ phạm vi này có thế chắc chắn không phái lừ

Trung Hoa lới: 1- Đĩa trầu cau dâng cúng thần linh và vong linh người quá cố coi là

một vật phấm tôn quý không có thì không thê thành lỗ.

2 - Bánh dầy và bánh chưng dâng cúng tổ tiên trong dịp lêt ngụ ý

nói cõng on cha mẹ lứn như trời dáì.

3 - Bát com xoay, quá trứng và dỏi đũa bông dế dâng cúng người mới chết, một phám vật thuần iLiý tượng trưng; trứng là mầm sống, dặt trên bát cơm là vòng thái cực. với đỏi dũa là lưỡng nghi, thêm nhũng bùi nhùi là hỗn mang, cổ ý cầu clulc linh hồn người mới chết sớm đầu thai kicp khác.

Nhiêu tin tướng thần bí khác có thế giống nhau giữa Trung Hoa Vcà Lạc Việt, vốn tự nhiên phát xuất ở từng tập thể người mà không chác là chịu ánh hướng của nhau"' Chảng hạn như: - Việc tin rằng miệng có thần: máy mát ăn xôi, máy môi ăn thịt. Vcà người kco kiệt, có của không dám ăn, lúc hấp hối vật vã mãi không chết dược thì phải cúng khem nghĩa là cúng ông thần khẩu.

- Việc tin rằng ở hai vai mỗi người dều cỏ quỷ thần chứng giám cá

nhũng ý nghĩ thầm kín của người ta.

- Việc tin rằng lay vẽ khéo là tay có thần, mát nhìn tinh là mắt có

thần, vừa nhắc dến người mà người tới là lời thiêng lám.

- Việc tin rằng mỗi người có một ỏng thần hộ mạng dô tránh khỏi

những tai nạn khi khấn khứa lới duệ hiệu thì sc cám ứng được với thần.

Lại ihcm: - Sự tin rằng tuỳ người có căn sô phai thờ một vị thần nào. - Có người họp tuổi với bà cô ông mãnh (là những người chết trỏ)

hìc nào cũng theo de phù hộ cho.

- Có những bà mẹ chết oan. hồn lúc nào cũng quanh quất ở nhà de

bênh vực con thơ khỏi bị những dì ghỏ dộc ác hành hạ.

Ngưòi la không chịu iighicMi cứu kỹ nià vội gán cho nước nhỏ chịu hét ánh hướng cua nước lớn. Nếu có chịu ánli hường thì chi là những nghi thức bề ngoài trang trọng hctn, còn chân chất tin tưởng do kinh nghiệni nhiều dời ở dịa phưtrng diic kết thành, càng ngưừi cố xưa thuần phác lại càng giữ y truvcn thông.

174

- Có những đứa con chết rồi lại đầu thai trở về để lại chết mà làm hại cha mẹ vì một nsihiệp chướng nào lừ kiếp trước, đó là nhũng con ranh con lộn.

- Có những đứa con khó nuôi phái bán khoán vào cửa thánh. Tất cả những điều tin đại dế như vậy đã làm cho người ta sợ hãi. phải thiết lập bàn thờ ngay trong nhà đế thường xuyên nhờ cậy thẩn linh huyền bí che chở hoặc cầu xin giùm cho. Những vị thần linh biết rõ nhất, gần gũi nhâì mà chác chán sẽ thương con cháu nhất là vong linh các cụ tổ liên cha mẹ. Cho nên nhà nào cũng đã có bàn thờ tổ tiên cho con cháu tỏ lòng hiếu kính và thực dụng hơn là cho cơn cháu tiện dấy cầu xin thương xót che chở, cùng run rúi chơ gặp diều may mán.

Đổ là dặc diêm của nền văn minh Lạc Việt có ảnh hưởng lớn đến phơng hoá. Không phai dợi văn minh Trung Hoa cùng dạo Khổng tới về sau này. người Lạc Việt mới biết thờ kính cha mẹ tổ tiên’"

ANH H ƯƠ N(; ĐẾN P H ()N (; HOÁ

Điều dáng ghi nhớ là sang dời Thục thì có thê đĩi có nhũng nho sĩ Trung Hoa bị Tần lùng bát mới lần đến ấn náu trên đất nước ta rồi đem chĩr Nho ấy dạy ngirời bán xứ. Nhưng chỉ có một số phần tử ưu tú học dược. Còn CỊLuing dại qưần chúng dcã không biết chữ cũng như không biết lời dạv nào cứa các thánh hiền Trung Hoa.

Quảng dại quần chúng có bcàn thừ gia liên trong nhà. Khi tin rằng hồn vía cha mẹ ông bà có khôn thiêng che chở con cháu, quáng dại quần chúng ấy CLing tin rằng ông bà cha mẹ cổ ăn ở hién lành phúc hậu thì con cháu mới dirợc hưởng những điểu may mắn trên đời. Vtà đòi trước có dáp nấm, dời sau mới ẩm mồ. Việc gian ngoan quỷ quyệt, lường thưng tráo dấu. dáo diêm, làn ác... neu dời này cúa mình thì tránh dược những diéu không hay thì dời sau tất con cháu mình phải gánh chịu.

Mồi tin tướng ấy là gốc của nhân sinh quan lưu ấm của người Lạc Việt. Nổ khuôn cuộc sống của mọi người (nhất là quảng dại quán chúng

Đời Thục ớ bên Tàu. Tần Thiiý Hoàng đốt sách và íziốt nho sĩ. Sang dòi Triệu cùa la. Hán Lưu Bans dã IVmh dịnh dược toàn cõi Trung Hoa và ch(i phục hổi cái học cổ iruvén cùnư sức cho ai còn nhớ lòi sách lliì chép lại. Như vậy. sách cua họ Khổng chưa hổ có dịp nào dược dcMn dến Lạc Việt tliì ớ Lạc Việt dcã có cái nhà Irc, dã có chỏ thờ gia ticn, và sự thờ kính dã trử thành một nCm ncp Ironư c;l hệ thống thê giới \ô hình thần bí.

175

khôii2 biết chữ) vào trong vòng lễ giáo mà chính mọi người ấy không biết và cũng không có cả chữ đế chi sự lồ giáo ấy'"

Vậy người Lạc Việt khi đơn độc, làm điéu bậv bạ hay nghĩ điéu bậy có thế không ai biết, nhưng cổ qiiv thần hai vai chứng giám; còn trong nhà thì cổ bàn thờ gia tiên và hổn thiêng của các cụ tổ thường xuyên giám sát tư cách của con người; và khi ra khỏi nhà lại có lình thân của họ hàng cùng dư luận của mọi người thân cũng như sư, nó uốn năn tư cách vào vòng dạo lý. Đó là không kể những lục. những lệ từ lâu dời dã lạo cho nguừi ta nhũng thói quen, những thị hiếu dể cuộc sống có vỏ dẹp. tức là có văn hiến.

Ngay ở Trung Hoa lục dịa dân chúng Trung Hoa cũng ihố. Khổng Tử dã ch) làm việc tổng hợp và hệ ihông hoá những ur cách sống theo dạo lý dã có sán cứa nhãn dân nên chi'nh mình dã chi nhận là làm việc “thuật nhi bất tiíc". Chi những mòn đổ ngu dại hay những ke không xứng dáng nhưng tự nhận là mồn dỏ họ Khống mói cho rằng nhờ Khống giáo thì người Lạc Việt và sau này người Viẹt Nam mới biêt diều lẻ nghĩa và ăn ở theo dạo lý.

1 7 6

PHẦN T H Ứ HAI THÒI KỲ TRỰC TRị Từ I U tr. CN tói 265 s. CN

Cũng trong thời đại Bác Thuộc này, thời trực trị kế từ năm 111 ir. CN (năm vua Hán Vũ Đế sai quân sang đánh nhà Triệu, chiếm đất Nam Việt rồi cải hàm Giao Chỉ bộ và chia ra 9 quận để cai trị) cho tới năm 265 s. CN (nhcà Tấn đặt quân đội chiếm đóng và cai trị theo chế độ hà khắc quân nhân).

(Quảng Đỏntỉ)

(Quủng Đông)

(đáo Hai Nam) (điio Hải Nam)

Toàn ca 9 quận ây là: 1- Nam Hải 2- Thương Ngổ (Quang Tây) 3- Uất Làm (Quang Tây) 4- Hợp Phố 5- Giao Chỉ 6- Cửu Chân (Bác Bộ và mấy tỉnh ở Bắc Trung Bộ) 7- Nhật Nam 8- Châu Nhai 9- Đạm Nhĩ Phán Lạc Việt của la (có ba quận) đã như cái đuôi, trước bị Thục đeo theo vào vòng phụ dung của Tần, nay lại bị đeo theo đất Nam Việt của Triệu vào vòng Bác thuộc.

Các vùng đất ở châu quận kia, sau đó dính liền vào bán dồ Trung Hoa, dến cá dân chúng cũng trư thành người Trung Hoa hết. Duy có Lạc Việt ta tách khói và vẫn là một dân lộc riêng.

Ta c;‘ìn hiếu rõ lự dàu có những may mắn lạ dời ấy, khi biết rằng năng lực dồng hoá của Hán lộc là rất kinh khủng. Các nước như Mãn. Mỏng. Hồi. Tạng xâm lăng nó, mà bao nhiêu người vào còn bị nó hoá hốt di thành nó bấy nhiêư. Huống hồ ta bị nó xâm lăng và dưới quyền cai trị trực tiếp của nó.

177

Những may mán lạ dời ấy, dã dẫn ở quyển I: Văn minh Văn Lang à phần thứ 1 của quyển II này, là ta dã thành hẩn một dân tộc có nền nếp va

sốne ricní: vé vật chất, linh thần, lình cám. tâm linh, lại đirợc một thòi kv hơn hai trăm năm quen sự sỏno cliune với người Truim Hơa và biết rõ tính tình CLinư chỗ sở trườim sở đoan của họ. Sự sốns chunc liìc đầu đã khiến sau này những nsười Trung Hoa đốn với tư cách nưo’ng nhờ, mà sống hoà đổng với dân địa phương. Bao nhiêu căn cốt chính của dán tộc (tiếng nói. tín ngưỡng, thị hiếu, lề thói ăn ở), ta vẫn giữ dirợc nguyên vẹn. Còn hao nhiêu ảnh hướng mới dã chỉ là những lớp sơn tráng ở ngoài.

178

Chúng ta xem tiép ứ dãy những biên cô chính trị cùng những phan ứng của truyền thống, cá những phần lợi hại của làng, một sán phấm kỳ dặc của văn minh Lạc Việt trong dời sông xã hội và những chuyến hướng tôn giáo cũng như những xâv dựng tinh thần văn hoá, nổ cho phép dân tộc chịu dựng mọi thử thách, càng khó khăn, càng dau thương, lại càng tỏi rèn thêm linh thần tự cường tự lập, dê chừ ngày Ihơát khỏi vòng dô hộ năm 9.18.

CHirơNG I

SINH HOẠT CHÍNH TRị

TÓM LƯỢC

Chứ trươna của Hán triều: bỏ chế độ chư háu, chiếm đất và đ(it quan cai trị. Hán Vũ Đế chiêm Nam Việt cúa họ Triệu vì nhũìis tài nưuyên thiên nhiên quý iiiá ở Giao Châu.

Chính sách cai trị là vẫn để các hcànc quý tộc cũ cúa bán xứ làm truna íỉian nhưns ctặt các quan thái thú cai trị, với một quan Đô L i ý chí huy một quân sô đê ưiũ' trật lự an ninh ở các quận huyện. Dân chúng theo tổ chức ấy chia thành nông dân và thị dân nhưne

Những tội nhân Trung Quốc

cũmz khỏnc hru ý dến nhữnu hiến cô chính trị đê tham dự sì hết.

Quý tộc bản xứ

Bị lưu đầy tới vùns Giao Châu, nhữns tội nhân này dã sống lần với dán, dạy ciũr và nghĩa lý các sách thánh hién dổng thời truyền cho dân một linh thần chòng Hán.

Các quan lại của triều Hán

Đã khỏns một chút sì siống với quý tộc phong kiến ớ Truns Hoa hay ớ các nước Tây Âu. lừ lúc siới người này nươns dựa vào nhũìig tay anh hùns háo hán tranh chiếm dấl đai mưu đồ dế nghiệp, rồi được phong chức Vcà cat dàl cho làm cúa tư hữu, ctén lúc lại liên miên đi dánh nhau mở rộns thêm dâì đai. cùns bóc lột ức hiếp dân ở dưới quyền cai trị của họ. Quý tộc ban xứ khôns hề có mâu thuẫn quyền lợi với dân chúng ban xứ.

Nhờ có quan lại trên ớ iricu dinh che chở, các thái lluì di trị nhậm cõi nsoài dã tha hồ vo’ vét.

Bicn cố Vưưns Mãns ỏ’ Truns Hoa hãm thái thú Tích Quang ở Giao Chí vào thế di hàng hai. Đcứi kìc Hán Quans Võ lật được Vưưns Mãns thì

179

Hai Bà Trưng

ihay đổi các thái thú cũ nên sây ra mối bất bình của các tay chán bộ hạ thái thú cũ. Đó là nouyèn cớ chính khiên Tô Định khônỵ hiếu rõ dân lình nén vụnsỉ dại làm nhiều điều làn ác.

Nhờ bọn lại thuộc nsầm íỊÌúp Vcà dể mặc quý tộc ban xứ huy dộna nhân dân khăp nơi hướng ứng, Hai Bà Trưng chí một trận dã duổi dược Tô Định về Tàu rồi làm vua.

Mã Viện

Nhưng sau Mã Viện đem quân sang dánh thì quân lực của Hai Bà không dương cự dược vì bị cô lập mà cũng vì bợn lại thuộc quá sợ Mã Viện nên trớ cừ khỏng chơ các quý lộc bủn xứ huy dộng nhân dân dê cứu ứng Hai Bà nữa.

Dầu với lực luợng quán sự chênh lệch. Mã Viện cũng phái mât gần một năm mới dẹp xơng dược tàn quân cua Hai Bà. Hắn tức bực lùng bát giêt hêt quv tộc ờ làng, tước dơạt hết trống đồng về đúc con ngựa kicu dể chơi, cùng dúc cái cột dồng đề chữ Đồiu> trụ chiết, Giao Chỉ diệt dể nhục mạ cá dòng giống Lạc Việt.

Chủ trương và dường lối chính trị cúa nhà Hán (206 tr. CN) là bỏ chê dộ chư hầu thiết lập từ những dời Hạ. Thương. Chu về trước, trong đ(S các nước chư hđu ở xa. nhiéư khi giấu và mạnh hơn nước của Thiên tử ớ trung ương dê dẻ sinh hiến. Bằng chứng lìi chính trường hợp cứa Hán Caơ Tổ Lưu Bang.

Kẻ mờ lới chơ Hán chủ trương như vậy là Tán. Kẻ ngư lại de chơ Lun Bang mọc thêm vây cánh là sở. Chơ nên Hán rất tha thiết tước quyổn của chư hầu ớ địa phương dè lăng quyổn Thiên tử ở trung ương thành một thực quyền. Biết baơ những hãn mĩi công thần như Hàn Tín. Anh Bố, Bành Việt ớ Trung Hoa còn dấn dấn bị Hán Đế tìm cớ mà trừ di. Sá gì một họ Triệu ứ vùng Nam Việt mà cứ dòi khư khư giữ chế dợ chư hầu cũ.

Ngay hồi dầu vì còn bận lổ chức lại nền hành chính ở chính quốc Trung Hoa, và tiếp sau Là Cao Tơ băng hà, Lữ Hậu chuyên quyền, gây những biến cỏ trọng dại trong triều nên chính sách cúa Hán tạm mềm dỏơ dể khuyên dụ Triệu Đà tự ý nội thuộc. Nhưng chương trình và kế hoạch thôn tính th'i dcã có sán.

180

B() Kììânì Dinh Việt .S/?(ticn biên, quyền 2, từ 17b. 18b) dẫn một dơạn rủn Chí như sau: 'Troiìíi í/A/ Hán Thnận Đ ế (vào năni ỉ dô tr.CN) thái thú Giao Chỉ là Clìii Xitơníỉ.xin dặt Giao Chỉ làm Giao Chán. Triền dinh nhà Hán bàn hiận rồi khỏnịị cho, phomị Chu Xifo’ní> lùm thứsứGiao Chi".

Giao Chí là đíú ciia Triệu, có liên can 2Ì đến nhà Hán mà triều đình nhà Hán lo đặt tên và cử noười cai trị? Thật đã rõ ràns là 25 nám trước khi xáy ra cuộc xâm Iăii2 nãm 1 11 tr. CN. từ 136 tr. CN. Hán triều đã đặt quan lại 2Ìám sát Giao Chí rồi. mặc Triệu Đà vẫn còn làm vua (207-135) dến năm sau mới chết. Va lại xét cho cùng, dù Ổn2 còn Sốn2 cũn2 khòn2 sao cu'ữn2 lại dược một n2ười như Hán Vũ Đế.

HÁN v ĩ ỉ ĐỂ

Hán Vũ Đế (152-98 tr. CN) là một vị vua hùng tài, nhiều thao lược và oanh liệt nhất dời Hán. dã một tay mở rộn2 ban dồ Trung Ọuốc đến chưa 111112 bao 2ÌỜ lớn như vậy.

Nào chiếm dấl Huii2 Nô. lấy dất Hà Nam đặt làm quận Sóc Phương. Nào sai sứ chiêu dụ dâì Đại Nhục Chi (nay là Trung Á thuộc N2a), dất An Tức (nay là Ba Tư), đâì Thân Độc (nay là Ân Độ). Nào là chiếm dất Dạ Laii2 của Tây Di (tức miền Đôn2 Nam Tứ Xuyên, Tày Bác Quý Châu và phía Tây tỉnh Tứ Xuyên nqày nay). Nào sai Lộ Bác Đức hình Narn Việt của nhà Triệu đặt làm 9 quận (nước ta Vcà Lưỡii2 Ọuan2 Ii2ày nay). Nào bình rự Tây Nam Di dặt làm 5 quận (nay thuộc Tứ Xuyên. Quý Châu, Cam Túc). Nào bình Đôn2 Việt (tức Vân Nam Ii2ày nay) hình Lâu Lang (phía Đôn2 huyện Yên Kỳ tỉnh Tân Cươn2 Ii2ày nay) và diệt Triéu Tiên dặt làm 4 quận.

Khâm Dinh Việt SửThôìií> Giám CiùmiỊ Mục nói về cuộc tiến quân vũ bão của Hán dể xâm lãng Việt Nam như sau; ‘V/ư/ Hán rư lệnh cho 5 dạo c/iiân ào ạt tiến vào Nam Viộỉ, Plnic Ba tifớiu> qiiân Lộ Rúc Đức thì xuất (/nan từ Ọnế Dưo'níỊ tiến theo sởní> Niết. Lâu thnvân tiámiỊ quân Dươmị Bộc thì từ Dự Chưoníỉ tiến xnốm> Hoàiìíỉ Phố. Qiia thiiYcn tướmị quân''' Trịnh NíỊhiêm thì từ Linh LưníỊ tiến theo sôm> Lý Tlìiiỷ, Hạ Lại titứm’ quân Di en Giúp di khói Linh Laiìí> thì tiến xuống Thương Ngỏ, Tri Nghĩa Hầu là Q uế thì dan quân từ Dạ Lang dến Tường Kha. Tất cd hẹn gặp nhau d Phiên Ngung". Như vậy là một cuộc liến binh dại quy mô dể chỉ một trận là giải

quyết chiến trường. Phạm Văn Sơn trong Việt SừTân Biên chép;

“/Yứ/? quân hãm dư()'ng Tầm Thiệp thuộc Quàng Dông, phá hển dá cua Lữ Gia, cướp dược thuyền thóc của Nam Việt. Bác Dức dem tội nhún Ba Thục hon lOOO tiến sau, trong khi Dương Bộc vây kín mặt Dông Nam

Qua thuvền là loại thuyên có gài những lao mác ở dưới đáy cho địch quàn không

dưới dội ihuycn, cùng dục và làm cho dám dược.

thê lặn X L i ô n e Còn lâu thuyền là thuyền hai tầng, ngưcĩi ngồi bưi ỏ dưới, người chiến dấu ưtrên.

181

kinh dô Nơm Việt. Bác Đức tới hãm mật Tây Bắc. Mcív dạo qiiâii của ỉlạ Lại, qua thuyên và quán Dợ LaniỊ của Tri Nyhĩa Hầu chưa tới nơi mà Phiên Ní>uny dã thất thủ".

I ẠI SAO C Ấ N C H I Ế M N A M VIK'r.>

Xem trận đánh ấy thì biết rõ cái hùmz tài của Hán Vũ Đế. Xem cuộc vận động cho mẹ con Cù Thị tự ý xin nội thuộc, và nsìuừi được cử đi làm cuộc vận độns là thih nhân cũ cúa Cù Thị mới càmz thấy rõ mưu mẹo thâm hicm của triều Hán.

Ây chàng phải vì một ,sở thích dế quốc, muốn có cái liếng là thâu

gổm tất ca đất dai trong thiên hạ về một mối dưới quyền thống trị của

Thicn tricLi chính Icà vì nhũng tcài nguyên tài nguyên thiên nhiên ớ đây có

nhiều thứ quý giá.

Chiếm bằníỉ cá mưu mẹo quân lực và ca côim phu chờ đợi khá làu dài. ironíí khi dất dai cíia Truiiíỉ Hoa dã thực là quá lớn?

Vàng (với thành ngữ Quang Nguyên kim), từ xưa, Tần dã biết tiếng cho lirứng Đồ Thư và Sử Lộc dem quàn xuống chiếm. Ngà voi (với thành ngữ Giao Chí lượng) bao giờ cũng hấp dẫn ngưòi Trung Hoa.

Ngọc trai (Vùng Biên Sơn, Nghệ An nơi Mị Châu bị chém, cùng với nước giếng Trọng Thuỷ ở cổ Loa, sau này thường phải dâng cống về dú bộ như vậy).

Tổ yến (riêng nhũng hiuig yến ở hái đảo Giao CTii và Cửu Chân mới có). Trám hưưiig (chỉ vùng Nhật Nam mới cổ, chính dân Ân Độ cũng rãt ham chuộng).

C H ÍN H S Á C H C A I T R I

Qué ( vìing Cứu Chân có nhiéu). Hổi (Vùng thượng du Bác Bộ). Sừng tê giác (Vùng rừng núi Cửu Chân) v.v... Toàn là những món mà nhà vua và quý tộc Trung Hoa rất ưa chuộng. Nhũng mỏ sắt. chì, thiếc, dồng ... cũng quý nhưng không dáng ke. Ruộng dồng phì nhiêu so với đồng bàng Dương Tử cũng chảng nghĩa gì với họ. Mà những quả cây ngon ngọt (nhãn, vai, hồng. cam. bưới...) cũng chẳng phiii nguồn lợi lớn gì dối với họ.

Chính sách cai trị lúc dầu nhằm thu vét những thứ đã kổ. Còn thuế dinh, thuê diổn chảng dáng bao nhiêu, chi cần dủ nuôi guồng máv cai trị.

Hèing quý tộc cũ vẫn dược giữ địa vị và dặc quyền như ở dời Triệu cũ dê lấy thuế C Lia dân. Đó là vai trò trung gian dể cho quan lại Thiên

182

triéu chi cán bièì có họ, mọi việc đều cứ ớ họ, rồi họ sẽ về đốc Ihúc dân ra sao mặc họ. Họ được quyền thê tập như các quan Lang ngày nay.

( ì l ỔN(Ỉ M A Y C A I T R Ị

Nhưng dán dần cliính sách cai trị ấy nghiệt ngã hơn lên. Những tài nguyên thiên nhiên cũng dược thu vét mỗi ngày một nhiều hơn, vừa là công phám de nộp vào kho cho vua, vừa là những quà biếu các quan triều dè nhừ che chứ, vừa lại là của riêng cho các Thứ sử, Thái thú, nên không biết dến dâu là chừng hạn. Thcm những việc xây thành, đáp luỳ, đắp dường, dựng làu dài doanh trại cũng nay ra râì nhiều. Tất cả đều dập vào dâu dán. qua trung gian cúa các Lạc háu, Lạc tướng cũ. Chưa nổi dến Ihuc riêng khác cho các hàng quý tộc bản xứ ấy.

Mỗi quận có một quan Thái thú Vcà một viên quận thừa thay thê Thái thú khi nhiều việc. Chung quanh Thái thú có các Duyên sử chia ra các Tào là các phòng giấy. Mỗi Tào có một số Thư tá (thư kv) chuyên việc giây tờ bám báo. Cạnh Thái thú có một quan chức Đô uý chỉ huy một quân sô' dồn trú dè coi giữ trật lự. Còn trên Thái thú tì có quan Thứ sử. cứ tháng 8, bắt dầu di kinh lý cức huyện trong quận rồi dấu năm về Kinh trình bày mọi việc.

Mỗi quận như vậy có nhiồu huyện. Theo Hán ThưDịa L \ Chí thì: (ỉiao Chỉ: gồm 92.440 nhà. 746.217 người chia thành 10 huyện là; Liên Lâu, An Định, Câu Lâu. Mê Linh, Khu Lương. Bác Đại, Tây Vu. Long Diên. Giao Chỉ. Trị sở quận là ở thành Mè Linh nay là làng Hạ Lôi tinh Phúc Yên.

Cửu Chân: gồm 35.753 nhà, 166.013 người, chia thành 7 huyện: Tư Phố, Cư Phong, Đò Lung. Hàm Hoan, Võ Thiết, Cửu Chân. Trị sở quận có lõ là làng Đồng Sơn gần Hàm Rồng.

Nhật Nam: gồm 15.460 nhà, 69.485 người, chia thành 5 huyện là Chu Ngỏ. Ty Cảnh. Lộ Dung, Tày Quyển, Tượng Lâm. Trị sở quận có lẽ ớ Tây Quyổn, nơi sau này Lâm Âp dựng thành Khu Túc.

NỔN(Ỉ DÂN V À T H Ị DÂN

Mỗi huyện như vậy được dáp thành luỹ kiên cố, baơ gồm mẩy làng ở bên trong, nôn có lẽ vì vậy người ta gọi là thành ở đời Hai Bà Trưng. Đó là thành thị. iKíi tập trung sự buôn bán trong mỗi huyện, còn xung quanh là các làng của nông dân, có các hàng quý tộc cũ làm các ông làng dể cai trị.

Theo lơ chức hcành chính như vậy, dân chúng tự nhiên chia ra thành

183

nông dàn và thị dân.

Thị dân tụ lại ở trong huyện ly buôn bán và ở lần với người Trung Hoa nên tiến bộ hơn và lai giống cũng nhanh hơn. Nông dán thì vẫn âm thầm sống trong làng, nhưng phu phen tạp dịch và sưu thuế nhiều, thấy cực khố hơn thị dân.

NHITN(ỉ t ồ i n h â n T R lIN r , QUỐC

Tuy nhiên, cả nông dàn lẫn thị dân đều không biết gì ve nhũng biến cô chính trị xảy ra mà cũng không hề tham dự một phần nào cả. Họ chỉ biết theo lệnh của các ông làng bảo đâu làm dấy. Thời Triệu cĩing dã thế. Thời thuộc Hán này cũng lại thế.

Năm 231, Tiết Tông có tờ sớ dâng lên vua Ngỏ Hoàng Võ, kể việc

dời trước như sau:

Hiểu Vi7'’ tru Lữ Gia, khai Củìi quận, thiết Giao Chỉ thứ sử, tv TruiỉíỊ Quốc tội nhàn, tạp cu' kỲ í>ian, são sử học tlur, tổ' thôni> lễ hoá. (Vua Hiếu Vũ í>iết Lữ Gia, chia nước Việt lùm 9 quận, ílặt ra quan thứ sử quận Giao Chỉ. Từ dó nlìữníỊ tội nhân ỞTrunịị Quốc chạy sam>, à lẫn với dân Ịịian dạv học sử.sách và phổ thôn í> phony tục lề tìoá của Trung Quốc)

Những tội nhân bị dày đi xa lại biết chữ dế dạy học thì hắn không phai những bọn trộm cắp vô học, phạm khinh tội mà là những người phạm trọng tội, hoặc những nho sĩ bất đắc chí, chán ghét chiến tranh, bất mãn về chế độ và chống đối chính cỊuyền.

Họ bất mãn và chống đối Hán triều vì chế độ thuô và vì phải đi lính

liên miên.

Nguyền Đống Chi trong Việt Nam c ổ Văn Học s ử (tr.ỉ54) đã ghi: Đời Hán ban dầu thuếdiền chỉ thâu I phần 15 hoa lợi. Đến dời Văn Đ ế tha hết thuếruộniị hơn 10 năm. Vua Cảnh Đ ế thâu 1 phần ha mươi, sau theo dó lùm lệ. Đời Linh Đ ế giá thuếruộm> mỗi mcĩu 10 dồiìíỊ íỉọi lủ tiền tu cung. Ngoài ra lại còn khẩu phú vù canh phú; dân từ 15 dển 5Ố tuổi mối người mỗi năm phải nộp tiền 120 dồng, thuế ấv gọi lù khẩu tiền. Ngirờị dân 23 tuổi trà lổn mỗi năm cũm> phải X U I Ì Í ’ làm lính một thání> v à làm việc binh nhung ba ngàv. Không muốn lùm lính thì th ế 2000 dổmị, không binh nhung thì thế tiền 300, tiền ấy gọi lù canh phú.

Tức là Vua Hán V õ Đế. Các vua nhà Táy Hán đều dùng chữ Hiếu đê trước tên.

Dân chúng phải gánh chịu những thuê khoán như vậy đã thật quá nặng nề. Nhưng đến vụ tòng chinh de vua và các tướng đem đi đánh dẹp các nơi thì lại càng khổ cực hơn nữa.

184

Sách Dại Cươni’ Văn Học SứTrimii Quốc của Nguyễn Hiến Lê có đăng một bài thơ thác lời dân chúng than phiền về chuyện tòng quân năm 15 tuổi, đến năm 80 tuổi mới được về cố hương. Khi về tới gặp người Làng hỏi thăm; nhà tôi cớ còn ai khổng? Người làng trả lời nhà cụ ở trên đám má có cây lùng xum xuê kia bỏ hơang đã lâu. thỏ theơ lỗ chó chui mà vàơ đó*'? Bài thơ ấy dịch ra như sau đây:

Mười lăm íuôi tòiiíỊ chinh Tàm mươi mới dược vê Trên dirờiu’ i>ặp mịười lùní> - Nhà tôi có cỏn ai? - Xa .V í/ là nhà cụ Tìnuị trên mà xum xuê Thỏ theo lổ chó vào Trĩ trên nuO‘ni> xập xoè Níịoài sàn lúa dại mọc Trèn íỊÌcấUỊ cpiv dại xanh Giã í>ạo dể nấu cơm Hái rau dê nấu canh Cơm canh một lát chín Nào hiết nuyị ai ăn! Ra cửa nhìn phía Đôntị Lệ rỏ áo ướt dầm.

Với một ông vua như Hán Vũ Đế, đánh Đông dẹp Bắc suốt một dời người để mở rộng biên cương, đến khắp cả vùng Đông Á, dân đã phái di

185

(II Thập ngũ tòng quân chinh Bát thập thuv đắc quy Đạo phùng hương lý nhân - Gia trung hữu át thuỷ - Dao vọng thị quân gia Tùng hách trùng luy luy Thỏ tòng cấu dậu nhập T rĩ tòng lương thượng phi Trung đình sinh lữ các Tinh thượng sinh lữ quỳ Phanh cốc trì tác Phạm Thái quỳ trì tác canh Canh Phạm nhất thời thục Bâl tri di át thuỳ Xuất môn dông hướng vọng Lệ lạc chiêm ngã y.

lính như thê. Nliữnti ké sĩ nào mà khỏi bùi neùi thươno cám cho được. Nếu C(3 sự chốim đối và có nhữmỉ kỏ sĩ chống đối thì chi là việc dĩ nhiên mà thôi.

Nhừns ké sĩ ấy lại bị đày saiiíỉ Giao Chi. Trong khi sóiiíỉ lẫn với dàn và dạy dân chữ nahĩa, phong tục, họ còn dạy dàn thèm những niém uất hận chốim dối Hán triển. Ta ghi lại: ây là cuộc vận động chính trị dầu tiên Iroim nhân dân, tuy chi là sự chốiiíỉ dối tiêu cực. khônti có mục dích khuvnh dáo triều đinh, nhưne lại hốt sức quan trọng ở diêm bát dầu cây ý thức chính trị cho nhân dán, dê có thái dộ dối vói bọn quan lai nhà Hán.

g i ỉ ý r ổ c B,\N x ơ

Nhò ý thức nàv mà quý lộc ban xứ không dến nồi bị dân chúntỉ thù oán. Níurợc lại họ còn dược dân xót thươnt; là khác. Quý tộc bị hãm troim cánh trên de dưới búa. dã khôna theo quan lại cám quyền hà hicp dân, mà luôn luôn lìm cách che chư cho dân, cùng gia dối dối với bọn cầm quyền. Vì vậy, các lài liệu cổ của Trunu Hoa dổu cho dân Lạc Việt Icà xáo trá.

Chíins ta crinr; nên nói rõ thêm về vai trò quý tộc này dê khỏi có

nhữno imộ nhận khi imhién cứu lịch sứ.

Quv lộc phon^ kiến của Trung Hoa hay các nước Tây Âu là nhữns tay vũ dũnc, hồi chưa

Phong kiến Trung Hoa cũng như (V các nưóc Tây Âu là nhữns ke có chú quyền trên loàn cá khu đất được thiên tử phonc cho, để lấy thuế, dể muôn cho dân ở, sốim trên dẩt ấy thì dược ở, dược sống, mà muốn duổi di, muôn giết, muốn chiếm đoạt cá vự con của dân thì dân cũno phái chịu. Giữa phonỉỉ kiến và dân chiiim có nhữn« mâu thuẫn quyền lợi và khôna có tinh thàn nào cá.

Quý tộc Lạc Việt thì khác hán. Quý tộc Lạc Việt không do chiên tranh và cồng lao vào sinh ra tử dè tranh chiếm dâì dai cho vua và cho mình dể trở thành quý tộc. Mcà chính do cái công dẫn dát dân khai phá đất dai. chỉ báo cho dân Icàm ãn, rồi thay mặt dân để làm quý tộc một cách thực tế, chưa cần phái sắc phong và cổ vua nhìn nhận gì hêt. Quý tộc cũng làm ruộng, trồng trọt vất vá như dân. có dược hường thêm thuế hoa

186

lợi như nhĩmư quà biếu thì cũníỉ khôiiíỉ phái một sự bóc lột dân. Và giữa dãn vứi qiiý lộc sốntỊ troim cùng một lànsỉ. lại còn có liên hệ họ hàng xa gấn nữa.

Đối với chính qiiyén ở ngoài, quý lộc thay mặt dân đi giao thiệp, vì quyổn lợi chung của dân nhiều hơn là quyền lợi của riêng mình. Cho nôn giữa hai lớp người ấy dã không cỏ mâu thuẫn quyền lợi vật chất.

Đời vua Hùng dã có quy chê ây. Qua dời Thục vẫn giữ như thố. Đến

C Á C Q U A N LẠI CÌIA H Á N 1 R lỂ ll

dừi rriộư cũng lại thế, cho dến dầu dời Bác thuộc này.

Theo Việt Nam sử Lược của Trần Trọng Kim thì "^Qiian thứ'sứ trước íiân cả là nm((')i riiạch Dái dỏm’ phú trị ờ Loiìị’ Uxên. Có sách chép là phú trị tlìuớ â\’ dóm> ở Lũ mị Khê, thuộc phủ Thiiận Thành (Bắc Ninh) hâv g/V'/’

“7'ừ’ dt)’! Yiia Vũ Đ ế cho dến hết dời Tây Hán khóny thđv sử nói í>ì dếỉì dđt Giao Chỉ nữa. Mãi dèn núm Kỷ sửit (29) là năm Kiến Võ thứ 5 dời vna Qnaiìí’ Vũ nhà ĐóníỊ Hán thì mới thấy chép rằng thứ sứ Giao Chi tà Đặm> Nhượnịị sai sử vê cổng nhà Hán". Trần Trọng Kim giái thích tiếp; "Bới vì khi Viíomt Mãm’ cưóp níỊcn nhà Hán, bọn Đặng Nhượm>, Tích Qnang vù Đồ Mạc ớ Giao Chỉ íỊÌri' châu quận không chịu phục Vương Mãng. Đến khi vua Quang Vũ trung hưng lên, bọn Đậng Nhượng mới .sai sứ \'è tricu cõng".

Như Tuyên Đ ế (8.S-60 tr. CN) đã yếu kém đến nỗi bị rợ Hồ xâm lăng, không đú

binh lưứng chổng lại, phái đem vợ là Chiêu Quân đi cống Hồ để xin bãi binh.

187

Việc này gây chơ người học sứ nhiều thác mắc. Vũ Đê băng hà nãm 98 tr. CN. Cho dù Vương Mãng tiếm vị khiên các thứ sử, thái thú Giao Chí không phục và không chịu dâng cống vật về thì việc ấy cũng chi có thê xáy ra từ năm Vương Mãng liếm vị là năm thứ 8 s. CN. Còn vé trước, lừ năm -98 dến năm 8 là 106 năm, không thấy sử chép gì dến dất Giao Chi cá. Hán không phai tại cổ Vương Mring. Giao Chỉ nhỏ nhoi quá, không dáng cho triều dinh quan lâm chăng? Không phái. Có lý nào một món thâu dã thành nền nếp 1.? năm, mà rồi người ta lại quên đi dễ dàng như thế. Đúng rằng các con cháu kế vị Vũ Đế dã chỉ là những hôn quân ngu muội, có thể chỉ biết ãn chơi"'. Nhưng các quan lại trong Iricu dối với các món thu ấy đã khổng khi nàơ chịu quèn cả. Họ nhớ và chắc chán là họ dã làm cái việc ăn chặn của vua nữa, dể ngoài thì che chở cho các thái thú cứ việc hàng năm gửi cống phẩm và thuế về, còn trong thì úp mở

cho vua khỏns nhớ biết một chuyện RÌ cả. sử không thấy chép, ấy là khổns thấy chép có gì vào kho lầm của vua. còn cống phẩm thì vẫn phải đều đều hàng nám gửi về đủ sô.

Có vậy thì những thứ sử, thái thú mới yên lành được. Và khi đã được những thượng quan của triều đình che chở cho như vậy. những quan lại ở ngoài biên tự nhiên tha hồ hoành hành vơ vét. Những quan lại ấy ở các châu quận, nếu phe nọ chống đối phe kia thì còn đỡ. nhưng nêu họ khống có mâu thuẫn với nhau thì dân càng khổ và quý tộc ban xứ còn khổ hơn.

Trơng vòng 100 nãm tr. CN. các thế hệ thái thú, thứ sử ít thì cũng vài chục người. Dân chúng đã khổng hề nhớ một ai cá, mà qua đầu kỷ nguyên dương lịch chi ghi ơn cớ Tích Quang và Nhâm Diên.

Tích Quang là thái thú Giao Chỉ từ dời vua Bình Vương nhà Tây Hán vào qUcãng năm thứ hai, thứ ba gì ở thế kỷ thứ nhất. Người ấy hết lòng cho việc khai hoá, dạy dân diều lỗ nghĩa nên dược dân kính phục.

Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân từ năm Kiến Võ nhà Đông Hán, tức là sau biến cố Vương Mãng (23 s. CN) đã chỉ dẫn thêm cho dân về kỹ thuật canh tác lại dem tục lệ cưới hỏi của Trung Quốc truyền bá trong nhân dân, cùng giúp đỡ nhân dân bằng cách bắt những lại thuộc góp lương bổng của mình cho những kẻ nghèo đói để cưới vợ lấy chồng'"

Ngoài hai người ấy thì loàn là tham quan lại trong guồng máy

hành chính.

Nhâm Diên ớ Cửu Chân được 4 nãin thì được thăng chức về Tàu làm quan chỗ khác. Dàn chúng ái mộ lạp đền thờ. Có người lấy tên Nhâm đặt cho tên con cái để ghi nhớ còng đức và tỏ lòng biết ơn.

Vương Mãng chiêm ngôi cứa vua Hiếu Bình đổi quốc hiệu là Tán, và làm một

cuộc cách mạng xã hội toàn diện, cùng bó hết aíc loại luật lệ của nhà Hán.

1- Không thu thuế ruộng như cũ mà thu hốt ruộng đất cùa tư nhân lại làm của nhà nưỏc. và thi hành phép tinh đicn không cho tư nhân mua bán ruộng đất. 2- Câm tư nhân không được dúc tiền như nhà Hán đã cho phép và cấm tích trữ các thứ tiền cho liền tệ cúa nhà nước có giá mà lưu thông trong loàn quốc. 3- Đặt ra chức quan ngũ quân đế bình giá hàng hoá mà giữ cho mức sinh hoạt

không cao vọt lén.

4- Lập lệ nhà nước bỏ vốn ra mua hàng hoá của tư nhân khi khống bán được,

dế bán lại cho người liéu thự.

5- Đặt ra chức quan tư thị dô dịnh giá thực phám, m ỗi năm bốn lần cho người

m i i

t i i r í T ì

' i

mua bán tuân theo.

6- Đặt chức quan Tuyên Phủ dề xuâì cỉia công cho dân nghèo vay nhẹ lãi.

^

188

Khi cổ biến cố Vương Mruig'"’. thì ở dây đúng là lúc Tích Quang làm thái thú. Vì nơi đây là biên viễn, dường sá hiểm trở, vả các quan lại

cũna chỉ toàn quan văn, dù có ai muốn mưu đồ việc lớn cũng không du '<ức nên trons klii chờ dợi thu xốp xong việc ở chính quốc. Vương Mãng tạm để nguyên trạng, như người quên đi chưa hỏi gì đến cả. Chứ đáu phái mấy viên quan thái thú dám tỏ ý gì không phục triều dinh ớ trung ương? Việc xáv ra ở Trung Hoa làm cho ở dây xôn xao và hồi hộp không biệt xử trí cách nào. Thái dộ phủi chăng hơn ca là dè dặt chờ dợi và trong khi chờ đợi thì dùng chính sách mềm déo dể láy lòng dân. Dù lúc ấv không có Tích Quang thì bất cứ một viên thái thú nào cũng thành Tích Quang vậy.

Tuy nhiên, nốu chê dộ Vương Mãng chỉ tồn lại chừng vài năm thì bọn thái thú ở đây có thổ không trở cờ là việc hữu lý. Nhưng chế độ ấy kéơ dcài lới 15 năm, thì dầu không có bằng chứng hiên nhiên của sự trở cờ, tất cũng cớ những tin tức nghi hoặc về thái dộ ấy. Cho nên vua Quang Vũ nhà Đông Hán thành công rồi lên ngôi dược 5 năm, mới thấy lũ thái thú ớ đây dưa cống phĩím về. không hán là chúng đã trung thành với nhà Hán mà bàt phục Vương Mãng. Vì vậy mà mấy nãm sau, tất cả dều bị thay, chơ Tô Định sang làm thái thú, mặc dầu dàn vẫn mến Tích Quang.

Tô Định hẳn là người thân tín của Hán Quang Vũ, nên mới được tới

trị nhậm vùng đất bờ xôi ruộng mật này.

Khi tới nơi, Tô Định gặp ca một guồng máy thư lại chân tay của các thái thú cũ đcã từng ãn chịu với nhau trên ba mươi nãm rồi. Không kể đám nhàn dàn, quý tộc kháp nơi, dã dược các lội nhân của Hán Vũ Đê' truyền tinh thần chống Hán vào trong mạch máu. Thêm sự vội vã vơ vét để có gì chứng tỏ với Hán Quang Vũ vổ sự mẫn cán của mình, Tỏ Định dã không saơ tránh khỏi những vụng dại trong chính sách cai trị.

7- Thu hết a íc nghồ khai mỏ, làm muối nấu rượu, đúc kim loại, cho vay v.v...

đe nhà nước kinh doanh.

8- M ớ nhà học M inh Đường. Tích Ung, Linh Đài và hàng vạn gian nhà cho

học sinh ờ.

Chính quycn với chính sách ấv chí lổn tại dược l.‘ĩ năm, (lèn năm 23 thì bị Lưu Tú là u')n thất nhà Hán lật dổ dê; thành lập nhà Đông Hán va Kn ng(')i vua. xưng là Hán Ọuang Vũ.

189

Guồng máy thư lại các cấp kê trên, không những không chí vạch cho thái thú mới những diéu hay diéu phái dể làm, lại có thể còn xui dại nữa, với trăm ngàn mánh khoe, đổ hcài lòng thái thú mới, nhưng chính là dồn hết tai tiếng lên dầu cho, thì dầu Tô Định không tàn ác cũng thành một lên thái thú vô cùng làn ác.

Việc hắn hạ sát 7’hi Sách'" làm cho Hai Bà Trims; nổi lên, và lập tức thành trì theo imay đế đuổi hăn chạy vồ Tìiu chi là một việc tất

co nhicn xay ra mà thôi.

HAI BA TRLINCỈ

Khôno thể hiểu một cách duy vật máy móc vé nghĩa cử của Hai Bà đcã chỉ do sự ctụng chạm dến quyền lợi quý tộc như Lương Đức Thiệp viết trong sách Xã Ììội Việt Nam:

"Vân minlì Trun^ Quốc cìược cliíiìli qu\'cn hảo hộ, thám nhập .xã hội Việt Nam npùy một thèm đậm mãi. Phoníị tạc c ổ .XIta của nyitủi Việt Nam (lan dần hích thê. Tiiv vê iu}i trị các c/iian lai Tàn VIUI Itiữ lìíịnyèn chế dộ phonị> kiến của dân hán .xứ. .Sony í>ặp lúc Trnny Qiùíc có loạn Vifo’ni> Mãng, nhiên (pian lai trnny thành với nhà Hán, dem yia (Ịiixến chạy irìni .saiỉíỊ dcĩl Giao Chỉ, yiíip qnan thái thú Tích Qnanq mó' trnửnq Hán hoe, dạx cách cày hứa và cúc lẻ n\ịhi cho dân bdn .xứ dê' lùm l(/i khi írnxèn há văn minh Tniny Qiuic cho có hiện qnd.

Bnối dần dẳny C ííp qnx t()c bàn .xứ (Lạc luỉn, Lạc tưó’nv,ì klưhií’ phdn dối nhữny cnoc cãi cách cíx vì qiixền l(/i thê tập của ho kh()m> bị phạm tới. Nhitny khi các qnan lại Tàn dinh can thiệp luhì vào qnxên nội tri của ho như (lịnh lựa chon npiaYi bdn .xứ, dể UỊip nưỳt lUịạclì qiian lại ha cáp và một d(}i quân thiCnuị trú, khiên số mtưíYi thoát /v hệ tlnniy phong kiến moí ìUịùx nựìt íhhìg, ho so' qitxẽn lực bị thán (loạt, bèn níỊíini nyầm clunig lại và chỉ d(fi co’ h()i (lẽ nổi loạn.

Năm Giáp N ìị() (34) vna Qnanv, Vã nhà Hán sai 7V3 Định líini Thái

thú qiuìn Giao Chỉ.

Chinh trị hà khắc ciìa ho Tô làm IKÌÌ I(')IU’ cùm phần cùa dân bdn .x ứ . Các tâm> 1(')'P (lên ninôn nổi biìny lên. Phái qnv t()c n n n h ì báo vệ (pixên tơi của mình dưo'c vẹn toàn. Dân yian bị áp bức miuhì vừng (lcỊx phá bó cá ách d() hộ líĩn ách phong kiến. Những thể tực chưa tàn cùa .xã h(ội ílỉị t()c nuhi hệ càng miưhì tr(h' dậx. Lừa loạn ấp ít moi tư/i dang ch(')' dê bùng clìáx.

Thi Sách họ Thi tên Sách hav lên là d lii nià khôiiii bicl họ, có bị gièt hay không,

irong sự kiện lịc li sứ Hai Bà Ti ung khới nghĩa chì ià một chi liêì không quan trọng

190

Giẽt Thi Sách, Tí) Định mong (l()n áp (lỉí'()'c ngax từ dầu mầm loạn do phái qnv t()c bdn .xứ gày nên, phái có lực nhất trong .xã h()i Việt Nam thíYi b(íy gi('f. Song sức (loàn kết cha phái qirv t()c hiến chiến và tranh giành nhan klìhmg thực hiện dit'o'c.

Như niỉọn lửa, trước khi tắt hẳn cồn hùinỉ lên một lần chót, nhữníỊ lực lưựmt damị tàn của rlìị tộc mẫn hệ Việt Nam vùní> (lậv (lể kết tinh troin> hai nitư()i (làn hù. hai lực lưo'iu> C ('»ì S(')t cha chế dộ mủn hệ dã imhàhnỊ lay (Um tận nổn tàn^: Trưny Trắc và Trưny Nhị. Hai hà tưn dậy, phíír cao ìUịon ( ()’ chích dàh ch()'ní> kẻ lUịoai .xâm. Đà dã ìììớ. Cá dân t()c hị áp hức ha theo. NíỊon lửa loan hhm> lên man như hão ch('fp.

Dánh dinh T() Dịnh ra khdi .xứ. hai he) tự.xiúiy xươtìít {40-43), (Uhnt

d() ở Mẽ LÀtĩh

Viết như Ihế là tác ưia cố ý khỏntỊ muốn hiếu 2Ì ve chế độ phong kiến Vcà t]uý tộc của Lạc Việt, coi cũng nhu' C|uý tộc của Trung Hoa hay các nirớc phưong Tây. Đây là một thí dụ cụ the nhất về việc mượn mát người ngoại quốc đê’ xem xét việc của nhà mình, một sự áp dụng máy móc nhãì cúa phưong pháp duy vật biên chứng dế bát sự việc phai liến theo cai khung biện chứng sẩn cổ ây.

Cứ theo lý luận ây thì văn minh Trung Quốc thàm nhập xã hội Việt Nam là một việc làm cho xã hội này tiên bộ. Đẳng cấp quv lộc ban xứ không phán dôi vì quyen lợi thê tập không bị phạm tới. Nhưng khi có ihcMii cai cách thì quv lộc sợ quyền lọi bị thâu doạt sẽ ngấm ngẩm chống lại v.v... Than ôi! Chi có IhicLi một diều hà sao tác gia chưa luận tội những ke dã dám hỗn với vãn minh Trung Hoa mà dám chống dối. (trong dó có Hai Bà Trưng) là nhũ'ng ke phán liến hoá, phan dộng, phan nhàn dân và gì nữa!

Điổư mà lác giá gán cho phái quý lộc là hiếu chiến và hay tranh giành nhau dã thật là oan, bới suôi từ Hùng Vương tới dó, sử dâu hé cổ một chữ nào nói rằng quv lộc Lạc Việt dã y như quý tộc Tàu hay quý tộc Tây. mà hao lúc nào cũng ngồi trên yên ngựa di tranh chiếm đất dai của nhau và chém giết nhau.

Cá dicLi mà lác gia nói dân gian bị áp bức muốn vùng dậy phá bỏ cá ách dô hộ lủn ách phong kiến cũng lại oan cho dân gian ấy, dế gán cho họ một thứ ý thức chính trị dấu tranh giai cấp của Xcã hội phương Tây, khi họ chảng biết ca. chí thích sống yên ơn trong làng.

Rồi còn nói thêm rằng những thê lực dang làn với chưa tàn của Xcã hội thị lộc mẫu hệ V.V.. vùng dậy kèl linh Irơng hai người dàn bà thì sử dã cho biết rõ sự chuyển mình lừ mẫu hệ sang phụ hệ dã diễn ra lừ dời Hùng Vương, hai ngàn năm qua rồi. Bây giờ làm gì còn mẫu hệ nữa.

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bcà phái tra vồ dúng khung cánh lịch sử

cua nổ thì mới nhận thức dược giá trị chân xác của nó.

191

Khuntỉ cảnh lịch su uy ơ Iiãm 39 ia xã hội bị nghẹt (hở, từ bọn lại thuộc cũ cúa nhóm Tích Quanu đến quý tộc bản xứ; đến kiều dân Trung Hoa. cu ngụ ở các huyện thành và đến tâì cá nhân dân. Sự nghẹt thở do iriêu dinh, thái thú mới gày ra, vừa do dám lại thuộc cũ chân tay trung thành trên ba muơi năm của bọn Tích Quang làm gia tàng cuờng độ để có sự quật khơi, nhàm chứmỉ minh sự lầm lần của Hán Quang Vũ khi thay Tò Định vào chỗ của Tích Quang.

Nếu bọn Iicày dùng số quân dồn trú chặn phong trào khởi nghĩa ở các dịa phuơng lại thi Hai Bà không thế có tới 65 thành trì dều theo ca. Nhung niỉUỢc lại, chúng còn mở lối khuyến khích thêm và vờ không biết đế cho luôn cá quân dồn trú theo nữa nên Tô Định mới không biết lẩn vào dâu dế cố thủ. hoặc chiến dâu ít cũng một Vcài trận cho ngoạn mục rồi có phai chạy mới chạy.

Nhu thế, cuộc khởi nghĩa VI dân trù bạo của Hai Bà vừa khởi xuớng dã có dủ diều kiện khách quan dể thcành công, khi điều kiện chủ quan là bừng sôi máu hận ở toàn thể đảng cấp nguời trong xã hội, kể ca ngoại kiéu cu trú nữa.

Nhung lại sao ba nám sau lại thua? Thua là vì uy tín của tên Mtã Viện lão tuớng bách

tháng kífn quá. quân dội chúng dem qua cũng hùng hậu quá, khiến tuơng quan lực luợng dổi, bọn lại thuộc nói trên lại sợ quá mà trở cờ để tự cứu mình, làm cho quý tộc bán xứ phải mác kẹt vào thế chết và quàn đội của Hai Bà bị cô lập phái chiên dấu trong thê chênh lệch hoàn toàn.

Nhà khao cứu Maspéro nhận định rằng: ‘'\saii khi tlĩắinỊ dược Tỏ Định, Hai Bà lập dược một c/iiốc íỊÌa tự chủ dược 3 năm, nhưmị CỊUỔC íỊÌa dó khôniị dược thốníỊ nhất. Bọn tù Irươm> Giao Chỉ trước dđỵ càm^ Hai Bà dồmị tâm nhất trí dành dnổi diiọc Thái thú họ Tô và hè lã tav sai, sau lại khôní> chịu thần phục chếdộ chính trị mó'i, nên khi Mã Viện manẹ c/iiân saiìí> Giao Chỉ túi lập chính íỊiiyén dô hộ, V dã như César tiến vào xứGanlc, mỉhĩa là dược dân hân xứ cpiv phục".

Chỉ tại Maspéro nhận định nhu thế, nên Luưng Đức Thiệp mới phụ

hoạ bằng những lời nhu sau dâv:

“V/?/7v?g cuộc chiến rluhiíỊ oanh liệt của Hai Bù chì nhất thời. Nỏ khòm> diì diều kiện xã hội mà nươiiíỊ tựa. Một .vỡ hội khôm> thở'ní> nhất như xã hội phom> kiến nào cỏ gớv dược sức doàn kết lâu dài; huổn^ chi xã hội nôiiiỉ iiíỊhiệp lại khônp, phdi chỗ tựa vfím> hển cho .vã hội thị tộc mầu hộ sinh tồn. Ngav những mâu thuẫn nội tại nàv cũng dủ làm cho sự nghiệp Hai Bà phải nghiêng lay, huống chi Hai Bù lại còn dưoưg dầu với

192

nhữiìí> lự( ìượm> binh hì có tồ' chức nữa. Nên khi Mã Viện dcni quân .sain^ chinh phạt, Hai Bù khôm> dianuị nổi dâu hi hại. Đám quân ô họp tự tan rã. Bọn quv tộc phần hi hó trốn, phần thi dầu hùmị vì Hai Bà ra chiến dấu dàu phái vì quyên lợi ddny cấp của họ ...

Nén Mã Viện dã ihámị. Mã ViỌn tlìắiHỊ tức văn minh Trung Quốc tháng. Hai Bù thua, tức chc dộ plìoiìíị kiến thuần luý Việt Nam dã .suV vi và thị tộc mầu hệ Việt Nam dã tan tành".

Tội nshiệp ihay cho lịch sứ! Sự thực không phái như lời ống Tây nó đé ổim Ta nói lại và Ihêni thái lên. Sự thực là cái lũ lại thuộc trớ cờ, chúna nó mách báo hướng dẫn Mã Viện đi lùiiíỉ bắt và giết hết nhữiiíi tù trưởng quý tộc nào theo Hai Bà. cùng tước đoạt hết trốns đồng về đúc con nsựa kiểu để choi và dúc ca cái cột dổns dé chữ Đỏng trụ chiết, Giao Chì diệt nữa.

Nó siết cho dến hết. về sau không còn thấy nhân vật lịch sử nào

inana họ Hùng, họ Thục, họ Trưna, họ Chử, họ Đặng, họ Cao V.V....

Nó vét trốna dồna, tuức quyền tù trưởng của người la, cho đến aiết luôn cá bộ lạc có bí quyết dúc trống dồng, đê sau đó không cổ việc đúc lại lóp trỏng khác nũa.

.MẢ VIỆN

Làm gì cổ chuyện lù trưởng không chịu phục chế độ chính trị mới, theo tâm lý người phương Tây, đế rồi dón Mã Viện như người xứ Gaule dỏn César vào! Nếu đón dược thì dĩi chảng mất quyền tù trướng và chẳng mâì hết trống dồng. Như vậy mới thấy rõ dã tám của lên Mã Viện.

Phục Ba tướng quân Mã Viện (viên tướng hàng phục dược sóng gió) cỏ lẽ là mỹ hiệu của nhà Hán lặng cho viên chủ soái tổng tư lệnh quân dội viễn chinh (Trước (V dời Hán Vũ Đê cũng có Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức sang dánh nhtà Triệu).

Tướng Mã Viện là tướng gicà bách chiến, bách thắng, dược yua Hán Quang Vũ cứ di với Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí, dã rám rộ tiến quân vào Giao Chi dánh dẹp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà.

Cuộc dánh dẹp này là dánh dể xá hơi tức. dánh để rửa cái nhục về thái thú. mệnh quan của triều dinh, mà bị hai người con gái dánh duối cho chạy tơi bời, hêl cá oai phong lảm liệt"’

Theo Nguyên Vãn Tố, Mã Viện lièn vào nội địa Giao Chí bấy giờ bằng dường biên qua vùng 0 Hứa (Lạng .Stvn) do một con dường một bên là núi, một bôn là nhánh Bác sông Thái Bình. Có con dường này mới tránh dược các dám lầy bởi

^

193

Cuộc tiến đánh dẫu với lực lượmỉ chênh lệch cũng không phải việc dề dàng gì. Cứ để ý xem việc quân Hán phải dợi dến 2 nãm, sau khi Tò Định bị đánh đuổi, mới được dem qua dê dôi phó với Hai Bà, ta cũng nhận thấy vua Hán Quang Vũ dã phải thận trọng tìm người như thế nào. Chắc hẳn Mã Viện còn bận di dánh dẹp ở đâu dó, mà giao cho tướng khác cầm quyền nguyên soái, nhà vua sợ lỡ lại thua thì nhục nữa. nên hoãn chuyện cât quân dê chờ Mã Viện.

Trong thời gian chờ dợi này, ta lấy làm lạ rằng sao khống thấy Bà Trưng cho sứ di điều dinh nổi khéo để tránh can qua, cũng không thấv bên kia cho sứ sang dể hạch sách trách mắng gì. Chỉ thấy việc tiến quân qua đánh thôi. Có lẽ cũng có, nhưng thê lực của Tô Định trong triều dinh nhà Hán có thê đã lón lăm, nên các lỏi lầm của hán dược che đậy hêV' sứ dến nơi cũng bị ngăn lại không cho vào chầu thiên tử, cổ khi còn bị hại nũa là khác, nên thiên tử chi một mực cho quân di dánh trá thù.

Theo thánh tích ở dén thờ Thánh Thiên Công Chúa*’* xã Ngọc Lâm, tinh Bắc Giang thì khi tháy quân Đông Hán tràn vào bờ cõi, một nữ tướng cúa Hai Bcà là Thánh Thiên Cóng Chúa dem quân giao chiến ba bốn trận, giết được hơn một ngàn quàn giặc. Hán binh phái lui sang vùng Bác Giang, bieu tấu về Hán Đê xin binh tiếp viện.

nước ihuý triều lúc dó còn Iràn vào đên trung châu. Mã Viện hành quàn theo dọc sôníỉ tio ý dịnh liên lạc vứi các thuyền chiên, rồi cùng tiến dến Mè Linh là kinh dỏ cùa Bà Trưng và Tây Lý là một càn cứ giữa Hà Nội và Sơn Tây. (Tâv Lý là huyện thường gọi là Tãv Vu). Hình như sau dó xét liên sáu quá bất lợi, quán Đ ôns Hán lại rút ra hoặc t ) ị dánh bật ra vì quán Hai Bà khi ấy dánh rất hãng. Tronu I l'i c này Làu thuyền tướne quân Đoàn Chí bị bệnh chết. Ọuân Mã Viện licn lui về Lãne Bạc gan 'Hen Du Sơn. Nang hạ dã sang, quàn 1 au háu hết mẹt nhọc do khõim khí oi á, nặng né sinh bệnh lật. Có lần Mã Viện viết thư về nhà nói rảiiíi cái nóim cúa Giao Chi là cái nóng hun mây cháy đá và khí dộc bốc dưới sình lèn dã khiến quạ đưong bay phái rứt xuống mà chết. Cấm quyền dại tướng như y mà cũng có phen nán lòng. Y nhớ lời cm họ Sa D li nói: Thà làm chức quan nhỏ (trung án) còn hơn giữ dịa vị I(')I1 dế cực lãm than (Phú quí tràng trung dị bạch dầu).

Các sách sứ cùa Trung Hoa ớ dời sau mới nói rõ hêt:

ỉlậii Hán Thư viêì: Trưng Trắc là con quan Lạc tướng huyện Mẽ Linh gá làm vợ Thi Sách người huyện Châu Dièn, Trưng Trắc là người rãt hùng dũng. Thái thú Tô Định bắt buộc phép lác. Trưng Trắc oán giận nôn làm phan. Việi Kiên Thư vict; Trưng Trắc là vợ Thi Sách, người rất hừng dũng. Thái thú Giao Chi là Tô Định tham lam, dộc ác, bắt buộc luật pháp, Trung Trắc giận, cùng em Trưng Nhị làm phán.

Do [Tạm Văn Sơn dần trong Việí SửTâii Biên (tr. 17.5)

194

Vua Hán mật truyén phái dùng mưu hơn là võ lực. Phục Ba tướna quán đóng quàn ở Mã Giang giữ thế cố thủ. giá sai một đạo quân từ Bảo Lạc (Cao Băng) đến đóna 0 Đại Man vùng Thập Lục Châu (Tuyên Quana) hư truyền sắp đánh các đạo trên. Hai Bà liền phái Thánh Thiên hoả tốc đem binh lên cứu vùna thượng du. Mã Viện liền tấn còna naay vào bản doanh của Hai Bà khi dó lì dề phòna và thực lực không dầy đủ lăm. Hai bên dánh nhau suôi ngày dêm. Quân Hán mỗi phút một đông, trùng trùng diệp diệp. Thánh Tliicn tới thượng du nghe Hai Bà bị nguy bách ở miền trung châu lién vội quay về giải vây. Tới thành Ái Châu, huyện Tliạch Đầu, phủ Thiệu Thiên thì gặp Hai Bà bại trận vừa lới nơi, Công chúa dàn quàn ngăn địch. Hai Bà chạy đến xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tinh Son Tây. thế bức quá liền nháy xuống Hát Giang (chỗ sông Đáy chảy vào sông Nhị) giữa ngày mồng 6 tháng 2 năm Quý Mão (43).

Theo Maspéro, tướng phụ lá của Mã Viện là Lưu Lang được Mã Viện giao quyền tiếp chiến với Hai Bà luôn nửa năm trời. Hai Bà chống khỏng nổi lui về Cấm Khê hay Kim Khê rồi bị bắt và bị chính pháp với mấy ngàn tù binh, thủ cấp gửi về Lạc Dương.

Thám Hoài Viễn trong Nưm Việt Chí thì chép rằng Hai Bà bại trận

chạy vào hang Kim Khê thuộc Tây Nam Mê Linh, phủ Vĩnh Tường.

Ta thấy Mã Viện cho quân mo rừng phá núi, triệt hạ hơn ngàn dặm cay coi de láy dường sang dánh Hai Bà, hậm hoẹ và phách lối theo cái thói lố lăng chí với mục dích đến nơi thì quân và dàn của Hai Bà phải lạy phục xuống dê xin hàng hêt. Vậy mà quân dân ấy nhất định không, còn cầm cự hàng nửa năm tròi, và dánh cho cũng phần nào sứt mẻ. Quả thực nếu không có bọn lại thuộc trò cờ ở các huyện thành ngăn trở và khắp nơi dều vây quân Hán lại mà dánh thì chưa chác Mã Viện đã tháng dưực.

CỘ I Đ ổiN (; MÃ VIỆN

Vẫn quen gọi là cột dồng Đông Hán. Sau khi hại được Hai Bà, Mã Viện ruổi ngựa di khắp các huyện lùng bát và giết hại nốt những tù trưởng đã theo Hai Bà khơi nghĩa.

Hãn tịch thu hết trống dồng đổ minh chứng sự tước doạt hết quyền của các lù trưởng. Nhưng dộc hiểm nhất, khinh mạn nhất là hắn dùng châì dồng cúa những vật nổi tiêng thiêng liêng ấy làm trò chơi cho hán, là đúc một con ngựa kiều"’

Hận Hán L/ííí'quyên .54 chép: Viện cưỡi ngựa giỏi, phân biệt giỏi những danh mã. khi sang đánh Giao Chí. ông đã lượm được Irống đồng Lạc Việt, bèn điìc hình ngựa (Viện háo kv, ihiện biệt danh mã, chinh Giao Chi, dắc Lạc Việt cổ, nài chú vi mã thức).

19.5

Hơn nữa, chCms như chưa lấy làm mãn nguyện vé việc làm nhục hàng quý tộc trong nước, hán còn đục và clỊme cây cột đồniỉ đé chữ Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt, đ ế de doạ Vcà thoá mạ ca dòns giống Giao Chí nữa.

Các học giả của la ở nửa đáu thế kỷ XX sau khi đọc các cố thư không thấy ghi rõ cột ấy chôn ở dân dể tìm tòi, dã cho là một chuyện mỹ đàm để xí xoá việc này di'". Ây Icà thái dộ của những con đà điển ỏ’ sa mạc chân Phi, thấy sư tử thì sự quá gục dầu xuống cát, dô’ mình không trông thấy nó, ắt là nó cũng không trông thấy mình. Ây là thái độ tìm học của thế hệ người chịu ánh hưởng sâu dậm phương pháp học hình thức của phương Tây, cái gì cũng phủi có bàng chứng cụ Ihc với những lổn tích mới dám tin là có. Hỏi chớ cái con ngựa kiểu bằng đồng kia có còn tìm thây ở dâu nữa không? Nêu không thì ra cũng là mỹ đàm nốt? Và cá việc Mã Viện tước doạt cái trống đồng kia cũng là mỹ dàm nốt chăng?

Đến những chữ khác trên cột dồng: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ' diệt. mà các học giá ấy hiểu là lời thề độc thì qua họ đã tỏ ra không hiểu biết gì hêì về cái phong thói hống hách của lũ văn quan võ tướng thiên triều Trung Hoa. Chúng không hề mê tín dị đoan một chút nào cả. Chúng cũng không hể có bùa chú gì vào cái cột ấy hêì. Chúng dựng cọt ấy chi đê biểu dương cái quyền làm chủ cúa chúng. Và cột viết như trên là chúng muốn nỏi răng ke nàơ đụng vào làm gãy cọt thì la sẽ giết hết giống Giao Chỉ.

Phần cha ông chúng ta hàng ngày mỗi người qua lại đó lại ném vào một cục đất. cục đá đê’ chôn lấp nó đi, cho dến vổ sau không tìm ra nữa, thì cũng không hề cổ ai ngây thơ di nghĩ rằng dấy là lời nguyền dộc dịa cúa Mã Viện, mà ai cũng thấy rõ dấy chi là một cách nó Icàm nhục mình thì mình chôn cái nhục ấy di, dê chờ dịp trá ơán. Người ở hai ngàn năm trước làm chính trị dù là chính trị tiêu cực, quá cũng là khôn hơn người làm nghiên cứu ở hai ngàn năm sau vậy.

Sau này, sử ta chép vàơ khoảng tháng tư năm Nhàm Tuất (1272) tírc là năm thứ 15 hiệu Thiệu Long dời Trần Thánh Tỏng, nhà

úhg Hoè Nguyền Văn Tố (rong Tri Tân ,sô 14 nói: la không nên chép chuyện C Ộ I

đổng Mỉã Viện vì không có chứng cớ đích xác, Đào Duy Anh Irong Đó Thành Ị nến Cô (lO-l 1-1943) nói có lẽ cột đống ơ núi Thành lức núi Lam Thành ihuộc Nghẹ An. Lời phán đoán gần vói ,sự ghi chép cúa sách Ngô Liic và 'Tnỳ Tlnr. Nhưng lác giá vẫn tỏ ý đổ dò dặt rồi dồng ý với Nguvễn Văn Tô không nên chép lời thề cá Mã Viện vào sử ta vì lòi thổ ấy có thể đã do những ngưừi hiếu kỳ bịa ra, huống hổ dc'n nay chưa lìm dược di tích nào của cột dồng Mã Viện.

196

Nuuvèn sai Ngột Lương saníz hỏi cõi cũ đổna trự"’. Ày là một cách hỏi đê làm nhục, đc nhăc lại cái nhục cũ, mục đích chính là khiêu khích, nếu vua quan khỏnỉĩ chịu dẫn đi xem thì mượn có cho quân đánh níĩay. mà nếu nhún nhườno chịu đưa đi tìm thì nhân cớ hội xem xét bình tình Vcà sự phòim vệ ra sao đê về háo cáo. (Năm 1284 thì quân Nsuyên sang xâm lãng luróc ta).

Cái cọt này khònư phai là cột ranh giới nêm không khi Iicào lại dựng ỏ’ nơi héo lánh ngoài biên"’. Nổ là eái cột ổ nhục thì Mã Viện phái dựng nó ở giCra nơi thị tứ dónsí 112,001 qua lại, cho hàns ngày ai nấy đểu phải nhìn thấy. Tâì nhiên di tích phái còn ở ngay vìimi Bạch Hạc Mé Linh. Nếu la có diều kiện thì tìm ở đâ)' may ra sẽ 2ặp.

Vua Trần sai Lê Kính Phụ di hội khán. Kính Phụ nói chỗ Vân Nam lập đồng trụ vì dã lâu năm, lạc mất không rõ chỗ nào. Sau việc này bó di. {Khăm Định Việt sử Chính Bicn q.7 lờ 14b)

Đào Duy Anh phỏng doán cV núi Lam Thành hay núi dồng trụ thuộc Nghệ An

theo sự ghi chép của các sách Ní!,ô Liic và Tn\ Thư. Lĩnh Niiơại Đại Đáp ghi là ớ Lâm Âp. Cũna có thuyết nói cột dồnsz ớ Khăm Châu về phía Tây có núi Phân Mao là ranh giới giữ la và Tàu. VÚIÌ Đùi Loại Níỉữcúii Lô Quý Đôn cũng nói dồng trụ ở Lâm Âp. Có naười lại cho là ở Quám: Ngãi. Phú Yên. Tâì cá dổLi bị lạc hướng vì yên chí nó là cái trụ biên giứi. Tát cá vì sòng xa cái thòi ấv quá nén không cảm Ihôim dược cái dau của người thời ây. Cái dau trông thấy nó lấy trống dồng là vật tôi thiêng liêng cúa mình, rồi dó đập nát ra trước mát mình, doạn bỏ vào lò nấu thành con ngựa và thành cái cột á'y.

197

CHƯONÍỈ II

SINH HOẠT XÃ HỘI

Làng Lạc Việt

1 OM LHƠC

Tình thần dân chủ trong làng

Mã Viện đọc ra trôn 10 điều luật mới bát dân theo. Nhưng ta nghĩ rằng đó là theo miễn cưỡng, rồi về đến làng thì đâu lại vào đấy: phép vua thua lệ làng.

Tổ chức nhân sự

Sau biến cố đau thương năm 43 có một số đất ruộng cúa quý tộc trở thành vô chú, đã thuộc vổ của làng. Vcà làng dã có toàn quyền sử dụng theo lối luân phiên quân cấp hằng nãm hay hai ba nàm một lần cho người làng làm, lấy lợi lức đỏng thuế và chi phí vào các việc thờ cúng.

Tình liên đới thiêng liêng

Cũng kế từ dấy, không có quý tộc với quyền thế tập nữa, dân làng dã suy tôn người trưcVng thượng thay mặt dân giao thiệp với chính quyền. Sự sắp dật chỗ trong đình làng cũng theo các ngôi vị, lấy tuổi tác làm căn cứ.

Đình làng

Sau khi dã có những người phái chết cho làng sống, có những người có công với làng mà phải chịu số phận thương đau, người ta cẳm thấy giữa dời sống xã hội của làng có những việc vui buồn vinh nhục chung cho tất ca. Tmh liên dới trở thành thiêng liêng và được thể hiện ra ở sự tôn thờ nhũTig anh hồn người có công với làng.

199

Đình làng đã được mọi người nhìn nhận tính chất đặc biệt đa dụng ca vể tôn giáo lẩn Xcã hội. hành pháp, tư pháp, lập pháp, du hí, kinh tế, quan hôn. tang tế V.V.. chỉ Việt Nam mới có.

Nhưng cũng nên lưu ý đến một khía cạnh khác về hướns đình và vị trí mà người ta tin rằng nó ảnh hưởng đến chính tương lai cuộc sống của cá làng nữa. Đó là điổu mà trong mọi nền kiến trúc thị thôn ở các nước, không hé có một cư sư kiến tạư nàư được quan niệm đến mức độ quan trọng ấy.

Sau trận tàn sát ghê hồn và ilã man của Mã Viện nãm 43. người dân

lương thiện Lạc Việt đã bị đày ải thê nàư?

Sách Hậu Hán Thư của Phạm Việp chép trong chuyện Mĩi Viện: Luật cùa clàii Việt và luật của nhà Hán khúc nhau dến hơn nuiửi diêu. Õnv, hcn íịiai ihiclì nluìin> luật pháp cũ cho níịUỜi Viẹt, vù hắt họ từ dó vc sau phải i>iữ theo nhữní> luật lệ củ Mã tướní>. (Điêu lâu Viộl luật dữ Hán luật hác g/ứ thập dư sự. Dự Việt nhân minh cựu chế dĩ ước thúc chi tự nhân hậu Lạc Việt cử hành Mã tướiìiỊ cpiàn cỏ'sự).

Đó là lời sách, căn cứ theo lòi sớ tấu báo cáo về triều đình. Nó làm một tiếng chuông gõ theo một chiều. Bây giò người học sử lấy đấy làm chân lý tuyệt đối đế tin rằng người Lạc Việt nhừ sự hiểu dụ cúa Mã Viện mà hiếu ra luật cũ của mình là lạc hậu và từ dó vui lòng tuàn theo luật của Mcã tướng, thì thật là một diều oan ức cho tổ tiên mình.

Sự thực là đứng trước một kẻ mạnh, nó vừa giết hết nhĩrng người cầm đáu của mình, nó còn đương có thể giết nốt mình nữa, thì nó nói gì mà chẳng phái gật đầu? Gật đáu rồi thì kiên nhẫn mỗi ngày mỗi người dem đất dá dến ném vào cột dồng dê’ chôn vùi nó di. Nguyên một hcành dộng chính trị tiêu cực ây dã dủ nói rõ sự thật về việc tuân theo luật của Mã tướng rồi.

Ta chưa lìm hiểu những luật ấy là luật gì và sự tuân theo ấy là như

thế nào. Hcãy nhìn vào làng Lạc Việt.

LÀN(Ì LẠC VIỆT

Các học giả của ta sau này. thêm có Cík' học giá phương Tây và Trung Hoa, dều nhìn nhận làng Lạc Việt là một lổ chức gì kỳ lạ lắm. Nổ gồm trong câu: phép vua thua lệ làng.

Nhưng người ta chỉ mới thấy có sự thực ấy, mà chưa chịu tìm đến nguồn gốc của sự sông của sự sống thành làng trong truyền thống cùa người Việt. Người ta chi lìm sử liệu bằng lối moi móc ở những câu viết cúa người Tcàu. Chưa ai chịu nhìn ra nếp sống của cái làng là một nguồn sử liệu vô giá, nó nói lên những sự thực mà thường sử sách Trung Hoa đã chép với ít hay nhiều dụng ý xuyèn tạc.

200

Nội việc nói rằng dán Lạc Việt rãm ráp luân theo luật do Mã Viện ban bô ra. nếu quá có sự luân theo thật thì bấy ciờ Việt tộc thành Hán tộc hết rồi (như lất ca dân Bách Việt ớ micn Nani Trung Hoa vậy). Mà sứ dĩ Việt lộc dến nay vấn còn là Việt tộc. ấy lù lời của ỉ lận Hán 7V/;r khónc tin dược và sự tuân theo dã chi ra là một thái dộ lừa dối. đế khi trơ ve làng thì trưcic sao sau lại vậy. người ta vẫn nếp cũ mà sốnii với nhau.

Từ trước khi xảy ra biến cố dau thương năm 43. ncưừi Lạc Việt dã SỐIIÍÌ thành làng theo mọt nen nếp tình mzhĩa như dã nói ớ phán thứ nhất. Nhữim ôntì làng ưọi là lù trươnc. là quý tộc phong kiến, hay là quan Lana. dều là những người, ngoài S ự dược tôn là bậc trưởne thưọiiíỉ. dã dược dàn kính yêu là ông cả bà lớn tronu họ nội ngoại nữa. Dân chỉ bièt nhĩrmỉ người ấy và tuân theo lệnh nhữns noười ấy. Mọi việc thay mặt dân ciao dịch với chính quyền trumt ươns, dân đã đè mặc nhữns nsười ấy. Sự dónc ihuc (sau vẫn ỵiữ mãi nếp ấy) là dóns khoán một số thuê theo từng làns, rồi ncười ta tự chia nhau ra mà aóp. Việc phái lính trána hay phu phen tạp dịch cũna là khoán cho lừne làns phai CLina cấp bao nhiêu naười. thì naười ta lự cắt dặt cho có dủ. Ngoài những sự giao tiếp ấy với chính quyồn trung ương, dù chính quyẻn của vua quan ban xứ hay chính quyền đỏ hộ dã có người trung gian lo liệu, dân làng sau hàng rào tre, dã sống với nhau theo tục lẻ nen nếp cũ. không cán biết dến những luật lệ mới nào cá.

Qua dời Thục, dời Triệu; rồi đời Tây Hán cái dám dân làng ấy dã cứ

thê thôi. (Cho dến đời Pháp thuộc, cả gần hai ngàn năm sau cũng vần thế).

Duy với biên cố đau thưong nãm 43 thì chúng la không duợc phép hời họl quá mà chảng nhìn kỹ vào những chuyên biến của làng Lạc Việt này. Chuyển biến hết sức quan trọng là sự dân chủ hoá.

TINH THẢN DÂN CHU TRONC LẢN(Ì

Cho lới biến cố này, trong mỗi làng có một số đất khá lớn thuộc vé quý tộc lức là những ông làng, có cống khai phá. dẫn dắt con cháu tới định cư de làm ăn trong làng ấy. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, tất cá những ông làng ấy đcã dứng lên dẫn dạo dân khắp nơi cùng nổi len dánh đuổi Tô Định. Khi tháng và hại dược Hai Bà rồi, Mã Viện Ihcơ sự chỉ điểm của bợn lại thuộc trở cờ, mà xông vào các quận huyện, các làng đê giết hại nốt hàng quý tộc bán xứ. Dân chúng yếu thế, người nào khổng bị giết thì chạy tán đi irỉn trốn, de rồi sau lại lìm lối trở về. Khi trở về đến làng cũ, họ trông thấy canh lan nát, các ông làng dã bị làm mồi cho Mã Viện, mà ruộng dất của các óng llừ không còn người dứng ra nhận nữa

201

nên trở Ihành đất cônc (cônc điền và cônc thổ). Quyền chủ sư hữu nhữniz đất đai ấy khôns thuộc về một cá nhân hay rnột tập đoàn nào cá nhân nào. cũng khổng thuộc về quốc gia mà thuộc về làng.

Toàn thể mọi người trong làng hũu sán hay vô sán đéu được quyền hưíVng hoa lọi như nhau bằng việc canh tác những ruộng đâì ấy. do làng tố chức việc quân cấp hàng năm hay hai ba năm một lán (gọi là tục quân cấp cổng điền). Ngoài ra. làng lại có nhũng lự dién là nhũng ruộng mỗi năm được luân phiên câp cho lìmg người làm đc lấy hoa lợi dùng vào việc thừ cúng.

Văn minh nông nghiệp mà tiến lói hình thức tổ chức này là tói một độ cao lám. Cháng hạn. liêu biếu nhái là làng Hà Lỗ. phủ Từ Son, Băc Ninh, dã chia sẩn ruộng công ra thành 18 mánh lón nhỏ nhau dê dùng vào việc thừ lự như sau;

1. Một manh lấy lọi tức nuôi hco thò o xóm Trung 2. Một manh lấy lợi tức nuôi heo thò d xóm Nam 3. Một mánh lấy lợi tức nuôi gà làm lẻ. 4. Một mánh lấy lợi lức mua gà và gạo làm cỗ 5. Một manh lấy lọi lức trá thù lao cho ban nhạc (nhạc diền) 6. Một mánh lấy lọi tức dX)iig oan lễ (Oíin điền) 7. Một mánh lấy lọi lức cho các quan diền viên lo việc cúng tế (quan điền viên)

8. Một mánh lấy lọi tức làm lẻ sóc vọng mỗi tháng 9. Một mánh lấv lợi tức làm lỗ ngày com mới 10. Một mánh lấy lọi tức làm ngày xôi mói 11. Một mảnh lấy lọi lức làm ngày thế dám, tức là sinh nhật của thần hoàng

12. Một mảnh lấy lợi lức làm lổ chức cuộc thi đánh vật 13. Một manh lấy lọi lức làm tổ chức vũ bộ (tức là thi con chò) 14. Một mánh lấy lọi lức làm lễ ngày trùng ngũ (tết đoan ngọ) 15. Một mánh lấy lọi tức làm lễ ngày trùng thập 16. Một mảnh lấy lợi lức làm lễ ngày rằm tháng tám 17. Một maưh lấy lợi lức làm lỗ ngày xuân tế 18. Một mảnh lấy lọi tức làm mua hưong và dầu dể cúng (đèn

hưong điền)

Thật là sự tổ chức dến phần chi li cho sự thờ lự chu đáo"' và sự sống

chung không có những mâu thuẫn quyền lợi vật chất.

Các làng khác cũng chia tự điền thành:

Tliần tự điền lấy lợi lức lo việc thờ Ihần Phật tự điền lấy lợi tức lo viêc thờ Phật.

202

Cố nhiên noày khởi thuý năm 43 ấy đã khôno có nhữntỉ tổ chức chi li như thế. Mà có lẽ chí có cái nguyên lắc dãn đạo việc sử dụng những đất ruộng trò' thành vô chủ để rồi càng vể sau càng liến hoá, người ta mới hoàn thiện hơn lên. Và chúng ta ghi nhận: nguyên tắc ấy là nguyên tắc dân chú thực sự. Nếu lại dể ý xem xét về lố chức nhân sự trong làng, ta sẽ càng nhận ra nguyên tác dân chủ dặc biệt ấy.

TÒ CHỨC NHÂN S ự T R O N ÍỈ LÀN(Ỉ

Về tổ chức nhân sự thì có thc vì một sự cần dùng hay một diều kiện bát buộc nào đó mà có một chút thay đổi giữa làng này với làng nọ. Nhưng cùng một làng mà dời sau cũng có khác dời trước nữa.

Tuy vậy, nhìn chung tục lệ các làng cũng gần gần như nhau ở

những nét chính.

Ngôi thân: Ngôi hào:

Thí dụ làng Thố Khối thuộc Bắc Ninh ở cạnh Hà Nội, bên kia sông

Ngôi làng: Ngôi chạ; Ngôi tư văn: Gồm các ông có học thức nhtnig không có bằng sắc, không ở

Hồng. Trong làng có các ngôi từ trên xuống dưới. Ngôi các cụ; Gồm các ỏng dã ra lão 55 tuổi; các cụ hơn tuổi nhất (70- 80-90) ngồi trên, khi bàn việc hay khi ăn cỗ gọi là bàn thượng. Gồm các hưu quan. Gồm các cựu chánh phó tổng, cựu lý phó trưởng đương thứ. Gồm các chánh phó tổng, lý phó trưởng đương thứ. Gồm 6 ông thôn trưởng đương nhiệm.

Ngôi đồng văn: Gồm các ông tuổi khơang 25 trở lên và không ở ngôi tư

Hàng giáp:

ngôi thân.

Giai phe:

văn, muốn vọng tùy ý. Gồm nhũ'ng người ở cùng một giáp tuổi từ 1 đến 54. Và từ dưới lên trên, ai nấy lại ngồi theo trật tự sau dây;

Vọng làng, con trai sinh ra 1,2 tuổi được bố mẹ vọng vào giáp gọi là vọng làng. Thôn trưởng vào số giáp, bố ở giáp nào sẽ vọng con vào giáp ấy. Trong năm vọng, đứa bé phái

Hậu điền lấy lợi tức lo việc giồ hậu cho người làng chết mà không con. Tư vãn điến (hay văn chi dién) lấy lợi tức lo việc thờ đức Thánh Khống Võ pha điền lây lọi lức lo việc thừ thầy dạy võ hay vị võ tướng phù trợ cho làng. Quá phụ điền lấy lợi tức lo việc giúp đỡ người quá phụ. Cỏ nhi diền lấy lợi lức lo việc giúp dỡ người cô nhi. Môn sinh diền lấy lợi lức lo việc giỗ thày học.

203

Lình cả;

Lình trưởng; Đến nãm 17. 18 tuối, dứa tré không còn thuộc thành phán giai phe nữa mà thành Lình trướng. Lình trưởng cớ bổn phận làm tuân phiên, canh phòng làng và dồng ruộng của làng, làm các tạp dịch trong giáp như khiêng kiệu, khiêng trống, khiêng quan lài. chôn cất những người cùng giáp quá cố. Đến năm 40 tuổi Lình trưởng, tiên lên làm Lình cá. Lình cá không phái làm lạp dịch nặng nhọc mà lại là tay dàn anh trong giáp, ăn nói hướng dẫn giáp mình.

Đàn anh:

Thôn trưởng: Trong thòi gian làm Lình trướng người ta có thê’ làm Thôn trưởng, tùy năng lực lài chính của mình. Thôn trưởng phựng sự một trong 6 vị thần làng trong một nãm. Giáp nhiều người thì cổ khi hai họ tranh nhau. Giáp ít người lại phái ép buộc; có khi còn phải ép những người dưới tuổi Lình trưởng cúa những gia dinh có năng lực tài chính. Ngưừi ta cắt thôn vào tối mồng 9 tháng hai là ngày vào dám. Sau giáp gồm Lình ca cựu thôn ngồi họp bàn trên 6 bệ gạch trong đình, ớ giữa dinh là ngôi Chạ ngồi, tức là 6 Thôn trướng mãn nhiệm kỳ săp bàn giao. Mỗi thốn họp cát một niĩười ra “gánh vác việc đất nước” thông háo xướng danh cho 5 giáp khác biết; nếu không có ai phiín đối, ngôi Chạ sẽ nện ba liếng trống ưng thuận. Có năm việc cắt thôn kéo dài vì có tranh nhau, khi xong là hàng giáp kéo về nhà thôn đánh chén. Sáu thôn trưcVng chia nhau sửa lỗ thần những ngày Sc)c (mùng một) ngày Vọng (ngày 15); mỗi người sửa lễ 4 kỳ trong một năm; lể gồm có xôi, gà, oan, chuối, trầu và hai chai rượu. Lễ xong nlũmg vai “gồng gánh” tức cựu thôn có ra lẻ thần mới được uống ruọu và lấy phần. Những cựu thôn có uy tín, khoẻ mạnh lại có lài chính thì được mời ra làm Đàn anh dể phụ giúp Trương tuần chí huy tuần phiên giữ an ninh trật tự làng. Có Đàn anh nhất. Đàn anh nhì, Đàn anh ba.

204

chịu Trướng lànư. Tronư giáp có việc ãn uống (như dịp xôi mới cơm mới) gia đình dứa bé phai trù liệu chỗ ngồi, trà nước, rau dưa. nirớc mắm, còn cỗ cơm thì dĩi có Lình lo ca. Sau khi dã vọng giáp, nếu trơng giáp có ai dcãi đăng cỗ bàn mà cớ mời Giai phe (như ỏng Icãơ trơng giáp mời hav một dám ma imười irơng giáp) thì dứa bé cớ quyền đi dự.

Lên lão 55;

Đồng niên; Ncirời irone làne đến 50 tuổi đã lo n«hĩ đến việc lên lão 55. Nỵirừi cìiim tuổi họp thành một hội gọi là hội “Đồníỉ niên”. Cứ đốn ntỉày mổim 4 TcM mọi nmrời đồns tuổi ấy hội họp làm lễ đình, chúc mừne sức khoe nhau rồi ăn uống thưởng xuân. Mỗi năm họ lại kicm điểm bạn đồng niên, và dự tính ai sẽ là trướng lão. Hội đương nhiên thôi hoạt động khi mọi người tới 55 tuổi. Nãm 55 tuổi người ta lo lổ chức khao lên lão. và coi đó là một việc can hệ nhất trong ctời người. Có khao lên lão, dương sự mới dương nhiên vào ngôi các cụ. Ai đến tuổi không lo khao, khi có việc ra dinh sẽ không biết ngồi nơi nào, không lẽ dứng lựa cột dinh, do dó dù phải cám cố bán dợ ruộng nương người la cũng phai lo làm lễ khao.

Thượng thọ 70-80: Lệ này không bát buộc mỗi người sẽ tùy gia cảnh mà làm lễ dinh, mời làng, mời giáp iÃn uống. Các cụ bà dến tuổi này tuv ý ân khao linh dinh hay không. Có khi ca hai cụ. cụ óng. cụ bà cùng khao. Vồ phía cụ bà sẽ cỏ sửa lễ cá bên chùa và thỉnh mời ngôi Chư hậu nữa.

Đó là nép sống vc sau nàv, không phái ngay từ hồi dầu đã có y như thế. Nhưng ngay lừ hồi dầu, sau biến có năm 43, các làng bị mất quý tộc lãnh dạo dã phái lìm dến cõng thức chung Iicàv, là dùng tuổi lác dể tổ chức trật lự trong làng, mà không dùng dòng dõi quý tộc nĩta. Ây là một tiến bộ về hướng dân chủ hoá.

TÍNH LILN ĐỚI T H IÊ N t; LỈKNCỈ

205

Bên cạnh cái lình mặn nồng tha thiết của “trong họ ngoài làng" thuộc vồ cuộc sống xã hợi mà ta dã thây, kể từ sau biến cô 43. người ta còn thcMii vào dấy một tình liên dới ihicMig licng nữa. Đã cổ những người phái chết cho nhau, chết vì nhau, trong biến cố và ca sau biến cố nữa khiên ky niẹm không bat) giờ phai nhoà dược trong lòng cùa nhau. Lại có liên liêp nhũìig de doạ, hành hạ cúa quan lại nhà Hán sau Mcã Viên làm cho con người cực nhục, chi cổ thê vé làng mà khóc lóc than thơ với nhau, cùng bó thương rịt máu an ủi lẫn nhau. Nổ khiến chơ làng, ngơài lác dụng là một dơn vị cư trú thông thường, còn \ÌI nơi chơ người ta ấp lì lây nhau, chia vui, chia buổn. chia niSi dau thương với nhau và nhìn thấv cái nhục của một người là cái nhục chung ciia tất cá. cũng như cái vinh của một người là cái vinh chung chơ tất ca. Người la chc chở cho nhau, giấu giếm cho nhau, bênh vực lẫn nhau, cá việc phái lằn việc không phái.

và người la lấy số đông của làns làm phưoíng tiện tự vệ. đế ai nấy ở ngoài bị đc dọa, bị sợ hãi, hỗ chạy về đến làng thì cám thấy như lọt được vào một thành luỹ kiên cố.

Bởi vậy một làng nào cũng có một hàng rào tre dày đặc như bức iưòng thành vừa thực sự de báo vệ an ninh chung, vừa để cho ból sợ đối với quan lại nhà Hán'".

ĐÌNH LÀ N (Ỉ

Cũnc từ biến cố ncày. với sự tôn trọng linh hồn của người quá vãng, làng bát dầu thờ nhũìig người có công với làng. Nếu trước chưa có dinh thì kê từ dây, ắt phai có nơi cổng cộng ây dể thờ.

Đình làng là một kiến trúc lớn nhất trong làng, tiêu biêu cho cả làng, dặt vào nơi khoáng đãng, trang trọng nhất, dựng vào những ngày giờ tốt nhâì và theo một hướng có dược nghiên cứu cán thận, vì sau này hướng dinh ấy dược người ta hiểu và tin là có ánh hưởng quyết định đến sự làm ăn sinh sống chung của cá làng.

Vì ánh hưởng ấy, đình được người la quan niệm là quan trọng hơn một toà dò chính trong một đô thành.

Trơng làng xay ra nhiều chuyện cãi cọ nhau, hoặc người và vật đau ốm bệnh tật, hoặc nhà cháy, thôn xóm cháy, hoặc làm ãn lủng cúng mất mùa. hoặc nữa trai gái trong hàng hư hỏng, trác nết, học hành kém cỏi, lêu lổng, ngỗ ngược, ... người ta đểu quy cho lại cái hưt7ng đình Cíí. Xoay hướng đình lại thì có thế gái làng sẽ dẹp ra, ngoan ra, trai làng sẽ thi đỏ lam quan, phát vổ vãn hay võ. và làng .sẽ làm ăn thịnh vượng lên, mỗi ngày một trù phú thêm.

Chưa lừng có một còng trình kiến trúc nào lại dược người la dặt vào nó một lầm quan trọng như thế.

Nguyễn Văn Khoan trong bài Tiếii luận về cúi dinh (B.E.P.E.O - q XXX) có viết:

'"Trong tất Cíi những kiến trúc tiu)' phụni’ thì kiến trúc í/nan trọní> nhất vù có nhiên ý nghĩa nhất theo chúng tôi là cái dinh lùng. Chúng tói không thè tóm lược tính cluít và vai trò cna cái dinh trong dời sống Việt Nam hằng cách nào lìưn là trích dẫn lời giới thiện của óng Giran'-' dã tóm tát dinh nghĩa như san: "Đình lù nưi tlư)'Thần Hoàng hdo hộ cha

Làng nào khỏng có liàníỉ rào irc thì coi như không phái làng. Một hình thức Irừna phạt mọt làim cúa các chính quyên vua quan cũ là Irict hạ hàng rào Irc. đc thấy làns tro' trcn loanu hoaniĩ cá.

Xin lưu v dộc giá và điều kv lạ trone Ic lỏi nshicn cứu cũ.

206

“C h í n h IIÍỊÌIÌ t l u U / m ’ h a v p l u i t k c ' n à o t u â n t h e o h a v . x ú c p h ạ m í’ió 'i

l u ậ t c ù a m ị à i . T ( ') m l ạ i m ị ù i U) n h â n c á c h h o í i u v c p i v c n t(h ' c a o m ') h ắ t

m . t u ồ n v à u í v s ứ c m a n h t ừ t r o m t c h i n h . x ã h ( ) i . H o n n ữ a m ị à i le) H e n h ệ c ủ a

t ấ t c á p h â n t ứ t r o ì U ’ d o à n t h e c ộ n \> d(>n<,ị. N ^ à i c â u k ế t l a i t h à n h k l ư n ,

t h c m h n ư } r t h ử n h â n c á c h r i n h t h ầ n m à t ấ t c d t h u ( ) c t í n h C (‘>'t y ế u h i ệ n t h á y

â n ư n c á n h à n .

mổi làm>. Nó là triiin> tâm sinlì hoạt tập tlìể cộm> cíồm> của íỉoàn rhc. Chính tại í h Ì Y mà hội ííồiìí> Ả v mục họp hàn, tại dủ\' qnxết (lịnh lìhữmt vấn ílc hành chinh huv t() tiun’ n<)i h(). 'íạị íĩâv C(') CI KÌ C tể ìễ. tcnn lại tất ca hoạt cl(}n'^ dìfi S í í n ị ị .vã h()i Việt Nam. Thần Hocnnị dại hiển cụ thể linh d(>m> toàn h() nhữtìiỊ kỷ niộm chum’, mtuyộn voniỉ chum’. Nítíììi lù hiện thân cùa kv luật, lục lộ, luân lý V í) (hhuị tluyi ,sự írừm> phạt”.

T(hn lai dinh lìi dên í lu')', vữa là nhà lcimt, vữa U) toà án. vữa lủ hành cuny của các vi dại thần, hav vua chúa, íịIìc chân di)m> làm nhà trạm, vừa lù nơi dinh dám. h(}i hè, ăn U()m>, hát .viurm’, vừa là no'i lìop cho' hùm;, và là noi toe) án tlìicm; licny, lai cũny là nơi nhà ítiam ke phạm pháp, trưó'c khi phán .xii' bị fr()i C ( } t dinh, hav phạt vạ, cùm; lại vừa lủ no'1 cheo ciíới, khao vonp v.v... ('Giran, Mauio cl Rclitiion Annaniitcj.”

Níiuyễn Văn Khoan và cá Giran dã không Iiiiờ mà quên đế ý tới cái phán mà niiưừi Việl xưa aọi là khí thiêníỉ sông núi, nó ứ long mạch, ở hướng gió, ớ nước giếng, (V dòng sòng, ở ihê núi, ở dịa hình, và Ihco tin tương cữ. nó lạo nên những người làng thòng minh sáng láng hay dấn dộn ngư tỏi và nó C|uy dinh ca sự sống yên âm vul tươi hay khổ cực ihiếư thốn cứa cá làng từ dời này sang dời khác nữa.

Thời nay, chúng ta cớ the lấv làm lạ mà hỏi rằng việc ấy có thực như vậy chăng? thì khổng ai cớ the dem trói những lẽ huyền bí lại dưa ra phán lích và trá lời. Cũng dựa vàơ kết quá thực tế mà hỏi ngược lại thì cũng khổng ai giái thích dược việc tại saơ cổ những làng vãn hiến dời nàơ cũng cớ râì nhiềư người dơ dạt làm quan to. cớ những làng người học thật giỏi hay chữ nicà thi cứ rớl, có nhũng làng trai tráng chi náy nòi trộm cướp Vcà làm giặc, hay những làng chi buôn bán làm giáu, những làng người giỏi nhâì chỉ làm dến dề lại thư lại.

Việc tin vào hướng dinh của người xưa, la chí có thể ghi nhận là có, còn tìm hiểu việc tin thố là dũng hay sai lại là sang một phạm vi nghiên cứu khác.

207

Cô nhiên, dấy là một khoa học huyền bí mà ta không học chuyên thì không thê cớ ý kiến gì dược, ớ phạm vi nghiên cứu của chúng ta. chi với sự nhận biẽt rằng cớ việc tin vào phong thuỷ như thê cũng đủ nhận ra người ta dã thận trọng thê nào khi làm đình.

h i c L i

n

Lý do khiên ta phái cãn cứ trC'ii vị trí và hướng đình đê i h

quan niệm kién ti úc xưa là vi: nhữnư vật liệu dừne đế xây dựng thì bằng gỗ mà lại làm trong khư vực dịa dư’ có không khí ìím ưól ncn chóng hư mục. phái luỏn hiỏn có sự trừng lu dê những dời sau luôn luôn lại làm lớn hơn. nếu giấu có lại làm cầu kv hơn, chỉ có hướng và vị trí cũ là ít thay dổi.

H l ỚN(Ỉ Đ ÌNH V À VI I RÍ

Trong bán dồ chung của thôn ấp. dinh dã được dặt ứ một nơi cách biệt him khu nhà ở của dân. Nếu dât làng chật hẹp. khoang cách biệt .sẽ không lơn rộng quá. nhưng xung quanh cũng có nhũ’ng ruỢng thán lừ dế ngirời dán di dến dinh phai có cam tướng lới một khu Ihicng liêng riêng biệt, một khu của thần ngồi trôn dầu trên cổ dàn dc phù trợ cho dân.

Thường con dirờng di ra tỉnh và ra chợ dược vạch trước cửa dinh. Có khi song song với dường ây còn một dường sông có thuyền bè xuôi ngược và ớ chính giữa có bên dậu, có bậc lên. có trụ biểu cho người la nhận biết lừ xa. Từ diròng sông và dường bộ vào dốn dinh còn xa lắm, cổ khi lới dăm trăm mét. Vậy mà khi qua dường ấv. người ta dều dã phái trông theo mốc bia căm ỏ hai dầu dất của dinh mà khuynh cái, hạ mã. nghĩa là di ngựa thì phai xuống ngựa, dội nón thì phái nga nón và cúi dầu xuống mà di. Sự tôn nghiêm dược gia tàng tới mức ấy.

Cống giữa ở ngoài của dinh luôn luôn đóng, chi những ngày đại lễ mói mó. Ngày thường hay ngày sóc vọng, người ta di vào phái dùng cứa bcm. khiến ai nấy có cám tương như thần ngồi ở hậu cung của dinh thật.

Người bước qua cổng rối. nhìn thấy ngôi dinh còn hun hút ở xa, có hình phong chấn và che chính giữa. Mỗi bước tiến của ngu’ời Vcào gần lại thấy cổ một con mát quan sát của thán giữa cái im lặng mênh mang mà cây cối âm u. làm cho thêm rùng rợn.

Cũng có khi dinh đirọc xây dựng trên giồng dất cao dê cho người lừ

xa di lên dán dần và ngước mát lên thấy mái dinh in trên nén trời mây.

Vói những nét chính dã kê. dinh Icàng dã dạt dược mục tiêu của kiến

Q l \ M ỏ CÌJ,\ Đ ÌNH

V I tính cách da dụng của nó, như nhận xét dcã dẫn ở trên nên trừ những làng nghèo, muôn cũng không dược, còn các làng giầu và sẩn dất rộng người dông, bao giò dinh cũng dược kàm thật lớn. Ngoài phấn thò tự

208

trúc khi xây dựng một noi thò lự là sự tôn nghiêm và sự thiêng liêng vậy.

209

lẽ lẻ và nưi họp việc lànc, ãn uốn

CHƯƠN(Ỉ I I I

SINH HOẠT TINH THẦN

VÀ Sự TIẾP ĐÓN HẠT GIỐNG

Tư TƯỞNG KHỔNG. LÃO, PHẬT

TÓM LƯỢC

Ca ba hệ thốne tư tưởng khi vào Giao Châu đã phải dùng hình thức

Khổng giáo

iruyén khấu và dựa vào nhữnơ ý niệm thán bí.

Lão giáo

Đến với những nghi thức lê tự và những lời hay ý đẹp minh chứng cho những điều phải mà dân chúng vẫn đã sống như thế. Những truyện iruven tụng dể thần thánh hoá Khổng Tử dcã góp phần lớn trong việc suy tôn nhà hiồn triết thcành thánh hiền.

Phật giáo

Những tư tưởng của Lão còn trừu tượng hơn cúa Khổng. Học thuyết ấy không thế cứ nguyên vẹn như vậy và Giao Châu mà làm dược cho ai hiếu và tin theo. Trước khi có Lão Tử, lại miền nam Trung Hoa và Giao Chàu dã có những tư tưởng thần bí về sự lu tiên, luyện thuốc trường sinh, mà Lão Tử khi ra đời đã được coi là một hoá thân của Thái Thượng Lão Quán. Những kẻ lợi dùng lòng mê tín dị đoan của dân chúng dã truyền ra một thứ dạo Lão doạ lạc, nhưng cũng khiến phổ thông dược phân nào chủ trương cùa dạơ ây.

211

Cũng được dân chúng làm quen bằng khía cạnh thần bí nhưng nó bám sâu rẽ dược liền ngay để thành nền tôn giáo duy nhất nên cần nghiên cứu kỹ hơn.

Gốc văn minh Ấn Độ

Thế giới thẩn bí Ấn Độ thời Vê Đa

Phát tích ở vùntt dồim bang sôntỉ Indus, nỵười Ân Độ cũnu thờ phiếm thần uiáố.' Khoano 2000 năm Ir. CN, vùim nàv bị ỉziốn

Kinh Vê Đa

Khỏim có ranh ưiứi rõ rệt tiiũ'a thán và nyưừi tronư thời hỗn manc ây. Tất cá nhũìig người anh hùng qua cám đều dược coi là hoá thân của thần. Các loài vật, các dồ vật, cũng đều dược gán cho là có dii mọi thán thòng. Truyện thần kỳ quái dản của Ân Độ dã có phần hơn Trung Hoa về phuơng diện tương tượng.

Kinh Mahabhárata

Là biin văn có nội dung và hình thức rất phong phú, vẫn dược dùng làm càn bán cho sự học vé tôn giáo. Xcã hội, chính trị của thời cổ.

Kinh Bhagavadgita

Đirợc cơi là phần thứ năm của kinh Vé Đa, hiện là thi phám dài nhất thế giới với 90.000 câu thơ. chia làm 18 quyến, mỗi câu thư thường 32 chù’.

Kinh Ramayana

Là một doạn trong Mahabhàrata, nêu cao một triết lý vổ hành dộng nên nó anh hưởng rất lớn dcn dời sống Ân Độ.

Cũng là một anh hùng ca kê truyện thán trừ diệt loài vêu quái dê cứu người.

Đạo Phật viên thành

Nhũng bán kinh cổ này dã ánh hưởng quyết định dến dời sống của /\n Độ. không những văn chương, thi. ca. kịch nicà việc dựng dền thờ những nhàn vật tiểu thuyết Ihcơ các thần thoại ấy nữa.

Giữa rùng già của tư tưởng siêu hình thần bí vỏ cùng rậm rạp ấy, Phật dĩi tu dén cõi viên giác, nhìn thây rõ chân lý của cuộc sống và mở ra một lối thoát khỏi vòng luân hồi nghiệp qua dê cứu dộ chúng sinh bằng tứ diệu dê và bát chính dạo (rất thực tế. không chút gì huyén hoặc thần bí cá).

2 P

Nhò' vậy mà dạo Phật thành cóng ỏ' chính quốc.

Sự phân hoá của giáo hội

Trons hồi Phật còn lại thế. íiiáo hội đã có mầm mống chia rẽ. Đến khi nsài tịch thì sự chia rẽ diễn ra. Các phe phái thảo luận tranh đấu lý thuyết với nhau cànc khiến cho đạo thêm sfiu sắc và phong phú.

A Dục Đế

Vốn là một bạo chúa đáy tội lỗi. giết anh cướp ngôi rồi xàm lãng các nước láng giềng, tàn sát sinh linh hết sức độc ác nhưng A Dục Đê hốt nhiên giác ngộ (nhờ đứa cháu 7 tuổi) đã hôi hận trở thành một vị vua có đạo nhất trong lịch sử. Nhờ A Dục Đế báo trợ, đạo Phật được đà lan ra khắp mọi nơi.

Vua Kaniska

Tiếp sau lại có vị vua anh hùng Kaniska cung cấp phương tiện cho các đoàn truyền giáo đi ra khắp các nước tận La Mcã phía Tây Vcà Trung Hoa phía Đông.

Đạo Phật và Giao Châu

Đạo Phật theo một truyền thống tuỳ duyên hoá độ, rất linh dộng mềm dẻo dối với tín ngưỡng cũ của dịa phương, lại không cứng rán đòi hỏi những hinh thức tổ chức thờ cúng phái theơ hình mẫu Ân Độ. Giữa Phật giáo ở các nước ngoại An không có mối dây liên hệ thuộc hạ nào với Phật giáo An Độ nên khi vào Giao Châu, Phật giáo trở thành Phật giáo Việt Nam với đủ những nitàu sắc và đặc tính dịa phương.

Mục đích sự truyền đạo

Mục dích là ước mong quần chúng kháp nơi suy nghĩ và sống cho phái dạo. Ví thử không đạt dược mong ước thì cũng thôi.

Phương pháp truyền bá đạo Phật

Không dúng hần như nhận xét của G.Perrand nhìn sự việc theo nhãn quan phương Tây và Gia Tô giáo, dã không hề phai có mưu mẹo g) dê làm chơ người ta theo dạo ca. Cứ sòng chung với các thương nhân Ân Độ là dân dịa phương bị lây quan niệm nghiệp duyên nhân quả của họ.

Đạo Phật đến Giao Châu vào hổi nào?

213

Không thể căn cứ vàơ vết chân các nhà tu danh tiếng đặt trên đất Giao Châu mà xác định là hồi â'v đạo Phật mới vào tới. Nó đã xâm nhập

từ khi có các thươnc điếm, tức là vào khoảns íjiữa thế kỷ thứ II. Sĩ Nhiếp là thái thú năm 187 đã theo Phật giáo. Mâu Bác chạy loạn sang Giao Châu năm 168 đã chốns đối Lão học sa đoạ rồi cuối cùng theo Phật giáo. Chứng tỏ rằnc trước nhữns năm ấy, ở Giao Cháu đã cổ những cơ sở li' theo Phật rồi.

Phật giáo đã đáp ứng đúng cần dùng tinh thần

Của dân địa phươne đương đau khổ dưới ách cai trị hà khắc của thái thú nhà Hán và đương cần tìm phươna thuốc xoa dịu cũng như tìm một hy vọng cho kiếp lai sinh.

SỤ TIẾP ĐÓN HẠT (ỈIỐN(Ỉ TƯ TƯ()N(; KHổN(;, LÃO, PHẬT

Đế phố cập tư tưởng Khốnc Lão ớ Trung Hoa, Phật ở Ân Độ đòn quán chúng ngay tại chính quốc nơi phát sinh của nó, nsười ta đã phai dùng phương tiện truyền khẩu (vì dân khổng biết chữ) và phái dựa vào yếu tốt thần bí, để có những sự dung dưỡng cho nó lớn mạnh. Thêm nữa. hồi cách đây 2.500 năm dân chúng ở cả hai nước ấy còn trong trình độ nhận thức kém cỏi đã không thể nào hấp thu nổi những ý niệm quá trừu lượng.

Những tư tưỏìig ấy qua Giao Châu, với cá nhân những người buôn bán, làm ãn, những người lính, những quan lại... không phai bàng cá một khối tư tưởng triết lý trừu tượng đến không ai hiểu nổi. Mà chúng qua nhờ những yếu tố thần bí nói trên. Để dùng một hình ảnh cụ thể, ta có thc nói: những hạt giống tư tưởng Khổng Lão Phật đã cưỡi trên lưng những con bò thần bí của Trung Hoa. Ân Độ để đến bãi cỏ thần bí của Giao Châu. Bò ăn cỏ mà lớn, lại tuôn phân ra dể cho cỏ mọc thêm nhiều, rồi bò lại ăn cỏ ấy. Để cuối cùng bò và cỏ hoá hợp với nhau làm rơi những hạt giống tư tưởng xuống cho nó nảy mần và mọc thành cây.

Toàn thể ba hệ thống tư tưởng đều theo cùng một lề lối du nhập Giao Châu. Nhưng mỗi hệ thống lại có một trường hợp và một phương tiện dặc thù.

1- Khổng giáo

214

Khổng giáo đến với những nghi vệ thiên triều nhà Hán, chăm chú nhiều nhất tới nghi thức tế lự. Nó dã tác động mạnh vào lễ tục của dân chúng địa phương, làm cho phải tự hệ thống hoá những tín diều cũ của đạo nội. Từ danh tính các vị thần linh, quan niệm về tổ chức của Tam Tứ phủ đến nghi thức dâng cúng, tế lễ, tóm lại là phần hình thức của đạo nội dã được người Lạc Việt ý thức để cải tiến.

Nhữns phần lử ưu tú (rất hiếm hoi) có thể học để đọc được những chính kinh chính sử của Khổnsỉ giáo thực ra vốn là sản phẩm đúc kết nên từ nhữna phong tục của cả đơn vị sống và cả làng. Phong tục là phương tiện giáo hoá duy nhất đối với dân chúng không biết chữ. Phong tục đã dùng dư luận khen chê trong làng mà ép cá nhân vào cuộc sốna thuần lương. Phona tục lại được những mối dày tình cảm của gia đình họ hàng củng cố đời này qua dời khác.

Khổng giáo đến Giao Châu chí cần có lời hay ý đẹp để làm sáng thêm những điéu phải mà dàn chúng vẫn đã theo. Báo rằng Khổng giáo đã khai hoá cho đám dân Giao Chỉ còn man rợ là nói hùa theo giọng kể công của người đô hộ. Cồng bằng ra mà xét, công của Khổng giáo chí là đặt tên cho những cái cây đã mọc sẵn trên khu vườn mới mua. Những sự việc mà Khổng giáo gọi là chân, thiện, nhân nghĩa, lễ, trí, tín... không đợi đến lúc được đặt tên mới có mà vốn có đã từ lâu trong một nền lễ giáo do phong tục của làng đã đóng khung con người vào.

Lấy một việc thật cụ thê’ ra nói cho dễ hiểu: hai đứa trẻ mới lên 3 và lên 4, anh em cùng cha mẹ, chúng lúc nào cũng nhìn thấy nhau, lúc nào cũng chơi với nhau. Tmh thân yêu của chúng nở ra do việc sống chung ấy. Khi có dứa trẻ khác dánh thằng anh nó, thằng em vào bênh và đánh lại. Hỏi những điều dạy luân lý đã dự được gì vào đấy? Hay hành vi hợp với luân lý ấy đã chỉ do việc sống chung nở ra? Và luân lý đã thể theo đó mà cỏ đọng thành lời dạy?

Cuộc sống chung tự nhiên có lễ giáo của hai đứa trẻ và cuộc sống chung tự nhiên có lễ giáo của những người lớn trong làng cũng không khác gì nhau. Luân lý của Khổng giáo đến sau đã chỉ theo những gì đã có để giảng dạy mà thôi.

Ngay tại chính quốc Trung Hoa, số người dcìn Trung Hoa không biết chữ cũng không ít ỏi gì. Khổng giáo có thể sống được và phát triển được trên đất ấy, một mánh đất lừ xưa vẫn lấy đức để trị dân, và những đời Nghiêu, Thuấn, Thang, Vũ từng đã là những đời vua có đức để cho đời sống xã hội có được một dời sống lý tưởng, hay đúng hơn, một thời đại Hoàng kim cho bao giờ người ta cũng mơ ước được thấy trở lại chính là nhờ nó đã dựa theo quy mô kiến trúc của lý tưởng cũ mà hệ thống hoá.

2 1 5

Ý niệm thay trời trị dân của những vị dế vương có đức thì còn, không có đức thì mất và ý niệm về mệnh đã hàm chứa ở trong nó những tư tưởng thần bí cổ Trung Hoa. Với tất cả tính chất hợp lý của người Trung Hoa miền Bác, Khổng Tử đã chỉ nói: quỷ thần kính nhi viễn chi, mà không có lời gì đụng chạm đến nền thần bí cố hữu. Trái lại, ngài vẫn

còn phải dùna nền thần bí ấy như cỗ xe chuyên chở đổ phổ cập tư tưởns vào đại chúns,.

Phùnư Hữu Lan irons sách TruìiỊ’ Quác Triết Học Tiểu 5í?thừa nhận răng đạo Khống không phai là một tôn siáo mà chi là một triết thuyết, một pỉatonisme hav aristotélisme của Trunu Hoa. Nhữns sách Tứ Thu đã khôns lié đề cập đến lịch sử sáng thế hay thiên đường, địa nsục gì hết.

Đê chứii” minh đicLi ấy, đây là mộl đoạn truyện trong Đông Chu Liệt Quốc nói

vổ đức Khốns Tử;

“ Nói về sự tích đức Khổng Tử ra làin quan với họ Quý Thị. Nguyên đức Khống Tử là con quan Đại phu nước Trâu là Thúc Lươne Ngột, bà mẹ là Nhan Thị Trưni: Tại. Tlulc Lưcrna Ngột trirớc cưới bà Thi Thị người nước Lỗ, sinh con gái thì

ấy bà năm chiêm bao thấv ông thần Hắc Đ ế tới inácli rằng: “ nhcà ngươi sẽ cổ một người con thánh, mà sau khi sinh ra thì ở trong đâì Không tang". Vừa lính giấc mộng thì bà licn thụ thai. M ột ngày kia, bà đương ngồi, cũng tự như giấc mộng mơ màng, bà ngó lliấv 5 ông tiên đứng có hàng giữa sân, xưng là tướng tinh 5 vì sao. đcm một con thú hình như một con trâu nho nhỏ có một cái sừng, có váy như vẩy rồng, lới nép một bên bà. khi ấy bà biết là một giống thứ kỳ clị lién lấy dai thêu buộc ơ bên sừng, sau khi tinh mộng bà thuật lại cho chồng là Thúc Lương Ngột nghe Thúc Lương Ngột nói “ âV là giống kỳ lán vần là một loại thú rất quý” . Khi gan lâm bổn. bà vào ớ trong hang đá núi Nam Sơn (lục gọi là đàì Không tang), vừa nứa dêm thây hai con rồng xanh ớ liỡn trời bay xuống, giữ hai bén núi, lại có hai bà thần nữ cấm hương xông ở giữa trời một hồi làu rồi biến di. K hi bà sinh dức Khổng Tứ rồi, ở trong hang dá thình lình cháy ra một ngọn suối, nước rất là trong sạch đè cho bà tám, khi tắm rồi thì suối ấy khô liền. Đức Khổng Tử sinh ra có tướng lạ hơn người: môi trãu, lay cọp, vai uyên, lưng rùa, miệng rộng như biên, trên sơn đình thì giữa thấp bốn phía cao. hình như chữ phiin. Thân phụ là Lương Ngột nói "đứa trỏ này bẩm thụ dược tinh khí ờ núi Nam .Sơn nên dặt tôn là Khổng Khâu” (nghĩa chữ khâu là núi). Chưa được bao lâu Thúc Lương Ngột tạ thế, bà mẹ là Trưng Tại nuôi lớn lên. mình dài chín thước sáu tấc, cho nên người thường gọi là trường nhãn, có tính chất thông minh lạ thường, lại chăm nom việc học, thật là một bậc dại thánh, di chơi khắp mười tám nước, dạy học trò dòng tới ba ngàn, di lới đâu thì chúa trong nước yêu môn, những đảng quyền thần ai cmng kiêng sợ nhưng rồi khỏng nước nào dùng dược. Lite ấy đức Khổng Tử còn ở tại nước Lỗ. Thúc Tôn V ô K ỵ nói với

216

Nhưng luận theo Phùng Hũli Lan nhu vậy là luận theo sự nhận định của hiện thời, thế kỷ thứ XX. ớ mức độ tiến hoá của 2.500 năm cũ, mức độ mà con người luôn luôn bị thần quyền ám ảnh, một thứ triết thuvết thuần lý và II ÙLI tượng như thế đĩi hết sức khó tồn lại, nếu không có sự vổ tình hay cố ý thần thánh hoá Khổng Tử bằng nhũ'ng câu chuyện như kỳ làn xuất hiện hay lên núi Ni Sơn cầu con, hay trong người cỗ 72 nốt ruồi nên thu nạp 72 môn d ệ ..."’

Nhữiiíi câu chuvện như thế về Khổns Tử truyền từ miệng naười nọ qua lai naười kia cổ thế ngay từ khi ngài còn sốna đã khiến lâì cá nhữna aì liay. đẹp. phai của dân chúna vẫn thường sống theo nền nếp cũ cũna được naười ta nhìn nhận kà từ Khổng Tử mà ra. Nhữna điều khác do nhữne naười khác chủ trương (những người này kém uy tín tinh thán hoặc thu()c loại môn dệ) muốn quần chúng tuân theo, người ta cũng gán luôn cho Khổng Tử.

Du nhập vào Giao Chi có tliế vào khoảng dầu và cuối nhà Triệu (207 và III ir.CN), học thuyêt của Khổng Tử nếu chỉ loàn là một mứ danh từ và lý luận trừu tượng hêt sức xa lạ với người Giao Chi (ngay cá với hạng ưu lú) thì làm sao có thê cho ngirừi la lĩnh hội dược?

Tôn Ty rằng: “ muốn c I k ) trong khoi gia lliàn hièp chẽ ngoài khỏi nước Tề xâm lấn thì phai có đức Khổng Tử mới được” . Quý Tòn Tv bòn dơi dức Khống Tứ lới, nói chuyện S U Ô I một ngày, toàn nói những viẹc cao xa. Quý Tôn Tv khổng thc dò hicLi gì dược, lúc dứng dạy di thay áo, vừa có người ớ áp Phí tới báo một sự ràì quái lạ là đào giêng dược một khôi dât. trong khối dất ấy có một con dc. không biết vật gì vêu quái như vậy. Ọuý Tôn Tv muốn thứ cho biết tài dức Khống Tử, báo người â'y giấu đi clió nói ra là vật gì. rói vào ngồi hoi dức Khổng Tứ. Đức KhcSng Tứ lién nói ràng: “ theo như v tôi suy doán thì trong ấy chắc có con dê vì tỏi có nghe những vật yèu quái như ớ trên núi là Quỳ Võng Lưcrng (ma di một chân, hay học tiếng nói người la dê làm cho dể mé hoặc), dưới nước là Long Võng Tượng (giống ấv hay ãn người), còn giữa dấl là Phán Dương (thứ dê ày không phái có giỏng dực giông cái chi có hình mà th ỏ i).

Báy giờ dào giống mà dược, giống tức là dâì. thì giống ớ trong dất chắc là con dê rồi. Quý Ty nghe dức Khổng Tử biện bác rõ ràng mới dòi người ấp Phí vào hói thì qua là con dê ấv khổng phân biệt là giống dực giống cái. Quý Tổn Ty khi ấy cá sợ nói rang: “ học giói như vậy thiệt là khống ai bì k ịp " rồi dùng dức Khổng Tử làm quan Tê Trung Đỏ, việc ấy lieng dốn tới nước Sớ. Chiêu Vưctng khiến người dem lề vật qua dâng cho dức Khong Tứ dê hỏi việc dược một thứ trái lạ trước khi qua sòng Đại Giang. Đức Khổng Tứ tni lời với sứ giá rằng: “ Trái á'v tức là trái bèo, xé ra mà ăn ng(ìn lắm, vì trước khi lôi di ch(íi nước Sớ, qua ngang sông nghe mấy dứa trẻ hát rằng: “ Trái bèo nổ ơ trên sông, hình như cái bát sắc hồng hổng tươi, của ngon vật lạ chờ người” . V ì vậv lỏi mới biết trái bèo. nhưng cây bèo là giống nổi lênh bênh không có gốc rẻ, mà kết lén trái, tuy ngàn trăm năm cũng chưa dễ dược, mừng cho Sớ Vương dược trái bèo này là tan rồi lại hợp, suy rồi lại thịnh, trời dã bày diềm cho nước Sơ biết trước dây". Sứ giá vé tâu với Chiêu Vương. Chiêu Vương kính phục lắm.

217

Sự thíin thánh hoá ơ chính quốc tất dã phai dược khuếch xung lên. Khuếch xung dên dộ danh xưng dức Khổng Tứ hay Khổng Phu Tứ, dã dược gọi là dức Thánh Khổng, hay chỉ gọi cữ tên là Đức Thánh. Cá những chữ viêt chứa dựng nội dung tư tướng cũng dược liệt là chữ của Thánh Hiền. Người ta thấy mánh giấy có chữ Nho rcrt dưới dất thì lượm dể dỏì mà không dám de giày dạp lèn trên.

Khổng học từ Trung Hoa trở thành Khổn? giáo khi tới Giao Châu là như vậy.

Những lời dạy đạo đức luân lý của họ Khổng truyền trực tiếp đến những phần tử ưu tú của địa phương có thể đọc và viết được đã được quần chúng tìm hiểu và tuân theo một cách gián tiếp qua một lóp người dụng tâm thần thánh hoá họ Khổng để mình cũng được thơm lây và để lời dạy cùa mình dễ có uy tín hơn. Nhiều lời dạy chưa chắc đã phải là của hợ Khổng, nhưng cũng đã được người ta gán cho là Đức Thánh dạy như thế. Nhiều lời dạy này, có khi chỉ là sự minh xác những nền nếp sống lễ nghĩa vẫn có từ trước ở một vùng nào đó, nhinig để dễ phổ biến đến các vùng khác có nền nếp sống kém cỏi hơn, người ta cũng đã có thể khuếch xung là của Đức Thánh đã dạy như thế.

‘ "Những ngày vua thiết đại triều thì vô cùng long trọne. Ngày ấy làu đài rực rỡ. đường xã thơm tho, cờ phan rừng rực, có hình nhạt nguyệt lôi điền, có dạng long hổ phong vân. Xe có 12 thứ: Chí nam xa, K ý lý xa, Bạch lộ xa, Loan du xa, Canh ván xa, An xa, Tứ vọng xa, Dưưng xa, Huỳnh việt xa, Báo v ĩ xa. Lộ cung có 9 cái: Thượng lộ, Châu lộ, Huỳnh lộ, Bạch lộ, Huyền lộ, Ngộ lộ, K im lộ. Tượng lộ, Cách lộ. Liễn có 7 thứ: Đại liễn. Phụng liễn, Đại Phượng liễn, Tiếu khinh liễn, Thương dinh liền, Tiểu ngọc liễn, Đại ngọc liễn. Dư có 3 thứ: Ngũ sắc dư, Thường đình dư, Văn võ dư. Giá cũng có 3 thứ: Đại giá 92 cỗ, Pháp giá 36 cỗ, Tiểu giá 12 cỗ. Cờ ngù có: ngũ vàng, ngừ xanh, ngừ đỏ. ngừ trắng, ngừ xám. Lại có Long dẩu can. Huỳnh bạch can, Tín can. Trường can Phan thì có: Dáng dẫn phan, Cáo chỉ phan, Diễn giáo phan. Thông phan. Tín phan, Tràng thì có: Châu tước tràng, Huyền võ tràng, Thanh long tràng, Bạch hố licàng, Võ bào tràng, Bích du tràng. Tiết thì có: K im tiết, Bảo v ĩ tiết, Hố tiết. Hướng tiết. Tánh thì có: Tử la tánh, Huỳnh la tánh, Thanh la tánh. Quạt thì có: Đơn long phiến, Long phiến. T rĩ v ĩ phiến, Tú hoa phiến. Có nội giáo phòng, ngoại giáo phòng. Có đường thượng nhạc, dường hạ nhạc, sanh huỳnh trập trổi, luật lữ hoà minh, bôn tả bày 2,3 đội triều thiên quân, bên hữu bày 2,3 dội hộ giá quàn, đều là ngân khỏi, ngân giáp, cám bào, kim đai, tháy đều cầm dại tướng quân nghi trượng.

Dưới đon trì có tam công: Thái sư, Thái phó, Thái bảo. có tam cỏ: Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu báo; có lục khanh: Trùng tế, Tư đồ, Tông bá, Tư mã, Tư khấu, Tư không, có cửu tự: Thái thường, Quan lộ, Vệ uý, Thái Bộc, Đ inh uý, Hồng lô, Tông chánh, Tư nông, Thiếu phủ, Có lưỡng tinh Trung tho tinh. M ôn hạ tinh; có tam đài: Trung dài. Ngoại đài, Ngân đài, có lục quân: Tá võ lâm, Hữu võ lâm, Tả long võ, Hữu long võ, Tá thần võ, Hữu thần võ, có bát hiệu: Trung luỹ hiệu, Đồng kị hiệu, Việt kỵ hiệu, Trường thuỷ hiệu, Hồ kị hiệu, Đại lỗ hiệu, Hổ bôn hiệu. Trên đại diện thì thiên tử ngồi, đầu đội bình diinh quan, chân mang song thể phụng vô ưu lý, mình mặc nhật nguyệt long bào, tay cầm triều thiên bạch ngọc bích.

218

Phần đặc sắc nhất trong học thuyết của Khổng Tử lại là để tôn quân và sắp đặt trật tự trên dưới của một xã hội có văn hiến. Nó được biểu lộ ra ở những nghi vệ thiên tủ’*".

Những nghi vệ thiên tử ấy chỉ ở kinh đô Trung Hoa, các quan lớn mới được thấy. Còn ở Giao Châu người ta chỉ được thấy cái hình bóng phỏng theo của nó trong sự tế tự. Tuy vậy, phần tác động của nó đã rất mạnh và rất hiệu qua đến quần chúng. Quần chúng Lạc Việt trong không khí thần bí cô hữu, vốn đã có sẵn một ý niệm về thờ kính và thần linh. Nhưng nghi thức tổ chức thì kém Thiên triều Trung Hoa. Nay được thấy tận mát những nghi thức cúng kiếng và được nghe tận tai đó là chủ trương cùa đức Thánh thì quần chúng cứ việc nhắm mắt theo, không cần tìm hiểu đích xác phần học thuyết trừu tượng cũng như không cần hiểu cổ đúng thực từ đức Thánh ra những nghi vệ ấy không.

Vậy đã thật đúng ràng Khổng học cưỡi trên lưng con bò thần bí Trung Hoa đê đến ãn cỏ trên bãi cỏ thần bí của Giao Châu. Rồi với năm tháng bò với cỏ hoá hợp với nhau dé’ rơi hạt giống tư tương Khổng Tử xuống mà mọc thành cây.

Con bò thần bí này có một sác thái riêng nữa mà chính Khổng Tử không có, hay chí có ở nguyên lý là thiên mệnh thiên số, biến dịch và quỷ thần (kính nhi viễn chi). Nhưng cái sắc thái riêng ấy của con bò thần bí đã cố tình Icàm lẫn lộn nguyên lý với phương thuật bằng những người và những cái học về bói toán, y, lý, số, tướng v.v... dựa theo cái ý rằng sĩ khii bách vi, cái gì ke sĩ cũng có thể biết và làm được.

Tất cả những học thuật ấy đã có sẵn mầm mống tin tưởng tại miếng dất thần bí của Giao Châu. Và những buổi đầu gặp gỡ giữa người Lạc Việt với phần học thuật ấy được gán cho là Khổng học đã thành công ngay, ấy là nhờ có sự không xa lạ về phương diện thần bí.

2 - Lão giáo

Tư tưởng triết học của Lão Tử còn trừu tượng hơn triết học của Khổng Tử. Đối với người ít quen thuộc với sự trầm tư, khi chỉ quan tâm nhiều dến cuộc sống thiết thực ở trước mắt như ở hồi 2.500 năm trước, nhất là đối với người Giao Chí, số chữ nho có học được cũng không đên độ thấu đáo nổi những phần tinh tuý của đạo Lão. Muốn xuống quần chúng, Lão học cũng phải chuyển thành Lão giáo với những truyền thuyết thần thánh hoá như; triết gia đã chui ở nách mẹ ra và khi ra đời tóc và râu hài nhi đã bạc cả.

219

Điều ám ảnh của người phương Đông thời xưa vốn là sự trường sinh bất tử. Không giống với mục tiêu của các nhà luyện kim thuật phương Tây. Cho nên, huyền thoại về Lcão Tử đã không có gì lạ với những tin tướng thần bí cũ của người la về sự tu tiên, sự luyện thuốc trường sinh, sự luyện phép thuật.

Chúng tỏi tin chác rằno nhữns tư iưcVng thần bí này đã phái có trước từ lâu đời, mà nhân vật Lão Tử về sau đã được coi là một thứ hoá thân, và nhữnư bài ca irons Đạo Đức Kinh đã được nhắc thành những câu thần chú khi các môn đồ làm việc tu tàm luyện lính.

Sự thành côns trong lôi tu theo Lão 2Ìáo có hay không? Đã khôna thể cổ bằns cớ 21 để chứn2 minh ra được. Chi biết là cữn2 có nhữn2 n2irời 2ỌÌ là thuật sĩ, troii2 thực tố đã làm các nghề địa lý. số. tướn2. phù thuv... và có đạt một mức độ tiến hoá nào về học thuật. Nhữii2 n2ười ấy lại đã có từ trước khi đạo Lão ra đời. Nhữnư n2ười ấy chính là hiện thân của nhữnư tin urởn2 thần bí. Và chính những người ấy khi tôn thờ Lão Tử là Thái Thượn2 Lão Ọuân, họ đcã làm việc mượn nhãn hiệu triết học cho nội duii2 tôn 2Ìáo mà biến Lão học thành Lão 2Ìáo.

Lão học đã qua Giao Châu với cốt cách Lão giáo trên một cỗ xe chuyên trư thần bí. trong đó cổ thật dầy dủ các thứ thần linh của những truyện thần kỳ như Phong thần, thực đã không lấy gì làm xa lạ với nền thần bí cố hữu của người Lạc Việt.

Ay là nền Lão học gia cho người ta lợi dụng, dể lớn thì huy động quần chúng làm loạn, như giặc Khăn vàng ở dời Tam Quốc và nhỏ thì lợi dụng lòng mc tín dị doan cứa quán chúng mà kiếm ãn.

Nào thư phù. thư thuỷ. nào trừ yêu, trừ tcà, chữa bệnh, thi thố pháp thuật, rồi doạ nạt gia chủ kiếm tién, rồi bcày trò cúng cấp, ticn tạ tà ma. tá thổ, rước vong, tẩy uế. khai quang, nhương sao, giai hạn. hoặc tống ôn, ycm trùng, cầu đổng thiếp v.v...

ơ hồi cuối dời Đòng Hán này, đạo Lão có dến Giao Châu là đến với thứ Lão đoạ lạc ấy. Cho nên sử chép sau này Mâu Bác qua Giao Châu mở ra những cuộc dàm luận về dạo Lão thì dã không có người nào đủ sức dường dường tranh biện với ỏng.

3 - Phật giáo

Đức Phật là một nhân vật lịch sử. Đổộg thời vói ngài còn có dạo Zainisme cũng nhìn nhận như vậy. Hồi Phật tại thế, theo kinh Phật có 62 trường phái lý thuyết triếl học, mà theo kinh Zainisme thì có tới 363 trường phái, phân làm 4 dạo phái lớn, và Đức Phật đã phái đối đầu kịch liệt với các trường phái này.

Những truyện thần thoại về Đức phật, không rõ phát xuất ngay hồi ngài còn tại thế hay về sau này dã cho ta một ý niệm về thê cách phổ cập giáo lý Vcà đại chúng.

220

Những chuyện ấy kể ràng:

Hoànsi hậu Mã Yã Da Vĩ nằm inộns thấy xuống ao lăm rồi có con hạch tượng ôm bó scn trắng chui vào hông ngài khi ngcài ớ trong toà lầu hạc. Đó Icà điểm cát tường ngài được toại nguyện về phương diện hồng phúc trần gian và sẽ được một vị hoàng nam, siêu phtàm, vưọl tam giới.

Đức vua triệu 64 vị Bà La iVlôn lại đoán mộng, các vị đều quá quvct: hoàng hậu sẽ sinh hoàng nam mà nếu làm vua thì hOcàng nam sẽ là Chuvến Luân Pháp Vương còn nếu xuất gia thì người sẽ đắc đạo thành đấng Viên Giác.

Khi hoàng hậu sáp đến kỳ sinh nơ thì vổ quẽ ngơại. Hoàng tử được sinh ra ở vườn Lumhini. Vừa ra khỏi lòng mẹ ngài bước đi 4 hướng mỗi hirứng 7 bước và có 7 bông scn đỡ chân rồi ngài ngáng nhìn không trung và nhìn xuống đật (4 phương thượng hạ là chí về vũ trụ. Báy bước là chỉ về quvổn lực sáng lạơ mói đe thay thố 7 cõi của chúa lể Phạm Thiên khai lập).

Năm ngày sau, đức vua triệu 108 vị Bà La Môn tới nghị bàn đặt tên cho Hoàng tứ Vcà lên ngại được đặt là Siddhârtha (Tất Đạt Đa) có nghĩa là vạn sự như ý.

Khi lên 7 tuổi, theo vua cha dến dự lỗ lịch diền, thấy giun dế bị lưỡi Ccàv hất tung lên cho các chim nhỏ mổ thịt rồi những chim này lại bị chim lớn bát dê ăn lại, ngài buồn cho kiếp sống của vạn vật, bèn nhập sổ tức quán (Anapana Sati) và ngài dắc sơ thiền. Đó là cái băn khoăn vé giải thoát khỏi những ưu tư của kiêp sống theo truyền thống Bà La Môn.

Lên 8 tuổi, ngài dược các vị thông thái cực uyên bác dạy học nhưng học một biết mười, ngài không những giỏi hơn các bạn dồng học mà còn biết nhiều dieu có thổ giang lại cho tháy dạy.

2 2 1

Khi ngài lừ bó cung vua, sau nhiều năm tu theo lối ép xác của những phương pháp Bà La Môn cũ không có kêì qua, ngài xuống sông tám rồi lĩnh toạ ở cội câv bổ dổ Agvalha. Ngài bị quỷ Kamaru dùng ma thuật cám dỗ. Ngài hình thán chế ngự dược ma quỷ và đốn ngộ. Từ lúc ấy, ngài dã thành Phàl. Ngài ngồi 7 ngày dêm dưới gốc cây bồ đề dám mình trong cuộc tu chứng CLiòi cùng, rồi dứng lên dịnh dời bỏ nơi ày. Nhưng cỏ gì huyền bí giữ ngài lại dưới cội cây khác cũng 7 ngày dôm licn, lòng tràn ngập lạc thú vì ngộ đạơ. Lần thứ .7 ở dưới cội cây khác cũng 7 ngày dêm liền, ngài chống với những cám dỗ khác, và cứ thê tới 7 lán, 49 ngày dêm lất ca. Lần thứ 5, ngài ngồi dưới cội cây khác, cớ con rắn chúa Muralinda làm tổ dưới rỗ cây ấy. Trong khi ngài tĩnh toạ có liêng sét nổ trên trời và dột nhiên gió thổ ào ào, mưa rơi tấm tã. Rán bò ra khỏi lổ quấn 7 vòng quanh mình ngài Vcà ngóc dầu xoè ra làm mũ dể che cho ngài. Rắn nguyện: dù cái lạnh hay cái nóng, con muỗi hay con ruồi.

dù gió, dù nắng, và cá những loùi bò sát nữa cũng đều không được phép dến ưần đức Phật. Sau 7 neày đêm mưa tạnh gió tan, rắn hiện thành hình Iigưừi, đứng trước mật ngài làm lễ.

Đại đê sự thần thánh hoá làm như vậy. Tuy nhiên khi vào Giao Châu, Khổng giáo và Lão giáo ở hồi đầy không ảnh hưởng sâu đậm lắm đến quần chúng, còn Phật giáo thì bám sâu rễ liền ngay, tạo thành nền tôn giáo duy nhất cho toàn quốc nên ta cần ngừng lại làu hơn dể nhận định rõ.

( ỉ ổ c VÃN MINH ẤN ĐỘ

Văn minh Ân Độ gốc ở vùng dồng bằng sông Indus thuộc tây bắc /\n hiện nay. Người ta đào thấy ở đấy vết tích những thành phố lớn như Harappa, Mohenjo - Daro, Ket Diji có chợ, có đường phố lớn, có cống ngầm, có hồ lắm... chứng tỏ nền vãn minh cổ Ân Độ năm ngày năm trước đã rực rỡ có phần hơn vùng Lưỡng Hà (Mésopotamie).

Dân chúng vùng Indus theo phiếm thần giáo, thờ cây cối, nhất là cây pippal, thờ thần Mẫu. thần Săn bắn, thần Thiện (Shiva), bò mộng, bộ phận sinh san Nguyên Dương (linga), nhưng chưa tìm tòi sâu sắc lắm về hiện tượng nhân quả. Một vài giống dân khác ở vùng Trung Á đã có ý niệm mơ hồ vê sự đáu thai trở lại trần gian. Chẳng hạn như: người bị cá sấu hay bị hổ ăn thịt sẽ đầu thai Vcào loài cá sấu hay hổ: người bị chết đuối sẽ thành vị thần ở nước; cây tự nhiên mọc trên mộ người chết thì hồn người sẽ nhập vào cây ấy; các đồ vật, cầm thú, có liên hệ mật thiết với người khi còn sống và khi chết hồn người sản xuất nhập vào đấy; và hồn người chết vãn tái sinh thành các loài khác.

’ Nmrời Arycn là giống neười đẩu tiên ơ Ân Độ còn để lại một nền văn chươim là

kinh Vê Đa. Chính kinh ấy cho ta biết họ là những người đã đêh xâm lăng Ân Độ.

Nguồn gốc cùa họ đã không biết rõ, chi dựa vào những nhộn định về ngôn ngữ đề phóna đoán ra: Những nét giống nhau của Phạm ngữ Vè Đa với những ngữ hệ chính ở châu Âu đã chcr phép người ta xác nhộn rằn2 ở thời tiền sử đã có một thứ tiếns Ân - Âu là sốc chuns cùa các nsữ ở An Độ và châu Au. Nhân dấy người ta cũns đoán rằns siỏns dân nói tiếng ấy đã là ihuỷ tổ cúa những siông dân nói tiếng nói từ đấy ra.

riêng Phạm Vê Đa và cố ngữ

Iran dã gần nhau nhất và có nhicLi diêm tưưng dốns khôns những giữa những từ ngữ mà còn giữa những ý niệm ở nội dung;. Cho Iiẽn người la chắc là người cổ Iran và nsười An Vc Đa dã tht)át từ một gốc Ân- Iran chtins mà ra.

Khoáng 2000 nãm tr.CN, các bộ lạc Aryens đột nhiên cường thịnh và bát đầu thôn tính thế giới, phẩn lan tới Trung Âu, phần tới Balkan, Bắc Ý, tràn ngập Turkestan, Caucase, Ba Tư. Rồi lừ Ba Tư. người Aryen tràn vào thôn tính vùng Indus'"

Aryens (do chữ Phạm Arya là quý tộc), là tên của dòns imười An -

Iran da trắng thuộc hàng quý tộc.

Arycns có kỹ thuật chiến tranh rất tiến bộ, đã biết dùng ngựa và vũ khí bàng sắt hơn cả các giống dân khác ở Ai Cập và viìng Lưỡng Hà chỉ liếp vận bàng xe do bò và người kéo, cùng sử dụng các vũ khí bằng dồng. Họ chiến đấu hăng hái, biết doàn kết, có tinh thần kỷ luật, lại dẻo dai. khéo thích ứng hoàn cánh và biết tuỳ thời dể thu phục lòng người.

Các thứ thần thoại đã được người Aryen truyền dần vào Ân Độ theo lối diễn ta những trận chiến của họ để khuất phục người bản xứ Dravidien, bằng bản kinh cổ nhất là kinh Vê Đa (trước 1500). Các anh hìing vĩ nhân của họ thuộc hệ phái của Trời (Dévas) còn của bên thua, thuộc hệ phái của Quý (Assuras). Những truyện thần kỳ ấy lại gợi ra những truyện thán kỳ khác, và phần thần bí Aryens dã hoá hợp với phần thần bí của thổ dân cũ.

Kinh Samlyta rồi Mahabhãrala sau kinh Vê Đa ấy đã diễn tá những trận chiến của dòng họ Bhârata chống lại các người trong các dòng họ khác, kịch liệt như truyện Phong Thần cúa Trung Hoa vậy.

THẾ (ỈIỚ I TH ẨN BÍ ẤN Đ ỏ THỜI VÊ ĐA

Những tin tưởng theo kinh Vê Đa thường gồm trong một sô thần tượng. Những thần tượng Iicày có thể chia thcành ba nhóm đáp ứng cho những ước vọng của ba loại người trong xã hội; thần tượng về chủ quyền, thần tượng về chiến tranh và thần tượng về sinh sán.

Căn bản của thần thoại Vê Đa là theo thiên nhiên. Nhưng không được dơn thuần hẳn như thế iTicà cổ thể đã được hiểu rằng mọi hiện lượng thiên nhiên đều dơ pháp thuật của một vị thần nào làm ra như thế. Người ta nhận thấy trong kinh Vê Đa, cái xu hướng gán mọi sự việc xáy ra dưới thế gian là do trên trời giàn cảnh dể nói ý nghĩa huyền bí cua mọi sự việc ấy.

Truyện Tây Du và Phong Thần của Trung Hoa cháng hạn, có kê cá cái đèn cúa Tliái Thượng Lão Quân trốn xuống hạ giới làm vêu quái neăn đưèaiíỉ Tam Tạng hay co truvện nói vé cái uất khí cùa người dâng lcMi trời thành cái mốna làm các tiên bị càn dườniz.

22.5

Số lượng các thần dã không sao định rõ dược, bởi không có ranh giới rõ rệt giữa thần và người, thêm tất ca những đồ thờ tự và những giá trị trừu tượng cũng có thế thành thần, vào một lúc nào dó, hay ơ khía cạnh nào dó"’.

Sự Iiâim lèn hàim thẩn bao siờ cũnsỉ do đươns sự tham uia nliữn^ việc thánh thiện. Con nỵười thưừim cũnu bìic bực lên được, cố nhiên với nhữnc huvền thoại có dính nhiổu ít đcn lịch sử. Khi cunc thinh nhữim thiên thần ấv. neười la lại hiểu Icà nhừns ihiôn thần ấy có nhữnư phép tăc Ihấn thônư biến hoá như các vị thần khác. Vì vậy nicà dần dần các thần dền nsami nhau vc thán thônc'".

Một vài vị ihần của Ân Độ ihco kinh Vô Đa riiần V i s i i i i : l à v ị i l i ầ n c l i i d i c ó h a b ư ớ c l à v ư ợ t k h o i n i ạ l d á l l ẫ n k h ỏ n u u i a n d è d è n i h i c n ( t ì n h . H a i b ư í í c d ầ u . m ă t i m u ừ i C()I1 t h â y d ư c t c . B ư ớ c t h ứ b a l à n s o à i t ầ i n c h i m b a v . V ì v ậ y C(')n C() tcMi U r u k r a m a n g h ĩ a l à n ư ư t ứ d i r a , \ a .

'l lỉán Variina: là thán .sán” tạo ra các thố ” ió'i và giữ uìn tất cá tron” VÒĨI” trịil tự, Đó lià vị chúa tc dặt ra các dạo luật thiên nhiên và dạo dức cùng trừng trị nhữn” kíi phạm l(ii. Kc C(í l()i bi(;t h(ii cái thì dưcvc tha. Thần cỏ thê làm mưa và thinh thoáii” íiico rác nhữnư bệnh lật dau nhức vì nưcVc dị)c.

Thán tluừrn” liên kết V('ri thần M ilra theo thố dối mihịch. Hỗ M ilra là nưày thì thần là dem lức mặt trăn” , d(} lại bên b(S tức cho nhau và chia nhau làm nhữim việc báo vù ccai” lý và dạo dức. Một dặc lính của M ilra là bát loài imười ” iữ g'm tín Iiiihìa và day loài ngưcri vào sự cộn” tác V('ú nhau trên các dịa hạt.

Mai thần Varuna và M ilra này thu()c kh(u Aditya, thường gọi là nlnìng con trai cua Bà Chúa Tièm. Bà C() 7 con. Người chú viíỊx- hôn nhàn, ngưìá chù việc ticp khách khứa, người phân phát những may mãn. ngiừá phàn chia dcu cùa cái, người giứp cho ý chí v.v...

riiầii Inclra: Có thần hình vĩ dại, ràu hung do như màu da ngựa kéo xe. Thăn thê, cánh lay, bàn tay dcu lo l('tn ghê g(ím. Cá m(‘)i. hàm và ráu nữa, lẫn cá cái bụng de chứa ruọ'u. Khí giới cúa thần là cái lưỡi t;im S(:l do m()l vị thẩn khác rèn cho. Lưỡi tầm sét thC'm men rưou Soma dã giúp thần thăng những trận chiên hốt sức cam go.

Khi sinh ra. thần dã rạch cạnh sườn mẹ d(j chui ra r(‘>i U ( ) n g v ụ n g rưou cúa b(S, lại giêt

lu(‘in cá b(C Than có nhicu tật xâu. ham mè uổng rưtíu r(')i sau lại dam nai tình dục.

Tliần giêt con rồng dã ngàn núi, ngăn scmg cho luCíc không chíiv dược. K hi gicl xong những IIKÍÌ lại cháy. RcMig ấy hoá thành m()t Bà La McSn. Và vì giét nó nc'11 Indra phạm m()l l()i d(} sau nàv sẽ |ihái chu()c lỏi.

Thán CÌIII tháng nhiéii quý dữ nữa d(i’ kh(')ng những giai phóng cho nước cháy. CÌMI chicm lại ánh sáng mạt trìứ, luưVc thicMig. và C()I1 sán xuâl ra hình minh, giái thoát những b() thần.

Indra là vị thần hộ mạng của ngưíá Arvcns. Nliom Marat: là các thán tre con, con cúa Rudra và con bò cái sặc sỡ. Các thán nàv lúc nào cũng liền cánh vói nlưưi di dạo ihiCm dinh bằng những cỗ xe ccí ngựa kéo. áo ciia các thần mạc bầng màn mua. Các thần làm ra mưa và lạo ra hay lái hu(')'ng các trận mưa rào. Bước chân của ho di làm IK‘)Ì những ticng sam sét. Ho liéii kê‘ì \'(í'i ánh cluVp và vì vạv mà có những d(') trang sírc và những khí g iới dỏ rực. Ho rát dáng soí và ràt ác. Ho tn í giúp Indra trong các trận chiến và tuân phục lệnh cùa Indra. Cũng C(') khi họ chông lại Indra Vcà ngưcti la cho ho là thần h() mạng cho nhóm canh ncSng mục súc. -ỳ

024

Một đặc lính đáng ghi nữa cứa tư tưởng Vê Đa là đã khỏim có một hệ thỏnc tổ chức trật lự trong hàna nưũ các thiên thần. Nhiều vị được imười la thỉnh lới luôn luôn; cũng nhicu vị chí là thần thông của nhũ'ng vị nào khác.

Thế giới các thần ấy lại có một thế giới ma quỷ đối nghịch lại. Và

có thế có vị thần đã là thần rồi nicà cũng còn những sa ngã cưa quỷ nữa*”.

riián Kiidra; là thần lửa được thừa nhận là có ba bà mẹ đẻ và bán thân được chia ra ba bộ mặt: bộ mặt duyên dáng của Civa. bộ mặt phá hoại cứa Hura, bộ mặt c ứ u aiúp của Camkara. Thần ó tmiiíi núi trong rừng, ngự trị các ác thú và các giống \ạl nuôi Iroim nhà. Thán cứu ” iúp người có tài chữa bệnh và cho cá các thầy thuốc.

Anh eni Acvin: là anh cm song sinh không rời nhau, thường lưcrt mây di trên trời bằng cỗ xc dó có chim kéo và thường hiện ra lúc bình minh. Đọp, tré, nhanh nhẹn, họ thường eiúp dỡ và chữa thương cho các vị anh hùng. Họ dem sự trẻ trung lại cho một vị thần sià yếu. Họ cứu cho hổi sinh một vị thần khác dã chết. Và họ V('rt một vị ihấn khác dã bị quý cho vào cháo dáu sỏi.

Thần Piisan: coi giữ các dường sá. che chớ cho người và vật khỏi tai nạn dọc dường, lại hướnư dần tất cá và hướng dẫn cá những linh hồn người chốt, lìm lại nhữnc súc vật dã bị thất lạc.

Thần Usas: là nữ thần bình minh hớ ngực và trc mãi không sià, thườnư dánh thức mọi nuười. dấy lui bóng lối. và thường ngồi trong cỗ .xe ánh sáng. Với mặt trời, thần là vợ hav tình nhân. Với dêm. thần là chị. Với thần lứa Agni, thán là lứa dâng cúng buổi sớm mai.

Thấn Vávii: là thán gió, ké dẽn trước mọi người trong mọi lễ dáng cúng, ke

udng trước mọi vị thần khác và là hơi thở của các thần.

Thầu Agni: là thần lứa có hàm răng dó. tóc là lửa d('). ba hay báv lưỡi, ánh lứa và những vệt dcn lưu lại sau chân cùa thần cùng với tiếng động, sự sợ hãi khi có hoá lai. dó là những dặc tính mà người ta nhac dốn.

Thần sinh ra lừ trong thân cây ớ rốn cùa trái dĩít. Các thần khác đã khám phá thấy thán kín tránh ớ dưới nước. Thần còn sinh ra từ trêm Irbi theo tia chớp và còn sinh ra từ một sức mạnh.

'l'hần dốt cháy phù ihuỷ và ma quỷ, dôì cháy cả xương thịt trong nhũng vụ hoà táng, thần quán trị bếp và nhà. Thần mang lề vật dâng cúng, dẫn dắt các thần khác dcMi dự lẻ và là ké thông tin giữa trời và dất.

Các Iiĩr than: là thần sóng, thần lời nói. thần sắc dẹp. thần sinh sàn... không quan

trọng bằng nam thán. " Các ma qiiý:

Đó là những linh hồn xâu xa nhơ nhớp, ké thù cua

loài người và Indra bao giờ

cũng liêu diệt.

Ma quỷ thường di dêm, nhiều hình thù quríi dị, phần nhiều là bộ mặt súc vật, hay an thịt, uống sữa. hay phá phách những buối cúng lễ. Ma quỷ Picaca ăn thịt sống, hay bát tré con, hay làm cho người ta dau ốm.

Những con í Ị u ỷ khác như Arbuda là con của sương mù gây ra nạn hạn hán. Cambara có hàng trăm hang dộng. Pipru có hcàng trăm ngàn quân, còn Makha là 1|L1V khòng dầu.

22.5

ơ đại thể thì các thán trona kinh Vê Đa là những vị hiếu động đam mê, thích can thiệp vào những việc của người. Vì vậy, thần là đáng cho người sợ, nhưng khéo cầu xin, thần lại thành bạn của người đế cùng chông với bọn qưý dữ. Nhờ sự khéo nói, khéo nịnh, khéo xúc xiêm, người còn có khi sai khiến được thần nữa, thay vì phai là nỏ bộc cho thần.

Kê về phương diện phóng sự tướng tượng của con người thành những trưyền thần kỳ qưái dán thì Ân Độ và Trung Hoa, cũng bên tám lạng, bên nửa cân. Nhưng nền vãn minh cổ Ân Độ còn nhiổu tuổi hơn nổn văn minh cổ Trung Hơa.

KINH VÊ ĐA

Vê Đa có nghĩa là “linh giác” là một tập đại thành nhiểư ban văn về lòn giáo mà người Aryens đem vào Ân Độ rồi khai tricn thêm trong nhiều thế kỷ trên dâ't ấy. Nó là nhũìig bản văn có nội dung và hình thức phong phú hết sức. Người ta cho Icà do sự mách bao của dức Bà La Môn mà các tác giả, các hiền triết, dã dược trực nhiên nhạn biết để viết nên ban kinh ấy.

Kinh chia ra làm bốn phần, phần văn vần Samhila, phần văn xuôi Brahamana giải thích siêu hình vé Bà La Môn và hai phần nữa Avanyaha và Upanisad bình luận thêm vé Brahamana.

Phần văn vần gồm 1028 ca khúc chia ra làm 10 tập. Mỗi ca khúc có từ 1 đến 58 tiết điệu. Tất cả là 10.462 tiết diệu. Trung bình là 10 tiết diệu trong 1 ca khúc.

Thưòng mỗi ca khilc gổm doạn vào dể khoa trương đổ dến một diệp khúc, một lời cầu xin. Đoạn chính ca tụng vị thán bằng nhũng lời cầu nguyện, lời ihc nguvền và ta cùng kc lại nhũng đoạn thánh lích vẻ vang, hay nhũng lễ nghi nghiêm chinh có dính dến sự cầu đồng ma thuật. Cũng có doạn dính nhiéu ít dến lịch sử hay sự cấu tạo vũ trụ. Cũng có đoạn là dối thoại.

Phấn văn xuôi nổi về linh hồn và thượng đè, cùng với Upanisad bình luận thêm bàng những bài ngắn như để dạy học trò (trường hợp của nhà bác học Pippalèda trá lời cho sáư người môn đệ: từ đâu có sự sống, thán thể người gồm bao nhiêu phần, hoi thở của sự sống là 0 dâu, bán chất cua giấc mộng Icà gì. nghĩa của tiếng om và 16 thành phán của co thê là những gì).

KINH M A H A im  R A T A

226

Được kê’ là phần thứ năm của kinh Vô Đa, kinh Mahahhârata là thi phẩm dài nhất thế giới với 90.000 câu thơ, chia thành 18 quyển (mỗi câu tho thường 32 chữ).

Đó là Ihiên anh hùna ca diẻn lá cuộc chiến đấu giữa hai chi của họ Bhâra. Mộl bên là tràm con chi Kaurava của ôriiz vua mù. Một bên là năm con irai cúa Pandu anh vua mù’".

''Khi Pandu cliêl, vua mù lạm cám C|uyén. Từ láu hai chi họ vảii thù oán nhau.

Từ ncày con trướne cùa í^ancÌLi clến tuổi chính thức được nối nsôi vua cha thì con trương chi Kaurava luôn luôn hãy mưu mẹo dê hại năm người anh họ. Hắn dánh lừa mời mọc C ií vào ở cái nhà bàng gỗ sơn giữa rừng dê rồi nơi lứa đốt. Nhưng mấy Hoànư lử dào hầm thoát ra kịp rồi án náu ở trong rừng. Tại đây, họ phái chịu dựng nhiều cuộc chiến đấu cam go chỏng con quý khổng lổ.

Khi dược tin còng chúa con vua Drupada tổ chức lễ gieo cầu dế kén chồng, năm anh em dốn dự, ăn vận giá làm Bà La Môn. Lệ của cuộc lễ là ai giương cung bắn được cá nãm mũi tên vào trúníỉ dích thì n2ười ãv dược kén làm phò mã. Ticu anh hùnư Arjuna là người em thứ hai dã thắng cuộc. Tííl c;í mọi nsười đên dự thi dcu lức 2Ìận kẽ cá nhữim nưuời em ớ chi họ Kaurava. Một cuộc so gươm diễn ra giữa hai bén. Trong cuộc này bát dáu nổi ICmi một vai mới: Krisna, cũng là nuười trong họ nhưng chi khác, dã xồnư VÌU) 2Ìúp anh em Arịuna.

Năm anh em toàn thang và dần công chúa ve chào mẹ. Bà mẹ mù không trông tháv con dâu nhưng sực urớng nhu' nión lương thực mà anh em dã xin dược vé. thcơ tục lệ Bà lơi Môn, bà khuyêm láì ca hãv cùng chia nhau món ấy. Thế là công chúa thành vợ cúa cá năm người. Đám cưới id chức hốt sức trọng thê.

Chi Kaurava thát vọng cắt lại mợt nứa nước cho năm anh em ấy. Năm người xây

dựng một kinh dô mới khiíc và sóng chung với nhau có cá Krisna nữa.

Phần liêu anh hùng Arjuna vì một lỗi lầm vô tình dôi với nguyện ước cũ dã lự dàv mình di xa 12 năm trong rĩit nhicu nghịch cánh. Trong khi ấy, anh cá của Arịuna lên ngòi hoàng dế nhát ihỡng cá loàn cõi.

Nhirng người eon trưởng dòng Kaurava vần thề tử thù với các anh họ. Sẵn dược ỏng chú bày kè' cho lổ chức và thách dánh cờ. tin chắc là thế nào Hoàng dế của bọn kia cũng sẽ thua, anh la thách dò' thì Hoàng dê nhận lời liền, để rồi đặt vào cuộc chơi tãt cá lài sán. cả xã lăc. cá các em. cá mình và eii hoàng hậu nữa.

Đen khi thua thật. Hoàng dê phai giao hết, Hoàng hậu bị dánh đập tàn nhẫn Vcà chứi b('yị thậm lệ. Người em thứ ba sau Arjuna Ihé sẽ trá thù. Vua mù dứng ra giàn hơà hai bên. Ihoá mãn lời xin cùa hoàng hậu và trá lài sán cho anh em nhà kia. Nhưng cuối cùng, người con trưởng chi Kaurava lại xin vua mù làm chứng cho một cuộc dáu cờ mới với cựu hoàng, với lời thách dô là bên nào thua thì phái tự dày 12 năm và một năm thứ I3 nữa phái sòng âm thấm không giương danh chơ ai biết. Cựu hoàng lại thua và tự di dày với các em.

Họ bìit dầu cuộc sống phiêu bạt. Họ di hành hương các nơi. Họ chiên dâu với các quý dữ và các ké thù nghịch, nhát là chống nhau với một vị vương hầu cớ ý chiếm đoạt công chúa vợ cíia họ. Họ dược nghe nhiéu chuyện người ta ké cho quen mối SÍIU hận.

Năm thứ 14 họ thay hình ddi dạng về lá túc 0 một tiểu vưorng quốc gần dấy và giúp vua turớc à'y chống những ké thù, trong sô' kẻ thù lại có mặt bọn Kaurava. Cho dến hốt nãm thứ 1.3 thì họ giưtrng danh cho mọi người đều biết và con trai Arịuna kết duyên cùng còng cháu con của tiếu quốc vương này.

227

NHŨNr, CHƯƠNG VÀ ĐOẠN TR()N(Ỉ MAHA15HẢRATA

Tập kinh vĩ đại nhất thê aiới này phoiiií phú đến cực độ. Câu chuyện Ihườníi đươníỉ kể dở dantỉ thì lại có nuoằniĩ ra một câu chuyện biệt lập khác (theo kỳ thuật trưừníí siaiiíỉ tiểu thuyết tỉần như lối truyện Ní>lììn Lé Một Đêm của Ba Tư).

Có doạn mượn lời của một nhà hiền triết khuyên vị hoàng tử .sắp lẽn làm vua và chỉ dạy đầy dủ nhữns kiến thức về luân lý, dạo dức, triết lý. luật pháp, hành chính, tóm lại là những kiến thức đổ trị nước mà một ông vua cần phai biết.

Đặc biệt đây lại không phải lời dạy vổ những nghi lễ thường phải có của một Hoàng gia mà đã có nhữns nhận xét rất tỉ mi, nhữnư diềư cán hiểu rất linh tế thuộc về lâm lý của mọi hạng người cũng như những đều khôn ngoan và nhữnư trách nhiệm lừ xa xôi dến ônư vua phái gánh chịu.

Cổ doạn ta canh chiến tranh chết chóc với những cử chí anh hùng

của các vai trong truyện khiến người dọc phai nín thở dè’ theo dõi.

Họ băl đầu dòi lại đàì lliì bên kia không chịu trá. Những cuộc dàm phán diễn ra không kết quả, hai bên dcu giữ vững lập trường dối nghịch nhau, và cá hai bẽn dcLi sứa soạn chiến tranh cùng lìm thêm dồng minh. Tâl cả mọi nước ớ xung quanh cũng rầm rộ kéo binh tói giúp và chiến trường Kuru dã có cuộc tàn sát ghè hổn suốt 18 ngàv dcm liền.

Mặt dất dầy xác người như những lá rụng nằm ngồn ngang với những kc bị thương năm chờ chết. Trời lốt mù mịt vì những tên bay. Đánh nliau tám ngcày mà chưa nhất quyết phần thắng vc bón nào cá.

Ngày thứ 9, anh em Pandava dược Krisna trợ giúp qưyéì lấn công thình rmh dánh gục cánh quân mạnh nhất của phc dịch. Kẻ cầm dầu cánh quân ây trước khi chốt còn hăng say hô hào C |uàn sì xung phong.

Ngày thứ 13 con trai của Arjuna bị tử thương. Arjuna dánh báo thù cho con, và suìứ dém trường ngày thứ 14 cho dến sáng, trận chiến tiếp diễn dưới ánh sáng của những ngọn duốc bập bùng. Ké háo thù con. ké thồ uống máu lũ người dã chửi và dánh vợ mình.

Tâì cá anh em chi liợ Kaưrava dần dần bị hạ sát hối, còn sót lại ba người chạv vào án núp trong rừng. Một người thấy con cú mổ một dàn quạ dương ngủ liền náy ra ý kiến quay lại chiến trường xông vào trại cứa anh em Pandava dương ngứ mà chém giết tơi bời dến nỗi chi còn có năm anh cm chạv thoát.

Cuc)c chiến dầm máu chấm dứt. Những người dàn bà đến thăm viếng chiên

Irưòìig, dọc kinh, rồi người anh hoàng dê Iruycn hoá thièii các xác chết.

Rồi cuối cùng thiên anh hùng ca kê dốn cách chết cúa ông vua mù, cúa Krisna.

của năm anh cm và sự lên thiên dường của vua sau khi vièng thăm dịa ngục.

228

Có đoạn là cả một câu đố của một nhà hién triết kê cho ông vua mù

nghe đế bát độc giá nạo óc lìm lời giái đáp"’.

IỈHA(,AVAD(ỈITA

Đến đoạn Bhagavadgila trong kinh gồm 700 câu thơ chia thành 18 chương kê lúc sáp xay ra cuộc chiến cuối cùng thì mới thật là một triết lý hành động, một triết lý siêu hình về hành động.

Lúc ấy, vừa xồng xáơ vàơ vòng chiến xong, xác địch còn nàm la liệt trên chiến địa, tiểu anh hùng Arjuna nghi tay lên đỉnh đồi ngồi suy nghĩ vó sự sơng. kiếp sống, và quyền sống mà Thượng Đế ban cho loài người. Rồi chàng nhó lại chính tay chàng đã khiến cho bao kẻ không được sống hết kiếp sống của mình, không được hưởng những ân huệ của Thượng Đế nữa, thì thế là thiện hay ác? Chàng bãn khoăn rất lâu mà vẫn không lìm ra được nghĩa lý gì cho

hành động của mình. Chàng đâm ra nản chí nghĩ rằng chá thà chết còn hơn cứ tiếp tục cái

tội ác chém giết mãi.

"'Cliáiig hạn câu chuyện kê rằng: Có mộl ngưừi Bà La Mồn di lạc vào giữa rừng già đầy ác thú. Có một con quv cái khổng lồ vồ lấy ông ta để định ghì chặt trong hai cánh tay. ố n g la chạy Vcà lọt xuống giếng. Khi rói xuống lưng chừng giếng thì có những sợi dây mây mọc chằng ngang dọc trong giếng cán và giữ ông ta lại, không cho rứt xuóng dáy. Đầu ỏng ta dốc xuống, chân chổng lên trên không. Khát nirớc và dõi. ôm: ta hớp lấy nhữm: giọt mật rớt lừ cành cành trên giếng xuống. Những giọt mặt ấy là mạt do ong làm lố trên cây nhỏ xuống. Khi ấy ông ta lại thấy đàn chuột ra gặm những rẻ cày, nếu chúng gặp dút thì ỏng ta sẽ rớt xuống đáy giếng, ở đáy giếng lại có con rồng nàm há miệng sẩn dế nuốt ông ta. Còn lúc ấy thì lại có con voi không lồ 6 miệng và 12 chân chạy dên miệng giếng. Hỏi ông Bà La Môn ấy làm cách gì đế tự círu dược? Đó là một câu chuyện Irict lý nói loàn bằng biểu tượng:

Rừng là cuộc diễn tiến không ngừng của kiếp sống và kiếp lai sinh.

Các ác thú là mọi bệnh tật con người mắc phái.

Quỷ cái khbng lồ là cái tuổi già tiêu huý sức khoẻ và vẻ thanh xuân cúa con người.

Giêng là xác thân cúa các sinh vật. Rổng là thời gian chấm dứt một cuộc sống. Dây mây hà cái hy vọng sống còn. Con voi 6 miệng 12 chân là năm, gồm 6 mùa và 12 tháng. Chuột gặm rỗ cây là ngày và dèm nó làm người la liến dần đến cõi chết. Đàn ông là cái nguồn ước vọng hirưng lạc. Mật ong là những điều hưởng lạc cúa giác quan.

Và trong bài toán ấy, người hiển triết là người thông hiểu bánh xe pháp luân quay ra

sao. họ sẽ cắt những sợi dây cản bánh xc ấy cho nó quay, thay vì bối rối tìm lối thoát.

Câu chuyện là đề tài triết lý về thân phận con người.

229

Bạn Krisna (mà cũng ià thầy) đã tủm tím cười và trá lời, hé mở dần dần những điều bí ẩn chímg minh cái quyền và cái bổn phận phủi hành động, phải chiến đấu. Câu giải đáp ngự trên thượng táng của vấn đề nêu ra; con người phái hành động, không tính ké đến thành bại hay dến phán thưởng ncào cả. Chỉ có hcành động, không tham vọng mới đi đến được giải thoát. Vốn vẫn có ba con đường để đi dến cõi lự tại: đầu tiên là con dường cúa tuệ giác, rồi dến con dường của hành động. Hành động là lối cần khi tinh thần dính liền với thể xác. Con người bắt buộc phải hành dộng vì vốn cấu thành bởi vật chất. Nhưng hành động không tham vọng mới khiến người gần lại con đường của tuệ giác, nhờ sự trầm tư. Thê cách kiến hiệu của trầm tư là Thiền. Chính Thiền định mở ra con đường thứ ba, cao cá nhất để vào đạo'''.

Hành động như vậy đcã không do một tham vọng trán tục nào thúc đẩy thì cũng không thể dem những ý niệm thiện hay ác nào của ước lệ luân lý trần tục mà phê phán được. Hành động như vậy tuy là của ngưừi nhưng chính đã là thể theo ý muốn của Thượng Đế và chính là Thượng Đế mượn tay người đế làm việc của Ngài vậy.

Tác phẩm này có ánh hưởng rất lớn đến đời sống Ân Độ vì nó được dùng làm sách học, lại dùng đê cáu nguyện và có hết sức nhiều những ban trích dẫn cùng phóng tác.

KINH RÂMÂYANA

Trong dòng các vua nói ở kinh Mahabhârata, có vua Daọaratha. Vua này không có con trai nối nghiệp nên làm lễ hy sinh con ngựa đế cúng thần. Chư thần hài lòng cho thần Visnu đầu thai làm con trai lớn của vua, đặt tên là Râmà đê sau trừ diệt những ma quỷ gây rối trên thế gian. Những ma quỷ ấy là bọn Rakasasa, có chúa quỷ Ràvana quản trị. Các hoàng hậu khác cũng sinh thêm ba người con trai nữa.

“Sourianl, son compagnon Krisna lui rcponcl, révélant insensiblemcnt les dernicrs secrels donl la connaisance justific le droit et le devoir d ’agir, de combattre. Mais la réponsc domine le haut du problòmc posé: riiom m c doil aíỉir sans considérer suceès ni échee ou récompen.se: seule raetion sans désir csl compatible avee le renoncement. II est trois voics vers le salul: en prcmicr lieu celle de la connaissance el cclle de 1’aete. L’acte est nécessaire, tant que rcsprit est lié au eorps: rhom ine csl porté à agir par Ics eonstiuants de la matière. Mais Pacte sans désir approche rhommc de la connaissance qui s ’acquicnt par la méditation. La forme ciTicace de la méditation est le yoga. C’cst le yoga qui ouvre la troisièinc voie, la plus haute, cclle de la Bhakti ou devotion”.

{L 'liule classic/iie. L.Renou cl J.Filliozat, p. 395, Payot éditeur)

230

Khi lớn lén, bốn vị hoàng tử đến thăm một vương quốc lân cận. Nhà vua nước ấy có côns chúa Sita (luốiiíỉ cày) bằng lòng sả cho ai siương nối cây cung thẩn của ông. Râmâ giương được Vcà kết duyên với công chúa.

Vua cha già yêu rồi chỉ định cho Râmâ nối ngôi. Nhưng bà dì ghẻ sinh ra em Bhârata đã ghen tuông và đã làm vua phải theo lời yêu cầu cứa mình mà truất phế Râmâ 14 năm để cho Bhârata lên ngôi báu. Nhà vua đau buồn lắm. Ràmâ thì tuân lệnh tự dđy vào rừng với vợ là công chúa Sita Vcà một em thứ ba.

ít lâu sau, vua cha chết, Bhârata vào rừng tìm Râmâ đê yêu cầu anh vồ cầm quyền nhưng anh nhất dịnh không chịu, bao phải tLùm theo lệnh của vua cha, nên em đành phai về cầm quyền thay.

Râmâ ở trong rừng, có các án sĩ đến .xin anh giúp che chở để chống lại bọn quý Rakasasa. Những trận chiến đã diễn ra liên miên giữa Râmà và bọn quý ấy. Trận lớn nhất là trận mà con quỷ cái em chúa quỷ Râvana bị thua, đến xin hai anh giúp, bị hai anh từ chối, nó dùng lời nói khích cho anh Ràvana của nó từ đáo Lanka phái lới dánh báo thù cho nó.

Với sự trợ giúp của một tháy bùa, chúa quỷ Râvana lừa bắt được Sita lẽn xe Vcà bay về động. Chúa quỷ tìm các cách nài ép hôn nhân, dụ dỗ và doạ dẫm nhưng nàng nhất dinh không chịu.

Khi Râmâ và người em thứ ba quay về không thấy Sita thì biết là mắc mưu kẻ thù, nhưng không biết lối nào tìm vợ nữa. Vừa lúc ấy có nhà tu truớc đã chịu ơn Râmà cứu khỏi một tai hoạ tìm đến mách anh hãy đến cầu cứu hầu vương Sugriva (một thứ Tôn Hành Giá của Ân Độ).

Hầu vương Sugriva bàng lòng giúp Râmâ đế cứu Sita, nhưng lại yêu cầu Râmà hãy phải giúp lại hầu vương đế lật đổ đứa em đã cướp mất ngôi cúa hầu virơng. Râmâ đánh và giết liền được kẻ soán nghịch ấy.

Hẩu vương trở lại ngôi báu và giao cho Thái sư là con khỉ Hamumanl nhiệm vụ đi lìm tung tích của công chúa Sita. Thái sư khi đem quân về phía nam, dến bờ biển thì dừng lại.

Thái sư nháv một bước vượt đại dương và đến đảo Lanka, thây cung điện nguy nga cúa chúa quỷ, rồi cả xe bay, cả vườn tược J'ất đẹp. Thái sư biến hình thành con ruồi nhỏ đế đi thám thính trong hang động, và tìm thấy Sita bị giam trong vườn sau dộng đương ngồi ủ rũ. Thái sư cho nàng biết rõ sự lình và khuyên cứ yên tâm chờ rồi lại biến hình quay về bờ biến, kể lại các việc cho đàn quân khi nghe và nói lại cho Râmâ biết.

231

Hầu vương bàn với Râmâ bắc cầu để cho quân tiến vào đảo Lanka. Khi cầu bắc bàng những táng đá và những thân cây vừa xong, bên này tiến quân vào thì bên kia chúa quỷ cũng tống động viên các tiêu quỷ và

imhênh chiến. Em chúa quỷ khuyên anh ra hàne cũng không được anh nghe theo.

Trận chiến diễn ra rùng rợn vô cùng. Có cả những pháp thuật mcà con trai của chúa quỷ đã thi thố ra. Nhung cuối cùng người con này cũng bị giết. Và chúa quỷ đích thân giao đấu với Râmâ trong nhũng trận chiến kinh hồn, cũng lại bị Râmà giết chết. Các tiểu quỷ trốn hết và em chúa quỷ đầu hàng được lên ngôi quan trị đao Lanka.

Khi cứu được Sita rồi, Râmà ruồng rẫy nàng, không chịu nhận nàng làm vợ nữa, cho là khi nàng đã đến ở cùng nhà với một kẻ đàn ông khác thì nàng khổng giữ được tiết .sạch giá trong.

Thất vọng. Sita ngỏ ý muốn lên giàn hoả. Râmâ cũng bằng lòng. Nhưng lửa cháy mà không phạm đến người nàng. Thần lửa Agni đã chứng minh là nàng trong sạch. Râmâ cũng đổng ý nhưng bảo vẫn cần cho dân chúng biết rõ điều ấy.

Khi trở lại vương quốc, Râmâ lên ngôi vua. Dân chúng vần xì Xcào kết tội Râmâ đã quá rộng lượng mà tha thứ cho hoàng hậu như vậy. Không sao dược, Râmâ phải bảo em dẫn nàng vào bỏ trong rừng. Được tin lâu nàng sinh được hai đứa con.

Sau dó ít năm, Râmâ vào rừng tu trong một thời gian thì gặp và nhận ra hai trẻ là con của mình. Râmâ tìm Sita và nói đế nhận con về nuôi. Nhưng Sita nguyện với thần dất, nếu nàng không lòng nào lừa dối chồng thì đấy hãy mở ra cho nàng xuống. Qua nhiên đất nứt toác ra để khi nàng xuống rồi thì lại liền lại. Râmâ cầu xin đất trá lại vợ cho mình không được nữa. đành thất vọng trở về. ít lâu sau, Râmâ cũng trở về trời, trở lại ngôi Visnu cũ.

Ta có thể nghi rằng truyện con khỉ đá Tề Thiên Đại Thánh của Tàu cũng nhiều truyện khác, nếu không dịch hay phỏng theo những truyện này thì cũng chịu ảnh hưởng rất sâu đâm, vì truyện phiêu lưu của Râmâ và Sita đã thấm rất sáu vào đời sống Ân Độ. Nguyên việc diễn tuồng hát cũng đã có hàng trăm vở khác nhau. Và những bản dịch ra tiếng ngoại quốc cũng đã hết sức nhiều từ thế kỷ thứ hai. Còn thơ văn ngâm vịnh thì đã có không biết baơ nhiêu mà kể. Mà dến cả những đền thờ Râmâ nữa cũng đã dược xây dựng rất nhiều.

KINH PURÂNA

232

Tên Purâna có nghĩa là truyện cổ. Nó là những thần tích của Ấi giáo sau định dùng trong các cuộc lễ tổn giáo luỳ theo các giáo phái. Phần anh hùng ca không thành một truyện dài có bô cục. Có năm giáo

điéu chính là sự sáne chế. sự tái lạo. thế phổ các thần thánh, các đời ncười đầu tiên trên trái đất và lịch sử các triều vua.

Nsoài ra còn hết sức nhiều những kinh nhỏ khác, để ta phải nhìn nhận là inột cánh rừng hết sức rậm rạp mà nền văn hoá phong phú của Trung Hoa cũng khó so sánh nổi.

Đicu quan trọng cần lưu ý trong phạm vi này của chúng ta là phần thần thoại. Ngoài số phần do người Aryen đem đến còn có một số km thần khác ở dịa phương phụ thuộc Vcào, và một số lớn nữa do các chi phái mỗi ngày mỗi thêm thát ra.

Sô lượng các thán là một con số vĩ dại. Theo những nhìn nhận xưa nhất, thì có 3-^ vị chính thán dược truyền thống Bà La Môn lưu giữ, sau rồi gom tròn lại là 30 (lam thập: Tridaẹa). ớ thời người ta nhìn nhận có 7 tầng trời ở dọc theo thiên sơn Meru, và tầng thượng thiên có 33 vị thần ấy với Ngọc Hơàng Indra là chúa tể. Từ dấy các điến cũ chia ra hệ thống 7 nhóm chính thán.

Những nhà tu Bà La Môn dcã tăng số ấy lên 3303 vị (vốn ở kinh Vê Đa có 3309 vị).

Đốn kinh Mahabhàrata thì nhiều đoạn nhắc tới 33 triệu và sau đó

người ta lại còn nói tới 330 triệu nữa.

Người ta tưởng lượng cho các vị thần này cũng bị nghiệp quá chi phối cũng chưa thoát khỏi vòng sinh tử. Nhung các thần thì trẻ đẹp, khác người thường ở chỗ di không có bóng, không có bụi bám vào người, không có mổ hôi, không rung dộng người, không đật chân xuống đất khi bước di.

Những vị thần ấy có dặc tính khác nhau ở màu da. ở những vũ khí cầm tay. ở cày cờ soái, ở việc cưỡi trên lưng những thú vật hay ghế ngồi, xe mây, lại khác nhau ở ca phong dộ, cử chí, trang phục cũng như ở động phủ trên các núi non.

Cũng có những vị thần vốn là những thú vật tu luyện thành như lê

ngưu, ngựa, trâu, bò, voi... Cũng có những vị 4 hay 8 tay, 2 hay hoTi 2 đầu.

Những thần này lại có phép biến hình theo ý muốn nhưng còn pháp thuật di sơn cíảo hải, sái đậu thành binh như của Trung Hoa thì không thấy nói dến.

233

Trêm phương diện luân lý, các thần cũng giống người. Thần chi hơn vổ pháp thuật thôi, chớ cũng không tránh khói những tật xấu. Pháp thuật này cũng không phải là tuyệt đối mà đã có giới hạn. Những huyền năng

mấu nhiệm của vị pliáp sư hay của nhà lu có thể phá được pháp thuật cúa thần. Và nhữiiíí anh hùnư ca không ng(ýt kể truyện những vị thánh của loài người đĩi thành công trong việc áp đao các thần. Trong một số kinh vãn của các giáo phái, người la còn thấy kê’ đến một số những vị thần mà giáo phái ấy không thờ, cho là kém huyền nàng, ngu dôì và hay ghen tỵ mà thần của họ sẽ trừng phạt dễ dàng. Kinh văn của Phật iịiúo cnní> ké các thần là lUịitồn hại và vô ích, lộn xộn khi nhữiiỉỊ thần â \ khỏm> chịu thân phục dức Phật.

Những thần ấy cũng phải thờ cúng và lu luyện như người nếu không cũng không siêu thoát dược. Người ta cho là các thần ấy sẽ biến mất như sao dổi ngôi khi nào dối dời.

Các động phú cứa các thần thường ở trên dời. trên dinh núi Meru. Người ta cũng nói dến mặt trời, đến biến bãc. Nhiều vị thần có dộng phủ riêng. Có vị như Indra có cá triều dinh riêng nữa. Các thần xuống thê khi cổ người kêu cầu dể can thiệp giải nỗi oan khiên cho người. Thường thì sự can thiệp khoác vẻ trọng tài.

Nói chung, những cách xử sự của thần giống như cách cúa người đcã

sống thành gia đình và xã hội vậy.

ĐẠO PHẬT VIÊN THANH

Giữa một rừng già cùa tư tưởng siéư hình thần bí dã kể, khi Phật dến cõi giác thì tự xưng Gaulama (;;akya Muni, một vị Hocàng tử trong dòng Ọakya, một bậc thầy không nói hay không thể nói hết được (theo nghĩa của chữ Phạm Muni) nghĩa là ngoài những điềư đã dược nói và giáng về Ngài, Phật vẫn là biếu tượng của một cái gì cao cií tuyệt vời mà người la không thể nói ra hết để dạy cho nhau biết dược.

Trong những kinh văn còn lưu lại, đã không có một lời nào có thể nhất quyết là chính lời của Phật. Nhưng qua những lời kinh ấy, người ta thấy chói sáng vầng hào quang của chính ngài"’.

Ngài không dạy những gì huyền bí siêu hình mà đã đưa ra cho đời một toa thuốc chữa bệnh tinh thần bằng Tứ Diệu Đế và Bát Chính Đạo. Ngài vạch cho môn đổ con dường trung đạo tránh những chủ trương quá trớn, hoặc của sự mê sa tham vọng trần tục, hoặc của sự quá khắc khổ đến tự huỷ thân hình, hoặc của sự hoài nghi cho là không thể đến cõi giác dược, hoặc của sự kháng định về những lẽ siêu hình không thể chứng minh đươc.

H. Zimmer. Les Philosophies dc I 'liưlc. p.367, Payol, Paris, 1933

234

Những vọng iưởng vể sự sốna (đam mê, tham vọng, hăng say vật chất và tinh thần), thêu dệt thành một mạng lưới cho con người cựa quậy ớ trong, theo một nội quan tưởng mình tự chủ mà không tự chủ được, nó như ngọn lửa thiêu hoá dần dần cuộc sống. Toa thuốc thần hiệu để chữa là dập tãt ngọn lửa ấy (Nirvana). Không phái dập tát đời sống, mà dập tát cái vọng tưởng về dời sống. Và Phật, đấng Toàn giác là đấng không gì làm cho cháy được. Hết hị chói măt bơi vọng tưởng, Phật không bị ánh hưởng bởi những ý niệm sai lầm và nhĩrng khát vọng sai lám vẫn thường nặn nên các cá nhân với những mạng lưới giam hãm vẫn thường nặn nên các cá nhân với những mạng lưới giam hãm những cá nhàn ấy đời này qua dời khác. Cho nên Phật không còn những nét gì cúa các cá nhân bị phó thân cho nghiêp kiếp và ngài thoát khỏi luật luân hồi.

Theo tài liệu của các nhà sư Tích Lan thì trong kỳ lu chứng cuối cùng 7 iLián lễ. hào quang của Đức Phật toả lên kháp các tầng trời. Ngài nhận ra những điều vừa lu chứng đã huyền diệu đến không thể nào nói ra được. Ngài quyết định không nói lại với ai.

Nhưng dấng chúa tế Phạm Thiên Brahma nhìn rõ điều quyết định ấy. lây làm bối rối rằng dieu hiếu biết kỳ diệu (mà chính chúa Phạm Thiên cũng không biết) sõ không dược tỏ lộ ra. Ngài vội xuống trần xin Đức Phật nhận chức vụ khai thông cho nhân loại, làm thầy cho các thiên thần và làm chủ cá thế giới đã sáng tạo. Vì tất cả đều đám say giữa cơn mê vản ao ước cuộc sống giác ngộ. chúa Brahma xin đấng Toàn Giác hãy mở dường cho tất cá.

Vì thế, Đức Phật khai đạo. Các môn đồ tới rất đỏng và giáo hội hình thành, không theo chủ trương Bà La Môn cũ kỳ thị cùng dân Paria và người ngoại quốc Mleccha, đế đưa ra chủ trương mới: tất ca các chúng sinh đều dến dược cõi Giác, tức là đều có thế thành Phật.

Sự PHÂN HOÁ CỦA (HÁO H()l

Bơi cửa vào Đạo Phật mở rất rộng cho đến thành ra không có cửa khiến từ mọi hướng dều có thế dến dược và chúng sinh nào cũng đều có thê’ thành Phật được nên tố chức giáo hội dễ bị phân hoá. Ngay từ khi Phật còn tại thế đã có hiện tượng ấy. Khi ngài tịch diệt thì sự phân hoá còn trám trọng hơn, thành đến 12 bộ, 20 phái.

235

Ngay khi ngài chưa tịch diệt, người ta đã truyền lại ràng, có lần ngài nói: Hỡi các tỳ kheo, có một việc trong đời mà nếu nó xảy ra thì nó sẽ gây sự lo lắng đau khổ cho rất dông người - Việc à'y là gì? Họ hỏi lại - Ngài trá lời: “việc chia rẽ ironv ị?Ê,iáo hội. Vì giáo hội chia rẽ thì có những

cãi cọ, bạo hành, bất hoà và xa lìa nhau. Các lỳ kheo sẽ bất mãn. Nhưníz cá nhữnc nsười thoa mãn cũn2 lại sẽ phân tâm”.

Naười la kê lại. có lần đến tai naài một báo cáo thật rãc rối như sau: Có một tỳ kheo nọ lỡ nói một cân xúc phạm mù chính mình ccim thấx lù trót phạm lỏi nhục mạ ( ác pháp hữn. Các pháp hữu, lí) nhữnịị tỳ kheo khác thì I(JÌ coi là kh()ìn> phcíi sự nhục nụt. B(ỉi thế, t\ kheo no coi sự nhục ma nùx khômị phải lủ nhục ma. Thì các tx kheo khác lai cho chính sự coi nàx mói clúníỊ là nhục ma. The nh cctc tx kheo tiixên h('ikhai trử tỳ kheo no vì cái l(h' dã từ dưn klưhiíỊ chịu nhìn tìhận le) dã nhục ma..., thê rồi tỳ kheo no có n w t S () d(')iUi d(huỉ hem troní> lư)nỵ lìỊ^ũ tỳ kheo theo mình là cùint iỊỉd rlưtiHĩ diệp di cho các d(hu> hem khác nữa cũiiíị trong lìèmg intũ tỳ kheo, ó’ klìâp noi troìUị toàn epuíc. Ve) cánh của tx kheo hị khai trữ tiếp tục sát cánh V(/Ì tỳ kheo eíy.

Phật than ràng: “Giáo hội đã chia rẽ! Giáo hội đã chia rẽ!”. Và ngài quớ trách rất nặng nề các tỳ kheo đã khai trừ đồng bạn: “Hỡi các tỳ kheo! Đừng bao giờ tưởng ráng mình tuyên được án khai trừ một đồng bạn tỳ kheo vì cớ này hay cớ khác, khi nổi: chúng tòi có phận sự khai trừ tỳ kheo ấy”.

Đó là chuyện X iíy ra khi Phật còn tại thê. Đến khi ngài tịch diệt thì sự chia rẽ bè phái càng trầm trọng hơn. Tuy nhiên, người ta thấy trong lịch sử Phật giáo ở đại cưoiig vẫn có xu hướng bỏ qua những trái khác ý kiến chủ trương về thực hành để công cuộc hoàng pháp vẫn trên cùng một đà li en.

Kinh điên Pali ở Tích Lan có ghi rằng: Lién ngay khi Phật tịch diệt, có một tỳ kheo tên Suphadda đã nói với dồng bạn: “í//hỉg lo lắruị, cũng dừng phiên niiuỊn! The le) chúng ta siíiig sưetng dã duực giải thoát khói sự khắt khe me) chúng ta eleĩ eịuá eịucn veYi những eĩiêu neh nhai nhải: thếnùx le) phải, thế kia le) klưhỉg pluỉi. Báx gie'f chúng ta C('> the le)m những gì chúng ta muốn v à những gì chúng ta klìehìg mu()n thì chúng ta khehìg le)nr.

236

Khi nghe thấy những lời chẳng lành ấy, vị cao đồ Ca Diếp (Kâcyata) mới đề nghị triệu tập một nghị luận hội dê ghi lại (bàng chữ Pali) những lời dạy của Phật. Năm trám vị la hán đã họp ở thành Vương Xá (Râjargha) thủ đổ cũ của nước Ma Kiệt Đà (Magatha) Vcà liền trong 7 tháng, nghị luận hội đã ghi lại những điều'chính yếu về kinh và luật. Nhưng khi cồng bố kết quá cứa nghị luận hội thì có Purâna với 500 môn dộ nữa khước từ giá trị cuá cồng cuộc ấy với chủ trương: giáo lý và quy tắc thì quả là do các trưởng lãơ bảo thủ mà có nhưng tôi muốn giữ tất cả trong ký ức của tôi như tòi dược nghe từ chính miệng Phật nói ra.

Các Irướnu lão lẫn imười kẽ lại sự việc ấy đéu khòntỉ có niộl lời

khántĩ nehị nào ca đối với sự kliưức từ ấy.

San đó. một trăm năm. lại thành Phệ Xá Lỵ (Vaiẹali) lại có một iiỉihỊ luận hội nữa họp vói mục đích lên án nhữna: hành dộnu quá khích của tăno chúno ư vùnu ấy. Tăns cliiíng tỳ kheo bị lên án đã rút ra họp nchị luận hội riêng, mệnh danh là dại chúng bộ (Mahasanghirah). Điềm khăc xung giữa hai bộ phái chính thòng và tán tiến này là vấn dề đạt dạo. Phái trưbng lão triệu lập nghị luận hội Phệ Xá Ly chú trương phủi triệt dế tôn trọng quy luật chính thống. Phái lân liến lại cho ràng chúng sinh ở bán chất có tiến triên toàn vẹn thì dổii có the vươn lên thành Phật dược.

Đại dc những nguyên nhân thúc dấy sự phân hoá thành ra các bộ phái lới 12 bộ. 26 phái"’ sau ngày Phật tịch diệt khoang 200 nãm dến 300 nãm đã không thấy ghi thật rõ ràng cho người sau có thế hiếu nối. Có lẽ vì nó tế nhị quá hay vì những luận giải thông thường không dủ biện minh những diêm khác xung và phân hoá. Ngay chi tiết của nghị luận hội Vương Xá (Râịarha) cổ Purâna với 500 mỏn dệ thoát ly cũng làm người la thăc mác không ít vồ diềm những lời dạy, nói là của Phật, ghi trong kinh diên chữ Pali liệu có phái là dã dược ghi lại một cách cổ sai lệnh phấn nào?

A D ỤC Đ Ế (261-227)

Trên dường tiến iriên, F’hật giáo dang ử trong tình trạng chia ly ra các bộ phái như thê thì vừa gặp triều dại A Dục Đế (A(Ịoka) và dược sự báo trự của nhà vua mà bành trướng ra khãp noi.

A Dục Đế là con thứ cúa vua Bindusàra. cháu nội vua Candragupla là vị anh hùng đã nới lên truất phế dòng họ Manda và đánh đuổi hai tướng Hy Lạp Eudène và Peithổn mà A Lịch Sơn Đại Đê (Alexandre) dã lưu lại trị nhậm Maurya xứ Ma Kiệt Đà (Magatha) khi rút quân vồ. sau cuộc trường chinh dánh bạt thố lực Ba Tư ra khơi An Độ.

Candragupta lèn ngôi khơang năm 313 tr. CN và trị vì dược 24 năm.

"'H a i bộ chính là Thượim toạ bộ và Đại chúng bộ. Thượim toạ bộ lại chia thành nhicii bộ khác như: Nhất thiết hữu bộ. Độc tứ bộ. Pháp thượng bộ, Hiên vị bộ.

Chính lượnu bộ, Mặt lâm sơn bộ, Hoá dịa bộ, Pháp lãng bộ. Âm qưane bộ và Kinh lưựii” bộ. Đại chứng bộ cũng phân lán thành K bộ: Nhài thuyết bộ, riiu vct xuàl thê bộ, Kc c l ộ n ” bộ. Đa V iì n bọ, Táv son trụ bọ. Clic da son bộ. ThuyCi siá bộ và Bắc sơn trụ bộ. (Thích Đức Nhuận. Trao cho fliòi (lại ììì()ì Ii(}i í//í/;g Plìật chú). Vạn Hạnh xb. I% 9 ).

237

Con là Bindusàra nối ngôi và tri vì dirơc 28 năm.

Bindusâra có hai con. Thái lử là Sumana được chỉ định kế nghiệp vua cha sau này. Còn hoàns đệ AlỊoka được phái đi dẹp loạn TakasaCỊila và sau dó cai trị xứ Avanti. Khi dược tin vua cha sáp băníĩ hà. ACỊoka rời Avanti về Pataliputra

giêt anh Suniana và cướp 112ÔÌ. Việc ấy xay ra khoánư năm 216 tr. CN.

Không thể nào ngờ dược một kẻ bạo ngược, phạm tội tày trời đến như thế mà sau này trở nên một vị hoàng đế hữu đạo nhất của Ân Độ và một trong những nhân vật phi thường nhất của lịch sử.

Sau khi dùng bạo lực đc lèn ngôi (216) lể đăng quang cử hành bốn năm sau. đó (257) và năm thứ 9 sau lễ đăng quang ấy (248). Đại Đế lại dùng bạo lực xua quân chiếm Kalinga ở bờ bicn phía đông nam Ài Độ. Cuộc xám lăng dã cung một cơ hội cho sự thay dổi hoàn tOcàn trong tâm hồn Đại Đế. Trong trận ấy đã có 100 ngàn người bị giết, 50 ngàn người bị bắt làm tù binh với không biết bao nhiêu người nữa chết vì đói và bệnh lật. Nhũ'ng hình ánh khủng khiếp của chiến tranh, những nỗi đau thương mà dàn chúng và các nhà tu phái chịu đựng dã làm cho Đại Đê hối hận. Bia sô XIII dơ Đại Đế ra lệnh khác trên đá ở khãp nơi dã chứng tỏ điều dó.

Rồi Đại Đế nhờ Nigrodha giác ngộ mà theo dạo Phật. Nigrodha chính là con của thái tử Samana bị chính Đại Đế giết. Khi xảy ra việc bất hạnh ấy. Nigrodha còn trong bụng mẹ chưa ra đời. Bà mẹ có mang đã trốn chạy thoát tai nạn rồi mới sinh Nigrodha, dc dến năm lên bảy thì chú bé dược nhận cho vào học dạo trong giáo hội. Một hôm tình cờ Đại Đế thấy chú ticLi Nigrodha di khâì thực dưới cửa sổ của cung diện, ngcài cho gọi vào hỏi chuyện. Nhân dấy mà Đại Đố dược một bài học vỡ lòng về Phật pháp.

Thêm em của Đại Đế là Tissa Maggalipulla cũng dcã theo dạo vào nãm thứ năm sau lễ dăng quang (252) và hoàng tử Mahinda con của Đại Đê cũng dcã theo dạo vào năm thứ bảy (250), Đại Đế bắt dầu chuyển lòng mộ đạo và luân theo quy luật của giáo hội. Ngài đi vân du 256 ngày đêm liền, để sau thời kỳ ấy thì hocàn toàn giác ngộ theo dạo Phật vào nãm thứ 1 1 sau lẽ dăng quang (246).

238

Thay cho lệ ngự di săn thú rừng. Ngài dặt lệ đi hành hương. Ngcài nhờ thượng tơạ Upagupta hướng dần. Thirựng toạ từ tu viện trong rìmg Mâhura dã cùng với 18 ngàn lu sĩ di thuyền xuôi sông Jumma và sông Gangc dến kinh đô Patalipulra đớn Đại Đế và đơàn quân tuv tùng rồi đưa dến vườn Lumbini nơi Phật đán sinh và cũng là nơi ngài buớc bảy bước đau tiên. Đại Đế làm lễ rồi truvền chơ dựng cột bia và bơ thí rất nhiều liền vàng cùng ra lệnh miền thuè vĩnh viễn chơ dán chúng làng ấy. Sau

đó. nsài tới viếno thành Catỳla (KapitavasUi) rồi tới cây bồ đề Gaya nưi Đức Phật thành đạo. Tại đây, Đại Đế cho xây chùa thờ Phật và phân phát đến 100 niỉàn đồnc tiền vànc cho các hành khất. Tiếp sau. đoàn hành hươnu lại đến Sarnatra thăm nơi Phật chuyên pháp luân, đến Kravasti thăm tu viện mà Phật thuyết pTáp và đến Câu Thi Na Yết La (Ku(Ịina«ata) sông Bạt Đề (Hiranyavati) nơi Phật nhập diệt.

Đại Đế còn tới làm lễ tại các tháp chứa tro xá lợi các môn đệ của Phật, tiến tháp của A Nan Đà, Đại Đố phán phát đến 1 triệu đồns tiền vànc. Nhưns đến tháp của Vakula thì chi cổ mọt đồnc tiền đồns thổi vì Vakula đã khỏns iỉánc cổnu theo bát chính đạơ và cũns khỏns giúp được 2Ì cho ai ca.

Đại Đê cấp dưỡnư cho 64 ncàn tỳ kheo, xây dựns 80 nsàn bảo tháp và hết sức lài trợ cho nhiều chùa. Níĩài tlựns cột bia ở khắp lãnh thổ, sửa sang dường sá thuộc quycn thốns trị của nưài di ra các ngả Ahghanistan, Baluchistan, Sind, Kashmir, Ncpal Vcà chân núi Hy Mã Lạp Sơn. Đường cổ quán nghi ngơi, có giếng nước dào cách khoảng đều đặn, có vườn rau, có trồng câv che bóng mát ớ hai bên, lại có công khố. có trạm y tế dê phát thuốc cho người và gia súc, có công chức chuyên việc ngăn ngừa sự giam cầm vô lý của chính quyền địa phương, cùng giúp đỡ những gia dinh dỏng cơn và săn sóc người già lão.

Những doàn truyền giáo cCing dược Đại Đế gửi đi đến những chỗ sơn cùng thuỷ tận, những chỗ còn man rợ, còn thiếu ánh sáng dạo lý, cũng nhu’ gứi di ra khắp các nưỏ'c ngoài (V bốn phương tám hướng, với mục dích hướng dẫn người dời suy nghĩ cho phái dạo.

Đôi với Phật giáo, các bộ phái, cũng như chung cả với các dạo giáo khác, ngài tôn kính hết tháy người cùa mọi giáo phái và lưu ý hết sức cho các giáo phái dược tiến bộ và lưu ý nhất là điếm giữ gìn lời lẽ không cho chi suy lòn phái mình mà phỉ báng phái khác. Theo ngài, dù một giáo phái nào dó cổ sa sút thì cũng vần còn khá kính ở điểm này hay diểm nọ. Sự hoà thuận với nhau dê hiếu, dé nghe nhau một cách chân thành mới là dáng kế. Đỏ là thánh ý cùa Đại Đế, khác trong bcài bia số XIL Tất cá các giáo phái dổu thừa nhận những huấn thị ấy là phải.

LÒN(; CHÂN THÀNH v ì ĐẠO C ilA A DỤC ĐÊ

239

Ta thấy nhiều vị dế vương khác trên thế giới sau nhĩrng trận chém giết kinh khùng như trận Kalinga cũng có thể có nhũng lời dáy lòng thương người một cách giá dối, de rồi sau dó thì có thế lại cớ những trận chém giéì kinh khủng hơn nữa.

Riènu trườna hợp cùa A Dục Đê thì từ đó vồ sau cho đến lúc naài băna hà, naười ta quii khôna còn nahc thấy tiếng trốna trận nữa. Naài đã cho khác vào bia đá bài chiếu chi cúa ngài với những đoạn sau:

"'Dại Dè thành thực hối lỗi và nhìn nhận chiến tranh xàm IclnịỊ hao a/ò' cũin> íỊây chết chóc và tội ác. Dù sô' niịưòi hi Íịiếí, hị hắt, hi chết có trăm lìíỉhìn lần ít hưn sổ nmỉời hị thâm hoạ tromị trận Kalhnịa thì cũni’ vchì là diều dáníỊ ân hận cho Dại Dờ. Dù cho nítưòi ta (các nước thù dịch) í/iid có lầm Idi di nữa. Dại D ế (hây i>iờ) cũny iìíịIìĩ rằníỊ plìdi nhan nhịn, nlìdn nhịn dên tận CÙIÌÍỊ... Dại Dê I(ớc nìiiổn cho tất ca mọi inịiiúi dẽii dược an lạc. dân làm chủ dược, mình, dâu có lĩnh lặnịị tronịị tâm hồn và có sự thươny cảm với dồiìíỊ loại... Chiến chỉ nàx dược khắc sàn trên dá dể cho nhữnv, con, nhữm.ị clìáti của Dại D ế san nàv dừng tưởng rằm’ hẻ lùm vna là plìdi di Uìm nlìữníỊ cnộc .xâm lăm’ (các nước khác nữa). Vù nến vì một tình cờ nào (clnhìíi) hị hnộc phủi lao vào cuộc chiến tranh .xàm lăng thì chúmị lìãv thấv m

Bài bia sỏ VI còn có câu: "Tất cd cô' gắiìg cha Đại D ế là dể trà nợ dối với mọi chhng sình. Dưới thê' nùv Dại Đ ế làm việc dem lại hạnh plnìc cho họ. dể qna thê' giới khác họ sẽ dược lên tr()i. Một ke tầm rhnửng nhát nến ninôn thì chng có thể tới cõi Cực Lạc dược, nh()' cô' gàng tn dạo".

ĐÀ TIKN MỚI CỦA PHẬT (ỈIẢO

240

Nhờ cập triều đại ấy của A Dục Đế, ncuừi ta thấy có một thay đổi quan trọnc tronc cách thức giánc dạo. Nchệ thuật Phật ciáo chuyên qua phía diễn la các thán linh, các vua rắn, các hoàng hậu, các mộc tiên, các thú vật có dạo... lất cá dổu sùng kính nhĩrng dại diện của giáo hội dể báo vệ nhũng chùa chiền ấy và lấy làm hàn hoan trước sự dắc dạo của Phật dể tỏ lòng sùng bái. Nhũng báo tháp, những điện thờ, những cây cối linh thiêng, những biên cô kỳ áo. những doạn dời cúa Phật, những cuộc rước lố vé tôn giáo và tất ca bố trí trong sự thừ cúng của dân chúng dều thấy tá lại trong các lác phám hội hoạ và diêu khắc. Tả một cách thật linh dộng như cánh sống thực. Cũng như ta dốn ca một phong thái trừu tượng cúa sự mong ước dirợc chấp nhận, như trong hình vẽ vợ chổng các thí chủ đứng kính Ccin nhin vật hỷ cúng của mình.

Điếm đặc biệt iroiiií các tác phám này là đã không có hình lượng của Phật. Chỉ có nhữna dấu vết chứníỊ tỏ sự hiện diện của Phật thôi, như một cái bổ doàn lõm xuốne một chút ở chỗ nRồi. một vết bàn chân, hay một vật ưì tượng trưmi cúa Phật như bánh xe pháp luân, cây bổ đề, hav một vài dấu hiệu nào khác. Bởi theo sự hiếu dạo thời đó, Phật dtã nhập với nhữrm dường viổn cứa the xác và những hình ánh rỗ rệt là hiêu sai rằng Phật là dâng còn có gì ràng buộc với xác thân, còn phiii chịu luân hổi và còn chưa dúl được nghiệp.

Đó kà quan niệm của Phật giáo nguyên thuỷ. Ta không di sãu vào chủ trương của các môn phái mà chi dứng ớ phạm vi nghiên cứu lịch sử dê ghi nhận những nét chính mà thôi.

Trong dà tiến mới này của Phật giáo, diều cấn ghi nhận là nhờ sự báo trợ của A Dục Đế, Phật giáo dược cơ hội may mãn hơn các dạo giáo khác ở Ân Độ để truyền ra nước ngoài. Phái doàn truyền giáo quan trọng hon ca là phái doàn xuống Tích Lan do chính hoàng đệ (hay hoàng tử) Mohendra cầm dầu. Vtà sau dó lại có chính công chúa ni cỏ Anurádhapura lói nữa. Công chúa mang theo một cây bồ dề mà dến nay vẫn còn sống. Các phái doàn khác dược gửi đi các nước khác ở phía tây nicà bia số Xlll có ghi cá lên vua các nước, như: Vua Anthigonue Gomapas của Maccdoine và Alexandre dệ nhị của Epil. Ánh hướng đối với các nước này không rõ nhưng đối với các nước ở phía Đông thì đã hết sức tôì lành (Miến Điện, Tích Lan. Trung Á, Tây Vực).

Tốt lành như vậy là bởi Phật giáo dã dược truyền bá vói ý định hoàn loàn vì dạo của A Dục Đế như đã nói. Ý dinh này tlìậ! trâm phần trăm là I>óp sức vào sự sốnỊị yên vui của tất cả chúng sinh ở tất cú mọi nước. Nó lù cuộc Sínig lìoà hình của CỘIHỈ dồng ciuốc íỊÌa mà muôn dạt tới plìdi lo Nác ngộ chúng sinh khói những mè lầm của thế giới ảo mộng.

Tuyệt dối đã không có một tính cách vì lợi. cũng không cá tính cách vì danh nào dế xây dựng gì nên vòng hào quang cho chính quốc văn minh hay xây dựng cái gì rực rõ cho vương trieu. Cái truyền thống của Phật giáo lan tixàn ra khắp noi ấy la cần ghi nhận.

PH.ẬT G IÁO TRO NG THÒI ÂN ĐỘ BỊ XÂM LẢNG

Điéu ta cần ghi nhận thêm nữa là nhờ những cơ sở tinh thán dã rất bển vững nèn cuộc thay dổi chính sự về sau, vẫn không hại gì đến đà tiến cúa Phật giáo.

241

Sau khi A Dục Đế băng hà, đế quốc bị chia ra thành nhiều mảnh múng cho các con của Đại Đê cùng ngự trị. Khoảng 50 năm sau, người

cháu cuối cùng của A Dục Đế là Brhadrata bị một soái iướne là Pusyanilra ám sát trong cuộc duyệt binh. Một vương triều mới dược dựng nên là vương triều (Ịunga không theo Phật giáơ (177).

(Ịunga không thống trị được toàn thể đê quốc Maurya cua dòng họ Candragupta. Đế quốc ấy bị phân mánh ra nhiều tiểu nhược quốc chông chọi lần nhau hết sức lộn xộn.

Trong khi ấy, ở phía lây, các vùng dất do vua Candragupta giành lại của người Ba Tư lại bị các lãnh chúa Hy Lạp hậu duệ của A Lịch Sơn tái chiếm. Đó là các quốc vương Dcmétrius và Mcnandras. Lcãnh thổ Ân mà Dcmétrius và Ménandras tiến chiếm còn rộng hơn hồi A Lịch Sơn tiến chiếm nũ’a.

Nhưng dặc biệt họ có một biệt nhỡn đối với dân nước bảo hộ. Họ gửi một sứ thần tên Hisidore đến triéu dinh vua (Ịunga. Sứ thần này tin theo dạo Bà La Môn và thờ thán Visnu. Họ lại nhìn nhận những nhân vật trong thần thoại Ân Độ cũng dũng hà nhiìng nhân vật trong thần thoại của họ: Thượng dê Indra là thiên chúa ZcLis, thần (Ịiva là thíìn Dionysos, nữ chúa Padnâda là Artémis và Krisna là Héraklés v.v... chí khác lên mà thôi. Ngoài ra trong những dich cũ bàng chữ Pali, người ta còn kế việc vua Hy Lạp Milinda (chính là Mcnandros) hòi dạo với Long Thụ Bổ Tát (Nâgasena). Một vài đồng tiền dồng đúc hồi ấy còn khác hình bánh xe pháp luân của Phật giáo. Và câu chuyện mà Plutarque kể việc phân phát tro xá lợi của mình sau khi chết đã có vang bóng việc phân phát trong xá lợi cúa Phật.

Những việc ây chứng tỏ rằng nếu vua Hy Lạp không theo Phật giáo thì ít ra cũng là ân nhân cùa giáo hội. Và nền vãn hoá của Phật giáo dã không hề bị sa sút vì những biến cò' chính trị dã kể trên. Trái lại. thời này còn khởi dầu này nứ thêm dòng tu mới nữa. là dòng Bhágavala và anh hùng ca Bhàgavata dã chứng tỏ là vĩ dại vì dã nêu cao gương dại hùng, dại lực, dại từ bi của người tu dạơ nhập thế gian de trá nghiệp thì mới dút dược nghiệp.

Tư tương Phật giáo cũng như Ân giáo nhừ cuộc sống chung giữa hai nền văn minh Đỏng và Táy này mà phong phú hết sức. Khoa học và nghệ thuật Hy Lạp cùng với tư tưởng thán học Ba Tư đã dua nhau pha trộn với những sở hữu tinh thần của Ân Độ. Dù phai dợi đến đời vua Kaniska (78- 123 s. CN) mới dâm bông kêt trái, những dấu hiệu phát triển cũng dã thấy rõ từ hcrn một thế kỷ trước trong thời kỳ bị dô hộ này.

l'uy nhiên, cuộc sống chung không được lâu dài vì những biến cố

242

trọng dại khác ở phía đông.

Biến cố ấy là dân Hung Nô chiếm cứ vùng đất phía Nam Vạn Lý Trườns Thành của Trung Hoa đã đánh đuổi giống dân Đại Nhục Chi về phía Tày (165-125 tr. CN) tạo nên một sự xáo trộn đời sống của các gicing dân quanh vùng Tân Cương. Biên giới của xứ Bactriane thuộc Hy Lạp bị áp lực nặng nề đến nỗi đường phòng thủ bị vỡ và dân Scythe tràn vào thì dân Đại Nhục Chi đuổi theo. Thế là dân Scythe mở đường cho dân Đại Nhục Chi chiếm luôn dấl dai thuộc Hy Lạp ở Bactriane, Aíghanistan, Baluchistan, ca vùng phía Nam sông Indus và cả ven sông Panjab nữa.

Nhũng bộ lạc Đại Nhục Chi lai Scythe, Tahia, Parthes dặt dưới quyền điều khiển của bộ lạc hùng mạnh nhất là Kusana, thê là thống trị Ân Độ và dần dần chiếm hết miền trung tâm châu Á, chiếm hết miền Đông Ân Độ, hết đồng bằng sông Gange và tiến ca xuống phía Nam dãy núi Vindhya nữa (vào khoảng nãm 70 tr. CN).

VDA K ANISK A (7 8 - 123)

Vị vua trong dòng Kusana hùng cường nhất là Kaniska, trước theo dạo Bà La Môn (hay đạo thiên thần Zoroastre), sau cũng như A Dục Đế, theo dạo Phật. Cũng như A Dục Đế, Đại Đê Kaniska bảo trợ giáo hội Phật giáo, và với dịa vị của một ông vua thiên tử. ngồi giữa đưòng gặp gỡ những nền văn minh lớn, Đại Đế dã mở thêm các đường truyền đạo cho Phật giáo cả về phía đông đến Trung Hoa và ca về phía tây đến La Mã nữa.

Ân Độ nhờ dấy trở thành một trục chính của thế giới văn minh trong

một thời kỳ phồn thịnh nhất lịch sử.

Kaniska xây dựng rất nhiều bảo tháp, tôn trọng xá lợi Phật và là vị Hoàng đế đầu liên dã cho diìc tiền có khắc tượng Phật để lưu hành trong dân gian. Nghệ thuật ấn pha anh hưởng châu Âu, nhất là Hy Lạp từ thê' kỷ trước sang thế kỷ này gặp điều kiện sống thanh bình đã được thể hiện ra hết sức rộng ở kiến trúc cũng như ở điêu khắc, hội hoạ. Cá những kiến thức khoa học cũng nảy nở rất mạnh, và cả thần học Hy Lạp, cá tư tưởng Ba Tư cũng pha trộn thêm vào tư tưởng ấn Độ và kích động cho nó phát triển.

Một nghị luận hội Phật giáo kỳ tư dã dược Đại Đế Kaniska triệu tập tại Landhar (Đông Panjab) - có tài liệu nói ở Kundalavana (Kashmir) và đã có mười tám chi phái về họp.

ĐẠI 1 HỪA VÀ T lỂ li I HỪA

Một sự chuyển dịch trọng tàm những diều giảng luận về Phật giáo

243

dã được ghi trong thời này.

Kinh điển được chép bàns chữ Phạm (Sanskrit). Trước đó. nhữn«

kinh điển chép bằns chép Pali, tàntz trữ ở Tích Lan.

Kinh điển chính thức thừa nhận điều mà cônR chúns phật tử đã làm Irons thực tế là tôn thò' Phật là người Trời (Être divin) và tin tưởng là có rất nhiều vị Phật của quá khứ và vị lai đã giúp khai thông tuệ nhãn cho thái tử Tất Đạt Đa sớm ngộ đạo. Đó là bước đầu đặt nền móng cho việc thờ Tam thân Phật tổ.

Nhiìnc quan niệm chính thống cũ cho rằng cá nhân gắng công tu theo gương đức Phật đến chứng quá A La Hán đcã kể là dến đích rồi. Nhưng kê từ đây thì người ta xác định: đôn đích ấy mới là dến cảnh giới của vô thuỷ vô minh (hay là vỏ sắc giới), chưa thê’ kể là chứng nhập Chân Như tuyệt đối, vượt ngoài tam giới là Niết Bcàn được.

Sự chứng nhập này phai là tự mình thân chứng bởi canh giới Chân Như tuyệt dối chẳng phải là chỗ ngôn ngữ văn lự có thổ bày tỏ ra dược'". Nhưng Tam thân Phật với Quan Âm Bồ Tát cũng có thể dộ cho tha nhân ngộ dạo, theo Bồ Tát hạnh là hạnh tu của những vị dã dến bến Giác nhưng nguyện ở lại trần gian để cứu vớt chúng sinh dau khổ.

Đó là những nét đại cương của phái dại thừa (Mâhâyana) đối lại với

chủ trương của phái tiểu thừa (Hinâyâna).

Đại thừa với chùa thờ Phật, với bánh xe pháp luân, trầm hương, chuổng mỡ. kinh kệ v.v... không phải là một hình thức đại chúng hoá thô thiên của đạo Phật. Mà do Long Thụ Bổ Tát (Nâgârjuna) sáng lập. đại thừa có cãn ban lý thuyết cao thám của “một trong nhũ'ng nhà siêu hình học tinh vi nhất nicà loài người có thể sán sinh ra dược” (run des métaphysiciens les plus subtds que la race humaine ait produits)'"'.

TÓM LAI

Điêm này dườim như có phần nào do sự kích dộna của hệ thốna Ui' tươne Iriếl học Hy Lạp mà kết linh: “ Mục dích của Iriếl học là cầu Iri kiến, mục dích của Phật pháp là lìa tri kích. Việc làm cứa triết học là lại nơi lời nói mà ciia Phật Pháp là tại ncá lìa lời nói. Triết học dùna Iv trí làm con dườna di lới chân lý. còn Phật pháp lai cho là lý In' làm che láp con dường di dến chân lý. nên dặl lên cho nó là “ Sơ tri chướng” và bài xích nó là vọng tướng.

H.Zim m cr. Lcs Phiìosophics (le I 'hìdc , p. 401. Payot . rv ris , 1953.

244

Đến chặng tiến hoá này, chặng tiến hoá sau công nguyên nicà dạo Phật truyén vào Trung Quốc, Nam Dương, Triều Tiên, Nhật Bản, Thái Lan, Giao Châu (Việt Nam), đạo Phật dcã mang theo nó nhCrng sác thái vô cùng phong phú với một tinh thán hết sức tinh tế.

ĐAO PHẬT VÀO (ÌIAO CHÂU

Đạo Phât đến đời Kaniska truyền ra các nước nưoài, đã có theo một

truvén thốns khai mào từ đời Aẹoka: ì .V ì sự sấnÍỊ chuììỌ, troììịị lioà hình của cộng dồng các quốc gia mù

klìchìg vì lợi hav danh gì cho chính quốc. 2. Vì sự giác ngộ cho chúng sinh khỏi dường mê lầm của thể giới ảo

tưởng dể tìm thấy tĩnh lặng trong tâm hổn mà hiết suy nghĩ cho phải đạo. 3. Không có thói tự dề cao và miệt thị những tôn giáo khác. Tất cả các

nhà tu của tất cả các giáo plìái dều dáng trọng (ỳdiểm nàv hay diểm khúc. 4. Đời sống tôn giáo mới lù vĩnh cửu dâng kể, cỏn những sinh hoạt

chính trị có giá trị nhất thời.

Do truyền thốnư ấy mà tổ chức Phật giáo đã như không có tổ chức gì. Nó như một chất lỏne, chui vào bình chứa hình gì thì nó liền theo hình ấy ngay. Chỉ miễn thực chất của nó ở căn bản là từ bi cứu khổ, không thay đổi và sự nhận định của nó về nghiệp kiến, luân hồi, chứng ngộ. cực lạc vẫn chính xác là chân lý tuyệt đối. Còn tất cả đều có thể linh động từ nghi thức thờ cúng đến thể cách tu đạo, cho đến thái độ chịu đỊmg cung cách đối xử của chính quyên và chúng sinh. Nghĩa là tùv theo bình chứa (để nói ví dụ một cách cụ thể) hễ hình tròn thì Phật giáo cũng hình tròn, mà hình vuông thì lại có hình vuông. Vcà nói một cách khái quát hơn là tuỳ theo cá tính dân tộc và mức độ tiến hoá của Xcã hội mà Phật giáo chiều ứng dể chuyển mình sáng tác thành sản phẩm tinh thần riêng của dân tộc ấy ngay.

Bởi vậy, sắc thái Phật giáo ở chính quốc An Độ không phải là mẫu mực mà cũng không là điều kiện cho sắc thái Phật giáo ở các nước ngoại Ân. Người ta có quyền nói rất đúng là Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Trung Hoạ. Phật giáo Nhật Bản v.v... cũng giống như Phật giáo An Độ. Giữa An và các nước ngoại An dã không có một mối dây liên hệ thuộc hạ nào vì không có một giáo quyền dộc tôn nào manh nha ngay trong ý thức cả.

Nói một cách thiết thực thì từ khoảng AỌoka tới Kaniska và cả về sau nữa, dân An Độ dù có tham vọng lập một thứ Toà Thánh để làm một “cuộc chinh phục tàm hồn” các chúng sinh ngoại An, thì cũng không thực hiện nổi. Bởi vì trong nước loạn ly liên miên, thời thịnh trị không dài mà thời qua phân ra các tiểu quốc và thời bị xâm lăng thì lại luôn luôn không dứt

‘"Sau A ẹoka, (261 - 227) được 34 Iiãm, các con cháu chia đất ra thành mảnh múng đê mỗi người cai irị mỏi nưi, chí năm mươi năm là xã tắc sang tay dòng họ khác, tuv còn một vài vị tiểu vương cai trị ở vài tiểu quốc xa xôi. Thế rồi hết dòng họ Ọunaa cai trị đến dòng họ Kanyâ, ngắn ngủi chừng 20 năm, lại cớ hoạ xàm lăng của Hy lạp rồi của Iran, rồi tiếp dến là cá một thời lộn xộn của dán vùng trung tâm

245

Qua những biến cố liên miên như Ihế, sự tu phật của các cá nhân cũne như các nhóm cá nhân chỉ tồn tại và cắc cớ là chí thâm viễn hết sức ở tinh thần, còn bao nhiêu nhũ'ng tổ chức bề ngoài về giáo hội nếu có, cũng như bao nhiêu thê’ cách lu theo hình thức đều bị liêu trầm cả. Điều ấy giải thích tại sao ở ngay chính đất Phật ỏ Ân Độ, Phật giáo bây giờ không còn một ảnh hưởng gì mạnh mà chỉ ở Tích Lan mới có đại đa số dân theo Phật giáo.

Tuy vùng sông Gange là đất Phật, vùng sông Indus là dất cổ văn minh của Ân, và vùng Hy Mcã Lạp Sơn Icà thế giới huyền bí của cõi cực lạc. những vùng ấy có thể có huyền lực kêu gọi người ta về tình cảm, nhưng qua những chặng và nhũ'ng khu có sự chém giết lung tung, người ta cũng chỉ dám nhớ để bụng chứ không thiết tha trở về khu đất tổ ấy. Nhất nữa là nhò' thấm nhuần tư tưởng Phật giáo, người ta nhìn vạn hữu dều là không, sự sống thiết thực của hiện tại là ảo tưởng, chỉ một nháy mắt là đĩi hết, người ta càng không có sự tha thiết vun đắp về cho thánh dịa làm gì cả.

MỤC ĐÍCH CHÍNH CỦA SỰTRUYỂN bá đ ạ o p h ậ t r a n ư ớ c N(ỉ0ÀI

Bởi vậy, mục đích chính chỉ là ước mong cho quần chúng khắp nơi suy nghĩ và sống cho phải đạo. Được như thế, người đi truyền bá thấy là minh làm một việc phúc dức dể gieo duyên lành. Mà ví thử quần chúng ở nơi nào đó chẳng suy nghĩ và sống cho phải đạo như mình quan niệm thì cũng thôi. Không hề có sự cố gắng phái dùng mưu mẹo, hoặc lừa dối, hoặc len lỏi vào chỏ này, chỗ nọ để làm cho người la theo đạo của mình, hoặc dùng những quyền lợi vật chất mà câu rử, hay dùng những thế lực nào đó đê’ bênh vực cứu giúp người bất hạnh, lấy sự theo đạo làm điều kiện cho sự cứu giúp của mình.

^ châu Á tràn qua, kẻ đánh đi, người chiếm lại, cho đến lịch sử không còn phân biệt nổi dòng Kusana bá chiếm Ân Độ cuối cùng là đích thực dân ở đâu tới nữa.

Đến Kaniska (78 - 123) cúa dòng họ Kusana ấy, kê như lại dược 45 năm thịnh trị thì tiếp sau dó dến dời các con, triều dại lại suy tàn với quốc thổ ihu hẹp dần lại bị Sahpuhr dệ nhất xâm lăng và sáp nhập vào dưới quyén thống trị của Iran cũng không rõ là bao nhiêu lâu. Lại cíến nửa dầu thế kỷ thứ V. diÂn Đại Nhục Chi ở Trung

Á lại xâm lăng Bắc Ân, dể rồi sau dó, kc xâm lăng lại bị kẻ xâm lăng khác là Hung Nô dánh nhau.

Nghĩa là ở thời thượng cổ, chính sự Ân Độ dã hết sức lộn xộn và lãnh thổ Ân Độ dưới là các dân tộc từ bốn phương tới mà ảnh hưởng thì lẫn lộn cả gươm giáo, trống trận với nghệ thuật, tư tưởng cùng hàng hoá. Không kể điéu tất nhiên xáv ra là ánh hưởng cả về dòng máu nữa.

246

Nghĩa là nsười đi truyền bá đạo Phật đã không hề làni việc theo tư cách một cán bộ của một đảng chính trị đê hùng hục phái đạt cho kỳ được kết quủ mà báo cáo bằng những ban thống kê về sự liến bộ của cuộc truyền bá. Theo tổ chức không lổ chức của Phật giáo thì lại không hề có trung ương nào cá để nhìn những ban thống kê ấy. Người đi truyền bá đã chỉ nhẩn nha, không ra hoạt động mà cũng không ra không hoạt động, được đến đâu hay đến đấy, không hề truyền cái cuồng tín vào đầu ai, cũng không hề truyền sự hằn học, phai thế này thế nọ nhất định thì mới là văn minh, mới là chân lý.

Đạo Phật đã đúng là một thứ tôn giáo cho những xã hội nông

nghiệp, cứ việc gieo hạt giống, rồi mặc nó mọc ra sao thì mọc.

PHII()N(Ỉ PHÁP TRIIYÊN BÁ ĐẠO PHẬT

G. Cocdès trong sách

ỉỉistoire Ancienne dcs états Indonisés d ’Extrême Orient (Cổ sử các quốc gia Ân Độ hoá ở Viễn Đông) có dẫn lời G. Pcrrand dể chứng minh phương pháp nàỵ như sau:

""G.Pernnuỉ dã viết nhiều trutnị về sự Ân Độ hoú ddo Java, có thể

hiểu chuiìg dược cho các nước ììiịoại Ân khác, mà tôi dcỉn ra vùi doạn.

“5í/ việc trom> thực tể dã có thể diễn ra đại dể như thế này: hai hoặc ha tầu huân ấn di cách chừnịỉ dể yểm trợ cho nhau rồi tiến dần tới dào Java. Nhữnịị người mới tới giao thiệp với các lãnh chúa, và dể dược mọi sự dề dàng thì có quà hiếu, có sự chữa thuốc cho người dau yếu, có những hùa dấu d ể deo. Troníị tất cả những nước vún minh cổ mù tôi dã .sống từ vịnh Aden và dọc hờ hiến Đông Phi dến Trung Hoa, nhiĩníỊ phương tiện duy nhất kiến hiệu dể .vâm nhập một cách êm thấm ở dâu cũní’ dều như nhau cd: quà hiếu dùng làm lễ ra mắt, phân phát thuốc men cùng những hùa yếm dế tránh tai hoạ (có thực hay chỉ lù tưởng tượng). Người ngoại quốc phải tỏ ra giầu có, hiết chữa hệnlì vù có tài phù thuỷ. Thì không ngỉtòi nào có thê’ so sánh nổi với người Ăn Độ về sự khéo dùng những thể cách ấy. Nguúi Ân Độ này tất cỏn khoe thuộc dòng dõi cao sang, hoàng thán hay quốc thích khiến cho gia chủ chỉ có thể sừng sốt.

247

""Khi dến sống trong dài dất lạ như thế, người Ăn không có thông ngôn. Họ phái học nói tiếng hdn xứ khác hấn với tiếng của họ, vù phải vượt nổi trở ỉ ực đẩu tiên ấy thì mới dược nhận cho vào sống với bộ lạc ngoại quốc Mleccha. Sự kết duyên với con gái các tù trưởng diễn ra tiếp sau dó vù chỉ dến lúc ấy thì dnlì hưởng văn minh và tôn giáo mới cố hy vọng thành công. Vợ hụ người hãn xứ dược huấn luyện mới trở thành những cún bộ truyền bá tư tưởng vù tín ngưỡng mới: các cô còng chúa

hư\ tiểu thưthuộc lìùníỊ thưựní> lưu xã hội nâv về phong tục, tập cỊuán, tôn giảo âã được công nhận là hiểu hiết hơn hạng thường dân thì hạng thường dãn không có /v lẽ nào mù nghĩ trái V các cô dược".

G.Coedès viết liếp: “Đớ lù doạn dầu của công cuộc Ân Độ hoá. Còng cuộc cá nhân huy tập thể không cố chương trình trù liệu trước, chỉ lù sự di cư dông dào nó làm thay dôi thê chất dớìì chúng Uc. A và Nam Dương ớ ngoại An.

Nhưng sau những người nhà huân này vù theo gót chân họ, phần lớn phải là vai trò của những phần tử có học thuộc hai giai cấp trên, nếu không thì người ta sẽ không hiểu nổi sự nay nở của văn minh ngoại Ân, Khơ Me. Chùm, ,Java thâm nhuần tôn giáo Ẩn Độ vù văn chương hằng chữ Phạm".

Một nhà Nam Dương học khác là R.o. Minstadt đã khai triển đoạn nhận xét nàv của G.Perrand trons sách Lịch sử của Mã Lai và thêm những sự kiện lịch sử lương tự:

"Với thời gian, một vài người trong số người Ân Độ lẩy vợ thuộc những thế gia vọng tộc ở Nam Dương và tiêm nhiễm những cptan niệm An Độ về vương triều, dũng như một ngùn năm sau, những người Tamouls theo Hổi giáo cũng lùm rể những gia dinh vua chúa ở Malacca. Sự tới Mã Lai sống của người Ân dường như rất giống với sự tới sống của người Hồi ở Hadrarnut. Người Bà La Mòn vù người c Ị i i ý tộc Kshatriya chiếm chỗ của người Sayid, (fuý tộc hán xi'r.

Ca hai ba nhà cổ học phương Tây Iicày cũng như nhiều học giá khác dã có một nhận xét dứng ở doạn đầu, cái dơạn người Ân mới du nhập một nước nào. Nhưng đã có một diễn dịch sai vì dã để cho nhãn quan phương Tây và Gia Tô giáo chi phối để hiểu rằng người Ân cố tình dùng các mánh lới mà truyền bá dạo của mình.

Đó là điều sai lầm quan trọng.

NHCNíỉ N íìườl ĐI TRUYỀN ĐẠO

Như trên đã nói, không giông với các đạo khác, có tổ chức khắt khe, sự truyền bá đạo Phật đã được làm nhẩn nha như hư như thực. Cán tìm hiểu sâu hơn nữa mới thấy sự thành công của đạo Phật trong nhũìig xã hội nông nghiệp, nhất là hiẽu tâm trạng thực cua người An ngày xưa.

Có hai loại người mang văn minh An ra nước ngoài. Một là các

248

thương nhân. Hai là các lu sĩ.

1 . Thương nhân

Thưong nhân thì trừ những imười buôn hàng chuyến đi rồi trở về vì cổ cơ sở lớn ở chính quốc Ân Độ'", còn phần lớn là những kẻ phiêu bạt siang hồ, mang theo hcàne hoá vốn liếnc đi lìm cách làm ãn ở xứ ngoài. Vừa đổ tránh những canh ly loạn hên miên trong nước, vừa để tìm dựng ỉại cơ đồ đổ vỡ vì chiến tranh. Quan hệ nhất là vừa để tìm nơi khác làm ăn dễ dãi hơn. Bởi Ân Độ hồi ấy chia thành nhiều tiểu quốc mảnh múns, nhữns khu vực phì nhiêu như dồng bằng sông Ganse đã bị các vua chúa hùng cường chiếm siữ, còn những chỗ xương xẩu thì dân nghèo, đất cát khô cằn, khí hậu cực kỳ khó sống, không kể những thiên tai thuỷ hạn.

Những thương nhân phiêu bạt này có thể chính thống thuộc giai cấp thương nhân. Cũng C(5 thổ là những hoàng thân quốc thích bị thất thế ở những tiểu quốc nào đó. Cũng có thể là những vị vương bị truất phế hay lự ý bỏ ngôi cao hay những cựu quan thuộc hàng quý tộc.

Có những người dụng lâm ra nước ngoài xây dựng một triều đại ở

vương quốc khác'’’. Lại cũng có nhiều những nhân vật khác chỉ muốn ra ngoài sống cuộc sống nhũn nhặn, buôn bán qua ngày.

Đến những người tiểu thương tháp tùng thì họ đã không phải đi ra ngoài với một dụng lâm truyền bá văn minh và tôn giáo Ân Độ. Nhưng chính họ đã làm việc ấy một cách dắc lực với một kết quả không ngờ.

Ây là vì trong mạch máu của người Ân Độ, từ thời Vê Đa, khoảng 2000 năm Ir.CN vẫn dã có cái ý niệm về luân hồi, nhân quả, nghiệp dịnh... mà họ tin như những sự thực ngtàn đời. Trong đầu của họ cũng có sán những truyện cổ tích, những thánh ca, những lời kinh Vê Đa, những lời thơ anh hùng ca Mahabhârata, v.v... để chứng minh những chân lý ấy.

‘"H ọ buôn Vtàng từ Tây Bá Lợi Á, sau đường Bactriane bị cắt vì loạn ly, họ lại inua tién vàng cúa La Mã. Khi bị vua La Mã cấm họ mới quay về Viễn Đông. Xem G.Coctlès. sách đã dần. tr. 25.

Như trường hợp cúa Houen T ’icn lức Kaundinya lừ Ân Độ qua hay từ Mã Lai, Nam Hiii, là người theo truyền thuyết có mũi tên thần bắng thủng thuyền của Liỗu Diệp côns chúa và lấy công chúa dế ngự trị Phù Nam, khai sáng nên vương quốc này vào thô' kỷ thứ nhất. Hay như trường hựp của Tien Tchou Tchan T ’an. người Đại Nhục Chi hay Indoscythe, ngự trị Phù Nam khoảng năm 357 với danh hiệu Tchan T'an, theo Lévi, có lẽ là Chandan một vương hiệu thông dụng của người Kusana (dòng họ vua Kaniska). Hay nữa như trường hợp mà người Chàm khoe trong bcài bia ở th í kỷ IX là vua Chàm Khu Liên sáng lộp ra Chiêm quốc năm 178 thuộc dòng dõi Bhàragavas cúa Maharshi Bhrigu, một nhân vật trong anh hùng ca Mahabhârata...

24 9

Và troiiíì đời sống đầy kinh nghiệm của chính bán thân luỊ. qua bao nhiêu thăng trầm cũng lại có rất sẵn những dần chứng để iàm người la phải tin theo chân lý ấy. Thêm cái thói quen ưa trầm tư, tìm triết lý để lự an ủi và tin những điều thần bí siêu hình, mỗi người của họ đã như hiện thân của lý ihưyết Ân giáo. Chỉ sự sống chung của họ với dàn bản xứ và nói chuyện thân mật đã là một sự truyền đạo hết sức hiệu quả rồi.

Không lựa là họ phái cố nhám tìm những con gái của các thế gia vọng tộc mà xin cưới để các cổ dâu mới này truyền bá dạo mới, như nhận xét của G. Perrand, làm như sự truyền dạo là cứu cánh của cuộc sống vậy. Kỳ thực người Ân có thương điếm làm ăn ở nước ngoài có thể dã không hề nghĩ một chút gì rằng phải làm cho thực nhiều người theo đạo Phật.

Người Ân dùng mánh lới để làm rể ở những nhà quyển thế. Việc ấy có thể có. Nhưng mục đích chính không phải là dùng vợ làm trung gian đổ truyền đạo mà thiết thực hơn là để nương dựa vào thế lực ấy cho sự làm ăn khỏi bị kẻ nào làm khó dỗ. Còn người vợ theo tín ngưỡng mới của chồng có đi kể lại với bà con họ hàng dể truyền bá dạo mới thì cũng chí là việc phụ.

Vả chăng, ở mỗi nơi đông đúc mcà người Ân tới đặt thương diếm nếu có thì cũng chí có chừng vài ba gia đình quyền thế thôi. Chứ lấy đâu ra nhiều? Riêng ở Giao Châu - các xứ khác ta chưa dám biết vội - còn có những con mắt cú vọ của các quan cai trị người Tàu cũng dòm ngó các cô gái của vài ba gia đình quyền thê ấy. Thì người Ân, không có vũ khí, không thế lực chính quyền, liệu dám dương dầu với họ chăng trong những cuộc tranh hỏn có thể xáy ra ấy? Bởi vậy ta không thể chấp nhận dược thuyết của các nhà khảo cứu phương Tây, ít ra là dối với xứ Giao Châu của ta.

Chúng ta nhớ truyện cổ tích Tấm Cám của ta là một trong những truyện cổ có mang nhiều sắc thái Ân Độ về luân hồi, nhân quá. Chứng tỏ Phật giáo đã không phai chí được truyền qua sự giang đạo thuần lý thuyết trừu tượng và kinh kệ của các tu sĩ từ trên xuống mà phần lớn dã được truyền qua cuộc sống chung từ dưới lên, lấy chính cuộc sống thiết thực cùa hiện tại làm đà ăn sâu vào tâm tình của dân chúng.

2. Tu sĩ

Những nhà tu đến sau như lời G.Coedès nói, làm việc giảng dạo mới thật, nhưng là giảng đạo cho những người dã sẵn sàng tất cá để nghe và tin theo cùng tìm đào sâu giáo lý.

250

Đó là những phái đoàn tăng lữ đi ra khắp các nước ngoài từ thời Aọoka và đến thời Kaniska này thì lại có thêm nhiều phương tiện nữa.

Những tăng nhân có thể đã lập tu viện, giữ việc tổ chức các lễ cầu kinh và tiếp xúc với tín đồ để giáng kinh thuyết pháp. Nhưng như trên đã nói, sự truyền bá Phật giáo của họ rát nhán nha. như hư như thực, không cần đến hình thức thống kê số người theo đạo mới, vì họ không cần phủi báo cáo về kết quá của công cuộc truyền đạo. Kết quá đã chỉ đo bằng số chùa do dán hỷ cúng để xây dựng thêm, sô những chuông, những tượng cũng do dân hỷ cúng dể đúc thêm tạc thêm mà thôi.

Những tăng nhân này có lẽ cũng chẳng hề đưa ra một mẫu kiến tạo nào ở chính quốc Ân Độ để bát địa phương phải làm theo đúng y như thế. Họ cũng đế tuỳ con mắt thẩm mỹ của người ta, tuỳ khả nâng tài chính, tuỳ trình dộ tiến hoá mà tạo tác. Vì vậy ở mỗi nước, chùa mang sắc thái riêng, cả quy mô, kiểu thức, cá sắp đặt nơi hậu cung thờ tự.

Thêm một điều ta cần lưu ý là trong những đoàn thuyền giáo đi vàn du các nước trên cả hành trình, các lăng lữ đã không ấn định chương trình phủi ngày nào đến, ngày nào đi, cũng không ấn định phải kàm xong việc này hay việc khác, hoặc phải chờ gặp người này hay người kia để xin ân huệ này, ân huệ khác. ^

251

Đến một nơi có thương điếm của người Ân cùng những kiều bào hiêu dược tiếng họ với sô' dân dông dáo sán sàng nhìn nhận chân lý Phật giáo thì cổ thê’ dễ dàng công việc cho họ hơn và họ có thể sẽ lưu lại lâu hơn. Những Ân kiều là những thông ngôn dắc lực của họ. Nhưng ví thử đến một nơi chưa có gì hết, lại cũng chưa biết nói cả tiếng của người địa phương ấy nữa, có thể họ chi đi qua. để lưu trong một nhân gian hình ảnh của một tăng sĩ khất thực, hiền lành, khổng làm hai gì ai cá. Nếu có dịp thì họ chữa bệnh cho người đau yếu gặp ở trên đường, rồi lại đi mà cũng không cần nghe một lời cám ơn nào ca. Điều quan trọng là phong độ người chân tu của họ phai tiết ra một vẻ chân thành từ bi bác ái nào đó, để người la có thể không nghi ngại mà bằng lòng giao phó sinh mạng thân nhân mình cho họ chữa bệnh, chứ không phải người xưa cổ lỗ ngây thơ ngu dại tới chỗ ai khoe có tài chữa bệnh cũng tin liền ngay dâu. Sau một Vcài lần chữa bệnh có hiệu quả và chiêm nghiệm được, rồi mới dễ, vì người ta đồn đại khắp nơi dể ihn đón rước họ, xin nhờ họ chữa bệnh hết cho người này đến người kia mà không cần phải biết tiếng của nhau nữa, chỉ ra dấu cũng dã thông cảm được với nhau trong những trường hợp ấy. Đổ rồi họ sẽ ở lại lâu hơn những ngày giờ dã định, mà học tiếng địa phương và bập bẹ gieo rắc những lời khuyên, để nêu gương những tín ngưỡng mới và đặt nền móng cơ sở tôn giáo. Điều đó là một duyên may run rủi cho họ và địa phương ấy gặp nhau. Nhưng ví thử đến một nơi còn

hết sức inan rợ, họ bị lừa hay bị bát cóc và có thể bị giết hay bị ãn thịt nữa, vì một hiểu lầm nào đó từ xưa thì họ cũng đành chịu như gặp được dịp may mà 2Ìải thoát và trả xong nợ của một kiếp tu. Họ không nhũTig không sợ chết mà còn đi tim cái chết là khác nữa. Có khi nhờ binh tĩnh không sợ chết mà họ lại được tha và được cả bộ lạc kính phục. Thì đó lại là chuyên nguy thành an, cũng là một duyên may nữa.

Câu chuyện ke trong Cao Tăng Truyện về ngài Ma Ha Kỳ Vực qua Phù Nam, Lâm Ap, Giao Châu và Quảng Châu, Lạc Dương, dọc đường thường làm phép lạ như lái đò thấy ngài rách rưới không chịu chở thì đò tới bên kia sông đã thấy ngài ở dó rồi sợ là có thêm thắt. Người tu Phật không phái là người có pháp thuật biến hoá thần thồng. Và ví thử có cũng không cần phái thi thố bừa bãi với chú lái đò để làm gì.

Phương tiện để lấy cám tình của đỏng dao quần chúng nhân dân ở thời xưa là chữa bệnh, bói toán, xem tướng số, cho bùa chú cầu tài và cũng có khi là thuật thòi miên, thần giao cách cám. Người Ân đã nổi tiếng về những cái tài ấy. Các nhà tu Ằi trước mắt thiên hạ hẳn còn phải tài hơn. Cho nên thường các nhà tu này đến đâu cũng dược dàn chúng sẩn sàng trọng vọng.

ĐẠO PHẬT ĐẾN (ỈIAO CHÂU VÀO THỜI NÀO?

Như đã xét ở trên, thì quá là khó, cái việc chỉ đích đạo Phật đến Giao Châu vào thời khoảng nào. Không the căn cứ vào việc một vài nhà tu có qua Giao Châu mà sách sử còn chép lại làm dấu rằng dạo Phật du nhập ngày ấy.

252

Chính G.Coedès cũng dtã viết: “Ả7;ô/?g thể coi người Án dến bán đào TniìUị Ân và nhĩừìíị quần ctảo ở Nam Hủi như người cháu Au cíến châu Mỹ, vì họ không phải lâ kc’ lạ tỉũ khúm phú ra những (lất mới trong khu vực ấy. ớ một thời khoảng lịch sử nào đó, cần thử xác cĩịnlì và tiếp sau những hiến cố mả nĩịuúi ta có thể nhận ra dược dã có hảng doãn dông dào nhữní> nhủ buôn và nhữm> người di cir ồ ạt tới khu vực mà trước chỉ có ít n^ười Ic té đến thôi. Đ ể kết quả mới lù sự thành lập những vưưng quốc theo kiểu An Độ, với những níịhệ thuật, tập quán tôn giáo Ân Độ, cùm’ việc dùng chữ Phạm làm chữ thiêng liêm’. Những người An dã khỏm> qặp nhữm> bộ lạc dã man, không một chút văn hoá nào, mù trái lại đã íịập nluĩm’ mịười có phần nào văn minh,'không phái lù không na ná với văn minh Ân Độ tiên Aryen. Sự dễ dáng vù nhanh chóng cho người Ân truyền bá văn minh của họ có thổ giải thích một phần nào bằng việc nyười dân dịa phươm’ nhìn qua phong tục tín ngưỡng của họ thấy dưới nước sơn Ân Độ ấy có một căn cốt chung cho cd châu Á.

'"'Bài thế, íỉấv khôiĩí> pliíỉi là sự tiếp xúc í>iữa inỊưtyi xa lạ hav sự tiếp xúc cĩầit tiâiĩ. Nếu sự Ân Độ hoá cúc nước m>oại Ân có vc là clicn ra vào khoảniỊ dầu k \ mịuvên, như một sự kiện mới mẻ, thì khôiiíỉ phải nỊịười An lúc ấv mới xuất nịỊoại lần dầu, mù chính là lúc ủ'v họ tới dônịị ddo ồn ào lum, lại có mam> theo nlìữm’ phần tữ trí thức có thếtruyên hú tôn giáo và nghệ thuật Án hằng tiêhíỉ Phạm". Thật là một nhận xét xác đáng để chứng minh rằng đạo Phật đã vào Giao Chíiu không phái vào thế kỷ thứ 111 mà còn trước nữa rất nhiều.

Sách Cao Tăng Truvện có chép rằng ngài Ma Ha Kỳ Vực qua Phù Nam, Lâm Âp tới Giao Châu rồi đi Quảng Châu, Lạc Dương vào cuối thế kỷ thứ III. hay Tăng Hội, người thuộc gia đình gốc Sogdianc đến cư ngụ ở Ân đã nhiều đời rồi theo song thân tới Giao Châu định cư làm nghề buôn bán. Khi song thân mất, ổng vào chùa tu hành và dịch các kinh sách chữ Phạm ra chữ Hán. ông mất ở Trung Hoa năm 280. Nhưng những lài liệu Iicày chỉ chứng tỏ rằng dạo Phật dã có ở Giao Cháu từ trước khi có vcl chân của các nhà tu ấy.

Bơi trước dấy năm 187, khi Sĩ Nhiếp làm thái thú dất Giao Châu thì Viên Huy dã có gửi thư về cho Tuân Quốc bên Tàu năm 207 kể về anh em Sĩ Nhiếp như sau;

Nhiếp huynh dệ. tịnh vi liệt c/uận, lìùní> trưởnv, nhất châu, thiên an tại vạn lý, uy tòn vô rhưựní’, xuất nhập minh chung khánh hị cụ uv nghi tiêu cổ xuy .xa /?v mã dạo. Hồ nhân íịiáp cấu phần hương, tììién gid ihiunu’ hữu so' thập.

(Ánh em Sĩ Nhiếp dêu chia ra các quận, mỗi người hùng cú' một châu, rộní> dến vạn dặm, uy nghiênì tôn kính khỏnq có ai hơn, khi ra vào chuông khánh vanq lừinỊ, diì mọi nghi vệ thổi .sáo dánh trống. Xe ngựa dầ\’ dưò'ng. Nhữm^ nqiíời Hồ theo hai hên .V(' dốt hu'o'mị thif()’ní> có dến vài mưo'i).

Danh từ người Hồ theo Trần Văn Giáp trong sách Le Bouddhisme en Annam là liếng của người Tàu chí các rợ miền giữa châu Á và Ân Độ từ dầu kỷ nguyên.

Như vậy, người Hồ (nghĩa là người Ân Độ) dã ở Giao Châu ít nhất lừ giữa thê' kỷ thứ II thì mới dặt xong nền tang tôn giáo và những liên hệ với chính quyền.

253

Hồi giữa thế kỷ thứ hai là hồi sau triều Kaniska (78 - 123) các con của Đại Đế không dương nổi nghiệp lớn. trong nước loạn lạc lung tung. Hổi ấy cũng là hồi nhà Hán bên Tcàu tàn tạ với những vị vua yếu duối, chỉ lo hưởng những thú vui vật chất trong cung câm còn việc triều dinh thì phó mặc các hoạn quan lộng quyền khiến gày thành loạn Khán Vàng và loạn Tam Quốc.

Giao Châu thuộc quyền cai trị của nhà Hán, ở nơi biên viễn miền Nam. Vết thương do quân Mã Viện gây ra cho dân Giao Châu năm 43 đến đây cách 100 năm, dù có thế kể là đã lành thì những đau khổ, chết chóc thảm thương khác do quan lại nhà Hán tiếp tục đầy ải dân Giao Châu, từng ngày, từng giờ một đã không thể khiến nhân dân có một thiện cam nào với kẻ đô hộ.

Hơn nữa, ở chính quốc loạn lạc, các quan lại nhà Hán đã không có ý muốn trở về. Từ thượng tầng của guồng máy cai trị là các thái thú đến hạ tầng là các nha lại, người ta đều có ý muốn dịnh cư lâu dài trên dải đất dễ sống và dễ bóc lột dân địa phương để hưởng thụ mọi sung sướng vật chất.

Điều dáng lấy làm lạ là sau Trưng Vương một trâm năm đến hồi ấy, Hán triều đang suy vi mà không thấy sử ghi có một cuộc khỏi nghĩa nào khác. Điểu dáng lấy làm lạ hơn là ngay như Lâm Âp còn ít dân mà một lúc cũng tụ ca ngàn người để đánh phá phía Nam Nhật Nam năm 132. Vậy mà sao Giao Châu không thấy cựa mình?

Một rằng có. nhưng bị dập tắt hết và bị quan lại đô hộ giấu luôn ca triều đình nên không có sớ lâu về khiên sử không còn một dấu vé nào cá. Hai rằng quả là không có thực, vì dân đã kiệt quệ nhựa sống thì chí càng chứng tỏ rằng quan lại đô hộ đã bóp nghẹt dân, để ép phải nằm im dưới bàn lay sát của họ.

Dù trong trường hợp nào, ta cũng thấy dân Giao Châu cần tìm sự sống và lẽ sống ở một phía nào khác với phía Hán tộc.

Việc thái thú Sĩ Nhiếp dùng chính sách văn trịvà tỏ lòng thực tình thương mến dân để dân lỏn là Sĩ Vương, lại cùng các danh sĩ Trung Hoa và Giao Châu đặt nền móng sáng tạo chữ Nôm để’ dịch các kinh sách khiến dân tôn là Nam Giao Học Tổ, rồi khi ra dường lại có các người Hồ kèm bên xe đốt hương và chuông khánh vang lừng đã chứng tỏ ảnh hưởng Phật giáo đến hồi Sĩ Nhiếp đã rất sâu đậm.

Điều mà G. Perrand nói về kê hoạch của văn minh Ân Độ len lỏi người vào ánh hưởng tới các giới chính quyền địa phương, dể rồi hoặc thuận tiện thì sắm vai cai trị, hoặc không thì ủng hộ cho người địa phương tự cai trị đã cho thấy dấu vết dích thực là có ở đây.

Mưu cơ ấy, ở thượng tầng, dù bị thất bại trước binh lực của nhà Ngô Vcà sau là nhà Tấn thì ở hạ tầng, về phía nhân dân, sự nhào nặn tinh thần của Phật giáo phai nói là đáp ứng đúng nhu cầu của Xcã hội.

254

Vấn đề cán đặt ra để tìm hiểu là vì cớ gì dàn chúng Giao Cháu ở giữa thế kỷ thứ hai theo đạo Phật, một đạo giáo xa lạ, có nhiều chủ trương không ăn khớp với tục thờ gia tiên? Cháng hạn như người địa phương tin

tưởng linh hồn người chết vẫn phang phất như sống để phù trì cho con cháu thì tôn giáo lại chủ trương là linh hồn đáu thai kiếp khác để bắt đầu lại một vòng sinh hoá khác, và chẳng hạn như người địa phương tin tưởng sống là ở. thác là về thi tôn giáo mới lại chủ trương trong đời sống có tu và đãc đạo mới được về Tây phương, còn ãn ở bất nhân ác đức thì phải xuống địa ngục âm ty, hoặc chẳng hạn như người địa phương tin có phúc ấm truyền đời thì tôn giáo mới lại chủ trương mỗi cá nhân có một nghiệp riêng để trá quả cho những nhân duyên riêng.

Ta đặt mình vào địa vị người Giao Châu đời ấy hẳn sẽ thấy là khó để thụ lãnh những giáo lý mới này. Nhưng nếu ta nhớ lại tính chất linh động và mềm dẻo của đạo Phật (mềm dẻo đến độ loãng như một chất lỏng để vào bình chứa nào cũng dược) thì ta sẽ không còn lấy Icàm lạ về sự du nhập quá dễ dàng của dạo ấy.

Đầu tiên là cái truyền thống kính trọng tín ngưỡng của người, từ thời Aẹoka đã giúp các nhà lu Âi Độ né tránh mọi đụng độ gay go về chủ trương tôn giáo. Sau Icà sự không cố chấp kinh kệ, không cứng rắn trong việc bảo vệ giáo lý dã giúp các nhà lu ấy tìm hoà hợp với tín ngưỡng cổ truyền của địa phương, khiến dạo Phật nhờ đấy thêm phong phú và thêm nhiềư tính chất đặc thù.

Người Giao Châu dã dcn với dạo Phật không bằng tuệ giác mà bàng tình cảm. Hay nói ngược lại cũng vậy, dạo Phật đã bát sâu rễ vào trong lòng người Giao Châu hơn Icà vào trong óc.

Những sự bày tỏ lòng thương cảm đối với những người gập điều không may, dang phai quằn quại trong đau khổ, những lời khuyên nhủ họ nhẫn nại chịu đựng đau khổ ấy dể trá hết một món nợ huyền bí nào của tiền kiếp, cùng với những sự dản giái về nguồn gốc của những đau khổ buồn phiền trong trần luỵ cũng như sự hé mở những chân trời hy vọng cho người ta, theo luật luân hồi quá báo... tóm lại, tất ca phần chủ trương đại từ, dại bi, cứu khổ, độ nạn của dạo Phật là một món quà quý giá, làm dịu lòng người Giao Châu đang cần tìm phương thuốc tinh thần đế xoa dịu.

255

Cả những sợ hãi ở thời thượng cổ ấy như sợ ma quỷ, sợ những hiện tượng thiên nhiên, sợ những tác oai tác quái của quỷ thần, khiến sinh dau ốm, bệnh tật, nghèo dói, chết chóc, cho dến cả sợ những quan lại Tàu ức hiếp bóc lột, kháo tra, người Giao Cháu gặp những nhà lu An Độ binh thiin như không, vào trong chùa thấy ảnh lượng của Phật cũng ngồi vững vàng trong an lạc thì tự nhiên thấy b('n sợ Vcà lòng lắng dịu xuống, đ ế nhìn thấy chùa là một nơi an toàn, và nhìn thấy dưới sự che chứ của Phật, ma quv cá ban dèm lẫn ban ngày dều không dám phạm dên mình.

NhĩrntỊ chùa cổ nhâu có lõ là cơ sở tôn giáo đầu tiên của Phật giáo 0 nước ta là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Đó là những nơi từ tên nó đến sự thờ kính 0 trong đcã biểu dưoìm những pháp lực vô biên cúa Phật (chi huy cả Thần mây. mưa, sấm. sét) cùng chứng tỏ người ta đến chùa để dược sự che chở của Phật.

Không những dối với người sống như vậy mà đối với người chết, người ta cũng lại tin là Phật có ngự trị ở khắp thế giới và có hộ trì cho cá người dã chết nữa, và óc tưởng tượng cúa người ta có thẻ phong phú đến đâu, với ước vọng cúa người ta có thể xa vời dến thế nào thì người ta lại nhấc những huyền năng của Phật dến cái dích ấy.

Do đó ta có thể nói, không sợ bị cái chính là Đạo Phật khi vào Giao Châu, không những nền dạo lý ấy dcã thành dạo giáo của xứ sở Giao Châu mà cả dến Phật cũng lại là Phật của dán Giao Châu nốt.

Người Giao Châu qua thực chi tìm hiểu chủ trương triết lý siêu hình và giáo lý chính của dạo Phật về sau này, qua các nhà trí thức của mình và của Tcàu, cũng như qua các nhà lu Ân Độ thôi. Còn ở những ngày dầu tiên, người ta đã thờ Phật vì khía cạnh thực tế của cuộc sống như dã trình bày ỏ’ trên.

Thành ra vổ phía dại chúiUỊ có hiện tưựní> kỉnh th(')' Phật, tny van ở trên, nhifní> vẫn là chum> với các thần thánh khác tronỊị ci)iu> một cơ sớ tôn iịiáo. Và người gọi rằng theo dạo Phật, trừ những vị xuất gia, cũng vẫn còn thực đáy đủ những tín ngưỡng cổ sơ để thờ cây da, cây đề, thờ thần hổ, thần rắn, thán ngựa, v.v... và nếu cần thì cũng vần cúi đầu lễ cá con tà, con ma. lễ CIÍ những vị thánh ở bất cứ dạo nào có sức chế ngự được tcà ma ấy. Mầnì niốny dể ndy nà tinh thần tam íỉiáo dồní> nyiiYcn ơ tlìếkv thứ X. Xỉ dã có n\>ay từ hồi dầu nà\' vậv.

2.^6

Người ở trình dộ hiểu biết cao hơn thì có thê’ khó tính hơn trong việc cân nhắc về tín ngưỡng và chu trương các đạo giáo. Nhưng đại chúng thì miễn hợp giọng cứa mình là đủ. Hơn nữa, linh thần bao dung của đạo Phật lại rộng lắm. Không hề có gì ràng buộc các tín dồ là hỗ dcã theo Ta thì không được theo gì khác Ta nữa. hoặc những thế’ cách thê này mới dúng theo ý muốn của Ta, còn thế khác là không, và đúng thì dược đến niết bàn còn không thì phái vào địa ngục. Tinh thán bao dung của đạo Phật quả là một tinh thần dễ làm bạn với nhũng xã hội nông nghiệp xuề xoà, và dễ thân mật với những nông dân chất phác. CÍI những nghi thức thờ kính và những quy tác giữ dạo cũng rất hợp với những xã hội nghèo nàn Vcà rất dễ theo cho những người dân bị dô hộ và tước đoạt hết của cái nữa.

Một thái độ sốns đặc biệt của người Giao Châu vừa do hoàn cảnh xã hội quv định san lại vừa do chính sự tu Phật nêu gương thật đáng để lưu ý. Ây là thái độ trọng điều lẻ nghĩa liêm sỉ hơn quyền lợi vật chất, trọng cái tình của cơn người đối xử với nhau hơn cái lý quay quắt để bóp hầu bóp cổ nhau. Sự trọng này. có thổ nói. là điều bát buộc, dù không muốn cũng đã không làm sao khác hon dược dưới chế độ quan lại nhà Hán.

Chứng cứ thật cụ thể của thái dộ này là xưa nay mặc dù vần thù ghét các thái thú, vậy mà đối với thái thú Sĩ Nhiếp thì dân lại tôn là Sĩ Vương chi vì họ Sĩ dã thực lòng thương mến dàn, và không những chí tôn như thế, dân còn có thế cầm khí giới ra trận hy sinh cho hụ Sĩ khi nhà Ngô gửi thái thú khác dốn thay nicà không cho Sĩ Huy nối quyền cha.

Thái dộ sống đặc biệt vừa nói, thực đã là thái độ của nhũng triết nhân. Nó lách rời vĩnh viễn dán Giao Châu khỏi giới cai trị tàn nhẫn bất lương của Tàu. đế chi hướng mắt tìm về với nhũng thiện nhân của đạo Phật.

Đạo Phật vào Giao Châu là một điều đại hạnh cho dân tộc vậy.

Nhung dạo Phật không don độc Vcào Giao Châu mà còn có cả một nền văn minh Ân Độ tràn tới nữa. Nền văn minh ấy, nói về khía cạnh tuổi tác thì khoáng năm 3000 Ir. CN, trong khi Trung Hoa còn ở thời đá mài, nó dã là văn minh Mohan Jo Daro ở lưu vực sông Indus với nhũng tỉnh thành lón có lổ chức quy củ với những dường lớn ngay thẳng, chợ, bồn tăm. cống thoát nướcv.v... và nếu phải nhường thì nó cũng chỉ nhường có văn minh Ai Cộp. Nói vổ khía cạnh rút tía những cái khôn của thiên hạ thì nó dã có bao nhiêu dời pha men Hy Lạp, Ba Tư ở Trung Đông và cá La Mã ớ cực Tây nữa. Nói về mạo hiểm phiêu lưu và chiến đấu thì cả vùng dồng bằng sông Indus vần là dịa bàn cho những cuộc đấu liên miên giữa các sắc dân ở trung bộ châu Á Vcà họ dã có những hải thuyền có thể chở lừ 600 dến 700 người di buôn bán với các nước ở Đông và Tây.

Văn minh Ân Độ có những căn cứ vượt vãn minh Trung Hoa và khi tới Giao Châu thì cổ mang săc thái ngược hẳn lại với văn minh Trung Hoa. Đó là không có dụng lâm xâm chiếm đất đai và cũng không có chương trình kế hoạch bành trướng thế lưc dù là thế lực tinh thần nữa.

Người Giao Châu chỉ thấy người Ân Độ đến với thiện ý sống an hoà với dân dịa phương dể làm thương mại và san sẻ những hiểu biết tiến hoá hơn về mọi mặt.

257

Nào là thuốc men dể chữa trị những bệnh hiểm nghèo, nào là pháp thuật trừ tà, trấn trạch, bùa chú dế tăng phúc thọ, cả bùa yêu và cầu tài, cá

bùa để giữ mình khỏi bị ám hại... vốn có nói rấl đầy ctủ trong kinh Vê Đa (20 quyển, 731 bài, 6.000 đoạn).

Cả sự đo lường với các thứ thước đo của người, của Thần, thế nào là đúng, thế nào là sai; rồi thiên văn lịch, để nhớ ngày trăng tròn, trăng khuyết; rồi ngữ pháp để có luật lắc cho lời nói, để hiểu đích xác ý của nhau.

Cả vũ trụ quan, cả sự lạo thành của thế giới, rồi linh hồn, thiên đàng, địa ngục v.v... tóm lại, tất cả cuộc sống với những thắc mắc từ vật chất đến tinh thần của một con người cần tìm tòi, đều có thể thấy thật đầy đủ ở người Ân Độ.

Do .vậy, không còn nghi ngờ gi nữa, văn minh Ân Độ đến Giao Châu ở giữa thế kỷ II. chảng những đã làm mất địa vị độc tôn của văn minh Trung Hoa, mà còn cướp hết thiện cảm của dân địa phương bằng tính chất nhu hoà của nó nữa. Đó là một trong những điều giải thích việc người Việt Nam bị Tàu

258

đô hộ hơn 1000 năm mà vẫn thoát khỏi đại nạn tuyệt chủng.

I O M L ir ơ c

CHƯƠNÍỈ IV CHÍNH SÁCH VĂN TRỈ CỦA sĩ NHIẾP

Sĩ Nhiếp trị dân có nhân chính là một lất yếu lịch sử, vì phía Bắc có loạn Tam Quốc, phía Nam có Lâm Âp mới nổi lên giết huyện lệnh nhà Hán và cát cứ riêng mình một cõi.

Chữ Nôm

Nhò' các danh cõi Bắc sang lánh nạn và giúp đỡ, Sĩ Nhiếp đã gây được một khổng khí văn học rực rỡ hơn chính quốc để được tôn là Nam Giao Học Tổ.

Họ Sĩ lại cùng các nhà nho bản xứ tạo ra chữ Nôm dể dùng trong việc giấy tờ hành chính, chỉ dinh những tên người, tên dất, tên các vật và việc mà bộ chữ Nho không có. Thêm có việc cần phiên âm những danh từ tôn giáo từ Ân Độ truyền tháng vào nữa, chữ Nôm được coi như không thể thiếu dược giữa lúc ấy.

Học phong đời Sĩ Nhiếp

Nhưng nhìn xa hơn mới thấy công dụng của nó đã hết sức quý ở chỗ từ nay nó giữ cho tiếng của người Lạc Việt không thể nào mất được nữa.

Đến đời này nhờ tiện dường sang Thiên Trúc hơn Trung Hoa, Giao Châu đã xây dựng được trên 20 bao sái, dộ được hơn 500 nhà sư và dịch được 15 quyên kinh. Lại có Lý Tiến, Lý Cầm là người Giao Châu có văn lài được làm

quan tại triều đình Trung Hoa nữa.

259

Nhưng khi canh loạn lạc ở Trung Hoa bắt đầu chia ra ba nước Ngô, Nguy, Thục, Giao Châu thuộc về Ngô thì vừa lúc Sĩ Nhiếp tạ thế, Ngô chủ không cho con nối quyền cha mà cử người khác sang làm thái thú. Bọn thái thú mới lừa và dụ con Sĩ Nhiếp ra hàng rồi giết di khiến dân chúng cãm ghét.

Bà Triệu

Sau đó, Bà Triệu nổi lôn đánh lại nhóm quan lại nhà Ngô. Nhưns

quán lực yếu phải rút chạy và tự sát.

Tinh thần bài Ngô

Kế từ đấy đến suốt thời Bác thuộc về sau và suốt đến bây giờ, với bất cứ triều đại nào của Tàu, người ta cũng gọi là Ngô củ, để bài bác bằng nhũ'ng câu ca dao, tục ngữ còn đầy cá trong nền văn chương truyền khẩu.

Sự náv sinh ra một người như Sĩ Nhiếp trong hàng thái thú cúa nhà Đông Hán trị dân có nhân chính, cho dân thương và tôn là Sĩ Vương, là Nam Giao Học Tổ. là dơ tình thế chính trị khách quan ở phía Bắc. vừa ở phía Nam tạo ra.

Phía Bác thì có loạn Khăn Vàng, rồi loạn Tam Quốc kéo dài từ khi vua Hán Linh Đế băng hcà (168 - 189) cho đến lúc chia ba thiên hạ (222) rồi dến lúc nhà Tán dẹp hết ba nước gốm thu một cõi vé một mối (265). Trong thời gian ly loạn ấy, Giao Châu không biết thuộc về nhà nào đương tranh bá dồ vương ở chính quốc. Sĩ Nhiếp được cử giữ chức thái thú Giao Chàu nãm 187. dã không biết phải giao thiệp với vị sứ quân nào, nên trong khi chờ dợi tình thế ngã ngũ dã không dám tin ở quán dội Thiên triều kịp thời can thiệp khi lỡ xáv ra chuyện gi mà phái dùng chính sách thân dân dê giữ yên trong nước.

Thêm việc phía Nam, từ năm 1,87, người Làm Ap dã quày phá quân Nhật Nam và dến năm 192 thì nối lên giết huyện lệnh nhà Hán rồi cát một vùng đất ở phía Nam quân Nhật Nam mà lập quốc và xưng vương. Đó là một lấm gương sáng cho Sĩ Nhiếp; phái có một chính sách văn trị ơ Giao Cháu mới mong giữ được thán sống của mình.

Đến dời Sĩ Nhiếp nàv. trôn bán dao Trung Ân. phía cực Nam đã có nước Phù Nam Ân Độ hoá, rộng suôT lừ sông Mê Nam của Thái Lan sang từ bờ biển Đông Hải, ít ra là lên tới Nha Trang bây giờ. Phía giCra. có Lâm Âp cũng Ân Độ hoá. Còn ngay Giao Châu cũng đã có ánh hưởng văn minh Ân Độ với các chùa chiền và người Hổ tu theo Phạt giáo.

Chính Sĩ Nhiếp cũng theo Phật giáo, căn cứ ở lời thư của Viên Huy (năm 207) gửi về cho Tuân Quốc bên Tàu*'' nhưng xem kỹ những nghi vệ; xe ngựa đầy đường, chuông khánh vang lừng, người H() theo hai bên xe đốt hương có đến vài mươi, ta thấy dù chưa phải nhũìig nghi vệ Thiên

Đã nói ở chương III.

260

tử, cũng đã là nghi vệ của mộl tiểu quốc vương rồi. Nghi vệ ấy cho thấy ý đồ xây dựng riêng mình một cõi"’.

Sĩ Nhiếp đã nhừ đirợc rất nhiều ở các danh .sĩ cõi Bắc lánh nạn sang ở Giao Châu. Một doạn trong bài tựa sách Mâu Tử Lý Hoặc Thiên của Mâu Bác có viết: “Sau khi vua Linh Đế bãng hà (168 - 189) trong nước loạn lạc chỉ có Giao Châu rất yên ốn, các danh sĩ cõi Bắc lánh sang ở đó'"’”. Các danh sĩ này dã cộng tác với Sĩ Nhiếp để gây một không khí vãn học rực rỡ hơn ở chính quốc.

Hồi ấy đã có hẳn một học phái riêng với một quan điểm và một lập trường riêng dối với Nho học cũ. Học phái ấy tôn Sĩ Nhiếp làm Nam Giáo Học Tổ bởi họ Sĩ đã dứng ở một góc riêng mà chú giải ba truyện Tá Thị, Công Dương và Cốc Lương của Kinh Xuân Thu lại giải những nghĩa lớn về văn cổ, văn kim của Kinh 7/?//'cùng nhiều sách khác nữa.

Trong bài: “Đ/c/í (Ỉìnlỉ cái án quốc học", Nguyễn Trọng Tliuật có viết: "Sách của Vươnq bấy íịi('ỉ khỏmị nluĩníỊ (lân ta đưcỉc hoc mù /ígỉíV'// Tàu cũniỉ, lìoc nữa. Nyuủi Việt Nam í>()i Vươiìiị ìù Nam Giao Học Tổ tức lủ (hiíỉ tổ của hoc phái niử/c Nam chứ klu)iuị phái lù Tổ nuĩi hắt (lầu cla\' clĩữTàu, Síich Nho dâu, d('n sau /;gí/'ò7 Tàu cho sách của Vưcrny lù thiểu htì/c mà g/J/ lại, nhưní> nqlũa cũ của Vu'o'fu> dã thành một mịhĩa rièmỉ tức là một phái (ỉ d()i Hán rồ r.

Trong bài tựa quyển Thánh Mỏ Hiền Phạm Lục của Lê Quý Đôn, do đốc học Lưỡng Quảng là Chu Bội Liên dề, ông đã cho Sĩ Nhiếp là nhân vật An Nam. tức là có ý chia xu hướng văn học của Sĩ Nhiếp vào một học phái riêng ỏ An Nam. Việc quan trọng hơn củ mà ta phủi ghi ơn vị thái thú này là việc sáng lạo chũ’ Nôm.

CHŨ NỎM

Từ xưa, những tên người, tên làng, tên đất, đến tên các động vật, thực vật, dồ vật, cả tên nhũng sự việc, những ý niệm trừu tượng vẫn đã có những tiếng Nôm nói theo tiếng thông thường để chỉ định. Chữ Hán đã không có dủ để phiên âm đúng những tiếng ấy. Nay lại thêm một lô tiếng nữa về tôn giáo của người Ân Độ trực tiếp truyền vào có thể đại để như: bụt, chùa, chiền, vãi, thiêng, cúng, giỗ, chôn, v.v... chữ Hán cũng không đủ để phiên âm.

U) Sau này khi Giao Châu chính thức thuộc nhà Ngô, Sĩ Nhiếp chết (226), Ngô chủ kliông cho Sĩ Huy nối quyền cha. Sĩ Huy đã đcm quân chống lại Thcíi thú mói, càng tó rõ ý đồ ấy là có.

Theo Pelliot dịch trong T 'OIUUỊ Pao.

261

Bắt buộc phải có sự biến chế chữ Nôm từ chữ Hán ra để dùng trong

việc làm sớ cúng cấp, làm đơn từ đưa đến cửa quan.

Theo Lê Dư (trong bài Chữ Nôm với Quốc ngữ, đăng ở Nam

Phons). chính Sĩ Nhiếp đã sáng chế ra chữ Nôm.

Sách Đại Nam Quốc Ngữ của Nguyễn Văn San đời Tự Đức cũng cho như vậy '"SĩVươm> bắt đầu lấv ticmq Tàu dịch ra tiếng ta, nhưng đến chữ 'dhư cưu" không biết gọi lù chim gì, dến chữ "dương dào" thì không biết gọi lù quả gì".

Sách Việt Nam c ổ Văn Học Sử của Nguyễn Đổng Chi cũng có viết: "Việc sáng tạo chữ Nỏm do một sô' người Tàu hợp lực với người Nam khởi dặt. Công cuộc thành tựu dã phải trài qua nhiều năm do các tín dồ Khổng giáo cũng như bên tín dồ Phật vù Lão chắp nối mà thành. Nguyên người Quảng Tín, quận Thương Ngô (Quảng Tây) là quê hương của họ Sĩ từ xưa dã có một thứ tục tự như chữ Nôm. Trong khi thích nghĩa kinh truvện và trong khi tlĩuvết pháp cúng dàng họ mới suy theo lối chữ ấv rồi bàv ra chữ Nôm. Thứ văn tự mới từ dó xuất hiện viết theo nguyên tắc hội ý và hài thanh của chữ Hán :

a) Hoặc mượn cd chữ liền nghĩa: dầu là dầu, sách là sách. b) Hoặc mượn chữ mù khác nghĩa như: ai lù cái. c) Hoặc mượn chữ mà dọc chệch ra giọng ta xưa như: xa dọc là xe,

cẩm dọc là gấm, toụ dọc lù toà, bình dọc là bằng. d) Hoặc ghép nhau lụi cd hội ý liền hài thanh như nước có thiiỷ và

nhược, áo gồm có y vù áo, lừa gồm có mã vù lư.

e) Hoặc dặt dấu nháy đê’ dánh vào chữ Hán nào giọng từa tựa như

tiếng ta dể dọc chệch ra...".

Ta nhận định rằng sự cho thêm một vài dấu vào chữ có sẩn để khi đọc thi phát âm theo đúng giọng địa phương, đã chỉ là một cách văn quen dùng của người ta, không cứ người đất Quảng Tín mới biết và không cứ chỉ ở Quáng Tây mới có tục tự hệt như chữ Nôm.

Nói rằng hồi đó nhiều người ở quê hương Sĩ Nhiếp qua và cộng tác vào việc truyền bá Nho học, Phật học thì đúng hơn. Song nhiều người khác nữa ở những vùng khác và nhiều người Giao Chỉ cũng đã thể theo sự phát âm của người Giao Chỉ để chế hoá chữ Hán đi mà tạo ra chữ Nôm tuỳ theo ý mình, không có định lệ chung nào hết. Cho nên mới có hiện tượng lộn xộn một chữ có thể viết ra hai ba lối khác nhau, hay một chữ đọc ra ba bốn tiếng khác nhau.

262

Điều chắc chắn là thời ấy chưa có ý thức rõ rệt về việc dùng chữ Nôm làm một thứ chữ Quốc ngữ, mà việc tạo ra chữ Nôm cũng chỉ mới là

một biến báo theo cần dùng cấp thời của người ta và xong đâu lại bỏ đó, chứ không tiếp tục nữa.

Nguyên do chính về việc ra dời của chữ Nôm là vì đạo Phật được truyền qua Lâm ấp và đến thẳng ta, khiến có những tiếng Lâm ấp, tiếng Ân Độ đọc sang tiếng ta mà không có chữ trong bộ chữ Hán. Sau này đạo Phật truyền qua Tàu rồi quay trở lại ta thì khi dịch kinh, người Tàu đã sẩn chữ Hán dê phiên âm rồi, ta chỉ việc học theo và đọc theo giọng của ta mà không cần tạo ra chữ Nôm nữa. Công việc tạo chữ Nôm vì đó có một thời kỳ nguTtg lại.

Tầm mức quan trọng của việc sáng tạo chữ Nôm này là ở chỗ củng

cô thêm cho tiếng Việt.

Điều bất hạnh lớn nhất, nếu xảy ra, là người Việt quá thông minh lại đọc chữ Hán theo dúng giọng đọc của người Hán. Chừng đó, dần dần tiếng của mình sẽ mất hết và dân của mình sẽ bị hút vào cái đại khối dân Trune Hoa. Điều bất hạnh ấy, ta tránh được. Đến những tiếng riêng của ta mà chữ Hán không đủ để phiên âm thì từ nay ta có cách viết ra những tiếng ấy bàng chữ Nôm.

Ta phủi kính trọng công việc sáng tạo chữ Nôm ấy như một việc cứu dân cứu nước vậy, mặc dầu ta biết Sĩ Nhiếp khi làm việc sáng tạo chữ Nôm đã chỉ nhằm mục đích riêng để cai trị cho dễ.

HOC PH O NG ĐỜ I S ĩ N H lẾ P

Sử cũ vẫn ghi lại cái 011 của Sí Nhiếp “trị dân có phép tắc, lại chăm sự dạy bảo dân, cho nên lòng người cảm mộ công đức mới gọi tôn là Sĩ Vương"

Nhưng ngoài Sĩ Vương là người cầm quyền, ta cũng không thể quên được nhũng danh sĩ khác như Mâu Bác, người đã chạy sang Giao Châu lánh nạn và khi tới nơi đã biện giải vẻ Lão học khiến không ai dám thảo luận với ông. Sau cùng, ông đã bỏ Lão mà theo Phật giáo.

Điều ấy chứng tỏ không khí học hỏi ở thời ấy đã cao. Một tài liệu khác trong Đảm thiên pháp sư triívện còn chứng tỏ đã có việc học Phật thắng từ kinh sách An Độ mà không gián tiếp qua trung gian của Trung Hoa. Sách ấy. do sư Đàm Thiên người Tàu soạn, có đoạn chép lời của Pháp sư tâu với Hoàng hậu, vợ vua Tề Cao Đế (479- 482):

Giao Châu nhất phương dạo thông Thiên Trúc, Phật pháp sơ lai Giam’ Đông vị bị nhi Luv, Lũ hựu chùm’ sáng hưng bảo sái nhị thập dư sà, dộ tăng ngũ bách dư nhân, đùm kinh nhất thập ngũ quyển (Xiì Giao

263

(I)Trần Trọng Kim. Việt Nam sử Lược.

Châu tiện dườn^ saruị Thiên trúc. Khi Phật pháp hắt dần mới sang ta (Tàn) chưa tới miền GiaiìíỊ Đòng, mà â Lnv, LÃ! dã sáng lập hơn 20 cái hảo sái, dộ hơn 500 thầy tn vù dịch dược ỉ 5 cpivển kinh).

Ta cấn xác định yếu tô thời sian nói ở đây. Theo tài liệu chính xác thì năm 65 Lạc Dương đã cỏ một tu viện Phật học được chính em của Hán Đế bảo trợ cho. Đến khi ông tự sát thì tu viện thành chùa và đạo Phật ánli hưởnư dán vào lới triều đình, một vị hoànư đế cũng quy y năm 166. Từ giữa thế kỷ thứ II ấy, tại chùa đã có một đoàn rất đônư những nhà tu nưoại quốc có danh tiếng như An Thế Cao chuyên lo dịch kinh Phật sang chữ Hán lâu tới hơn một thố ký về sau. Khi nhà Hán dổ, Trung Hoa chia ba chân vạc Ngô, Nguy Thục thì chùa Lạc Dưcmg sầm uất ư Nguy và đạo Phật tràn thêm xuống Ngô mà qua ca Giao Châu.

Như thế nghĩa là Đàm Thiên Pháp Sư dã nói rõ: khi dạo Phật sang Tàu. chưa tới miền Giang Đông của Ngổ, ở thời Tam Quốc (lức là thời Sĩ Nhiếp này) mới sám uất ở Nguy thôi, tại Giao Châu dã sáng lập hơn 20 cái bao sái, dộ dược hơn 500 ihciy lu. và dịch dược 15 quyên kinh rồi.

Cho nên Mâu Bác chạy loạn Tam Quốc sang Giao Châu mới thấy sán nền nếp Phật giáo dể bỏ Lĩio sang Phật. Và do đó, ta nhìn thấy xu hướng văn học của thời ấy: Phật giáo dã ánh hưởng hết sức lớn vào giới trí thức của Trung Hoa cũng như Lạc Việt, cơ hồ át được cái thế độc tôn dáng lẽ phải có của văn hoá Trung Hoa.

Đó là phần tư tưởng. Còn phần văn tài để được phong những chức quan ngay tại triều đinh Trung Hoa thì sử có ghi có Lý Tiến người Cao Huĩig đất Giao Châu đã giữ chức Thứ sử. (không rõ Thứ sử ở châu nào), khoáng niên hiệu Trung Bình đời Hán Linh Đế; và Lý Cầm cũng người Giao Châu hàm Túc vệ trong triều Hán. sau giữ chức Tư lệ Hiệu Liý.

Tuy nhiên, không hẳn có một số những vãn tài lỗi lạc cỡ ấy mà người Trung Hoa và triều đình Trung Hoa dã bớt khinh người Lạc Việt (vẫn gọi là Nam Man). Cho nên khi có một ông Thái thú như Sĩ Nhiếp tỏ ý chân thành vỗ về thương mến dân thì dân mến ngay.

Nhưng Sĩ Nhiếp cai trị được 35 năm (lừ 187 tới 222) thì Trung Hoa bắt đầu chia ba chân vạc rõ rệt thành Ngô. Nguy, Thục và dất Giao Châu thuộc về Ngô. Họ Sĩ lại tuân phục mệnh lệnh của Ngô triều. Cho đến năm Hoàng Vũ thứ năm của nhà Ngô (226) thì Sĩ Nhiếp mất, con là Sĩ Huy tự xưng Thái thú. Nhưng Ngô chủ không cho.

264

Ngô chủ là Tôn Quyền phân chia lại các châu, quận: từ Hợp Phố về Bác gọi là Quang Châu, từ Hợp Phố về Nam gọi là Giao Châu, sai Lữ Đại làm Quảng Châu Thứ sử, Đái Lương làm Giao Châu Thứ sử, và sai Trần Thì sang thay Sĩ Nhiếp làm Thái thú Giao ChíiLi.

Đây là một chính sách độc lài của triều đinh ở trung ươns khôna đốm xía đến lòng dân ái mộ dòng dõi thái thú cũ, và cũng không cần tính dến công người đã giũ’ gìn nơi cai trị được yên ổn suốt 40 nãm.

Nhưng phần bọn Thứ sử. Thái thú mới thì đã phạm một tội hèn không thể tha thứ dược, ấy là khi Sĩ Huy chống lại thì bọn ấy cho quân qua đánh dẹp, và cho người đến dụ Sĩ Huy ra hàng. Sĩ Huy dem anh em ra hàng thi chúng bắt Huy chém di, còn mấy anh cm thì giai về Ngô triều làm tội. Mặt khác lại tiến quân vào đánh quận Cửu Chân.

Dưới danh nghĩa quan lại nhà Ngô. bọn người nàv cùng vói Ngô triều đã khơi sâu trong lòng dân một mòi hận thù khiến năm 248, Bà Triệu khởi nghĩa ở Cửu Chân.

BÀ T R IỆ li

Bà còn con gái. mới 23 tuổi, dường như không thuộc dòng dõi thế gia vọng tộc nhưng lúc nÌK) cũng nung nấu một lòng yêu nước thương dàn"’. Bà vào án trong rừng, chiêu mộ hơn ngàn tráng sĩ làm thủ hạ rồi cùng với anh là Triệu Quốc Đạt nổi lên đánh quận Cửu Chân.

Quân Đông Ngô khiếp oai mà tôn là Lệ Hải Bà Vrrơng, lại truyền tai nhau là múa giáo chống hổ dữ thì dỗ, chống lại Bà Vương thì khó (Hoành qua anh hổ dị, dối diện Bcà Vương nan).

Bà chống đánh quân của Thứ sử Lục Dận suốt 5,6 tháng, nhưng vì quân ít thế cô. Bà thua chạy về đến Xcã Bồ Điển (nay là xã Phú Điền thuộc Mỹ Hoà) thì tự tử.

Mặc dù cuộc nổi dậy không thành công, người nổi dậy qua cũng thành nhân. Người cơn gái 23 tuổi không kể dến mạng sống của mình đã đứng lên chống lại quân Ngô, rồi thà chết chớ không chịu để giặc bắt. Người ấy quá dã dc lại một vầng hào quang chói sáng đến muôn đời.

TINH TH ẨN BÀI N C Ỏ

Kể từ dấy cho dến suốt thời sBác thuộc về sau và suốt cá thời tự chủ cho đến bày giờ, bất cứ với triều đại nào của Tàu (Tấn, Tuỳ, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh...) người Việt Nam đều kể tất ca là Ngô và chống đối bài bác bàng dủ mọi câu ca dao tục ngữ, mà hiện nay ta còn thấy rất nhiểu:

Bà nói: Tỏi muốn cưỡi cơn gió mạnh, dẹp đường .sóng dữ, chém cá tràng kình ở biến Đông, quét sạch bờ cõi, đổ cứu dân ra khỏi nơi dắm đuối, chứ không thèm bắt chước người dời, cúi dầu cong lưng đê làm tì Ihiêp người la.

265

Băm hầu hăm hí Băm chi thằm> Nịĩỏ Băm cô cái â *

* *

Thầuíị Nịịỏ con cữ *

* *

Gánh vàng di dô’ S()ng Ngô Đêm nằm nu/ tư(/ní> di nu) sông Tưc/ng

*

Hoài con nùi í>d cho Ngc) cho Lcìo *

* *

Giặc hên Ngô Không hằng hà ('() hên chồng

H:

Trèo lên trái núi mù coi Kìa kìa Ngc) khách moc du()i dằng dầu. *

^ *

Tam thủ, tam vĩ, lục nhãn lục nhĩ Tứ túc chỉ thiên, tứ túc chí dịa Đô'lù con gì? - Trà lời: dó lâ hai thằng Ngô khiêng một con k/n, đủ ba dcui, ba duôi, sáit mắt, sáu tai, và bốn chân dcip dcĩt, hcín chân chỉ lân trc/i.

^

ĩií

266

Vua Ngc) ha mươi sáu tìuì vùng Chết xuống úm phủ chẳng m‘ang dưcỵc gì Chúa Chổm dúnlì chén tì tì Chết xuống âm phủ chang kém gì vua Ngô

N íịũy m^ô như chúa Tàn ní>hc kên

:l:

* *

M:

*

K ể từ ngày tỏi lấy anh Anh hào tôi chà chịu học nư)t ticấií> gì! Tôi chỉ biết một tiếm>: Cái phán xì lù củ khoai lang ■A-

Ba mươi tết, tết lại ha mươi Vợ thằni> Ní>ô dốt vàm> cho chú Khách Một tay cô cầm cúi dù rách Một tay cô xách cái chán hỏng Cỏ ra dứng hí)' sông Cô trôiu> ĩaiìíỊ Iiưóc m>ười ới chú Chiệc ơi là chú Chiệc ơi Một tay cỏ cầm quan tiền Một tay cỏ cầm quan tiên Một tay cô cầm thằng Bù nhìn Cỏ ném xnốní> sâní> Quan tiên nặng thì quan tiền chìm Bù nhìn nhẹ thì hù nhìn nổi ới ai ơi của nặm> hơn người! Tội i>ì mà (/chính chuyên Mi)t dêm là sám C()n sin ai cho! :1:

Bài hổ cáo cho thần dân khi dẹp xotĩíỊ giặc cũng g()i là Bình Ng() Đại Cáo

Có nụit chú Khách vâm ’ nụit tlĩâní’ Ní>()

Xét qua những lời ca dao tục ngữ ấy, la thấy quan niệm của dân

chúng đối với “thằng Ngỏ”;

267

Nó là giống giặc dữ tợn, độc ác và tham tàn. Nó ngu và ngây ngô. Nó lố bịch mọc đuôi đằng đầu, và được liệt cùng loại với con heo. Vua

của nó có 36 tàn vàng cũng chẳng ra sì cả. Có nsu mới làm siầu cho nó. Hoài con cũns khôns sả cho nó. Chỉ nhữns kẻ vì “sám côn sìn” mới trao thân cho nó. Thì đấy cũng là kẻ coi của nặng hơn nsười. nhữns kẻ làm đĩ. Án đời (V kiếp s'i đâu mà học tiếng của nhau. Học một cái “cú phán xì” cũng là quá đủ. Và phải băm mặt nó ra như băm bầu bãm bí vậy.

268

Khôns thể chối cãi được là trons nhân dân đã khôns có những ý nshĩ sian dị và danh thép như thế dối với thàns Ngô.

PHẨN THỨ BA

THÒI KỲ QUÂN ĐỘI CHIẾM ĐÓ NG

Thời kỳ này kéo (lủi từ dân nhà Tấn (280) qua Nam Bắc Triều, qua Tôhí’. Tề. Lu'o'nị>, Tuỳ, Đuúnị’ (907) hưn sáu trăm năm, à ta họ Khúc nhàn cơ hội triều Đuòĩuị mịhiêny, dổ dã nổi dậv dùng dường lối ngoại giao khéo léo dê giữquvân tự trị.

GIẶC LÂM ẤP

CHƯƠNÍỈ I

rÓM LHỢC

Nsười Lâm Ấp từ miền Nam Ấn Độ hay từ hải đảo chưa rõ đã đến bán đáo Trunc Ân khi Phù Nam đã là một quốc gia hùng mạnh và Giao Châu ở phía Bắc bị trong vòng đô hộ của Trung Hoa. Họ là những người theo đạo Bà La Môn, thờ thần Phạm Thiên Brahma với hai hoá thân thành hai ngôi sao Visnu và ẹiva theo thần thoại Ân giáo.

Căn cứ Vtào những đền tháp cùng những tượng thò còn lại thì thấy

họ theo phái thờ thần ẹiva hà ngôi chủ trì sự phá hoại.

Với những thần thoại nói lên sự biến hoá thán thông của các thần, cùng nhũ’ng tượng thò với nhũìig nét dữ dằn ghê rợn và cả một mớ quan niệm thần bí về ma quỷ. yêu linh, rắn Naga, ta thấy người Lâm Âp hung hcãn bạo ngược lắm.

269

Lại thêm chú trương của người Bà La Môn vé các thế cấp xã hội. từ người giáo ,sĩ (Brahmanas) ở trên, đến người chiến sĩ (Kshatriyas), người thực nghiệp (Vaishyas) người lao dộng (Shudras) dưới cùng nữa không xứng được dựa vào cộng dồng xã hội ấy là người cùng dân (Parias) và người ngoại nhân ngoại giáo (Mlecchas).

Đặc tính của dân Lâm Ấp

Phần người chiến sĩ (Kshatriya) của họ thì coi cái việc đi chiến đấu liên miên cho danh dự, cho đến thắng lợi (hay là chết) cho một lý tưởng dối với họ là đúng là một sứ mạng thiêng liêng. Họ không được từ chối bất cứ cái gì mà người Bà La Môn dỏi hỏi. Họ phái có thật dồi dào tiền của để bố thí. Và điều mo ước thiêng liêng trong cuộc dời của họ là được dâng cúng thán những lễ cực kỳ lớn, cực kỳ tốn kém, dù phái cưỡng doạt cá trái dất để có những phi tổn ấy, họ cũng làm.

Địa thế của Lâm Ấp

Là hiếu chiến, hung hãn, kỳ thị ngoại nhân, cho nên sau khi lập quốc, họ luôn luôn tiến ra Bác để quấy phá. Những cổ vật tìm thấy ở Sa Huỳnh cho biết là đã có một giống thổ dân ở đấy bị người Lâm Âp tiêu diệt.

Cuộc xâm lăng của Lâm Ấp

Hồi khởi thuỷ. Lâm Ấp là vùng dất rất nghèo, phần bị cây rừng tràn lan, phán bị cát biến lấn lướt, khu đất rộng còn lại suốt 400 km chi lèo tèo vài ba cánh đồng nhỏ hẹp. Địa thố chỉ thuận tiện cho việc chài lưới và di bicn nên sự xâm lấn cướp phá miền Bắc vốn là chủ trưcmg của người Lâm Âp.

Suốt 200 năm. cứ cách ít lâu đế dưỡng sức, họ lại dánh ra phía Nhật Nam, Cửu Chân. Vì vậy, khi hết loạn Tam Quốc, nhà Tấn thống nhất đươc Trung Hoa, vua Tấn có ý muốn rút b(?l quân về thì thứ sử Giao Châu xin dê quân dóng lại dể dối phó với Lâm Âp mà cũng còn để ngăn ngừa Lạc Việt nữa.

Đó \ì\ thời kỳ quân đội chiếm dóng, người Lạc Việt đã bị một cổ

hai tròng nên rất cực khố.

Theo tài liệu Trung Hoa, Lâm Âp lập quốc vào khoảng năm 192. Nhân dịp có loạn Tam Quốc ở Trung Hoa, lãnh chúa Khu Liên nổi lên cắt một manh dất ở đèo Hái Vân thuộc quận Nhật Nam rồi tự xưng làm vua, đóng đô 0 Tượng Lâm (phía Nam tinh Thừa Thiên ngày nay). Tên Làm Âp có lẽ là tên tắt của Tượng Lâm dể chỉ cái ấp tên là Lâm. Trước dó năm 137, cũng dám dân ấy hàng ngàn đời từ Quảng Nam

(Amaravati) đã xâm phạm bờ cõi của Nhật Nam.

270

Một tẩm bia khắc vào thế kỷ thứ IX có nhắc đến dòng dõi của vị khai sáng ra nước Lâm Âp thuộc vé chi Maharshi Bhrigu, một nhân vật trong anh hùng ca Mahabhârata của Ân Độ là vị tổ của vương triều Bhargavas.

Sự kiện ấy chứng tỏ rằng văn minh An Độ khi xâm nhập vùng Phù Nam hồi thế kỷ thứ 1 thì đến đầu thế kỷ thứ II đã lan đến vùng Quảng Nam Amaravati, là thánh địa của Lâm Ap. Những tên đặt với âm hưởng tiếng Phạm mà Ptolémée ghi trong bán đồ vùng bờ biển ở đây đã chứng chắc điều ấy; Vijaya (Bình Định) Kauthara (Nha Trang), Panduranga (Phan Rang)...

Có thể nhìn nhận rằng đây là những người thuộc dòng dõi quý tộc của Ân Độ bị thất thế ở chính quốc nên phiêu bạt giang hồ đi tìm đất mới dung thân.

H() LÀ NHĨỈÌ\(Ỉ NGƯỜI THEO ĐẠO BÀ LA M()N

Đạo Bà La Môn thừ chúa tổ Phạm Thiên Brahma, là một ý niệm trừu tượng của tư tưởng Vê Đa. ngài có một đời sống riêng tuỳ theo ý niệm ấy. Ngài là chúa tể của đại hội dồng các thiên thần. Theo truyền thuyết, ngài là một vị tạo thiên, là gốc của vũ trụ, là nguyên thuỷ của mọi sáng tạo nguyên thuỷ. Ngài có 3 ngôi, ngoài ngôi Brahma, sáng thế, khi ở ngôi Visnu thì săn sóc dến trần thế, khi ở ngôi ẹiva thì tiêu huỷ đi. Đó là vị sáng thế (créateur) vị chí huy (ordonnateur) mà quyền năng thì man mác vô cting. Chính ngài điều hoà các nghiệp kiến. Các bản kinh cổ của Vê Đa, Mahabhârata dều từ ngài mà có. Ngài là chủ của tiếng nói, là thi sĩ dầu tiên, là vị tu trì không ngừng bảo tồn thế gian.

Người ta tượng hình ngài có 4 mặt mà chỉ 3 thì thành hình, với 4 cánh tay, 4 bàn lay cầm 4 phần kinh Vê Đa, đầu có vòng hoa và râu rậm. Khi thì ngài cưỡi con thần diểu Hamsa, khi thì dứng, nhưng thường thì ngồi trên một bông scn mọc từ bụng của thần Visnu ra (nghĩa là ngài sinh từ mình mà ra).

Ngôi Visnu

Ngôi Visnu trong hệ thống 3 ngôi Trimurti là vị bảo tồn vũ trụ. một vị thần ban án phước cho nghiệp kiến của chúng sinh, là đấng cứu thế, dấng ban phát sự sống, tư tưỏfng, an lạc, và là tiêu biểu cho lòng bác ái, từ bi.

271

Thần Visnu ngự tại thiên đình Vaikuntha, có triều đình văn võ hai bèn. Người ta tượng hình ngài là một người nam, trẻ, da máu da trời xanh thẫm, có 4 cánh tay cầm 4 lệnh bài xếp theo trật tự tuỳ 12 hay 24 tên và đặc tính của thần, là cái tù và, cái vòng, cái búa Vcà cánh hoa sen, tượng trưng cho chất ete, không khí, lứa và nước. Cái khánh đeo ở cổ và mớ lông trước ngực cũng có ý nghĩa tượng trưng. Đầu thì bao giờ cũng có vương miện.

Ncirời ta tượns hình thán khi dứnc. khi IIRỒÌ. cũng có khi nằm. Thường thần cưỡi chim đại bàng Garuda và có khi thành một thế nứa người nửa chim. Hình ảnh cưỡi chim là hình anh của vua ban ân huệ. Cũng có khi người ta tạc thần nằm lên trên mình con rán. Đó là theo tích nửa đêm giữa hai ngày tạo thiên lập địa liên tiếp, Visnu mệt nàm ngá lưng trên mình con rắn ngàn đầu mà đầu chính thì che phú ở trên. Con rán ấy là con rán Ụava nổi bồng bénh trên làn nước ngưyên thuỷ. Trong giấc mơ thần bí ấy. sòng Gange bát ngưồn từ chân thán cháy ra vì\ Visnu tư tưởng dến thế gian, rồi khi tỉnh dậy thì cỏ một bòng sen mọc ở lỏ rốn ra, dế từ hóng sen ấy dức Phạm Thiên Brahma di ra tạo một vũ trụ mới.

Tên cúa thán thì dcã rất nhiều. Có bài kinh cầu nguyện trong Mahabhârata nói đến hàng ngàn lên: hà bậc Đại An Lạc. là Tinh thần Thượng dinh. là Dã vương, là thán Biio hộ Thế gian, thần Nhào nận Loài người, thần Bất biên, thán Rán, thần Vô thuỷ vô chung, thán Tóc d cài. Tóc dựng, v.v...

Đến những cuộc đầu thai hoá kiếp thì trong tất cá cức thần của Ân Độ. Visnư là thần san Scàng dể thoả mãn ước nguyện của loài người. Vì phái lo cứu vót thè gian và che chớ loài người cùng dịnh dặt luật nhàn quả. thần đã dầu thai xuống trần theo nhiéu kiếp. Có 10 lần dầu thai như sau dây:

1. Cá Matsva dế cứu ông tổ lotài người khỏi trận Hồng thuỷ, cùng đuối bãt con quỷ ăn trộm kinh Vê Đa của thần Brahma khi thần đương ngủ.

2. Rùa Kiirma dưới đáy hiển sữa dưa lưng dội trái núi Mandara mà các thần và quý quấn con rắn vào một vòng núi rồi dùng duôi răn làm dây thừng quậy nước biển lên mà vót những thực phẩm quý bị trận hổng thuỷ cuốn đi. Nhờ vậy dã vctl lên dược ca nữ thần Laksmi. ca rượu, ca mặt trăng, cá ngựa thần, cá khánh, ca cây thiên mộc. ca bò. ca voi. tù và, cung, dộc dược.

3. Lựn lòi Varaha nâng bổng trái dất lên và vót ra khỏi sóng nước, lại giết con quỷ dã dìm trái dât dưới dáy nước sâu rồi dùng răng nanh đỡ mà dặt trái dất vào chỗ cũ.

4. Người sư tử Nrsiinlia hiện từ cái cột trong cung điện ra đế cứu môn dồ khỏi bị con quỷ ức hiếp.

272

5. Thằng lùn Vainana được các thần cử dến giái phóng mặt dất khỏi tay con quỷ muốn chiếm cứ. Thần hiện đến là một thằng lùn yêu cầu quý dành cho mình manh dấl đi trong vòng ba bước chân. Quỷ bằng lòng. l'hần phóng mình to lớn vĩ dại và bước ba bước thì hết ca vũ trụ.

6. Rama cầm rìu (Paraẹrama) đầu thai đế dọn sạch thế giới khỏi sự áp chế của bọn vươns hầu Kshatriya. Có ông vua được Rama tiếp đãi tử tế lại ãn cáp con bò sữa của mình, Rama giết đi. Các con vua ấy trả thù bằna cách lừa lúc Rama đi váng mà ám sát thân phụ của Rama. Vì vậy mà 21 lần Rama giết hết naười nam của dòna vương hầu Kshatriya. Sau dòna ấv dựnc lại được là nhờ các Bà La Mồn lấy những naười dàn bà Roá làm vợ. 7. Rama vai chính Irona anh hùng ca Ramayana dầu thai đế trừ

diệt các loài yêu quỷ làm hại loài người. 8. Krisna là một nhân vật phụ trong anh hùng ca kể trên nhưng

phần khác cũng có một cuộc phiêu lưu mạo hiểm ly kỳ"’.

9. Buddha là Phật Thích Ca sáng lập ra đạo mới. Người huỷ bỏ những lễ sát sinh, thức dáy người đời báng nhạo kinh Vê Đa và luộl thế cấp trong xã hội, như thế là đấy thế gian chóng đến chồ tự huỷ diệt (một ý niệm cúa phái Visnu dể chống báng dạo Phật, mà theo nhiều nhà kháo cứu, đã phát sinh vào hồi cổ màu thuần cực diểm giữa Phật giáo và các tôn giáo khác)-

"'Krisna do một sợi lông dcn cúa Visnu tlioál ra dầu thai làm con thứ 8 cúa Devaki và là cháu gọi bạo chúa Kamsa bằng cậu, mà nhcà tiên tri dã cho biêt bạo chúa tât bị giết bơi tay người. Khi sinh ra, cha mẹ phái dổi con cho con người chân chiên dé Kamsa khỏi lùng bát và giết nốt, sau khi dã giết 6 người anh. Người chăn chiên cùng anh thứ 7 phai dcm Krisna giấu vào dồng cỏ hoang, đến nãm 7 tuổi lại dưa vào l ừng sâu lẩn trốn. Trong thời gian này, tuy còn nhỏ tuổi, Krisna dã gic'l quỷ cái Putana, gièt luôn con quý ăn trộm bò của mẹ mình và định ôm luôn mình bay lên trời. Chú bé Krisna dánh quỷ khổng lồ hoá hình chim vạc, giết con rắn chúa loài rắn phun nọc độc làm hư nước sõng rồi nâng bổng quá núi Govarthama lên khỏi dầu và giữ SUỐI 7 ngày lién de làm lọng che cho những người chăn chiên khỏi trận mưa lớn của Indra.

Khi lớn lên, Krisna chung dụng với những người con gái chăn chiên thổi sáo cho họ ca vũ. Hàng ngàn cô trở nên vợ Krisna, có 8 cỏ dược súng ái hơn cá. Một hôm, lừa kìc họ dương lắm. Krisna cướp quần áo của họ giấu đi, làm tội các cổ phải lạy lục xin de dược khoii thân.

Nhưng Kamsa quyêì giết kỳ dược Krisna nên xúi bẩy nhiều ke đốn dế làm hại. Krisna dánh bại hốt và giết dược cá Kamsa rồi làm chủ trong nước. Sau dó Krisna dựng một dô thành mới ở cửa sổng Indus lấy công chúa con vua ở gấn dấy, rồi sống với 16.000 cô vợ và 180. 000 cậu con trai. Lại có những cuộc phiêu lưu mới xảy ra dé Krisna trừ những quỷ dữ, những thầy phù thuỷ, rồi lại có cuộc chiến giữa hai họ Pandava. de Krisna can thiệp như dã kế trong kinh Mahabhârata.

.Sau cùng, một cuộc gây lộn và chém giết lẫn nhau xáy ra trong phái mình khiến tất ca dcu chốt, kể cá người anh thứ bày. Krisna cảm dộng vì cuộc tàn sát ghè hổn, lui vào rừng sâu than thở, thì một ông già săn bắn tướng lầm anh là một con nai, nên bán vào gót chân dúng cái tử huyệt duy nhất trong người của anh. Anh về trời.

273

10. Katkin đầu ngựa mình người của hiện kiếp, đầu thai để xét xử

những kẻ dữ, àn hưởng những người lành, và thúc hối tan rã thế gian đê’ dựng lại thời hoàng kim cũ.

Ngôi ẹiva

Cũng trong hệ thống 3 ngôi, ngôi ẹiva giữ quyền tàn phá thế gian, lẫn với thán chết, thần thời gian, đổ còn có tên là Hara (người lôi cuốn hết), Ugra (người tàn nhẫn). Aghora (người kinh khủng) v.v... tất cả 64 lên. Đó là vị thán giết người, ăn thịt sống, hay lới các mộ dịa dẫn dắt các hổn ma,.các hồn bơ vơ, các thứ ma đi hút máu người và cùng với chúng uổng máu đựng trong những sọ người. Khi say thì thần ca vũ, có dàn ma quý nhịp theo đê ẹiva giẫm nát một con quỷ đối nghịch.

Vũ khúc do ^iva sáng lạo là hoà diệu gốc của mọi dộng tác, là nguyên uỷ của 5 quyên năng khai thiên: sản sinh, bảo tồn, phá hoại, nhập xác, giãi thoát.

Đối với diện mục phá hoại lại có diện mục tu sửa nôn (Ịiva là thán cúa sự sống và của sự sinh san mà biểu tượng là cái Nguyên Dương linga. Khi thần Uọanas quản trị Kim tinh dùng quỷ thuật cướp nhũng báu vật của mình, ọiva dánh nhau và nuốt thán ấy vào bụng, giữ rất lâu trong ruột của mình rồi dái ra nén Uẹanas còn tôn là Tinh khí.

Việc thờ cái Nguyên Dương dược coi Icà ọiva đã náy ra ở thòi hậu Vê Đa vì trong kinh ây đã kê nhĩrng ke lấy linga làm Thượng Đô là nhũ'ng kẻ thù của dạo giáo Aryen. Có lẽ đấy là sự thờ phụng của thổ dán Dravidien ở Âi Độ. Kinh Purana có kể tói 12 cái linga lớn thờ ở 12 thánh thất chỉ đích 12 sự hiổu hiện của ọiva. Kinh ấy nói rằng có lần Brahma và Visnu đương tranh nhau ngôi thứ, ẹiva hiện lới thành cái Nguyên Dương lớn như một cột lửa ngất trời. Hai vị quên chuyện cãi nhau xoay ra thách nhau tìm dcn đẩu cột. Brahma cưỡi thần diếu Hamsa bay lên chín tầng mây. Còn Visnu thì riíc xuống chân cột ở dưới dấl như một con lợn lòi. Vậv mà không ai lới dược hai đầu cột lừa, phải quay vổ chịu thua (Ịiva. ẹiva hiện thành nghìn tay nghìn chân để tuyên dương tháng cuộc. Người ta lại còn kể chuyện (^iva cùng nữ thần Durga cùng chết trong khi giao hợp rồi hoá thcành cái linga và cái yoni.

274

Một diện mục thứ 3 nữa của ọiva là nhà tu khổ hạnh, vị thần tập trung về mình mọi năng lực tôn giáo, kà bậc thầy cùa các nhà tu. Người ta tượng hình thần ở trần lấm lấp than tro, dáu dánh đai lại và deo ở cổ một cái vòng toàn những rắn. Quần may bằng một tấm da cọp, da dê hay da voi. Vũ khí là cung, trống, búa, dây thừng và cái đinh ba, với 4 tay, 8 hay 16 tay. mà hai tay dưới là dể ban ơn hay cứu vớt.

Thần thưím? ngồi trôn lưng con bò Nandin và bò cổ khi là vật để cưỡi có khi lại là hình iinh của chính thần. Nó cũng theo điệu nhạc cùng nhảy múa với thần.

Ba ngôi Trimurti

Đối với phái thờ thần ẹiva thì thần có tên là thượng đế, là chúa tể, là chủ của tất cả, là vua của tam thế, là động lực uyên nguyên của vũ trụ. Sứ mạng trí tuệ của thần cũng lớn lắm. Thần sáng tác ra tuồng kịch, thối lửa thần minh cho các văn thi sĩ, đọc ra kinh Vê Đa.

Các nữthần ẹakti

Tất ca ba sứ mạng sáng thế, bảo tồn và huỷ hoại của Brahma, Visnu, (Ịiva là ba sứ mạng của riêng từng ngôi, nhưng cả ba ngôi cũng lại chi là một. Tuỳ theo phái tu thờ từng ngôi sẽ cho ngôi ấy là chính. Chẳng hạn người ta tạc hình ẹiva ở giữa, Brahma và Visnu thoát ở thân của thần mà ra hai bèn. Hay Visnu hoặc Brahma ở gốc rồi hoá thán ra ba ngôi phụ ở trên. Hay một thân mà có 3 mặt.

Danh lừ (Ịakti có nghĩa từ thời Vê Đa Kà nguyên khí, và cũng từ thời ấy nó đồng nghĩa với tên vợ của Ngọc Hoàng Thượng Đế Indra. Dấn dần người ta hiểu nó là một nguyên khí để xuất sinh trần thế từ vị thượng thiên vô vi ra. với một phần là vật chất, một phần là sức sáng tạo, là những tinh tuv thần linh.

ớ nguyên uỷ thì chính những dặc lính của Brahma đã tạo ra sự linh hoạt chuyển sang là (Ịakti thành cái đà của nguồn sống, thành nguyên tắc của sự sống. Người ta tạc hình nữ thần ngồi ôm ghì nam thần, hay đứng có những võ khí giết người và khiêu vũ trên xác của ẹiva. Bởi người ta giải thích là ẹiva mà thiếu Cakti thì chỉ còn là xác chết.

Sarasvati - Vợ của Brahma, là chúa tể về nghệ thuật nhất là nhạc nghệ, nữ thần của sự hùng biện, người sáng tạo ra chữ Phạm sanscrit, là mẹ đẻ ra thi sĩ. Đó là người vợ mà Visnu dã nhường cho Brahma. Một vợ thứ hai của Brahma: Gayatri là nhân cách hoá của cái thước đo và một doạn tho' Vê Đa, đó là mẹ đẻ ra kinh Vê Đa, thần hộ mạng cho dòng quý tộc Aryen.

275

Laksmi - Nữ thần sác đẹp, danh vọng, tiền của và sung túc, thường ngồi trên một bông sen, tay cầm cái sừng phong phú, trong khi hai con voi ở hai bên dùng vòi ngậm bình tưới nước cho những bỏng sen trên tay nữ thần. Tượng thần tạc đứng một mình hay với chồng là Visnu và cũng đổi 10 tên theo 10 lần chổng dầu thai hoá kiếp.

Nũ' thần còn có 37 tên nữa, có khi tới 1000 tên, khi thì cùng đầu thai

với Visiui, khi thì thoát ra từ những làn bọt bế.

Durga - Nữ thần vợ của ẹiva, cũng rất nhiều tên, là bà Ban ơn, bà Hung, bà Đò. bà Đen, bà Nóng, bà Chúa Núi, bà Tuyết Sơn, bà Đổng Trinh v.v... Bà là biểu lượng cúa người vợ trung thành nhảy vào lửa chết theo chồng. Bà lấy ẹiva và tôn thờ cái linga. Bà cũng có một bộ mặt khác là thần chiên tranh, tàn sát dàn ông, thích hưởng lễ sát sinh, thích thịt người và rượu, thưừng đem về đền thờ mình những xác ngựa và người nhặt (V chiến trường.

Tượng của bà thường tạc theo vỏ dữ tợn với 10 lay có khi hai mươi tay cùng cấm các vũ khí. Tượng 4 tay, là một bà Đen, thè lưỡi đỏ còn nhỏ máu và cổ đeo lủng lắng nhĩrng rán và đầu lâu. Cũng có khi tượng tạc người đàn bà trẻ dẹp mặt xanh da trời, ngồi trên lưng sư tử hay cọp. tay phải cầm một bông hoa sen, tay trái ra dấu ban ân huệ, với áo vàng và nhiều đồ trang sức.

Rán Nâga - Đầu người duôi rắn, cổ đội một hay nhiều mũ kỳ cục thường biến hoá giao liếp và dụ người vồ dường tình ái, Icà thần coi ở dưới àm ty, là khách viếng thâm các cây cối. sông ngòi. Người ta thờ vì truyền thống là thần vật của các bộ lạc cổ sơ.

Quỷ Asiira - Xưa cũng ăn ở có dạo dức nhưng sau rồi sa doạ hủ hoá, bị duổi từ trên trời xuống, phái án dưới dịa ngục, trong những cung điện mà phù ihuỷ Maya xây dựng cho.

Quý thường phò tá những ke dũ’ dể làm diều ác, các thán dến trừng phạt cũng dám đánh trả trong nhũng trận chiến kinh hồn, nhưng khi các thần chế ngự dược thì lại thành nhũng môn đồ đác lực của các dạo trưởng. Những quỷ này có nhiều thứ lắm: quỷ dầu cọp mình người, quỷ miệng den, quỷ bưng tai, quỷ không dầu, quỷ mười dáu v.v... mỗi loại có một tác phong riêng nhưng thường thì đều hay đi đêm, ăn thịt người, phá phách những đám lễ, phun ra lửa, mửa ra khói. Có cá quỷ cái nữa.

Yêu tinh Bhuta - Ngoài quỷ còn tà ma và yêu tinh là những hồn người chết bất dắc kỳ tử, không dầu thai được nên trở thành nguy hại cho mọi người sống. Yêu tinh toàn đi dèm, làm hại những bào thai, khát máu Vcà hay trú ngụ ử những cây cao núi lớn. Người la phải cúng cho chúng những lẻ vật mà chúng dòi, cùng cầu đồng các thần dến đuổi chúng đi.

276

Các thánh - Vì có việc tin ở sự dầu thai hoá kiếp, dối với những anh hùng có thực hay chỉ là tướng lượng, cá những tác giá các kinh văn dược truyền tụng, cả những người có công dựng làng, dựng linh, ca những hiền triết, nhũng thầy thuốc, những tố tiên các dòng họ..., người ta

cũng sẵn sàng quan niệm cho họ thành bất tử. để thờ như những bậc thánh. Do việc thờ ấy, người ta hiểu thêm đó là những vị thiên thần giáng trần sống qua một kiếp người đế rồi lại trở về thượng giới.

Loài vật, cây cối, núi Iion, đá quý, nước, sông, biển, hồ - Cũng là nhũ‘ng thần vật, nhũ'ng nơi linh thiêng theo thần thoại và cũng có thể là thần biết hoá ra, để người ta thờ kính như thờ kính các thần vậy.

Quan niệm thần hí - Vổ thiên đường, địa ngục, linh hồn, nhân quả, nghiệp kiếp, luân hồi, ở đại cương có những nét đặc biệt Ân Độ mà Phật giáơ cũng chủ trương hao hao giống như thế.

Chúng ta không dừng lại lâu ở những quan niệm đã được nói đến nhiều để thành thông thường này rồi. Mà chỉ lưu ý đến vấn đề những đẳng hạng người trong xã hội Bà La Môn. Đây là vấn đề khó hiểu đối với người ngoại quốc.

CHẾ ĐỔ ĐẲN(; HẠN(Ỉ NCỈƯỜI TRONÍỈ XÀ HỘI

Đây không phai là giai cấp (classe) theo ý niệm phương Tây, có nhũ'ng quyền lợi vật chất tinh thán và những thói tục ngăn cách người thành từng loại riêng biệt hẳn. Đây là những thế cấp (castes) cấu thành do nhũng nguyên nhàn lịch sử, nhân chủng, nghề nghiệp, cá những luật lệ về tôn giáo. Đặc biệt hà có những bổn phận, những trách nhiệm, nhũng bó thắt về đạo đức cho từng hạng người, hơn là những đặc quyền hưởng thụ cho từng hạng người ấy.

Có bốn đắng hạng chính; 1. Người giáo sĩ Bà La Mòn (Brahmanas) phải chịu trách nhiệm về tôn giáo, phải giữ gìn và lưu truyền nhũng kinh văn thiên liêng, phai vun bồi về khoa học, giáo dục, và phái bủo toàn danh dự cùng chức vụ của bậc chức sắc trong giáo hội.

2. Ngưòi chiến sĩ (Kshatriyas) có bổn phận bênh vực quyền luật đạo lý, che chở người yếu đuối, nên khi cần thì phải dùng đến uy võ. Các vị quốc vương đều là người ở đẳng hạng này.

3. Người thực nghiệp (Vaishyas), thương gia, nông gia, chủ ngân

hànư là địa hạt hoạt động dể làm giẩu.

277

4. Ngưòi lao động (Shudras) làm các công việc thổ mộc bằng chân tay. Ba hạng trên được kể là tôn quý. Nhưng trên tất cả, lại là những nhà tu thoát mình khỏi những ràng buộc của cuộc thế. Và dưới tất cả là những người không xứng được dự vào cộng đồng xã hội ấy. Đó là hạng cùng dân (Parias) và ngoại nhàn (Mlecchas).

Có hai điều kiện để được xếp vào hạng Bà La Môn. Mộl là cha và mẹ đều là Bà La Môn, hai là được giáo huấn iheo quy tắc của đẳng cấp Bà La Môn, bát đầu từ một cuộc lễ vào khoảng lên 8 tuổi. Đứa trẻ cho tới tuổi ấy, chưa được kể là Bà La Môn mà chi là người lao động Shudras ở hạng tư. Hắn có thể ãn nói, Icàm, tuỳ theo ý thích. Nhưng kể từ khi đã là Bà La Môn rổi thì sự học, sự đối xử của hắn khoác một phong thái của kẻ trí, tôn quý nhất trong xã hội. Bởi Bà La Môn sống là sống cho mọi người khác trong xã hội và bởi có nhiổu nghề kiếm ra lién mà Bà La Môn không làm được vì nhiệm vụ xã hội, sau là nhiệm vụ tôn giáo nên xã hội phải nuôi họ*'*. Đã có rất nhiều những buổi lễ quanh nãm, suốt tháng và suôi ngày, họ phải làm khiến không thể còn một thì giờ nào rảnh rỗi đê’ làm những việc gì khác kiếm ra tiền nữa.

Người chiến sĩ Kshatriya thì phái chiến đấu liên miên cho danh dự, chiến dấu đến thắng lợi hay đến chết cho một lý tưởng đối với họ là đúng. Họ không được thất hứa, không được từ chối một cuộc thách thức dù biết là đối phương không liêm khiết và dù biết là sẽ thua. Trong cuộc chiến, họ không dược đánh kẻ địch đã trốn chạy, dã xin tha, đã ngã hay đã mất vũ khí. Họ không được từ chối bất cứ cái gì mà người Bà La Môn đòi hỏi và họ phủi cổ thật nhiều của cải để phân phát thật dồi dào cho mọi người.

Họ phải đủ uv quyền để bảo vệ công lý cho tất cá các thế cấp cùng tiến bộ. Tham vọng của họ là dược dàng những lễ cực kỳ lớn nhưng đăng quang, lễ sát sinh và hiến dâng ngựa quý cho thần, dù phải cưỡng đoạt cả trái đất với những tài nmiyên trên ấy.

Nsười thực nghiệp Vaishyas có sứ mạng chính là quản trị và làm tăng gia tài nguyên vật chất khi sử dụng theo mọi ngành sinh hoạt như canh nông, mục siíc, kỹ nghệ, thương mại, ngân hàng và từ thiện.

Người lao động Shudras có bổn phận phải làm những nghề chân tay để phụng sự, làm những việc mà mọi người ở thế cấp trên có thể làm như không có thì giờ. Đó là những lao động nông thôn, những thợ chủ công, những người đầy tớ, chiếm đại đa số trong xã hội. Những người này được ăn một ít loại thịt (cừu, dê, gà) được cư trú bất cứ đâu, trong khi người ở thế cấp trên chỉ được ở những nơi có chỉ định trước. Họ bị cấm học kinh Vê Đa.

Bốn thế cấp này lại chia ra làm rất nhiều những đẳng cấp nhỏ khác'"’ có loại chỉ gồm chừng mấy ngàn người hay mấy trăm thôi, nhưng

liulìíi what it can teacli IIS (p.236)

(21

Max Mullcr Silva Corréa ước lượng là 4000, Deniker thì ước lượng 2000, J.T.Souderland ước

300, còn C.Bouglé thì cho rằng dại khái phải tính có hàng ngàn những đắng cấp.

278

có loại thợ tàm da đôns nhâì tới 13 triệu, loại chiến sĩ miền Bấc 11 triệu, loại chăn cừu và thợ làm vườn 10 triệu, loại dân cày 6 triệu với độ 60 loại khác đỏng hơn I triệu.

Những người cùng dân dơ dáy Parias là những kẻ bị truất khỏi những thế cấp người trong xã hội, hoặc do kết quả những cuộc hôn nhân bất hợp pháp giữa người ở những thế cấp khác nhau, hoặc những cuộc hôn nhân trái với quy lệ, hoặc thiếu sót bổn phận trong những lễ tục. Đó là những kẻ gần giống như bị rút phép thông công trong tôn giáo Gia Tô.

Những người này không thuộc vào thế cấp nào trong đó lối sống có quy luật định đoạt sán nên họ được tự do hơn mọi người An Độ khác. Không có gì cấm cản họ ăn thịt uống rượu, cũng không có lễ tục nào bắt họ tắm rửa, mà cũng không nghề nào là cấm đối với họ. Họ thường sống trong những diều kiện tồi tệ, bẩn thỉu kinh khủng, ăn cả những xác thú vật chết và say sưa be bét.

Vì vậy. những người ở các thế cấp khác trong xã hội sợ phải tội nên kinh tởm họ, cấm họ đến lấy nước ở cùng một nguồn suối với người ta, không cho họ đến nhà mình, không cho họ đến nơi thờ tự, không cho con cái họ học cùng trường với những trẻ con nhà Bà La Môn v.v... ơ một vài địa phương; người ta còn cấm họ đi lại trên những đường lớn và phải đứng xa người ta từ 10 đến 20 mét"’.

Tuy nhiên, trong thế cấp người Parias lại chia ra thật nhiều hạng nữa để cho trong cùng một loại người dơ dáy không ai dám gần, lại có những kẻ dơ dáy đến chính người dơ dáy cũng không dám gần nữa.

M.Monnier William đã nhận xét thấy tại Ân Độ không có người nào là tủi nhục vì thế cấp của mình, và cả người Parias hèn mọn nhất cũng rất hãnh diện ở trong thế cấp ấy và cũng ước mong giữ mãi như người Bà La Môn giữ cấp bậc của mình vậy*^’.

Ngoài hạng người Parias này, dưới cùng còn một loại người ngoại nhân Mlecchas nữa, trình độ tri thức thấp kém, với những kẻ bị đuổi ra khỏi các dẳng hạng người không được xếp lại vào đàu. Trong số ấy gồm cả nhũ'ng người ngoại quốc, người phương Tây, du khách, công chúa và cá toàn quyền đại thần Anh nữa.

Chúng ta hiểu người Ấn Độ Bà La Môn như vậy thì sẽ biết rõ người

Làm Âp theo đạo Bà La Môn ấy ở thế kỷ thứ II.

Jean Herbert - Spiìitiialité Hincloiie, pp. 182-90, Albin Michel, Paris. Sir M.Monier XVilliam - Moíleni Imliíi and ỉndians (London) 1893 p.49

279

Đ Ậ C T ÍN H CÌ)A DẢN L Ả M Ầ P

Đặc tính của họ là hiinc hãn, hiếu chiến, và muốn có thật nhiều tài sản dùnti trong việc cúna kiếna như vàna, bạc để đúc tượns. đúc đồ thờ, dâna cho các Bà La Môn. Bởi vậy, sau khi lập quốc năm 192, dân Lâm Âp đã luôn luôn đcm quân ra xâm phạm bờ cõi quân Nhật Nam và Cửu Chân.

G.Coedès, trong sách dần (tr. 59) đcã trích lời Mã Đoan Lâm'” như sau: ‘72ữ/? thì xâ\ tườm> nhà hâm> ụu h nuníỊ có rở một lượt vói. Nhà nào cũng có sân thượng gọi lù Kulan. cửa xoay về hướng Bắc, một vài khi càng mở ra hướng Đông hay Tây không nhất dinh... Đùn ông và dàn hà, quân áo chỉ có một mảnh vải quấn quanh người. Họ .xâu lỗ tai dể dco những vòng khuyên. Người có chức tước di giầy da: thường dân giẫm dất. Dó lù thói tục chung à Phù Nam và ứ cà các nước à ngoài Lâm Âp. Vua dội mũ cao vun ngọn có thêu hoa vàng và trên cùng có núm hoa hằng lụa. Khi ngự giá di dâu thì cưỡi voi có lọng chc với cờ xí chung quanh, phía trước có lính dẹp duửng hằng tù và lại có trống nữa.

Đám cưới hao giờ cũng tổ chức vào tháng tám. Con gái xin cưới con trai. Không có luật cấm ngicời cùng họ lấy nhau. Những người dán Lâm Âp này tính tình hung hạo vù tàn ác. Khí giới của họ lù cung tên, gươm giáo và nó hằng tre. Những nhạc cụ của họ cũng giống như của ta, dàn. nhị, sủo,v.v... Họ cũng dùng tù và và trống d ể háo hiệu cho dân chúng. Mắt họ sâu, mũi thẳng và dô, tóc den và quăn. Đàn hà thì húi tóc lờn dinh dầu... Tang lễ của vua thì tổ chức hây ngày sau khi chết, các dại thần thì sau ha ngày; còn dân chúng thì ngay hôm sau. Bất cứ ở thể cấp nào trong .xã hội, xác người chết cũng dược Hận kín trong một tđm vải rồi mang ra hờ hiển hay hờ .sông có tiếng trống dántĩ vang lên theo những diệu vũ rối dặt xác lên giàn lìod mà người di dược xếp thâm củi vào. Những dốt xương còn sót chưa cháy hết sẽ dược lượm hỏ vào trong những lọ hổng vàng thà ra hiển nếu lù .xác của vua. Nếu lù xúc của các quan thì hả trong những hình hằng hạc vù thả ra cửa sông. Còn nếu là thường dàn thì chỉ dùng những hũ hằng sành và thà ơ .sông. Các thân nhân nam và nữ của người chết theo dám tang thì cắt ngắn tóc của mình trước khi rời h('ĩ sông ra về. Đó lù dâu hiệu một thời cư tang rất ngắn. Tuy nhiên, cũng có một vài người dàn hà giữ tang chồng suốt dời hằng cách hễ tóc mọc lại thì cắt và liệng tung di. Dó là những goá phụ không chịu tái giíp\

" ’ Ii’ui dịch của d’Hcrvey dc Síiint Dcnis tning 442 - 425 nói vé những giống dâ]i ở Niun Hải.

Về diêm này ta nhcý rằng tôn giáo Bà La Môn có tục vua chết và hoàng hậu lên giàn hoá tự thiêu dế chết theo thì được dân thừ là thánh (xcm chuyện vua Chê Mân và cỏne chúa Huyền Trân). Nhưng ơ dây nói là chi cắt tóc. Vậy không rõ nên tin Mã Đoan Lâm đến mức nào.

280

N H Ử N ( Ỉ T H Ổ D Â N X Ư A ơ V Ừ N C BỊ L Â M Ấ P C Ư Ỡ N í ; C H I Ế M

Theo tục lệ tang ma của Lâm Ấp do Mã Đoan Lâm kể lại và xem những cổ vật tìm thấy ở Sa Huỳnh, thuộc Mộ Đức (Quảng Ngcãi) có những vại bằng sành chứa tro hoa thiêu còn lẫn một vài đốt xương với những đồ trang sức bằng ngọc thạch, pha lê,v.v... xếp thành một trano trong đụn cát ở bờ biển, thì ta phái kết luận rằng: trước khi người Lâm Âp tới, vùng này đã có một giống dân khác, với nhũĩig tục lệ khác. (Cả những nét chạm trên các vai sành cũng có một phong cách mỹ thuật khác hẳn phong cách của Lâm Âpy*.

'" C ổ vậl Sa Huỳnh hồi 1909. một viên Giám đốc thương chính Pháp lên là Vinet, nhân khi tòng sự lại Sa Huỳnh ra bãi biên lang thang trên những đụn cát thì lình cờ thấy chôn vùi trong cát một kho làng lớn bằng đồ hồng mã não với những vòng tai bằng những chất gì trong như thuỷ tinh. Những đồ ấy chứa trong những nồi đất. chôn vùi và xốp đặt gần nhau, nhiêu chừng 120 cái. lại địa phận làng Thành Đức huyện Đức Phổ (thương có tên là Cư Long Thành).

Đen hồi 1923 bà vợ của viên chánh đoan khác, bà Labanne lại tìm thấy một kho làng nữa ở 5.6 cây số về phía Bắc là Phú Khương (tức Phú cổ), chỗ này có chừng 200 cái nổi bằng đất đen, những hoa tai, những hột hồng mã não và 24 cục ngọc trân châu trong riêng một cái nồi khác.

Kho tàng này ở trôn ngọn đụn cát nằm dọc bờ bổ theo hướng Bắc Nam và có vòng một cánh ra bế đến ngay phía Đống làng Phú Khương. Còn kho Thành Đức trước choán khoang rộng chừng 30x80m, cũng trong đụn cát, giữa khu có cục đá chạm vứi hòn núi ở ngay bờ biến.

ớ cả hai kho, những nổi xếp lộn xộn có khi .sát nhau, có khi cách quãng nhau, có khi cao, có khi thấp. Đụn cát thì không cao lắm trên mực nước bổ từ 2,5m đến 3m. Và nồi đã được chôn cao trên mực nước bé một ít trên cát ấy.

Hình nổi nặn theo hình trái bầu hoặc hình trụ dày độ một phàn, cao 77 phân, miệng rộng 60 phân, cổ rộng 47 phân. M ỗi nồi có một nắp đậy giống như hình cái bình hoa úp ngược xuống. Nắp nồi có khác những nét vuông vắn chạy triện như kiếu Hv Lạp. Và những trân châu hình tròn có một hai hột đến 13 ly và hình dài thì có hột dài 20 ly có hột dài dến 46 ly. Có một cái nồi chứa tới 32 hột hình quả trám, hình vuông hay hình dài.

Nống cụ thì thấy cái thuổng. Còn xương người thì thấy có những đốt xương tím

bầm tỏ ra đã hoả thiêu và có những đốt xương không bị hoả thiêu.

Theo Parmenlier có lẽ dây là hai nghĩa trang cái táng cúa những nhân vật trọng yếu trong một xã hội cổ. Cũng theo ông, những vật tìm thấy không giống chút gì với mọi cổ vật khác dã dào được ở các nơi khác. Và trên những vật này đã không có dấu vết gì của văn m inh Chàm. Những dường nét diêu khắc cũng đều không một chút gì giống với những nét cúa Chàm cổ.

Người la dã đồng ý rằng dó là những cổ vật có từ trước khi người Chàm lập quốc.

281

Điều dó chứng tỏ Lâm Âp có thể đã díing bạo lực tiêu diệt hết thổ dân ở vùng này rồi lập quốc, hoặc có thể đã dồn đuổi họ về những vùng cao nguyên để chiếm cứ đất dai.

KINH THẢNH KHU TÚC

Còn tên lù Khu Lật. Năm 1927-1928, trường Viễn Đông Bác cổ có đào thấy vết lích ở lànc Trà Kiệu thuộc Bắc, Tây Bắc Ọuảng Nam và gán ranh Thừa Thiên bây giừ. Chu vi thành độ 6 lý 70 bộ (1 lý là 386m), phía T ây bé ra 10 góc, cao 2 trượng, xây bằng gạch có lót ván, ớ trên có 5 tầng gác, trên gác lại có nhà lầu cao 7,8 trưcmg. Cung điện trong thành đều hướng về phía Nam nơi có sông Lư Dung cháy qua. Có tới 2100 nóc nhà đế người ư, còn chợ búa họp chung quanh thành. Thành mở ra 13 cửa, thế đất gồ ghề hiếm trở, trong chứa nhiều chiến cụ và vũ khí.

ĐỊA THẾ CÙA LÂM .Ấp

Xét địa thế của Lâm

ở hồi đáu mới lập quốc từ trên Ninh Hoà tới Quáng Nam, ta thấy ca vùng đất ấy phần bị núi rừng tràn lan. phần bị cát biên lấn lướt, đất ruộng còn lại thì đồng khô cỏ cháy. Từ Phú Yên đổ ra .suôi gần 400 cây số chí lèo tèo có vài ba cánh đồng trồng trọt được ở Quáng Nam và Bình Định mà cũng tương đối nhỏ hẹp cho sự sống của một quốc gia.

Lại thêm cả vùng này là vùng đầu sóng ngọn gió, mưa bão gần như năm nào cũng có. Quii là không một chút gì thuận tiện cho giống dân làm canh nông và mục súc, mà có lõ chi thuận cho riêng việc chài lưới và đi biến thôi.

Phù Nam là lên Trung Hoa phiên âm chữ tên Biu-nâm, Bnam cổ, mà nay người

Khmer gọi là Pnom nghĩa là núi, và vua của nước ấy là vua núi.

Vua đầu tiên theo tài liệu Trung Hoa là Houen Tiên, chữ Phạm là Kaudinya gốc

không rõ ở Ân, Mã Lai hay Nam Hai. ô n g nằm mơ thấy thần hộ mệnh cho một cây cung thần và nhủ đáp thuyền buôn vào buổi sáng sớm đến đền thì sẽ có sẩn ở đó. Thuyền giạt vào Phù Nam. Công chúa ớ đó là Liều Diệp định cướp thuyền nhưng bị Houen Tiên dùng cung thần bắn xuyên thúng thuyền công chúa, cỏ sự và xin hàng. Houen Tiên cưới nàng làm vợ. lây V i ii chc thân cho rồi ở lại làm vua cai trị cả xứ ấy. Theo một tấm bia ở M ĩ Sơn mà L.Pinol chép lại thì câu chuyện có hơi khác. M ột vị Bà La Môn tên là Kaudinya đã được thầy Acvathaman cho cái nỏ rồi dùng tên bắn di đê’ chí cho biết nơi sẽ dựng kinh đô. Kaudinya con gái vua rắn Nagas tên là Soma rồi sinh hạ ra dòng vua cúa Phù Nam. Cuộc tình duyên ấy dến thê kỷ thứ 13 tại cung diện A ngkor còn lễ kỷ niệm, và người Campuchia bây g iờ cũng vẫn ghi nhớ.

Truyện ấy đúng như truyện nguồn gốc dòng vua Pallavas tại Nam Ân.

282

Dân Lâm Âp không hung hcãn tràn ra Bắc cướp phá thì cũng phủi tràn về Nam. Họ đã không dám đụng tới miền Nam vì đế quốc Phù Nam đương là một đế quốc hùng cường ở dầu kỷ nguyên"’. Bởi đời cháu của vị vua sáng lập Pan Pan giao binh quyền cho tướng Fan Che Man, khi trị vì

được ba năm tliì bănc hà, Iriều đình đã tôn Fan Che Man lên ngôi, ông ta là vị vua hùng tài, tự xưng đại đế và đem quàn đi đánh dẹp khắp nơi. lại đóng những tẩu lớn để đưa quân ra ca các hải đao, mà bắt lất cả các nước lân bang phải thuần phục. Đất đai mở rộng đến 5.6 ngàn lý"'. Người ta ước chừng là từ sông Mê Nam của Thái Lan bây giờ qua củ Campuchia, cả Lào tới vùng bờ biển Nha Trang cùa ta. Bia Võ Cảnh tìm thấy ở Nha Trang, trước người ta tưong đất ấy của Chàm, nhưng năm 1927, L. Pinot xác định là một nước nhỏ phụ dung của Phù Nam.

Đứng trước một dế quốc lớn như vậy, người Lâm Âp dcã phái thán phục không dám quấy rối mà chi dám dòm về phía Bắc là Giao Cháu của người Lạc Việt dương bị dưới quyền đỏ hộ của Trung Hoa.

n h ĩ ỉ N í ; c ư ộ c x â m l ả n (; c ủ a l ả m ấ p

Khoảng năm 220 và 230, một vị vua của Lâm Ắp nối nghiệp Khu Liên đã gửi sứ bộ đem lễ vật dến dâng cho Thái thú Quảng Đông và Giao Chỉ nhưng thực là dể dò xét thực lực. Năm 248, quán Lâm Âp tràn lèn cướp phá các tỉnh ở phía Nam quận

Nhật Nam và chiếm giữ vùng phía Nam, tức là vùng Huế bây giờ. Nãm 270, vua Lâm Âp là Phạm Hùng, cháu ngoại của Khu Liên lại

tiến quân ra cướp phá, có cả quân Phù Nam giúp nữa.

’ Theo G.Cocdès. Histoirc’ Ancienne dcs Etats Hindoiiiscs d’E.O, p. 46.

'■'Suốt 200 năm Lâm Âp vùng vẫy để tiến ra Bắc.

Không kể những cuộc xâm phạm lẻ tỏ ở bờ cõi mà sử không ghi, đày là những

Irận lớn cúa Lâm ấp bát dân Lạc Việt phái chịu đựng.

Khoáng năm 220 - 230, vua Lâm Âịì nối nghiệp Khu Liên cho sứ giao hiếu với

ihứ sứ Giao Châu và Quảng Đông.

Năm 248, Lâm Âp tiến quân ra cướp phá các tinh phía Bắc và chiếm vùng Huế. Năm 270, Idiạm Hùng, cháu ngoại của Khu Liên, được vua Phù Nam Fan Sium giúp quân lại tiên ra quấy phá. T liứ sử Đào Hoàng đã mất 10 năm đánh dẹp mới đẩy lùi dược đoàn quân xâm lăng ấy về biên giới cũ.

Con Phạm Hùng là Phạm Dật nối ngôi, cho sứ sang Tàu triều cống năm 284,

nhân dể dò xét lình V thiên triều mà kiến cơ nhi tác theo mưu kế của một người ^

283

Thứ sử Đào Hoàng dcã phải mất 10 năm chiến đấu mới dáy lui được quán xâm lăng ấy. Cho nên, khi chấm dứt loạn Tam Quốc 0 Trung Hoa, nhà Tấn nhất thống được nước Tàu rồi, vua Tấn có ý giảm bớt quân ở các châu quận về thì Thứ sử Giao Châu là Đào Hoàng dã dâng sớ vé tâu ràng: “Vua nước Lâm Ap là Phạm Hùng thông với nước Phù Nam, hay sáng quấy nhiễu ở dất Nhật Nam nếu lại giảm bớt quân số ở Giao Châu đi thì sợ quân Lâm Âp lại sang đánh phá”'"’.

Q U Â N Đ Ộ I C H I Ê M Đ ( ) N ( Ỉ

àni tống

^ Tàu gốc Giang Châu tên là Phạm Văn. Phạm Dật phong Phạm Văn quán binh đội toàn quốc.

Nãiĩ) 336. khi Dật lừ trán thì Phạm Văn cliiốm ngôi cùa con Dật mà lên làm vua

Lâm .A}-).

Năm 340, Phạm Văn ch(í sứ sang Tàu yêu cầu định bicn giới cho Làm Âp từ Đèo

Ngang trư vào.

Vua Tàu chưa quyết định cát đât Nhật Nam như thố cho Lâm Ả ii theo lòi yêu cáu cúa họ thì năm 347, Phạm Văn liến quân chiếm luôn Đèo Ngang, sau đó lại xua quân ra khoi Đèo Ngang dê luôn luôn quấy phá cướp bóc nữa.

Năm 349, Phạm Văn lử trận. Con Phạm Văn là Phạm Phạt nối ngôi và nối chí cha de lo mở rộng biên cưưng về phía Bắc. Nhưng nám 331 Phật bị thua một trận, dốn năm Quý ,Sứu (333). Phật lại bị Thứ sử Giao Châu là Nguyễn Phu dánh phá 30 dồn luỹ và năm 336 lại bị t)iua nữa nên phải rút lui khỏi Nhật Nam.

Nãm 372 và 377. Lâm /\|’) phái sang Tàu triéu cống. Phạm Hổ Đạt là con nòi ngôi của Phạm Phật năm 380. Đên năm 399, Phạm Hổ Đạt lại dem quân dánh Nhật Nam nhưng bị Thái thú

Giao Châu Đỗ Viện đánh thua phai rứt lui.

là Ty Tchen nối ngôi cha, nhưng

lại nhường ngôi cho cháu

Nãm 403 và 407 lại dánh ra v<à cũng lại bị thua. Năm 414 cũng lại dánh ra nữa nhưng vì vào sàu trọng dịa, Đạt lử trận. Con của Đạt là Mamorathavarman còn mình thi đi tu ớ ân Độ. Cháu này cũng vẫn liên tiếp ra dánh Nhật Nam cho dến năm Canh Thân (420) thì khống thấy nói dến nữa.

Năm 420, có một vua khác lên ngói xưng là Dương M ại và cũng xua cỊuân quấy

phá Nhật Nam.

Năm 421, Dương M ại, xin thụ phong với triều dinh nhà Tấn nhưng không may bị chết ngav năm ấy. Con của Dương Mại 19 tuổi nối ngôi cha cũng xưng hiệu là Dương Mại và rồi cũng lại dưa quàn ra dánh phá miền Bắc luôn luôn.

Nãm 431, Dương Mại dem hàng trăm chiếc thuyền chiến dánh vào bờ be Nhật Nam. Tliái thú Giao Châu một mật cho ngăn chống, một mặt đưa thắng quân vào vây hãm thành trì Khu Túc nhưng không may gặp bão quân vây thành lại phái rút ra.

Dương Mại mượn binh ciia Phù Nam không được, năm 433 lại khiêu nại với triều

đình Trung Hoa mà cũng không kết quá gì nên từ dó lại cứ cho quân di dánh phá.

Năm 446, thứ sử Giao Châu mới cúa Tống là Đàn Hoa Chi cầm tướng lệnh chính

phạt Làm Ap có phó tướng Tổng Xác phụ lá.

Dương Mại cả kinh cho sứ diều đình xin tni các người dân Nhật Nam bị bắt và dâng một vạn lạng vàng, 10 vạn lạng bạc de chuộc tội. Đàn Hoa Chi dâng sớ về triều hói ý vua Tống. Vua Tỏng cho Đàn Hoa Chi dược tuỳ nghi nếu Lâm ấp thành thực thì cỏ thế chấp thuận. Nhưng khi Đtàn Hoa Clíi cho sứ tới nói chuyện thì vua quan Lâm âp lại bat giam sứ. Vì thế, Đàn Hoa Chi tiến quàn đánh thẳng vào kinh đô Trà Kiệu và vây thành Khu Túc. Tướng giữ thành là Phù Long tứ trộn. Phạm Dương Mại phải dích thân cầm quân chống cự chờ binh cứu viện. Binh cứu viện cũng lại bị đánh tan. Dương M ại phải bỏ thành mà chạy. Thành bị chiếm. Quân tướng chết không biê't bao nhiêu. Trận ây Đàn Hoa Chi tịch thu dược 100 ngàn lạng vàng và rút quàn về. Vua Phạm Dương Mại buồn rầu mà chết.

284

Vì đó mà có việc quàn đội chiếm đóng Giao Châu, khôns những để đối phó với Lâm Âp mà còn đối phó với chính người Lạc Việt ở Giao Châu nữa.

Đây là một cái ách mới mà từ nhà Tấn trở về trước, dân Lạc Việt chưa phái mang. Trước kia chỉ có các quan văn đến cai trị với một số lính ít ỏi giữ trật tự và hầu hạ các quan. Còn từ đây thì có quân đội thường trú, quan văn cai trị nhung với nhũng uy vũ của quân đội, sán sàng đàn áp mọi cuộc khởi nghĩa cũnư như sán sàng đối phó với s'ự xâm lăng của Lâm Âp.

Bởi vậy, từ 280 báng di 264 năm, đến nãm 541 mới có cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn. Suôi 264 nãm ấy dưới chế độ quân đội chiếm dóng, người Lạc Việt dã không sao nổi lên được. Thật là một thời kỳ den tối cúa lịch sử.

MỎT CỔ HAI TRÒNÍỈ

Đối với Lâm ấp, mình chí là ngoại nhân Mlecchas. Bất cứ lúc nào cao húng họ lại tổ chức thcành doàn ngũ dể xâm lăng, có khi chiếm dất ở hần, mà thường khi chi cướp của giết nhiều, xong lại về. Dàn chúng ở suốt vùng Nhật Nam lên dến Cửu Chân lức là vùng Bình Trị Thiên bây giờ đã vô cùng cực khổ. Nếu không chạy kịp trước doàn quân xâm lăng thì chốt, mà chạy kịp lấy nguừi thì nhà cửa và của cai cũng khó lòng còn được.

Cho nên cả vùng ấy vừa phần đàì cát khô cằn, đường di hiếm trở, vừa phần kinh cung chi diếu, chỉ một sò người bất đắc dĩ mới ở trong một số khu vực cổ thể canh tác dược.

Các quan cai trị Trung Hoa lại ở xa, nếu như có dem dược quân đến ngăn chặn thì củ vùng ấy lại thành bãi chiến, và trâu bò liLÌc nhau ruồi muỗi chết.

*" Năm 468. Thứ sứ Giao Chìiu là Đàn Hoa Chi đưa quân vào đánh, vua Lãm /\p

xin hoà và trá nhữniỉ người Nhật Nam bị Làm Âp bắt và nộp một vạn lạns vàng, mười vạn lạne bạc. Nhưng quân Tống dánh Iháiiíỉ vào thành Khu Lật và cố nhiên được số vàna hạc h(ín thố nliiều: một trăm ngàn lượng vàng ròng. Đời Tuỳ (605). Lưu Phương cĩing liến vào đánh nữa. Nãm 774, giặc Đổ Bàn vào dánli tháp Bà 0 Nha Trang. Nãm 946, giặc Chân Lạp cướp pho lượng bằng vàng thờ ư tliáp Bà. Niìm 982, Lỏ Đại Hành vào dánh lấy dược vàng bạc về làm cung diện cột vàng ngói bạc ứ Hoa Lư.

285

Bây giờ, xem lại nhũng di lích của các tháp Chcàm, các tượng thờ, đồ thờ, tại cổ viện Chàm và lại các nơi rủi rác từ Quáng Nam đến Phan Rang, ta thấy kỹ thuật kiến trúc và diêu khắc của họ đã làm cho ai nấy phải giật mình. Tuy không còn những dồ bàng vàng bạc, bởi dọc lại sử đã có nhiều lán những quan cai trị Tàu dem quân vào đánh lấy dược vàng bạc rất nhiều rồi dến người Việt dời Lý Bòn. Lê Đại Hành, dời các vua Lý, Trần, Lè cũng ghé lới dánh phá và cướp những báu vật di"’ nhưng ta

c à n

g

i

vẫn có thê đoán rằng khi thờ tự như thế, người Lâm ấp đã có nhiều đồ thờ bằng vàng bạc và tài sản của vua và h gia cửa họ cũng khỏne thiếu sì. Ta tất phải tự h

o họ lây đâu ra nhiều vạns bạc như vậy? Tliì câu trả lời là trons nhũng C U ()C liên miên đánh tràn ra phía Nhật

Nam và Cửu Chân, người Lám Âp có thê đã cướp của dân mang về.

Ta chưa nói đến người bị bắt làm tù binh. Ngay cả sứ thần của địch quốc đến điều đình thường cũng còn bãt giam luôn nữa. Đủ rõ họ hung hãn đến cỡ nào Chác nguyên do chính cũng còn ở chỗ hai bên không hiểu tập tục thông sứ của nhau và cũng không thuộc tiếng của nhau nữa.

Khu đất cho hai nền văn minh Trung Hoa và Ân Độ đụng chạm

nhau quả đã phải trái nhiều đau thương vậy.

VAI TRÒ CỦA N (.Ư Ờ I ẤN TH EO PHẬT (H ÁO

Ta không thể quên được những người Âúi khác theo Phật giáo hiện có mặt ở Giao Châu. Ta sẽ lây làm lạ rằng sao lại chẳng có một sự hiểu lầm đê cho dàn thù vay oán chạ đến những người ấy? Nhưng sự ấy chẳng diễn ra bới ngay tại chính quốc, hai giáo phái Phật và Bà La Môn vẫn chống nhau dữ lắm.

Những người Hồ (Ân Độ) làm thân dược với giới chức cai trị như Sĩ Nhiếp, lại mở tiệm buôn giao thiệp thân mật với dân dịa phương, rồi dựng chùa, thuyết pháp, cúng dàng, không phân biệt Parias và Melecchas, những người Hồ ấy, trước mắt dân chúng, dã khác hẳn nhCrng người Lâm Ap. Đàng kia càng hung hãn, tàn bạo, hiếu chiến thì càng Icàm nổi cái ôn nhu, thuần hậu, hiếu hoà của đằng nàv, dể dồn đẩy cho Phật giáo thâm nhập vào tình cám của mọi tầng lớp người, ấy là vô vi thắng hữu vi, tiêu cực tháng tích cực vậy.

(II Đàn Hoa Chi cho sứ lới nói chiivện, Lâm Âp bắt giam sứ nên cuộc cầu hoà không thành và Đàn Hoa Chi xua quân dánh vào tận Khu Lật năm 468. Lại vua Lê

Đại Hành cho sứ là Từ Mục và Ngô Tứ Canh đến điéu dinh, vua Làm Âp cũng bắt giam sứ. nêm nãm 982 mói có việc Lc Đại Hành dcm quân vào dánh.

286

Những loại truyện cố về Chứ Đổng Tử. Trầu Cau, Tấm Cám nếu đã có lừ trước thì đến hồi này cũng đã được Phật giáo nhuận sắc về nhân quả, luân hồi, nghiệp dinh. Còn bao nhiêu truyện thán kỳ của Bà La Môn giáo thì người Việt không biết một chút gì củ (có thể nói ngay cho đến tận hồi gần đây nữa).

c h i í ơ n í ; II

NỀN THƯƠNG MẠI THỰC DÂN TRUNG HOA

T(')M I .u ơ c

Bản chất thương mại

Khinh thường người bản xứ

Đối với người Triing Hoa buôn hán là một thiên tính. Sự sốna chung thân mật cúa người đó hộ với dân bản .xứ đề làm lhưcfng mại là điéu kiện rất dễ dể dán ban xứ bị dồns hoá. Nhuìig sự dồng hoá có diỗn ra cũng không đốn mức làm mất dược giống dân canh nông bám chặt lấy đất để sống.

Sự bóc lột

Bởi V niệm thiên triều Trung Hoa là duy nhất sang trọng còn xung quanh là man di mọi rợ cả, người Tàu khinh người bản xứ nên trong cuộc sống chung vần có sự cách biệt. Chuyện người Tàu giấu của tham nhũng được và nhĩrng người làm thương mại vơ vét những mối lợi dù nhỏ và rơm rác mấy cũng không từ dã hàm dân bản xứ thù hằn.

Điều kiện để mất giống

Với guồng máy thuxrng mại tố chức rất tinh tế, dân bán xứ dcã bị b()c lột dến tận xu'o’ng tuv. Đã không cớ một công trình nào xây dựng cho địa phương cá. cũng không có một ý muốn cái tiến sinh hoạt cho dân chúng.

Trong tình thế ấy, cái dicLi kiộn dc mất giống như người Bách Việt bị hút Vcào dại khối Trung Hoa là người Lạc Việt lại khôn ngoan di cặp kc với kẻ dỏ hộ. làm tay chân bộ hạ cho chúng để chia sót mối lợi. Nhưng may người Lạc Việt đã có cái làng dể trử về quanh quẩn với

dất ruộng mà chịu dựng.

287

Người Trung Hoa ngoài những nhà cai trị và quân dội dã có những người dán sống lần với dân bán xứ dể sinh nhai, dồng thời phổ biến những nền nếp, phong tục, lập quán của họ dc dân bản xứ đồng hoá với

họ hết sức dề dàng. Bao nhiêu siốna Việt ở miổn Nam Trumi Hoa dã trở thành nsười Trung Hoa ca. Riêng có người Lạc Việt thoát ra được. Ta dã hicii rõ lý do, dã trình bày ở quyển 1 và phần 1 của quyển II này. Nhưng còn một lý do nữa ta ,sẽ xét ở dây. Đó là lý do của chính nền thương mại thực dân.

liẢN CHẤT T H ir ơ N t; MAI

Bán chất thương mại của người Trung Hoa là một cái gì thiên bám. Người ta dã có câu chuyện vui kể rằng có một chiếc làu di biên bị dám. hành khách bị cá vơi nuốt vào bụng, dến chừng người ta bán dược cá, mổ ra thì Ihấv nhà sư Âji Độ ngồi lấn tràng hạt, còn người Tàu thì đương ngồi gẩy bàn tính dể tính liền trơng cuộc buôn bán. Kể dã thực dúng rằng: đến bất cứ một dịa diểm nào, trước bất cứ một vật nàơ hay một việc nàơ, phản ứng dầu tiên cùa người Trung Hoa là tìm ngay cách buôn bán kiếm lời.

Việc buôn bán dòi hỏi diổu kiện sống chung với dân bán xứ, lai giống với người bán xứ và lai cả tiếng nổi lẫn phong lục nữa. Nhưng bởi cổ một ý khinh người ban xứ là man mọi và gặp một giống dân canh nông quyết bám lẩy đất dế sống nên việc đồng hoá tuy cổ diễn ra cũng văn không dạt dến mức làm mâì dược giống dân ấy.

KHINH THƯỜNí; N í ỉ ư ở l HẢN xứ

Người Trung Hoa vốn có sẩn ý niệm chỉ người của Thiên triều Trung Hoa ờ giữa là sang trọng và văn minh, còn người Đông, Tây, Nam, Bác đéu man rợ củ. Từ iricu dinh dốn quan lại cai trị. quân dội chiếm dóng cho dốn dân chúng tới thuộc dịa hàm ăn dều có cùng một ý khinh thường â'y. Họ lấy người dàn bà ban xứ làm vợ. Nhưng dàn bà của họ thì không bao giờ lấy người hán xứ cả. Vừa vì không chấp nhận người của họ hầu hạ người man mọi, vừa vì cái tục chia của cho con gái khi lấy chổng, họ không chịu dể cái lợi cho ngưòi khác giống. Thêm nữa, trình dộ chênh lệch về tri thức và ca thói sông dcã không làm cho chính người đàn bà của họ ưng chịu người bán xứ.

Sự sống chung vì vậy vẫn là cuộc sống cách biệt, khơi sâu Ihcm nhĩmg

hố mặc cám và dẩy mạnh hơìi người ban xứ về với dất ruộng, dất làng.

C H I YỆN N d l ỉ ờ l TÀU (H ẤU CỦA

288

Người ta còn kê chơ đến tận hồi gần đây những chuyện người Tàu giấu cúa trong những mộ cổ hay hang dộng. Đó là loại người thuộc hàng cai trị khi dirợc bổ nhiệm di nơi khác đã không thể đường hoàng mang

của cái com góp được ở đây về. Vì đi đường sẽ bị cướp, mà về đến triều đình sẽ bị các quan triều hạch hỏi, không nuốt trôi được. Cho nên, những quan cai trị ấy đã bí mật giấu của cải vào trong những hang đá, những hầm để sau này sẽ có bản đồ chỉ chỗ cho con cháu tới đó mà lấy. Khi chôn giấu của cải như vậy. họ đã cho ngậm nhân sâm và chôn sống luôn người đàn bà đã từng là vợ của họ, lại gắn trám đường vào miệng cùng cho biết một khẩu quyết đê khi có người nhắc đúng như thế mới chịu cho mở cửa vào lấy của, còn không thì sẽ ngăn trở đến cùng và cả sát hại nữa. Người đàn bà ấy là thần giữ của cho họ. Người con gái bản xứ lấy họ là để cuối cùng dược dùng vào việc đó.

Nhiéu chuyện khác kể rằng có nhiều người Tàu rách rưới lang thang đi bán thuốc dạo qua các làng xin ngủ nhờ ngoài quán, đoạn đến một đêm nào đó thì sáng ra, làng thấy có cửa hầm bí mật bật tung ra và những người Tàu ấy đã đi đâu mất rồi.

Các chuyện ấy có thực hay không? Chỉ biết rằng không phải hoàn

toàn không đáng tin trong thời cũ.

NGƯỜI TÀU TH ƯƠ NÍỈ MẠI

Đến những người thường dân làm việc buôn bán thì họ lấy người bản xứ chắng qua là chuyện vui chơi lại có thêm người giúp việc, chớ không tính chuyện ăn đời ở kiếp gì với nhau tại đây cả. Công cuộc làm ăn buôn bán phát tài có gom góp được thêm nhiều vốn liếng thì họ lo trở về xứ khuếch trương cơ sở lớn hơn. Công cuộc làm ăn không ra gì thì họ lo tìm nơi khác rồi rời tới đó, có khi họ ra đi đàng hoàng để vợ con lại với một lời hứa đầy thuv chung là sẽ qua thăm, rồi thường không qua nữa cũng thôi. Nhiều khi họ lừa những người đàn bà con trẻ ấy mà đi lúc nào không ai biết, để không bao giờ trở lại.

ớ thời cũ, không có một quy chế gì về những người con lai này, nên cuối cùng họ trở thành người Lạc Việt cả. Tuy cũng bị người đời mai mỉa nhưng trong tình đùm bọc của gia đình, họ hàng, người đàn bà và lũ trẻ bị bỏ rơi lâu dần rốt cuộc, vẫn được nhận về sống trong cộng đồng xã hội.

28 9

Đối với vợ con kết hợp tạm thời với nhau thì như thế. Đối với dàn chúng mà họ giao thiệp để buôn bán thì họ vơ vét cái lợi từ lớn nhất đến nhỏ nhất, không từ cái gì cá. Người giầu có lại cần dùng những món hàng sang trọng nhiều tién dế mua cho họ hưởng nhiều lợi. Người nghèo mạt cũng cần nhũng món hết sức ít liền để mua cho họ gom góp thành những món lợi lớn. Mà đc'n những hàng hoá dể họ buôn thì những giá cả, chiều hàng chạy hay đứng là tuỳ ở họ cả. Những mánh lới để mua rẻ bán đắt,

thật họ đã không thiếu gì. Những mánh lới đổ nắm giữ độc quyền trên thị trường và liéu trừ địch thú cạnh tranh người bán xứ, họ lại càng không thiếu gì nữa. Đến những mánh lới để giữ bí mật về giá cả cũng như sự điều chế hoá phẩm cho dân địa phương không tự túc phát triển được thì họ lại càng có nhiều hơn bất cứ một giống dân nào. Thành ra người dân sống chung với họ mà không bao giờ có thiện củm với họ.

Điều dáng lưu ý là những nhà buôn này đã không klii nào lại không biết lợi dụng cái thế chính quyền nắm giữ trong tay người đổng hưcTng của họ, hoặc Icà quân nhân, hoặc có khi là cả các quan km nữa đế doạ nạt và ức hiếp dân trong việc mua bán, mà người ta gọi là mua bán cửa quyền.

Đối với những quý vật mà quan lại hàng Lang người bán xứ cần phải có dể biếu xén chạy chọt V(ýi các quan cai trị thì chỉ riêng những nhà buôn của họ mới có, của dáng một họ bán lên mười cũng phải cắm đầu mà mua. Mua rồi, đưa vào quan, quan lại chuyển ra theo một lối bí mật cho họ, đổi lấy vàng bạc, để họ lại bán lần nữa, người mua dẫu có biết cũng dành chịu.

Đối với những sản phẩm quý và hiếm ở bản xứ (trân châu, ngà voi. sừng tê giác, trầm, quế, yến...), họ chỉ cán ngồi nhà cho giá rồi thuê người đi tìm hoặc dặt tiền cho vay trước nhưng giá mười họ chỉ trả cho một, không bán thì không đâu mua cả, mà không bán cũng không được nữa, khi đã vay tiền trước của họ.

Đối với tiền công xá trả cho kẻ ăn người làm thì dể hoàn thành những công việc hay phẩm vật bán giá thực cao, họ lại chi tính theo giá nhân công rẻ mạt của bản xứ.

S ự BÓC LỘT

Cứ như thế, sự bóc lột dã thật dến xương tuỷ của dân. Bao nhiêu tài nguyên thiên nhiên dều chỉ có một hướng chạy về cho người đô hộ. Bao nhiêu của củi dành dụm của dân, dân cũng không có cách gì giữ nổi để khỏi chạy về lay các chú, khi mình túng bấn nghèo nàn đi, mà lỡ lại gặp những tai nạn cần chạy chọt

ý Ì A m 1 ^ 1

/ \ r

Sự câu kết giữa quan lại, quân nhân, thương nhân đã làm việc tuần tự bóc lột và hết năm này sang năm khác như thế khiến cho dân lao khổ hết sức nhiều m.cà mỗi ngày cứ một nghèo di, trong khi kẻ dô hộ thì giáu như bỡn.

'" V é điêm này thì lợi hại nhãì là cái liệm cầm clồ. Thượng vàng hạ cám. cái gì còn đáng giá mang tới, họ cũng cầm cho cá, dể quá hạn là mất mà chuộc thì phái chịu một số tiền lời.

290

n h CN(ỉ c ổ n ( ì t r ì n h x â y d ụ N í ; c h o đ ị a p h ư o n ( ỉ

Những chuyện cùm kẹp, đánh đập, tra kháo là chuyện nói đại cương chính sách hà khác của quan lại Trung Hoa để trừng trị kẻ có tội và moi móc tiền của. Nó lộ liễu, tráng trợ và không đẹp gì để lúc nào kẻ đò hộ cũng đcm ra áp dụng. Nhưng sự hút máu thường xưyên của dân theo lối thương mại thực dân vừa nói mới là đáng kể.

Đặc biệt là dã không cổ gì cả'" bởi lẽ ngay nguyên lác của chế độ thực dán thương mại, người la không tính rằng người và cảnh ở thuộc dịa dcã có gì khiến người ta mến được như ở thưọĩig quốc. Thương nhân có tiền của thì vun đắp về cho quê nhà. Quan lại và quân nhân cũng vậy. Công trình xây dựng ở thuộc địa chỉ cốt sơ sài xơng chuyện thì thỏi‘“’. Cho nên tại chính quốc, hỗ việc làm ăn buôn bán phồn thịnh thì các dô thị và các thắng canh mọc lên như nấm. Còn lại Giao Châu suốt mấy trăm năm, người Trung Hoa làm giầu như hái ra của mà không hề nghe thấy ai nói dến một thắng Ciính hay một công trình quy mò nào được xây dựng cá.

Nghĩa là họ vơ vét được đồng nào thì đem di đồng ấy, không để lại

một chút gì để dân địa phương còn có thể kiếm dược hột rơi hột vãi.

Thêm lại có một một dám người nghèo nàn, hết sức dông dảo của họ từ Vân Nam, Tứ Xuyên. Quang Đông, Quáng Tây... đã lẫn vào đoàn thực dân dến kiếm sống ở thuộc địa. Lớp người này cũng chịu dựng được mọi sự lam lũ cực khổ để gồng thuê gánh mướn Vcà cũng len lỏi vào khắp hang cùng ngỡ hẻm dê nhặt nhạnh cả những đồ phế thải, từ cái giẻ rách đến mớ lông vịt, lông heo, hoặc để bán từ một xu đậu phông rang đến cái bánh, cái kẹo...

Cả hệ thống cứa guồng máy thực dân quả thật đã có những cái miệng hết sức lớn và muôn vàn những cái miệng hết sức nhỏ để hút hết cúa cai ở thuộc quốc cũng như hút hết những sinh lực của dân thuộc dịa. Mối lợi nào dược lớp trên chừa ra đã có ngay lớp dưới đón lấy. Đến mối coi là rơm rác mà lớp dưới dã chừa ra thì có lớp dưới nữa hút thêm cho một lấn nữa.

Trong guồng máy ấy lại có cả một nền nếp giúp vốn cho nhau giữa kẻ giáu và kẻ nghèo như dạt trước tiền dế buôn một đồ hàng, hay để dặt trạm phán phối hàng hoá, không bao giờ sợ mất, mà sự độc quyền mua bán dươc hoàn toàn bảo dảm.

Trái với lôi thực dân kỹ nghệ cứa phương Tày và thực dân tài chính cùa Mỹ. Không giống người Hy Lạp, chiếin dược thuộc địa thì xây dựng hùng vĩ để biếu

dươnu thanh thê và uy vũ.

291

Với tố chức như vậy, đã không thế có tư nhân nào người bản xứ cạnh tranh nổi trên thươns trường. Ây là chưa kể khi thị trường đã nằm gọn trong tay họ thì luôn luôn họ lại có nhữns cái trò tăng giá, hạ giá, cầm giá, để ăn cướp tiền bạc của dàn một cách trắng trợn. Toàn thể mọi người giầu và nghèo của thuộc quốc vì thế cứ dần dần hao mòn hết sinh lực đế nghèo mạt đi.

Trong khi ấy thì tất cả, nó lại vãn khinh mình là man di mọi rợ vì mình dói quá, khổ quá, nhục quá. Nó đẩy mình vào cái thế phải thí thân làm mọi việc nguy hiểm đến lính mạng dể kiếm sống như vào rừng tìm làm sản, xuống biến tìm hải sán. Nó không cần đi theo đốc thúc mà tự mình phải tự dốc thúc để kiếm cho ra cái gì để đổi lấy miếng ăn. Cái g'i ấy khi có thì đáng mười nó tra cho một cũng phái bán, vì không bán thì không biết có chỗ nào mua cả. Mà ví thử có vì đi kiếm như thế mà chết thì tự mình làm mình chứ biết ai là người chịu trách nhiệm để kêu ca?

S ự CẢI TIẾN ĐIỂU KIỆN SINH HOẠT

Đã hoàn toàn không có. Cá đến cái thiện ý cái tiến của người đô hộ đối với mức sống hết sức thấp kém của dân cũng không có. Mọi nghề cần và có thể làm việc chế biến lại chỗ thì dều giữ bí mật, giao cho người của họ làm. Còn thuê mượn người bản xứ là chỉ để làm những việc nặng nhọc không cần biết đến tài nghệ chuyên môn gì cả.

Đến nhũng cầu kỳ. đường xá, nhà ở, làng xóm, dân thuộc dịa muốn làm sao di dược, ở dược thì tuỳ sức mình, Icàm được đến dâu thì làm. người đô hộ trối kệ. Việc ãn, ở, nằm, ngồi, may mặc, đi đứng... tồi tệ đến dâu cũng mạc.

ĐIỂU KIỆN ĐỂ M ẤT G IỐ N(Ỉ

Đến tình trạng đau thương như vậy rồi, cái diều kiện dể mất giống và đồng hoá với người dô hộ, như những giống Việt khác ở miền Nam Trung Hoa, trớ trêu thay, lại là sự không bị nổ khinh miệt và sự khôn ngoan đi cặp kè với nó làm tay chân bộ hạ của nó mà chia sớt mối lợi.

292

Nhưng người Lạc Việt đã đành chịu sự khinh khi, đánh cam phận nohèo và quay vé làng với ruộng vườn cứa mình mà đùm bọc lấv nhau. Ây chính là sự dùng tinh thần bám lấy đất làm lợi khí chịu đựng chế độ thương mại thực dân mà giữ lấy giống nòi vậy.

C H U Ư N ÍỈIII

Tư TƯỞNG TRIẾT LÝ SỐNG CÒN

VÀ Sự GIÃY GIỤA TÌM Lốl THOÁT

TÓM LUỢC

Người Lạc Việt được hướng dẫn trong cuộc sống bởi một tư tưởng triết lý chịu đựng để sống còn. Sự chịu đựng đói khổ, rét lạnh, thiếu thốn, cực nhọc, đau đớn. nhục nhã, cá chịu đựng một thân phận người không lối thoát, khổng biết trốn đi đâu đã khiến người Lạc Việt chân thành nghĩ sốns không cho bản thân mình, sống là để chết và chết là để có cái sống cho con cháu và dòng họ.

Thái độ nghi ngờ và trí trá cũng là hai lợi khí sắc bén của kẻ yếu để

đối phó với kẻ mạnh.

Sự giẫy giụa tìm lối thoát

Nhưng giai đoạn lịch sử đau thương kéo dài mấy trăm năm đã nung nấu lòng người trong não nùng thê thảm và dược thể hiện qua giọng ngân nhuốm tiếng thở dài buồn bã và đều đều một điệu nức nở khóc than trong những ca dao.

Người ta đã đi tìm tu theo đạo Phật Mật Tông, có lẽ để có những

huyền năng đối phó với những người dô hộ.

Đến đây, dân Lạc Việt dã khôn ngoan tính biết tương quan lực lượng hai bên để không vọng động, và nhằm rất đúng những dịp có loạn ở Trung Quốc mới nổi lên. Như trường hợp Lý Bôn nổi lên nhân cái loạn Hầu Cảnh.

293

Người Lạc Việt được hướng dẫn trong cuộc sống bởi một tư tưởng triết lý chịu đựng để sống còn. Tuy tư tưởng ấy không được giũa gọt thành lời nhưng nó thấm sâu vào cuộc sống và tự thể hiện ra từ cuộc sống nên chi nhìn vào cuộc sống mới có thể đọc được tư tưcíng ấy.

s ự CHIU ĐỤNG ĐÓI K H ổ

Chịu đựníỉ cho đến quanh năm không được ăn một miếng thịt. Con cua đồng nhỏ như thế còn giã nát ra mà ăn từ chất nước trong vỏ của nó. Con tôm gạo chỉ bằng hột thóc cũng vớt hết mà ăn. Trứng cua, trứng cáy, con rươi, con nhộng đéu ăn hết, mà còn kể Icà những bữa đặc biệt. Chứ bữa thường chỉ rau muống với tương “Còn ao rau muống còn đầy chum tương’’ hoặc một qua cà muối và lùa với cơm, chan bàng nước lã. Mà cơm lại còn độn ngô, độn khoai, miễn ních được vào bụng cho khỏi cồn cào đã kể là ăn rồi.

SỤ CHỊU ĐỤNG RÉT UẠNH

Rét buốt xương đến cá còn chết cóng nổi lên mặt nước mà cũng lội xuống mò cua bát ốc, giầm chân dưới ruộng mà cấy lúa. Rét lạnh mà không quần áo, không chân chiếu, không than củi sưởi ấm, chí có một ổ rơm dể gò mình và giữ lấy chút hơi ấm, trong khi gió lùa lừ tứ phía vào cái lều tranh rách nát mà vẫn nói; “Khéo ãn thì no, .khéo co thì ấm”.

S ự CHỊU ĐỤNG TH IẾU T H ố N

SỤ CHỊU ĐỤNG c ự c NHỌC

Thiếu thốn dến dôi guốc không cần có, ghế ngồi, giường phản, bàn ghế, tủ cũng không cần. Cho dến bát dàn, nồi đất, đũa tre, toàn những thứ thật rỏ tiền cũng đã lấy làm được, không cần phải những gì sang trọng. Mà đi bộ từ sáng đến chiểu, lội lên lội xuống bì bà bì bõm, nếu cần thì cũng đi, không phàn nàn gì cả. Còn đau ốm thì bóp muối, nấu lá lẩu quanh vườn mà xông, dùng sức đề kháng trong người mà át bệnh đi, không thuốc men gì cũng được.

Cực nhọc để “hai sương một nắng” làm quần quật lừ sáng còn sương mù qua trận nắng buổi trưa dến chiều tà sương lại xuống, mà vẫn kiên nhẫn làm. không một lời phàn ncàn nào cả. Cực nhọc “đổi bát mồ hôi lấy bát cơm”. Cực nhọc cho dến con trâu trỏng thấy sáng trăng tưởng trời sáng thì thở dài, còn con người thì làm không kể ngày đêm gì cả. “Năm canh thì ngủ có ba, hai canh lo lắng việc nhà làm ăn”. Nhất là người đàn bà xay thóc giã gạo đến gà gáy nửa đêm. nằm chợp mắt một chút, thì gà dã lại gáy, để chổm dậy thái khoai đâm bèo cho lợn. Cực nhọc cho đến cằn người đi, không lớn dược Vcà chai đá da thịt ra, đến xậm màu nâu lẫn màu đất ruộng. Cực nhọc cho đến không phân biệt được giờ giấc, gà mới gáy nửa dêm đã chồm dậy quang gánh dể đi chợ.

294

Phái là một giống dân có sức chịu đựng như thế thì mới lì ra nổi với sự bóc lột của chế độ thương mại thực dân Trung Hoa. Nhưng không phai sự chịu đựng đcã chỉ như thế mà thôi. Còn phái kể thêm:

SỤ CHỊU ĐỤNG Đ A U ĐỚN

Khi bị trong vòng bắt bớ giam cầm của bọn quan lại đô hộ thì người dân Lạc Việt phai chờ đón tất cả những sự đánh đập, cùm kẹp. khảo tra. mà lính tráng của họ coi như những tục lệ để ra tién. coi như những trò giải trí bằng cái đau đớn, kêu khóc của kẻ khác, coi như công tác thiêng liêng dể được lòng quan trên.

S ự CH ỊU ĐỤN G NH ỤC NHÃ

Biết muôn vàn nào là nhục nhã mà kể. Làng xóm, nhà cửa, đình miếu... quân đội của họ xông xáo vào bất cứ giờ giấc nào. Chỗ thiêng liêng thờ tự của mình không là thiêng liêng đối với họ. Gặp mình thì họ hống hách nạt nộ, không có tội cũng tìm ra tội để chửi mắng phủ dầu. Tóm được vợ con mình thì họ có thể ngang nhiên cưỡng hiếp ngay trước mặt. Của cải của mình có gì hay mắt. họ muốn lấy là lấy. Cho đến cha mẹ, anh em, bà con, cả dòng giống của mình, họ muốn đánh chửi thế nào cũng được. Nếu lộ ra một chút gì Icà bất bình thì làng bị phá, nhà bị đốt, người bị giết. Cái dã man của giống dân ấy là cái dã man đến độ â y \

Người ta giận mà không dám thở, tức mà không dám chửi bới, trông thấy những hành vi xấu xa nhơ nhớp của họ mà không dám khinh ghét. Chỉ cứ lịm đi, nuốt nước mát mà chịu đựng. Thói quen sống hướng nội, lắng hết tình cảm vào nội tâm của người Lạc Việt chính đã được hun đúc từ thời này. Người ta nói: một sự nhịn là chín sự lành. Và nói chữ Nhẫn là chữ tương vàng, ai mà nhẫn được thì càng sống lâu. Nhãn và nhịn như thế, để coi cái thân phận làm người củ mình là dĩ nhiên phải khổ nhục như thế.

S ự CHỊU Đ Ụ N íỉ TH ÂN PHẬN MÌNH

Đó là một thân phận người từ trẻ đến già và chết, lúc nào cũng quằn quại

trong đen tối, hẩm hiu, không hề thấy một tia hi vọng nào thoát khố nhục.

Chúng tôi phỏng đoán rằng người xưa đã phải đào hầm để thường xuyên chui xuống đấy lán tránh, căn cứ vào sỏ' âm tượng hình đã rất nhiều để tả những vòm hang, những vũng, những nom clòm trong bóng tối, nước hình tròn như ong, om, ôm, um, ấp, oăn, uôn, oay... có rất nhiều mà chỉ có một âm quay duy nhất để tả những gì vui, những gì bay trên mây.

295

Đứa trẻ lọt lòns mẹ đã mang trong người hàng trăm thứ bệnh, mà hộnh gốc là đói. Chính cha mẹ nó có gì ăn đâu mà chẳng sinh ra nó ốm yếu? Rồi mẹ nó có gì ăn để có nhiều sữa mà nuôi nó? Rồi cha nổ có gì dư mà thuốc men tẩm bổ cho nó? Đành là nhờ trời: “sống thì nuôi, chết thì chôn”. Cái thân èo oặt, vàng vọt, cái thân như cái dái khoai, chí có cái da bọc cái xương, phải đến năm lên tám, hết cái hồi gọi là đốt sài mới hơi chắc rằng sống. Còn trong vòng tuổi ấy thì nuôi mà vẫn sợ.

Đứa trẻ sống thì khẳng khiu, mặt xanh như tầu lá, bụng như bụng trống đầy giun"' lê la trong rác rưởi, chịu đựng rốt lạnh, sợ hãi. hành hạ, khinh khi như người lớn, để kéo lê đời sống dến tuổi lấy vợ lấy chồng.

Lấy vợ lấy chồng là sự gặp nhau, kết hợp nhau, của hai cái thân phận đồng cảnh ngộ đau thương, để cùng chia sẻ với nhau những lo âu, sợ hãi, đói rách, buồn thương, cùng tạo nên những đứa con như mình ngày trước và cùng gánh chịu mọi cực nhọc, đau đớn, nhục nhã của một kếp người bị bóc lột.

Chịu đựng như thế cho đến lúc được chết trong canh già có con cháu, anh em, họ hàng, chôn cất cho là điều lấy kàm may mắn và vinh dự. Còn chẳng may là bị người đô hộ đánh chết, đánh nát thây, vứt xác cho diều tha quạ mổ.

Cả một thân phận người như thế, lấy dâu ra sinh lực để phấn đấu mà cái thiện điều kiện sinh hoạt của mình? Và thực thì tìm đâu ra nguồn yêu đời vui sống nữa?

Sau này cho đến tận bây giờ, sinh viên Việt Nam đi ra các nước ngoài du học, ca thế giới dều công nhận rằng; phần thông minh thì những sinh viên ấy đã không nhường sinh viên của bất cứ nước nào cả.

Nhưng sức cố gắng của đại da số chí đến dấy thổi dể trở về nước “khai thác” bằng cấp của mình mà kiếm sống. Còn theo đuổi sự học hỏi thêm nữa. sau cái học nhà trường, để thành những nhà bác học, những nhà sáng chế, dóng góp sự thông minh của mình vào sự tiến hoá của nhân loại thì sinh viên của ta lại phải nhường các nước, là những người họ đã vưcn hồi còn cùng hoc.

Tại sao vậy? Ây là tại cơ thể mỏi mòn mà rất nhiều thế hệ người qua đi, đã không hồi phục lại nổi cái sinh lực của tổ tiên đã bị nền thực dân thương mại Trung Hoa hút hết từ hồi Bắc thuộc.

Nhưng người Lạc Việt đã không bồng bế nhau dời khỏi đồng ruộng quê hương để đi nơi khác kiếm ăn. Một phần vì tiến xuống thì gặp người

Ta thấy toàn những danh từ mà có lẽ bệnh lý Nhi khoa trên thế giới không nước

nào có cả

296

Lâm Âp, tiến về Bắc gập người Trung Hoa, liến về Tây thì gặp núi rừng, về Đông gặp biển cả. Con người như đã bị vây và bị bắt phái đứng chững một chỗ mà chịu. Một phần nữa cũng lại vì sức mòn mỏi yếu đuối sợ phiêu lưu. Và phần chính là quá có sự thương mến quê hương làng mạc của mình, không nỡ bỏ nhà cửa mộ phần của cha mẹ tổ liên.

Người ta đã đành sống trên địa bàn cha ông đã để lại. Đành thế để dùng triết lý nhà Phật mà tự an ủi mình: kiếp này phải chịu khổ nhục đau đớn để trả nợ của tiền kiếp và hy vọng sẽ được sung sướng hơn ở kiếp sau.

Tuy nhiên, đấv là quan niệm về những biệt nghiệp của Phật giáo mà người Lạc Việt, bằng nền nếp sống của mình, đã pha trộn thêm nhiều sắc thái độc đáo nữa.

SỔNG K H ÔNG CH O BÁN THẢN MÌNH

Bởi lẽ GUỘC sống trong hoàn cảnh ấy đã nhiều buồn đau hơn là vui vẻ. Nếp sống tình cảm của người ta đã thấm sâu vào mạch máu nên không hề có ai ích kỷ chi nghĩ sống riêng cho bản thân để du hí hay hưởng lạc. Một chén nước mắm cúng dùng chung cho cả gia đình. Một nám gạo không dủ nấu cơm thì nấu cháo cho cả nhà, mỗi người húp một miếng để cầm hơi: “Chết một đống còn hơn sống một người”. Ây là người ta quan niệm rằng đến lúc sức tàn lực kiệt thì tất cả cùng chết, còn sướng hơn để sót lại một người cho người ấy đau buồn thêm.

Người ta quý mạng sống của mình không phải dể cho mình, mà để cho mọi người quây quần đùm bọc lấy nhau trong cả gia đình, để cho mọi người biết rằng mình còn người, mà chia vui chia buồn với nhau. Gặp canh hoàn toàn thất vọng, người ta cũng phải cố níu lấy cái sống, vì “một mặt người là mười mặt của” và “người còn thì của hãy còn”. Cho dến lúc thật nhắm mắt tắt hơi, người ta cũng chí ước mong được nhìn thấy dủ mặt con cháu và người nhà thì mới yên bụng để ra đi.

SỐNG LÀ ĐỂ CH ẾT

Là để sửa soạn cho cái chết mà mình muốn được có, giữa sự yêu thương, nhớ tiếc của mọi người, giữa sự yên tâm của chính mình rằng con cháu, gia đình sẽ yên ấm vui vẻ, và mình sẽ được chôn cất tử tế, không có diều gì đáng lo nữa*'*.

Khi sửa soạn như thế, người ta đã lo sửa soạn bản thân mình và hành vi, ngôn ngữ, cử chỉ, trong suốt dọc đời để lưu lại cái đức cho con cháu:

(I) Truyền thống này còn lại cho đến gần đAy, người ta sắm sẵn cái áo quan để trong nhà để chờ chết.

29 7

Câ\ xanh thì lá cũng xanh Cha mẹ lìiên lành dể đức cho con

Và con cái có nhờ được đức lành của cha mẹ mới gặp những may mắn ở đời, khiến làm ãn khá giả được. Đó là cái nhân không riêng cho mỗi nghiệp kiếp, mà là cái nhân quả truyền đời:

Người trồng cây hạnh người chơi Ta trổng cây đức để đời mai sau

NHUNG CH ẾT LẠI LÀ ĐỂ SỐNCỈ

Không sống cho cá nhân mình mà chính là cho con cháu. Và người ta đinh ninh rằng hồn còn ở âm cảnh, người ta sẽ còn phù hộ cho con cháu, còn trở về báo mộng, trở về run rủi cho con cháu gặp điều hay tránh điều dở và gàn quải những kẻ nào muốn hại con cháu mình.

Thế là cả cuộc sống khi có mặt trên thế gian, đến lúc chết và lúc đã ở ngoài thế gian, người ta đều chi nghĩ sống cho củ cái tập thể là dòng dõi của mình. Còn cũng là cho nó. Mất cũng hà cho nó. Và còn cũng là mất, mất cũng là còn vậy.

Tư tưỏng triết lý sống còn ấy được nảy ra và rèn giũa trong điều kiện sống đen tối của thế kỷ thứ III, thứ IV đã được dùng làm kim chí nam cho con người tìm ra lẽ sống, ca nguồn an ủi và nguồn hy vọng để chịu đựng. Nhưng ta sẽ cần phải nói thêm đến sự thể hiện của tư tưcmg ấy.

Chính cuộc đô hộ và cuộc chiếm đóng bằng quân đội của Trung Hoa đã làm người Lạc Việt âm thầm khôn lanh và quỷ quyệt thêm. Chỉ trong nhà, trong hầm, đóng cửa lại, người ta mới phóng tâm tin được nhau. Còn birớc ra khỏi nhà, cái gì của người đô hộ và tay sai cũng đáng nghi ngờ cả. Từ lời nói tử tế đến việc làm àn nghĩa đều phải nghi ngờ là có một dụng tâm xấu và ác độc. Nghi trước, rồi mới tìm bằng chứng cho sự nghi ấy là đúng*''. Thì thrrờng một trăm điều cũng có 99 điều là dúng thật.

Để đối phó với sự nghi ngờ ấy, bọn quan lại đỏ hộ gia tăng khủng bố thì người Lạc Việt lại bắt buộc phải khôn khéo để mềm mỏng, rồi đón ý rào lời mà thoát mình khỏi nanh vuốt của họ. Sự trí trá phải kể là đến tuyệt đỉnh. Trí trá cho đến độ công nhận cái gì của anh cũng hay, cũng phải, cũng tốt, cũng đẹp cả, nhưng trong bụng thì tôi không nghĩ thế. Cả nhận rằng mình hèn, mình kém, mình ngu dại cũng được nữa nhưng chỉ qua lúc ấy mà thôi''^'.

Đê cho truyền thống về nghi ngờ còn lại cho đến tận ngày nay. Nhiều tài liệu cổ của Trung Hoa ghi nhận người Lạc Việt là xảo trá.

298

Trí trá và nghi ngờ là hai lợi ích sắc bốn của kẻ yếu để đươne đầu với chính quyền đô hộ mà tồn tại.

Tuy nhiên, sự chống đối chỉ là chống đối tiêu cực. Chứ toàn dân tộc kể như đã gần kiệt quệ hết sinh lực rồi. Cho nên suốt 155 năm (từ 265 đến 420 của nhà Tấn), những việc rối loạn trong triều Tấn luôn luôn có, mà ở Giao Châu người Lạc Việt đã không tập hợp nhau nổi đê có một khởi nghĩa lón nào.

Nào là loạn Bát Vương, vua Tấn phong cho các thân vương, đến khi

chết, các thân vương ấy nổi lên đánh nhau suốt 16 năm.

Nào là loạn Ngũ Hồ, là nám giống Hồ ở Tây Bắc nước Tàu: rợ Hung Nô. rợ Yết (Mông cổ), rợ Tiên Ti (Mãn Châu), rợ Chi, rợ Khương (Tâv Tạng) đã xâm lăng bát vua nhà Tấn, rồi lũ lượt xưng đế, xưng vương, dựng thành trước sau 16 nước.

Rồi sau đấy 120 năm nữa lại là Tấn đổ, cho Tống, Tề, Lưong lên thay*'’. Biết bao nhiêu những cuộc rối loạn như thế mà người Giao Châu khổng lợi dụng để nổi lên được thì dứng là tại có quân đội chiếm đóng và quán đội ấy đã hành hạ dân dến kiệt lực rồi.

Lòng người dược nung nấu trong não nùng thê thảm. Và giọng ngân của người ta cũng nhuốm tiếng thở dài buồn bã và đều đều một điệu trong ca dao. Đó là cái điệu nức nở của những tiếng khóc than: Ăn cưm / với mâm / thì ngắm / về sau Ăn cơm / i’Ớ7 rau / mịâm sau / ngắm trước. Lận dận / lao dao / phài sao / chịu vậy Tới sô'! ăn mày / hị gậv / phải mang Gái thương chổng / đương dông / buổi chợ Trai thương vợ / nắng cpiái / chiều hỏm Én hay thấp / miía ngập / hờ ao En hay cao Ị mưa rào / lại tạnh

Những câu ca dao này đã có điệu buồn bã, ủ ê, đều đều và dài

thườn thượt của những tiếng khóc than nên ta chắc đã có từ thời ấy.

S ự í ỉ l Ẫ Y (ÌIỤ A TÌM LỐI TH O Á T

Trong tình thế den tối tột cùng â'y, người Lạc Việt nào cũng chỉ dám đật hy vọng vào một phép mầu nào dó đến giải cứu cho. Có thể dã có người đi lu tiên học đạo, mong có những pháp thuật cao cường để dùng đối phó với quân Tàu. có thể đã có người không ngại hiểm nguy đi

Đốn 542

290

sâu vào rừns nl, hay vượt biển để cầu học ở xa. Cũng có thổ có người đã không nề gian khổ gắng công tu theo bất cứ lối tu khổ hạnh nào, trong thời gian lâu tới độ nào miễn luyện được một phép thần thông.

ở một xã hội nông nghiệp bán khai thì ta có thể chờ đón những điều mà ngày nay coi là phi lý ấy. Kết quả có người nào thành công viên mãn không? Ta không thấy nói. Nhung ta thấy có kết quả của sự tìm đạo ấy, là sự du nhập của Ân Độ giáo Mật tông và Phật giáo Mật tông, hồi ấy đương phát triến mạnh ở miền biên giới Ân Độ như Assam, Miến Điện, Tây Tạng và lan tới vùng núi Ai Lao, Vân Nam. Thật trái hắn với điều các tác giả phương Tây như Perrand, Coedès đã hiểu, chính người bản xứ đi tìm đạo Phật tới, còn người truyền giáo đã không cần phải mưu mẹo thủ đoạn gì mới truyền đạo được"’.

Người Lạc Việt đã rất thực tế và bắt buộc phải có tinh thần thực dụng trong hoàn cảnh của mình để nhìn thấy ở phép tu của Mật giáo ấy, cũng như ở sự thờ cúng có những gì để lự cứu và cứu cả dòng giống mình. Ta hãy đọc sự tích chùa Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện là những chùa cổ nhất của ta trong phả ký của chùa Đại Thiền, xã Phù Ninh, phủ Từ Sơn (Bắc Ninh) .sẽ hiểu rõ. Theo phả ký thì Luy Lâu là nơi phủ trị của Sĩ Nhiếp. Qua đời Đào Hoàng làm Giao Châu mục thì phủ trị đã dời về Long Biên rồi.

Chính từ đời Đào Hoàng này (thuộc Tấn) trở di, người Lạc Việt mới càng phải giẫv giụa để tìm lối thoát. Nên người la đã tìm về với Phật giáo Mật Tông.

Lối thoát gần và thiết thực nhất là sao tránh dược nạn hạn hán mất mùa. Nhất là ở vùng Kinh Bắc, Luy Lâu (Bắc Ninh, Bắc Giang) theo sự nghiên cứu về thổ vũ gần đây của người Pháp thì mùa nắng mà bị chừng mười ngày chậm mưa là vùng ấy coi như bị hạn hán và cày lúa chết hết. Vì vậy, các chùa cổ, nổi tiếng linh thiêng để cầu đảo vũ như Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện đều toạ lạc ở vùng ấy cả’^’.

Trong sách Lịch sử tưrướiií> Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục (tr. 66, 67, 68) có nói đến những biến chuyển chính của giáo lý Phạt giáo. Đầu tiêu là con đường A La Hán, tự lực giác ngộ. Sau tới con đường Quan Âin Bồ Tát của khuynh hướng giáo lý Đại thừa sùng bái Tam thân Phật tổ, có thể giúp tha nhàn thành tựu cứu cánh giải thoát. Và cuối cùng tới Mật giáo gán cho âm thanh, chủng tử, và câu kệ, lời chú. một ý nghĩa ma thuật để xây dựng cá một siêu hình học về lễ nghi có khả năng luyện thành nhũ’ng pháp thuật thần thông.

Dòng Phật giáo Mật tông thịnh hành ơ các xứ Đống Nam Á châu vào đầu CN. Xem bài Nlìữnữ hội rước đảo vũ của Nguyễn Bá Lăng trong tạp chí Vạn Hạnh

số i s / l 1 - 1 - 1966.

300

Lối thoát thứ hai là trong cuộc quấy phá liên tiếp của Lâm ấp sao cho thoát chết được khi bị phải phu phen, tạp dịch, phục vụ cho quân đội Tàu ngăn giặc“ *. Điều này cũng hoàn toàn chỉ còn nhờ ở Tròi Phật che chở, nếu không khôn lanh lán trốn được.

L O Ạ N H Ầ U C Ả N H

Lối thoát thứ ba là nghiên cứu "kỹ thực lực của người và của mình để không manh động, trong khi lúc nào cũng nung nấu một ước nguyện thoát vòng đô hộ. Cho nên, năm 420 nhà Tấn đổ vì Lưu Dụ cướp ngôi lập ra nhà Tông, hưng khởi ở phương Nam, còn Nguy gồm thấy được Lưong, Yên, Hạ ở phưong Bắc, nhưng chia đôi thiên hạ thành Nam Bắc triều (420 - 588) quân đội Tấn chiếm đóng Giao Châu, người Lạc Việt đã khôn mà không nổi dậy. Ca trong nhũTig dịp thay đổi triều chính liên tiếp của họ ở chính quốc, cũng không nổi dậy nữa. Như Bắc triều thì hết Nguy đến Tề, Chu nối nghiệp làm vua. Và Nam Irieu mà Giao Châu trực thuộc, thì hết Tống (479) đến Té (501) Lương nối nghiệp trị vì dến 556 mới sang tay nhà Trần (557 - 587). Chính sự ở chính quốc đổi thay đã không làm thay dổi chế độ quân đội chiếm đóng ở Giao Châu. Người Lạc Việt đã lại phái chờ dến năm 541 có loạn Hầu Cảnh ở Trung Hoa ihi mới cựa mình nổi dậy.

Năm ấy là năm thứ 39 dời vua Vũ Đế nhà Lương. Khi chiếm được nước của Tề, Lương Vũ Đế lèn ngòi đã giết hại các tôn thất nhà Tề. Tiêu Báo Dần là một người trong hàng tòn thất ấy đã chạy qua Nguy mượn binh vồ dánh bại. Sau Nguy có loạn chia ra Đông Nguy và Tây Nguy thì tướng Đông Nguy là Hầu Cảnh cử binh làm phản hàng Tây Nguy và xin quy phục nhà Lương. Lương Vũ Đế phong Háu cảnh làm Hà Nam Vương lại sai cùng với

con mình Icà Tiêu Uyên Minh đi dánh Đông Ngụy.

Uyên Minh bị tướng Đông Nguy là Mộ Dung Thiệu Tôn bắt, rồi

Thiệu Tôn lại tiến dánh Hầu Canh.

Háu Cảnh thua, chạy vào Nam chiếm luôn dất Thọ Xương. Đến khi Nguy hoà với Lương thì Hầu Cảnh cử binh váy Kiến

L Ý BÔ N K H Ớ I N ÍỈH ĨA

Nghiệp, hãm Đài Thành, khiến vua Vũ Đế đói mà chết.

Thứ sử do vua Vũ Đế nhà Lương cử đến Giao Châu là Tiêu Tư. Tiêu Tư vốn người tàn bạo. lại tầm thường, hèn hạ, chỉ lo chuyện vơ vét

nliữim cuộc xâm láng của Lâm A|-).

Xem chương

301

mà chểnh máng việc quân, nên khi Lý Bôn''^ nổi lên vây hãm phú trị Long Biên thì đem vàng dâng cho Lý Bón để được thoát thân về Tàu.

Lý Bôn lên ngôi, xưng là Nam Việt Đế, lấy quốc hiệu là Vạn Xuân và đóng đô ở La Thành tức là Hà Nội bây giờ, trị vì được 7 năm lừ 541 đến 548 thì bị quân Lương của Trần Bá Tiêu vây hãm ở Động Khuất Liêu rồi bị bệnh rốt rét mà mất.

T R IỆ U Q U A N G P H Ụ C D ÙN G DU K ÍC H C H lẾ N

Quân Trần Bá Tiêu là đoàn quân được vua Lương cử đi lần thứ ba. Hai lần trước, lần thứ nhất năm 542 các tướng dùng dằng không dám tiến nên bị bắt về làm tội, và lần thứ hai (544) tướng chỉ huy chưa tới biên giới đã bị bệnh chết. Lần thứ ba (545) mới có nhũng trận giao tranh kịch liệt, mà cũng phải hai năm mới khiến nổi Nam Việt Đế rút về Khuất Liêu, giao lại binh quyền cho tả tướng quân Triệu Quang Phục‘“'.

L Ý T H IÊ N B Ả O CŨN (Ỉ M U U Đ ổ K H Ô I P H Ụ C

Triệu đóng quân nơi dầm lầy Dạ Trạch thuộc Hưng Yên bây giờ nên có tcn gọi Dạ Trạch Vương. Cứ đêm tối dùng thuyền dộc mộc đem thuỷ quân ra đánh cướp lương thực và làm tiêu haơ lực lượng cúa dịch. Cuộc chiến, sử khỏng chép rõ kéo dài mấy năm, chỉ biết Trấn Bá Tiên không rút dược chân ra, trong khi ở Tàu có loạn Háu Cảnh, rất cần dến Trán về giai cứu giá. Cuối cùng Trần cũng phủi về, trao lại binh quyền cho tủ tướng Dương Sán. Triệu thừa dịp tấn công đuổi được quân Lương, lấy lại thành Long Biên và lèn ngôi xưng Triệu Việt Vương.

Lý Thiên Bảo là anh họ vua Lý, khi bị quân Trần Bá Tiên dánh đuổi dã chạy về phía Dạ Năng (Ai Lao bây giờ) chiếm dất này xưng là Đào

Lý Bòn còn có tên là Lý Bí, người huyện Thái Bình, thuộc Phong Cháu lức Sơn Tây ngày nay. Vốn tổ tiên là người Tàu chạy loạn từ đời Hán qua Giao Chàu đến óng đã được 7 đời. ô n g làm quan với nhà Lương coi Cửu Đức (Hà Tĩnh), ô n g liên kết các anh hùng hào kiệt và được những nhàn tài kiệt hiệt như Triệu Túc (với con là Triệu Quang Phục) và Tinh Thiền phụ tá. Tinh Thiền đã từng đốn triéu Lương cầu cõng danh nhưng vì không thuộc dòng thê phiệt nên quan triều nhà Lương dìm di, chi cho giữ chức Quang Dương Môn Lang nghĩa là một thứ quan giữ cửa cung Quang Dương. Tinh Thicn bất mãn và quay vể phò Lý Bôn.

Có tài liệu cúa Maspéro nói rằng vua bị rợ Liêu hạ .sát đem đầu dâng Trần Bá Tiên dể cầu hoà. Sử Tàu cũng chép là rợ Liêu giết nhà vua vào nãm Đinh Mão (.‘Ĩ47). Madrrolle cũng nói vua bị giết vào năm này tại xứ Thái thuộc Tuyên Quang. Hiện nay cách Tuyên Quang 10 cây số trên dường sang Yên Bái có dén thờ cùa vua ờ trên núi, là chồ vua bị giết.

302

Lang Vương rồi chiêu binh mãi niã mưu đồ khôi phục. Khi nửa chừng, Thiên Bao mất thì giao quyền cho cháu trong họ là Lý Phật Tử năm 557.

303

Lý Phật Tử về yêu sách Triệu Việt Vương quyền nối nghiệp họ Lý. Hai bên có đụng độ với nhau mấy trận, cuối cùng giảng hoà rồi chia đất cùng cai trị, cho đến năm 571, Lý I^hật Tử trở mặt thình lình đánh Triệu Việt Vương khiến Triệu phải chạy đến sổng Đại Nha (huyện Đại An, Nam Định) rồi nhảy xuống sông tự tử. Lý Phật Tử còn trị vì đến năm 602. Những sự việc vừa kể kéo dài 60 năm lừ 541 tới 602, vừa đương đường chiến đấu chống lại quân Lương, vừa đánh du kích tại đầm lầy, vừa bôn dào ngoại quốc chiêu binh mãi mã về khôi phục, đủ chứng tỏ dân Lạc Việt quyết liệt dấu tranh dế thoát vòng đó hộ.

Sự XÂY DỰNG NỂN MÓNG

CỦA PHẢT GIÁO THIỀN TÔNG

CHƯƠNG IV

róM Lược

Vì Phật giáo gặp pháp nạn ở Trung Hoa, pháp sư Ấn Độ Ti Ni Đa Lưu Chi lui về Giao Châu trú tại chùa Pháp Vân hoằng pháp và dựng nên dòng Thiền tông thứ nhất.

Chủ trương của Thiển tông

Đây là một biến cố trọng đại. Nó chấm dứt thời trạng lẫn lộn giữa các khuynh hướng tín ngưỡng hỗn tạp của Phật giáo thần thồng với triết lý duy thức, Bà La Môn giáo, có phép tu Yoga cùng thần đạo, với những tứ pháp (vân, vũ, lôi, điện). Nó nâng mục tiêu sự tu hành lên khỏi cái dích thực dụng bị tác động từ mê tín dị đoan và mở ra một chân trời mới: tu để đến cõi Giác.

Phương pháp truyền đạo của Thiền tông

Hoá hợp cuộc sống kỳ bí ở nội tâm với cuộc sống kỳ bí ở vũ trụ để đạt đến sự đồng linh cảm, linh ứng mà thấu suốt cuộc tuần hoàn cùng toả tình thương yêu ra cùng khắp.

Nhà tu thiền đắc đạo

Bất lập văn tự, lấy tâm truyền tâm gây những va chạm mạnh về tâm lý cho môn đệ tự mình tìm tòi và tiến bước.

Nhà tu ngồi tù' bi lừ tại nên toả huệ tàm ra cùng khắp cho người đời dịu lòng căm hờn hằn học xuống mà tin ở thiện tâm và nhân tính cúa nhau, để đãi ngộ nhau là người tất cá.

305

Nhà tu ấy dã hết sức cần cho cuộc sống xã hội, dù không lao tác gì cả. ở những năm cuối của đời Lý Phật Tử (580), Giao Châu, (gọi là nước Vạn Xuân), đã gặp một duyên may là Phật giáo ở Trung Hoa bị Chu

Vũ Đế bách hại. nén pháp sư Ân Độ Ti Ni Đa Lưu Chi (Vinitarucci) khỏnư hoằns pháp được, phái lui vé Giao Châu, trú tại chùa Pháp Vân oiáng dạy Phật Pháp và dựna; nên dòn» Thién Tòng thứ nhâV’. dấy dòng Thiền bát dầu náy nò' ở xứ la.

Đây là một biến cố trọns dại. Nó chấm dúl thời Irạnư nửa lỏi nửa sáng, lán lộn luns tunư giữa các khuynh hướng tín ngưỡng hỗn tạp của Phật giáo thán thông với triết lý Duy thức, của Bà La Môn giáo với phép tu Yoga, của thần đạo với những Tứ pháp (Vân, Vũ, Lôi, Điện).

'"Trong sách Thicii học Việt Naiìi. Nguycn Đáng Tliục dã dẫn lời của Đại Nam 'ihién Uvêh Truyền Đăní> Tập Lục như sau;

Thicn sư Ti Ni Lưu Chi (\'initarucci) ớ chùa Pháp Vãn, làng cổ Châu (Bác Ninh - Siêu Loại), thành Long Biên là người nưức Nam Thiên Trúc chùng lộc Bà La Mồn. Thuở nhỏ đã ôm ấp cái chí khác dời, di khắp Tày Trúc dc cầu tâm â'n cua Phật. Pháp duyên chưa gặp chống gậy tích trượng sang Đông Nam.

Đầu năm Nhàm Ngọ là năm thứ VI. niên hiệu Đại Kiến dời Trần Tuyên Đê (513) mói dẽh Trường An. gặp lúc Chu Vũ Đõ phá diệt Phật pháp, ông muỗn dến dất Nghiệp (Hổ Nam). Bấy giờd'am Tổ Tăng Xán vì cớ lánh nạn mang y bát dốn ẩn ở IIÚI Tư Khóng. Ngẫu nhiên ỏng dược gặp Tổ. thấy cử chi khác thường dem lòng khởi kính, dến trước mạt vòng tav ba lán. Tổ vẫn nhắm mát ngồi im khổng nói. Trong lúc đứng chờ. suy nghĩ, ông khoát nhiên như có tâm dắc diều gì, ông licn cúi lạy ba lạy. TÓ cũng chí gật dáu ba lán. ồ n g bèn lùi lại ba bước, thưa:

- Bây lâu dệ tử chưa dược có co' hội, xin Hoà thượng mử lòng dại lừ dại bi cho trò

này dược háu hạ bén mình.

Td nói: Con nên mau mau đi vổ phưong Nam mà giao tiếp, không nên ứ lâu tại dcìy. Óng bèn từ biệt, dcn trụ trì ở chùa Chỗ Chí thành Quáng Châu. Nãm thứ sáu niên hiệu Đại Đê dịch xong bộ kinh Tượny Dcải Tinh Xlí Kinh (Gaya Sul Sutra). Báo Niihiệp Sai Biệt. Quãng tháng ba năm Canh Tý là năm thứ 11 niên hiệu Đại Tường nhà Hặu Chu (580) ông mới sang nước ta. trụ trì ớ chùa Pháp Vân và lại dịch dược bọ kinh 7V5/;g Irì (Mahayana vaipulya dharani sutra).

Một hóm óng gọi dệ tứ Pháp Hiền vào buồng mà báo: Tăm ãn cùa chư Phật không có lừa dối. tròn vẹn như Thái Hư, không thừa, khòng thiếu, không di, không lại, không dược, không mât, khổng gióng, không khác, không thirờng còn, không gián doạn, vốn khống ncú sinh cũng không noi diệt, khỏng xa cách mà khống ph;ii khỏng xa cách, chi vì dôi vói cái duyên lii vọng mà phái dật ra cái tên gia ihuyếl dỏ thòi. Cho nèn các Phật trong ba thê giới cũng lấy Tâm ấn như thố, dến la và ngirưi cũng dược Tâm iin nhu' thê, cho dến các loài hữu tình, vò tình cũng dược Tám ân như thố.

Vii Tổ ta là Tăng Xán, hổi ấn cái lãm này cho la, có bao kíp dến phương Nam giao tièp, không nên nán ná mãi tại dây. lừ bấy dốn nay ke dã lâu rồi. Niiy ta gặp ngươi, quá hợp với lời ký chú, ngirơi nén khéo giữ lấy Tâm ấn, dến lúc ta di rồi dây! Nói xong chắp tay mà inấl. Pháp Hiên làm lẽ hoả thiêu, thu lấy xá lị năm màu dựng tháp. BâV giờ là năm Giáp Dần, là nãm thứ XIV niên hiệu Khai Hoàng dời Tuv Vãn Đ ế (605).

306

N(5 nâng mục tiêu sự lu hành lên khỏi cái đích thực dụng do tác động của mê tín dị doan và mở ra một chân trời mới: tu đế đến cõi giác, để tự siái thoát mình và tinh thần mình khỏi những điều cố chấp (cả chấp ngã lẫn chấp kinh, chấp pháp) cho tâm linh mình hoàn toàn trong sáng mà nhìn thấy chân lý, cũns như hiểu chân lý và sống cái chân lý ấv.

Giữa xã hội den tối ở cuối thế kỷ thứ Ví sang đầu thế kỷ thứ VII, con người dã mất lòng tin ở nhân tính của nhau. Nếu đạo siáo lại chỉ đê làm phương tiện tranh đấu (dù là cho một chính nghĩa cao cả là giải phóng) thì đạo giáo cũng vẫn dẫn thêm người vào sâu con đường mê lầm, để oán cừu khêu gợi oán cừu. cái khổ vẫn không sao dứt được khỏi vòng nhân quả liên miên.

Cho nên dòng Thiền lông khi đặt được nền móng ở Giao Châu thì bôn cạnh nhũng ánh sáng từ bi của tôn giáo đã có cả một hệ thống triết lý và một nhận thức quan lìm đến tận bản thể của mọi sự, vật và việc, mà không ngừng lại ở hình danh sắc tướng bên ngoài.

Chủ trương căn bản của Thiền tông là hoá hợp cuộc sống kỳ bí ở nội lâm với cuộc sống kỳ bí của vũ trụ. Trong sách Văn Học Việt Num Thời Lv. chúng tôi viết:

Khi sự đồng linh cảm, linh ứng này đã diễn ra, người ta không còn bị huyễn hoặc bởi hiện lượng giới, không còn bị luẩn quẩn ở những sắc thái bề ngoài của chân lý, không còn lấy phương tiện Icàm cứu cánh, lấy kết qua làm nguycn nhân, mà người ta cảm thông được với cả một cuộc tuần hocàn của vũ trụ. từ những cái vô cùng lớn đến những cái vô cùng nhỏ, ở hiện tại, ở quá khứ và ở vị lai. Người la không những hiểu cuộc tuần hoàn ấy. Người ta thấy cuộc tuần hoàn ấy, và sống cuộc tuần hoàn ấy.

Và khi đã sống thực cuộc tuần hoàn ấy, người la vui được với cái vui của muôn vạn chúng sinh, buồn được với cái buồn của muôn vạn chúng sinh, đau đớn được với cái đau đớn của muôn vạn chúng sinh'" khiến người ta toá được tình thương yêu ra cùng khắp và nlùn thấy được ử cùng khắp, lình thương yêu mà người ta gọi là phật tính.

Có thể nói Thién tông là một tông tiêu biểu cho tất cả các tông của Phật giáo. Đó là một tỏng đã nói dược ra lời tối hậu của Phật giáo về bản thể của vũ trụ'^" một tông vượt lên trên Duy thức tông, coi hoàn vũ chỉ là

Chúng sinh là gồm tất cá những sinh vật trên thế gian và tất cá những vật mà

người ta quen cho là vô tri giác.

Một bác sĩ người Mv là Saưndcrs có bàn về Thiền tông như sau:

“Thiền tỏng không phái là bài duy tâm luận một cách tuyệt đối (absolute idealism) cũng không phái là bài hư vỏ luận một cách tuyệt đối (absolute nihilism) Ông Khuê Phong nói rằng: “nếu tâm và cánh dều không có cả thì ai là người

307

ảnh tượng của một cái đại hồn (một đại hồn bàng bạc khắp tất cả. từ trong lòng ngọn cỏ lá cây, cho đến khắp không gian vô hạn).

Từ quan niệm đại ngã về vũ trụ đó, người ta đã đến quan niệm đại ngã về nhân sinh, coi bản ngã của cá nhân chỉ là một với đại ngã của hoàn vũ. Mỗi con người vừa là một giọt nước trong đại dương của hoàn vũ mà cũng vừa là cả đại dương đó.

Trong mỗi con người đều có tàng chứa củ Vô cùng, và một khi con người tàng chứa Vô cùng thì cái sống của nó phải hoà nhịp, phải cảm ứng, phải đồng nhất với Vô cùng.

Chính Thiền tông dã dùng quan niệm của Duy thức tông nhưng lại vượt lên trên một bậc để nhận chỉ có một đại ngã và nhận vạn vật đồng nhất thể"'

BẤT LẬP VĂN Tự

Thiền tông chủ trương bất lập vãn tự, lấy tâm truyền tâm. Thành ra chỉ có thể dùng trực giác thông cảm thì mới mong hiểu được phần nào, còn dùng đầu óc và phương pháp duy lý bây giờ thì không sao mà “thể” được đạo.

biết được là không có ấy? Lại nếu khống có pháp gì là thực thì do đàu mà hiện ra những cái hư vọng kia? Vả hiện thấy những vật hư vọng của thế gian kia, khổng cái gì mà không phải nhờ có thực pháp mới thành ra được. Như không có nước là thứ lính ướt và không bao giờ thay đổi kia thì sao có .sóng là cái giả tưởng hư vọng nọ? Như không có cái gương trong sạch và không bao giờ thay đối kia, thì sao cỏ những cái btíng khác nhau nàv? Lại như mộng là hư vọng đấy nhưng nó phái do ỏ người ngù say mà ra. Bày giờ cho tâm và ánh dều là không thì mộng ấy sẽ nhân đâu mà vọng hiện ra được? Đó là lời thiên Nguyên nhân luíẬn trong kinh Hoa nghiêm bác cái thuyết tâm luận vậy

Thực ra thì Thiền Tống

là một bài thực tại luận (Panthéistic-rolism) về chủ

nghĩa vạn hữu nhất thể”.

Thuận Đức Lý Siêu Nhứt dịch chữ Nho. Đồ Nam Tứ dịch quốc ngữ đăng ở Đuốc Tuệ từ số 90.

Nhưng sau đó người ta cần biết rõ ban thể cúa cái dại ngã đó cũng như trông dại

dưcrng chưa đủ, mà phái nếm vị nước mặn của dại dương.

Song bản thể của đại ngã không giống mọi vật mà ta thường quan niệm nên không thế lấy lời mà tả hay lấy trí mà tưởng dược mà chỉ có trực giác, chí có hoà mình làm một với cái vô cùng, với cái đại ngã dó.

Cho nên Thiền Tông chủ trương bất lập văn tự Vcà chi dùng phép tâm truyền, chí

dùng sự yên lặng mà dạy.

Dĩ nhiên là nhiều khi VÌ phưtmg tiện những người trong phái Tliiền Tông cũng phải

thuyết pháp, nhimg lời nói ra chi là tạm và lời nói cuối cùng vẫn là sự yên liặng.

308

Trong lời dẫn sách NỊịhiên cứu vê Ramana MaharsM‘\ Jean

Herbert đã viết:

Maharshi cũng như hầu hết những vị Phật sống, đã nhận thấy râníỊ: Tiếng nói và mớ hiểu hiểt của người ta dính Hên với tiếnu, nói ấy chỉ lù những khí cụ thỏ so' có thể giúp dược cho ta vào đạo và hướng dẫn những hước di dầu tiên của ta trom> CỎIU> cuộc tìm dạo; nhưng dến những chặng tiến hoá sâu xa hơn thì nó hoàn toàn hất lực. Sự V thức về nhất nguyên, vé chân như chì có thể truvền cho nhau troníỊ im lặmị. Vì tất cả tiếng nói của loài mịười dến lúc ấv chỉ khiến sai hiệt chán tướng của nó mà thôi...

‘‘‘'Nhrmg lời nói của Ngài, trà lời cho những câu hỏi, hay dứng hơn là trả uyi cho nhữm> trạiiíị thúi tinh thần mà Ní^ài nhận thây ở nơi n^icời hỏi phần nhiều là có mục díclĩ ÍỊÙV cho ìUỊười ấy một va chạm, dể khiến tự mình tìm ròi thêm và tiến hước...

“5'// tiến hước trên con dư(yfĩí> tìm dạo này, dối với Ní>ài, lại có tuỳ trình dộ và tuỳ nhân duyên của từng ngưcyi mà khác di. Mỗi m>ười đều được hoàn toàn tự do, hiểu theo lối của riêng mình những lời dạy của Ní>ài...

'"Ngay dối với kinh Ulladu Narpadu của Ngài, dã có một sô hết sức lớn nhữníị hàn dịch khúc hẳn nhau (ở lời cũruị như à từnq đoạn thơ), hoặc hằng tiếmị Phạm, tiếm’ Anh, tiếng Pháp háy hằng những tiếng mới của Ẩn Độ nlỉinu> chắc chắn khômị có hdn nào lại hị tác giả là chính Ní>ài coi là sai với ý của mình".

Phép truyền dạo của vị Phật sống mới ấy ở Ân Độ quả không khác chút gì với phép truyền của ngài Ti Ni Đa Lưu Chi (594), vị tổ Thiền tông ở Quáng Châu qua truyền cho Pháp Hiền thiền sư (605) ở nước ta'"*.

)|) Nhà xuất bán Adyar, Paris, 1949, trong loại sách Nlĩữn^ bậc thầy vê rinh thần của Ân Độ hiện đại.

Sách Việi Nam Phật giáo sử lược của Tliượng Toạ Mật Thể trang 84 có chép: “Nhị tổ phái Thiền tông ở nước ta là Pháp Hiền Thiền Sư. Ngài họ Đỗ, quê ở quận Chu Diên (tính Sơn Tây bây giờ) khi mới xuất gia thọ giới vứi Quang Diên đại sư ở chùa Pháp Vân. Đến khi Ti Ni Đa Lưu Chi ở Quảng Châu qua nước ta, tới chùa Pháp Vân, thấy ngài thì nhìn kỹ vào mặt mà nói:

- Chú họ gì? Pháp Hiền đáp: - Hoà thượng họ gì? Thiền sư lại hỏi lại: - Chú không có họ à? - Sao lại không có? Nhưng đò' Hoà thượng biê't. Thiền sư quát to lên: - Biết đê làm gì?

3 0 9

N H À T U T H IỂ N Đ Ắ C Đ Ạ O

Phép truyền đạo của Thiền tôna là như thế. Khône phải truyền một mớ hiểu biết hay một mớ kinh kệ cho người ta thuộc làu làu rồi đi mà khoe khoang trong cõi tục khiến cái vỏ tiểu ngã càng dầy đặc thêm, không phá nổi để giải thoát mà nhập với đại ngã.

Theo những nét dại cương vừa dẫn thì nhà tu có thể đác đạo và tự giải thoát mình ngay khi mình vẫn còn sống. Điều ấy cũng khiến nhiều người muốn hỏi liệu vai trò của nhà tu đắc dạo ấy là có ích hay vô ích trong xã hội? tích cực hay tiêu cực? Hữu vi hay vô vi? Trong sách Văn học Việt Nưm th('n L\\ chúng tôi đã trả lời:

Một vị dại dức chân tu dã dắc dạo, có thâ nói là một háu vật trời dành cho một dán tộc. Một ììịịưíyi ấy ngồi từ hì từ dại (vô vi như một tượng gỗ) mà khiển người muôn nghìn người khác sống hớt tội lỗi di, noi theo gương ấv cài mà lòng mình và hớt khe khất với người, hớt căm hờn thù oán của trần giới dể ngưỡng vọng những tư cách gì cao cả dẹp dẽ của con người có thực ngồi tại dó như một vị Phật sống, ngưỡng vọng những Niết hùn, Thiên Trúc, có ílìể là những nưi Cực lạc do người ta tưởng tượng ra, nhưng dể ngưíìi ta hằng ngàv tự mình lùm quan toà mà tự xử nluĩng hành vi thiện ác của mình, de xứng hay không xứng hước chân tới nơi Cực lạc dó.

Vị dại dức ấy quả dã như một hậc thầy tinh thần của .xã hội ở những chỗ mà mắt người vô tình không trồng tlỉấv (như từng dã không trông thấv chân móng của cái lâu dài vậv).

Sự ra đời và có mặt trên cuộc đời của vị dại đức ấy, có thể nói, là một sự kết tinh của một cái cộng nghiệp của toàn cả xã hội. thao thức và ngưỡng vọng những gì là ý thiện và dạo lý. Đó là một danh dự cho xã hội.

Pháp Hiền chợt hiểu ý ngài Ti Ni Đa Lưu Chi. liền sụp xuống'lạy xin iheo làm

đệ lử và sau được truyền tam âh.

Câu chuvện ấv chí chép đúng lại mà không giải Ihích thì người cíọc có thể sẽ

không hiếu gì hết.

Hỏi một người tu đạo " Chú họ gì?”, ấy là muốn thứ xem ngươi ấy đã nhập vô sắc giới mà lòng thì liệu có còn bị những sắc danh của trần tục huyễn hoặc nữa chăng.

Chú tiếu trá lời có, lại còn tha thiết muốn hỏi lại hoà thượng có không, lại còn làm như cái họ là một cái gì quan trọng lắm đê’ chú đố hoà thượng biết. Như vậy là chú hãy còn mê, cho nên thiền sư quát to lên: “Biết để làm gì?”.

Tiếng quát ấy đã khiến Pháp Hiền sực tinh quỳ mọp xuống lạy xin theo làm đệ tử và sau được truyền tâm ấn. Tiếng quát ấy đã thay đổi cá một đời người cúa Pháp Hiền vậy.

3 1 0

Dù trước con mắt lệch lạc về chủ nghĩa thực dụng nào đi nữa, cái danh dự xã hội ấy cũng vẫn hơn hình ảnh cúa nhứng “anh chị chiến sĩ hữu vi và tích cực” lắm, nhưng dể day tay mắm miệng và mưu mẹo xúi giục kẻ này người khác nghi ngờ, tranh đấu và căn hờn, thù oán lẫn nhau.

Cho nên từ chu kỳ lịch sử lấy đạo đức làm cơ bản cho cuộc sống về mọi khía cạnh của xã hội, tiến sang một chu kỳ lịch sử lấy kinh tế làm hạ tầng cơ sở, lấy văn hoá đạo đức làm thượng tầng kiến trúc và nghĩ cho vãn hoá ấy bị quy định bởi cái hạ tầng cơ sở về kinh tế kia. ta có cảm tưởng như loài người đương rủ nhau lao mình xuống vực thẳm.

Biết baò nhiêu sự đđy ải lẫn nhau đã xảy ra giữa loài người kể từ giờ phút dáo lộn ấy. Biết bao nhiêu nhục nhã mà loài người đương phải chịu dựng chỉ vì những giá trị tinh thán cũ bị mai một hết đi dế cho những giá trị vật chất múa may quay cuồng mà dẫn dắt xã hội từ hết tội lỗi này sang tội lỗi khác trong cái vòng vô minh càng lúc càng dày đặc.

Song điều đáng sợ cho xã hội loài người chẳng phải là sợ mất ngôi thứ của một nhà tu hành. Nhà tu ấy dã vong kỷ thì còn giới ý gì tới sự người ta trọng hay khinh, yêu hay ghét mình? Điều đáng sợ cho xã hội loài người Icà sự mất lòng tin ở phần lốt của nhau và còn lòng tin của phần xấu của nhau. Một xã hội mà đến như thế là một xã hội đã sa đoạ cùng cực.

Bởi vậy ta kể sự xây dựng nền móng Thiền tông như một biến cố trọng dại.

Trong tạp chí Tư tưởìiiị số I, tháng 3 - 1972, cơ quan ngôn luận của Viện Đại học Vạn Hạnh, Lê Mạnh Thát, trong bài: Góp vào việc Nohiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam thếk\' thứ năm, có dựa vào sách Tục Cao Tăng Truyện của Đạo Tuyên người Tàu, viết xong khoảng 645, và nhận ra tiêu sử hai vị cao tăng của ta người Giao Chỉ, là Huệ Thắng và Đạo Thiền. Hai vị này sống đồng thời với tổ Bồ Đề Đạt Ma.

Huệ Thắng sinh khoảng 432 - 439, tu ở chùa Tiên Châu Sơn theo học quán hạnh với luận sư Đạt Ma Bồ Đề. Năm 479, Lưu Hội của nhà Tề cử binh ra lấy Nam Hủi cỏ nghe tiếng dã mời khéo Huệ Thắng về Giang Đô. cho đến tu ớ chùa u Tê, núi Ngưu Đầu huyện Thượng Nguvên, rồi sau đó 8 năm lại về chùa Duyên Hiền, núi Chung Sơn. Sau tịch không rõ ở đâu thọ 70 tuổi.

311

Đạo Thiền sinh khoang 457, mâ't năm Đại Thông, đời Lương Vũ Đế, khoáng 527, cũng tu ở chùa Tiên Châu Sơn. Năm 487, Tử Lang con vua Tề Cao Tổ qua triệu thỉnh ngài vể Kim Lăng giảng nói Phật pháp.

Ngài đến ở chùa Vân Cư Hạ của Chung Sơn cùng một lúc với Huệ Thắng, điều khiển và dạy dỗ tăn? chúng không bao giờ dưới vài trăm và quy y cho hơn ngàn cư sĩ.

Cả hai vị này đều là cao tăng tu trì khắc khổ theo nếp tu khổ hạnh của Phật giáo Việt Nam, quấn y và xin ăn, săn sóc đến kẻ nghèo và dau yếu, đã thực hiện việc hoàng pháp ở miền Nam Trung Hoa, khi bị kẻ cầm quyền mời qua (tức là bắt qua).

Huệ Thắng tụng kinh Pháp Hoa ngày một lần, học quán hạnh do Bồ Đề Đạt Ma truyền đạt cách thức của trường phái Duy Thức An Độ. Đạo Thiền khi ở Tàu, truyền giảng kinh sách hay cho mọi người “từ ngàn dặm ruổi xe đến Kim Lăng” lại luôn luôn dùng luật Thập Tụng để điều khiển tăng chúng. Những sự việc ấy xảy ra trước khi Ti Ni Đa Lưu Chi qua Giao Châu

năm 594 và truyền tâm ấn cho ngài Pháp Hiền năm 605.

Như vậy, chưa hẳn nền móng Thiền tông đã có từ đời Ti Ni. Mà trước nữa, từ Huệ Thắng và Đạo Thiền, đồng thời với sư tổ Bồ Đề Đạt Ma, ở Giao Châu đã có nền móng Thiền tông rồi.

312

Nếu sử dựa vào Ti Ni Đa Lưu Chi, lấy gốc của dòng thiền thứ nhất bắt đầu từ đó thì hoặc là thiếu sót cần cải chính, hoặc là kể từ đó mới có tổ chức thành dòng tu riêng chàng?

DƯỚI QUYỂN CAI TRị

CỦA NHÀ TUỲ VÀ ĐƯỜNG

CHƯƠNC; V

TÓM LƯỢC

Sùng thượng Phật giáo

Vua Đường cử pháp sư Trần Huyền Trang đi Tây Trúc thỉnh kinh. Các sư người Giao Châu cũng được vua và nho sĩ vì nể và trọng vọng. Còn những bài thơ của các danh sĩ đời Đường làm để tặng các vị sư của Giao Châu khi họ qua thăm hay khi các sư sang tận cung vua Đường giảng kinh thuyết pháp. Lại có cả những đoàn truyền giáo mà các sư Giao Châu tham dự, toàn những người đạo cao đức trọng, biết cả chữ Hán lẫn ch ũ’ Phạm.

Cải tổ nền hành chính

Chia thêm nhiều châu huyện để tập quyền về trung ương của đô hộ phủ, bớt quyền dịa phương và quan văn cai trị gần dân hơn, quân nhân bớt nhũng nhiễu.

Các quan lại cai trị

Phần nhiều có vdn tài, khéo biết cách lấy lòng dàn lại dám thẳng tay

trừng trị những võ quan nhũng lạm.

Các danh sĩ người bản xứ

Có người làm quan tại triều đình, giữ những chức gần như tể tướng. Có người dược người Tàu mến và giới thiệu như chung đúc bởi khí thiêng sông núi. Có người ẩn danh làm thơ công kích chính sách của nhà Đường.

3 1 3

Chúng tỏ rằng chính sách cai trị của người Đường có cởi mở hơn trước.

Giặc Đổ Bà

Giặc xâm lăng năm 767, đi đường thuỷ theo cửa Thần Phù lên sông Đáy rồi từ mạn Sơn Tày đánh xuống. Sau khi dẹp được giặc, kinh lược sứ Tàu cho đắp La Thành vồ phía Tây, Tây Bắc. Chứng tỏ rằng đường sông Hồng qua Bạch Đằng và cửa Nam Triệu

chưa tiện lưu thông.

Giặc Nam Chiếu

Giặc xâm lăng nhiều trận. Trận cuối cùng (863), giặc cưdrp được Giao

Châu, đô hộ phủ phải lui về Tàu. Giặc giết hại 15 vạn dân trong thành.

Việc ấy làm giảm uy tín của quân dội Trung Hoa trước mắt người bản xứ. Thêm những chứng nghiệm về tài ba xuất sắc của người mình, người Giao Châu hết mặc cảm lự ty đối với Trung Hoa lại còn cười cợt và chế giễu nữa. Dòng tu Thiền với những nhà tu dạo cao dức trọng đã ánh hưởng

đến quan lại và chê dộ cai trị của nhà Tuỳ và nhà Đường.

Nhà Tuỳ nổi lên trị vì ở Trung Hoa sau nhũng trận chiến kinh khủng của thời loạn Thập Bát Phản Vương, dùng vũ lực mà thống nhất được toàn cõi năm 589, nhưng trị vì không được lâu, chí 26 năm, đến năm 617 thì dất nước sang tav nhà Đường.

Trong đời Tuỳ, năm 602, vua Tuỳ Văn Đế sai Lưu Phương đem quàn 27 doanh sang dánh Giao Châu, dụ được Lý Phật Tử ra hàng và định đặt trở lại dược nền dô hộ. Đến năm 605, vua lại sai Lưu Phương liến vào đánh Lâm Ap, đến tận quốc đô. Vua Lâm Ap Phạm Phàn Chi phải bỏ chạy. Uy vũ của Tuỳ ở trong và ngoài nước như vậy nhưng cũng chỉ là cái công mở lối cho nhà Đường thừa hưởng và ngự trị. Vì Đường còn hùng cưímg hơn. Đường đã bình định được mọi gốc loạn, thu mọi cõi về một mối, lại liên miên đánh Đỏng dẹp Bắc, diệt Đòng Đột Quyết, dẹp fợ Hồi Hột. rồi đánh chiếm Cao Ly, hàng phục Thiên Trúc, bình định các nước Tây Vực, mở rộng bản dồ Trung Hoa ra dến chưa hồi nào được như thế.

Nhà Đường trị vì Trung Hoa lâu tới gần 300 năm, từ 618 tới 907. So với các triều đại khác, thì dây là một triều dại thái bình thịnh trị hơn cả, nhất là ở đời vua Đường Thái Tông (627-649).

SÙNC; THƯỢNÍÌ PH ẬT (ỈIÁO

314

Vua Thái Tông vì việc chinh chiến giết hại sinh linh quá nhiều cũng có ý hối hạn và lo cho kiếp lai sinh nên ước được có kinh Phật để cúng siêu độ cho các oan hồn. Vua dã cử nhà sư Huyền Trang sang Thiên

Trúc để ihính kinh. Thây Huyền Trang đi và ở lại Thiên Trúc 17 năm, qua rất nhiều tiểu quốc được tất cả các Quốc vương tôn trọng, khi về đã đem theo về được 657 bộ kinh, rồi lại luôn trong 18 năm (645 - 663) tự tay dịch được 73 bộ, cộng 1330 quyển.

Nội việc ấy cũng đủ thấy vua và triều đình sùng thượng Phật thế nào. Không có tài liệu để biêt rõ số chùa chiền được xây dựng và số táng sĩ ở Trung Hoa là bao nhiêu.

Riêng đối với Giao Châu, từ 479 người Trung Hoa đã biết là nơi tiện đường về đất Phật và cơ sở tôn giáo đã có nhiều, cũng như đã độ được nhiều nhà sư (1) và'đạo thiền đã được chính truyền từ nhà sư Thiên trúc Ti Ni Đa Lưu Chi nãm 594, thì sự vị nế dân Lạc Việt cũng bắt đầu có.

Đè minh chứng điều ấy, đây là bài thơ do một thi nhân hữu danh đời Đường thòi Võ Hậu là Thẩm Thuyên Kỳ sang Giao Châu trị nhậm ở chàu Hoan. Năm 685. ông có đến viếng chùa Sơn Tĩnh ở Cửu Châu (Thanh Hoá) và làm để tỏ lòng kính phục Vô Ngại Thượng Nhân.

Đại sĩ sinh Thiên Trúc Phún thân hoú Nhật Nam Nhân triim> xiiất phiền não Sơn hạ tức già lam Tiên giãn hươm> vi sát Nguy phong thạch túc am nần thnvên thanh cốc nhũ Klìiiv giảng hạch viên tham Đằng ái vân gián hích Hoa thê thạch hạ dăm Tnvền hành n cnng hảo Lâm qncỉỉ dục V kham Đệ tử ai vô thức Y vương tích vị dàm Siên nhiên Hổ khê tịch Chích thụ hạ hư lam

Nội dung bài thơ coi Vô Ngại Thượng Nhân như một vị Phật sống, một đấng hoá thân của Phật, thoát mình khỏi cánh phiền não của người đời và sống hoà mình với thiên nhiên làm một thể.

Bài thơ có nghĩa là:

(II Xem lời của Đàm Thiên pháp ,sư làu cung Hoàng hậu vợ vua Tề Cao Đế.

315

Đấng đại sĩ (kiếp trước là Phật) sinh ở Thiên Trúc

(Kiếp này) hoá Ihàn sinh ở Nhật Nam và đã thoát vòng phiền não của cõi tục. (Đi xuống) dưới núi (thì thấy) toà già lam Cất ở nơi ngọn núi đá cheo leo Dưới có một khe nhỏ nước chảy lững lờ Chim xanh còn non yếu ngồi chầu hầu (khi ngài) tham thiển

Vượn trắng (đã già) thì lắng nghe lời giảng kinh

thông suốt (của ngài)

Mây quấn quít lấy vách đá dựng (không muôn rời ra) Hoa (rụng) dưới chân núi (còn) vương vấn trong đầm

(không chịu trôi đi)

Suối chảy từ nguồn xa.trong vắt (lại sán) cây rừng để hong áo giặt (cho hết bụi trần) Đệ tử thật lấy làm đáng thương mà không biết Và tiếc không được hầu chuyện Y vương (trước) dòng nước phẳng lặng ở khe Hổ Khê (mà trên là) khí núi bốc lên khoáng hư không, (đệ tử

chỉ được đứng như) một thân cây (buồn tủi)

Một nhà thơ khác là Trương Tịch cũng có bài thơ sau đây tặng

Nhật Nam tăng:

Dộc hướn^ sơn trung lão Tùng môn bổ lưỡng nhai Phiên kinh thượng tiêu diệp Qiiâi nạp lạc đằng hoa"' Thứ thạch tân khai tỉnh Xiivên lâm tự chủng ma"' Thời plìùní’ Nam Hải khách Man m>fí ván thuv gia?

Bài thơ có nghĩa là:

Một mình ông cụ già tu ở trong hang núi. Có hai cây tùng đứng trấn lối vào động'‘’ Kinh Phát hiên trên tàu lá chuỏT^’

(II Sách Lịch sửtưtựàníỊ Viêt Nam của Nguyễn Đăng Thuc trang 83 chép là Bài nạp và tự chúng trà, e rằng tập Toàn Đường Thư chép sai. v l bài iTbầy xếp không noi đưỢíi: ý dây hoa như cnuoi ngọc treo làm áo nhà tụ. Và trà chỉ là một loại cây dùng uốiig chơi, không hàm dươc y giống gai may áo dể dcm sắc phục chò loấi người. *■’ hnếu hình thức rằng có liai canh cỉra tùng đóng lại là sai.

Tức là ngài nhìn tầu lá chuối bay lật đi lặt lại ííià đọc được lời kinh Phật.

316

,;(I) Dây hoa treo quanh người làm áo cho ngài* Ngài xếp đá xây một ngòi giếng mới‘“* Xuyên qua rừng rậm tỉa giống gai*’’ Khi có người khách Nam Hải tới gần (Thì ngài) hỏi (bằng một giọng lơ lớ như) liếng Mường ràng; Ai đấy?

Nội dung bài thơ cũng lại tôn trọng nhà tu như một vị Phật sống. Không những thế, chính vua Đường triệu thỉnh những nhà sư Giao Châu sang tận cung vua giảng kinh thuyết pháp (cố nhiên bằng tiếng Tàu) nữa.

Thi sĩ Dương Cự Nguyên đời Đường ấy đã tặng Pháp sư Phụng Đình bài thơ như sau;

TỐN(; PHỤNG ĐÌNH PHÁP s ư QUY AN NAM

Cô lì ươn íị Nam Việt ngoại, Vạn lý hạch vân phong Kinh luận từ thiên khứ, Hươm> hoa nhập hài phùng Lộ đào thanh phạm triệt, Thần cúc hoú thành trùng, Tâm dáo Trư('m^ An mạch Giao Châu hậu dạ chỉiní>. Có nghĩa là:

Quê nhà của Ngcài ở Nam Việt cỡi ngoài Trên đường vạn dặm gió (duổi) mày tráng (Thói thế là) những lời giảng về kinh và luận đã xa

vắng (Thiên triều) (Những lời như) Hương và hoa gặp biển cả đã thấm

nhập với nhau. Cò bay trên sóng nước in hình trong suốt lên nền

trời xanh

Sáng sớm mặt trời mọc mà toà lầu (nơi Ngài vẫn

tụng kinh) lặng lẽ trống trơn cả.

c a ụ r i n i i i í i u i ư c , ma pnai meu meo ngma mọng irưng cua loan oai. BƠI inơ aa cno biéì ngài tu mỏt mình trong núi, hÌLi đến độ quên ca liếng niiuời, gặp khách Nam Hải thi dùng giọng lơ lớ như giọng Mường ma hỏi: Ai đâ>?.’ Ìhì ngai còn hùng hục lăn đá khơi giềng yà tỉa gai như mọt lao công để làm gì nữa?

Cá cái ý nói vô lời trên lầu lá chuối cũng phái nhợ rằng thi sĩ xưng tụng ngài đã

là Phật nói ra kinh, chứ không phải chí là một môn dồ để lo việc chép KÌhhr

317

(Thôi) lòng (nsười mà có) đến được Trường An (về phía bắc nữa).

(Thì cũns chỉ bằng) một tiếne chuông lúc đêm tàn từ Giao Châu (gióng lên)

Toàn bài nói lên cái tình đậm đà thắm thiết của thi sĩ đối với Pháp sư cùng nỗi nhớ chân thành cho đến tướng bóng Ngài đi ngoài biển mà thấy cái gác nơi Ngài vẫn ngồi tụng kinh buổi sáng trở nên lặng lẽ và trống rỗng vô biên. Và câu kết ước ao rằng lòng ngài tưởng đến Trường An thì hãy gióng lên cho một tiếng chuông lúc đêm tàn ở Giao Châu.

Tmh thắm thiết của thi sĩ cổ Đảo liễn pháp sư Duy Giám khi sang giảng kinh về cũng không kém Vcà đặc biệt còn ghi dấu tích Ngài giảng kinh cho chính vua ngồi ở giường ngự nghe nữa. Bài thơ như sau:

TỔNG AN NAM DUY (ỈIÁM PHÁP s ư

Giíỉm> kinh xuân diện lý. Hoa nhiễu lUỊự.sàng phi. Nam hải kv hổi quá Cựu sơn lùm lão quy. Xúc plĩomị hương tổn án Lộ vũ khánh sanh V. KlìómỊ thiiỷ ký như hỉ Vãìu> lai tiêu tức hv!

Có nghĩa là:

(Ngài) giảng kinh ở trong Xuân Điện. (Mùi) hoa thơm (dâng cao, bay) quấn quýt lấy giường ngự (của vua)

(Bây giờ) Đường Nam Hải trở về lối cũ Đến ngọn núi xưa của Ngài Gió táp mùi hương (nhớ nhung) làm mòn cả án (nơi ngồi trông theo nhau)

(Trong khi) mưa trên đường mừng vui lúc gặp mặt (chắc làm lem cả) áo

(Trông ra) trời và nước đều một màu lần nhau cá. Tin tức đi lại biết bao là xa xôi!

Triều đình vua và quan cùng kẻ sĩ của nhà Đường đối với các nhà sư Giao Châu đã tràn trọng đến như thế, lại còn để các nhà sư ấy dự vào các đoàn truyền giáo nữa.

318

Theo Trần Văn Giáp thì về đời Đường có ba doàn truyền giáo ỏ An Nam. Đocàn thứ nhất có ba người Tàu, đoàn thứ hai cũng có ba người Tàu

và một người Trung Á. đoàn thứ ba đáng chú ý hơn: có 6 pháp SU' An Nam và bốn người Giao Châu’(Hà Nội và Nam Định) và hai người Ái Châu (Thanh Hoá bây giờ).

Mấv vị trong đoàn thứ ba là Vân Kỳ thiền sư, Mộc Xoa Đề Bà, Khuy Sung pháp sư, Huệ Diện phap sư. Trí Hành thiền sư, Đại Thặng Đăng thiền sư.

Theo lời dẫn trong sách Việt Nam phật giáo sử lược thì: 1. Vân Kỳ thiển sư: Ngài ở Giao Châu thường đi du lịch nước ngoài với ngài Đàm Nhuận (Pháp sư người Tàu) thông hiểu chữ Phạm có trú ở Thất Lợi Phật Xá. Ngài thọ chìmg 30 tuổi.

2. Mộc Xoa Đề Bà: Ngài cũng người Giao Châu, không rõ tên thật là gì, dã vưọt Nam Hải và di khìip các xứ. Khi đến Bồ Đề Đạo Trường, ngài cúng dường Xá Lợi rồi tịch, thọ dược 25 tuổi.

3. Khuy Sung pháp sư: Ngài cũng ở Giao Châu, đệ tử của ngài Minh Viễn (Pháp sư người Tàu) tên chữ Phạm là Chất Đạt Đa Đề Bà (Citra Dcva) cùng ngài Minh Viễn đi đường bể tới dảo Tích Lan rồi qua Tân ấn. Ngài bẩm lính thông minh và bặt thiệp, hiểu hết các kinh điển chữ Phạm. Khi đốn thành Vương Xá (Kuồagarapuca) sau khi tham yết Bồ Đề Thợ. ngài lâm bệnh và tịch trong vườn Trúc Lâm, thọ 30 tuổi.

4. Huệ Diện pháp sư: Ngài cũng ở Giao Châu đệ tử ngài Vô Hành (pháp sư người Tàu) đi qua Tích Lan rồi trú luôn ở dó. Ngài lịch vào năm nào không rõ.

5. Trí Hành thiển sư: Ngài cũng ở Ái Châu, tôn chữ Phạm là Bát Nhã Đc Bà (Prajina Dcva). Ngài qua Trung Âi và hành hoá khắp nơi. Khi đến Bát Kinh Già (Ganga), ngài nghi luôn ử chùa Tín Già và tịch ở đó, thọ 50 tuổi.

6. Đại Thặng Đăng thiên sư; Ngài cũng ở Ái Châu, tên chữ Phạm là Na Ga Gia Na Bát Địa Dĩ Ba (Mahâyâna Pradipa). Lúc nhỏ ngài đi theo sứ gia là Diệm tự về kinh dò Trung Quốc, thọ giới ngài Đường Huyền Trang. Ngài thông hiểu nhiều kinh diển, quyết chí đến Bồ Đề đạo tràng tham lễ nên muốn vưọl be qua Thiên Trúc. Ngài qua Tích Lan, qua Đông An, Nam /\n, rồi nghỉ ở xứ Dam Ma Lập Đế (Tâmaralipti) mười hai năm, nhân thế mà ngài được thông hiếu chữ Phạm. Ngài có thích nghĩa bộ Du\ên Sinh Luận (Nidênacastra) và nhiều kinh khác. Rồi ngài cùng đi với ngài Nghĩa Tịnh đến Trung Ai thăm chùa Na Lan Đà (Nalanda) rồi đến viếng Kim Cang Toạ và trở về Tịnh Xá Lị (Vaicaly) sau lại qua nước Cu Chi với ngài Vỏ Hành. Sau ngài tịch ở chùa Bát Niết Bàn (Parinirvâna) thọ.60 tuổi.

3 1 9

Ta tất nhận ra mức độ kính phục các thiền sư Giao Châu của các quan lại đô hộ đã phải thế nào? Và khi đã có sự kính phục ấy, thì xung quanh cái chùa, nơi các thiền sư tu hành, dân chúng ở các làng mạc đã được dễ thở ra như thế nào?

CẢI TỐ NỀN HÀNH CHÍNH; ĐẶT AN NAM Đ ỏ HỘ PHỦ

Người Việt có một thành kiến đối với chế độ cai trị hà khắc của Trung Hoa nên đã cho danh từ đô hộ một nội dung là đè ép. Thực ra thì đô chỉ là đô hội và ÌÌỘ là một ấp, một huyện. Cả danh từ dã chỉ một tổ chức hành chính để cai trị cái xứ. mà kể từ 697, đổi gọi là An Nam, nghĩa là cõi Nam dã yên ổn.

An Nam dô hộ phủ dời Đường gồm có 12 châu và 59 huyện. Mười hai châu ấy là: 1. Giao Châu gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định tất cả 8 huyện. 2. Phom> Clìâu gồm Sơn Tây, Vĩnh Yên cho đến các châu miền

thượng du phía Tây sông Hồng dến Vân Nam tất ca có 5 huyện.

3. Trường Cháu gổin Ninh Bình miền núi giữa Nam Định, Thanh

Hoá, có tất cả 4 huyện.

4. Ái Châu nay là Tlianh Hoá (Cửu Chân, Nhật Nam) tất ca có 4 huyện. 5. Hoan Châu nay là Hà Tĩnh (Việt Thường) tất củ có 4 huyện. 6. Dicn Châu nay là Nghệ An, tất cá có 7 huyện. 7. Phúc Lộc Châu phía Đông Nam Nghệ An có 3 huyện. 8. Lục Cháu nay là Lạng Sítn đến Quảng Yên (Ô Diên) tất ca có 3 huyện. 9. Thang Châu nay là Tuyên Quang tất cá có 3 huyện. 10. Chi Châu nay là Hưng Hoá tất cả có 7 huyện. 11. Vũ Nga Châu nay là Thái Nguyên tất cả có 7 huyện. 12. Vũ An Châu nay ở trong tỉnh Quảng Yên lất cả có 2 huyện. So với guồng máy hành chính trước dấy kể từ nhà Hán thì Giao Châu chỉ gồm có 3 quận: Giao Chí với 10 huyện, Cửu Chán với 7 huyện và Nhật Nam với 5 huyện (cộng là 3 quận 22 huyện). Nay dất hẹp di, mâì gần hết quận Nhật Nam cho Lâm Âp, mà quận (đổi gọi là Châu) và huyện thì nhiều hơn lên.

320

Như vậy, chính là dể giảm bớt quyền dịa phương đi cho đô hộ phủ dẻ tập trung quyền hành về trung ương. Nhân số các viên chức lại thuộc cũng tăng gia về việc hành chính b(5t trì trệ. Mà quân đội cũng bớt xông xáo vào các làng hà hiếp dân khi có các quan cai trị ở gần. Rất có thổ còn có người địa phương có học và làm lại thuộc hoặc giữ một chức việc gì ở các huyện nhỏ.

CÁC QLIAN LẠI SA N C CAI i RỊ

Điểu đáng lưu ý là chính quvền của triều ĐưÒTis có uy vũ, và nền chính trị đã ổn định nên các quan lại trấn nhậm ở xa khôns dám lộng hành. Nhiều vị sang An Nam lại là những tav có văn tài lỏi lạc.

Lã Sĩ Bằng căn cứ vào sử sách Tàu đời Đường có ghi nhạn trong bài Bắc Thuộc Thời Kv Đích Nam Việt (đăng trong Đâiií’ Nam Á chiivân san. số 3 - Hồng Kỏng đại học - 1964) có viết:

Thời ĐườiiíỊ nhân vật danh tiíấĩíỊ lấv văn học ra lùm quan ngụ cư ở An Nam hể có Vươn^ Phúc Trị, Đỗ Thẩm Ngôn, Thẩm Thuyên Kv. Trong hạn hấv giờ có ke Iđv văn giáo thi thỏ' cho dân sĩ các nơi, có kẻ ìấy túc phẩm d ể hú, dối với văn phong hưng thịnh của An Nam ảnh hưởng rất lớn. Vương Phúc Trị người dát Phùng Châu, Long Môn lù thân phụ của Vitơng Bột một trong hốn tay kiệt tác dầu nhà Đường Cao Tông, Phúc Trị từ chức tà quân hạt Từ Châu dổi xuống làm quan lệnh ở Giao Chỉ. o dâv ông truxén cái hục của ông cho dân sĩ An Nam. Sách Việt Nam Tập Lược Danh Hoạn có ghi:

‘‘Yuơng Phúc Trị thời Đường lù quan lệnh ở dốt Giao Chỉ mở mang văn giáo, nhân dân và nlìán sĩ là hộc dạo dức, dến nav còn thờ gọi là dền Vương Phu Từ".

Lại như Thẩm Thuyên Kỳ. người đất Trương Châu danh tiếng ngang với Tống Chi Vấn thơ hay lời đẹp, trọng âm vận cách luật, được học giả dương thời cơi là bậc tổ, làm quan bị biếm xuống châu Hoan. Ông có để lại hơn 10 bài thơ về cánh vật Giao Chi. Khi ở Hoan Châu, có dến yết kiến vị Thiền sư Việt danh tiếng ở chùa Sơn lin h hạt Cửu Chân là Vô Ngại Thượng Nhân, vào thời Võ Hậu 685 và có tặng bài thơ (dã nói ở trên).

Ngoài ra, sách Việt Sử Tán Biên của Phạm Văn Sơn (1956, tr. 240 -

1. Triệu Xương - Triệu Xương tên tự Hồng Tỏ người dất Thiên Thuỷ bẽn Tàu sinh vào dời Đường Đức Tông (780-803) làm quan thăng dần đến chức thứ sử Kiến Châu. Năm thứ 7 hiệu Hàm Thông (791), Cao Chính Binh làm An Nam đô hộ thi hành chính sách quá cay nghiệt, nhân dân la thán rất nhiều, ông Phùng Hưng nổi lên. Chính Bình lo sợ mà chết. Sau khi Phùng Hưng chết, cơn là Phùng An lên nối chức giữ lấy phủ thành dỏ hộ.

241) còn kể dến hai người nữa.

Nhà Đường cử Triệu Xương sang. Họ Triệu lấy lẽ vật và nhân nghĩa

321

dụ Phùng An. Họ Phùng cũng lấy lễ ra đáp lại và đem dân ra quy phục.

Họ Triệu ihiết lập và cái cách nhiều việc như đắp thêm La Thành, xcm xét các sông nsòi, biên chép nên cuốn Phủ Chí. ông là người râì hoạt động ihườnc; ncồi xe đi tuần đế có dịp gần dàn chúng, ông đến thành Minh Luân huyện Đườiiíĩ An tỉnh Hái Dương thấy non sônư đẹp dẽ. dấl rộng người nhicu lién dụns nhà học ở dấy chung sống với dân, dặt tên là Đông Giao hươntỉ hiệu (nhà học cõi Đônư). Học trò các nơi xa dến thụ nghiệp rất dônư và nhờ sự eiáo hoá của ôns nhiều người được hièn đạt.

ơ phủ 10 năm (791-801), sau có tật dau chân, ỏng xin về Tàu. Vua Đường cử Binh bộ Lang Trung là Bùi Thái sang thay. Thái tới sai quân sĩ san pháng các ngòi ao trong thành Đại La và dắp thành Hoan, thành Ái; sau bị người Giao Châu là Vương Quý Nguyên dánh duổi.

Đường Đức Tông vời Triệu Xương (lúc dó được thăng làm Tế Tử) dến bàn việc Giao Châu. Tuy bấy giờ ỏng đcã ngoài 70 tuổi mà còn khoẻ mạnh. Lại dược phái sang Giao Châu lán nữa. Dân Giao Châu nghe tin ỏng sang lại yên ổn ngay Vcà đưa thư tới mừng. Nãm ấy là năm thứ 19 hiệu Trinh Nguyên (813). Sau Triệu Xương dược thăng Lĩnh Nam tiết dộ sứ, liếp theo là Công bộ thượng thư gia hcàm Thái tử thiêu bảo.

2. Vương Thức - Vương Thức cũng là một lương quan đời Đường. Trước Vương Thức, Lý Trác, Điền Hán làm đô hộ độc ác tham lam lừng lấv một đấu muối dổi inột con trâu, con ngựa của dân chúng, lại giết tù trưởng là Đỗ Tôn Thành và làm nhiều việc tệ nhũng không sao kể xiết. Dân chúng chịu không nổi hà chính của bọn này liền liên kết với tướng Nam Chiếu là Đoàn Tú Thiên. Họ lập lên dạo Bạch Y mệnh một quân (quân cám tử) vào cướp phá phủ Đô hộ.

Ong qua dời vào nãm 85 tuổi, dược truy tạng Dương Châu Đại đò dốc. Học trò và nhân dàn thương khóc như cha mẹ và làm nhà thờ bên cạnh nhà học. ông làm dô hộ dtrợc tất cá 15 năm. Sau này các vua ta dời Trần. Lê dồu phong ông làm Đại vương. Hiện nay ông dược thờ làm thành hoàng làng Đan Loan và ở phố Hcàng Đào, Hà Nội bây giờ, có một ngôi đình cứa người làng Đan Loan dựng lên dế thờ vọng ổng.

322

Tháng giêng năm thứ 12 hiệu Đại Trung, vua Đường cho họ Vương sang Icàm An Nam đô hộ kinh lược sứ. Họ Vương trước dây là Ihír sử Châu Tân trong hiệu Đại Trung (847-859). Chính sách của bọn người trước là hằng năm thu tiền của dân đế làm luỹ bằng gỗ. Công việc không ra gì mà mồi kỳ thu sinh ra lắm phiền hcà, thúc bách dán chúng rất là khốn khổ. Vương Thức liền lấy hản liền thuế một năm, mua gỗ thiết mộc trồng quanh phủ đô hộ khắp 12 dặm, tha hán những thuế ngoại phụ hằng năm

để bớt aánh nạim cho dân. VươntỊ cho đào hào buộc luỹ, ở ngoài lại trổna tre gai, giặc cướp không thể vào được. Có thời Man binh đến cướp ở bến Cẩm Điền, Vương cho người thòng dịch đến hiểu dụ bày tỏ điều lợi hại, quàn Mán liền giải tán.

Khi mới đến phủ nghe dân ta thán La Hành Cung là kẻ cầm binh quvền ở đấy lâu năm làm nhiều diều nhũng nhiễu, Vương liền trưất bỏ luôn. Tháng 7 năm ấy (858), dân Giao Chí khởi loạn nửa đêm đánh trổng reo hò vây phủ thành, nói rao rằng; “Kinh lược sứ là Chu Nhai sai huy hạ gọi là Hoàng Đầu quân (quân đầu vàng) vượt bể đến đánh úp, xin đưa đô hộ về Tàu. la dóng d(5n thành này đổ chống quân Hoàng Đầu. Vương Thức dem tá hữu lên thành nói chuyện phải trái, quân Giao Chỉ licn rút lui.

Vì dói kém loạn lạc luôn năm sáu năm, Giao Chỉ không có gì cung cấp cho người Tàu, trong quân cũng không khao thưởng, Vương Thức bấy giờ mới sửa soạn lệ cống chức, khao thưởng quân ,sĩ. Nước Chiêm Thcành Chân Lạp lại thông hiếu và nộp tra những người Giao Châu bị họ bát trước đó.

CÁC DANH S ĩ N (,Ư Ờ I BẢN xứ

Cũng ở triều đại này, người trí thức địa phương cũng tỏ ra khá lỗi lạc. Trong sách An Nam Chí Lược của Lê Tác (bản dịch của viện Đại Học Huế 1961 tr.234), thấy có nói đến một thi sĩ người Giao Châu tên Liễu Tử Hậu được danh sĩ đời Đường là Lưu Hữu Phương giới thiệu với nhũìig lời như sau:

“Gữ/Ơ Châu có nhiều vàiu> mịọc, châu hán, dổi mồi, tê ngưu và voi, sân vật dền kỳ qiiúi. c d dến cúv có cũníỊ khác lạ. Tu thường lấv làm lạ làm sao khí chói súng của mặt trời chỉ phát hiện (ỷ hoa cỏ ngọc /7gừ mà thôi, ít thcív chnm> đúc vào người. Nav Liễu sinh có dức tính cương thiệp trọng hậu, thdo luận tín nhường, trong thì chất mù ngoài là văn, thít văn có điệu dại nhã. Như thể thì sinh dã dược chung díic hởi khí thiêng ư? Đời rất hiếm có vậv. T hế nhường người đời nav dối với ngục sáng hoa thơm, ai cũng hiểt cpiý nhưng có ai hiết quỷ sinh không? Nếu có thì ta hdo người â\' không plìdì là người thường, dời cũng rất hiểm có \’ậv”.

Cũng có nhũ'ng người dược làm quan ở các châu quận như Lê Hồi người Ái Châu làm Lạc Dương Uý, Khương Thẩn Dực cũng người Ái Châu làm thứ sử Từ Châu. Nhưng đặc biệt thì có Khương Công Phụ làm quan lớn ngay tại triéu nữa.

323

Lã Sĩ Bằng trong sách Bắc Thuộc Tluyi Kv Đích Việt Nam có viết:

"Tlìời Đườiỉíỉ vân sĩ An Nam kiệt xnất, Ịịhi tronịỊ sử truyện có Khương Côiií’ Phụ ìUịuời Ái Châu quận Nhật N a n i'\ CônỊ> Phụ thì dỗ tiến sĩ tri én Đức Tómị nhủ Đườìnị (7ÓÓ) làm quan trong triều dến chức Gián Ní>hị Đại phu Đóní> chung thu’ mòn hạ Bình Chưưng sự. Do dấy có thẻ nói dược rằní> An Nam, ở thời Đường bèn Trung Quốc, dã có trình dụ văn phom> thịnh vượiHi. Thời Đường lấy văn thơ kén chức quan, n{>ườị An Nam muôn ra làm quan ắt phải tinh luyện V ’ ỡ dường lối ấỵ. Côn\ị Phụ qua khoa cừ lùm quan dến chức cao quý như chức Tê phụ thì thơ văn phải rất uyên thâm lỗi lạc, tiếc rằng không còn tập nào truyén lại à dời. Sách Dườniị thi chép việc CÙ IU Ị “Toàn Đườn^ Thi” dlng chưa thu xếp thơ vùn của ÓIU>. Chỉ có tromị “Toàn Đường Văn” quycn 446 cỏ chép dược hai thiên:

1. Bạch vàn chiếu xuân hãi 2. Dõi trực ngôn cực gián .sách. Qua hai thiên văn chiU/níỊ ấy. chím ít ta có thê dại khái thấy dược văn lài, kiến thức của một bậc nhãn

Tại quê niià ớ Thanh Hoá còn có dền thừ. Vé tiếu .sử của Khươiiíỉ Còng Phụ. ngưừi Việt vào triều đình Trung Hoa làrn đến bậc Te iưứng. sứ gia Lc Tắc có ghi trong An Nam chí lưực “Cháu nội của Khương Thán Dực. con của Khương Đĩnh đạu tiến sĩ đời Đường Đức Tỏng (780-804), được bổ làm Hiẹu Thư Lang nhờ bài chế sách hay, thăng lên chức hữu thập di, Hàn lãm học sĩ. Nhận chiíc mãn năm. dáng lẽ dổi di nơi khác nliưng vì mẹ già cẩn phụng dưỡng nên dược lưu lại chức Hộ Tào Tham quân ớ kinh. Công Phụ có tài cao, mỗi lần thấy việc g'i, trân tấu minh bạch rất dược vua Đức Tỏng kính trọng.

Khi Chu Tý về kinh sư, Công Phụ can vua: “Bệ hạ không nên tin cạy người Tý, cháng bâng giết di. chớ nuôi cọp rồi dế hại vé sau” Vua không nghe. Bỏng kinh sư có bién. vua tự cửa vườn chạy ra. Cóng Phụ gò cương ngựa lại mà can “Chu Tý thường làm quái ớ dất Kinh Nguyên, rất dược lòng tướng sì. Trước dây vì Chu Thao làm phiin, Tý bị tước binh quvcn, ngàv thường ló phần uất, nay nén mau tới bát Tý dem theo, ch(’)' dế lọt vào tay quán dữ”. Vua hoàng không kịp nghe theo. Lúc dã di vua muốn chạv sang Phụng Tường, nương thế Trường Dật. Công Phụ nói: “Dật tuv là một người bề tôi dáng tin cậy. nhưng chi là một vãn lại vá quân cứa ổng ấy cai quán, dều là dội ngũ cũ cùa Tý và kỵ binh ở Ngưu Dương. Nếu Chu Tý dược lập nC'n. Kinh Nguvên biên loạn lh'i ớ lại dáy không phái kê vạn toàn”. Vua bèn chạv qua Phụng Thiên. Có kẻ nói Chu Tv làm phán xin lo ngăn ngừa. Lưu Kỷ nói ràng; “Chu Tý trung trực, thành thực, cớ sao ngừ ỏng ấy làm phản, làm mếch lòng ke dại thần, tôi xin trăm miệng báo dám”.

Vua biết bề tỏi khuyên Chu Tý dèn rước xa giá về, bèn xuống chiếu khiến các

dạo binh phái ngừng lại cách thành một xá.

Còng Phụ tâu vua: “Vương giá chổng cỏ binh túc vệ nghiêm chinh chẳng lấy gì tòn trọng oai linh, nay cầm quân ít ói mà quân lính déu ở ngoài thật dáng nguy cho bệ hạ”. Vua khen phái truvền quân dều vào dóng ớ nội thành. Binh Chu Tv quá

324

Như thế ta có thê chắc chắn được là imười Trung Hoa đời Đường, từ vua quan trona triều, đến quan lại đô hộ và quân đội đã bát đầu có một biệt nhĩin đối với dân Lạc Việt.

Trần Trọng Kim viết trona Việt Nam sử Lược. Từ khi nước ta thuộc về inũ/c Tàu. thì có nhà Đường cai tri là nghiệt hưn củ. Nhưng sử chép lược cỊuủ thường cách hai ha năm mới chép một việc. Chắc là những nhà làm sử nuức ta sau cứ theo sử Tàu mủ chép lại cho nén mới SO' lược như vậv.

Trần Trọna Kim viết như thế nhưna không có gì đê chúng minh sự nghiệt tấy như thế nào. Lấy con mắt vỏ tư ra xét việc, ta thấy các quan lại đô hộ muốn lắm cOng không còn ngang nhiên đè ép dân như trước được nữa. - Việc Cao Chính Bình làm dân ta thán để Phùng Hưng nổi lên nám

791 khiến Cao lo sợ mà chết. - Việc Triệu Xương sang lấy lễ vật và nhân nghĩa dự Phùng An,

khiến An quy phục. - Việc Vương Thức khi nghe kẻ cầm binh quyền cũ là La Hành Cung làm nhiều điều nhũng lạm thì truất quvền luôn. Những việc ấy dã tỏ rõ có nhiều chuyến hướng về chính sách cai trị,

chưa kể sự vị nể người tu sĩ và nho sĩ bản xứ như đã nói trên.

Dưới đây là một bài thơ có giá trị tài liệu lịch sử, minh chứng rằng người Lạc Việt đã dùng văn thơ thống trách Trung Quốc, mà quan lại

nhiên đến. đúng như lời Cổng Phụ đoán biết trước, vưa bèn thăng Công Phu

chức Gián nghị Đại phu, Đồng trung thư môn hạ Bình chương sự.

Khi chạy theo vua ra Lương Châu dọc đường con gái lớn của vua là còng chúa Đường An mất, vua muốn làm tháp, hcành lẻ chôn cất trọng thể. Công Phụ can ngay vua ràng: “Sơm Nam không phái chỗ ở làu dài và hiện nay cần tiết kiệm dể dùng vào việc quân”. Vua giận báo Lục Chí ràng Công Phụ chỉ muôn vạch diều lầm lỗi của trẫm, dể cầu được tiếng trung trực! Lục Chí tâu: “Công Phụ làm quan Gián Nghị, giữ chức Tè’ tướng, phải lấy việc dâng vua điểu phải bỏ điều trái làm gốc. Đặt ra chức Tể phụ là cốt đế hôm sớm can vua từ việc nhỏ”.

Vua nói: “Không phai thế, chính vì Phụ tự xét tài không đủ làm Tể tướng, xin thôi, ta dã hứa cho, nay biết phải thôi, nên giả làm trung trực lấy tiếng”. Bòn dói Công Phụ làm Thái Tử Tả Thứ Từ. Phụ vì có lang mẹ. xin giải chức. Sau làm Hữu thứ tử. lâu nãm không dược dời đổi. Lúc Lục Chí làm tướng, Công phụ xin dổi. Lục Chí thầm bảo: “Thừa tướng Đậu Tam thường bảo ỏng làm quan hay biến đối. Hoàng thượng không bằng lòng”. Công Phụ sợ xin lầm đạo sĩ. Vua hỏi vì cớ gì? Phụ không dám tiết lậu lời nói của Lục Chí, lấy lời của Đậu Tam thưa lại vua. Vua giận, biếm Phụ làm Biệt Giá Tuyên Châu và khiến sứ trách Tham.

Vua Thuận Tông lôn ngôi, cho Phụ làm thứ sử Cát Châu, nhưng chưa nhận chức

thì mất. {An .Nam Chí Lược - bán dịch Đại học Huế, tr 232 - 233)

325

khôns những không ỉm đi được, vẫn còn phải lưu lại để in vào sách Toàn Đường Thi q.784.

Bài thơ ấy ghi là làm vào năm Hàm Thông (860) niên hiệu vua Y Tông, sau khi An Nam hai lần bị quân Nam Chiếu vào đánh phá. Nhưng có lẽ lám, vì trận xâm lãng kinh khủng của Nam Chiếu !à vào năm 863. Ngưòi viết không để tên, chỉ ghi là cử nhân triều Y Tông.

Nam hoang hất trạch lại Trí ngã Giao Chi phúc Liên miên tam tứ niên Trí ngã Giao Chỉ nhạc Nlìii giả dân tắc thoái Vũ già binh ích dộc Quân dong mãn tlìiân hạ Chiến tướng da kim ngọc Loát dắc tê dân sang Phân vi mãnh sĩ lộc Hùng hùng Hứa Xương sư Trung vũ quan kị' tộc Khứ mã vạn kỵ phong Trụ vi nhất xuyên nhục Th('/i hữu tàn tốt hồi Thiên môn vạn hộ khốc Ai thanh dộng lư lý Oán khi thành sơn cốc Tlìuỳ năng thích cổ thanh Bất nhản khán kim thốc Niệm thử kham lệ lưu Du du Dĩnh Xuyên lục.

Nghĩa là: Cõi Nam xa xôi bỏ hoang (hay sao mà) không lựa người cai trị. ( Đế người ta) cố ý đẩy xứ Giao Chi chúng lôi nghiêng ngá. Ba bốn

năm liển.

326

(Người ta đã) làm xứ Giao Chỉ chúng tôi (thật là) nhục nhã. (Người ta đã) tập quen thổi hễ ra trận đánh nhau thì lùi. (Mà) lúc đánh nhau thì đồ binh khí (lại) là cái thẻ viết (sớ tấu trình). Binh lính thì vơ hêí mọi người trong thiên hạ. Chiến tướng (thì lại súng sính) nhiều vàng ngọc quá. (Đó là những của) bóc lột được bằng cách chích máu dân

(Rồi) chia chác (với nhau) làm như bọn quan cai nsục chia bổng lộc. (Người ta) hùnư hổ ra quân từ Hứa Xưưna;. Lòng trung cang và uy vũ (ngất trời, cứ nhin) mũ của dòng thế lộc (mà khiếp vía).

(Nhưng đến lúc cả vạn ông lính cưỡi) ngựa chạy như gió bay. (Thì) trơ ra chỉ còn một con sông đầy thây người chết. Khi làn cuộc trở vé. Nghìn cửa vạn nhà khóc. Tiếng than vang động ca làng mạc. Oán khí chồng chất thành non cao. Ví như có nghe được tiếng trống. (Thì) lòng bất nhẫn (mà) cố giữ nước mắt (khỏi) trào ra. (Đc) sao lục (cáu chuyện) (gửi về) đất Dĩnh Xuyên dằng dặc ở xa. Xcm nội dụng bài thơ, lác gia cố nhiên không dám ký tôn, ta thấy thái dộ ngang nhiên của một người yêu nước thương dân, không một lời hèn hạ quỵ luỵ thiên triều, còn mía mai cay dộc và lên án bọn tham quan chiến tướng với những chữ thật danh thép.

Bài thơ như thế làm sao gửi về dược đen Tràng An dể rồi dược sĩ phu nhà Đường truyền tụng mà giữ lại và sau chép vào sách Toàn Đườm> Thĩì Àt hán giữa các nho sĩ của hai nước dã có sự giao du thân mật lắm. Nỏ cho phép ta hiểu rằng chế dộ cai trị không cơi mở cũng không dược. Nhân đấy. la lại xét dến nhũ'ng trận giặc xâm lăng.

(ỈIẶC ĐỔ BÀ VÀ CÔ N LỔN

Đồ Bà là tôn hòn dáo ư lận cùng phía Nam của các dáo ở Nam Hải mà tôn chung là Côn Lỏn. Đường bien giữa phuơng Đỏng và phương Tây phải qua eo biển La Sonde cạnh đảo ấy hoặc qua eo Malacca.

Trung Hoa biết nước Đồ Bà từ 132 Vcà đã có thông hiếu từ hồi ấy. Nhưng vì quá xa xói. cũng không có kiều dân cư ngụ nên không còn tài liệu gì để biết rõ nước ấy. Những di tích cổ cũng rất hiếm. Chi còn một tấm bia giữa thê kỷ thứ VII với những cổ tích trên đồi Dieng ở giữa đảo, mà người ta luận rằng khu vực ấy có lẽ xưa là kinh đô Ho Ling. Nhưng nhiều người khác cho Ho Ling ở bán đáo Mã Lai'".

Theo sử đời Đường thì kinh dỏ Ho Ling giũa thế kỷ thứ VII là một trung lâm Phật giáo mà Lục Tổ Huệ Năng (638-713) đã hành hương tới dó vào khoáng nãm 664-663 và ở lại, dịch kinh chữ Phạm ra chữ Hán.

Các nhà cổ sử cho tên Ho Ling chính là Kalinga, tên một tiểu quốc ở Nam Hai mà các tiếu quốc vương ơ Kalinga (Nam Ân) bị dánh duổi nên chạy dến dó dựng một nước rntíi.

327

Nhờ năm được vị trí then chốt trons việc hàníỊ hải, hồi ây đã phát triển lại đúng vào thời tàn tạ của Phù Nam, nên Ho Lins trở nên một nước phồn thịnh với tên là Cnvijaya. Crivijaya từng đcm binh đi đánh đao Java‘'*.

Đảo Java hồi ấy có Scín Vương Sanịaya ngự trị đóng đô ở trung tâm nơi đồng bằng Kedu có đổi Dieng. Vua này theo đạo Bà La Môn thờ thần (Ịiva. Sở sĩ biết được là nhờ có bia dựng năm 732 của vua Sanjaya, tìm thấy trong đống gạch đổ của dền thờ ẹiva. Đó là ổng vua đầu dòng Cailendras mà người kế vị năm 778 xưng là đại đế Maharaịa Panangkaran và mở lối phát triển cho Phạt giáo Đại thừa.

Vậy thì Sanjaya Bà La Môn, trị vì Java khoảng 732 tới 778 đã chống lại nước Crivijaya ở Sumatra. đánh chiếm đao Ba Li, xâm lăng ca Phù Nam, dánh cả Trung Hoa. Chính vua ấy (hoặc quân của vua ấy cử di) dã đánh Giao Châu năm 767, mà sứ ta ghi là giặc cỏn Lôn và Đổ Bà.

Giặc đi đường biển, vào lận trung tâm Giao Châu vây hãm phủ đô hộ lúc ấy là Tư Thành (ở phía Tây Bắc Hà Nội bây giờ). Kinh lược sứ Trương Bá Nghi cùng với Đô uý Cao Chính Bình phải họp binh đánh thắng một trận lớn ở gần Sơn Tày bủy giờ mới đuổi dược giặc ra biển. Sau đó Trương Bá Nghi cho dắp La Thành (767) lấy sông Tô Lịch làm hào thiên nhiên để phòng thủ.

Việc ấy nay không khỏi gây cho người khảo sử một thắc mắc: giặc là giặc biển, đường vô xâm lăng phải là đường thuỷ, vậy muốn ngăn giặc ấy, sao không dắp La Thành ở phía Đông và Đông Nam dọc theo sông Hồng (nếu giặc vào bàng đường ấy) mà lại đáp thành ở phía Tây và Tây Bắc theo sông Tỏ Lịch?

Thì đã quả rất dúng rằng dến tận 767 ấy, vùng Hưng Yên vẫn còn là dầm lầy (đầm Dạ Trạch) và sông Hồng nhiều phù sa túa ra dồng bằng.

Thiền sư Nghĩa Tịnh người Tàu năm 671 di cùng Đại Thặng Đăng Ihién sư người Ái Châu cùa ta, đến Trung Ân, thăm chùa Na Lan Đà rồi đến Kim Cang toạ, trên đường có ghé qua đấy ơ sáu tháng học chữ Phạm. Ngài có ghi rằng: ‘Trong thành Fo Che có h(ín một ngàn sư tăng chuyên nghiên cứu mọi vấn đồ tôn giáo như bên Thiên Trúc vẠv, lề lục cũng như thế. Nhà sư Tàu nào muốn qua Tày phirơng đê nghe và đọc được kinh Phật thì nôn ở lại Fo Chc một hai năm học tập Irưức cho quen, sau đó sc qua Trung Ân” Sau khi ở lại Na Lan Đàn 10 năm, trên đường về, thiển sư Nghĩa Tịnh lại ghé Fo Chc ư 4 năm từ 68.6-689 để chép và dịch kinh chữ Phạm sang chữ Hán. Năm 689, ngài về Quáng Đông đón thêm 4 đệ tử rồi trở lại Fo Chc viết hai tập bút ký vể những cao tăng qua Tây Trúc thính kinh và Nam Hải pháp môn, trong dó ngài ghi nhận thành Fo Che là nơi ngài ghé năm 671 thì bày giò' là nước Che Li Fo Che (tức là Crivijaya theo bốn bài bia cổ ở Mã Lai, mà một tấm có nói rõ là nước Phật giáo vừa chiếm dược dảo Bangka và vùng đất lambi, nay sáp dem binh di dánh dảo Java vào năm 686 vì dảo này không chịu thần phục).

328

chưa thế là đường sông thuận tiện cho thuyền bè, nên giặc đã vào cửa Thần Phù theo đường kinh mà người Viộl đcã sử dụng từ thế kỷ thứ V (có khi trước nữa là thời Hùng Vương) để lên sông Đáy mà tới Sơn Tây, rồi từ đó mới đánh xiiống phủ Đô h(V‘\

Sau này. năm 791. Phùng Hưng nổi lên ở Sơn Tây rồi cũng từ mặt ấy đánh xuống phủ Đò hộ mới hiểu rõ việc người Tàu đắp La Thành về phía Bắc Tây Bắc là nhằm chống dỡ chỗ yếu nhất ấy cả đối với giặc biển ở ngoài lẫn với giặc từ rừng núi ở trong. Còn chính mặt Đông của sông Hồng thì khống đáng sợ vì các cửa sông chưa thành hình, nên rất khó đi thuyền vào.

(ỈIẬC NAM CHIẾU'-’

Nam Chiếu là nước nào và ở đâu? Phía Tây Bắc Giao Châu thuộc miền Tây tỉnh Vân Nam có một xứ mà dân là ngươi Thái xưa kia chia làm 6 chiếu thuộc tu trương ơia tù trưởng dịa ma oan la ngươi inai xưa kia cnia lam o cnieu tnuọc phương cai quản (chiếu dối với dân Thái tức là vua) Mỏng Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đàng Đạm, Thi Lãng và Mông Xá. Sáu chiếu này có thời đã cùng thần phục nhà Đường. Mông Xá ở phía Nam đối với các chiếu trên kia và giáp địa phận

Giao Châu. Đó là nước Nam Chiê\L^\

Khoảng năm khai nguycn (733-741) đời vua Đường Huyền Tông, Bì La Cáp là vua Nam Chiếu có chí lớn, đút lót tiết độ sứ đạo Kiến Nam

Sự kiện này cải chính những khắng định cúa Maspéro rằng đường viền bờ biển

không xê xích nhau bao nhiêu từ xưa lới nay.

Theo Phạm Văn Sơn, Việt SửTân Bicn, Ir. 233, 234. Dân Nam Chiếu đã từng sống nhiều phen phá oanh liệt và quạt cường. Dưới đời Ngô Tôn Ọuyền thời Tam Quốc, họ đã biết tìm những nơi sông ngòi, núi non hiểm trở như Hà Hoa, Q uế Chữ, Vọng Cái, Hoành Sơn, Trường Sa, Hái Ngạn, Lỗ Lôi, o Tôn. thuộc Hoa Nam đc tụ họp. Ngoài ra họ còn giao thiệp mật thiết với nước Tây Bà Dạ đế lấy vây cánh. Có sách chép họ là con cháu của Triệu Vũ Đ ế và cúa quan Tliái phó Lữ Gia bị các tướng nhà Hán là Lộ Bắc Đức và Dương Bộc đánh siêu bạt đến các xứ trên đây.

Dưới đời Tấn (26.3-316) họ lại hợp lực với bọn Thổ tù làn cận là Triệu Công Lý chiếm cứ châu Q uỳ, châu Diên đặt Làm lộ Da La, lấy châu Cầm, châu Hoan làm lộ Lâm An cùng nhau cai trị. Họ lập thành trì ở xã Cao Xá thuộc đất Diễn Châu, phía Đ ông giáp bể, phía tây giáp Tây Bà Dạ, phía Nam giáp núi Hoành Sơn rồi tự xưng vương.

Đời Đông Tấn (317-420), Tào Nhĩ được cử đi đánh, nhiều phen đuổi được Nam Chiếu ra tận bể. Nhưng quân Nam Chiếu rất khôn ngoan, biết trốn tránh sức mạnh, biết áp dụng chiến thuật co giãn và tiêu hao. Quân Tấn không chịu được thuỷ thổ đau ốm chốt hại nhiều phải rút lui. Nam Chiếu lại trở về hoành hành như cũ.

329

là Vươns Dục xin thốiiíỉ nhất và quản lĩnh cá 6 chiếu lấy cớ rằng 5 chiếu kia suy nhược không đứng vững nổi. Đường triều theo lòi đề nghị của Vương Dục chấp thuận việc thống nhất này Vcà đặt tên cho 6 chiếu hợp nhất là Quy Nghĩa. Việc thống nhất thực hiện xong, Nam Chiếu trở nên một quốc gia cường thịnh xuất quân đánh phá các nước láng giềng. Trước nhất là nước Thổ Phồn (sau này Icà Tây Tạng) bị Nam Chiếu xâm lãng. Tháng trận ở đây, Nam Chiếu dời đô đến thành Thái Hoà đế có một vị trí vững vàng hơn. Sau này. Nam Chiếu tự đặt thêm một lên khác là Đại Lý và thành một mối lo ở biên cương cho Trung Quốc.

Nám Tàn Tỵ Đường Thiên Baơ thứ 9 (750), quân Nam Chiếu vây thành Côn Minh (quận Vân Nam) cướp được hai châu Tiên Di và Riêu, gổin tất cá 32 xứ. Nam Chiếu biết lợi dụng rừng núi để nhử quân Đường vàơ sâư rơi vây hãm và lấn công. Tiết dộ sứ ở Kiến Nam là Trọng Thông, sau lới tiết dợ sứ Đường Quốc Trung hai lần huy dộng 28 vạn quân dánh nhau với Nam Chiếu dều bị thua thám hại.

Nãm Đường Trình Nguyên thứ 16 (800), An Phủ sứ Vân Nam là Vi

Cao dánh quân Nam Chiêu ở Thiết Kiéu phủ Lệ Giang.

330

Nám Bính Dần (846). Nam Chiếu tràn qua Giao Châu, kinh lược sú' là Bùi Nguyên Dụ đánh đuổi dược. Sau dó dến Vương Thức thay Bùi Nguyên Dụ biết cách cai trị nên mọi mầm loạn dều tắt. Đốn năm Canh Thin (860). Lý Hộ sang làm Đỏ hộ thì Nam Chiếu dã mạnh thèm nhiều. Con Phong Hưu (vua Nam Chiếu) là Tư Long lự xưng đế và đặt quốc hiệu là Đại Mông sau lại dổi là Đại Lỗ. Tư Long lo tăng crrờng ráo riết vồ quân sự, động viên thanh niên từ 15 tuổi đế dưa vào quân ngũ. Rồi một chuyện xáy ra dẫn dường chơ quân Nam Chiêu bước thêm lần nữa vào đất Giao Châu: nguyên Lý Hộ quen ỷ thế mạnh của thiên triều giết lù trưởng cứa dân Mường là Đỗ Thủ Trùng khiến loàn thổ dân Mường bất mãn. Dân Mường vốn có liên lạc vói Nam Chiếu muôn báo thù nhưng không đủ sức. liền vạch đirờng chỉ nẻo và xui giục quân Nam Chiếu xâm lược Giao Châu. Tháng 11 năm ấy, thành đô hộ bị thất thủ, Lý Hộ và Giám Quận bỏ chạy vé Vũ Châu. Tháng giêng năm sau, Đường tricLi phái Vương Khoan dem quân Ung Châu và các miền lân cận sang cứu viện. Quân Nam Chiếu lại rút về nhưng hai năm sau họ lại lần dến. Tướng Đirờng là Thái Tập dem ba vạn quân sang đối phó. Nam Chiêu lại lui binh. Sau này, tiết độ sứ Lĩnh Nam là Thái Kinh sợ Thái Tập lập công to dã mật tấu về triều đình ràng tình hình Giao Châu đã ổn định không cần phải để quân đội ở lại. Vua Đường liền rút doàn quân viền chinh về. Thái Tập muốn để lại 5.000 binh cũng không dược.

Hieu được sự lục đục kê trên, năm Quý Mùi tức là năm sau, Nam Chiếu mở cuộc tấn công mãnh hệt hơn bao giờ hết bằng số 50.000 quàn tràn như nước lũ vào Giao Châu, chiếm được phủ thành, Thái Tập thế cỏ phái lự sát. Tướng Đường là Nguyền Duy Đức đem 400 quàn Kinh Nam đến cứu cũng thua chạy ra đến bò sông thì bí lối vì không có thuyên bè. Y liổn hô hcào quân .sĩ quay lại liồu sống mái với quân Nam Chiếu bởi đàng nào cũng chết. Cuộc phan còng này giết hại được 2000 binh ,sĩ Nam Chiếu nhưng đến đêm, Nguyễn Duy Đức kiệt lực bị tướng Nam Chiếu váy đánh và giết được ca bọn. Tháng trận hoàn toàn, quân Nam Chiếu vào phù thành sát hại tới 15 vạn nhân mạng.

Giao Châu lọt vào tay Nam Chiếu. Vua Nam Chiếu là Nông Thê Long cử Dương Tư Tấn trấn thủ Giao Châu với hai vạn quân và dặt Đoàn Tú Thièn làm Tiết độ sứ.

Mâì Giao Châu, tạm thời nhà Đường thiên An Nam đỏ hộ phú về Hái Mòn (?) rồi triệu lập quân các đạo về Lĩnh Nam lo ihuyổn bè và lương thực. Mùa thu năm sau (864), Caơ Biền được lệnh xuất quân.

ẢNH H IIỎN í ; đ ế n TÂM LÝ N t .ư ờ l LẠC VIỆT

Những trận giặc xàm lăng lớn như thế gây đau thương chơ dân thì đã cố nhiên rồi, nhưng diếm quan trọng hơn nữa anh hưởng đến tâm lý người dân bán xứ Là uy tín của thiên triều bị giảm sút rất nhiều. Từ nay người ta biết rõ là quân dội của thiên triéu Trung Hoa không hẳn dã là quân đội không biết thua trận.

Chứng nghiệm ấy thêm vào những chứng nghiệm khác vé mức dộ liến hoá linh thần và tôn giáo cua người bản xứ dã nói trên. Củ những chứng nghiệm khác nĩra vé tư cách sống của người thường dân Trung Hoa. cũng luộm thuộm, nhơ nhớp, và đầy rẫy những lừa lọc, dáo điên, ngay với chính họ, người Lạc Việt thấy hết, dần mặc cảm tự ty dối với thượng quốc.

Ngay dối với Cao Biền, một danh tướng kiêm danh nho. quáng bác cả thiên vãn địa lý, mấy năm sau, dem quân sang dánh dẹp dược giặc Nam Chiếu, rồi đắp thcành Đại La vĩ dại' mà dân chúng vẫn giễu cọl bằng câu tục ngữ “lẩy báy như Cao Bien dậy non”, với giai thoại vé việc Cao Biền tự chôn mình trong địa huyệt của kiểu dất phượng hoàng ấp noãn,

Thành bốn mặt dài iKín 1982 trượng lĩnh .s thước (7930m ) cao 2 trượna lĩnh 6 thước (10,4m ) đáp một dường dê bọc ngoài hơn 2125 trượng lĩnh 8 thước (8530.2m ) cao 1 trượng rưỡu (6m) dầy 2 trượng (8rn). Trong thành cho dân sự làm nhà hơn 40 vạn nóc.

331

chí trăm ngày lại hổi sinh, rồi làm nên sự nghiệp đế vương, danh vang bốn bể: Cao Biền nhờ bcà già ở gần đấy mỗi ngày đốt giùm cho một nén hương, đủ trăm ngày trăm nén thì gọi dậy. rồi xuống huyệt đạp cho đất lấv lên trên mình. Nhưng vì quên không yểm thần đất nên vỊ thổ thần hộ huyệt giận mà khiến lũ chuột lự tha trộm của bà lão ba nén hương. Khi đốt 97 nén thấy hết hương, bà lão tưởng đã đủ trăm ngày mới gọi Biền dậy. Cao Biền ngồi dậy thấy mạch dất mới được 97 ngày chưa quán khí, thành ra không làm gì dược, người cứ run bắn lên. Biết trời không cho mình, Cao Biền thất vọng ra về. Vì vậy mới có câu “Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non”.

Hai í>ifơm tchn íỊÌứo Mặc áo da hò Thập thò cửa lỗ

Tiếng cười của người dàn Lạc Việt quá đã bắt đầu đáng sợ. Người ta cười ông tướng vũ khí rất nhiều, cổ cá áo giáp mà lại nhút nhát, là con cua, trong câu dối chơi với nhau.

Tam thủ tam vĩ, lục nhãn lạc nhĩ Tứ túc chỉ thiên, tứ túc chỉ dịa Đốiù con Ịịì?

Người ta cười hai người dân Trung Hoa khiêng một con hco, thành ra một quái vật không tên. trong câu dố chơi:

Người ta cười cờ với trống trận hùng hổ xông pha ghê gớm lắm, mà

Dầu lùmị dành trống Cuối làníỊ phát cờ Tvổnv, dành dến dâu Cờ ba\ dến dâv

chi là một con chó trong câu đố khác:

Ba ô/;g /7gó/ ghế Một ỏng cậy thể Một óng cậy thân Một ỎHÍỊ tần ngần Đút h.... vào hếp.

Người ta cười các quan cai trị chỉ là cái bễ thổi lửa, trong câu đố khác nữa

332

Ây là những dấu hiệu của sự cựa mình để sắp sửa đứng lên vậy.

PHẨN THÚ T ư

THÒI KỲTỰTRị (907-938)

Người Lạc Việt hết mặc cảm tự ti đối với Trung Hoa. Càng về cuối đời Đường, chính quyền và quân đội suy yếu. người ta lại càng thêm tự tin là đủ sức tự quán trị được việc nước.

Đối với Phật giáo mà người la dốc lòng tin trong khi bên Tàu bắt đáu xoay ra bài bác, khiên thiền sư Vò Ngôn Thông năm 820 phải bỏ Trường An qua Giao Châu ớ và truyền Thiền Tông thứ hai thì người ta bắt đầu nhìn thấy thiên triều không còn gì đổ làm thượng quốc mãi.

C H Ư O N G I TRUYỆN NGUỒN Gốc RồNG TIÊN

Và việc quan trọng hơn hêì, có giá trị hơn hết, là sự sánh mình ngang hàng với thiên triều, cũng có gốc gác sang trọng như dân thiên triều vậy, trong câu chuyện nguồn gốc Rồng Tiên.

rỏM LL ỢC

Người ta lầm mà dọc và hiểu nó là sử. Phải coi là truvện, vì: - Tên người tên dất bằng chữ Nho, hồi dầu không có. - Sự việc phong chức cắt dất cũng không có. - Những vùng đất ở Trung Hoa, người Giao Chỉ cũng không biết. - Đã khổng có đường để vua di tuần thú dẽ dàng quá. - Người thời ấy cũng chưa biết những ý nghĩa tượng trưng của

Nội dung của truyện

con'rồng.

Càng dần dần về sau. mỗi đời, người ta lại lược bỏ bớt chi tiết quan trọng di. Chi giữ lại cái vỏ là con Tiên cháu Rồng mà tác gia mượn đế

333

trình bày câu chuyện. Nỉiười đời sau khôns hiểu đã giữ vỏ mà bỏ b(ýt nội dung là điều tác giá muốn nói:

1. Người phương Bác quấy nhiễu. 2. Bổ Lạc Long Quân lúc nào cũng sán sàng để cứu dân. ĩ. Bô bát cóc Âu Co là con vua Tàu. 4. Gốc của Bô là ngang với các dời vua Tàu và cành vàng lá ngọc

như nhau cả.

Đáp ứng nhu cầu giai đoạn

5. Đáng lẽ phụ vương của Bỏ cai trị miền bắc kia. 6. Anh cm đã nhường nhau như vậy mà còn quấy nhau.

Đưa nguồn gốc lên ngang nguồn gốc Trung Hoa cũng sau cá như

Truyện nảy sinh

thế là dể cho dân thấy nicm kiêu hãnh dân tộc.

Truyện do ai sáng tác?

Chí có thể vào hồi hết tự ti mặc cảm với Trung Hoa.

Truyền từ các chùa ra, trong thời kỳ Phật giáo được sùng thượng,

Tính cách thần kỳ quái đản

truyện phủi do các nhà sư có được dọc các truyện Trung Hoa và An Độ.

Phần đóng góp của Ân Độ là Rồng kết duyên với Tiên (đã cổ truyện

Kaudinya lấy con gái vua rắn Naga lập nên vương quốc Phù Nam).

T R U Y Ệ N N C U Ổ N c .ố c R ổ N ( ỉ T IÊ N

Phần đóng góp của Trung Hoa là gốc từ Thần Nông dến Sùng Lãm. Phần của Lạc Việt là đoạn kết bất hợp lý dương theo dòng Tiên thì chuyển sang Rồng chỉ vì cái tên Lạc Long Quàn. Cả nội dung sinh một bọc nở ra trăm con cũng là cái phần thực tê' Lạc Việt.

Truyện này đã làm cho người dời tốn khá nhiều giấy mực. Bởi lẽ thường với bất cứ một quyển sử nào, nó cũng được đặt ngay vào doạn đầu, để cho “cây có gốc, nước có nguồn” nên truyện đã phổ thông hết sức, từ người học sử, dạy sử, đến người suy nghĩ về sử, ai nấy đều có cảm tướng nếu đấy chẳng phai là sử ở nguồn gốc thực thì cũng là những tuyên ngôn từ thời thái cổ ấy dể lại.

334

Thành ra tự nhiên người ta tự chia ra theo những thái dộ; nhin nhận gốc dân lộc là đúng có thực như truyện kế; hoặc nhìn nhận thời cổ xưa

nước nào cũng là gốc thần kỳ thì mình cũnc vậy, chẳiiỉỉ việc aì phái hoài nahi hoặc nhìn nhận đã có lời truyền lại ắt cũna có phần nào sự thực, có the kiểm chứna được nữa: hoặc phủ nhận hoàn loàn là mè tín dị đoan, khôna khoa học tiến bộ.

Tất ca đều mắc phải cái lầm căn bủn: không chịu hiểu nó là truyện

mà cứ dinh ninh nó là sử.

Là sử thì ai nấy có quyền và bổn phận khoe tài, khoe khôn, cả khoe aiỏi vổ khoa học thái tây dổ biện luận vồ lính cách thực hay khôna thực của nó. Còn Là truyện thì tâì cả những công việc làm ấy chỉ hái lưựm dược

một nụ cười của người làm truyện.

Có ai dọc một truyện thán liên mà lại để mất thì giờ về việc tìm hiếu nó có dứng sự thực chăng? B(Vi vậy dối với truyện nguồn gốc rồng tiên này cũng như các truyện thần liên khác, ta cần bỏ sang một bên cái vỏ thần kỳ quái đản mà tác gia lạm mưựn dể tìm hiểu thâm ý của tác giả muôn nói gì.

TẠI SAO HIẾLI NÓ LẢ TRUYỆN?

Nó là truyện vì: - Bao nhiêu lên người lên đất trong truyện dều bằng chữ Nho cả, mà ở nguồn gốc, la không hề giao thiệp với Trung Hoa và không có người nào biết chữ Nho dể dặt lên.

- Những sự việc kể trong truyện như vua cha phong cho con làm vua cai trị vùng dất này dất nọ dã không thè’ có được trong thời kỳ người ta còn sống dời sống bộ lạc. Không những không có, mà còn chí có thể nghĩ ra được khi người ta sống trong chế độ xã hội có vua quan và có kỷ cương nền nếp.

- Chính những người Giao Chi ở nguồn gốc cũng không biết có

những vùng dất phía bắc với tên là động Đình Hồ, núi Ngũ Lĩnh nữa.

- Đường di từ phía Bác xưống phía Nam toàn rừng núi cheo leo

hiểm trở, chưa có cả đường nữa, không thể có được việc vua di tuần nữa.

Bởi vạy, dây là một truyện do t)c người ta bố trí và tượng tượng ra sau khi dã có chữ, dã biết việc vua phong, đã biết tên đất. dã có dường đi và dã hiổu biết những gì về con rồng.

TRUYỆN C ỏ NHŨNí; (ÌÌ 0 NỘI DUNC?

333

Nội dung của truyện thì càng về sau này người la lại càng lược bỏ bcrt chi tiết đi, chí giữ lại có chữ tục truyền (để ra déu là ta đã liến bộ

khoa học, không mê tín dị đoan nữa) và chỉ giữ lại có việc Tiên và Rống sinh ra mấy thế hệ, rồi tới vua Hùng Vưong, lấy đó là việc cốt yếu (chẳng hoá ra người làm truyện lại coi đấy chí là cái vỏ mượn đỡ đc nói những ý chính khác mà người đời sau lại tưởng Icà phụ để lược bỏ bớt đi).

Như gần đây nhất vào năm 1956, Phạm Văn Son chép trong Việí Sử

Tân Biên như sau:

Truvén tluivết vé họ Hổníị BàníỊ theo lời tục tniyén íroníỊ các cổ sử thì vua Đ ế Minh cháu ba dời vua Thần Nỏni’ di tuần thú phương Nam dến miền núi Vg/7 Lĩnh thuộc tỉnh Hồ Nam íỊập một nàng tiên lấv nhau rỗi sinh ra Kinh Dươmt VirưníỊ. dặt làm vua phương nam. Sau này, Kình Duơiiíị Vươiỉí’ lâ\' con yái ĐỘIUỊ Đình Quàn là Long Nữ sinh ra Lạc Long Quán. Lạc Lon^ Quán lấy Âu Cơ sinh ra một học cỏ một trăm trứníỊ nở ra trăm con (vc dicm nàv cỏ sách ghi rõ râni> Ảu Cơ sinh ra trủm con nửa trai nửa gứ/, có sách nói trăm con dó dcu trai hết. dđv chỉ là một truxcn tlìuvct thiết tuởny khôny nên t/uan tâm lắm) nửa theo mẹ lên núi, nửa theo cha .Kuổny hể Nam Hài vì mẹ là gừyn^ Tiên và cha là í>iô'níỉ Rổint. Do dó cốmị Bách Việt rdi rác khắp miền Nam Trung Quốc. Nước của Kinh DươiU’ VitơníỊ lấY quốc hiệu Xích Qu\ í>ổm tỉnh Hồ Nam. Qudm> Tâv hây g/V>,' ní>ười Việt /;gừv nay tự cho mình lù con Tiên cháu Rổm> do sự tích này.

Lạc Lom> Quân plìoiut cho con cả lên làm vua nước Văn Lany

(quốc hiệu thứ 2 của nước ta sau Xích Quỷ) vờ .xưng là Lạc Vương.

Xa hơn inột ít, năm 1938, Đào Duv Anh trong V iệ t N a m V ăn

ỉ ỉ o á S ử C ư ơ n g chép:

Theo tục truyền thì mỊười Việt Nam là nòi g/ôưg Tién RồìiíỊ. Vua dâu tiên họ Hổtuị BủiĩíỊ nước Xích Quỷ là Lộc Tục tức Kinh Dương Vươiu’, một hóm di nĩịoạn cảnh (ỳ hồ Độní’ Đình thình lình gặp một thiếu nữ nhan sắc tuyệt V()i tự .xitiìíỊ là Lon‘.ị Nfí con gái của Động Dinh Quân. Lộc Tục kết duyên cùntị nùm> ấy sinh dược một trai dặt tên Sùng Lãm, ndi nyôi cha lùm vua xưng là Lạc Long Quán.

336

Lạc Lotuị Quân lấv Âu Cơ là con gứ/ Đe Lai, vua một nước láng iỉiéniỊ de’ ra một lần trăm cái trứmt .sau nở thành trâm người con trai. Mọt hóm Lạc Loní> Quân nói với Âu Cơ rằng: Tôi là dòng dõi Long Quân mù mình là dòm’ dõi thần tiên ăn (ỳ lâu với nhau không thểdiíợc. Nav trăm dứa con trai thì minh dem 50 dứa lên núi. còn 50 dưa dê tôi dem xuống Nam Hải. Sau Lom> Quán phone, cho người con dầu tiên làm vua à nước Văn Lany. Nitười ấy là thuv tổ của giông Việt Nam ta vậy.

Xa hơn nữa, năm 1919, Trần Trọng Kim trong V iệ t N a m sử

L ư ợ c chép với nhiều chi tiết hơn:

1. Họ Hổng Bàng: Cứ theo tục truyền thì vua Đ ế Minh là cháu ha dời vua Thần Nônị>, đi tuần thú phương nam đến núi NíỊŨ Lĩnh (thuộc tính Hổ Nam háy giờ) gặp một nùng tiên, lấy nhau đẻ ra người con, tên là Lộc Tục. Sau Đ ế Minh truyền ngôi lại cho con trưởníỊ lã Đ ế Níịhì lùm vua phưưng Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, XI ÚĨ Ĩ Ỉ là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.

Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ ở phía Bắc giáp Động Đình Hỏ (Hồ nam) phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành) phía Táy giáp Ba Thục (TứXiyên) phía dông giáp hể Nam Hài.

Kinh Dương Vương lùm vua nước Xích Quy vào khoảng núm Nhàm Tuất (2879 tr. CN) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, dẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi lùm vua xưng là Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân lấy con gái vua Đ ế Lai là Ấu Cơ, dẻ một tần dược 100 người con trak".

Lạc Long Quân hào Âu Cơ rằm>: Ta là dòng dõi Lonif Quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ủn (ỳ lâu với nhau không dược; nay được trăm dứa con thì nhà ngươi dem 50 dứa con lên núi còn 50 dứa ta đem xuô'm> hể Nam Hài.

Gốc tích truyện này có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau nước Xích Quý chìa ra những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày nay, đất Hổ Quáng, tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây còn xưng lù dất Bách Việt. Đấy cũng là một diều nói phỏng, chứ không lấy gì làm díclĩ xúc dược.

2. Nước Văn Lang: Lạc Long Quân phong cho tnịKỜi con trưởng sang lùm vua nước Văn Lamị, xưng lù Hùng Vương.

... Hùng Vương dóng dô à Phong Châu (bây giờ ở vào dại hạt huyện

Bạch Hạc tỉnh Vĩnh Yên).

Xa hơn nữa, năm 1884 K h á m Đ ịn h V iệ t sử T h ô n g G iá m C ư ơ n g

M ụ c chép với nhiều chi tiết hơn nữa.

Vua dầu tiên của họ Hồng Bàng nước ta là Kinh DươníỊ có con là Lạc Long Quân vù vua Hùng lù con vua Lạc Long Quán, ở nguyên rlìuv, vua Đ ế Minh là cháu ha dời của Viêm Đ ế trong dònq họ Thần Nônẹ di tuần thú phươníf nam dến núi N^ũ Lĩnh íịặp nànq Vụ tiên nữ thì kết duyên sinh ra người con trai dặt tên là Lộc Tục.

' Có sách chép là Âu Cơ đỏ ra 100 cái trứng nở ra 100 con.

337

Vua Đ ế Minh thươnị’ \'êii Lộc Tục muốn truyền ngói CÌIO. Nhưng Lộc Tục khước từ nhiứyiu> m>ười anh là Đ ế Nghi làm vua phương Bắc. còn mình dược làm vua phương Nam. xưng là Kinh Dương Vương.

Kinh Dươmị Vương .sinh ra Sùng Lỡm lên nối ngôi xưng là Lạc Long

Quân. Lạc Long Quân lay hù Âu C(/ và de dược 100 người con.

Xa hơn nữa, thế kỷ XVIII, Ngô Thíri Sĩ chép tron^ V iệt sử Tiêu Á n: Nước Việt ta thuở trước tương truyền vua dầu tiên là Kinh Dương Vương. Cháu ha dời vua Viêm Dê là Đè Minh di tuần thú miền nam iịặp Vụ tiên nữ lấy lùm vợ. sinh con là Lộc Tục. Lộc Tục lù ngưtyi doan chính. Vua yêu í/uv muốn lập làm kế tự. Nhưní^ Lộc Tục nhuúng dịa vị ấy cho anh NQìi. Vua hèn plìom> cho Lộc Tục làm vua tại miền Nam Việt. Dó là Kinh Dương Vươmị.

338

"'Con của Kinh DươiuỊ Vươnịị là Sùng Lãm lân làm vua gọi là vua Lạc Loin>.... xét troiìíỊ truyện chép tlưyi hây giờ, vua Lạc Lom> về ở trong dộmị nifớc, dân cố việc gì thì kêu to lên rằng: "Bô ở dâu? Lại đây với ta" Thì Lom> Quân lại ngay. Bấy í>ih'Dê'Lai (là con D ế Nghi) di tuần choi xem phoniỊ cảnh núi sôní>. Nàní> Cơ một mình ở hành cung. Ni>ười trong nước khổ về việc ngiừyi phươni> hác quấy nhiễu, lại gọi Long Quân ra. Loní> Quàn ra trôiu> thấy nàng Cơ dẹp mà hằiu> lòng lấy, dưa về cho ở trong hiến (Sử kiêng không nói việc ấy ra, chỉ nói là lây con gái Đ ế Lai lù vì .xấu hồ việc trai gái chim chuột không khác gì cầm thú, dều là việc không nên nói ra, không hằng hó di thì hơn). Trong truyện lụi chép: Lạc Long cùng với Âu Cơ chia con ra mỗi hên tuột nửa theo cha mẹ lên núi và xuống hể, có việc gì cũng cho nhau hiết. Bù Cơ dưa 50 dứa con dếìì ở Phong Châu, tôn người hùng trưởng dời dời gọi lù Hùng Vương. Nhà làm sử muốn lấy người theo cha lùm chính thống nên dổi uyi văn rằng: 50 con theo cha ở phía Nam, mù lấy Hùng Vương dể à sau, khiến cho việc mất sự thật, người dọc không thể không nghi được. Nếu Long Quàn không plìdi là giống Động Dinh sinh ra thì không cần hiện luận làm gì. Long Quân mà quả là giống Động Đình thì loài ở dưới nước tất nhiên không ở trên bộ dược. Nhưng người con theo mẹ ai cũng phdi lệ thuộc Long Quân há có lẽ những người theo mẹ chỉ có thể lùm man mọi ư? Xét sử cũ Ngó Sĩ Liên hào rằng: dời Hùng Vương dựng nước chia lùm Ị5 hộ, ngoài ỉ 5 hộ dêu có trưởng tế, lấy các con thử chia tri từng nơi; lại bão rằng 50 con theo mẹ vê núi thì mẹ lùm Quân trương, mọi con dều lùm chủ một phương, mù lấy tên gọi là "nam phụ dạo", "nữphụ dạo" của hạn man tù ngày nay làm chứng cớ không hiểt thuyết ấy có tổ thuật dâu không?".

ĐỜI SÒNG CÚA CÂU CHUYỆN

Xét chung như thế, ta thấy câu chuyện này có một đời sống khá kỳ lạ

siữa xã hội. Men dần từ gần đây về tới gốc mới phát sinh của nó, ta sẽ thấy:

1. Giữa thê kỷ XX, người đời sợ mình mang tiếng là mê tín dị đoan, không khoa học nhưng không nỡ bỏ nó mà chỉ nói nhấn mạnh rằng nó là truyền thuyết.

2. Đầu thế kỷ XX, với Trần Trọng Kim, người ta thao thức tìm nguyên lý cho gốc tích cả giống Bách Việt, trong đó có một người con làm vua nước Văn Lang nhưng vẫn đcã phải nhấn mạnh vào chữ tục truyền.

3. Cuối thế kỷ XIX với Khâm Định Việt s ử Thông Giám Ciữxng Mục, người ta ngang nhiên kể câu chuyện như là sử, không một chút gì nhận nó là tục truyền nhưng đã lược bcVt mấy chi tiết quan trọng.

4. Giữa thế kỷ XVIII, với Việt SửTiâỉt Án, người ta hiểu câu chuyện với đầy đủ chi tiết, cổ thể dùng làm căn cứ được. Nhưng cũng trong sách ấy, tác giả Ngô Thời Sĩ, chắc là vì có nhiều người đưcmg thời tỏ ý không tin nên đã bênh vực câu chuyện với những lời thật bướng bỉnh như sau:

Nhữmị triivện lấy à sách Trích Quái, u Linh cíhig như Bắc s ử lấv ở sách Nam Hoa Hổng Liệt. Nêìí nhất khái cho ỉờ dữ sử không đù tin thì theo ở dán hiết dã việc chế túc lớn lao dược? Cho nên diền gì gán lẽ phải thì dể lại, diều ÍỊÌ klìôny khảo cứu dược thì hớt di. s ử chép Đ ế Minh lấv con yái Vụ Tiên sinh ra Kinh Dươm>, cùng với sử nhà Nguyên Nguy chép: tục m>ữ nói Cát Phán Hoàmị d ế khôm> vợ, hai diều này cùng giống như nhau. Đại dể các bậc thánh thần lù khí thiêníỊ chung đúc, có khác người thườnq hoặc còn có lÝ. Đến như việc Kinh Dươn^ lấv con ẹứ/ Động Đình, Lạc Long lấy Ẩu Cơ, loài ở nước loài ở can lấy nhau, thần với ngiư/ị à lẩn, lời dó tựa hổ không hợp lẽ thườnĩị. Tôi trộm nghĩ: giời đất mở mang dẩn dần, nước ta nlìán văn â sau Trum> Quốc, nước lụt dời Nghiêu chưa hình, cúi vạc .xưa vua Vũ chưa dúc, mênh mang biển Quế Hải vần lù tô rổní> rắn ma CỊUV tụ họp, những chuyện kỳ cpiúi sao lại không có. Chuyện dời Chu nước dãi con rồng tụ lại mà sinh ra người con gái còn có dược, huốny chi về dời Kinh DươiiíỊ Lạc Long? Việc tựa hồ lạ mà không phải lạ và cũm> klìôm^ nên tự cho lù hẹp hôi như con hạ trùng thì mới phái.

Ngô Thời Sĩ có ý muốn nói bướng rằng kẻ nào không tin thì là con

hạ trùng, tức là loài sâu bọ. Thật là cuộc cãi lý kịch liệt vậy.

339

5. Cuối thế kỷ XV (1474), Ngô Sĩ Liên không phải cãi lý với ai cả, cứ chép dầy đủ câu chuyện như đã có trong V iệt Điện u Linh và Lĩnh Nam Chích Quái, để sau Ngô Thời Sĩ dùng làm căn cứ.

ông viết: "'Trong thời Trời Đất mới khai sinh, có những giống (lo khí hoú mà thành như ho Bùn c ổ chẳng hạn. Có giống do khí hoú rồi nnỳi có íỉiống do hình hoá, nhưiuị giỏng ncìo mù không hởi hai khí úm dưo’m’7 Kinh Dịch chóp: Tr(yị dất úp ủ, vạn vcĩt hoủ thành, trai gái chuní> tình, van vật hoú sinh. BcỶi dc) có chồng có V(/, rồi nuyi cho cha có con, r()i mới có vua có tôi. Nhưng thánh hiền sinh ra tất khác người thường. Vì thế do mệnh trời nên một trứniỊ én mà sinh ra nhà Thưcmg, dạp vào dấu chân ngudi khổnẹ l() mù sinh ra nhà Chu. Đó dểu là chép sự thực củ. Dòng dõi lự) Thần Nông là Đ ể Minh gặp dược Vụ Tiên nữ mà sinh ra Kinh Dưcmg Vương, d() lù tlìuv tổ của Bách Việt. Vua Icỉv con gái Đ ế Lai mù sinh dục có (liềm lành trăm trai, vì th ể mà có thể gáy dựng cơ dồ nước Việt ta" (ql,2ab).

6. Đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi cũng nhận như Ngô Sĩ Liên, khôna

một ý gì cho là chuyện hoang đường.

Điểm đáng nên lưu ý đặc biệt là gốc để Ngô Sĩ Liên (1474) chép làm sử là Việt Điện u Linh do Lý Tế Xuyên làm năm 1329 và Lĩnh Nam Chích Quái thường cho là của Trấn Tliế Pháp, làm từ năm nào không rõ, được in lại vào đời Hồng Đức (1492). Hai quyên này chép truyện thần kỳ trong nhũiiR thánh lích của các đền miếu đình chùa và tác giả Lý Tế Xuyên nhận là đã chi nghe thấy rồi góp nhật lại, không rõ đã có lừ đời nào.

Như vậy, tức là truyện thần kỳ quái đản đã có lừ lâu trong dân gian rồi. 7. Giữa thè kỷ XIII, Lê Vãn Hưu dược vua uỷ cho soạn Đại Việt Sử Ký, năm 1272 thì câu chuyện lại thấy mất tích hẳn, nhà làm sử chỉ chép từ đời Triệu trở về sau mà thỏi.

Đồng thời ấy, Lê Tắc bôn dào qua Trung Quốc viết An Nam Chí Lược thì có chép từ Hồng Bàng nhưng chỉ kể là những bộ lạc rải rác dược quy tụ về Phong Châu, không nhắc một tí gì đến câu chuyện nguồn gốc kia nữa.

Tại sao? Tại câu chuyện có nội dung chống Trung Quốc, mà lúc ấy quân Nguyên ở Trung Quốc đương sắp sang đánh thì Lê Tăc kiều ngụ ở Trung Quốc không dám nói đã dành, đến Lè Văn Hưu ở trong nước cũng lại sợ rắc rối mà giấu đoạn đầu của Dai Việt sử Ký đi.

340

Thê là trong cả dọc dài dời sống của câu chuyện, đã có những hồi nó bị chìm nổi vất vả lắm, những hồi người ta sợ không dám nhắc đến nó nữa, những hồi người ta ngang nhiên bênh vực nó, cũng như có những hồi người ta đá kích, khôns vì câu chuyện mà vì danh cho riêng người ta. Đó là dời Sống thường có của mọi tác phẩm lớn trên thế giới vậy.

ĐẬC TÍNH VĂN HÓA VÀ CHÍNH TRỊ CỦA TRUYỆN

Truyện có những đặc tính này không thể bỏ qua được: 1. Người phương Bắc hay quấy nhiễu. 2. Bô ở động nước, dân bị quây nhiễu kêu gọi thì Bô ra để cứu dân. 3. Bô thấy Âu Cơ là con Đế Lai đẹp thì bắt cóc vào động nước. 4. Gốc tích của Bô Lạc Long Quân cũng từ vua Thần Nông mà ra

như các đời vua của Trung Quốc, không kém gì cả.

5. Thân phụ của Bô là Kinh Dương Vương còn dược ông nội quý mến định cho cai trị miền Bắc tức là Trung Quốc kia nhưng Kinh Dương Vương đã nhường lại cho người anh khác mẹ là Đế Nghi. Thế tức là cành vàng lá ngọc ngang nhau cả. 6. Sự nhường anh thi như thế, mà đối lại thì anh lại cứ quấy nhiễu em, coi nó không đang mắt chút nào cả.

Tính chính trị của truyện không lộ liễu, cho đến người mình vô ý cũng không ngờ dể’ nhận ra. Truyện có vẻ rất xây dựng, chẳng hại gì đến ai cả, mà nó đả phá uy tín của Trung Hoa thì thực là tích cực và triệt để. Bởi thế, nó là một tác phẩm văn hoá.

ĐÁP ÚNC. CẦN DÌIN(ì CỦA C.IAI ĐOẠN

Trong thời kỳ bị đô hộ, người dân Việt có một mặc cảm tự ti vừa do kẻ đô hộ khinh miệt cố ý gây ra, vừa do sự chênh lệch thực giữa văn minh Trung Quốc giầu có huy hoàng lộng lẫy và cảnh sống tối tăm nghèo nàn của mình. Với mặc cảm tự ti ấy không bao giờ người ta dám nghĩ chống lại kẻ đô hộ. Dù người lãnh đạo có chân thành bậc nào cũng không thể đẩy nổi đám dân tự ti như vậy. Cho nên điều kiện không có không được về tinh thần là phải tạo được cho trong đầu người dân có một ý nghĩ mình không kém gì kẻ đô hộ cả.

Việc đưa lịch sử về đến nguồn gốc ngang hàng với nguồn gốc của kẻ đô hộ, lại giành lấy cái phai về phần mình, quả đã có một tác dụng tâm lý hết sức mạnh mà hẳn nhiên người đô hộ không ưa, nên khi thấy họ sắp dưa binh qua xâm lăng thì phải giấu câu chuyện đó đi, để khi sau này dánh đuổi được quân xâm lăng rồi thì lại cho câu chuyện hiện trở ra.

Ngoài mánh lới gây tin tưởne cho dân ở sự phù trợ của Rồng và Tiên, câu chuyện này, với những ý nghĩa tượng trưng của hai ý niệm ấy, còn muốn nói lên cái kiêu của con cháu giống Rồng và Tiên là năng u, năng minh, năng tiểu, năng đại. Lúc rồns thất thế thì cuộn tròn mình nằm dưới ao tù. Nhưng lúc gặp mây thì rồng sẽ vươn mình bay ra khắp vũ trụ.

341

Do đó, ta thấy truyện đã không có tính cách nhũn nhặn chút nào hết.

TRUYỆN NẢY SINH VÀO THỜI NÀO?

Vào thời nào ta sẽ luận ra sau, nhưns phai là hồi ở Giao Châu đã có chữ Nho. đã có quan niệm và thực tế của sự cắt đất, phong vương và người dân phải đã có manh nha cái ý không sợ, không phục đàn anh, cũng như cái ý muốn nghênh ngang riêng mình một cõi.

Càn cứ vào mấy yếu tố ấy, ta tìm lại lịch sử thấy đời Hùng không thể có được vì chưa có chữ Nho. Cuối đời Hùng có một lớp nho sĩ anh hùng hảo hán của các nước bị Tần thôn tính mà chạy đến Giao Châu nhưng những người ấy cũng chưa yêu mến gì đất nước và dân chúng xứ này đến dộ tạo cho nó có một nguồn gốc sang cả như Trung Hoa nên ta cũng tin rằng truyện chưa thể nảy sinh ra được. Đời Thục cũng chưa có. Đến Triệu thì Triệu cũng chỉ mượn tạm dất này làm căn cứ địa mong một ngày đọ sức với Hán nhưng rồi lại thần phục Hán với lời lẽ quy luỵ trong .sớ tấu thì Triệu cũng không nghĩ rằng dàn man di này lại có thể có một nguồn gốc gì ngang với Trung Quốc văn minh. Sau Triệu, dất nước đã ở trong vòng đô hộ rồi, người dân càng bị khinh miệt, thế tất lại càng khó dể có câu chuyện này. Tliời gian Giao Chi tự chủ với Hai Bà Trưng chỉ trong vòng ba năm dã ngắn ngúi quá dể có thổ gây nổi một ý thức hệ như ý thức hệ Rồng Tiên.

Sau đấy, suốt thời gian dài đằng đẵng, người Giao Chỉ đã bị khinh mệt, họa chăng đến cuối dời Đường mới bớt phần nào mặc cảm, nhờ có những vị cao tăng đi sang lận Tây Trúc, đi chung cả vào đoàn thuyền giáo Trung Hoa, lại sang củ cung vua Đường giảng kinh thuyết pháp.

Sự bót mặc cảm ncày, thêm vào với việc họ Khúc dấy nghiệp xin dược lự trị (906-907) đã cho ta thấy loé lên cái hy vọng muốn riêng mình một cõi. Và trận Bạch Đằng của Ngô Quyền mới là dịp quyết định cho dân tin tưởng dứt khoát Icà mình không kém gì người Trung Hoa cả. Cáu chuyện nguồn gốc Rồng Tiên vậy là chỉ có thể xuất phát được

vào thời khoảng lịch sử của họ Khúc đến dời Ngỏ, Đinh và Lê mà thôi. TRUYỆN DO AI MÀ cỏ?

342

Hiện nay không biết đích được. Chí biết ràng trong xã hội cổ ngoài nhà ở ra, không có rạp hát, không có cao lâu tửu điếm thi chỉ có hai nơi thu hút quần chúng đẹn gặp gỡ nhau và chuyện trò với nhau. Hai nơi ấy là chợ và chùa. Chợ thì thường người ta đến mua bán, mau mau chóng chóng rồi về, ít có thì giờ ranh rang ngồi nói chuyện này qua chuyện khác. Ai đi đâu xa cũng đến chùa lễ bái xin cũng như các tin tức khắp nơi đã tự nhiên tập trung về chùa, rồi lại từ chùa mà tung trở ra khắp nơi.

Vì vậy, la không sợ lầm lạc khi đoán ràng truyện đã phải do các nhà sư sáng tác.

Ta nhớ ràng từ đòi Đinh, sư Ngô Chân Lưu đã được vua Đinh trọng vọnư và phong Khuông Việt Thái sư. Tất hẳn ngoài đạo cao đức trọng, Thái sư còn phải có một uy tín và một khả năng huy động quần chúng thế nào nữa mới khiến vua Đinh làm việc ấy.

TÓM LẠI

Người ta đã vì tài liệu lịch sử bị cắt xén dần dần và giản lược hoá dần dần, đến chỉ nhìn thấy có một góc của câu chuyện tưởng là góc căn bản, nên từ bao nhiêu thế kỷ nay người ta cãi nhau chỉ để biết nội dung câu chuyện có thực có Rồng kết duyên với Tiên chàng. Tronư khi ấy thì toàn ca câu chuyện lại nhằm mục đích khác mà noười ta không ngờ có để tìm lòi.

Ây là lỗi ở người tiếp nhận, chứ không phải ở tác giả. Câu chuyện chỉ đẹp ở toàn thể các chi tiết, như bức tranh chỉ đẹp ở sự hoà hợp chung của tâì cả các đường nét. Cắt nó ra một mảnh, mà lại là cái mảnh vỏ. rồi cứ tranh cãi với nhau về đúng hay không, khoa học hay không thì thật là một trò cười.

TÍNH CÁCH THẦN KỲ QUÁI ĐẢN

Nếu ta lại dừng tỏ ý sợ hãi điều mang tiếng là mê tín dị đoan để đi sâu vào tính cách thần kỳ quái đản mà nghiên cứu thì ta sẽ nhận ra ở thời phát sinh truyện Iicày, tác gia của nó dã từng được đọc, được nghe biết nhiều truyện quái đản của Trung Hoa và của Ân Độ. Tất nhiên những truyện ấy có ánh hưởng giúp cho sự sáng tác chuyện Rồng Tiên này.

Phđn Trung Hoa thì thường yêu quái là thú bị phải lu luyện lâu năm mới biến thành hình người để kết duyên với người mà làm hại người. Còn thần tiên đầu thai lấy ngưừi là làm hay cho người. Truyện của Trung Hoa tuy quái đản nhưng tỷ lượng hợp lý của người vẫn nhiều hơn. Phần Ân Độ thì truyện lại thần kỳ ngay đối với các thần và quái đản ngay đối với những ma quái.

Nghĩa là diểu tưởng tượng của Trung Hoa còn là ở mức người tưởng tượng ra cho sinh hoạt ở trong thế giới của người, còn của An Độ đã tới mức là của thần tưởng tượng ra để sinh hoạt trong thế giới của thần.

343

So sánh với hai loại truyện thần kỳ quái đản ấy, thì truyện Rồng Tiên chưa thấm vào đâu cả. Nó mới chi như truyện Kaudinya một Bà La Môn từ Ân Độ qua đã lấy con gái vua rắn Naga rồi sáng lập nên vương quốc Phù Nam.

Truyện Rồng Tiên đã chỉ đảo ngược thế nhân vật của truyện chính đi cho Tiên (bà) bị Rồng (đực) bắt cóc và đổi rắn thần là Rồng thần. Rồng vẫn giữ phong thái của rồng là ở động nước, không biến hình thành người như các chuyện Trung Hoa phải có.

Vậy ta có thể nhận ra cốt truyện là Ân Độ; đoạn dẫn vào chuyện từ Thần Nông đến Sùng Lãm là Trung Hoa; đoạn bất hợp lý đương theo cái dòng Thần và Tiên thì chỉ vì danh xưng Lạc Long Quân mà là Rồng, đoạn ấy chính là Lạc Việt. Đoạn sinh ra trăm con thì vua Văn Vương ở Trung Hoa cũng có, nhưng sinh dần bởi nhiều bà vợ, một cách rất họp lý như Tàu. không thần kỳ như An Độ nhưng nó có vẻ thực. Đến đoạn chia con cìing một bọc mà ra (đồng bào) chính là phần muốn dạy luân lý của tác gia để tác động tinh thần của quần chúng. Đó là điều đáp ứng nhu cầu giai đoạn khi người Lạc Việt bắt đầu cựa mình để vùng dậy.

,U 4

GIÀNH GIẬT QUYỂN Tự TRỈ

CHƯƠNCỈII

TÓM LƯỢC

Dân chúng đã giác ngộ quyền lợi quốc gia dân tộc và giá trị bản thân. Khúc Thừa Dụ lợi dụng lúc triều Đường nshiêng ngả giật lấy chức Tiết độ sứ và đẩy cho thành việc đcã rồi, để nhà Đường đành hợp thức hoá. Đến đời cháu, Khúc Thừa Mỹ không giữ được nước, bị quân Nam Hán bắt và đặt lại ách đô hộ như cũ. Nhưng bộ tướng cũ của họ Khúc là Dương Diên Nghệ lại nổi lên đuổi quân Nam Hán.

Sáu năm sau, kẻ việt gian là Kiều Công Tiễn thí chúa và xin quy phục Nam Hán, thì lại có Ngô Quyền là tướng tâm phúc và cũng là con rể của Dương Diên Nghệ dem binh từ ái Châu ra giết được Công Tiễn và dánh tan quân Nam Hán ở Bạch Đằng Giang.

Trận Bạch Đằng là một trận thắng oanh liệt của Ngô Quyền, bắt sống được Thái tử con vua Nam Hán, tiêu diệt hết đoàn thuỷ quân viễn chinh, đến nỗi vua Nam Hán đành khóc mà cho quân quay thuyền về, không dám tham chiến nữa.

HỌ KHÚC

Dân chúng đến giai doạn lịch sử này đã giác ngộ về quyền lợi quốc gia dân tộc và giá trị bản thân.

Bằng chứng thứ nhất là khi Khúc Thừa Dụ thấy triều Đường nghiêng ngả đã không để lỡ cơ hội, giữ luôn ngôi Tiết độ sứ cho thành việc đã rồi, sau đó mới cho sứ đi xin vua Đường hợp thức hoá. Vua Đường dành chấp nhận và phong luôn cho ông chức Đồng Bình Chương Sự là một chức lớn, phải làm quan lâu năm men lên nhiều cấp bậc mới được, chứ không thể từ một chân hào trưởng tay trắng mà lên ngay chức ấy và đình thần không một lời dị nghị nào.

345

(Ta bắt buộc phải đoán rằng hào trưởng Khúc Thừa Dụ tất phải có bà con họ hàng nào với một quan triều hết sức thần thế, chưa biết chừng là một thứ sui gia, hoặc cũng mất khá nhiều của đút lót mới trót lọt được việc ấy).

Bằng chứng thứ hai là năm sau họ Khúc tạ thế (909), con là Khúc Hạo nối quyền cha đã thi hành ngay mọi cải cách, không một chút ei bỡ ngỡ, để sáp đặt lại các đơn vị hành chính lừ cấp xã trở lên, giải quyết cả những vấn đề quân sự, sưu dịch, thuế khoán thì nếu ngày thường không để ý xcm xét những hư hỏng của chế độ trước, ắt người ta không thể làm ngay những việc cải cách ấy được.

Bằng chứng thứ ba là dân được sống yên ổn thêm 10 năm dưới quyền cai trị của Khúc Hạo từ 907 tới 917. Trải cuộc biến thiên ở Trung Hoa, nhà Đường đổ và nhà Lương lên thay, họ Khúc chính thức thần phục nhà Lương nhưng nghênh ngang với điều kiện không chịu trả lại quyền cho Nam Bình Vương Lưu Ân được vua Lương cử đi cai trị Quảng Châu và luôn cả Giao Châu. Trước mưu toan tái lập đô hộ ấy của nhà Lương, họ Khúc cương quyết chống.

Lưu Ân đành chi giữ có Quảng Châu, được 4 năm thì mất, để em là Lưu Cung thay thế, và khi thấy nhà Lương suy yếu, Lưu Cung tách luôn đất ấy ra để biệt lập làm vua, đặt lên nước là Đại Việt sau đổi là Nam Hán.

Bằng chứng thứ tư là sau Khúc Hạo (917), cơn là Khúc Thừa Mỹ cứ việc nối ngôi, chỉ xin Lưcmg chúa thừa nhận mà không cần biết Nam Hán, khiến ba năm sau Nam Hán sai tướng Lý Khắc Chính và Lý Tiến xua quân qua đánh. Khúc Thừa Mỹ chống không lại đành chịu để bị bắt. Thế là đất nước lại rơi vào vòng đô hộ dưới quyền thứ sử Lý Tiến với quân đội chiếm dóng của Lý Khắc Chính.

Nhưng không lâu, cái thú sống tự lập dã bốc men trong lòng người Lạc Việt và quân đội Nam Hán cũng không mạnh gì nên 8 năm sau (931), tướng tâm phúc của Khúc Hạo là Dương Diên Nghệ nổi lên, lại duổi được bọn Tiết dộ sứ nhà Nam Hán di và giành lại quyền tự trị. Ta thấy cuộc vật lộn rất gay go.

Dương Diên Nghệ không dò dưới trướng có kẻ việt gian là Kiều Công Tiễn, hắn ám hại họ Dương năm 937, rồi giữ lấy ngòi và xin thần phục Nam Hán.

Thế là Ngô Quyền, tướng tâm phúc của họ Dương mà cũng là con rể, nhàn việc ấy mới khởi nghĩa lớn đem binh lừ ái Châu ra đánh Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn một mặt chống cự, một mặt kêu gọi quân Nam Hán

qua giúp.

Nam Hán được một dịp may có chính nghĩa để cất quân, lại có thể nhân cơ hội dẹp loạn giúp tay sai đàn em, mà thôn tính luôn Giao Châu nên vua cho chính Thái tử Hoang Tháo đem quân di trước, còn mình sẽ

3 4 6

Ihân chinh sau. Phán Ngo Quyền thì một mặt vây Kiều Công Tiễn, một mạt bố phòng các nơi hiểm yếu để đánh quân Nam Hán.

Quân Nam Hán là thứ quân thiện về thuỷ chiến. Ngô Quyền biết tất nhiên Nam Hán phải dùng đường thuỷ, chỉ chưa rõ lực lượng đưa qua hùng hậu thế nào nhưng đội tiền phong mà có cả Thái tử Hoằng Tháo cầm quân thì không thể coi thường được. Họ Ngô dự liệu hết các đường xâm nhập, cho quân đi ngăn chặn hết các cửa sông, từ cửa sông Kinh Thầy lên Lục Đầu Giang, đến các cửa Văn úc, Thái Bình, cửa Lạch, cửa Đáy, Cửa Thần Phù ở dưới, chỉ để một cửa Nam Triệu vào Bạch Đằng mà thôi.

Hồi năm 938, cửa Nam Triệu và đường sông Bạch Đằng không đi thông suốt được như ngày nay. Chỉ khi nước triều xuống, trông rõ đường sòng thì thuyền đi mới chắc chắn an toàn, nhưng thuyền lớn chở nhiều quân lính thì lại cạn không đi được. Khi nước triều lên, thuyền lớn đi được thì nước lại mênh mông, không có gì làm mục tiêu để nhận biết đưòfng sông mà đi. Hễ đi lệch sang bờ là thuyền mắc cạn.

Bàn dồ vùng Bạch Đằng

1. Ranh giới vùng núi cao 2. Các đồi ở đồng bằng 3. Cây xú, cây bần mọc trèn vùng đất mặn 4. V ùng đất đã có người ớ và trồng trọt

347

TRẬN BẠCH ĐẰNG

Sử chép N2Ô Quyền cho lính đóng cọc gỗ bịt sắt nhọn ở lòng sông để lừa quân Nam Hán vào tròng, chờ khi nước triều rút thì thuyền bị cọc đâm thủng mà đắm. Không chắc đúng chiến thuật như vậy bởi vì cọc làm thủng thuyền của địch thì cũng làm thủng thuyền của mình, còn lấy gì mà đánh nữa? Có lẽ đấy chỉ là mẹo lừa của Ngô Quyền: cũng đóng cọc để chạn lối không cho vào như ở các cửa sông khác nhưng các cửa sông khác thì chặn thật và đã đóng cừ xong rồi, còn cửa sông này thì chặn giả và chỉ khi thấy quân Nam Hán đến gần mới bắt đầu vội vàng đóng cừ để chúng thấy thì đến đuổi và phá đi lấy đường vào. Như thế là để chúng yên trí đưòíng này cũng vào được nên địch mới lo ngăn giữ như vậy.

Hoằng Thao dẫn thuỷ binh rầm rộ có thể đã tiến vào cửa sông Kinh Thầy là cửa gần nhất từ vịnh Hạ Long tạt qua. Nhưng không đi được. Cừ gỗ và đá tảng đã chẹn mất lối đi rồi. Hắn tất lại phải cho quân quay thuyền ra đi xuống cửa Thần Phù, là cửa sông mà giặc Đồ Bà đã dùng để vào đánh Giao Châu. Cửa ấy còn bị chẹn kỹ hơn nữa. Hắn nôn nóng hết sức. vừa vì phải tới gấp để cứu Kiều Công Tiễn, vừa vì cái hống hách của dân Thiên triều cần chóng đến nơi ngay để đánh mà ra oai. Hắn có thể đã quay thuyền trở ra nữa đến cửa Đáy. Cửa Đáy cũng bị chẹn cứng như thế. Hắn tức bực lại đưa thuyền đến cửa Nam Triệu thì vừa đúng lúc thấy quân của Ngô Quyền đương hì hục vội vã dóng cừ. Hắn vội cho quân vào đuổi rồi nhổ cừ đi, đoạn yên trí đã có đường thì nghỉ ngơi, ăn uống, cười hả hê, chờ nước triều lên là vô. Hắn đã mắc kế.

Trong này Ngô Quyền chuẩn bị cho quân đi từng hai ba người một trên những thuyền nhỏ ở các khe rạch. Mục đích chỉ là đánh quấy rối rồi bỏ chạy loạn xạ.

Hoằng Thao thấy ngon quá. Không ngờ Ngô Quyền lại nghèo nàn tồi tệ đến nỗi không có cả thuyền chiến và quân thì yếu kém đến chưa đánh đã thua chạy như vậy. Hắn bèn cho lệnh các chiến thuyền cứ thế mà đuổi.

Hàng trăm hay mấy trăm chiến thuyền như vậy không còn đâu là đường sông nữa, cứ ào ạt tiến lên. Cho đến lúc nước triều rút thì thuyền nằm chình ình cả trên những bãy lầy, trong khi những thuyền con của Ngô Quyền, cứ di động thoăn thoắt trên các kênh rạch và từ đấy mà bắn xối xả vào.

348

Các chiến thuyền không bị thủng đáy, vì không có cọc nào đâm thủng cả. Nhưng cái thì ngả nghiêng, cái thì gục đầu, cái thì chồng đầu lên. Quân trên thuyền nhốn nháo như ong vỡ tổ, còn lòng dạ nào mà đánh, vả quân địch ở xa thì đánh với ai? Chúng hò nhau nhảy xuống để

kéo thuyền ra. Thì bãi sình lầy lội cứ lún dần người xuống, đê’ đứng trơ ra làm bia cho quân bên này bắn vào.

Thế là quân tướng của Nam Hán ở trên thuyền cũng chết, nhảy xuống bãi lầy cũng chết. Trong khi ấy thì tiếng trống thúc quân dồn dập lừ bốn phía cho những thuyên con túa ra, càng lúc càng dông. Trừ phi có phép bay lên trời mới thoát dược, còn thì không một tướng tài giỏi nào gỡ dược trận ấy nữa.

Hoang Thao phải dưa tay chịu trói, còn tất cá đoàn thuỷ quân thì không dầu hàng tất bị bắt hay bị giết. Không sót một mạng. Trong lịch sử chiến tranh, thật chưa từng có một trận dánh nào lý thú dến như vậy.

Vua Nam Hán dẫn binh lới sau, dành khóc mà quay về. Đó là trận thắng vỏ vang mở dầu cho một giai doạn dộc lập, để nền

349

văn minh Lạc Việt chuyển mình thành văn minh Đại Việt.

TỔNG LUẬN

Trong tập ThưcỊìig của cuốn sách luận này, chúng lôi đã trinh bày vói bạn đọc lịch trình tiến hoá của dân tộc ta lừ khởi nguồn đến thế kỷ thứ X.

Chúng tôi đã cố gắng làin sáng một số vấn đề về sử vẫn gây nhiều thắc mắc cho bạn đọc Vcà đặt lại một sỏ' vấn đề khác cho sự hiểu sử được thấu đáo hơn. ấy là theo chỗ chúng tôi thành tủm nghĩ như thế là đúng, đế ước mong hàm được như thế mà giúp bạn đọc khỏi mất thì giờ quá nhiều vé những gì đã thuộc quá khứ xa xôi, đế dành tâm lực vào những vấn dé khác thuộc hiện tại và tương lai của dân tộc.

Nhung cái quyền dứt khoát tư tương một lần như thế không ở một tác giả là chúng tỏi mà ở chính thiên lưong của bạn dọc, để phán xét về nhũng phán nàơ hữu lý có thể tin là đúng được. Những sự kiện lịch sử bao giờ cũng da dạng, phức tạp và tuỳ lập trucmg chính trị mà luận giải được theo nhiều cách, có khi ngược hán nhau. Nhũng sự việc xảy ra trong hiện tại trước mắt chúng ta cũng còn thực giả khó phân, hiểu theo chiểu nào cũng thấy là có lý củ thì còn nói gì tới những việc dã xay ra lừ hcàng trăm, hàng ngcàn năm cũ.

Nếu chỉ căn cứ vào những tcài liệu chép trong những cổ thư, dể cô chấp cho dấy dã là chân lý thì ta chỉ cần nghĩ rằng: các cổ thư dã có thể chép lẫn của nhau, cũng dã dủ cho ta giật mình và nghĩ cần phai có cách gì khác dế lìm những sự thực lịch sử.

Cách gì khác ấy là sự tạm quên mình trong những điều kiện hiểu biết của hiện tại để vé sống thực trong trạng thái tinh thần và vật chất của ủa hiện tại đế vé sống thực trong trạng thái tinh thán và vật chất của Ị thời kỳ lịch sử cũ mà la cần tìm sự thực, rồi lấy những diễn biến những thời kỳ lịch sử cũ mà la cần tìm sự thực, rồi lấy những diễn biến iêp của lịch sử làm phương tiện kiểm soát lài liệu trước khi dùng liên tiếp của lịch sử làm phương tiện kiểm soát lài liệu trước khi dùnr việc xây dựng lại dời sống xưa. Chúng tôi dã dùng những cách khác ấy đổ lìm tòi và dã dưa ra trong sách những vấn đề mà chúng lôi xin liệt kê dè bạn đọc có một thống quan như sau dây:

1. Nguồn gốc thần kỳ vể con Tiên cháu Rồng

Chỉ có thé’ hicLi dược truyện Nguồn gốc Rồng Tiên là một tác pham về văn hoá và chính trị, phát xuất ở thời kỳ dân tộc hết lự ti mặc cảm với Trung Hoa và bắt dầu nuôi một kiêu hãnh quốc gia dổ biìl xiềng đô hộ. Khổng nên dọc nó là sỉr và cũng không nên đe nó ơ dấu quyển sử, dù có thém c;i chữ “theo truyền thuyết” khiến người dọc dỗ hiểu lầm.

3.‘SI

Nhưng ngược lại, cũng không nên vì tính cách thần kỳ quái đản để giải thích nguồn gốc dân tộc ấy mà hồ đồ và hiếu lầm cho cá một đoạn sử đời Hùng cũng là hoang đường cả.

2. Danh xưng Hùng vương (hay Lạc vương)

Cũng như những nhân danh và địa danh khác, ở thời thượng cổ, con cháu đã đặt tên cho tổ liên. Thời ấy ta không giao thiệp với Trung Hoa nên không có chữ Nho, chỉ có một mớ tên nôm nào đó, nay không tìm ra nữa. Đừng vì một ông H.Maspéro khoe tài bắt bẻ chữ Nho mà mắc vào cái tiếng cười của người la là mồ cha chẳng khóc, khóc đống mối (cả mấy nghìn năm) để rồi cuống lên với nhau về vấn đề Hùng đúng hay Lạc đúng. Hùng là tên mà con cháu người mình đặt cho tổ tiên của mình, đã có dền thờ, có duệ hiệu, có ghi vào sách và toàn dân đã biết rồi. Còn Lạc là tên do một ông con nuôi người Tây đem óc hợp lý của Tây vào, bảo như thế mới dúng. Thì mặc ông ấy. Ta cứ dùng cái tên dã dược công nhận để chí dòng vua đầu tiên của ta.

3. Thuỷ tổ người Việt Nam

Không thể tách rời việc lìm người thuỷ tổ ra khỏi việc tìm địa bàn nơi gốc tổ, nó cho phép người thuỷ tổ ấy cư ngụ và sinh sống. Phong Châu chí là gốc tổ thứ hai mà đời sống đã chuyển sang canh nông. Gốc tổ thứ nhất chính là cửu Chân, nơi tứ chiếng quần cư của các giống dân sống bằng nghề săn bắn, chcài lưới, đi biển. Đó là những người lẻ tẻ từ Bác Hái xuống, từ Nam Hái lên, đế lai giống với nhau thành người Giao Chí.

NhũTig nhà khảo cổ học, căn cứ vào các di tích tiền sử. ở Hoà Bình và Bắc Sơn, đã nhìn nhận có hai nền văn minh mà văn minh Hoà Bình ở phía Nam xưa hơn phía Bắc. ấy là đã có một cuộc di cư tìm đất sống để làm canh nông. Và khi tới nơi, các bộ lạc mới tập hợp lại dưới quyền thống lãnh cùa họ Hùng Vương.

4. Quốc hiệu Văn Lang

Văn Lang cũng là cái lên mà con cháu về sau này đặt ra khi có học

dược chữ Nho. Cụ tổ Hùng Vương chắc chẳng hề biết gì hết.

3.32

Tuy nhiên, người yêu mến dất nước mình, lo tìm một cái tên dặt cho đâì nước mình, một việc làm quan trọng hết sức, tất người ây phải hiếu rõ hết nghĩa ở nội dung của 13 tự dạng của chữ Lang rồi mới so sánh và lựa chọn. Không ai dùng chữ Lang có nghĩa là con chó sói, con bọ ngựa, cây cau, câu cỏ. cái xích v.v... Thì người ta tất phải dùng

chữ Lang bộ nữ. troim thành noữ Ngọc Kinh Lang Hoàn, có nghĩa là nơi Trời để kinh sách.

Sau này bị dưới quyền đô hộ cúa Tàu, ncười mình mới sợ mà phái tự rút lui. lấy Lang bộ ấp mà một chức quan nhỏ. đê ra déu là “chúii2 con không dám. chỗ Trời để kinh sách là ở Thiên triều kia”.

Nay ta nên lấy lại chữ Lang với nội dung nguyên thuỷ của nó. Còn

văn chi là dẹp. là văn vẻ chứ không phai là vẽ mình (văn thán).

Sớ dĩ cũng cần phái thế là vì có một việc đáng tiếc xảy ra trong sách Thuỷ Kinh Chú của Lý Đạo Nguyên dời Hậu Nguy (386-534). Nhà danh nho ấy của Thiên triéu Trung Hoa đã giả vò không biết tự dạng chũ' Lang nào. mà chép vào sách chữ Lang với bộ khuyên là con chó sói. Tư cách danh nho ây thật là tư cách của những kẻ dáu dường xó chợ.

5. Trông dóng có từ hổi nào?

Các nhà học gia phương Tâv xác dịnh niên đại vào khoáng đời Hán, 2.3 trăm năm trước và sau công nguyên. Chúng tôi có cám tưởng là cái trống ấy bị người la bát nạt. Một cổ vật từ bao nhiêu dời trước truyền dần mãi dến chúng tói, nav vì loạn lạc chúng tôi phủi chôn nó xuống chạy. Khi chôn lỡ vương vãi mấy dồng tiền cúa dương thời vào đây. It trăm năm S íiu dào dược cổ vật ấy người ta bảo nó bằng tuổi với đồng tién kia thì... nó có miệng dâu mà Ccãi.

Nhưng, thôi cũng dành biết vậy, bởi mình không có người chuyên về khíio cố học, vẫn phai trông cậy 6 người ta, nèn người ta dịnh sao mình phái chịu vậy. Chỉ xin ghi nhận ráng thòi dại dồ dồng tại Ai Cập, Lưỡng Hà dcã dược nhận định là o 3.000 năm trước công nguyên.

6. Trống đồng trong đời sống bộ lạc

Tính cách da dụng của nó (truyền âm, thông tin, tập họp, thúc quán ở rùng núi) thêm tính cách thiêng liêng (cầu dáo, tê tự) chỉ tù trưởng mới có trống và mới dược giữ, dùng xong lại kính cẩn cất di và cũng lại chỉ một số người nào được ân sủng của thán linh mới dúc dược trống. Mỗi bộ lạc có một thứ trống riêng, mà bộ lạc quán lĩnh tất có trống riêng khác nữa.

7. Hình vẽ trên mặt trống

353

Không phai hình trang trí, và người làm thích g'i thì khác nìíy vào. Hình vẽ ấy phải tìm hicLi là những dấu hiệu tượng trưng. Còn chưa tìm ra ý nghĩa ma thuật trong những số lượng hình vẽ thì chưa nên kết luận gì vổ tiêu đích của toàn bộ hình vẽ. Những trang phục cúa người cũng không

nên hiếu là trang phục thỏnti thườiiíỉ hàn» ngày của người xưa. Đó là tram: phục riêiiíỉ trong buổi lẻ.

8. Vật tô

Vì Cửu Chân hà nơi tụ hội nhiều bộ lạc với nhiều thứ trống đồng nên vật tổ trong một cái trống đã không thể nhận hà vật lổ duy nhất cho tất cá các bộ lạc khác.

9. Chữviết

Chưa thế nhận chù' Mường (Tlianh Hoá) là chữ cổ của người Giao Chỉ.

10. Tiếng nói

Cỏ lẽ nhờ không có chữ dế dinh chế ncn tiếng mới hết .sức phong phú. Đáu tiên bộ tiếng nói chỉ là những âm mà người ta phát âm một cách tự nhiên bàng cá nhũìig dáng điệu, nốt mặt, cử dộng, môi, mắt, chiểu ứng theo hình thái, dáng dấp. chiều hướng, bề thế, của các vật và việc mà mình muốn nói. Những âm ấy là những àm lượng hình. Đè rồi sau những người khác nói những âm ấy với ít nhiều sai lệch về bộc ám, thì lất cá nhũng tiêng có cùng một âm g(5c dều đã có một ý nghĩa ở nội dung thuộc trong vòng ý nghĩa của âm. Đó Icà những liếng tượng hình. Đó là vinh dự vé sáng tác của người Việt, như vinh dự của người Trung Hoa dã sáng tác ra chữ lượng hình.

11. Đường viển bờ biên Bắc Bộ

Dường vién có thay đổi nhiều. Sông Hồng còn dó với nhũng phù sa bồi dãp hằng nám dế làm chứng. Hồi đầu, họ Hùng Vương không ở được vùng Cổ Loa (Bắc Ninh) mà phai định cư ở Phong Châu (Việt Trì, Phú Thọ). Cho đến dời Thục dô mới dời xuống cổ Loa.

12. Đời Hùng dài bao nhiêu năm?

Từ Phúc Yên đến cổ Loa cách 2,^km. Nếu vì không có đê dồn nước vẻ một hướng, khiến nước sông cứ tràn lan rộng ra, theo ước lính mỗi thê ký hờ biổn lãn ra dược I km thì dã phai mất 23 thố ký, bờ biển mới tới cổ Loa. Vậy dời Hùng dcài khoang trên dưới 23 thê kỷ.

13. Gia đình phụ hệ

354

Ngay khi dời sống xã hội chuyển sang canh nông và dịnh cư thì gia dinh cũng chuyển từ mầu hộ sang phụ hệ. Lúc ấy bát dầu có tư hữu tài

sản, có gia tài của tổ phụ di lai và có sự biết ơn đế thờ phụng gia liên, cùng chốn cất giữ gìn di hcài người quá cố.

14. Phiếm thần giáo cổ sơ

Người xưa thờ dư thứ thần linh coi là có huyền năng làm ra những hiện tượng thiên nhiên như: mưa, gió, sấm, sét, bệnh tật, đau ốm. chết chóc, tai hoạ. Họ cúng cả tà ma, yêu quái nhưng không thờ.

15. Bàn thờ gia tiên trong nhà

Người xưa đặt bàn thừ trong nhà là dể tiện kêu cáu sự phù trợ. với sự tin chác tổ tiên ông bà hắn phải thưong con cháu dể di kêu xin giúp những cửa nào cần kcu xin khi con cháu gặp điều không may.

16. Việc thờ thần linh

Việc ấy cũng như việc cúng lỗ, kêu xin giúp dân là dạc quyền tôn giáo của tù trưởng. Vì vậy, dịa vị tù trưởng được tôn kính hơn lên, ngoài giéng mối ân nghĩa vổ sự che chở, hướng dần làm ãn và ca liên hệ dòng máu nửa.

17. Đạo Tiên

Đạo Tiên là một dạo tu đế dược trường sinh bất tử, cho người cố sơ tin có thể có huyền năng đạt lới được. Đạo này đã có mầm mống ngay từ đời Hùng Vương. Những hang động dá truyền là noi Tiên ỏ' và đi về. không ai dám chồn người chết cùng làm gì nhơ uế.

18. Đời sống xã hội

Đất ớ trong làng chật hẹp vì người dông dần lên. Còn dất ruộng thì rộng. Đất ruộng giữ người ớ lại làm ăn nên không có sự di dịch quan trọng để cư trú lung tung. Mỗi làng trở thành nơi tụ hội của một họ hav hai ba họ có liên hệ hôn nhân với nhau. Tinh thân mật hết sức kco sơn.

19. Nền văn hiến

Nền văn hiến đã có ngay từ khi chưa có chữ Nho cúa Trung Quốc truyền sang. Nhờ dư luận trong làng uốn nắn, khuyến khích, ngăn ngừa, trừng phạt, nhờ nếp sống lình nghĩa giữa gia đình, họ hàng, người dân dã ăn ở phai dạo, theo thiên lính. Vậy chưa cần có chữ Nho với dạo của Thánh hiền Trung Hoa, người Giao Chỉ dã có một nền nếp văn hiến rồi.

355

Cũng chưa cần phải có dạo Lão, ở Văn Lang đã có dạo Tiên rồi.

20. Đời sống chính trị

Theo thiên tính. ThÌLMi Iriéii Hùníỉ Vươniỉ ó' Iruiiíí ưưntỉ. các làns của các tù trưứiiíi XUI12 quanh là chư hầu. Dân lànư phó mặc tù trưởng giao thiệp với trung ưo'ng. không phải lo việc ấy. Đó là gốc rỗ nảy sinh đặc lính tự trị cùa mỗi làng.

21. Đời sống kinh tế

Đời sông không phát triến về trao đổi hàng hoá. Chi có canh nông

lự lúc mà thòi.

22. Kỹ thuật canh tác

Kỹ thuật nàv dõi hỏi nhiéu kinh nghiệm lâu năm tại địa phương về mưa. náng, nước, bão. lụt, đâì trổng trọt và hạt gióng, phân bón. Nếu phai dợi người Trung Ht)a dem kỹ thuật canh lác dén cho thì trái mấy nghìn nãm, dân chêl dói hết còn gì nũa!

23. Những trò chơi vui

Trong làng dã có nhiều trò chơi vui vào những dịp mùa màng gặt

hái xong rỏi. Không chơi vui thì không biết làm gì cá.

Chơi vui như thế cán ca hát, nháy múa. chuyện trò. Bộ liếng nổi được phát irién, nhất là từ những trò chơi ử gia dinh vồ ám thanh, tiếng dệm, nói lái.

24. Bộ tiếng nói

Bộ tiêng nói có một dặc tính riêng là nói xuôi, theo trình tự hợp lý kà nói cái liếng chỉ định một vật hay một việc trước, rối mới thèm lính từ nàơ dó lớn. nhỏ, dài. ngắn v.v... ia sao. Không giống tiéng của Trung Hoa dã IKM ngược lại, vì ảnh hướng cách làm văn chương cùa giông dân cớ chữ.

25. Tiếp xúc văn minh miển Nam Trung Hoa

Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, ngưòi Trung Hoa mién Nam dã dên với tư cách nương nhờ. nên uốn lưỡi nới theo tiêng cúa người bán xứ. Tiêng nổi của dân Giao Chỉ vì vậy không mâl. mà lại dược phong phú thêm.

Chữ viết do họ mang đến dược dọc theo giọng người bàn xứ, thành

ra tự nhiên có chữ viết riêng.

Người Trung Hoa miền Nam ấy (tức là dân Bách việt) mang mọi tiến bộ về kv thuật, sinh hoạt dèn, rồi sống chung, lai giống với người ban 356

26. Văn minh Lạc Việt

xứ. Cuối cùng người Bách Việt ẩy mâì, người Giao Chi bản xứ còn. Thế là họ bị người ban xứ đổng hoá.

27. Cương giới Văn Lang

Mình là người dãn Âu Lạc, họ là người dân Bách Việt, hai giống đã hoà đồng với nhau thành người Lạc Việt. Không phái là Tây Âu Lạc Việt cứa Tàu .sau đổi tên là Quý Châu. Người Lạc Việt đã đạt một tiến bộ văn minh đáng kể, từ cuối đời Hùng và dời Thục An Dương Vương.

28. Thục Phán

Cũng vì người Bách Việt nhìn nhận mình là cùng một giống với họ, và quẽ hương cũ của hợ cũng thuộc vào dất cúa mình nên khi dồng thời với việc dặt tên người, tên dấl. cần nói vc cươTig giới thì họ nhận luôn cương giới Băc đến tận hồ Động Đinh và tây đến tận nước Ba Thục. Nhưng cả 15 bộ ở đời Hùng dã không hề kể đến những đất đai ấy của Trung Hoa.

29. Thành cổ Loa

Thục Phán là người họ Thục đã lưu lạc đến sinh sống tại Văn Lang lừ nhiều đời, không phái dòng họ của vua nước Thục nên 50 năm ở ngôi báu không hề nghĩ chuyện về phục quốc.

Đó là một công trình xây dựng đại quy mô theo binh thư dồ trận, ớ thời dánh nhau bằng cung tên giáo mác. đê’ đối phó với nhà Tần. Vì quy mô vĩ đại làm khổ dân nên dến dèm thành hay bị phá.

30. Triệu đuổi Thục đến cùng đường

Vĩ đại như thế mà thành cổ Loa không giữ được, vẫn bị họ Triệu vào lọt. không phái tại mất nỏ thần, mà tại Trọng Thuỷ dò biết được những chỗ không phòng bị.

31. Thời đại Bắc thuộc

Thù gì mà đã lấy được thành của nhau rồi, lại duổi một ông lão 7,80 tuổi đến cùng đường, phái chém con rồi nhảy xuống biển tự tử? Có phải là tại Thục tô cáo với Tần mưu toan của Triệu nên mới thù sâu như vậy?

Thêm một thời kỳ tự trị nhưng phụ dung của Tần và Hán, từ 257 tới

357

111 tr. CN phái kể thêm 146 năm ấy cũng đã là Bắc thuộc rồi.

32. Nhà ở

Thời này có đôns người Trung Hoa đến sống lẫn với dân bản xứ, cái làng Lạc Việi nảy ra những điều kiện gắt gao đế ngăn chặn người ngoài, thành những lộ về ngụ canh ngụ cư.

Vì vật liệu là tre và đất, mà nhà lại dựng trên khu dất đỏ hẹp nên các gian phải nhỏ hẹp, không cao theo đòi hỏi của kỹ thuật dê tạo thành một cách điệu kiến trúc riêng biệt, thân mật và ấm cúng.

33. Thế giới vô hình thần bí

Bàn thờ gia tiên choán hết gian giữa, dến khi nhà có công việc, thì cả hai gian bên cũng phụ thuộc vào bàn thờ, nhà trở thành nơi thờ gia tiên, còn chỗ dể ở là phụ.

34. Nhân sinh quan lưu ấm

Người Bách Việt nhập canh quan niệm thần bí về thế giới vô hình cúa Trung Hoa: linh hồn. thánh, thần, tiên, thiên dinh, dịa ngục, dể cùng tổn lại với những tin tưcVng thần bí khác của địa phương.

Sự tin tưởng rằng cha mẹ hiền lành thì con cháu được thừa hưởng

35. Tại sao bị đò hộ cả ngàn năm, người Lạc Việt vẫn không mất giống?

phúc đức là riêng của người Lạc Việt.

36. Vai trò của quý tộc trong sinh hoạt chính trị

Tại ta dã thành hán một dân tộc có nền nếp sống riêng về vật chất, tinh thần, tình cảm, tàm linh, ánh hưởng sự sống chung chí là thêm những nghi thức bề ngoài. Vả chăng chính sách thương mại thực dân Trung Hoa, với niềm khinh thường dân bản xứ, đã chỉ gây sự cách biệt ở ngay trong cuộc sống chung. Thêm cái làng Lạc Việt đcã hết sức lợi hại trong việc báo toàn nòi giống cho con người chịu đựng mà tồn tại.

Những Lạc hầu, Lạc tướng, tù trưởng và những ông làng là quý tộc, nhưng không giống với quý tộc Trung Hoa và Tây Âu. Họ dại diện dân, bènh vực quyền lợi chung, trong ấy có quyền lợi của họ mà không bóc lột ức hiếp dân.

358

Khi họ nổi lên theo Hai Bà Trưng Là họ vì đại nghĩa quốc gia dân tộc. Khi Hai Bà bị Mã Viện hại rồi thì họ cũng bị lùng bắt và giết hết. cùng tước đoạt cả trống đồng và vật tượng trưng uy quyền tù trưởng của họ.

37. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

Cuộc khởi nghĩa ihành công một phần lớn nhờ bọn lại thuộc chân tay cũ của nhóm Tích Quang đã bất bình vì chủ bị thay thế, muốn có một biến cô xảy ra đế mở mát cho vua Hán. Chúng khuyến khích và đê mặc cho quý tộc huy động quán chúng đã sẩn bừng sôi máu hận.

38. Cột đồng Mã Viện

Ba nãm sau, Hai Bà lại bị thua, không phải tại quý tộc ban xứ không theo nữa. Tại bọn lại thuộc ấy trở cờ vì sợ Mĩi Viện, đã cô lập hóa lực lượng của Hai Bà, bằng cách ngăn quý tộc địa phương huy động quần chúng. Rổi chúng lại dẫn đường cho Mã Viện đi bắt giết hết quý lộc ấv.

Nhất định có cái cột đồng ấy, đề chữ “Đớ/?g trụ chiết, Giao Chỉ diệr. Khi đã có việc tước đoạt trống đồng là vật tối thiêng liêng để đúc con ngựa kiểu mà chơi thì Mã Viện cũng có dư đồng để đúc cái cột mà tỏ sự hống hách cũng như quyền làm chủ của hắn.

Lời ghi trong cột không phải lời trù yểm, mà là lời doạ nạt và mạ

kỵ, kẻ nào động dến gãy cột đỏ, la sẽ giết hết giống.

39. Tinh thần dân chủ trong làng

Cột ấy dựng Icn với mục dích thoá mạ cả dòng giống Giao Chỉ thì không phcii là cột biên giới để tìm ở những núi cao xa xôi mtà phái tìm ở những nơi có dông dân qua lại.

Đất ruộng của quý lộc trơ thành vô chủ sau khi quý tộc đã dền nợ nước. Đất ruộng ấy được kể là dàt công của làng, để cho làng sử dụng theo cách rất công bằng, hợp lý, Icà luân phiên quân cấp cho dân làng làm lấy lợi tức đóng thuế và dùng vào việc tế tự.

Còn người để đại diện cho dân thì bấy giờ lấy tuổi tác đặt ngôi thứ. Thật

40. Nghiên cứu vể đình

là một tinh thán dân chủ hiếm có trong các nền văn minh nông nghiệp.

359

Cần dể ý đến cái thê dịa lý của nổ nữa, là cái mà người ta tin ràng có ảnh hưởng tới sự làm ăn sinh sống và tương lai của cá làng. Không những vì vật liệu kiên trúc dỗ hư mục dể thường xuyên dược trùng tu, khó nhận ra nét kiến trúc nguyên thuỷ, chỉ vị trí và hướng đình là không thay, mà còn vì đây là một đặc điểm. Mọi bản đồ kiến trúc thị thôn của các nước đều khống cho ngôi nhà hội đồng hay thị sảnh một tầm mức quan trọng như vậy.

41. Để tỏ lòng biết ơn

42. Các đạo giáo Khổng, Lão, Phật

Nhũns người đã có công với làng hay với nước được người ta thờ kính như vẫn còn sống, ở những nơi tôn nghiêm, mà cách bố trí làm cho ai tới đó cũng phai thấy là linh thiêng.

43. Khổng giáo

Các đạo này đến Giao Châu hồi thê kỷ 1 - 11 đều là dùng phương tiện thần bí, thần thánh hoá các giáo chủ. Dân chúng tin theo vì thế, chứ chưa đủ sức thấu đáo những triêt Iv cao thâm của các mối đạo.

44. Sự tôn thờ Lão Tử

Khổng giáo đến với những nghi vệ triều đình và nghi thức tế tự. Còn lời dạy luân lý dạo dức chi là có chữ để trỏ những việc của dân ãn ở theo luân lý đạo đức vần đã có từ trước. Thêm những phương thuật về y, lý, số, tướng, thiên văn, địa lý v.v... mà người hành nghề có thổ cũng đã gán luôn cho lừ họ Khổng ra để thêm uy tín. Người dân đã tôn thò Đức thánh ngang với một vị thần linh.

45. Đức Phật

Sự tôn thờ là hoá thân của Thái Thirợng Lão Quân dã do những môn độ của dòng tu tâm dưỡng tính dể được trường sinh, truyền lới lớp môn đệ sa đoạ, kiếm sống bàng cách lợi dụng lòng mê tín dị đoan của dán, từ Trung Hoa truyền qua dã rất hợp với tin tưởng thần bí của địa phương.

46. Truyền thống trong việc truyền bá đạo Phật

Đức Phật cũng được coi là người trời đã nhiều kiếp dầu thai xuống trần, nên dân cũng thờ như các vị thần thánh và liên khác. Nhưng phần phong phú của thần thoại Vcà truyện ngụ ngôn của văn minh Ân Độ. do các thương nhân An Độ đem tới dã làm mờ vãn minh Trung Hoa. Thêm những nốt đặc thù mở lối cứu khổ cho dân mà Khổng và Lão không có, cũng như những nghi lễ tôn giáo: làm chay, cầu kinh, đáp ứng đúng những khao khát của dân đương quàn quại trong đau khổ. Đạo Phật đã đi sàu vào quần chúng liền ngav.

.360

Truyền thống ấy là tôn trọng mọi tín ngưỡng cổ truyền của địa phương, không bài xích. Vì khổng có trung ương truyền giáo nào để báo cáo kết quá. người đi truyền giáo dã nhẩn nha không cần mưu mẹo, lừa

47. Sĩ Nhiếp

dối để có nhiều tín đồ; ai theo thì theo, khòns thì thôi. Và chùa chiền, tượn» Phật, nshi thức cúim lẻ, người truyền giáo cũng không hề bắt dàn theo dúns như ở chính quốc. Phật giáo trở thành Phật giáo Việt Nam.

48. Công biến chế ra chữ Nôm

Họ Sĩ cai trị Giao Châu vào thời loạn Tam Quốc, lại đúng vào hồi Khu Liên giết huyện lệnh nhà Hán rồi tự ý cát cứ riêng một khoang đất mà sáng lập ra nước Lâm Âp. Họ Sĩ dùng chính sách văn trị để dược lòng dân. Bất cứ viên quan thái thiì Iicào trong hoàn canh ấy cũng phải khôn mà làm y như Sĩ Nhiếp vậy.

49. Ngô Tôn Quyển

Còng của Sĩ Nhiếp Vcà các nhà nho Trung Hoa và Giao Châu là cái công lón để giữ cho tiếng nói của ta, không vì học chữ Tàu mà mất dược nữa.

50. Người Lâm Ấp

Họ Ngô đã lầm mà cho người sang thay họ Sĩ làm thái thú. Những người nàv lại đã hèn hạ dùng mưu mẹo lừa bắt các em và con Sĩ Nhiếp nên dàn chống lại. Khi Bà Triệu nổi lên cũng bị thua, dân đành chịu, nhưng đĩi tiết hận ra những lời ca dao tục ngữ nay đọc thấy có chứa đựng một tinh thần bài Ngô. Niềm uất hận sâu dậm đến đỗi lừ đấy những người Tàu dù dưới triều chính nào, cũng đều được gọi là Ngô để bài xích cá.

51. Guồng máy thương mại thực dân

Người Lâm Ấp theo dạo Bà La Môn thờ thần ọiva. Họ hung hãn, hiếu chiến, Vcà kỳ thị chủng tộc lại dến trỗ trên hán đảo Trung Ân nên chí được một vùng đất nghèo ở miền Trung. Suốt 200 năm, họ đã vùng vẫy dể cô' tiến ra Bác, vì vương quốc Phù Nam ở phía Nam dương cường thịnh không dám dòm ngó tới. Vì vậy mà Giao Châu bị dưới chế độ quán đội chiếm đóng của Trung Quốc, vừa để ngăn ngừa Lâm Âp, vừa để đối phó với người ban xứ.

361

Guồng máy của người Trung Hoa, có quan lại, quân đội, thương gia. và đỏng đảo dân nghèo theo các nhà cai trị đến thuộc quốc đã hiít hết sinh lực của dân chúng Lạc Việt bằng một số những cái miệng thật lớn và muôn vàn cái miệng nhỏ. Những mối lợi mà cất trên nha ra thì cấp dưới lại hút thêm một lần nữa, cho đến xác xơ thành rác rưởi thì lại có những cái miệng nhỏ hơn híit thèm một lần nữa.

52. Người Lạc Việt bị mắc kẹt

53. Người Lạc Việt cỏ một triết lý sống còn

Không di cư đi đâu được, người Lạc Việt đành ở lại bám lấy đất ruộng và làng mạc để chịu đựng mà sống còn.

54. Đạo Phật Mật tông

Triết lý ấy dẫn đạo cuộc sống, đã hết sức giá trị, tạo thành truyền thống còn đến ngày nay. Sự nghi ngờ quan lại đô hộ và sự trí trá để luồn lọt siữ lấy thân sống, cùng sự sống hướng nội, không bộc lộ tâm tình cũng là truyền thống của dân tộc.

55. Sựxây dựng nền móng của dòng Thiền tông

Trong thời kỳ đen tối của thế kỷ III, IV, V, có lẽ người Lạc Việt đã đi tìm tu theo Phật giáo Mật tông vì cái đích thực dụng là để có những phép màu đối phó với quân Tàu. Nhung họ đã tỏ ra rất khôn không manh động.

56. Triệu Quang Phục đã dùng chiến tranh du kích

Dòng thiền thứ nhất do nhà sư Thiên Trúc Ti Ni Đa Lưu Chi truyền tới là một biến cố lịch sử trọng đại: gây lòng tin ở nhân tính của mọi người, giúp mọi người một nhận thức quan sáng suốt để tìm chân lý Vcà nhấc xã hội lên mức độ sống danh dự của loài người.

57. Nhà Đường sùng thượng Phật giáo

Triệu thắng được quân Lương bằng du kích chiến cũng như ở thế kỷ thứ II tr. CN, hiệu uý Đồ Thư của Tần đã tử trận ở Nam Việt vì chiến tranh du kích.

58. Các trí thức của Giao Châu

Nhà Đường có biệt nhãn đối với các nhà tu thiền ở Giao Chàu. Họ có địa vị được suy tôn như những Phật sống trong các bài thơ còn để lại của thi sĩ hữu danh đời Đường.

59. Chính sách thuộc địa đã được cởi mở

Các trí thức này cũng được vì nể lắm, để giao cho những chức quan trọng nhất nhì trong triều đình. Một bài thơ còn lại dã chứng chắc việc người ta dám phê bình, công kích chính sách và các tướng tá của nhà Đưcmg.

Dầu sao cũng phải nhìn nhận dưới quyền cai trị của nhà Đường,

362

chính sách cai trị đã dễ hơn trước.

60. Truyện nguồn gốc Rồng Tiên

61. Giặc Đồ Bà

Người Lạc Việt nhờ vậy. hết mặc cảm tự ti đối với Trung Hoa. Lại nhờ đọc sách của cả Trung Hoa lần Ân Độ. người ta sáng tác truyện Nguồn gốc Rồng Tiên để tỏ ra cũng có nguồn gốc sang trọng không kém gì Trung Hoa cả. Tác phẩm văn hoá và chính trị ấy tác động đến tiềm thức của nhân dân để chuẩn bị điều kiện tinh thần cho cuộc vật lộn giành quyền tự trị.

62. Trận Bạch Đằng

Giặc Đồ Bà xâm lăng, nhưng đụng độ với quân của đô hộ phủ lại ở gần Sơn Tây. Sau đó, nhà Đường lại cho đắp La Thành theo sỏns Tô Lịch ở phía Bắc, Tày Bắc Hà Nội bây siờ. Mà không đắp thành ngăn giặc ở cạnh sông Hồng về phía Đông và Đông Nam. Chứng tỏ rằng quân Đồ Bà đã vào cửa Thần Phù và sông Đáy. Còn sông Hồng với cửa Bạch Đằng chưa đi thông suốt được.

Có thể mới hiểu được trận Bạch Đằng của Ngô Quyền không phải là đóng cọc bịt sắt nhọn đế nước rút thì cọc đâm thủng thuyền. Cọc đâm thủng thuyền địch và cả thuyền mình thì còn đánh thắng thế nào được?

Cọc ngăn sông và ngăn thực không cho đi là ở cửa Đáy và cửa Thần Phù. Còn cọc ngăn ở Bạch Đằng là kế giả đóng, để khi đương đóng dở dang, giặc đến đuổi và nhổ cọc đi lấy đường Vcào. Vào đến trong thì có những thuyền con ra đánh khiêu khích cho đuổi giạt vào bờ là thuyền mắc cạn hết. Đến chừng ấy, chi thuyền con di động được thì Ngô Quyền bắt giặc như bắt một đàn chuột lõm bõm lội trong bùn lầy.

Đó Icà 62 điều tìm lòi suy luận của chúng tôi về lịch trình tiến hoá của dân lộc từ khởi thuỷ đến thế kỷ thứ X.

Chúng tôi viết sách này khởi thắc mác lừ điểm cãn bản là: Với sức đồng lìoâ kinh khủng của người Trung Hoa, Mãn, Mỏng, Hồi, Tụng, xâm lăng nó còn hị nó hút di theo nó, vậy mà tại sao tcít cả các giống Bách Việt à Hoa Nam dâu hi dồng lìoá thành người Trung Hoa cả, riêng có giống Lạc Việt thì với một trận Bạch Đằng cua Ngỏ Quyền, lại dứng dậy dược, d ể riêng mình một cõi?

Thì 62 vấn đề kê ở trên đã chung tụ thcành lời giải cho thắc mác ấy mà chúng tôi chỉ còn sợ chưa nói được gãy gọn như ý muốn của bạn đọc thôi.

3 6 3

Chắc bạn đọc C Ũ I I Í Ĩ có ý định lìm hiếu như vậy. Bởi nhữns bài học lịch sử ấy vẫn có ích rấi nhiều cho cuộc sống hiện tại và tương lai của chúng la.

Theo dõi nhũTis trang viết ở trên, bạn đọc thấy quá nhiên dòng truyền thốns khổns hề đứt đoạn. Đến nhữns tập sau, lừ thế kỷ thứ X dến hiện đại, bạn đọc lại được dịp thấy rõ dòng truyền thống vẫn liên tục như thế. Để chúng ta tin chắc được vào nhữno nsày mai xán lạn của dân tộc la.

Sài Gòn, 4 - 7-1969

3 6 4

SÁCH THAM KHẢO

BÁCH KHOA THƯ CLARTÉS CHRONOLOGIE. Grands faits de rhistoire (nguồn gốc đến cuối nãm 1950), Paris.

ĐÀO DUY ANH.

COEDÈS. G.

ZIMMER. H.

ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ. Tỉnh Thanh Hoá. tỉnh Sơn Tâv, Nha Ván hoá Bộ Q.G.G.D. xuất bản, 1960-1966. Việt Nam văn hoá sử cương, Xuất bản Bốn phương. Sài Gòn, 1951. Histoire Ancienne des Etats Hindouisés d’Extrême Orient, I. D.E.O, Hanoi, 1944. Les Philosophies de ITnde - Payot Paris 1953.

HENRI SEROUYA. Le mysticisme, P.U.E , Paris, 1956. HOÀN(ỉ TRỌNC; MIÊN. Việt Nam văn học toàn thư, 1959. IMMANUEL VELIKOVSKY. Mondes en collision, Stock,

1951, Paris.

,ĨEAN HERBERT. Spiritualité hindoue, Albin Michel, Paris.

LÊ VÃN SIÊU.

1951. - Ramana Maharshi, Adyar, Paris, 1949. - Việt Nam văn minh sử cương. Lá Bối. Saigon, 1967. - Nguồn gốc văn học Việt Nam, Thế Giới. Saigon, 1956. - Văn học Việt Nam thơi Lý. Hướng

365

Dương, Saigon, 1958.

- Văn học Việt Nam thời Bắc thuộc, Thế

giới, Saigon, 1957.

- Văn minh Việt Nam, Nam Chỉ Tùng Thư,

Saigon, 1965.

LƯƠNG ĐỨC THIỆP. Xã hội Việt Nam, Liên Hiệp, Saigon,

1950.

L. RENOƯ ET J. FILLI()ZAT. L ’Inde classique, Payot,

Paris, 1950.

M. M DUEEIL. Manuel de Géographie du Vietnam, Kim

Lai ấn quán, Saigon, 1957.

MADROLLE. (Hướng dẫn du lịch) Guide de ITndochine

du Nord, Hachette, Paris, 1932.

MAURICE CR()UZET. Histoire généralc des civilisation.s,

p.u.p, 1963.

MAURICE DƯRAND. Texte et commentaire du miroir complet

de rhistoire du Viet. (Bản dịch Pháp văn

của Khâm Định Việt Sử Thông Giám

Cương Mục), E.P.E.O, 1950, Hanoi.

N(ỈHIÊM THẨM. Sự tồn tại của bản chất Indonésien trong

nền Văn Hoá Việt Nam.

NGUYỄN BẠT TUỴ. Các ngữ ở Việt Nam.

NGUYỄN ĐẢN(Ỉ THỤC.

- Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam (I), Bộ Văn

Hoá, Saigon, 1967.

- Tư Tưởng Việt Nam, Khai trí Sài gòn,

1964.

- Thiền học Việt Nam, Lá Bối, 1967.

NGUYỄN VĂN TỐ. Sử ta so với Sử Tàu, Tập san Tin Sử

Địa, số 11, Saigon, 1964.

P.GOUROU. Les paysans du delta tonkinois.

366

E.E.E.O. Paris.

P.HUARD ET M.DURAND. Connaissance du Vietnam E.P.E.O,

Paris 1954.

PHẠM VĂN SƠN. Việt sử tân biên , Saigon, 1956.

R.DE BERVAL. Présence du Bouddhisme (Erance-Asie),

Siiigon, 1959.

RENÉ (ỈROUSSET. Histoire de rExtrêm e Orient, Paris, 1929. ROGER BASTIDE. Les problèmes de la vie mystique, Armand

Colin, Paris 1948.

T.T. MẬT THỂ. Việt Nam Phật giáo sử lược.

THÍCH ĐỨC NHUẬN. Trao cho thời đại một nội dung Phật

chất. Vạn Hạnh, 1969.

367

TRẦN TRỌNÍỈ KIM. Việt Nam sử lược, Tân Việt, Hà Nội, 1944.

VIỆT NAM VĂN MINH sử LƯỢC KHẢO

NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG

175 Giảng Võ - Hà Nội - ĐT: 8566006

C hịu trách nhiệm x u ấ t hản: Phan Đ à o N g u y ê n C hịu trách nhiệm hãn th ảo: Trần D ũ n g

Phạm T hanh N g à

Biên tập: Trình h à\' sách: M iên L âm - H à P h ư ợ n g Trình b à y hìa: M in h N g u y ệ t Sửa hản in: V i tính:

Trần Đ ìn h T uấn H u y ền - Q u y ên 13 T h ợ N h u ộ m - H à N ô i

In J()()0 ciiấ ìu k h ổ 1 6 x 2 4 “” T ạ i C ô n g T y Hữu N g h ị - ỉn Á Phi ( ỉ i ấ v p h é p x u ấ t hàn sô':8-I495/XB c ấ p ní>ày Ỉ 7 ! 1212002 Trích ngang KHXB Ỉ2 9 /T N X B c ấ p n g à y 1 6 /8 /2 0 0 3

In xoníỊ và n ộ p lưu chiểu Q u ỷ IV/2 0 0 3 .

VIẸT NAM

Lược KHẢO TẬP THƯỢNG TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN THẾ KỶ THỨ X

Sách phát hành tại

iU. í / t ờ .ưỉr/t

MINH NOUV^ 13 Thọ Nhuộm-HN.Tel:(04).8289755

G iá : 110.000 đ