Bài bia sỏ VI còn có câu:
"Tất cd cô' gắiìg cha Đại D ế là dể trà nợ dối với mọi chhng sình.
Dưới thê' nùv Dại Đ ế làm việc dem lại hạnh plnìc cho họ. dể qna thê' giới
khác họ sẽ dược lên tr()i. Một ke tầm rhnửng nhát nến ninôn thì chng có
thể tới cõi Cực Lạc dược, nh()' cô' gàng tn dạo".
ĐÀ TIKN MỚI CỦA PHẬT (ỈIẢO
240
Nhờ cập triều đại ấy của A Dục Đế, ncuừi ta thấy có một thay đổi
quan trọnc tronc cách thức giánc dạo. Nchệ thuật Phật ciáo chuyên qua
phía diễn la các thán linh, các vua rắn, các hoàng hậu, các mộc tiên, các
thú vật có dạo... lất cá dổu sùng kính nhĩrng dại diện của giáo hội dể báo
vệ nhũng chùa chiền ấy và lấy làm hàn hoan trước sự dắc dạo của Phật dể
tỏ lòng sùng bái. Nhũng báo tháp, những điện thờ, những cây cối linh
thiêng, những biên cô kỳ áo. những doạn dời cúa Phật, những cuộc rước
lố vé tôn giáo và tất ca bố trí trong sự thừ cúng của dân chúng dều thấy tá
lại trong các lác phám hội hoạ và diêu khắc. Tả một cách thật linh dộng
như cánh sống thực. Cũng như ta dốn ca một phong thái trừu tượng cúa sự
mong ước dirợc chấp nhận, như trong hình vẽ vợ chổng các thí chủ đứng
kính Ccin nhin vật hỷ cúng của mình.
Điếm đặc biệt iroiiií các tác phám này là đã không có hình lượng
của Phật. Chỉ có nhữna dấu vết chứníỊ tỏ sự hiện diện của Phật thôi, như
một cái bổ doàn lõm xuốne một chút ở chỗ nRồi. một vết bàn chân, hay
một vật ưì tượng trưmi cúa Phật như bánh xe pháp luân, cây bổ đề, hav
một vài dấu hiệu nào khác. Bởi theo sự hiếu dạo thời đó, Phật dtã nhập với
nhữrm dường viổn cứa the xác và những hình ánh rỗ rệt là hiêu sai rằng
Phật là dâng còn có gì ràng buộc với xác thân, còn phiii chịu luân hổi và
còn chưa dúl được nghiệp.
Đó kà quan niệm của Phật giáo nguyên thuỷ. Ta không di sãu vào
chủ trương của các môn phái mà chi dứng ớ phạm vi nghiên cứu lịch sử
dê ghi nhận những nét chính mà thôi.
Trong dà tiến mới này của Phật giáo, diều cấn ghi nhận là nhờ sự
báo trợ của A Dục Đế, Phật giáo dược cơ hội may mãn hơn các dạo giáo
khác ở Ân Độ để truyền ra nước ngoài. Phái doàn truyền giáo quan trọng
hon ca là phái doàn xuống Tích Lan do chính hoàng đệ (hay hoàng tử)
Mohendra cầm dầu. Vtà sau dó
lại có chính công chúa ni cỏ
Anurádhapura lói nữa. Công chúa mang theo một cây bồ dề mà dến nay
vẫn còn sống. Các phái doàn khác dược gửi đi các nước khác ở phía tây
nicà bia số Xlll có ghi cá lên vua các nước, như: Vua Anthigonue
Gomapas của Maccdoine và Alexandre dệ nhị của Epil. Ánh hướng đối
với các nước này không rõ nhưng đối với các nước ở phía Đông thì đã hết
sức tôì lành (Miến Điện, Tích Lan. Trung Á, Tây Vực).
Tốt lành như vậy là bởi Phật giáo dã dược truyền bá vói ý định hoàn
loàn vì dạo của A Dục Đế như đã nói. Ý dinh này tlìậ! trâm phần trăm là
I>óp sức vào sự sốnỊị yên vui của tất cả chúng sinh ở tất cú mọi nước. Nó
lù cuộc Sínig lìoà hình của CỘIHỈ dồng ciuốc íỊÌa mà muôn dạt tới plìdi lo
Nác ngộ chúng sinh khói những mè lầm của thế giới ảo mộng.
Tuyệt dối đã không có một tính cách vì lợi. cũng không cá tính
cách vì danh nào dế xây dựng gì nên vòng hào quang cho chính quốc văn
minh hay xây dựng cái gì rực rõ cho vương trieu. Cái truyền thống của
Phật giáo lan tixàn ra khắp noi ấy la cần ghi nhận.
PH.ẬT G IÁO TRO NG THÒI ÂN ĐỘ BỊ XÂM LẢNG
Điéu ta cần ghi nhận thêm nữa là nhờ những cơ sở tinh thán dã rất
bển vững nèn cuộc thay dổi chính sự về sau, vẫn không hại gì đến đà tiến
cúa Phật giáo.
241
Sau khi A Dục Đế băng hà, đế quốc bị chia ra thành nhiều mảnh
múng cho các con của Đại Đê cùng ngự trị. Khoảng 50 năm sau, người
cháu cuối cùng của A Dục Đế là Brhadrata bị một soái iướne là
Pusyanilra ám sát trong cuộc duyệt binh. Một vương triều mới dược dựng
nên là vương triều (Ịunga không theo Phật giáơ (177).
(Ịunga không thống trị được toàn thể đê quốc Maurya cua dòng họ
Candragupta. Đế quốc ấy bị phân mánh ra nhiều tiểu nhược quốc chông
chọi lần nhau hết sức lộn xộn.
Trong khi ấy, ở phía lây, các vùng dất do vua Candragupta giành lại
của người Ba Tư lại bị các lãnh chúa Hy Lạp hậu duệ của A Lịch Sơn tái
chiếm. Đó là các quốc vương Dcmétrius và Mcnandras. Lcãnh thổ Ân mà
Dcmétrius và Ménandras tiến chiếm còn rộng hơn hồi A Lịch Sơn tiến
chiếm nũ’a.
Nhưng dặc biệt họ có một biệt nhỡn đối với dân nước bảo hộ. Họ
gửi một sứ thần tên Hisidore đến triéu dinh vua (Ịunga. Sứ thần này tin
theo dạo Bà La Môn và thờ thán Visnu. Họ lại nhìn nhận những nhân vật
trong thần thoại Ân Độ cũng dũng hà nhiìng nhân vật trong thần thoại của
họ: Thượng dê Indra là thiên chúa ZcLis, thần (Ịiva là thíìn Dionysos, nữ
chúa Padnâda là Artémis và Krisna là Héraklés v.v... chí khác lên mà
thôi. Ngoài ra trong những dich cũ bàng chữ Pali, người ta còn kế việc
vua Hy Lạp Milinda (chính là Mcnandros) hòi dạo với Long Thụ Bổ Tát
(Nâgasena). Một vài đồng tiền dồng đúc hồi ấy còn khác hình bánh xe
pháp luân của Phật giáo. Và câu chuyện mà Plutarque kể việc phân phát
tro xá lợi của mình sau khi chết đã có vang bóng việc phân phát trong xá
lợi cúa Phật.
Những việc ây chứng tỏ rằng nếu vua Hy Lạp không theo Phật giáo
thì ít ra cũng là ân nhân cùa giáo hội. Và nền vãn hoá của Phật giáo dã
không hề bị sa sút vì những biến cò' chính trị dã kể trên. Trái lại. thời này
còn khởi dầu này nứ thêm dòng tu mới nữa. là dòng Bhágavala và anh
hùng ca Bhàgavata dã chứng tỏ là vĩ dại vì dã nêu cao gương dại hùng,
dại lực, dại từ bi của người tu dạơ nhập thế gian de trá nghiệp thì mới dút
dược nghiệp.
Tư tương Phật giáo cũng như Ân giáo nhừ cuộc sống chung giữa hai
nền văn minh Đỏng và Táy này mà phong phú hết sức. Khoa học và nghệ
thuật Hy Lạp cùng với tư tưởng thán học Ba Tư đã dua nhau pha trộn với
những sở hữu tinh thần của Ân Độ. Dù phai dợi đến đời vua Kaniska (78-
123 s. CN) mới dâm bông kêt trái, những dấu hiệu phát triển cũng dã thấy
rõ từ hcrn một thế kỷ trước trong thời kỳ bị dô hộ này.
l'uy nhiên, cuộc sống chung không được lâu dài vì những biến cố
242
trọng dại khác ở phía đông.
Biến cố ấy là dân Hung Nô chiếm cứ vùng đất phía Nam Vạn Lý
Trườns Thành của Trung Hoa đã đánh đuổi giống dân Đại Nhục Chi về
phía Tày (165-125 tr. CN) tạo nên một sự xáo trộn đời sống của các
gicing dân quanh vùng Tân Cương. Biên giới của xứ Bactriane thuộc Hy
Lạp bị áp lực nặng nề đến nỗi đường phòng thủ bị vỡ và dân Scythe tràn
vào thì dân Đại Nhục Chi đuổi theo. Thế là dân Scythe mở đường cho dân
Đại Nhục Chi chiếm luôn dấl dai thuộc Hy Lạp ở Bactriane, Aíghanistan,
Baluchistan, ca vùng phía Nam sông Indus và cả ven sông Panjab nữa.
Nhũng bộ lạc Đại Nhục Chi lai Scythe, Tahia, Parthes dặt dưới
quyền điều khiển của bộ lạc hùng mạnh nhất là Kusana, thê là thống trị
Ân Độ và dần dần chiếm hết miền trung tâm châu Á, chiếm hết miền
Đông Ân Độ, hết đồng bằng sông Gange và tiến ca xuống phía Nam dãy
núi Vindhya nữa (vào khoảng nãm 70 tr. CN).
VDA K ANISK A (7 8 - 123)
Vị vua trong dòng Kusana hùng cường nhất là Kaniska, trước theo dạo
Bà La Môn (hay đạo thiên thần Zoroastre), sau cũng như A Dục Đế, theo
dạo Phật. Cũng như A Dục Đế, Đại Đê Kaniska bảo trợ giáo hội Phật giáo,
và với dịa vị của một ông vua thiên tử. ngồi giữa đưòng gặp gỡ những nền
văn minh lớn, Đại Đế dã mở thêm các đường truyền đạo cho Phật giáo cả về
phía đông đến Trung Hoa và ca về phía tây đến La Mã nữa.
Ân Độ nhờ dấy trở thành một trục chính của thế giới văn minh trong
một thời kỳ phồn thịnh nhất lịch sử.
Kaniska xây dựng rất nhiều bảo tháp, tôn trọng xá lợi Phật và là
vị Hoàng đế đầu liên dã cho diìc tiền có khắc tượng Phật để lưu hành
trong dân gian. Nghệ thuật ấn pha anh hưởng châu Âu, nhất là Hy Lạp
từ thê' kỷ trước sang thế kỷ này gặp điều kiện sống thanh bình đã được
thể hiện ra hết sức rộng ở kiến trúc cũng như ở điêu khắc, hội hoạ. Cá
những kiến thức khoa học cũng nảy nở rất mạnh, và cả thần học Hy
Lạp, cá tư tưởng Ba Tư cũng pha trộn thêm vào tư tưởng ấn Độ và kích
động cho nó phát triển.
Một nghị luận hội Phật giáo kỳ tư dã dược Đại Đế Kaniska triệu tập
tại Landhar (Đông Panjab) - có tài liệu nói ở Kundalavana (Kashmir) và
đã có mười tám chi phái về họp.
ĐẠI 1 HỪA VÀ T lỂ li I HỪA
Một sự chuyển dịch trọng tàm những diều giảng luận về Phật giáo
243
dã được ghi trong thời này.
Kinh điển được chép bàns chữ Phạm (Sanskrit). Trước đó. nhữn«
kinh điển chép bằns chép Pali, tàntz trữ ở Tích Lan.
Kinh điển chính thức thừa nhận điều mà cônR chúns phật tử đã làm
Irons thực tế là tôn thò' Phật là người Trời (Être divin) và tin tưởng là có
rất nhiều vị Phật của quá khứ và vị lai đã giúp khai thông tuệ nhãn cho
thái tử Tất Đạt Đa sớm ngộ đạo. Đó là bước đầu đặt nền móng cho việc
thờ Tam thân Phật tổ.
Nhiìnc quan niệm chính thống cũ cho rằng cá nhân gắng công tu
theo gương đức Phật đến chứng quá A La Hán đcã kể là dến đích rồi.
Nhưng kê từ đây thì người ta xác định: đôn đích ấy mới là dến cảnh giới
của vô thuỷ vô minh (hay là vỏ sắc giới), chưa thê’ kể là chứng nhập Chân
Như tuyệt đối, vượt ngoài tam giới là Niết Bcàn được.
Sự chứng nhập này phai là tự mình thân chứng bởi canh giới Chân
Như tuyệt dối chẳng phải là chỗ ngôn ngữ văn lự có thổ bày tỏ ra dược'".
Nhưng Tam thân Phật với Quan Âm Bồ Tát cũng có thể dộ cho tha nhân
ngộ dạo, theo Bồ Tát hạnh là hạnh tu của những vị dã dến bến Giác
nhưng nguyện ở lại trần gian để cứu vớt chúng sinh dau khổ.
Đó là những nét đại cương của phái dại thừa (Mâhâyana) đối lại với
chủ trương của phái tiểu thừa (Hinâyâna).
Đại thừa với chùa thờ Phật, với bánh xe pháp luân, trầm hương,
chuổng mỡ. kinh kệ v.v... không phải là một hình thức đại chúng hoá thô
thiên của đạo Phật. Mà do Long Thụ Bổ Tát (Nâgârjuna) sáng lập. đại
thừa có cãn ban lý thuyết cao thám của “một trong nhũ'ng nhà siêu hình
học tinh vi nhất nicà loài người có thể sán sinh ra dược” (run des
métaphysiciens les plus subtds que la race humaine ait produits)'"'.
TÓM LAI
Điêm này dườim như có phần nào do sự kích dộna của hệ thốna Ui' tươne Iriếl học
Hy Lạp mà kết linh: “ Mục dích của Iriếl học là cầu Iri kiến, mục dích của Phật pháp
là lìa tri kích. Việc làm cứa triết học là lại nơi lời nói mà ciia Phật Pháp là tại ncá lìa
lời nói. Triết học dùna Iv trí làm con dườna di lới chân lý. còn Phật pháp lai cho là
lý In' làm che láp con dường di dến chân lý. nên dặl lên cho nó là “ Sơ tri chướng”
và bài xích nó là vọng tướng.
H.Zim m cr. Lcs Phiìosophics (le I 'hìdc , p. 401. Payot . rv ris , 1953.
244
Đến chặng tiến hoá này, chặng tiến hoá sau công nguyên nicà dạo
Phật truyén vào Trung Quốc, Nam Dương, Triều Tiên, Nhật Bản, Thái
Lan, Giao Châu (Việt Nam), đạo Phật dcã mang theo nó nhCrng sác thái vô
cùng phong phú với một tinh thán hết sức tinh tế.
ĐAO PHẬT VÀO (ÌIAO CHÂU
Đạo Phât đến đời Kaniska truyền ra các nước nưoài, đã có theo một
truvén thốns khai mào từ đời Aẹoka: ì .V ì sự sấnÍỊ chuììỌ, troììịị lioà hình của cộng dồng các quốc gia mù
klìchìg vì lợi hav danh gì cho chính quốc. 2. Vì sự giác ngộ cho chúng sinh khỏi dường mê lầm của thể giới ảo
tưởng dể tìm thấy tĩnh lặng trong tâm hổn mà hiết suy nghĩ cho phải đạo. 3. Không có thói tự dề cao và miệt thị những tôn giáo khác. Tất cả các
nhà tu của tất cả các giáo plìái dều dáng trọng (ỳdiểm nàv hay diểm khúc. 4. Đời sống tôn giáo mới lù vĩnh cửu dâng kể, cỏn những sinh hoạt
chính trị có giá trị nhất thời.
Do truyền thốnư ấy mà tổ chức Phật giáo đã như không có tổ chức gì.
Nó như một chất lỏne, chui vào bình chứa hình gì thì nó liền theo hình ấy
ngay. Chỉ miễn thực chất của nó ở căn bản là từ bi cứu khổ, không thay đổi và
sự nhận định của nó về nghiệp kiến, luân hồi, chứng ngộ. cực lạc vẫn chính
xác là chân lý tuyệt đối. Còn tất cả đều có thể linh động từ nghi thức thờ cúng
đến thể cách tu đạo, cho đến thái độ chịu đỊmg cung cách đối xử của chính
quyên và chúng sinh. Nghĩa là tùv theo bình chứa (để nói ví dụ một cách cụ
thể) hễ hình tròn thì Phật giáo cũng hình tròn, mà hình vuông thì lại có hình
vuông. Vcà nói một cách khái quát hơn là tuỳ theo cá tính dân tộc và mức độ
tiến hoá của Xcã hội mà Phật giáo chiều ứng dể chuyển mình sáng tác thành
sản phẩm tinh thần riêng của dân tộc ấy ngay.
Bởi vậy, sắc thái Phật giáo ở chính quốc An Độ không phải là mẫu
mực mà cũng không là điều kiện cho sắc thái Phật giáo ở các nước ngoại
Ân. Người ta có quyền nói rất đúng là Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Trung
Hoạ. Phật giáo Nhật Bản v.v... cũng giống như Phật giáo An Độ. Giữa An
và các nước ngoại An dã không có một mối dây liên hệ thuộc hạ nào vì
không có một giáo quyền dộc tôn nào manh nha ngay trong ý thức cả.
Nói một cách thiết thực thì từ khoảng AỌoka tới Kaniska và cả về sau
nữa, dân An Độ dù có tham vọng lập một thứ Toà Thánh để làm một “cuộc
chinh phục tàm hồn” các chúng sinh ngoại An, thì cũng không thực hiện nổi.
Bởi vì trong nước loạn ly liên miên, thời thịnh trị không dài mà thời qua phân
ra các tiểu quốc và thời bị xâm lăng thì lại luôn luôn không dứt
‘"Sau A ẹoka, (261 - 227) được 34 Iiãm, các con cháu chia đất ra thành mảnh múng
đê mỗi người cai irị mỏi nưi, chí năm mươi năm là xã tắc sang tay dòng họ khác,
tuv còn một vài vị tiểu vương cai trị ở vài tiểu quốc xa xôi. Thế rồi hết dòng họ
Ọunaa cai trị đến dòng họ Kanyâ, ngắn ngủi chừng 20 năm, lại cớ hoạ xàm lăng của
Hy lạp rồi của Iran, rồi tiếp dến là cá một thời lộn xộn của dán vùng trung tâm
245
Qua những biến cố liên miên như Ihế, sự tu phật của các cá nhân
cũne như các nhóm cá nhân chỉ tồn tại và cắc cớ là chí thâm viễn hết sức
ở tinh thần, còn bao nhiêu nhũ'ng tổ chức bề ngoài về giáo hội nếu có,
cũng như bao nhiêu thê’ cách lu theo hình thức đều bị liêu trầm cả. Điều
ấy giải thích tại sao ở ngay chính đất Phật ỏ Ân Độ, Phật giáo bây giờ
không còn một ảnh hưởng gì mạnh mà chỉ ở Tích Lan mới có đại đa số
dân theo Phật giáo.
Tuy vùng sông Gange là đất Phật, vùng sông Indus là dất cổ văn
minh của Ân, và vùng Hy Mcã Lạp Sơn Icà thế giới huyền bí của cõi cực
lạc. những vùng ấy có thể có huyền lực kêu gọi người ta về tình cảm,
nhưng qua những chặng và nhũ'ng khu có sự chém giết lung tung, người
ta cũng chỉ dám nhớ để bụng chứ không thiết tha trở về khu đất tổ ấy.
Nhất nữa là nhò' thấm nhuần tư tưởng Phật giáo, người ta nhìn vạn hữu
dều là không, sự sống thiết thực của hiện tại là ảo tưởng, chỉ một nháy
mắt là đĩi hết, người ta càng không có sự tha thiết vun đắp về cho thánh
dịa làm gì cả.
MỤC ĐÍCH CHÍNH CỦA SỰTRUYỂN bá đ ạ o p h ậ t r a n ư ớ c N(ỉ0ÀI
Bởi vậy, mục đích chính chỉ là ước mong cho quần chúng khắp nơi
suy nghĩ và sống cho phải đạo. Được như thế, người đi truyền bá thấy là
minh làm một việc phúc dức dể gieo duyên lành. Mà ví thử quần chúng ở
nơi nào đó chẳng suy nghĩ và sống cho phải đạo như mình quan niệm thì
cũng thôi. Không hề có sự cố gắng phái dùng mưu mẹo, hoặc lừa dối,
hoặc len lỏi vào chỏ này, chỗ nọ để làm cho người la theo đạo của mình,
hoặc dùng những quyền lợi vật chất mà câu rử, hay dùng những thế lực
nào đó đê’ bênh vực cứu giúp người bất hạnh, lấy sự theo đạo làm điều
kiện cho sự cứu giúp của mình.
^ châu Á tràn qua, kẻ đánh đi, người chiếm lại, cho đến lịch sử không còn phân
biệt nổi dòng Kusana bá chiếm Ân Độ cuối cùng là đích thực dân ở đâu tới nữa.
Đến Kaniska (78 - 123) cúa dòng họ Kusana ấy, kê như lại dược 45 năm thịnh trị
thì tiếp sau dó dến dời các con, triều dại lại suy tàn với quốc thổ ihu hẹp dần lại bị
Sahpuhr dệ nhất xâm lăng và sáp nhập vào dưới quyén thống trị của Iran cũng
không rõ là bao nhiêu lâu. Lại cíến nửa dầu thế kỷ thứ V. diÂn Đại Nhục Chi ở Trung
Á lại xâm lăng Bắc Ân, dể rồi sau dó, kc xâm lăng lại bị kẻ xâm lăng khác là Hung
Nô dánh nhau.
Nghĩa là ở thời thượng cổ, chính sự Ân Độ dã hết sức lộn xộn và lãnh thổ Ân Độ
dưới là các dân tộc từ bốn phương tới mà ảnh hưởng thì lẫn lộn cả gươm giáo, trống
trận với nghệ thuật, tư tưởng cùng hàng hoá. Không kể điéu tất nhiên xáv ra là ánh
hưởng cả về dòng máu nữa.
246
Nghĩa là nsười đi truyền bá đạo Phật đã không hề làni việc theo tư
cách một cán bộ của một đảng chính trị đê hùng hục phái đạt cho kỳ được
kết quủ mà báo cáo bằng những ban thống kê về sự liến bộ của cuộc
truyền bá. Theo tổ chức không lổ chức của Phật giáo thì lại không hề có
trung ương nào cá để nhìn những ban thống kê ấy. Người đi truyền bá đã
chỉ nhẩn nha, không ra hoạt động mà cũng không ra không hoạt động,
được đến đâu hay đến đấy, không hề truyền cái cuồng tín vào đầu ai,
cũng không hề truyền sự hằn học, phai thế này thế nọ nhất định thì mới là
văn minh, mới là chân lý.
Đạo Phật đã đúng là một thứ tôn giáo cho những xã hội nông
nghiệp, cứ việc gieo hạt giống, rồi mặc nó mọc ra sao thì mọc.
PHII()N(Ỉ PHÁP TRIIYÊN BÁ ĐẠO PHẬT
G. Cocdès trong sách
ỉỉistoire Ancienne dcs états Indonisés
d ’Extrême Orient (Cổ sử các quốc gia Ân Độ hoá ở Viễn Đông) có dẫn
lời G. Pcrrand dể chứng minh phương pháp nàỵ như sau:
""G.Pernnuỉ dã viết nhiều trutnị về sự Ân Độ hoú ddo Java, có thể
hiểu chuiìg dược cho các nước ììiịoại Ân khác, mà tôi dcỉn ra vùi doạn.
“5í/ việc trom> thực tể dã có thể diễn ra đại dể như thế này: hai
hoặc ha tầu huân ấn di cách chừnịỉ dể yểm trợ cho nhau rồi tiến dần tới
dào Java. Nhữnịị người mới tới giao thiệp với các lãnh chúa, và dể dược
mọi sự dề dàng thì có quà hiếu, có sự chữa thuốc cho người dau yếu, có
những hùa dấu d ể deo. Troníị tất cả những nước vún minh cổ mù tôi dã
.sống từ vịnh Aden và dọc hờ hiến Đông Phi dến Trung Hoa, nhiĩníỊ phương
tiện duy nhất kiến hiệu dể .vâm nhập một cách êm thấm ở dâu cũní’ dều
như nhau cd: quà hiếu dùng làm lễ ra mắt, phân phát thuốc men cùng
những hùa yếm dế tránh tai hoạ (có thực hay chỉ lù tưởng tượng). Người
ngoại quốc phải tỏ ra giầu có, hiết chữa hệnlì vù có tài phù thuỷ. Thì
không ngỉtòi nào có thê’ so sánh nổi với người Ăn Độ về sự khéo dùng
những thể cách ấy. Nguúi Ân Độ này tất cỏn khoe thuộc dòng dõi cao
sang, hoàng thán hay quốc thích khiến cho gia chủ chỉ có thể sừng sốt.
247
""Khi dến sống trong dài dất lạ như thế, người Ăn không có thông
ngôn. Họ phái học nói tiếng hdn xứ khác hấn với tiếng của họ, vù phải
vượt nổi trở ỉ ực đẩu tiên ấy thì mới dược nhận cho vào sống với bộ lạc
ngoại quốc Mleccha. Sự kết duyên với con gái các tù trưởng diễn ra tiếp
sau dó vù chỉ dến lúc ấy thì dnlì hưởng văn minh và tôn giáo mới cố hy
vọng thành công. Vợ hụ người hãn xứ dược huấn luyện mới trở thành
những cún bộ truyền bá tư tưởng vù tín ngưỡng mới: các cô còng chúa
hư\ tiểu thưthuộc lìùníỊ thưựní> lưu xã hội nâv về phong tục, tập cỊuán, tôn
giảo âã được công nhận là hiểu hiết hơn hạng thường dân thì hạng
thường dãn không có /v lẽ nào mù nghĩ trái V các cô dược".
G.Coedès viết liếp:
“Đớ lù doạn dầu của công cuộc Ân Độ hoá. Còng cuộc cá nhân huy
tập thể không cố chương trình trù liệu trước, chỉ lù sự di cư dông dào nó
làm thay dôi thê chất dớìì chúng Uc. A và Nam Dương ớ ngoại An.
Nhưng sau những người nhà huân này vù theo gót chân họ, phần
lớn phải là vai trò của những phần tử có học thuộc hai giai cấp trên, nếu
không thì người ta sẽ không hiểu nổi sự nay nở của văn minh ngoại Ân,
Khơ Me. Chùm, ,Java thâm nhuần tôn giáo Ẩn Độ vù văn chương hằng
chữ Phạm".
Một nhà Nam Dương học khác là R.o. Minstadt đã khai triển đoạn
nhận xét nàv của G.Perrand trons sách Lịch sử của Mã Lai và thêm
những sự kiện lịch sử lương tự:
"Với thời gian, một vài người trong số người Ân Độ lẩy vợ thuộc
những thế gia vọng tộc ở Nam Dương và tiêm nhiễm những cptan niệm An
Độ về vương triều, dũng như một ngùn năm sau, những người Tamouls
theo Hổi giáo cũng lùm rể những gia dinh vua chúa ở Malacca. Sự tới Mã
Lai sống của người Ân dường như rất giống với sự tới sống của người Hồi
ở Hadrarnut. Người Bà La Mòn vù người c Ị i i ý tộc Kshatriya chiếm chỗ
của người Sayid, (fuý tộc hán xi'r.
Ca hai ba nhà cổ học phương Tây Iicày cũng như nhiều học giá khác
dã có một nhận xét dứng ở doạn đầu, cái dơạn người Ân mới du nhập một
nước nào. Nhưng đã có một diễn dịch sai vì dã để cho nhãn quan phương
Tây và Gia Tô giáo chi phối để hiểu rằng người Ân cố tình dùng các
mánh lới mà truyền bá dạo của mình.
Đó là điều sai lầm quan trọng.
NHCNíỉ N íìườl ĐI TRUYỀN ĐẠO
Như trên đã nói, không giông với các đạo khác, có tổ chức khắt khe,
sự truyền bá đạo Phật đã được làm nhẩn nha như hư như thực. Cán tìm
hiểu sâu hơn nữa mới thấy sự thành công của đạo Phật trong nhũìig xã hội
nông nghiệp, nhất là hiẽu tâm trạng thực cua người An ngày xưa.
Có hai loại người mang văn minh An ra nước ngoài. Một là các
248
thương nhân. Hai là các lu sĩ.
1 . Thương nhân
Thưong nhân thì trừ những imười buôn hàng chuyến đi rồi trở về vì
cổ cơ sở lớn ở chính quốc Ân Độ'", còn phần lớn là những kẻ phiêu bạt
siang hồ, mang theo hcàne hoá vốn liếnc đi lìm cách làm ãn ở xứ ngoài.
Vừa đổ tránh những canh ly loạn hên miên trong nước, vừa để tìm dựng
ỉại cơ đồ đổ vỡ vì chiến tranh. Quan hệ nhất là vừa để tìm nơi khác làm ăn
dễ dãi hơn. Bởi Ân Độ hồi ấy chia thành nhiều tiểu quốc mảnh múns,
nhữns khu vực phì nhiêu như dồng bằng sông Ganse đã bị các vua chúa
hùng cường chiếm siữ, còn những chỗ xương xẩu thì dân nghèo, đất cát
khô cằn, khí hậu cực kỳ khó sống, không kể những thiên tai thuỷ hạn.
Những thương nhân phiêu bạt này có thể chính thống thuộc giai cấp
thương nhân. Cũng C(5 thổ là những hoàng thân quốc thích bị thất thế ở
những tiểu quốc nào đó. Cũng có thể là những vị vương bị truất phế hay
lự ý bỏ ngôi cao hay những cựu quan thuộc hàng quý tộc.
Có những người dụng lâm ra nước ngoài xây dựng một triều đại ở
vương quốc khác'’’. Lại cũng có nhiều những nhân vật khác chỉ muốn ra ngoài sống cuộc sống nhũn nhặn, buôn bán qua ngày.
Đến những người tiểu thương tháp tùng thì họ đã không phải đi ra
ngoài với một dụng lâm truyền bá văn minh và tôn giáo Ân Độ. Nhưng
chính họ đã làm việc ấy một cách dắc lực với một kết quả không ngờ.
Ây là vì trong mạch máu của người Ân Độ, từ thời Vê Đa, khoảng
2000 năm Ir.CN vẫn dã có cái ý niệm về luân hồi, nhân quả, nghiệp
dịnh... mà họ tin như những sự thực ngtàn đời. Trong đầu của họ cũng có
sán những truyện cổ tích, những thánh ca, những lời kinh Vê Đa, những
lời thơ anh hùng ca Mahabhârata, v.v... để chứng minh những chân lý ấy.
‘"H ọ buôn Vtàng từ Tây Bá Lợi Á, sau đường Bactriane bị cắt vì loạn ly, họ lại inua
tién vàng cúa La Mã. Khi bị vua La Mã cấm họ mới quay về Viễn Đông. Xem
G.Coctlès. sách đã dần. tr. 25.
Như trường hợp cúa Houen T ’icn lức Kaundinya lừ Ân Độ qua hay từ Mã Lai,
Nam Hiii, là người theo truyền thuyết có mũi tên thần bắng thủng thuyền của Liỗu
Diệp côns chúa và lấy công chúa dế ngự trị Phù Nam, khai sáng nên vương quốc
này vào thô' kỷ thứ nhất. Hay như trường hựp của Tien Tchou Tchan T ’an. người
Đại Nhục Chi hay Indoscythe, ngự trị Phù Nam khoảng năm 357 với danh hiệu
Tchan T'an, theo Lévi, có lẽ là Chandan một vương hiệu thông dụng của người
Kusana (dòng họ vua Kaniska). Hay nữa như trường hợp mà người Chàm khoe
trong bcài bia ở th í kỷ IX là vua Chàm Khu Liên sáng lộp ra Chiêm quốc năm 178
thuộc dòng dõi Bhàragavas cúa Maharshi Bhrigu, một nhân vật trong anh hùng ca
Mahabhârata...
24 9
Và troiiíì đời sống đầy kinh nghiệm của chính bán thân luỊ. qua bao nhiêu
thăng trầm cũng lại có rất sẵn những dần chứng để iàm người la phải tin
theo chân lý ấy. Thêm cái thói quen ưa trầm tư, tìm triết lý để lự an ủi và
tin những điều thần bí siêu hình, mỗi người của họ đã như hiện thân của
lý ihưyết Ân giáo. Chỉ sự sống chung của họ với dàn bản xứ và nói
chuyện thân mật đã là một sự truyền đạo hết sức hiệu quả rồi.
Không lựa là họ phái cố nhám tìm những con gái của các thế gia
vọng tộc mà xin cưới để các cổ dâu mới này truyền bá dạo mới, như nhận
xét của G. Perrand, làm như sự truyền dạo là cứu cánh của cuộc sống vậy.
Kỳ thực người Ân có thương điếm làm ăn ở nước ngoài có thể dã không
hề nghĩ một chút gì rằng phải làm cho thực nhiều người theo đạo Phật.
Người Ân dùng mánh lới để làm rể ở những nhà quyển thế. Việc ấy
có thể có. Nhưng mục đích chính không phải là dùng vợ làm trung gian
đổ truyền đạo mà thiết thực hơn là để nương dựa vào thế lực ấy cho sự
làm ăn khỏi bị kẻ nào làm khó dỗ. Còn người vợ theo tín ngưỡng mới của
chồng có đi kể lại với bà con họ hàng dể truyền bá dạo mới thì cũng chí
là việc phụ.
Vả chăng, ở mỗi nơi đông đúc mcà người Ân tới đặt thương diếm nếu
có thì cũng chí có chừng vài ba gia đình quyền thế thôi. Chứ lấy đâu ra
nhiều? Riêng ở Giao Châu - các xứ khác ta chưa dám biết vội - còn có
những con mắt cú vọ của các quan cai trị người Tàu cũng dòm ngó các cô
gái của vài ba gia đình quyền thê ấy. Thì người Ân, không có vũ khí,
không thế lực chính quyền, liệu dám dương dầu với họ chăng trong
những cuộc tranh hỏn có thể xáy ra ấy? Bởi vậy ta không thể chấp nhận dược thuyết của các nhà khảo cứu phương Tây, ít ra là dối với xứ Giao Châu của ta.
Chúng ta nhớ truyện cổ tích Tấm Cám của ta là một trong những
truyện cổ có mang nhiều sắc thái Ân Độ về luân hồi, nhân quá. Chứng tỏ
Phật giáo đã không phai chí được truyền qua sự giang đạo thuần lý thuyết
trừu tượng và kinh kệ của các tu sĩ từ trên xuống mà phần lớn dã được
truyền qua cuộc sống chung từ dưới lên, lấy chính cuộc sống thiết thực
cùa hiện tại làm đà ăn sâu vào tâm tình của dân chúng.
2. Tu sĩ
Những nhà tu đến sau như lời G.Coedès nói, làm việc giảng dạo
mới thật, nhưng là giảng đạo cho những người dã sẵn sàng tất cá để nghe
và tin theo cùng tìm đào sâu giáo lý.
250
Đó là những phái đoàn tăng lữ đi ra khắp các nước ngoài từ thời
Aọoka và đến thời Kaniska này thì lại có thêm nhiều phương tiện nữa.
Những tăng nhân có thể đã lập tu viện, giữ việc tổ chức các lễ cầu kinh và
tiếp xúc với tín đồ để giáng kinh thuyết pháp. Nhưng như trên đã nói, sự
truyền bá Phật giáo của họ rát nhán nha. như hư như thực, không cần đến
hình thức thống kê số người theo đạo mới, vì họ không cần phủi báo cáo
về kết quá của công cuộc truyền đạo. Kết quá đã chỉ đo bằng số chùa do
dán hỷ cúng để xây dựng thêm, sô những chuông, những tượng cũng do
dân hỷ cúng dể đúc thêm tạc thêm mà thôi.
Những tăng nhân này có lẽ cũng chẳng hề đưa ra một mẫu kiến tạo
nào ở chính quốc Ân Độ để bát địa phương phải làm theo đúng y như thế.
Họ cũng đế tuỳ con mắt thẩm mỹ của người ta, tuỳ khả nâng tài chính,
tuỳ trình dộ tiến hoá mà tạo tác. Vì vậy ở mỗi nước, chùa mang sắc thái
riêng, cả quy mô, kiểu thức, cá sắp đặt nơi hậu cung thờ tự.
Thêm một điều ta cần lưu ý là trong những đoàn thuyền giáo đi vàn
du các nước trên cả hành trình, các lăng lữ đã không ấn định chương trình
phủi ngày nào đến, ngày nào đi, cũng không ấn định phải kàm xong việc
này hay việc khác, hoặc phải chờ gặp người này hay người kia để xin ân
huệ này, ân huệ khác. ^
251
Đến một nơi có thương điếm của người Ân cùng những kiều bào
hiêu dược tiếng họ với sô' dân dông dáo sán sàng nhìn nhận chân lý Phật
giáo thì cổ thê’ dễ dàng công việc cho họ hơn và họ có thể sẽ lưu lại lâu
hơn. Những Ân kiều là những thông ngôn dắc lực của họ. Nhưng ví thử
đến một nơi chưa có gì hết, lại cũng chưa biết nói cả tiếng của người địa
phương ấy nữa, có thể họ chi đi qua. để lưu trong một nhân gian hình ảnh
của một tăng sĩ khất thực, hiền lành, khổng làm hai gì ai cá. Nếu có dịp
thì họ chữa bệnh cho người đau yếu gặp ở trên đường, rồi lại đi mà cũng
không cần nghe một lời cám ơn nào ca. Điều quan trọng là phong độ
người chân tu của họ phai tiết ra một vẻ chân thành từ bi bác ái nào đó, để
người la có thể không nghi ngại mà bằng lòng giao phó sinh mạng thân
nhân mình cho họ chữa bệnh, chứ không phải người xưa cổ lỗ ngây thơ
ngu dại tới chỗ ai khoe có tài chữa bệnh cũng tin liền ngay dâu. Sau một
Vcài lần chữa bệnh có hiệu quả và chiêm nghiệm được, rồi mới dễ, vì
người ta đồn đại khắp nơi dể ihn đón rước họ, xin nhờ họ chữa bệnh hết
cho người này đến người kia mà không cần phải biết tiếng của nhau nữa,
chỉ ra dấu cũng dã thông cảm được với nhau trong những trường hợp ấy.
Đổ rồi họ sẽ ở lại lâu hơn những ngày giờ dã định, mà học tiếng địa
phương và bập bẹ gieo rắc những lời khuyên, để nêu gương những tín
ngưỡng mới và đặt nền móng cơ sở tôn giáo. Điều đó là một duyên may
run rủi cho họ và địa phương ấy gặp nhau. Nhưng ví thử đến một nơi còn
hết sức inan rợ, họ bị lừa hay bị bát cóc và có thể bị giết hay bị ãn thịt
nữa, vì một hiểu lầm nào đó từ xưa thì họ cũng đành chịu như gặp được
dịp may mà 2Ìải thoát và trả xong nợ của một kiếp tu. Họ không nhũTig
không sợ chết mà còn đi tim cái chết là khác nữa. Có khi nhờ binh tĩnh
không sợ chết mà họ lại được tha và được cả bộ lạc kính phục. Thì đó lại
là chuyên nguy thành an, cũng là một duyên may nữa.
Câu chuyện ke trong Cao Tăng Truyện về ngài Ma Ha Kỳ Vực qua
Phù Nam, Lâm Ap, Giao Châu và Quảng Châu, Lạc Dương, dọc đường
thường làm phép lạ như lái đò thấy ngài rách rưới không chịu chở thì đò
tới bên kia sông đã thấy ngài ở dó rồi sợ là có thêm thắt. Người tu Phật
không phái là người có pháp thuật biến hoá thần thồng. Và ví thử có cũng
không cần phái thi thố bừa bãi với chú lái đò để làm gì.
Phương tiện để lấy cám tình của đỏng dao quần chúng nhân dân ở
thời xưa là chữa bệnh, bói toán, xem tướng số, cho bùa chú cầu tài và
cũng có khi là thuật thòi miên, thần giao cách cám. Người Ân đã nổi
tiếng về những cái tài ấy. Các nhà tu Ằi trước mắt thiên hạ hẳn còn phải
tài hơn. Cho nên thường các nhà tu này đến đâu cũng dược dàn chúng sẩn
sàng trọng vọng.
ĐẠO PHẬT ĐẾN (ỈIAO CHÂU VÀO THỜI NÀO?
Như đã xét ở trên, thì quá là khó, cái việc chỉ đích đạo Phật đến
Giao Châu vào thời khoảng nào. Không the căn cứ vào việc một vài nhà
tu có qua Giao Châu mà sách sử còn chép lại làm dấu rằng dạo Phật du
nhập ngày ấy.
252
Chính G.Coedès cũng dtã viết: “Ả7;ô/?g thể coi người Án dến bán đào
TniìUị Ân và nhĩừìíị quần ctảo ở Nam Hủi như người cháu Au cíến châu
Mỹ, vì họ không phải lâ kc’ lạ tỉũ khúm phú ra những (lất mới trong khu
vực ấy. ớ một thời khoảng lịch sử nào đó, cần thử xác cĩịnlì và tiếp sau
những hiến cố mả nĩịuúi ta có thể nhận ra dược dã có hảng doãn dông
dào nhữní> nhủ buôn và nhữm> người di cir ồ ạt tới khu vực mà trước chỉ
có ít n^ười Ic té đến thôi. Đ ể kết quả mới lù sự thành lập những vưưng
quốc theo kiểu An Độ, với những níịhệ thuật, tập quán tôn giáo Ân Độ,
cùm’ việc dùng chữ Phạm làm chữ thiêng liêm’. Những người An dã
khỏm> qặp nhữm> bộ lạc dã man, không một chút văn hoá nào, mù trái lại
đã íịập nluĩm’ mịười có phần nào văn minh,'không phái lù không na ná
với văn minh Ân Độ tiên Aryen. Sự dễ dáng vù nhanh chóng cho người Ân
truyền bá văn minh của họ có thổ giải thích một phần nào bằng việc
nyười dân dịa phươm’ nhìn qua phong tục tín ngưỡng của họ thấy dưới
nước sơn Ân Độ ấy có một căn cốt chung cho cd châu Á.
'"'Bài thế, íỉấv khôiĩí> pliíỉi là sự tiếp xúc í>iữa inỊưtyi xa lạ hav sự tiếp
xúc cĩầit tiâiĩ. Nếu sự Ân Độ hoá cúc nước m>oại Ân có vc là clicn ra vào
khoảniỊ dầu k \ mịuvên, như một sự kiện mới mẻ, thì khôiiíỉ phải nỊịười An
lúc ấv mới xuất nịỊoại lần dầu, mù chính là lúc ủ'v họ tới dônịị ddo ồn ào
lum, lại có mam> theo nlìữm’ phần tữ trí thức có thếtruyên hú tôn giáo và
nghệ thuật Án hằng tiêhíỉ Phạm". Thật là một nhận xét xác đáng để chứng minh rằng đạo Phật đã vào Giao Chíiu không phái vào thế kỷ thứ 111 mà còn trước nữa rất nhiều.
Sách Cao Tăng Truvện có chép rằng ngài Ma Ha Kỳ Vực qua Phù
Nam, Lâm Âp tới Giao Châu rồi đi Quảng Châu, Lạc Dương vào cuối thế
kỷ thứ III. hay Tăng Hội, người thuộc gia đình gốc Sogdianc đến cư ngụ ở
Ân đã nhiều đời rồi theo song thân tới Giao Châu định cư làm nghề buôn
bán. Khi song thân mất, ổng vào chùa tu hành và dịch các kinh sách chữ
Phạm ra chữ Hán. ông mất ở Trung Hoa năm 280. Nhưng những lài liệu Iicày chỉ chứng tỏ rằng dạo Phật dã có ở Giao Cháu từ trước khi có vcl chân của các nhà tu ấy.
Bơi trước dấy năm 187, khi Sĩ Nhiếp làm thái thú dất Giao Châu thì
Viên Huy dã có gửi thư về cho Tuân Quốc bên Tàu năm 207 kể về anh
em Sĩ Nhiếp như sau;
Nhiếp huynh dệ. tịnh vi liệt c/uận, lìùní> trưởnv, nhất châu, thiên an
tại vạn lý, uy tòn vô rhưựní’, xuất nhập minh chung khánh hị cụ uv nghi
tiêu cổ xuy .xa /?v mã dạo. Hồ nhân íịiáp cấu phần hương, tììién gid
ihiunu’ hữu so' thập.
(Ánh em Sĩ Nhiếp dêu chia ra các quận, mỗi người hùng cú' một châu,
rộní> dến vạn dặm, uy nghiênì tôn kính khỏnq có ai hơn, khi ra vào chuông
khánh vanq lừinỊ, diì mọi nghi vệ thổi .sáo dánh trống. Xe ngựa dầ\’ dưò'ng.
Nhữm^ nqiíời Hồ theo hai hên .V(' dốt hu'o'mị thif()’ní> có dến vài mưo'i).
Danh từ người Hồ theo Trần Văn Giáp trong sách Le Bouddhisme
en Annam là liếng của người Tàu chí các rợ miền giữa châu Á và Ân Độ
từ dầu kỷ nguyên.
Như vậy, người Hồ (nghĩa là người Ân Độ) dã ở Giao Châu ít nhất
lừ giữa thê' kỷ thứ II thì mới dặt xong nền tang tôn giáo và những liên hệ
với chính quyền.
253
Hồi giữa thế kỷ thứ hai là hồi sau triều Kaniska (78 - 123) các con
của Đại Đế không dương nổi nghiệp lớn. trong nước loạn lạc lung tung.
Hổi ấy cũng là hồi nhà Hán bên Tcàu tàn tạ với những vị vua yếu duối, chỉ
lo hưởng những thú vui vật chất trong cung câm còn việc triều dinh thì
phó mặc các hoạn quan lộng quyền khiến gày thành loạn Khán Vàng và
loạn Tam Quốc.
Giao Châu thuộc quyền cai trị của nhà Hán, ở nơi biên viễn miền
Nam. Vết thương do quân Mã Viện gây ra cho dân Giao Châu năm 43
đến đây cách 100 năm, dù có thế kể là đã lành thì những đau khổ, chết
chóc thảm thương khác do quan lại nhà Hán tiếp tục đầy ải dân Giao
Châu, từng ngày, từng giờ một đã không thể khiến nhân dân có một thiện
cam nào với kẻ đô hộ.
Hơn nữa, ở chính quốc loạn lạc, các quan lại nhà Hán đã không có ý
muốn trở về. Từ thượng tầng của guồng máy cai trị là các thái thú đến hạ
tầng là các nha lại, người ta đều có ý muốn dịnh cư lâu dài trên dải đất dễ
sống và dễ bóc lột dân địa phương để hưởng thụ mọi sung sướng vật chất.
Điều dáng lấy làm lạ là sau Trưng Vương một trâm năm đến hồi ấy,
Hán triều đang suy vi mà không thấy sử ghi có một cuộc khỏi nghĩa nào
khác. Điểu dáng lấy làm lạ hơn là ngay như Lâm Âp còn ít dân mà một
lúc cũng tụ ca ngàn người để đánh phá phía Nam Nhật Nam năm 132.
Vậy mà sao Giao Châu không thấy cựa mình?
Một rằng có. nhưng bị dập tắt hết và bị quan lại đô hộ giấu luôn ca
triều đình nên không có sớ lâu về khiên sử không còn một dấu vé nào cá.
Hai rằng quả là không có thực, vì dân đã kiệt quệ nhựa sống thì chí càng
chứng tỏ rằng quan lại đô hộ đã bóp nghẹt dân, để ép phải nằm im dưới
bàn lay sát của họ.
Dù trong trường hợp nào, ta cũng thấy dân Giao Châu cần tìm sự sống và lẽ sống ở một phía nào khác với phía Hán tộc.
Việc thái thú Sĩ Nhiếp dùng chính sách văn trịvà tỏ lòng thực tình
thương mến dân để dân lỏn là Sĩ Vương, lại cùng các danh sĩ Trung Hoa
và Giao Châu đặt nền móng sáng tạo chữ Nôm để’ dịch các kinh sách
khiến dân tôn là Nam Giao Học Tổ, rồi khi ra dường lại có các người Hồ
kèm bên xe đốt hương và chuông khánh vang lừng đã chứng tỏ ảnh
hưởng Phật giáo đến hồi Sĩ Nhiếp đã rất sâu đậm.
Điều mà G. Perrand nói về kê hoạch của văn minh Ân Độ len lỏi
người vào ánh hưởng tới các giới chính quyền địa phương, dể rồi hoặc
thuận tiện thì sắm vai cai trị, hoặc không thì ủng hộ cho người địa phương
tự cai trị đã cho thấy dấu vết dích thực là có ở đây.
Mưu cơ ấy, ở thượng tầng, dù bị thất bại trước binh lực của nhà Ngô
Vcà sau là nhà Tấn thì ở hạ tầng, về phía nhân dân, sự nhào nặn tinh thần
của Phật giáo phai nói là đáp ứng đúng nhu cầu của Xcã hội.
254
Vấn đề cán đặt ra để tìm hiểu là vì cớ gì dàn chúng Giao Cháu ở
giữa thế kỷ thứ hai theo đạo Phật, một đạo giáo xa lạ, có nhiều chủ trương
không ăn khớp với tục thờ gia tiên? Cháng hạn như người địa phương tin
tưởng linh hồn người chết vẫn phang phất như sống để phù trì cho con
cháu thì tôn giáo lại chủ trương là linh hồn đáu thai kiếp khác để bắt đầu
lại một vòng sinh hoá khác, và chẳng hạn như người địa phương tin tưởng
sống là ở. thác là về thi tôn giáo mới lại chủ trương trong đời sống có tu
và đãc đạo mới được về Tây phương, còn ãn ở bất nhân ác đức thì phải
xuống địa ngục âm ty, hoặc chẳng hạn như người địa phương tin có phúc
ấm truyền đời thì tôn giáo mới lại chủ trương mỗi cá nhân có một nghiệp
riêng để trá quả cho những nhân duyên riêng.
Ta đặt mình vào địa vị người Giao Châu đời ấy hẳn sẽ thấy là khó
để thụ lãnh những giáo lý mới này. Nhưng nếu ta nhớ lại tính chất linh
động và mềm dẻo của đạo Phật (mềm dẻo đến độ loãng như một chất
lỏng để vào bình chứa nào cũng dược) thì ta sẽ không còn lấy Icàm lạ về sự
du nhập quá dễ dàng của dạo ấy.
Đầu tiên là cái truyền thống kính trọng tín ngưỡng của người, từ
thời Aẹoka đã giúp các nhà lu Âi Độ né tránh mọi đụng độ gay go về
chủ trương tôn giáo. Sau Icà sự không cố chấp kinh kệ, không cứng rắn
trong việc bảo vệ giáo lý dã giúp các nhà lu ấy tìm hoà hợp với tín
ngưỡng cổ truyền của địa phương, khiến dạo Phật nhờ đấy thêm phong
phú và thêm nhiềư tính chất đặc thù.
Người Giao Châu dã dcn với dạo Phật không bằng tuệ giác mà
bàng tình cảm. Hay nói ngược lại cũng vậy, dạo Phật đã bát sâu rễ vào
trong lòng người Giao Châu hơn Icà vào trong óc.
Những sự bày tỏ lòng thương cảm đối với những người gập điều
không may, dang phai quằn quại trong đau khổ, những lời khuyên nhủ họ
nhẫn nại chịu đựng đau khổ ấy dể trá hết một món nợ huyền bí nào của
tiền kiếp, cùng với những sự dản giái về nguồn gốc của những đau khổ
buồn phiền trong trần luỵ cũng như sự hé mở những chân trời hy vọng cho
người ta, theo luật luân hồi quá báo... tóm lại, tất ca phần chủ trương đại từ,
dại bi, cứu khổ, độ nạn của dạo Phật là một món quà quý giá, làm dịu lòng
người Giao Châu đang cần tìm phương thuốc tinh thần đế xoa dịu.
255
Cả những sợ hãi ở thời thượng cổ ấy như sợ ma quỷ, sợ những hiện
tượng thiên nhiên, sợ những tác oai tác quái của quỷ thần, khiến sinh dau
ốm, bệnh tật, nghèo dói, chết chóc, cho dến cả sợ những quan lại Tàu ức
hiếp bóc lột, kháo tra, người Giao Cháu gặp những nhà lu An Độ binh
thiin như không, vào trong chùa thấy ảnh lượng của Phật cũng ngồi vững
vàng trong an lạc thì tự nhiên thấy b('n sợ Vcà lòng lắng dịu xuống, đ ế nhìn
thấy chùa là một nơi an toàn, và nhìn thấy dưới sự che chứ của Phật, ma
quv cá ban dèm lẫn ban ngày dều không dám phạm dên mình.
NhĩrntỊ chùa cổ nhâu có lõ là cơ sở tôn giáo đầu tiên của Phật giáo 0
nước ta là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Đó là những nơi từ
tên nó đến sự thờ kính 0 trong đcã biểu dưoìm những pháp lực vô biên cúa
Phật (chi huy cả Thần mây. mưa, sấm. sét) cùng chứng tỏ người ta đến
chùa để dược sự che chở của Phật.
Không những dối với người sống như vậy mà đối với người chết,
người ta cũng lại tin là Phật có ngự trị ở khắp thế giới và có hộ trì cho cá
người dã chết nữa, và óc tưởng tượng cúa người ta có thẻ phong phú đến
đâu, với ước vọng cúa người ta có thể xa vời dến thế nào thì người ta lại
nhấc những huyền năng của Phật dến cái dích ấy.
Do đó ta có thể nói, không sợ bị cái chính là Đạo Phật khi vào Giao
Châu, không những nền dạo lý ấy dcã thành dạo giáo của xứ sở Giao Châu
mà cả dến Phật cũng lại là Phật của dán Giao Châu nốt.
Người Giao Châu qua thực chi tìm hiểu chủ trương triết lý siêu hình
và giáo lý chính của dạo Phật về sau này, qua các nhà trí thức của mình
và của Tcàu, cũng như qua các nhà lu Ân Độ thôi. Còn ở những ngày dầu
tiên, người ta đã thờ Phật vì khía cạnh thực tế của cuộc sống như dã trình
bày ỏ’ trên.
Thành ra vổ phía dại chúiUỊ có hiện tưựní> kỉnh th(')' Phật, tny van ở
trên, nhifní> vẫn là chum> với các thần thánh khác tronỊị ci)iu> một cơ sớ
tôn iịiáo. Và người gọi rằng theo dạo Phật, trừ những vị xuất gia, cũng
vẫn còn thực đáy đủ những tín ngưỡng cổ sơ để thờ cây da, cây đề, thờ
thần hổ, thần rắn, thán ngựa, v.v... và nếu cần thì cũng vần cúi đầu lễ cá
con tà, con ma. lễ CIÍ những vị thánh ở bất cứ dạo nào có sức chế ngự
được tcà ma ấy. Mầnì niốny dể ndy nà tinh thần tam íỉiáo dồní> nyiiYcn ơ tlìếkv thứ X. Xỉ dã có n\>ay từ hồi dầu nà\' vậv.
2.^6
Người ở trình dộ hiểu biết cao hơn thì có thê’ khó tính hơn trong
việc cân nhắc về tín ngưỡng và chu trương các đạo giáo. Nhưng đại
chúng thì miễn hợp giọng cứa mình là đủ. Hơn nữa, linh
thần bao
dung của đạo Phật lại rộng lắm. Không hề có gì ràng buộc các tín dồ
là hỗ dcã theo Ta thì không được theo gì khác Ta nữa. hoặc những thế’
cách thê này mới dúng theo ý muốn của Ta, còn thế khác là không,
và đúng thì dược đến niết bàn còn không thì phái vào địa ngục. Tinh
thán bao dung của đạo Phật quả là một tinh thần dễ làm bạn với
nhũng xã hội nông nghiệp xuề xoà, và dễ thân mật với những nông
dân chất phác. CÍI những nghi thức thờ kính và những quy tác giữ dạo
cũng rất hợp với những xã hội nghèo nàn Vcà rất dễ theo cho những
người dân bị dô hộ và tước đoạt hết của cái nữa.
Một thái độ sốns đặc biệt của người Giao Châu vừa do hoàn cảnh xã
hội quv định san lại vừa do chính sự tu Phật nêu gương thật đáng để lưu ý.
Ây là thái độ trọng điều lẻ nghĩa liêm sỉ hơn quyền lợi vật chất, trọng cái
tình của cơn người đối xử với nhau hơn cái lý quay quắt để bóp hầu bóp cổ
nhau. Sự trọng này. có thổ nói. là điều bát buộc, dù không muốn cũng đã
không làm sao khác hon dược dưới chế độ quan lại nhà Hán.
Chứng cứ thật cụ thể của thái dộ này là xưa nay mặc dù vần thù
ghét các thái thú, vậy mà đối với thái thú Sĩ Nhiếp thì dân lại tôn là Sĩ
Vương chi vì họ Sĩ dã thực lòng thương mến dàn, và không những chí tôn
như thế, dân còn có thế cầm khí giới ra trận hy sinh cho hụ Sĩ khi nhà
Ngô gửi thái thú khác dốn thay nicà không cho Sĩ Huy nối quyền cha.
Thái dộ sống đặc biệt vừa nói, thực đã là thái độ của nhũng triết nhân.
Nó lách rời vĩnh viễn dán Giao Châu khỏi giới cai trị tàn nhẫn bất lương của
Tàu. đế chi hướng mắt tìm về với nhũng thiện nhân của đạo Phật.
Đạo Phật vào Giao Châu là một điều đại hạnh cho dân tộc vậy.
Nhung dạo Phật không don độc Vcào Giao Châu mà còn có cả một
nền văn minh Ân Độ tràn tới nữa. Nền văn minh ấy, nói về khía cạnh tuổi
tác thì khoáng năm 3000 Ir. CN, trong khi Trung Hoa còn ở thời đá mài,
nó dã là văn minh Mohan Jo Daro ở lưu vực sông Indus với nhũng tỉnh
thành lón có lổ chức quy củ với những dường lớn ngay thẳng, chợ, bồn
tăm. cống thoát nướcv.v... và nếu phải nhường thì nó cũng chỉ nhường có
văn minh Ai Cộp. Nói vổ khía cạnh rút tía những cái khôn của thiên hạ thì
nó dã có bao nhiêu dời pha men Hy Lạp, Ba Tư ở Trung Đông và cá La
Mã ớ cực Tây nữa. Nói về mạo hiểm phiêu lưu và chiến đấu thì cả vùng
dồng bằng sông Indus vần là dịa bàn cho những cuộc đấu liên miên giữa
các sắc dân ở trung bộ châu Á Vcà họ dã có những hải thuyền có thể chở lừ
600 dến 700 người di buôn bán với các nước ở Đông và Tây.
Văn minh Ân Độ có những căn cứ vượt vãn minh Trung Hoa và khi
tới Giao Châu thì cổ mang săc thái ngược hẳn lại với văn minh Trung
Hoa. Đó là không có dụng lâm xâm chiếm đất đai và cũng không có
chương trình kế hoạch bành trướng thế lưc dù là thế lực tinh thần nữa.
Người Giao Châu chỉ thấy người Ân Độ đến với thiện ý sống an hoà
với dân dịa phương dể làm thương mại và san sẻ những hiểu biết tiến hoá
hơn về mọi mặt.
257
Nào là thuốc men dể chữa trị những bệnh hiểm nghèo, nào là pháp
thuật trừ tà, trấn trạch, bùa chú dế tăng phúc thọ, cả bùa yêu và cầu tài, cá
bùa để giữ mình khỏi bị ám hại... vốn có nói rấl đầy ctủ trong kinh Vê Đa
(20 quyển, 731 bài, 6.000 đoạn).
Cả sự đo lường với các thứ thước đo của người, của Thần, thế nào là
đúng, thế nào là sai; rồi thiên văn lịch, để nhớ ngày trăng tròn, trăng khuyết;
rồi ngữ pháp để có luật lắc cho lời nói, để hiểu đích xác ý của nhau.
Cả vũ trụ quan, cả sự lạo thành của thế giới, rồi linh hồn, thiên
đàng, địa ngục v.v... tóm lại, tất cả cuộc sống với những thắc mắc từ vật
chất đến tinh thần của một con người cần tìm tòi, đều có thể thấy thật đầy
đủ ở người Ân Độ.
Do .vậy, không còn nghi ngờ gi nữa, văn minh Ân Độ đến Giao
Châu ở giữa thế kỷ II. chảng những đã làm mất địa vị độc tôn của văn
minh Trung Hoa, mà còn cướp hết thiện cảm của dân địa phương bằng
tính chất nhu hoà của nó nữa. Đó là một trong những điều giải thích việc người Việt Nam bị Tàu
258
đô hộ hơn 1000 năm mà vẫn thoát khỏi đại nạn tuyệt chủng.
I O M L ir ơ c
CHƯƠNÍỈ IV
CHÍNH SÁCH VĂN TRỈ CỦA sĩ NHIẾP
Sĩ Nhiếp trị dân có nhân chính là một lất yếu lịch sử, vì phía Bắc có
loạn Tam Quốc, phía Nam có Lâm Âp mới nổi lên giết huyện lệnh nhà
Hán và cát cứ riêng mình một cõi.
Chữ Nôm
Nhò' các danh cõi Bắc sang lánh nạn và giúp đỡ, Sĩ Nhiếp đã gây
được một khổng khí văn học rực rỡ hơn chính quốc để được tôn là Nam
Giao Học Tổ.
Họ Sĩ lại cùng các nhà nho bản xứ tạo ra chữ Nôm dể dùng trong
việc giấy tờ hành chính, chỉ dinh những tên người, tên dất, tên các vật và
việc mà bộ chữ Nho không có. Thêm có việc cần phiên âm những danh từ
tôn giáo từ Ân Độ truyền tháng vào nữa, chữ Nôm được coi như không
thể thiếu dược giữa lúc ấy.
Học phong đời Sĩ Nhiếp
Nhưng nhìn xa hơn mới thấy công dụng của nó đã hết sức quý ở
chỗ từ nay nó giữ cho tiếng của người Lạc Việt không thể nào mất
được nữa.
Đến đời này nhờ tiện dường sang Thiên Trúc hơn Trung Hoa, Giao
Châu đã xây dựng được trên 20 bao sái, dộ được hơn 500 nhà sư và dịch
được 15 quyên kinh. Lại có Lý Tiến, Lý Cầm là người Giao Châu có văn lài được làm
quan tại triều đình Trung Hoa nữa.
259
Nhưng khi canh loạn lạc ở Trung Hoa bắt đầu chia ra ba nước Ngô,
Nguy, Thục, Giao Châu thuộc về Ngô thì vừa lúc Sĩ Nhiếp tạ thế, Ngô
chủ không cho con nối quyền cha mà cử người khác sang làm thái thú.
Bọn thái thú mới lừa và dụ con Sĩ Nhiếp ra hàng rồi giết di khiến dân
chúng cãm ghét.
Bà Triệu
Sau đó, Bà Triệu nổi lôn đánh lại nhóm quan lại nhà Ngô. Nhưns
quán lực yếu phải rút chạy và tự sát.
Tinh thần bài Ngô
Kế từ đấy đến suốt thời Bác thuộc về sau và suốt đến bây giờ, với
bất cứ triều đại nào của Tàu, người ta cũng gọi là Ngô củ, để bài bác bằng
nhũ'ng câu ca dao, tục ngữ còn đầy cá trong nền văn chương truyền khẩu.
Sự náv sinh ra một người như Sĩ Nhiếp trong hàng thái thú cúa nhà
Đông Hán trị dân có nhân chính, cho dân thương và tôn là Sĩ Vương, là
Nam Giao Học Tổ. là dơ tình thế chính trị khách quan ở phía Bắc. vừa ở
phía Nam tạo ra.
Phía Bác thì có loạn Khăn Vàng, rồi loạn Tam Quốc kéo dài từ khi
vua Hán Linh Đế băng hcà (168 - 189) cho đến lúc chia ba thiên hạ (222)
rồi dến lúc nhà Tán dẹp hết ba nước gốm thu một cõi vé một mối (265).
Trong thời gian ly loạn ấy, Giao Châu không biết thuộc về nhà nào đương
tranh bá dồ vương ở chính quốc. Sĩ Nhiếp được cử giữ chức thái thú Giao
Chàu nãm 187. dã không biết phải giao thiệp với vị sứ quân nào, nên
trong khi chờ dợi tình thế ngã ngũ dã không dám tin ở quán dội Thiên
triều kịp thời can thiệp khi lỡ xáv ra chuyện gi mà phái dùng chính sách
thân dân dê giữ yên trong nước.
Thêm việc phía Nam, từ năm 1,87, người Làm Ap dã quày phá quân
Nhật Nam và dến năm 192 thì nối lên giết huyện lệnh nhà Hán rồi cát
một vùng đất ở phía Nam quân Nhật Nam mà lập quốc và xưng vương.
Đó là một lấm gương sáng cho Sĩ Nhiếp; phái có một chính sách văn trị ơ
Giao Cháu mới mong giữ được thán sống của mình.
Đến dời Sĩ Nhiếp nàv. trôn bán dao Trung Ân. phía cực Nam đã có
nước Phù Nam Ân Độ hoá, rộng suôT lừ sông Mê Nam của Thái Lan sang
từ bờ biển Đông Hải, ít ra là lên tới Nha Trang bây giờ. Phía giCra. có Lâm
Âp cũng Ân Độ hoá. Còn ngay Giao Châu cũng đã có ánh hưởng văn
minh Ân Độ với các chùa chiền và người Hổ tu theo Phạt giáo.
Chính Sĩ Nhiếp cũng theo Phật giáo, căn cứ ở lời thư của Viên Huy
(năm 207) gửi về cho Tuân Quốc bên Tàu*'' nhưng xem kỹ những nghi
vệ; xe ngựa đầy đường, chuông khánh vang lừng, người H() theo hai bên
xe đốt hương có đến vài mươi, ta thấy dù chưa phải nhũìig nghi vệ Thiên
Đã nói ở chương III.
260
tử, cũng đã là nghi vệ của mộl tiểu quốc vương rồi. Nghi vệ ấy cho thấy ý
đồ xây dựng riêng mình một cõi"’.
Sĩ Nhiếp đã nhừ đirợc rất nhiều ở các danh .sĩ cõi Bắc lánh nạn sang
ở Giao Châu. Một doạn trong bài tựa sách Mâu Tử Lý Hoặc Thiên của
Mâu Bác có viết: “Sau khi vua Linh Đế bãng hà (168 - 189) trong nước
loạn lạc chỉ có Giao Châu rất yên ốn, các danh sĩ cõi Bắc lánh sang ở
đó'"’”. Các danh sĩ này dã cộng tác với Sĩ Nhiếp để gây một không khí
vãn học rực rỡ hơn ở chính quốc.
Hồi ấy đã có hẳn một học phái riêng với một quan điểm và một lập
trường riêng dối với Nho học cũ. Học phái ấy tôn Sĩ Nhiếp làm Nam Giáo
Học Tổ bởi họ Sĩ đã dứng ở một góc riêng mà chú giải ba truyện Tá Thị,
Công Dương và Cốc Lương của Kinh Xuân Thu lại giải những nghĩa lớn
về văn cổ, văn kim của Kinh 7/?//'cùng nhiều sách khác nữa.
Trong bài: “Đ/c/í (Ỉìnlỉ cái án quốc học", Nguyễn Trọng Tliuật có viết:
"Sách của Vươnq bấy íịi('ỉ khỏmị nluĩníỊ (lân ta đưcỉc hoc mù /ígỉíV'//
Tàu cũniỉ, lìoc nữa. Nyuủi Việt Nam í>()i Vươiìiị ìù Nam Giao Học Tổ tức
lủ (hiíỉ tổ của hoc phái niử/c Nam chứ klu)iuị phái lù Tổ nuĩi hắt (lầu cla\'
clĩữTàu, Síich Nho dâu, d('n sau /;gí/'ò7 Tàu cho sách của Vưcrny lù thiểu
htì/c mà g/J/ lại, nhưní> nqlũa cũ của Vu'o'fu> dã thành một mịhĩa rièmỉ tức
là một phái (ỉ d()i Hán rồ r.
Trong bài tựa quyển Thánh Mỏ Hiền Phạm Lục của Lê Quý Đôn,
do đốc học Lưỡng Quảng là Chu Bội Liên dề, ông đã cho Sĩ Nhiếp là
nhân vật An Nam. tức là có ý chia xu hướng văn học của Sĩ Nhiếp vào
một học phái riêng ỏ An Nam. Việc quan trọng hơn củ mà ta phủi ghi ơn vị thái thú này là việc sáng lạo chũ’ Nôm.
CHŨ NỎM
Từ xưa, những tên người, tên làng, tên đất, đến tên các động vật,
thực vật, dồ vật, cả tên nhũng sự việc, những ý niệm trừu tượng vẫn đã có
những tiếng Nôm nói theo tiếng thông thường để chỉ định. Chữ Hán đã
không có dủ để phiên âm đúng những tiếng ấy. Nay lại thêm một lô
tiếng nữa về tôn giáo của người Ân Độ trực tiếp truyền vào có thể đại để
như: bụt, chùa, chiền, vãi, thiêng, cúng, giỗ, chôn, v.v... chữ Hán cũng
không đủ để phiên âm.
U) Sau này khi Giao Châu chính thức thuộc nhà Ngô, Sĩ Nhiếp chết (226), Ngô chủ
kliông cho Sĩ Huy nối quyền cha. Sĩ Huy đã đcm quân chống lại Thcíi thú mói, càng
tó rõ ý đồ ấy là có.
Theo Pelliot dịch trong T 'OIUUỊ Pao.
261
Bắt buộc phải có sự biến chế chữ Nôm từ chữ Hán ra để dùng trong
việc làm sớ cúng cấp, làm đơn từ đưa đến cửa quan.
Theo Lê Dư (trong bài Chữ Nôm với Quốc ngữ, đăng ở Nam
Phons). chính Sĩ Nhiếp đã sáng chế ra chữ Nôm.
Sách Đại Nam Quốc Ngữ của Nguyễn Văn San đời Tự Đức cũng
cho như vậy '"SĩVươm> bắt đầu lấv ticmq Tàu dịch ra tiếng ta, nhưng đến
chữ 'dhư cưu" không biết gọi lù chim gì, dến chữ "dương dào" thì không
biết gọi lù quả gì".
Sách Việt Nam c ổ Văn Học Sử của Nguyễn Đổng Chi cũng có viết:
"Việc sáng tạo chữ Nỏm do một sô' người Tàu hợp lực với người
Nam khởi dặt. Công cuộc thành tựu dã phải trài qua nhiều năm do các
tín dồ Khổng giáo cũng như bên tín dồ Phật vù Lão chắp nối mà thành.
Nguyên người Quảng Tín, quận Thương Ngô (Quảng Tây) là quê hương
của họ Sĩ từ xưa dã có một thứ tục tự như chữ Nôm. Trong khi thích nghĩa
kinh truvện và trong khi tlĩuvết pháp cúng dàng họ mới suy theo lối chữ
ấv rồi bàv ra chữ Nôm. Thứ văn tự mới từ dó xuất hiện viết theo nguyên
tắc hội ý và hài thanh của chữ Hán :
a) Hoặc mượn cd chữ liền nghĩa: dầu là dầu, sách là sách.
b) Hoặc mượn chữ mù khác nghĩa như: ai lù cái.
c) Hoặc mượn chữ mà dọc chệch ra giọng ta xưa như: xa dọc là xe,
cẩm dọc là gấm, toụ dọc lù toà, bình dọc là bằng. d) Hoặc ghép nhau lụi cd hội ý liền hài thanh như nước có thiiỷ và
nhược, áo gồm có y vù áo, lừa gồm có mã vù lư.
e) Hoặc dặt dấu nháy đê’ dánh vào chữ Hán nào giọng từa tựa như
tiếng ta dể dọc chệch ra...".
Ta nhận định rằng sự cho thêm một vài dấu vào chữ có sẩn để khi
đọc thi phát âm theo đúng giọng địa phương, đã chỉ là một cách văn quen
dùng của người ta, không cứ người đất Quảng Tín mới biết và không cứ
chỉ ở Quáng Tây mới có tục tự hệt như chữ Nôm.
Nói rằng hồi đó nhiều người ở quê hương Sĩ Nhiếp qua và cộng tác
vào việc truyền bá Nho học, Phật học thì đúng hơn. Song nhiều người
khác nữa ở những vùng khác và nhiều người Giao Chỉ cũng đã thể theo sự
phát âm của người Giao Chỉ để chế hoá chữ Hán đi mà tạo ra chữ Nôm
tuỳ theo ý mình, không có định lệ chung nào hết. Cho nên mới có hiện
tượng lộn xộn một chữ có thể viết ra hai ba lối khác nhau, hay một chữ
đọc ra ba bốn tiếng khác nhau.
262
Điều chắc chắn là thời ấy chưa có ý thức rõ rệt về việc dùng chữ
Nôm làm một thứ chữ Quốc ngữ, mà việc tạo ra chữ Nôm cũng chỉ mới là
một biến báo theo cần dùng cấp thời của người ta và xong đâu lại bỏ đó,
chứ không tiếp tục nữa.
Nguyên do chính về việc ra dời của chữ Nôm là vì đạo Phật được
truyền qua Lâm ấp và đến thẳng ta, khiến có những tiếng Lâm ấp, tiếng
Ân Độ đọc sang tiếng ta mà không có chữ trong bộ chữ Hán. Sau này đạo
Phật truyền qua Tàu rồi quay trở lại ta thì khi dịch kinh, người Tàu đã sẩn
chữ Hán dê phiên âm rồi, ta chỉ việc học theo và đọc theo giọng của ta
mà không cần tạo ra chữ Nôm nữa. Công việc tạo chữ Nôm vì đó có một
thời kỳ nguTtg lại.
Tầm mức quan trọng của việc sáng tạo chữ Nôm này là ở chỗ củng
cô thêm cho tiếng Việt.
Điều bất hạnh lớn nhất, nếu xảy ra, là người Việt quá thông minh
lại đọc chữ Hán theo dúng giọng đọc của người Hán. Chừng đó, dần dần
tiếng của mình sẽ mất hết và dân của mình sẽ bị hút vào cái đại khối dân
Trune Hoa. Điều bất hạnh ấy, ta tránh được. Đến những tiếng riêng của ta
mà chữ Hán không đủ để phiên âm thì từ nay ta có cách viết ra những
tiếng ấy bàng chữ Nôm.
Ta phủi kính trọng công việc sáng tạo chữ Nôm ấy như một việc
cứu dân cứu nước vậy, mặc dầu ta biết Sĩ Nhiếp khi làm việc sáng tạo chữ
Nôm đã chỉ nhằm mục đích riêng để cai trị cho dễ.
HOC PH O NG ĐỜ I S ĩ N H lẾ P
Sử cũ vẫn ghi lại cái 011 của Sí Nhiếp “trị dân có phép tắc, lại chăm sự dạy bảo dân, cho nên lòng người cảm mộ công đức mới gọi tôn là Sĩ Vương"
Nhưng ngoài Sĩ Vương là người cầm quyền, ta cũng không thể quên
được nhũng danh sĩ khác như Mâu Bác, người đã chạy sang Giao Châu
lánh nạn và khi tới nơi đã biện giải vẻ Lão học khiến không ai dám thảo
luận với ông. Sau cùng, ông đã bỏ Lão mà theo Phật giáo.
Điều ấy chứng tỏ không khí học hỏi ở thời ấy đã cao. Một tài liệu
khác trong Đảm thiên pháp sư triívện còn chứng tỏ đã có việc học Phật
thắng từ kinh sách An Độ mà không gián tiếp qua trung gian của Trung
Hoa. Sách ấy. do sư Đàm Thiên người Tàu soạn, có đoạn chép lời của
Pháp sư tâu với Hoàng hậu, vợ vua Tề Cao Đế (479- 482):
Giao Châu nhất phương dạo thông Thiên Trúc, Phật pháp sơ lai
Giam’ Đông vị bị nhi Luv, Lũ hựu chùm’ sáng hưng bảo sái nhị thập dư
sà, dộ tăng ngũ bách dư nhân, đùm kinh nhất thập ngũ quyển (Xiì Giao
263
(I)Trần Trọng Kim. Việt Nam sử Lược.
Châu tiện dườn^ saruị Thiên trúc. Khi Phật pháp hắt dần mới sang ta
(Tàn) chưa tới miền GiaiìíỊ Đòng, mà â Lnv, LÃ! dã sáng lập hơn 20 cái
hảo sái, dộ hơn 500 thầy tn vù dịch dược ỉ 5 cpivển kinh).
Ta cấn xác định yếu tô thời sian nói ở đây. Theo tài liệu chính xác
thì năm 65 Lạc Dương đã cỏ một tu viện Phật học được chính em của
Hán Đế bảo trợ cho. Đến khi ông tự sát thì tu viện thành chùa và đạo Phật
ánli hưởnư dán vào lới triều đình, một vị hoànư đế cũng quy y năm 166.
Từ giữa thế kỷ thứ II ấy, tại chùa đã có một đoàn rất đônư những nhà tu
nưoại quốc có danh tiếng như An Thế Cao chuyên lo dịch kinh Phật sang
chữ Hán lâu tới hơn một thố ký về sau. Khi nhà Hán dổ, Trung Hoa chia
ba chân vạc Ngô, Nguy Thục thì chùa Lạc Dưcmg sầm uất ư Nguy và đạo
Phật tràn thêm xuống Ngô mà qua ca Giao Châu.
Như thế nghĩa là Đàm Thiên Pháp Sư dã nói rõ: khi dạo Phật sang
Tàu. chưa tới miền Giang Đông của Ngổ, ở thời Tam Quốc (lức là thời Sĩ
Nhiếp này) mới sám uất ở Nguy thôi, tại Giao Châu dã sáng lập hơn 20
cái bao sái, dộ dược hơn 500 ihciy lu. và dịch dược 15 quyên kinh rồi.
Cho nên Mâu Bác chạy loạn Tam Quốc sang Giao Châu mới thấy
sán nền nếp Phật giáo dể bỏ Lĩio sang Phật. Và do đó, ta nhìn thấy xu
hướng văn học của thời ấy: Phật giáo dã ánh hưởng hết sức lớn vào giới
trí thức của Trung Hoa cũng như Lạc Việt, cơ hồ át được cái thế độc tôn
dáng lẽ phải có của văn hoá Trung Hoa.
Đó là phần tư tưởng. Còn phần văn tài để được phong những chức
quan ngay tại triều đinh Trung Hoa thì sử có ghi có Lý Tiến người Cao
Huĩig đất Giao Châu đã giữ chức Thứ sử. (không rõ Thứ sử ở châu nào),
khoáng niên hiệu Trung Bình đời Hán Linh Đế; và Lý Cầm cũng người
Giao Châu hàm Túc vệ trong triều Hán. sau giữ chức Tư lệ Hiệu Liý.
Tuy nhiên, không hẳn có một số những vãn tài lỗi lạc cỡ ấy mà
người Trung Hoa và triều đình Trung Hoa dã bớt khinh người Lạc Việt
(vẫn gọi là Nam Man). Cho nên khi có một ông Thái thú như Sĩ Nhiếp tỏ
ý chân thành vỗ về thương mến dân thì dân mến ngay.
Nhưng Sĩ Nhiếp cai trị được 35 năm (lừ 187 tới 222) thì Trung Hoa
bắt đầu chia ba chân vạc rõ rệt thành Ngô. Nguy, Thục và dất Giao Châu
thuộc về Ngô. Họ Sĩ lại tuân phục mệnh lệnh của Ngô triều. Cho đến năm
Hoàng Vũ thứ năm của nhà Ngô (226) thì Sĩ Nhiếp mất, con là Sĩ Huy tự
xưng Thái thú. Nhưng Ngô chủ không cho.
264
Ngô chủ là Tôn Quyền phân chia lại các châu, quận: từ Hợp Phố về
Bác gọi là Quang Châu, từ Hợp Phố về Nam gọi là Giao Châu, sai Lữ Đại
làm Quảng Châu Thứ sử, Đái Lương làm Giao Châu Thứ sử, và sai Trần
Thì sang thay Sĩ Nhiếp làm Thái thú Giao ChíiLi.
Đây là một chính sách độc lài của triều đinh ở trung ươns khôna
đốm xía đến lòng dân ái mộ dòng dõi thái thú cũ, và cũng không cần tính
dến công người đã giũ’ gìn nơi cai trị được yên ổn suốt 40 nãm.
Nhưng phần bọn Thứ sử. Thái thú mới thì đã phạm một tội hèn
không thể tha thứ dược, ấy là khi Sĩ Huy chống lại thì bọn ấy cho quân
qua đánh dẹp, và cho người đến dụ Sĩ Huy ra hàng. Sĩ Huy dem
anh em
ra hàng thi chúng bắt Huy chém di, còn mấy anh cm thì giai về Ngô triều
làm tội. Mặt khác lại tiến quân vào đánh quận Cửu Chân.
Dưới danh nghĩa quan lại nhà Ngô. bọn người nàv cùng vói Ngô
triều đã khơi sâu trong lòng dân một mòi hận thù khiến năm 248, Bà
Triệu khởi nghĩa ở Cửu Chân.
BÀ T R IỆ li
Bà còn con gái. mới 23 tuổi, dường như không thuộc dòng dõi thế
gia vọng tộc nhưng lúc nÌK) cũng nung nấu một lòng yêu nước thương
dàn"’. Bà vào án trong rừng, chiêu mộ hơn ngàn tráng sĩ làm thủ hạ rồi
cùng với anh là Triệu Quốc Đạt nổi lên đánh quận Cửu Chân.
Quân Đông Ngô khiếp oai mà tôn là Lệ Hải Bà Vrrơng, lại truyền
tai nhau là múa giáo chống hổ dữ thì dỗ, chống lại Bà Vương thì khó
(Hoành qua anh hổ dị, dối diện Bcà Vương nan).
Bà chống đánh quân của Thứ sử Lục Dận suốt 5,6 tháng, nhưng vì
quân ít thế cô. Bà thua chạy về đến Xcã Bồ Điển (nay là xã Phú Điền thuộc
Mỹ Hoà) thì tự tử.
Mặc dù cuộc nổi dậy không thành công, người nổi dậy qua cũng
thành nhân. Người cơn gái 23 tuổi không kể dến mạng sống của mình đã
đứng lên chống lại quân Ngô, rồi thà chết chớ không chịu để giặc bắt.
Người ấy quá dã dc lại một vầng hào quang chói sáng đến muôn đời.
TINH TH ẨN BÀI N C Ỏ
Kể từ dấy cho dến suốt thời sBác thuộc về sau và suốt cá thời tự chủ
cho đến bày giờ, bất cứ với triều đại nào của Tàu (Tấn, Tuỳ, Đường,
Tống, Nguyên, Minh, Thanh...) người Việt Nam đều kể tất ca là Ngô và
chống đối bài bác bàng dủ mọi câu ca dao tục ngữ, mà hiện nay ta còn
thấy rất nhiểu:
Bà nói: Tỏi muốn cưỡi cơn gió mạnh, dẹp đường .sóng dữ, chém cá tràng kình ở
biến Đông, quét sạch bờ cõi, đổ cứu dân ra khỏi nơi dắm đuối, chứ không thèm bắt
chước người dời, cúi dầu cong lưng đê làm tì Ihiêp người la.
265
Băm hầu hăm hí
Băm chi thằm> Nịĩỏ
Băm cô cái â *
* *
Thầuíị Nịịỏ con cữ *
* *
Gánh vàng di dô’ S()ng Ngô
Đêm nằm nu/ tư(/ní> di nu) sông Tưc/ng
*
Hoài con nùi í>d cho Ngc) cho Lcìo *
* *
Giặc hên Ngô
Không hằng hà ('() hên chồng
H:
Trèo lên trái núi mù coi
Kìa kìa Ngc) khách moc du()i dằng dầu. *
^ *
Tam thủ, tam vĩ, lục nhãn lục nhĩ
Tứ túc chỉ thiên, tứ túc chí dịa
Đô'lù con gì?
- Trà lời: dó lâ hai thằng Ngô khiêng một con k/n, đủ
ba dcui, ba duôi, sáit mắt, sáu tai, và bốn chân dcip dcĩt,
hcín chân chỉ lân trc/i.
^
ĩií
266
Vua Ngc) ha mươi sáu tìuì vùng
Chết xuống úm phủ chẳng m‘ang dưcỵc gì
Chúa Chổm dúnlì chén tì tì
Chết xuống âm phủ chang kém gì vua Ngô
N íịũy m^ô như chúa Tàn ní>hc kên
:l:
* *
M:
*
K ể từ ngày tỏi lấy anh
Anh hào tôi chà chịu học nư)t ticấií> gì!
Tôi chỉ biết một tiếm>:
Cái phán xì lù củ khoai lang
■A-
Ba mươi tết, tết lại ha mươi
Vợ thằni> Ní>ô dốt vàm> cho chú Khách
Một tay cô cầm cúi dù rách
Một tay cô xách cái chán hỏng
Cỏ ra dứng hí)' sông
Cô trôiu> ĩaiìíỊ Iiưóc m>ười
ới chú Chiệc ơi là chú Chiệc ơi
Một tay cỏ cầm quan tiền
Một tay cỏ cầm quan tiên
Một tay cô cầm thằng Bù nhìn
Cỏ ném xnốní> sâní>
Quan tiên nặng thì quan tiền chìm
Bù nhìn nhẹ thì hù nhìn nổi
ới ai ơi của nặm> hơn người!
Tội i>ì mà (/chính chuyên
Mi)t dêm là sám C()n sin ai cho!
:1:
Bài hổ cáo cho thần dân khi dẹp xotĩíỊ giặc cũng g()i là
Bình Ng() Đại Cáo
Có nụit chú Khách
vâm ’ nụit tlĩâní’ Ní>()
Xét qua những lời ca dao tục ngữ ấy, la thấy quan niệm của dân
chúng đối với “thằng Ngỏ”;
267
Nó là giống giặc dữ tợn, độc ác và tham tàn. Nó ngu và ngây ngô.
Nó lố bịch mọc đuôi đằng đầu, và được liệt cùng loại với con heo. Vua
của nó có 36 tàn vàng cũng chẳng ra sì cả. Có nsu mới làm siầu cho nó.
Hoài con cũns khôns sả cho nó. Chỉ nhữns kẻ vì “sám côn sìn” mới trao
thân cho nó. Thì đấy cũng là kẻ coi của nặng hơn nsười. nhữns kẻ làm đĩ.
Án đời (V kiếp s'i đâu mà học tiếng của nhau. Học một cái “cú phán xì”
cũng là quá đủ. Và phải băm mặt nó ra như băm bầu bãm bí vậy.
268
Khôns thể chối cãi được là trons nhân dân đã khôns có những ý nshĩ sian dị và danh thép như thế dối với thàns Ngô.
PHẨN THỨ BA
THÒI KỲ QUÂN ĐỘI CHIẾM ĐÓ NG
Thời kỳ này kéo (lủi từ dân nhà Tấn (280) qua Nam Bắc Triều, qua
Tôhí’. Tề. Lu'o'nị>, Tuỳ, Đuúnị’ (907) hưn sáu trăm năm, à ta họ Khúc
nhàn cơ hội triều Đuòĩuị mịhiêny, dổ dã nổi dậv dùng dường lối ngoại
giao khéo léo dê giữquvân tự trị.
GIẶC LÂM ẤP
CHƯƠNÍỈ I
rÓM LHỢC
Nsười Lâm Ấp từ miền Nam Ấn Độ hay từ hải đảo chưa rõ đã đến
bán đáo Trunc Ân khi Phù Nam đã là một quốc gia hùng mạnh và Giao
Châu ở phía Bắc bị trong vòng đô hộ của Trung Hoa. Họ là những người
theo đạo Bà La Môn, thờ thần Phạm Thiên Brahma với hai hoá thân
thành hai ngôi sao Visnu và ẹiva theo thần thoại Ân giáo.
Căn cứ Vtào những đền tháp cùng những tượng thò còn lại thì thấy
họ theo phái thờ thần ẹiva hà ngôi chủ trì sự phá hoại.
Với những thần thoại nói lên sự biến hoá thán thông của các thần,
cùng nhũ’ng tượng thò với nhũìig nét dữ dằn ghê rợn và cả một mớ quan
niệm thần bí về ma quỷ. yêu linh, rắn Naga, ta thấy người Lâm Âp hung
hcãn bạo ngược lắm.
269
Lại thêm chú trương của người Bà La Môn vé các thế cấp xã hội. từ
người giáo ,sĩ (Brahmanas) ở trên, đến người chiến sĩ (Kshatriyas), người
thực nghiệp (Vaishyas) người lao dộng (Shudras) dưới cùng nữa không
xứng được dựa vào cộng dồng xã hội ấy là người cùng dân (Parias) và
người ngoại nhân ngoại giáo (Mlecchas).
Đặc tính của dân Lâm Ấp
Phần người chiến sĩ (Kshatriya) của họ thì coi cái việc đi chiến đấu
liên miên cho danh dự, cho đến thắng lợi (hay là chết) cho một lý tưởng
dối với họ là đúng là một sứ mạng thiêng liêng. Họ không được từ chối
bất cứ cái gì mà người Bà La Môn dỏi hỏi. Họ phái có thật dồi dào tiền
của để bố thí. Và điều mo ước thiêng liêng trong cuộc dời của họ là được
dâng cúng thán những lễ cực kỳ lớn, cực kỳ tốn kém, dù phái cưỡng doạt
cá trái dất để có những phi tổn ấy, họ cũng làm.
Địa thế của Lâm Ấp
Là hiếu chiến, hung hãn, kỳ thị ngoại nhân, cho nên sau khi lập quốc,
họ luôn luôn tiến ra Bác để quấy phá. Những cổ vật tìm thấy ở Sa Huỳnh cho
biết là đã có một giống thổ dân ở đấy bị người Lâm Âp tiêu diệt.
Cuộc xâm lăng của Lâm Ấp
Hồi khởi thuỷ. Lâm Ấp là vùng dất rất nghèo, phần bị cây rừng tràn lan,
phán bị cát biến lấn lướt, khu đất rộng còn lại suốt 400 km chi lèo tèo vài ba
cánh đồng nhỏ hẹp. Địa thố chỉ thuận tiện cho việc chài lưới và di bicn nên sự
xâm lấn cướp phá miền Bắc vốn là chủ trưcmg của người Lâm Âp.
Suốt 200 năm. cứ cách ít lâu đế dưỡng sức, họ lại dánh ra phía Nhật
Nam, Cửu Chân. Vì vậy, khi hết loạn Tam Quốc, nhà Tấn thống nhất
đươc Trung Hoa, vua Tấn có ý muốn rút b(?l quân về thì thứ sử Giao Châu
xin dê quân dóng lại dể dối phó với Lâm Âp mà cũng còn để ngăn ngừa
Lạc Việt nữa.
Đó \ì\ thời kỳ quân đội chiếm dóng, người Lạc Việt đã bị một cổ
hai tròng nên rất cực khố.
Theo tài liệu Trung Hoa, Lâm Âp lập quốc vào khoảng năm 192.
Nhân dịp có loạn Tam Quốc ở Trung Hoa, lãnh chúa Khu Liên nổi lên cắt
một manh dất ở đèo Hái Vân thuộc quận Nhật Nam rồi tự xưng làm vua,
đóng đô 0 Tượng Lâm (phía Nam tinh Thừa Thiên ngày nay). Tên Làm
Âp có lẽ là tên tắt của Tượng Lâm dể chỉ cái ấp tên là Lâm. Trước dó năm 137, cũng dám dân ấy hàng ngàn đời từ Quảng Nam
(Amaravati) đã xâm phạm bờ cõi của Nhật Nam.
270
Một tẩm bia khắc vào thế kỷ thứ IX có nhắc đến dòng dõi của vị
khai sáng ra nước Lâm Âp thuộc vé chi Maharshi Bhrigu, một nhân vật
trong anh hùng ca Mahabhârata của Ân Độ là vị tổ của vương triều
Bhargavas.
Sự kiện ấy chứng tỏ rằng văn minh An Độ khi xâm nhập vùng Phù
Nam hồi thế kỷ thứ 1 thì đến đầu thế kỷ thứ II đã lan đến vùng Quảng
Nam Amaravati, là thánh địa của Lâm Ap. Những tên đặt với âm hưởng
tiếng Phạm mà Ptolémée ghi trong bán đồ vùng bờ biển ở đây đã chứng
chắc điều ấy; Vijaya (Bình Định) Kauthara (Nha Trang), Panduranga
(Phan Rang)...
Có thể nhìn nhận rằng đây là những người thuộc dòng dõi quý tộc
của Ân Độ bị thất thế ở chính quốc nên phiêu bạt giang hồ đi tìm đất mới
dung thân.
H() LÀ NHĨỈÌ\(Ỉ NGƯỜI THEO ĐẠO BÀ LA M()N
Đạo Bà La Môn thừ chúa tổ Phạm Thiên Brahma, là một ý niệm
trừu tượng của tư tưởng Vê Đa. ngài có một đời sống riêng tuỳ theo ý
niệm ấy. Ngài là chúa tể của đại hội dồng các thiên thần. Theo truyền
thuyết, ngài là một vị tạo thiên, là gốc của vũ trụ, là nguyên thuỷ của mọi
sáng tạo nguyên thuỷ. Ngài có 3 ngôi, ngoài ngôi Brahma, sáng thế, khi ở
ngôi Visnu thì săn sóc dến trần thế, khi ở ngôi ẹiva thì tiêu huỷ đi. Đó là
vị sáng thế (créateur) vị chí huy (ordonnateur) mà quyền năng thì man
mác vô cting. Chính ngài điều hoà các nghiệp kiến. Các bản kinh cổ của
Vê Đa, Mahabhârata dều từ ngài mà có. Ngài là chủ của tiếng nói, là thi
sĩ dầu tiên, là vị tu trì không ngừng bảo tồn thế gian.
Người ta tượng hình ngài có 4 mặt mà chỉ 3 thì thành hình, với 4
cánh tay, 4 bàn lay cầm 4 phần kinh Vê Đa, đầu có vòng hoa và râu rậm.
Khi thì ngài cưỡi con thần diểu Hamsa, khi thì dứng, nhưng thường thì
ngồi trên một bông scn mọc từ bụng của thần Visnu ra (nghĩa là ngài sinh
từ mình mà ra).
Ngôi Visnu
Ngôi Visnu trong hệ thống 3 ngôi Trimurti là vị bảo tồn vũ trụ. một vị
thần ban án phước cho nghiệp kiến của chúng sinh, là đấng cứu thế, dấng
ban phát sự sống, tư tưỏfng, an lạc, và là tiêu biểu cho lòng bác ái, từ bi.
271
Thần Visnu ngự tại thiên đình Vaikuntha, có triều đình văn võ
hai bèn. Người ta tượng hình ngài là một người nam, trẻ, da máu da
trời xanh thẫm, có 4 cánh tay cầm 4 lệnh bài xếp theo trật tự tuỳ 12
hay 24 tên và đặc tính của thần, là cái tù và, cái vòng, cái búa Vcà
cánh hoa sen, tượng trưng cho chất ete, không khí, lứa và nước. Cái
khánh đeo ở cổ và mớ lông trước ngực cũng có ý nghĩa tượng trưng.
Đầu thì bao giờ cũng có vương miện.
Ncirời ta tượns hình thán khi dứnc. khi IIRỒÌ. cũng có khi nằm.
Thường thần cưỡi chim đại bàng Garuda và có khi thành một thế nứa
người nửa chim. Hình ảnh cưỡi chim là hình anh của vua ban ân huệ.
Cũng có khi người ta tạc thần nằm lên trên mình con rán. Đó là theo tích
nửa đêm giữa hai ngày tạo thiên lập địa liên tiếp, Visnu mệt nàm ngá
lưng trên mình con rắn ngàn đầu mà đầu chính thì che phú ở trên. Con
rán ấy là con rán Ụava nổi bồng bénh trên làn nước ngưyên thuỷ. Trong
giấc mơ thần bí ấy. sòng Gange bát ngưồn từ chân thán cháy ra vì\ Visnu
tư tưởng dến thế gian, rồi khi tỉnh dậy thì cỏ một bòng sen mọc ở lỏ rốn
ra, dế từ hóng sen ấy dức Phạm Thiên Brahma di ra tạo một vũ trụ mới.
Tên cúa thán thì dcã rất nhiều. Có bài kinh cầu nguyện trong
Mahabhârata nói đến hàng ngàn lên: hà bậc Đại An Lạc. là Tinh thần
Thượng dinh. là Dã vương, là thán Biio hộ Thế gian, thần Nhào nận
Loài người, thần Bất biên, thán Rán, thần Vô thuỷ vô chung, thán Tóc
d cài. Tóc dựng, v.v...
Đến những cuộc đầu thai hoá kiếp thì trong tất cá cức thần của Ân
Độ. Visnư là thần san Scàng dể thoả mãn ước nguyện của loài người. Vì
phái lo cứu vót thè gian và che chớ loài người cùng dịnh dặt luật nhàn
quả. thần đã dầu thai xuống trần theo nhiéu kiếp. Có 10 lần dầu thai như
sau dây:
1. Cá Matsva dế cứu ông tổ lotài người khỏi trận Hồng thuỷ,
cùng đuối bãt con quỷ ăn trộm kinh Vê Đa của thần Brahma khi thần
đương ngủ.
2. Rùa Kiirma dưới đáy hiển sữa dưa lưng dội trái núi Mandara mà
các thần và quý quấn con rắn vào một vòng núi rồi dùng duôi răn làm dây
thừng quậy nước biển lên mà vót những thực phẩm quý bị trận hổng thuỷ
cuốn đi. Nhờ vậy dã vctl lên dược ca nữ thần Laksmi. ca rượu, ca mặt
trăng, cá ngựa thần, cá khánh, ca cây thiên mộc. ca bò. ca voi. tù và,
cung, dộc dược.
3. Lựn lòi Varaha nâng bổng trái dất lên và vót ra khỏi sóng nước,
lại giết con quỷ dã dìm trái dât dưới dáy nước sâu rồi dùng răng nanh đỡ
mà dặt trái dất vào chỗ cũ.
4. Người sư tử Nrsiinlia hiện từ cái cột trong cung điện ra đế cứu môn dồ khỏi bị con quỷ ức hiếp.
272
5. Thằng lùn Vainana được các thần cử dến giái phóng mặt dất
khỏi tay con quỷ muốn chiếm cứ. Thần hiện đến là một thằng lùn yêu cầu
quý dành cho mình manh dấl đi trong vòng ba bước chân. Quỷ bằng lòng.
l'hần phóng mình to lớn vĩ dại và bước ba bước thì hết ca vũ trụ.
6. Rama cầm rìu (Paraẹrama) đầu thai đế dọn sạch thế giới khỏi sự
áp chế của bọn vươns hầu Kshatriya. Có ông vua được Rama tiếp đãi tử
tế lại ãn cáp con bò sữa của mình, Rama giết đi. Các con vua ấy trả thù
bằna cách lừa lúc Rama đi váng mà ám sát thân phụ của Rama. Vì vậy
mà 21 lần Rama giết hết naười nam của dòna vương hầu Kshatriya. Sau
dòna ấv dựnc lại được là nhờ các Bà La Mồn lấy những naười dàn bà Roá
làm vợ. 7. Rama vai chính Irona anh hùng ca Ramayana dầu thai đế trừ
diệt các loài yêu quỷ làm hại loài người. 8. Krisna là một nhân vật phụ trong anh hùng ca kể trên nhưng
phần khác cũng có một cuộc phiêu lưu mạo hiểm ly kỳ"’.
9. Buddha là Phật Thích Ca sáng lập ra đạo mới. Người huỷ bỏ
những lễ sát sinh, thức dáy người đời báng nhạo kinh Vê Đa và luộl thế
cấp trong xã hội, như thế là đấy thế gian chóng đến chồ tự huỷ diệt (một
ý niệm cúa phái Visnu dể chống báng dạo Phật, mà theo nhiều nhà kháo
cứu, đã phát sinh vào hồi cổ màu thuần cực diểm giữa Phật giáo và các
tôn giáo khác)-
"'Krisna do một sợi lông dcn cúa Visnu tlioál ra dầu thai làm con thứ 8 cúa Devaki
và là cháu gọi bạo chúa Kamsa bằng cậu, mà nhcà tiên tri dã cho biêt bạo chúa tât bị
giết bơi tay người. Khi sinh ra, cha mẹ phái dổi con cho con người chân chiên dé
Kamsa khỏi lùng bát và giết nốt, sau khi dã giết 6 người anh. Người chăn chiên
cùng anh thứ 7 phai dcm Krisna giấu vào dồng cỏ hoang, đến nãm 7 tuổi lại dưa
vào l ừng sâu lẩn trốn. Trong thời gian này, tuy còn nhỏ tuổi, Krisna dã gic'l quỷ cái
Putana, gièt luôn con quý ăn trộm bò của mẹ mình và định ôm luôn mình bay lên
trời. Chú bé Krisna dánh quỷ khổng lồ hoá hình chim vạc, giết con rắn chúa loài
rắn phun nọc độc làm hư nước sõng rồi nâng bổng quá núi Govarthama lên khỏi
dầu và giữ SUỐI 7 ngày lién de làm lọng che cho những người chăn chiên khỏi trận
mưa lớn của Indra.
Khi lớn lên, Krisna chung dụng với những người con gái chăn chiên thổi sáo
cho họ ca vũ. Hàng ngàn cô trở nên vợ Krisna, có 8 cỏ dược súng ái hơn cá. Một
hôm, lừa kìc họ dương lắm. Krisna cướp quần áo của họ giấu đi, làm tội các cổ phải
lạy lục xin de dược khoii thân.
Nhưng Kamsa quyêì giết kỳ dược Krisna nên xúi bẩy nhiều ke đốn dế làm hại.
Krisna dánh bại hốt và giết dược cá Kamsa rồi làm chủ trong nước. Sau dó Krisna
dựng một dô thành mới ở cửa sổng Indus lấy công chúa con vua ở gấn dấy, rồi sống
với 16.000 cô vợ và 180. 000 cậu con trai. Lại có những cuộc phiêu lưu mới xảy ra
dé Krisna trừ những quỷ dữ, những thầy phù thuỷ, rồi lại có cuộc chiến giữa hai họ
Pandava. de Krisna can thiệp như dã kế trong kinh Mahabhârata.
.Sau cùng, một cuộc gây lộn và chém giết lẫn nhau xáy ra trong phái mình khiến tất
ca dcu chốt, kể cá người anh thứ bày. Krisna cảm dộng vì cuộc tàn sát ghè hổn, lui vào
rừng sâu than thở, thì một ông già săn bắn tướng lầm anh là một con nai, nên bán vào
gót chân dúng cái tử huyệt duy nhất trong người của anh. Anh về trời.
273
10. Katkin đầu ngựa mình người của hiện kiếp, đầu thai để xét xử
những kẻ dữ, àn hưởng những người lành, và thúc hối tan rã thế gian đê’
dựng lại thời hoàng kim cũ.
Ngôi ẹiva
Cũng trong hệ thống 3 ngôi, ngôi ẹiva giữ quyền tàn phá thế gian,
lẫn với thán chết, thần thời gian, đổ còn có tên là Hara (người lôi cuốn
hết), Ugra (người tàn nhẫn). Aghora (người kinh khủng) v.v... tất cả 64
lên. Đó là vị thán giết người, ăn thịt sống, hay lới các mộ dịa dẫn dắt các
hổn ma,.các hồn bơ vơ, các thứ ma đi hút máu người và cùng với chúng
uổng máu đựng trong những sọ người. Khi say thì thần ca vũ, có dàn ma
quý nhịp theo đê ẹiva giẫm nát một con quỷ đối nghịch.
Vũ khúc do ^iva sáng lạo là hoà diệu gốc của mọi dộng tác, là
nguyên uỷ của 5 quyên năng khai thiên: sản sinh, bảo tồn, phá hoại, nhập
xác, giãi thoát.
Đối với diện mục phá hoại lại có diện mục tu sửa nôn (Ịiva là thán
cúa sự sống và của sự sinh san mà biểu tượng là cái Nguyên Dương linga.
Khi thần Uọanas quản trị Kim tinh dùng quỷ thuật cướp nhũng báu vật
của mình, ọiva dánh nhau và nuốt thán ấy vào bụng, giữ rất lâu trong ruột
của mình rồi dái ra nén Uẹanas còn tôn là Tinh khí.
Việc thờ cái Nguyên Dương dược coi Icà ọiva đã náy ra ở thòi hậu
Vê Đa vì trong kinh ây đã kê nhĩrng ke lấy linga làm Thượng Đô là nhũ'ng
kẻ thù của dạo giáo Aryen. Có lẽ đấy là sự thờ phụng của thổ dán
Dravidien ở Âi Độ. Kinh Purana có kể tói 12 cái linga lớn thờ ở 12 thánh
thất chỉ đích 12 sự hiổu hiện của ọiva. Kinh ấy nói rằng có lần Brahma và
Visnu đương tranh nhau ngôi thứ, ẹiva hiện lới thành cái Nguyên Dương
lớn như một cột lửa ngất trời. Hai vị quên chuyện cãi nhau xoay ra thách
nhau tìm dcn đẩu cột. Brahma cưỡi thần diếu Hamsa bay lên chín tầng
mây. Còn Visnu thì riíc xuống chân cột ở dưới dấl như một con lợn lòi.
Vậv mà không ai lới dược hai đầu cột lừa, phải quay vổ chịu thua (Ịiva.
ẹiva hiện thành nghìn tay nghìn chân để tuyên dương tháng cuộc. Người
ta lại còn kể chuyện (^iva cùng nữ thần Durga cùng chết trong khi giao
hợp rồi hoá thcành cái linga và cái yoni.
274
Một diện mục thứ 3 nữa của ọiva là nhà tu khổ hạnh, vị thần tập
trung về mình mọi năng lực tôn giáo, kà bậc thầy cùa các nhà tu. Người ta
tượng hình thần ở trần lấm lấp than tro, dáu dánh đai lại và deo ở cổ một
cái vòng toàn những rắn. Quần may bằng một tấm da cọp, da dê hay da
voi. Vũ khí là cung, trống, búa, dây thừng và cái đinh ba, với 4 tay, 8 hay
16 tay. mà hai tay dưới là dể ban ơn hay cứu vớt.
Thần thưím? ngồi trôn lưng con bò Nandin và bò cổ khi là vật để
cưỡi có khi lại là hình iinh của chính thần. Nó cũng theo điệu nhạc cùng
nhảy múa với thần.
Ba ngôi Trimurti
Đối với phái thờ thần ẹiva thì thần có tên là thượng đế, là chúa tể, là
chủ của tất cả, là vua của tam thế, là động lực uyên nguyên của vũ trụ. Sứ
mạng trí tuệ của thần cũng lớn lắm. Thần sáng tác ra tuồng kịch, thối lửa
thần minh cho các văn thi sĩ, đọc ra kinh Vê Đa.
Các nữthần ẹakti
Tất ca ba sứ mạng sáng thế, bảo tồn và huỷ hoại của Brahma,
Visnu, (Ịiva là ba sứ mạng của riêng từng ngôi, nhưng cả ba ngôi cũng lại
chi là một. Tuỳ theo phái tu thờ từng ngôi sẽ cho ngôi ấy là chính. Chẳng
hạn người ta tạc hình ẹiva ở giữa, Brahma và Visnu thoát ở thân của thần
mà ra hai bèn. Hay Visnu hoặc Brahma ở gốc rồi hoá thán ra ba ngôi phụ
ở trên. Hay một thân mà có 3 mặt.
Danh lừ (Ịakti có nghĩa từ thời Vê Đa Kà nguyên khí, và cũng từ
thời ấy nó đồng nghĩa với tên vợ của Ngọc Hoàng Thượng Đế Indra. Dấn
dần người ta hiểu nó là một nguyên khí để xuất sinh trần thế từ vị thượng
thiên vô vi ra. với một phần là vật chất, một phần là sức sáng tạo, là
những tinh tuv thần linh.
ớ nguyên uỷ thì chính những dặc lính của Brahma đã tạo ra sự linh
hoạt chuyển sang là (Ịakti thành cái đà của nguồn sống, thành nguyên tắc
của sự sống. Người ta tạc hình nữ thần ngồi ôm ghì nam thần, hay đứng
có những võ khí giết người và khiêu vũ trên xác của ẹiva. Bởi người ta
giải thích là ẹiva mà thiếu Cakti thì chỉ còn là xác chết.
Sarasvati - Vợ của Brahma, là chúa tể về nghệ thuật nhất là nhạc
nghệ, nữ thần của sự hùng biện, người sáng tạo ra chữ Phạm sanscrit,
là mẹ đẻ ra thi sĩ. Đó là người vợ mà Visnu dã nhường cho Brahma.
Một vợ thứ hai của Brahma: Gayatri là nhân cách hoá của cái thước đo
và một doạn tho' Vê Đa, đó là mẹ đẻ ra kinh Vê Đa, thần hộ mạng cho
dòng quý tộc Aryen.
275
Laksmi - Nữ thần sác đẹp, danh vọng, tiền của và sung túc, thường
ngồi trên một bông sen, tay cầm cái sừng phong phú, trong khi hai con
voi ở hai bên dùng vòi ngậm bình tưới nước cho những bỏng sen trên tay
nữ thần. Tượng thần tạc đứng một mình hay với chồng là Visnu và cũng
đổi 10 tên theo 10 lần chổng dầu thai hoá kiếp.
Nũ' thần còn có 37 tên nữa, có khi tới 1000 tên, khi thì cùng đầu thai
với Visiui, khi thì thoát ra từ những làn bọt bế.
Durga - Nữ thần vợ của ẹiva, cũng rất nhiều tên, là bà Ban ơn, bà
Hung, bà Đò. bà Đen, bà Nóng, bà Chúa Núi, bà Tuyết Sơn, bà Đổng
Trinh v.v... Bà là biểu lượng cúa người vợ trung thành nhảy vào lửa chết
theo chồng. Bà lấy ẹiva và tôn thờ cái linga. Bà cũng có một bộ mặt khác
là thần chiên tranh, tàn sát dàn ông, thích hưởng lễ sát sinh, thích thịt
người và rượu, thưừng đem về đền thờ mình những xác ngựa và người
nhặt (V chiến trường.
Tượng của bà thường tạc theo vỏ dữ tợn với 10 lay có khi hai mươi
tay cùng cấm các vũ khí. Tượng 4 tay, là một bà Đen, thè lưỡi đỏ còn nhỏ
máu và cổ đeo lủng lắng nhĩrng rán và đầu lâu. Cũng có khi tượng tạc
người đàn bà trẻ dẹp mặt xanh da trời, ngồi trên lưng sư tử hay cọp. tay
phải cầm một bông hoa sen, tay trái ra dấu ban ân huệ, với áo vàng và
nhiều đồ trang sức.
Rán Nâga - Đầu người duôi rắn, cổ đội một hay nhiều mũ kỳ cục
thường biến hoá giao liếp và dụ người vồ dường tình ái, Icà thần coi ở dưới
àm ty, là khách viếng thâm các cây cối. sông ngòi. Người ta thờ vì truyền
thống là thần vật của các bộ lạc cổ sơ.
Quỷ Asiira - Xưa cũng ăn ở có dạo dức nhưng sau rồi sa doạ hủ
hoá, bị duổi từ trên trời xuống, phái án dưới dịa ngục, trong những cung
điện mà phù ihuỷ Maya xây dựng cho.
Quý thường phò tá những ke dũ’ dể làm diều ác, các thán dến trừng
phạt cũng dám đánh trả trong nhũng trận chiến kinh hồn, nhưng khi các
thần chế ngự dược thì lại thành nhũng môn đồ đác lực của các dạo trưởng.
Những quỷ này có nhiều thứ lắm: quỷ dầu cọp mình người, quỷ
miệng den, quỷ bưng tai, quỷ không dầu, quỷ mười dáu v.v... mỗi loại có
một tác phong riêng nhưng thường thì đều hay đi đêm, ăn thịt người, phá
phách những đám lễ, phun ra lửa, mửa ra khói. Có cá quỷ cái nữa.
Yêu tinh Bhuta - Ngoài quỷ còn tà ma và yêu tinh là những hồn
người chết bất dắc kỳ tử, không dầu thai được nên trở thành nguy hại cho
mọi người sống. Yêu tinh toàn đi dèm, làm hại những bào thai, khát máu
Vcà hay trú ngụ ử những cây cao núi lớn. Người la phải cúng cho chúng
những lẻ vật mà chúng dòi, cùng cầu đồng các thần dến đuổi chúng đi.
276
Các thánh - Vì có việc tin ở sự dầu thai hoá kiếp, dối với những
anh hùng có thực hay chỉ là tướng lượng, cá những tác giá các kinh văn
dược truyền tụng, cả những người có công dựng làng, dựng linh, ca
những hiền triết, nhũng thầy thuốc, những tố tiên các dòng họ..., người ta
cũng sẵn sàng quan niệm cho họ thành bất tử. để thờ như những bậc
thánh. Do việc thờ ấy, người ta hiểu thêm đó là những vị thiên thần giáng
trần sống qua một kiếp người đế rồi lại trở về thượng giới.
Loài vật, cây cối, núi Iion, đá quý, nước, sông, biển, hồ - Cũng là
nhũ‘ng thần vật, nhũ'ng nơi linh thiêng theo thần thoại và cũng có thể là
thần biết hoá ra, để người ta thờ kính như thờ kính các thần vậy.
Quan niệm thần hí - Vổ thiên đường, địa ngục, linh hồn, nhân quả,
nghiệp kiếp, luân hồi, ở đại cương có những nét đặc biệt Ân Độ mà Phật
giáơ cũng chủ trương hao hao giống như thế.
Chúng ta không dừng lại lâu ở những quan niệm đã được nói đến
nhiều để thành thông thường này rồi. Mà chỉ lưu ý đến vấn đề những
đẳng hạng người trong xã hội Bà La Môn. Đây là vấn đề khó hiểu đối với
người ngoại quốc.
CHẾ ĐỔ ĐẲN(; HẠN(Ỉ NCỈƯỜI TRONÍỈ XÀ HỘI
Đây không phai là giai cấp (classe) theo ý niệm phương Tây, có
nhũ'ng quyền lợi vật chất tinh thán và những thói tục ngăn cách người
thành từng loại riêng biệt hẳn. Đây là những thế cấp (castes) cấu thành do
nhũng nguyên nhàn lịch sử, nhân chủng, nghề nghiệp, cá những luật lệ về
tôn giáo. Đặc biệt hà có những bổn phận, những trách nhiệm, nhũng bó
thắt về đạo đức cho từng hạng người, hơn là những đặc quyền hưởng thụ
cho từng hạng người ấy.
Có bốn đắng hạng chính;
1. Người giáo sĩ Bà La Mòn (Brahmanas) phải chịu trách nhiệm về
tôn giáo, phải giữ gìn và lưu truyền nhũng kinh văn thiên liêng, phai vun
bồi về khoa học, giáo dục, và phái bủo toàn danh dự cùng chức vụ của
bậc chức sắc trong giáo hội.
2. Ngưòi chiến sĩ (Kshatriyas) có bổn phận bênh vực quyền luật
đạo lý, che chở người yếu đuối, nên khi cần thì phải dùng đến uy võ. Các
vị quốc vương đều là người ở đẳng hạng này.
3. Người thực nghiệp (Vaishyas), thương gia, nông gia, chủ ngân
hànư là địa hạt hoạt động dể làm giẩu.
277
4. Ngưòi lao động (Shudras) làm các công việc thổ mộc bằng chân tay.
Ba hạng trên được kể là tôn quý.
Nhưng trên tất cả, lại là những nhà tu thoát mình khỏi những
ràng buộc của cuộc thế. Và dưới tất cả là những người không xứng
được dự vào cộng đồng xã hội ấy. Đó là hạng cùng dân (Parias) và
ngoại nhàn (Mlecchas).
Có hai điều kiện để được xếp vào hạng Bà La Môn. Mộl là cha và
mẹ đều là Bà La Môn, hai là được giáo huấn iheo quy tắc của đẳng cấp
Bà La Môn, bát đầu từ một cuộc lễ vào khoảng lên 8 tuổi. Đứa trẻ cho tới
tuổi ấy, chưa được kể là Bà La Môn mà chi là người lao động Shudras ở
hạng tư. Hắn có thể ãn nói, Icàm, tuỳ theo ý thích. Nhưng kể từ khi đã là
Bà La Môn rổi thì sự học, sự đối xử của hắn khoác một phong thái của kẻ
trí, tôn quý nhất trong xã hội. Bởi Bà La Môn sống là sống cho mọi người
khác trong xã hội và bởi có nhiổu nghề kiếm ra lién mà Bà La Môn
không làm được vì nhiệm vụ xã hội, sau là nhiệm vụ tôn giáo nên xã hội
phải nuôi họ*'*. Đã có rất nhiều những buổi lễ quanh nãm, suốt tháng và
suôi ngày, họ phải làm khiến không thể còn một thì giờ nào rảnh rỗi đê’
làm những việc gì khác kiếm ra tiền nữa.
Người chiến sĩ Kshatriya thì phái chiến đấu liên miên cho danh dự,
chiến dấu đến thắng lợi hay đến chết cho một lý tưởng đối với họ là đúng.
Họ không được thất hứa, không được từ chối một cuộc thách thức dù biết
là đối phương không liêm khiết và dù biết là sẽ thua. Trong cuộc chiến,
họ không dược đánh kẻ địch đã trốn chạy, dã xin tha, đã ngã hay đã mất
vũ khí. Họ không được từ chối bất cứ cái gì mà người Bà La Môn đòi hỏi
và họ phủi cổ thật nhiều của cải để phân phát thật dồi dào cho mọi người.
Họ phải đủ uv quyền để bảo vệ công lý cho tất cá các thế cấp cùng
tiến bộ. Tham vọng của họ là dược dàng những lễ cực kỳ lớn nhưng đăng
quang, lễ sát sinh và hiến dâng ngựa quý cho thần, dù phải cưỡng đoạt cả
trái đất với những tài nmiyên trên ấy.
Nsười thực nghiệp Vaishyas có sứ mạng chính là quản trị và làm
tăng gia tài nguyên vật chất khi sử dụng theo mọi ngành sinh hoạt như
canh nông, mục siíc, kỹ nghệ, thương mại, ngân hàng và từ thiện.
Người lao động Shudras có bổn phận phải làm những nghề chân tay
để phụng sự, làm những việc mà mọi người ở thế cấp trên có thể làm như
không có thì giờ. Đó là những lao động nông thôn, những thợ chủ công,
những người đầy tớ, chiếm đại đa số trong xã hội. Những người này được
ăn một ít loại thịt (cừu, dê, gà) được cư trú bất cứ đâu, trong khi người ở
thế cấp trên chỉ được ở những nơi có chỉ định trước. Họ bị cấm học kinh
Vê Đa.
Bốn thế cấp này lại chia ra làm rất nhiều những đẳng cấp nhỏ
khác'"’ có loại chỉ gồm chừng mấy ngàn người hay mấy trăm thôi, nhưng
liulìíi what it can teacli IIS (p.236)
(21
Max Mullcr
Silva Corréa ước lượng là 4000, Deniker thì ước lượng 2000, J.T.Souderland ước
300, còn C.Bouglé thì cho rằng dại khái phải tính có hàng ngàn những đắng cấp.
278
có loại thợ tàm da đôns nhâì tới 13 triệu, loại chiến sĩ miền Bấc 11 triệu,
loại chăn cừu và thợ làm vườn 10 triệu, loại dân cày 6 triệu với độ 60 loại
khác đỏng hơn I triệu.
Những người cùng dân dơ dáy Parias là những kẻ bị truất khỏi
những thế cấp người trong xã hội, hoặc do kết quả những cuộc hôn nhân
bất hợp pháp giữa người ở những thế cấp khác nhau, hoặc những cuộc
hôn nhân trái với quy lệ, hoặc thiếu sót bổn phận trong những lễ tục. Đó
là những kẻ gần giống như bị rút phép thông công trong tôn giáo Gia Tô.
Những người này không thuộc vào thế cấp nào trong đó lối sống có
quy luật định đoạt sán nên họ được tự do hơn mọi người An Độ khác.
Không có gì cấm cản họ ăn thịt uống rượu, cũng không có lễ tục nào bắt
họ tắm rửa, mà cũng không nghề nào là cấm đối với họ. Họ thường sống
trong những diều kiện tồi tệ, bẩn thỉu kinh khủng, ăn cả những xác thú
vật chết và say sưa be bét.
Vì vậy. những người ở các thế cấp khác trong xã hội sợ phải tội nên
kinh tởm họ, cấm họ đến lấy nước ở cùng một nguồn suối với người ta,
không cho họ đến nhà mình, không cho họ đến nơi thờ tự, không cho con
cái họ học cùng trường với những trẻ con nhà Bà La Môn v.v... ơ một vài
địa phương; người ta còn cấm họ đi lại trên những đường lớn và phải
đứng xa người ta từ 10 đến 20 mét"’.
Tuy nhiên, trong thế cấp người Parias lại chia ra thật nhiều hạng
nữa để cho trong cùng một loại người dơ dáy không ai dám gần, lại có
những kẻ dơ dáy đến chính người dơ dáy cũng không dám gần nữa.
M.Monnier William đã nhận xét thấy tại Ân Độ không có người nào
là tủi nhục vì thế cấp của mình, và cả người Parias hèn mọn nhất cũng rất
hãnh diện ở trong thế cấp ấy và cũng ước mong giữ mãi như người Bà La
Môn giữ cấp bậc của mình vậy*^’.
Ngoài hạng người Parias này, dưới cùng còn một loại người ngoại
nhân Mlecchas nữa, trình độ tri thức thấp kém, với những kẻ bị đuổi ra
khỏi các dẳng hạng người không được xếp lại vào đàu. Trong số ấy gồm
cả nhũ'ng người ngoại quốc, người phương Tây, du khách, công chúa và
cá toàn quyền đại thần Anh nữa.
Chúng ta hiểu người Ấn Độ Bà La Môn như vậy thì sẽ biết rõ người
Làm Âp theo đạo Bà La Môn ấy ở thế kỷ thứ II.
Jean Herbert - Spiìitiialité Hincloiie, pp. 182-90, Albin Michel, Paris.
Sir M.Monier XVilliam - Moíleni Imliíi and ỉndians (London) 1893 p.49
279
Đ Ậ C T ÍN H CÌ)A DẢN L Ả M Ầ P
Đặc tính của họ là hiinc hãn, hiếu chiến, và muốn có thật nhiều tài
sản dùnti trong việc cúna kiếna như vàna, bạc để đúc tượns. đúc đồ thờ,
dâna cho các Bà La Môn. Bởi vậy, sau khi lập quốc năm 192, dân Lâm Âp đã luôn luôn đcm quân ra xâm phạm bờ cõi quân Nhật Nam và Cửu Chân.
G.Coedès, trong sách dần (tr. 59) đcã trích lời Mã Đoan Lâm'” như sau:
‘72ữ/? thì xâ\ tườm> nhà hâm> ụu h nuníỊ có rở một lượt vói. Nhà nào
cũng có sân thượng gọi lù Kulan. cửa xoay về hướng Bắc, một vài khi
càng mở ra hướng Đông hay Tây không nhất dinh... Đùn ông và dàn hà,
quân áo chỉ có một mảnh vải quấn quanh người. Họ .xâu lỗ tai dể dco
những vòng khuyên. Người có chức tước di giầy da: thường dân giẫm dất.
Dó lù thói tục chung à Phù Nam và ứ cà các nước à ngoài Lâm Âp. Vua
dội mũ cao vun ngọn có thêu hoa vàng và trên cùng có núm hoa hằng
lụa. Khi ngự giá di dâu thì cưỡi voi có lọng chc với cờ xí chung quanh,
phía trước có lính dẹp duửng hằng tù và lại có trống nữa.
Đám cưới hao giờ cũng tổ chức vào tháng tám. Con gái xin cưới
con trai. Không có luật cấm ngicời cùng họ lấy nhau. Những người dán
Lâm Âp này tính tình hung hạo vù tàn ác. Khí giới của họ lù cung tên,
gươm giáo và nó hằng tre. Những nhạc cụ của họ cũng giống như của ta,
dàn. nhị, sủo,v.v... Họ cũng dùng tù và và trống d ể háo hiệu cho dân
chúng. Mắt họ sâu, mũi thẳng và dô, tóc den và quăn. Đàn hà thì húi tóc
lờn dinh dầu... Tang lễ của vua thì tổ chức hây ngày sau khi chết, các dại
thần thì sau ha ngày; còn dân chúng thì ngay hôm sau. Bất cứ ở thể cấp
nào trong .xã hội, xác người chết cũng dược Hận kín trong một tđm vải rồi
mang ra hờ hiển hay hờ .sông có tiếng trống dántĩ vang lên theo những
diệu vũ rối dặt xác lên giàn lìod mà người di dược xếp thâm củi vào.
Những dốt xương còn sót chưa cháy hết sẽ dược lượm hỏ vào trong những
lọ hổng vàng thà ra hiển nếu lù .xác của vua. Nếu lù xúc của các quan thì
hả trong những hình hằng hạc vù thả ra cửa sông. Còn nếu là thường dàn
thì chỉ dùng những hũ hằng sành và thà ơ .sông. Các thân nhân nam và nữ
của người chết theo dám tang thì cắt ngắn tóc của mình trước khi rời h('ĩ
sông ra về. Đó lù dâu hiệu một thời cư tang rất ngắn. Tuy nhiên, cũng có
một vài người dàn hà giữ tang chồng suốt dời hằng cách hễ tóc mọc lại
thì cắt và liệng tung di. Dó là những goá phụ không chịu tái giíp\
" ’ Ii’ui dịch của d’Hcrvey dc Síiint Dcnis tning 442 - 425 nói vé những giống dâ]i ở Niun Hải.
Về diêm này ta nhcý rằng tôn giáo Bà La Môn có tục vua chết và hoàng hậu lên
giàn hoá tự thiêu dế chết theo thì được dân thừ là thánh (xcm chuyện vua Chê Mân
và cỏne chúa Huyền Trân). Nhưng ơ dây nói là chi cắt tóc. Vậy không rõ nên tin
Mã Đoan Lâm đến mức nào.
280
N H Ử N ( Ỉ T H Ổ D Â N X Ư A ơ V Ừ N C BỊ L Â M Ấ P C Ư Ỡ N í ; C H I Ế M
Theo tục lệ tang ma của Lâm Ấp do Mã Đoan Lâm kể lại và xem
những cổ vật tìm thấy ở Sa Huỳnh, thuộc Mộ Đức (Quảng Ngcãi) có
những vại bằng sành chứa tro hoa thiêu còn lẫn một vài đốt xương với
những đồ trang sức bằng ngọc thạch, pha lê,v.v... xếp thành một trano
trong đụn cát ở bờ biển, thì ta phái kết luận rằng: trước khi người Lâm Âp
tới, vùng này đã có một giống dân khác, với nhũĩig tục lệ khác. (Cả
những nét chạm trên các vai sành cũng có một phong cách mỹ thuật khác
hẳn phong cách của Lâm Âpy*.
'" C ổ vậl Sa Huỳnh hồi 1909. một viên Giám đốc thương chính Pháp lên là Vinet,
nhân khi tòng sự lại Sa Huỳnh ra bãi biên lang thang trên những đụn cát thì lình cờ
thấy chôn vùi trong cát một kho làng lớn bằng đồ hồng mã não với những vòng tai
bằng những chất gì trong như thuỷ tinh. Những đồ ấy chứa trong những nồi đất.
chôn vùi và xốp đặt gần nhau, nhiêu chừng 120 cái. lại địa phận làng Thành Đức
huyện Đức Phổ (thương có tên là Cư Long Thành).
Đen hồi 1923 bà vợ của viên chánh đoan khác, bà Labanne lại tìm thấy một kho
làng nữa ở 5.6 cây số về phía Bắc là Phú Khương (tức Phú cổ), chỗ này có chừng
200 cái nổi bằng đất đen, những hoa tai, những hột hồng mã não và 24 cục ngọc
trân châu trong riêng một cái nồi khác.
Kho tàng này ở trôn ngọn đụn cát nằm dọc bờ bổ theo hướng Bắc Nam và có
vòng một cánh ra bế đến ngay phía Đống làng Phú Khương. Còn kho Thành Đức
trước choán khoang rộng chừng 30x80m, cũng trong đụn cát, giữa khu có cục đá
chạm vứi hòn núi ở ngay bờ biến.
ớ cả hai kho, những nổi xếp lộn xộn có khi .sát nhau, có khi cách quãng nhau, có
khi cao, có khi thấp. Đụn cát thì không cao lắm trên mực nước bổ từ 2,5m đến 3m.
Và nồi đã được chôn cao trên mực nước bé một ít trên cát ấy.
Hình nổi nặn theo hình trái bầu hoặc hình trụ dày độ một phàn, cao 77 phân,
miệng rộng 60 phân, cổ rộng 47 phân. M ỗi nồi có một nắp đậy giống như hình cái
bình hoa úp ngược xuống. Nắp nồi có khác những nét vuông vắn chạy triện như
kiếu Hv Lạp. Và những trân châu hình tròn có một hai hột đến 13 ly và hình dài thì
có hột dài 20 ly có hột dài dến 46 ly. Có một cái nồi chứa tới 32 hột hình quả trám,
hình vuông hay hình dài.
Nống cụ thì thấy cái thuổng. Còn xương người thì thấy có những đốt xương tím
bầm tỏ ra đã hoả thiêu và có những đốt xương không bị hoả thiêu.
Theo Parmenlier có lẽ dây là hai nghĩa trang cái táng cúa những nhân vật trọng
yếu trong một xã hội cổ. Cũng theo ông, những vật tìm thấy không giống chút gì
với mọi cổ vật khác dã dào được ở các nơi khác. Và trên những vật này đã không có
dấu vết gì của văn m inh Chàm. Những dường nét diêu khắc cũng đều không một
chút gì giống với những nét cúa Chàm cổ.
Người la dã đồng ý rằng dó là những cổ vật có từ trước khi người Chàm lập quốc.
281
Điều dó chứng tỏ Lâm Âp có thể đã díing bạo lực tiêu diệt hết thổ
dân ở vùng này rồi lập quốc, hoặc có thể đã dồn đuổi họ về những vùng
cao nguyên để chiếm cứ đất dai.
KINH THẢNH KHU TÚC
Còn tên lù Khu Lật. Năm 1927-1928, trường Viễn Đông Bác cổ có
đào thấy vết lích ở lànc Trà Kiệu thuộc Bắc, Tây Bắc Ọuảng Nam và gán
ranh Thừa Thiên bây giừ. Chu vi thành độ 6 lý 70 bộ (1 lý là 386m), phía
T ây bé ra 10 góc, cao 2 trượng, xây bằng gạch có lót ván, ớ trên có 5 tầng
gác, trên gác lại có nhà lầu cao 7,8 trưcmg. Cung điện trong thành đều
hướng về phía Nam nơi có sông Lư Dung cháy qua. Có tới 2100 nóc nhà
đế người ư, còn chợ búa họp chung quanh thành. Thành mở ra 13 cửa, thế
đất gồ ghề hiếm trở, trong chứa nhiều chiến cụ và vũ khí.
ĐỊA THẾ CÙA LÂM .Ấp
Xét địa thế của Lâm
ở hồi đáu mới lập quốc từ trên Ninh Hoà tới
Quáng Nam, ta thấy ca vùng đất ấy phần bị núi rừng tràn lan. phần bị cát
biên lấn lướt, đất ruộng còn lại thì đồng khô cỏ cháy. Từ Phú Yên đổ ra
.suôi gần 400 cây số chí lèo tèo có vài ba cánh đồng trồng trọt được ở
Quáng Nam và Bình Định mà cũng tương đối nhỏ hẹp cho sự sống của
một quốc gia.
Lại thêm cả vùng này là vùng đầu sóng ngọn gió, mưa bão gần như
năm nào cũng có. Quii là không một chút gì thuận tiện cho giống dân làm
canh nông và mục súc, mà có lõ chi thuận cho riêng việc chài lưới và đi
biến thôi.
Phù Nam là lên Trung Hoa phiên âm chữ tên Biu-nâm, Bnam cổ, mà nay người
Khmer gọi là Pnom nghĩa là núi, và vua của nước ấy là vua núi.
Vua đầu tiên theo tài liệu Trung Hoa là Houen Tiên, chữ Phạm là Kaudinya gốc
không rõ ở Ân, Mã Lai hay Nam Hai. ô n g nằm mơ thấy thần hộ mệnh cho một cây
cung thần và nhủ đáp thuyền buôn vào buổi sáng sớm đến đền thì sẽ có sẩn ở đó.
Thuyền giạt vào Phù Nam. Công chúa ớ đó là Liều Diệp định cướp thuyền nhưng bị
Houen Tiên dùng cung thần bắn xuyên thúng thuyền công chúa, cỏ sự và xin hàng.
Houen Tiên cưới nàng làm vợ. lây V i ii chc thân cho rồi ở lại làm vua cai trị cả xứ ấy.
Theo một tấm bia ở M ĩ Sơn mà L.Pinol chép lại thì câu chuyện có hơi khác. M ột vị
Bà La Môn tên là Kaudinya đã được thầy Acvathaman cho cái nỏ rồi dùng tên bắn
di đê’ chí cho biết nơi sẽ dựng kinh đô. Kaudinya con gái vua rắn Nagas tên là Soma
rồi sinh hạ ra dòng vua cúa Phù Nam. Cuộc tình duyên ấy dến thê kỷ thứ 13 tại
cung diện A ngkor còn lễ kỷ niệm, và người Campuchia bây g iờ cũng vẫn ghi nhớ.
Truyện ấy đúng như truyện nguồn gốc dòng vua Pallavas tại Nam Ân.
282
Dân Lâm Âp không hung hcãn tràn ra Bắc cướp phá thì cũng phủi
tràn về Nam. Họ đã không dám đụng tới miền Nam vì đế quốc Phù Nam
đương là một đế quốc hùng cường ở dầu kỷ nguyên"’. Bởi đời cháu của vị
vua sáng lập Pan Pan giao binh quyền cho tướng Fan Che Man, khi trị vì
được ba năm tliì bănc hà, Iriều đình đã tôn Fan Che Man lên ngôi, ông ta
là vị vua hùng tài, tự xưng đại đế và đem quàn đi đánh dẹp khắp nơi. lại
đóng những tẩu lớn để đưa quân ra ca các hải đao, mà bắt lất cả các nước
lân bang phải thuần phục. Đất đai mở rộng đến 5.6 ngàn lý"'. Người ta
ước chừng là từ sông Mê Nam của Thái Lan bây giờ qua củ Campuchia,
cả Lào tới vùng bờ biển Nha Trang cùa ta. Bia Võ Cảnh tìm thấy ở Nha
Trang, trước người ta tưong đất ấy của Chàm, nhưng năm 1927, L. Pinot
xác định là một nước nhỏ phụ dung của Phù Nam.
Đứng trước một dế quốc lớn như vậy, người Lâm Âp dcã phái thán
phục không dám quấy rối mà chi dám dòm về phía Bắc là Giao Cháu của
người Lạc Việt dương bị dưới quyền đỏ hộ của Trung Hoa.
n h ĩ ỉ N í ; c ư ộ c x â m l ả n (; c ủ a l ả m ấ p
Khoảng năm 220 và 230, một vị vua của Lâm Ắp nối nghiệp Khu
Liên đã gửi sứ bộ đem lễ vật dến dâng cho Thái thú Quảng Đông và Giao
Chỉ nhưng thực là dể dò xét thực lực. Năm 248, quán Lâm Âp tràn lèn cướp phá các tỉnh ở phía Nam quận
Nhật Nam và chiếm giữ vùng phía Nam, tức là vùng Huế bây giờ. Nãm 270, vua Lâm Âp là Phạm Hùng, cháu ngoại của Khu Liên lại
tiến quân ra cướp phá, có cả quân Phù Nam giúp nữa.
’ Theo G.Cocdès. Histoirc’ Ancienne dcs Etats Hindoiiiscs d’E.O, p. 46.
'■'Suốt 200 năm Lâm Âp vùng vẫy để tiến ra Bắc.
Không kể những cuộc xâm phạm lẻ tỏ ở bờ cõi mà sử không ghi, đày là những
Irận lớn cúa Lâm ấp bát dân Lạc Việt phái chịu đựng.
Khoáng năm 220 - 230, vua Lâm Âịì nối nghiệp Khu Liên cho sứ giao hiếu với
ihứ sứ Giao Châu và Quảng Đông.
Năm 248, Lâm Âp tiến quân ra cướp phá các tinh phía Bắc và chiếm vùng Huế.
Năm 270, Idiạm Hùng, cháu ngoại của Khu Liên, được vua Phù Nam Fan Sium
giúp quân lại tiên ra quấy phá. T liứ sử Đào Hoàng đã mất 10 năm đánh dẹp mới đẩy
lùi dược đoàn quân xâm lăng ấy về biên giới cũ.
Con Phạm Hùng là Phạm Dật nối ngôi, cho sứ sang Tàu triều cống năm 284,
nhân dể dò xét lình V thiên triều mà kiến cơ nhi tác theo mưu kế của một người ^
283
Thứ sử Đào Hoàng dcã phải mất 10 năm chiến đấu mới dáy lui được
quán xâm lăng ấy. Cho nên, khi chấm dứt loạn Tam Quốc 0 Trung Hoa,
nhà Tấn nhất thống được nước Tàu rồi, vua Tấn có ý giảm bớt quân ở các
châu quận về thì Thứ sử Giao Châu là Đào Hoàng dã dâng sớ vé tâu ràng:
“Vua nước Lâm Ap là Phạm Hùng thông với nước Phù Nam, hay sáng
quấy nhiễu ở dất Nhật Nam nếu lại giảm bớt quân số ở Giao Châu đi thì
sợ quân Lâm Âp lại sang đánh phá”'"’.
Q U Â N Đ Ộ I C H I Ê M Đ ( ) N ( Ỉ
àni tống
^ Tàu gốc Giang Châu tên là Phạm Văn. Phạm Dật phong Phạm Văn
quán binh đội toàn quốc.
Nãiĩ) 336. khi Dật lừ trán thì Phạm Văn cliiốm ngôi cùa con Dật mà lên làm vua
Lâm .A}-).
Năm 340, Phạm Văn ch(í sứ sang Tàu yêu cầu định bicn giới cho Làm Âp từ Đèo
Ngang trư vào.
Vua Tàu chưa quyết định cát đât Nhật Nam như thố cho Lâm Ả ii theo lòi yêu cáu
cúa họ thì năm 347, Phạm Văn liến quân chiếm luôn Đèo Ngang, sau đó lại xua
quân ra khoi Đèo Ngang dê luôn luôn quấy phá cướp bóc nữa.
Năm 349, Phạm Văn lử trận. Con Phạm Văn là Phạm Phạt nối ngôi và nối chí
cha de lo mở rộng biên cưưng về phía Bắc. Nhưng nám 331 Phật bị thua một trận,
dốn năm Quý ,Sứu (333). Phật lại bị Thứ sử Giao Châu là Nguyễn Phu dánh phá 30
dồn luỹ và năm 336 lại bị t)iua nữa nên phải rút lui khỏi Nhật Nam.
Nãm 372 và 377. Lâm /\|’) phái sang Tàu triéu cống.
Phạm Hổ Đạt là con nòi ngôi của Phạm Phật năm 380.
Đên năm 399, Phạm Hổ Đạt lại dem quân dánh Nhật Nam nhưng bị Thái thú
Giao Châu Đỗ Viện đánh thua phai rứt lui.
là Ty Tchen nối ngôi cha, nhưng
lại nhường ngôi cho cháu
Nãm 403 và 407 lại dánh ra v<à cũng lại bị thua.
Năm 414 cũng lại dánh ra nữa nhưng vì vào sàu trọng dịa, Đạt lử trận. Con của
Đạt
là
Mamorathavarman còn mình thi đi tu ớ ân Độ. Cháu này cũng vẫn liên tiếp ra dánh
Nhật Nam cho dến năm Canh Thân (420) thì khống thấy nói dến nữa.
Năm 420, có một vua khác lên ngói xưng là Dương M ại và cũng xua cỊuân quấy
phá Nhật Nam.
Năm 421, Dương M ại, xin thụ phong với triều dinh nhà Tấn nhưng không may bị
chết ngav năm ấy. Con của Dương Mại 19 tuổi nối ngôi cha cũng xưng hiệu là
Dương Mại và rồi cũng lại dưa quàn ra dánh phá miền Bắc luôn luôn.
Nãm 431, Dương Mại dem hàng trăm chiếc thuyền chiến dánh vào bờ be Nhật Nam.
Tliái thú Giao Châu một mật cho ngăn chống, một mặt đưa thắng quân vào vây hãm
thành trì Khu Túc nhưng không may gặp bão quân vây thành lại phái rút ra.
Dương Mại mượn binh ciia Phù Nam không được, năm 433 lại khiêu nại với triều
đình Trung Hoa mà cũng không kết quá gì nên từ dó lại cứ cho quân di dánh phá.
Năm 446, thứ sử Giao Châu mới cúa Tống là Đàn Hoa Chi cầm tướng lệnh chính
phạt Làm Ap có phó tướng Tổng Xác phụ lá.
Dương Mại cả kinh cho sứ diều đình xin tni các người dân Nhật Nam bị bắt và
dâng một vạn lạng vàng, 10 vạn lạng bạc de chuộc tội. Đàn Hoa Chi dâng sớ về
triều hói ý vua Tống. Vua Tỏng cho Đàn Hoa Chi dược tuỳ nghi nếu Lâm ấp thành
thực thì cỏ thế chấp thuận. Nhưng khi Đtàn Hoa Clíi cho sứ tới nói chuyện thì vua
quan Lâm âp lại bat giam sứ. Vì thế, Đàn Hoa Chi tiến quàn đánh thẳng vào kinh
đô Trà Kiệu và vây thành Khu Túc. Tướng giữ thành là Phù Long tứ trộn. Phạm
Dương Mại phải dích thân cầm quân chống cự chờ binh cứu viện. Binh cứu viện
cũng lại bị đánh tan. Dương M ại phải bỏ thành mà chạy. Thành bị chiếm. Quân
tướng chết không biê't bao nhiêu. Trận ây Đàn Hoa Chi tịch thu dược 100 ngàn lạng
vàng và rút quàn về. Vua Phạm Dương Mại buồn rầu mà chết.
284
Vì đó mà có việc quàn đội chiếm đóng Giao Châu, khôns những để
đối phó với Lâm Âp mà còn đối phó với chính người Lạc Việt ở Giao
Châu nữa.
Đây là một cái ách mới mà từ nhà Tấn trở về trước, dân Lạc Việt chưa
phái mang. Trước kia chỉ có các quan văn đến cai trị với một số lính ít ỏi giữ
trật tự và hầu hạ các quan. Còn từ đây thì có quân đội thường trú, quan văn
cai trị nhung với nhũng uy vũ của quân đội, sán sàng đàn áp mọi cuộc khởi
nghĩa cũnư như sán sàng đối phó với s'ự xâm lăng của Lâm Âp.
Bởi vậy, từ 280 báng di 264 năm, đến nãm 541 mới có cuộc khởi
nghĩa của Lý Bôn. Suôi 264 nãm ấy dưới chế độ quân đội chiếm dóng,
người Lạc Việt dã không sao nổi lên được. Thật là một thời kỳ den tối cúa
lịch sử.
MỎT CỔ HAI TRÒNÍỈ
Đối với Lâm ấp, mình chí là ngoại nhân Mlecchas. Bất cứ lúc nào cao
húng họ lại tổ chức thcành doàn ngũ dể xâm lăng, có khi chiếm dất ở hần, mà
thường khi chi cướp của giết nhiều, xong lại về. Dàn chúng ở suốt vùng Nhật
Nam lên dến Cửu Chân lức là vùng Bình Trị Thiên bây giờ đã vô cùng cực
khổ. Nếu không chạy kịp trước doàn quân xâm lăng thì chốt, mà chạy kịp
lấy nguừi thì nhà cửa và của cai cũng khó lòng còn được.
Cho nên cả vùng ấy vừa phần đàì cát khô cằn, đường di hiếm trở,
vừa phần kinh cung chi diếu, chỉ một sò người bất đắc dĩ mới ở trong một
số khu vực cổ thể canh tác dược.
Các quan cai trị Trung Hoa lại ở xa, nếu như có dem dược quân đến
ngăn chặn thì củ vùng ấy lại thành bãi chiến, và trâu bò liLÌc nhau ruồi
muỗi chết.
*" Năm 468. Thứ sứ Giao Chìiu là Đàn Hoa Chi đưa quân vào đánh, vua Lãm /\p
xin hoà và trá nhữniỉ người Nhật Nam bị Làm Âp bắt và nộp một vạn lạns vàng,
mười vạn lạne bạc. Nhưng quân Tống dánh Iháiiíỉ vào thành Khu Lật và cố nhiên
được số vàna hạc h(ín thố nliiều: một trăm ngàn lượng vàng ròng. Đời Tuỳ (605).
Lưu Phương cĩing liến vào đánh nữa. Nãm 774, giặc Đổ Bàn vào dánli tháp Bà 0
Nha Trang. Nãm 946, giặc Chân Lạp cướp pho lượng bằng vàng thờ ư tliáp Bà. Niìm
982, Lỏ Đại Hành vào dánh lấy dược vàng bạc về làm cung diện cột vàng ngói bạc
ứ Hoa Lư.
285
Bây giờ, xem lại nhũng di lích của các tháp Chcàm, các tượng thờ,
đồ thờ, tại cổ viện Chàm và lại các nơi rủi rác từ Quáng Nam đến Phan
Rang, ta thấy kỹ thuật kiến trúc và diêu khắc của họ đã làm cho ai nấy
phải giật mình. Tuy không còn những dồ bàng vàng bạc, bởi dọc lại sử đã
có nhiều lán những quan cai trị Tàu dem quân vào đánh lấy dược vàng
bạc rất nhiều rồi dến người Việt dời Lý Bòn. Lê Đại Hành, dời các vua
Lý, Trần, Lè cũng ghé lới dánh phá và cướp những báu vật di"’ nhưng ta
c à n
g
ỏ
i
vẫn có thê đoán rằng khi thờ tự như thế, người Lâm ấp đã có nhiều đồ thờ
bằng vàng bạc và tài sản của vua và h
gia cửa họ cũng khỏne thiếu
sì. Ta tất phải tự h
o
họ lây đâu ra nhiều vạns bạc như vậy?
Tliì câu trả lời là trons nhũng C U ()C liên miên đánh tràn ra phía Nhật
Nam và Cửu Chân, người Lám Âp có thê đã cướp của dân mang về.
Ta chưa nói đến người bị bắt làm tù binh. Ngay cả sứ thần của địch
quốc đến điều đình thường cũng còn bãt giam luôn nữa. Đủ rõ họ hung
hãn đến cỡ nào
Chác nguyên do chính cũng còn ở chỗ hai bên không
hiểu tập tục thông sứ của nhau và cũng không thuộc tiếng của nhau nữa.
Khu đất cho hai nền văn minh Trung Hoa và Ân Độ đụng chạm
nhau quả đã phải trái nhiều đau thương vậy.
VAI TRÒ CỦA N (.Ư Ờ I ẤN TH EO PHẬT (H ÁO
Ta không thể quên được những người Âúi khác theo Phật giáo hiện
có mặt ở Giao Châu. Ta sẽ lây làm lạ rằng sao lại chẳng có một sự hiểu
lầm đê cho dàn thù vay oán chạ đến những người ấy? Nhưng sự ấy chẳng
diễn ra bới ngay tại chính quốc, hai giáo phái Phật và Bà La Môn vẫn
chống nhau dữ lắm.
Những người Hồ (Ân Độ) làm thân dược với giới chức cai trị như Sĩ
Nhiếp, lại mở tiệm buôn giao thiệp thân mật với dân dịa phương, rồi dựng
chùa, thuyết pháp, cúng dàng, không phân biệt Parias và Melecchas,
những người Hồ ấy, trước mắt dân chúng, dã khác hẳn nhCrng người Lâm
Ap. Đàng kia càng hung hãn, tàn bạo, hiếu chiến thì càng Icàm nổi cái ôn
nhu, thuần hậu, hiếu hoà của đằng nàv, dể dồn đẩy cho Phật giáo thâm
nhập vào tình cám của mọi tầng lớp người, ấy là vô vi thắng hữu vi, tiêu
cực tháng tích cực vậy.
(II Đàn Hoa Chi cho sứ lới nói chiivện, Lâm Âp bắt giam sứ nên cuộc cầu hoà
không thành và Đàn Hoa Chi xua quân dánh vào tận Khu Lật năm 468. Lại vua Lê
Đại Hành cho sứ là Từ Mục và Ngô Tứ Canh đến điéu dinh, vua Làm Âp cũng bắt
giam sứ. nêm nãm 982 mói có việc Lc Đại Hành dcm quân vào dánh.
286
Những loại truyện cố về Chứ Đổng Tử. Trầu Cau, Tấm Cám nếu đã
có lừ trước thì đến hồi này cũng đã được Phật giáo nhuận sắc về nhân
quả, luân hồi, nghiệp dinh. Còn bao nhiêu truyện thán kỳ của Bà La Môn
giáo thì người Việt không biết một chút gì củ (có thể nói ngay cho đến
tận hồi gần đây nữa).
c h i í ơ n í ; II
NỀN THƯƠNG MẠI THỰC DÂN TRUNG HOA
T(')M I .u ơ c
Bản chất thương mại
Khinh thường người bản xứ
Đối với người Triing Hoa buôn hán là một thiên tính. Sự sốna chung
thân mật cúa người đó hộ với dân bản .xứ đề làm lhưcfng mại là điéu kiện rất
dễ dể dán ban xứ bị dồns hoá. Nhuìig sự dồng hoá có diỗn ra cũng không
đốn mức làm mất dược giống dân canh nông bám chặt lấy đất để sống.
Sự bóc lột
Bởi V niệm thiên triều Trung Hoa là duy nhất sang trọng còn xung
quanh là man di mọi rợ cả, người Tàu khinh người bản xứ nên trong cuộc
sống chung vần có sự cách biệt. Chuyện người Tàu giấu của tham nhũng
được và nhĩrng người làm thương mại vơ vét những mối lợi dù nhỏ và rơm
rác mấy cũng không từ dã hàm dân bản xứ thù hằn.
Điều kiện để mất giống
Với guồng máy thuxrng mại tố chức rất tinh tế, dân bán xứ dcã bị b()c
lột dến tận xu'o’ng tuv. Đã không cớ một công trình nào xây dựng cho địa
phương cá. cũng không có một ý muốn cái tiến sinh hoạt cho dân chúng.
Trong tình thế ấy, cái dicLi kiộn dc mất giống như người Bách Việt
bị hút Vcào dại khối Trung Hoa là người Lạc Việt lại khôn ngoan di cặp kc
với kẻ dỏ hộ. làm tay chân bộ hạ cho chúng để chia sót mối lợi. Nhưng may người Lạc Việt đã có cái làng dể trử về quanh quẩn với
dất ruộng mà chịu dựng.
287
Người Trung Hoa ngoài những nhà cai trị và quân dội dã có những
người dán sống lần với dân bán xứ dể sinh nhai, dồng thời phổ biến
những nền nếp, phong tục, lập quán của họ dc dân bản xứ đồng hoá với
họ hết sức dề dàng. Bao nhiêu siốna Việt ở miổn Nam Trumi Hoa dã trở
thành nsười Trung Hoa ca. Riêng có người Lạc Việt thoát ra được. Ta dã
hicii rõ lý do, dã trình bày ở quyển 1 và phần 1 của quyển II này. Nhưng
còn một lý do nữa ta ,sẽ xét ở dây. Đó là lý do của chính nền thương mại
thực dân.
liẢN CHẤT T H ir ơ N t; MAI
Bán chất thương mại của người Trung Hoa là một cái gì thiên bám.
Người ta dã có câu chuyện vui kể rằng có một chiếc làu di biên bị dám.
hành khách bị cá vơi nuốt vào bụng, dến chừng người ta bán dược cá, mổ
ra thì Ihấv nhà sư Âji Độ ngồi lấn tràng hạt, còn người Tàu thì đương ngồi
gẩy bàn tính dể tính liền trơng cuộc buôn bán. Kể dã thực dúng rằng: đến
bất cứ một dịa diểm nào, trước bất cứ một vật nàơ hay một việc nàơ, phản
ứng dầu tiên cùa người Trung Hoa là tìm ngay cách buôn bán kiếm lời.
Việc buôn bán dòi hỏi diổu kiện sống chung với dân bán xứ, lai
giống với người bán xứ và lai cả tiếng nổi lẫn phong lục nữa. Nhưng bởi
cổ một ý khinh người ban xứ là man mọi và gặp một giống dân canh
nông quyết bám lẩy đất dế sống nên việc đồng hoá tuy cổ diễn ra cũng
văn không dạt dến mức làm mâì dược giống dân ấy.
KHINH THƯỜNí; N í ỉ ư ở l HẢN xứ
Người Trung Hoa vốn có sẩn ý niệm chỉ người của Thiên triều
Trung Hoa ờ giữa là sang trọng và văn minh, còn người Đông, Tây, Nam,
Bác đéu man rợ củ. Từ iricu dinh dốn quan lại cai trị. quân dội chiếm
dóng cho dốn dân chúng tới thuộc dịa hàm ăn dều có cùng một ý khinh
thường â'y. Họ lấy người dàn bà ban xứ làm vợ. Nhưng dàn bà của họ thì
không bao giờ lấy người hán xứ cả. Vừa vì không chấp nhận người của họ
hầu hạ người man mọi, vừa vì cái tục chia của cho con gái khi lấy chổng,
họ không chịu dể cái lợi cho ngưòi khác giống. Thêm nữa, trình dộ chênh
lệch về tri thức và ca thói sông dcã không làm cho chính người đàn bà của
họ ưng chịu người bán xứ.
Sự sống chung vì vậy vẫn là cuộc sống cách biệt, khơi sâu Ihcm nhĩmg
hố mặc cám và dẩy mạnh hơìi người ban xứ về với dất ruộng, dất làng.
C H I YỆN N d l ỉ ờ l TÀU (H ẤU CỦA
288
Người ta còn kê chơ đến tận hồi gần đây những chuyện người Tàu
giấu cúa trong những mộ cổ hay hang dộng. Đó là loại người thuộc hàng
cai trị khi dirợc bổ nhiệm di nơi khác đã không thể đường hoàng mang
của cái com góp được ở đây về. Vì đi đường sẽ bị cướp, mà về đến triều
đình sẽ bị các quan triều hạch hỏi, không nuốt trôi được. Cho nên, những
quan cai trị ấy đã bí mật giấu của cải vào trong những hang đá, những
hầm để sau này sẽ có bản đồ chỉ chỗ cho con cháu tới đó mà lấy. Khi
chôn giấu của cải như vậy. họ đã cho ngậm nhân sâm và chôn sống luôn
người đàn bà đã từng là vợ của họ, lại gắn trám đường vào miệng cùng
cho biết một khẩu quyết đê khi có người nhắc đúng như thế mới chịu cho
mở cửa vào lấy của, còn không thì sẽ ngăn trở đến cùng và cả sát hại nữa.
Người đàn bà ấy là thần giữ của cho họ. Người con gái bản xứ lấy họ là
để cuối cùng dược dùng vào việc đó.
Nhiéu chuyện khác kể rằng có nhiều người Tàu rách rưới lang thang
đi bán thuốc dạo qua các làng xin ngủ nhờ ngoài quán, đoạn đến một
đêm nào đó thì sáng ra, làng thấy có cửa hầm bí mật bật tung ra và những
người Tàu ấy đã đi đâu mất rồi.
Các chuyện ấy có thực hay không? Chỉ biết rằng không phải hoàn
toàn không đáng tin trong thời cũ.
NGƯỜI TÀU TH ƯƠ NÍỈ MẠI
Đến những người thường dân làm việc buôn bán thì họ lấy người
bản xứ chắng qua là chuyện vui chơi lại có thêm người giúp việc, chớ
không tính chuyện ăn đời ở kiếp gì với nhau tại đây cả. Công cuộc làm ăn
buôn bán phát tài có gom góp được thêm nhiều vốn liếng thì họ lo trở về
xứ khuếch trương cơ sở lớn hơn. Công cuộc làm ăn không ra gì thì họ lo
tìm nơi khác rồi rời tới đó, có khi họ ra đi đàng hoàng để vợ con lại với
một lời hứa đầy thuv chung là sẽ qua thăm, rồi thường không qua nữa
cũng thôi. Nhiều khi họ lừa những người đàn bà con trẻ ấy mà đi lúc nào
không ai biết, để không bao giờ trở lại.
ớ thời cũ, không có một quy chế gì về những người con lai này, nên
cuối cùng họ trở thành người Lạc Việt cả. Tuy cũng bị người đời mai mỉa
nhưng trong tình đùm bọc của gia đình, họ hàng, người đàn bà và lũ trẻ bị
bỏ rơi lâu dần rốt cuộc, vẫn được nhận về sống trong cộng đồng xã hội.
28 9
Đối với vợ con kết hợp tạm thời với nhau thì như thế. Đối với dàn
chúng mà họ giao thiệp để buôn bán thì họ vơ vét cái lợi từ lớn nhất đến
nhỏ nhất, không từ cái gì cá. Người giầu có lại cần dùng những món hàng
sang trọng nhiều tién dế mua cho họ hưởng nhiều lợi. Người nghèo mạt
cũng cần nhũng món hết sức ít liền để mua cho họ gom góp thành những
món lợi lớn. Mà đc'n những hàng hoá dể họ buôn thì những giá cả, chiều
hàng chạy hay đứng là tuỳ ở họ cả. Những mánh lới để mua rẻ bán đắt,
thật họ đã không thiếu gì. Những mánh lới đổ nắm giữ độc quyền trên thị
trường và liéu trừ địch thú cạnh tranh người bán xứ, họ lại càng không
thiếu gì nữa. Đến những mánh lới để giữ bí mật về giá cả cũng như sự
điều chế hoá phẩm cho dân địa phương không tự túc phát triển được thì
họ lại càng có nhiều hơn bất cứ một giống dân nào. Thành ra người dân sống chung với họ mà không bao giờ có thiện củm với họ.
Điều dáng lưu ý là những nhà buôn này đã không klii nào lại không
biết lợi dụng cái thế chính quyền nắm giữ trong tay người đổng hưcTng của
họ, hoặc Icà quân nhân, hoặc có khi là cả các quan km nữa đế doạ nạt và ức
hiếp dân trong việc mua bán, mà người ta gọi là mua bán cửa quyền.
Đối với những quý vật mà quan lại hàng Lang người bán xứ cần
phải có dể biếu xén chạy chọt V(ýi các quan cai trị thì chỉ riêng những nhà
buôn của họ mới có, của dáng một họ bán lên mười cũng phải cắm đầu
mà mua. Mua rồi, đưa vào quan, quan lại chuyển ra theo một lối bí mật
cho họ, đổi lấy vàng bạc, để họ lại bán lần nữa, người mua dẫu có biết
cũng dành chịu.
Đối với những sản phẩm quý và hiếm ở bản xứ (trân châu, ngà voi.
sừng tê giác, trầm, quế, yến...), họ chỉ cán ngồi nhà cho giá rồi thuê người
đi tìm hoặc dặt tiền cho vay trước nhưng giá mười họ chỉ trả cho một,
không bán thì không đâu mua cả, mà không bán cũng không được nữa,
khi đã vay tiền trước của họ.
Đối với tiền công xá trả cho kẻ ăn người làm thì dể hoàn thành
những công việc hay phẩm vật bán giá thực cao, họ lại chi tính theo giá
nhân công rẻ mạt của bản xứ.
S ự BÓC LỘT
Cứ như thế, sự bóc lột dã thật dến xương tuỷ của dân. Bao nhiêu tài
nguyên thiên nhiên dều chỉ có một hướng chạy về cho người đô hộ. Bao
nhiêu của củi dành dụm của dân, dân cũng không có cách gì giữ nổi để
khỏi chạy về lay các chú, khi mình túng bấn nghèo nàn đi, mà lỡ lại gặp
những tai nạn cần chạy chọt
ý Ì A m 1 ^ 1
/ \ r
Sự câu kết giữa quan lại, quân nhân, thương nhân đã làm việc tuần
tự bóc lột và hết năm này sang năm khác như thế khiến cho dân lao khổ
hết sức nhiều m.cà mỗi ngày cứ một nghèo di, trong khi kẻ dô hộ thì giáu
như bỡn.
'" V é điêm này thì lợi hại nhãì là cái liệm cầm clồ. Thượng vàng hạ cám. cái gì còn
đáng giá mang tới, họ cũng cầm cho cá, dể quá hạn là mất mà chuộc thì phái chịu
một số tiền lời.
290
n h CN(ỉ c ổ n ( ì t r ì n h x â y d ụ N í ; c h o đ ị a p h ư o n ( ỉ
Những chuyện cùm kẹp, đánh đập, tra kháo là chuyện nói đại cương
chính sách hà khác của quan lại Trung Hoa để trừng trị kẻ có tội và moi
móc tiền của. Nó lộ liễu, tráng trợ và không đẹp gì để lúc nào kẻ đò hộ
cũng đcm ra áp dụng. Nhưng sự hút máu thường xưyên của dân theo lối
thương mại thực dân vừa nói mới là đáng kể.
Đặc biệt là dã không cổ gì cả'" bởi lẽ ngay nguyên lác của chế độ
thực dán thương mại, người la không tính rằng người và cảnh ở thuộc dịa
dcã có gì khiến người ta mến được như ở thưọĩig quốc. Thương nhân có tiền
của thì vun đắp về cho quê nhà. Quan lại và quân nhân cũng vậy. Công
trình xây dựng ở thuộc địa chỉ cốt sơ sài xơng chuyện thì thỏi‘“’. Cho nên
tại chính quốc, hỗ việc làm ăn buôn bán phồn thịnh thì các dô thị và các
thắng canh mọc lên như nấm. Còn lại Giao Châu suốt mấy trăm năm,
người Trung Hoa làm giầu như hái ra của mà không hề nghe thấy ai nói
dến một thắng Ciính hay một công trình quy mò nào được xây dựng cá.
Nghĩa là họ vơ vét được đồng nào thì đem di đồng ấy, không để lại
một chút gì để dân địa phương còn có thể kiếm dược hột rơi hột vãi.
Thêm lại có một một dám người nghèo nàn, hết sức dông dảo của
họ từ Vân Nam, Tứ Xuyên. Quang Đông, Quáng Tây... đã lẫn vào đoàn
thực dân dến kiếm sống ở thuộc địa. Lớp người này cũng chịu dựng được
mọi sự lam lũ cực khổ để gồng thuê gánh mướn Vcà cũng len lỏi vào khắp
hang cùng ngỡ hẻm dê nhặt nhạnh cả những đồ phế thải, từ cái giẻ rách
đến mớ lông vịt, lông heo, hoặc để bán từ một xu đậu phông rang đến cái
bánh, cái kẹo...
Cả hệ thống cứa guồng máy thực dân quả thật đã có những cái
miệng hết sức lớn và muôn vàn những cái miệng hết sức nhỏ để hút hết
cúa cai ở thuộc quốc cũng như hút hết những sinh lực của dân thuộc dịa.
Mối lợi nào dược lớp trên chừa ra đã có ngay lớp dưới đón lấy. Đến mối
coi là rơm rác mà lớp dưới dã chừa ra thì có lớp dưới nữa hút thêm cho
một lấn nữa.
Trong guồng máy ấy lại có cả một nền nếp giúp vốn cho nhau giữa
kẻ giáu và kẻ nghèo như dạt trước tiền dế buôn một đồ hàng, hay để dặt
trạm phán phối hàng hoá, không bao giờ sợ mất, mà sự độc quyền mua
bán dươc hoàn toàn bảo dảm.
Trái với lôi thực dân kỹ nghệ cứa phương Tày và thực dân tài chính cùa Mỹ.
Không giống người Hy Lạp, chiếin dược thuộc địa thì xây dựng hùng vĩ để biếu
dươnu thanh thê và uy vũ.
291
Với tố chức như vậy, đã không thế có tư nhân nào người bản xứ
cạnh tranh nổi trên thươns trường. Ây là chưa kể khi thị trường đã nằm
gọn trong tay họ thì luôn luôn họ lại có nhữns cái trò tăng giá, hạ giá,
cầm giá, để ăn cướp tiền bạc của dàn một cách trắng trợn. Toàn thể mọi
người giầu và nghèo của thuộc quốc vì thế cứ dần dần hao mòn hết sinh
lực đế nghèo mạt đi.
Trong khi ấy thì tất cả, nó lại vãn khinh mình là man di mọi rợ vì
mình dói quá, khổ quá, nhục quá. Nó đẩy mình vào cái thế phải thí thân
làm mọi việc nguy hiểm đến lính mạng dể kiếm sống như vào rừng tìm
làm sản, xuống biến tìm hải sán. Nó không cần đi theo đốc thúc mà tự
mình phải tự dốc thúc để kiếm cho ra cái gì để đổi lấy miếng ăn. Cái g'i
ấy khi có thì đáng mười nó tra cho một cũng phái bán, vì không bán thì
không biết có chỗ nào mua cả. Mà ví thử có vì đi kiếm như thế mà chết
thì tự mình làm mình chứ biết ai là người chịu trách nhiệm để kêu ca?
S ự CẢI TIẾN ĐIỂU KIỆN SINH HOẠT
Đã hoàn toàn không có. Cá đến cái thiện ý cái tiến của người đô hộ
đối với mức sống hết sức thấp kém của dân cũng không có. Mọi nghề cần
và có thể làm việc chế biến lại chỗ thì dều giữ bí mật, giao cho người của
họ làm. Còn thuê mượn người bản xứ là chỉ để làm những việc nặng nhọc
không cần biết đến tài nghệ chuyên môn gì cả.
Đến nhũng cầu kỳ. đường xá, nhà ở, làng xóm, dân thuộc dịa muốn
làm sao di dược, ở dược thì tuỳ sức mình, Icàm được đến dâu thì làm.
người đô hộ trối kệ. Việc ãn, ở, nằm, ngồi, may mặc, đi đứng... tồi tệ đến
dâu cũng mạc.
ĐIỂU KIỆN ĐỂ M ẤT G IỐ N(Ỉ
Đến tình trạng đau thương như vậy rồi, cái diều kiện dể mất giống
và đồng hoá với người dô hộ, như những giống Việt khác ở miền Nam
Trung Hoa, trớ trêu thay, lại là sự không bị nổ khinh miệt và sự khôn
ngoan đi cặp kè với nó làm tay chân bộ hạ của nó mà chia sớt mối lợi.
292
Nhưng người Lạc Việt đã đành chịu sự khinh khi, đánh cam phận
nohèo và quay vé làng với ruộng vườn cứa mình mà đùm bọc lấv nhau.
Ây chính là sự dùng tinh thần bám lấy đất làm lợi khí chịu đựng chế độ
thương mại thực dân mà giữ lấy giống nòi vậy.
C H U Ư N ÍỈIII
Tư TƯỞNG TRIẾT LÝ SỐNG CÒN
VÀ Sự GIÃY GIỤA TÌM Lốl THOÁT
TÓM LUỢC
Người Lạc Việt được hướng dẫn trong cuộc sống bởi một tư tưởng
triết lý chịu đựng để sống còn. Sự chịu đựng đói khổ, rét lạnh, thiếu thốn,
cực nhọc, đau đớn. nhục nhã, cá chịu đựng một thân phận người không
lối thoát, khổng biết trốn đi đâu đã khiến người Lạc Việt chân thành nghĩ
sốns không cho bản thân mình, sống là để chết và chết là để có cái sống
cho con cháu và dòng họ.
Thái độ nghi ngờ và trí trá cũng là hai lợi khí sắc bén của kẻ yếu để
đối phó với kẻ mạnh.
Sự giẫy giụa tìm lối thoát
Nhưng giai đoạn lịch sử đau thương kéo dài mấy trăm năm đã nung
nấu lòng người trong não nùng thê thảm và dược thể hiện qua giọng ngân
nhuốm tiếng thở dài buồn bã và đều đều một điệu nức nở khóc than trong
những ca dao.
Người ta đã đi tìm tu theo đạo Phật Mật Tông, có lẽ để có những
huyền năng đối phó với những người dô hộ.
Đến đây, dân Lạc Việt dã khôn ngoan tính biết tương quan lực
lượng hai bên để không vọng động, và nhằm rất đúng những dịp có loạn ở
Trung Quốc mới nổi lên. Như trường hợp Lý Bôn nổi lên nhân cái loạn
Hầu Cảnh.
293
Người Lạc Việt được hướng dẫn trong cuộc sống bởi một tư tưởng
triết lý chịu đựng để sống còn. Tuy tư tưởng ấy không được giũa gọt
thành lời nhưng nó thấm sâu vào cuộc sống và tự thể hiện ra từ cuộc sống
nên chi nhìn vào cuộc sống mới có thể đọc được tư tưcíng ấy.
s ự CHIU ĐỤNG ĐÓI K H ổ
Chịu đựníỉ cho đến quanh năm không được ăn một miếng thịt. Con
cua đồng nhỏ như thế còn giã nát ra mà ăn từ chất nước trong vỏ của nó.
Con tôm gạo chỉ bằng hột thóc cũng vớt hết mà ăn. Trứng cua, trứng cáy,
con rươi, con nhộng đéu ăn hết, mà còn kể Icà những bữa đặc biệt. Chứ
bữa thường chỉ rau muống với tương “Còn ao rau muống còn đầy chum
tương’’ hoặc một qua cà muối và lùa với cơm, chan bàng nước lã. Mà cơm
lại còn độn ngô, độn khoai, miễn ních được vào bụng cho khỏi cồn cào đã
kể là ăn rồi.
SỤ CHỊU ĐỤNG RÉT UẠNH
Rét buốt xương đến cá còn chết cóng nổi lên mặt nước mà cũng lội
xuống mò cua bát ốc, giầm chân dưới ruộng mà cấy lúa. Rét lạnh mà
không quần áo, không chân chiếu, không than củi sưởi ấm, chí có một ổ
rơm dể gò mình và giữ lấy chút hơi ấm, trong khi gió lùa lừ tứ phía vào
cái lều tranh rách nát mà vẫn nói; “Khéo ãn thì no, .khéo co thì ấm”.
S ự CHỊU ĐỤNG TH IẾU T H ố N
SỤ CHỊU ĐỤNG c ự c NHỌC
Thiếu thốn dến dôi guốc không cần có, ghế ngồi, giường phản, bàn
ghế, tủ cũng không cần. Cho dến bát dàn, nồi đất, đũa tre, toàn những thứ
thật rỏ tiền cũng đã lấy làm được, không cần phải những gì sang trọng.
Mà đi bộ từ sáng đến chiểu, lội lên lội xuống bì bà bì bõm, nếu cần thì
cũng đi, không phàn nàn gì cả. Còn đau ốm thì bóp muối, nấu lá lẩu
quanh vườn mà xông, dùng sức đề kháng trong người mà át bệnh đi,
không thuốc men gì cũng được.
Cực nhọc để “hai sương một nắng” làm quần quật lừ sáng còn
sương mù qua trận nắng buổi trưa dến chiều tà sương lại xuống, mà vẫn
kiên nhẫn làm. không một lời phàn ncàn nào cả. Cực nhọc “đổi bát mồ hôi
lấy bát cơm”. Cực nhọc cho dến con trâu trỏng thấy sáng trăng tưởng trời
sáng thì thở dài, còn con người thì làm không kể ngày đêm gì cả. “Năm
canh thì ngủ có ba, hai canh lo lắng việc nhà làm ăn”. Nhất là người đàn
bà xay thóc giã gạo đến gà gáy nửa đêm. nằm chợp mắt một chút, thì gà
dã lại gáy, để chổm dậy thái khoai đâm bèo cho lợn. Cực nhọc cho đến
cằn người đi, không lớn dược Vcà chai đá da thịt ra, đến xậm màu nâu lẫn
màu đất ruộng. Cực nhọc cho đến không phân biệt được giờ giấc, gà mới
gáy nửa dêm đã chồm dậy quang gánh dể đi chợ.
294
Phái là một giống dân có sức chịu đựng như thế thì mới lì ra nổi với
sự bóc lột của chế độ thương mại thực dân Trung Hoa. Nhưng không phai
sự chịu đựng đcã chỉ như thế mà thôi. Còn phái kể thêm:
SỤ CHỊU ĐỤNG Đ A U ĐỚN
Khi bị trong vòng bắt bớ giam cầm của bọn quan lại đô hộ thì người
dân Lạc Việt phai chờ đón tất cả những sự đánh đập, cùm kẹp. khảo tra.
mà lính tráng của họ coi như những tục lệ để ra tién. coi như những trò
giải trí bằng cái đau đớn, kêu khóc của kẻ khác, coi như công tác thiêng
liêng dể được lòng quan trên.
S ự CH ỊU ĐỤN G NH ỤC NHÃ
Biết muôn vàn nào là nhục nhã mà kể. Làng xóm, nhà cửa, đình
miếu... quân đội của họ xông xáo vào bất cứ giờ giấc nào. Chỗ thiêng
liêng thờ tự của mình không là thiêng liêng đối với họ. Gặp mình thì họ
hống hách nạt nộ, không có tội cũng tìm ra tội để chửi mắng phủ dầu.
Tóm được vợ con mình thì họ có thể ngang nhiên cưỡng hiếp ngay trước
mặt. Của cải của mình có gì hay mắt. họ muốn lấy là lấy. Cho đến cha
mẹ, anh em, bà con, cả dòng giống của mình, họ muốn đánh chửi thế nào
cũng được. Nếu lộ ra một chút gì Icà bất bình thì làng bị phá, nhà bị đốt,
người bị giết. Cái dã man của giống dân ấy là cái dã man đến độ â y \
Người ta giận mà không dám thở, tức mà không dám chửi bới, trông
thấy những hành vi xấu xa nhơ nhớp của họ mà không dám khinh ghét.
Chỉ cứ lịm đi, nuốt nước mát mà chịu đựng. Thói quen sống hướng nội,
lắng hết tình cảm vào nội tâm của người Lạc Việt chính đã được hun đúc
từ thời này. Người ta nói: một sự nhịn là chín sự lành. Và nói chữ Nhẫn là chữ tương vàng, ai mà nhẫn được thì càng sống lâu. Nhãn và nhịn như thế, để coi cái thân phận làm người củ mình là dĩ nhiên phải khổ nhục như thế.
S ự CHỊU Đ Ụ N íỉ TH ÂN PHẬN MÌNH
Đó là một thân phận người từ trẻ đến già và chết, lúc nào cũng quằn quại
trong đen tối, hẩm hiu, không hề thấy một tia hi vọng nào thoát khố nhục.
Chúng tôi phỏng đoán rằng người xưa đã phải đào hầm để thường xuyên chui
xuống đấy lán tránh, căn cứ vào sỏ' âm tượng hình đã rất nhiều để tả những vòm
hang, những vũng, những nom clòm trong bóng tối, nước hình tròn như ong, om,
ôm, um, ấp, oăn, uôn, oay... có rất nhiều mà chỉ có một âm quay duy nhất để tả
những gì vui, những gì bay trên mây.
295
Đứa trẻ lọt lòns mẹ đã mang trong người hàng trăm thứ bệnh, mà
hộnh gốc là đói. Chính cha mẹ nó có gì ăn đâu mà chẳng sinh ra nó ốm
yếu? Rồi mẹ nó có gì ăn để có nhiều sữa mà nuôi nó? Rồi cha nổ có gì dư
mà thuốc men tẩm bổ cho nó? Đành là nhờ trời: “sống thì nuôi, chết thì
chôn”. Cái thân èo oặt, vàng vọt, cái thân như cái dái khoai, chí có cái da
bọc cái xương, phải đến năm lên tám, hết cái hồi gọi là đốt sài mới hơi
chắc rằng sống. Còn trong vòng tuổi ấy thì nuôi mà vẫn sợ.
Đứa trẻ sống thì khẳng khiu, mặt xanh như tầu lá, bụng như bụng
trống đầy giun"' lê la trong rác rưởi, chịu đựng rốt lạnh, sợ hãi. hành hạ,
khinh khi như người lớn, để kéo lê đời sống dến tuổi lấy vợ lấy chồng.
Lấy vợ lấy chồng là sự gặp nhau, kết hợp nhau, của hai cái thân
phận đồng cảnh ngộ đau thương, để cùng chia sẻ với nhau những lo âu, sợ
hãi, đói rách, buồn thương, cùng tạo nên những đứa con như mình ngày
trước và cùng gánh chịu mọi cực nhọc, đau đớn, nhục nhã của một kếp
người bị bóc lột.
Chịu đựng như thế cho đến lúc được chết trong canh già có con
cháu, anh em, họ hàng, chôn cất cho là điều lấy kàm may mắn và vinh dự.
Còn chẳng may là bị người đô hộ đánh chết, đánh nát thây, vứt xác cho
diều tha quạ mổ.
Cả một thân phận người như thế, lấy dâu ra sinh lực để phấn đấu mà
cái thiện điều kiện sinh hoạt của mình? Và thực thì tìm đâu ra nguồn yêu
đời vui sống nữa?
Sau này cho đến tận bây giờ, sinh viên Việt Nam đi ra các nước
ngoài du học, ca thế giới dều công nhận rằng; phần thông minh thì những
sinh viên ấy đã không nhường sinh viên của bất cứ nước nào cả.
Nhưng sức cố gắng của đại da số chí đến dấy thổi dể trở về nước
“khai thác” bằng cấp của mình mà kiếm sống. Còn theo đuổi sự học hỏi
thêm nữa. sau cái học nhà trường, để thành những nhà bác học, những
nhà sáng chế, dóng góp sự thông minh của mình vào sự tiến hoá của nhân
loại thì sinh viên của ta lại phải nhường các nước, là những người họ đã
vưcn hồi còn cùng hoc.
Tại sao vậy? Ây là tại cơ thể mỏi mòn mà rất nhiều thế hệ người qua
đi, đã không hồi phục lại nổi cái sinh lực của tổ tiên đã bị nền thực dân
thương mại Trung Hoa hút hết từ hồi Bắc thuộc.
Nhưng người Lạc Việt đã không bồng bế nhau dời khỏi đồng ruộng
quê hương để đi nơi khác kiếm ăn. Một phần vì tiến xuống thì gặp người
Ta thấy toàn những danh từ mà có lẽ bệnh lý Nhi khoa trên thế giới không nước
nào có cả
296
Lâm Âp, tiến về Bắc gập người Trung Hoa, liến về Tây thì gặp núi rừng,
về Đông gặp biển cả. Con người như đã bị vây và bị bắt phái đứng chững
một chỗ mà chịu. Một phần nữa cũng lại vì sức mòn mỏi yếu đuối sợ
phiêu lưu. Và phần chính là quá có sự thương mến quê hương làng mạc
của mình, không nỡ bỏ nhà cửa mộ phần của cha mẹ tổ liên.
Người ta đã đành sống trên địa bàn cha ông đã để lại. Đành thế để
dùng triết lý nhà Phật mà tự an ủi mình: kiếp này phải chịu khổ nhục đau
đớn để trả nợ của tiền kiếp và hy vọng sẽ được sung sướng hơn ở kiếp sau.
Tuy nhiên, đấv là quan niệm về những biệt nghiệp của Phật giáo mà
người Lạc Việt, bằng nền nếp sống của mình, đã pha trộn thêm nhiều sắc
thái độc đáo nữa.
SỔNG K H ÔNG CH O BÁN THẢN MÌNH
Bởi lẽ GUỘC sống trong hoàn cảnh ấy đã nhiều buồn đau hơn là vui
vẻ. Nếp sống tình cảm của người ta đã thấm sâu vào mạch máu nên
không hề có ai ích kỷ chi nghĩ sống riêng cho bản thân để du hí hay
hưởng lạc. Một chén nước mắm cúng dùng chung cho cả gia đình. Một
nám gạo không dủ nấu cơm thì nấu cháo cho cả nhà, mỗi người húp một
miếng để cầm hơi: “Chết một đống còn hơn sống một người”. Ây là người
ta quan niệm rằng đến lúc sức tàn lực kiệt thì tất cả cùng chết, còn sướng
hơn để sót lại một người cho người ấy đau buồn thêm.
Người ta quý mạng sống của mình không phải dể cho mình, mà để
cho mọi người quây quần đùm bọc lấy nhau trong cả gia đình, để cho mọi
người biết rằng mình còn người, mà chia vui chia buồn với nhau. Gặp
canh hoàn toàn thất vọng, người ta cũng phải cố níu lấy cái sống, vì “một
mặt người là mười mặt của” và “người còn thì của hãy còn”. Cho dến lúc
thật nhắm mắt tắt hơi, người ta cũng chí ước mong được nhìn thấy dủ mặt
con cháu và người nhà thì mới yên bụng để ra đi.
SỐNG LÀ ĐỂ CH ẾT
Là để sửa soạn cho cái chết mà mình muốn được có, giữa sự yêu
thương, nhớ tiếc của mọi người, giữa sự yên tâm của chính mình rằng con
cháu, gia đình sẽ yên ấm vui vẻ, và mình sẽ được chôn cất tử tế, không có
diều gì đáng lo nữa*'*.
Khi sửa soạn như thế, người ta đã lo sửa soạn bản thân mình và hành vi, ngôn ngữ, cử chỉ, trong suốt dọc đời để lưu lại cái đức cho con cháu:
(I) Truyền thống này còn lại cho đến gần đAy, người ta sắm sẵn cái áo quan để trong
nhà để chờ chết.
29 7
Câ\ xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ lìiên lành dể đức cho con
Và con cái có nhờ được đức lành của cha mẹ mới gặp những may
mắn ở đời, khiến làm ãn khá giả được. Đó là cái nhân không riêng cho
mỗi nghiệp kiếp, mà là cái nhân quả truyền đời:
Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trổng cây đức để đời mai sau
NHUNG CH ẾT LẠI LÀ ĐỂ SỐNCỈ
Không sống cho cá nhân mình mà chính là cho con cháu. Và người
ta đinh ninh rằng hồn còn ở âm cảnh, người ta sẽ còn phù hộ cho con
cháu, còn trở về báo mộng, trở về run rủi cho con cháu gặp điều hay tránh
điều dở và gàn quải những kẻ nào muốn hại con cháu mình.
Thế là cả cuộc sống khi có mặt trên thế gian, đến lúc chết và lúc đã
ở ngoài thế gian, người ta đều chi nghĩ sống cho củ cái tập thể là dòng
dõi của mình. Còn cũng là cho nó. Mất cũng hà cho nó. Và còn cũng là
mất, mất cũng là còn vậy.
Tư tưỏng triết lý sống còn ấy được nảy ra và rèn giũa trong điều kiện
sống đen tối của thế kỷ thứ III, thứ IV đã được dùng làm kim chí nam cho
con người tìm ra lẽ sống, ca nguồn an ủi và nguồn hy vọng để chịu đựng.
Nhưng ta sẽ cần phải nói thêm đến sự thể hiện của tư tưcmg ấy.
Chính cuộc đô hộ và cuộc chiếm đóng bằng quân đội của Trung
Hoa đã làm người Lạc Việt âm thầm khôn lanh và quỷ quyệt thêm. Chỉ
trong nhà, trong hầm, đóng cửa lại, người ta mới phóng tâm tin được
nhau. Còn birớc ra khỏi nhà, cái gì của người đô hộ và tay sai cũng đáng
nghi ngờ cả. Từ lời nói tử tế đến việc làm àn nghĩa đều phải nghi ngờ là có
một dụng tâm xấu và ác độc. Nghi trước, rồi mới tìm bằng chứng cho sự
nghi ấy là đúng*''. Thì thrrờng một trăm điều cũng có 99 điều là dúng thật.
Để đối phó với sự nghi ngờ ấy, bọn quan lại đỏ hộ gia tăng khủng
bố thì người Lạc Việt lại bắt buộc phải khôn khéo để mềm mỏng, rồi đón
ý rào lời mà thoát mình khỏi nanh vuốt của họ. Sự trí trá phải kể là đến
tuyệt đỉnh. Trí trá cho đến độ công nhận cái gì của anh cũng hay, cũng
phải, cũng tốt, cũng đẹp cả, nhưng trong bụng thì tôi không nghĩ thế. Cả
nhận rằng mình hèn, mình kém, mình ngu dại cũng được nữa nhưng chỉ
qua lúc ấy mà thôi''^'.
Đê cho truyền thống về nghi ngờ còn lại cho đến tận ngày nay.
Nhiều tài liệu cổ của Trung Hoa ghi nhận người Lạc Việt là xảo trá.
298
Trí trá và nghi ngờ là hai lợi ích sắc bốn của kẻ yếu để đươne đầu với chính quyền đô hộ mà tồn tại.
Tuy nhiên, sự chống đối chỉ là chống đối tiêu cực. Chứ toàn dân tộc
kể như đã gần kiệt quệ hết sinh lực rồi. Cho nên suốt 155 năm (từ 265
đến 420 của nhà Tấn), những việc rối loạn trong triều Tấn luôn luôn có,
mà ở Giao Châu người Lạc Việt đã không tập hợp nhau nổi đê có một
khởi nghĩa lón nào.
Nào là loạn Bát Vương, vua Tấn phong cho các thân vương, đến khi
chết, các thân vương ấy nổi lên đánh nhau suốt 16 năm.
Nào là loạn Ngũ Hồ, là nám giống Hồ ở Tây Bắc nước Tàu: rợ
Hung Nô. rợ Yết (Mông cổ), rợ Tiên Ti (Mãn Châu), rợ Chi, rợ Khương
(Tâv Tạng) đã xâm lăng bát vua nhà Tấn, rồi lũ lượt xưng đế, xưng
vương, dựng thành trước sau 16 nước.
Rồi sau đấy 120 năm nữa lại là Tấn đổ, cho Tống, Tề, Lưong lên thay*'’.
Biết bao nhiêu những cuộc rối loạn như thế mà người Giao Châu
khổng lợi dụng để nổi lên được thì dứng là tại có quân đội chiếm đóng và
quán đội ấy đã hành hạ dân dến kiệt lực rồi.
Lòng người dược nung nấu trong não nùng thê thảm. Và giọng ngân
của người ta cũng nhuốm tiếng thở dài buồn bã và đều đều một điệu trong
ca dao. Đó là cái điệu nức nở của những tiếng khóc than:
Ăn cưm / với mâm / thì ngắm / về sau
Ăn cơm / i’Ớ7 rau / mịâm sau / ngắm trước.
Lận dận / lao dao / phài sao / chịu vậy
Tới sô'! ăn mày / hị gậv / phải mang
Gái thương chổng / đương dông / buổi chợ
Trai thương vợ / nắng cpiái / chiều hỏm
Én hay thấp / miía ngập / hờ ao
En hay cao Ị mưa rào / lại tạnh
Những câu ca dao này đã có điệu buồn bã, ủ ê, đều đều và dài
thườn thượt của những tiếng khóc than nên ta chắc đã có từ thời ấy.
S ự í ỉ l Ẫ Y (ÌIỤ A TÌM LỐI TH O Á T
Trong tình thế den tối tột cùng â'y, người Lạc Việt nào cũng chỉ
dám đật hy vọng vào một phép mầu nào dó đến giải cứu cho. Có thể dã
có người đi lu tiên học đạo, mong có những pháp thuật cao cường để
dùng đối phó với quân Tàu. có thể đã có người không ngại hiểm nguy đi
Đốn 542
290
sâu vào rừns nl, hay vượt biển để cầu học ở xa. Cũng có thổ có người đã
không nề gian khổ gắng công tu theo bất cứ lối tu khổ hạnh nào, trong
thời gian lâu tới độ nào miễn luyện được một phép thần thông.
ở một xã hội nông nghiệp bán khai thì ta có thể chờ đón những
điều mà ngày nay coi là phi lý ấy. Kết quả có người nào thành công viên
mãn không? Ta không thấy nói. Nhung ta thấy có kết quả của sự tìm đạo
ấy, là sự du nhập của Ân Độ giáo Mật tông và Phật giáo Mật tông, hồi ấy
đương phát triến mạnh ở miền biên giới Ân Độ như Assam, Miến Điện,
Tây Tạng và lan tới vùng núi Ai Lao, Vân Nam. Thật trái hắn với điều
các tác giả phương Tây như Perrand, Coedès đã hiểu, chính người bản xứ
đi tìm đạo Phật tới, còn người truyền giáo đã không cần phải mưu mẹo
thủ đoạn gì mới truyền đạo được"’.
Người Lạc Việt đã rất thực tế và bắt buộc phải có tinh thần thực
dụng trong hoàn cảnh của mình để nhìn thấy ở phép tu của Mật giáo ấy,
cũng như ở sự thờ cúng có những gì để lự cứu và cứu cả dòng giống
mình. Ta hãy đọc sự tích chùa Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện
là những chùa cổ nhất của ta trong phả ký của chùa Đại Thiền, xã Phù
Ninh, phủ Từ Sơn (Bắc Ninh) .sẽ hiểu rõ. Theo phả ký thì Luy Lâu là nơi phủ trị của Sĩ Nhiếp. Qua đời Đào Hoàng làm Giao Châu mục thì phủ trị đã dời về Long Biên rồi.
Chính từ đời Đào Hoàng này (thuộc Tấn) trở di, người Lạc Việt mới
càng phải giẫv giụa để tìm lối thoát. Nên người la đã tìm về với Phật giáo
Mật Tông.
Lối thoát gần và thiết thực nhất là sao tránh dược nạn hạn hán mất
mùa. Nhất là ở vùng Kinh Bắc, Luy Lâu (Bắc Ninh, Bắc Giang) theo sự
nghiên cứu về thổ vũ gần đây của người Pháp thì mùa nắng mà bị chừng
mười ngày chậm mưa là vùng ấy coi như bị hạn hán và cày lúa chết hết.
Vì vậy, các chùa cổ, nổi tiếng linh thiêng để cầu đảo vũ như Pháp Vân,
Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện đều toạ lạc ở vùng ấy cả’^’.
Trong sách Lịch sử tưrướiií> Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục (tr. 66, 67, 68) có
nói đến những biến chuyển chính của giáo lý Phạt giáo. Đầu tiêu là con đường A La
Hán, tự lực giác ngộ. Sau tới con đường Quan Âin Bồ Tát của khuynh hướng giáo lý
Đại thừa sùng bái Tam thân Phật tổ, có thể giúp tha nhàn thành tựu cứu cánh giải
thoát. Và cuối cùng tới Mật giáo gán cho âm thanh, chủng tử, và câu kệ, lời chú.
một ý nghĩa ma thuật để xây dựng cá một siêu hình học về lễ nghi có khả năng
luyện thành nhũ’ng pháp thuật thần thông.
Dòng Phật giáo Mật tông thịnh hành ơ các xứ Đống Nam Á châu vào đầu CN.
Xem bài Nlìữnữ hội rước đảo vũ của Nguyễn Bá Lăng trong tạp chí Vạn Hạnh
số i s / l 1 - 1 - 1966.
300
Lối thoát thứ hai là trong cuộc quấy phá liên tiếp của Lâm ấp sao
cho thoát chết được khi bị phải phu phen, tạp dịch, phục vụ cho quân đội
Tàu ngăn giặc“ *. Điều này cũng hoàn toàn chỉ còn nhờ ở Tròi Phật che
chở, nếu không khôn lanh lán trốn được.
L O Ạ N H Ầ U C Ả N H
Lối thoát thứ ba là nghiên cứu "kỹ thực lực của người và của mình để
không manh động, trong khi lúc nào cũng nung nấu một ước nguyện thoát
vòng đô hộ. Cho nên, năm 420 nhà Tấn đổ vì Lưu Dụ cướp ngôi lập ra nhà
Tông, hưng khởi ở phương Nam, còn Nguy gồm thấy được Lưong, Yên, Hạ
ở phưong Bắc, nhưng chia đôi thiên hạ thành Nam Bắc triều (420 - 588)
quân đội Tấn chiếm đóng Giao Châu, người Lạc Việt đã khôn mà không nổi
dậy. Ca trong nhũTig dịp thay đổi triều chính liên tiếp của họ ở chính quốc,
cũng không nổi dậy nữa. Như Bắc triều thì hết Nguy đến Tề, Chu nối
nghiệp làm vua. Và Nam Irieu mà Giao Châu trực thuộc, thì hết Tống (479)
đến Té (501) Lương nối nghiệp trị vì dến 556 mới sang tay nhà Trần (557 -
587). Chính sự ở chính quốc đổi thay đã không làm thay dổi chế độ quân đội
chiếm đóng ở Giao Châu. Người Lạc Việt đã lại phái chờ dến năm 541 có
loạn Hầu Cảnh ở Trung Hoa ihi mới cựa mình nổi dậy.
Năm ấy là năm thứ 39 dời vua Vũ Đế nhà Lương.
Khi chiếm được nước của Tề, Lương Vũ Đế lèn ngòi đã giết hại các
tôn thất nhà Tề. Tiêu Báo Dần là một người trong hàng tòn thất ấy đã
chạy qua Nguy mượn binh vồ dánh bại. Sau Nguy có loạn chia ra Đông
Nguy và Tây Nguy thì tướng Đông Nguy là Hầu Cảnh cử binh làm phản
hàng Tây Nguy và xin quy phục nhà Lương. Lương Vũ Đế phong Háu cảnh làm Hà Nam Vương lại sai cùng với
con mình Icà Tiêu Uyên Minh đi dánh Đông Ngụy.
Uyên Minh bị tướng Đông Nguy là Mộ Dung Thiệu Tôn bắt, rồi
Thiệu Tôn lại tiến dánh Hầu Canh.
Háu Cảnh thua, chạy vào Nam chiếm luôn dất Thọ Xương.
Đến khi Nguy hoà với Lương thì Hầu Cảnh cử binh váy Kiến
L Ý BÔ N K H Ớ I N ÍỈH ĨA
Nghiệp, hãm Đài Thành, khiến vua Vũ Đế đói mà chết.
Thứ sử do vua Vũ Đế nhà Lương cử đến Giao Châu là Tiêu Tư.
Tiêu Tư vốn người tàn bạo. lại tầm thường, hèn hạ, chỉ lo chuyện vơ vét
nliữim cuộc xâm láng của Lâm A|-).
Xem chương
301
mà chểnh máng việc quân, nên khi Lý Bôn''^ nổi lên vây hãm phú trị
Long Biên thì đem vàng dâng cho Lý Bón để được thoát thân về Tàu.
Lý Bôn lên ngôi, xưng là Nam Việt Đế, lấy quốc hiệu là Vạn Xuân
và đóng đô ở La Thành tức là Hà Nội bây giờ, trị vì được 7 năm lừ 541
đến 548 thì bị quân Lương của Trần Bá Tiêu vây hãm ở Động Khuất Liêu
rồi bị bệnh rốt rét mà mất.
T R IỆ U Q U A N G P H Ụ C D ÙN G DU K ÍC H C H lẾ N
Quân Trần Bá Tiêu là đoàn quân được vua Lương cử đi lần thứ ba.
Hai lần trước, lần thứ nhất năm 542 các tướng dùng dằng không dám tiến
nên bị bắt về làm tội, và lần thứ hai (544) tướng chỉ huy chưa tới biên giới
đã bị bệnh chết. Lần thứ ba (545) mới có nhũng trận giao tranh kịch liệt,
mà cũng phải hai năm mới khiến nổi Nam Việt Đế rút về Khuất Liêu,
giao lại binh quyền cho tả tướng quân Triệu Quang Phục‘“'.
L Ý T H IÊ N B Ả O CŨN (Ỉ M U U Đ ổ K H Ô I P H Ụ C
Triệu đóng quân nơi dầm lầy Dạ Trạch thuộc Hưng Yên bây giờ
nên có tcn gọi Dạ Trạch Vương. Cứ đêm tối dùng thuyền dộc mộc đem
thuỷ quân ra đánh cướp lương thực và làm tiêu haơ lực lượng cúa dịch.
Cuộc chiến, sử khỏng chép rõ kéo dài mấy năm, chỉ biết Trấn Bá Tiên
không rút dược chân ra, trong khi ở Tàu có loạn Háu Cảnh, rất cần dến
Trán về giai cứu giá. Cuối cùng Trần cũng phủi về, trao lại binh quyền
cho tủ tướng Dương Sán. Triệu thừa dịp tấn công đuổi được quân Lương,
lấy lại thành Long Biên và lèn ngôi xưng Triệu Việt Vương.
Lý Thiên Bảo là anh họ vua Lý, khi bị quân Trần Bá Tiên dánh đuổi
dã chạy về phía Dạ Năng (Ai Lao bây giờ) chiếm dất này xưng là Đào
Lý Bòn còn có tên là Lý Bí, người huyện Thái Bình, thuộc Phong Cháu lức Sơn
Tây ngày nay. Vốn tổ tiên là người Tàu chạy loạn từ đời Hán qua Giao Chàu đến
óng đã được 7 đời. ô n g làm quan với nhà Lương coi Cửu Đức (Hà Tĩnh), ô n g liên
kết các anh hùng hào kiệt và được những nhàn tài kiệt hiệt như Triệu Túc (với con
là Triệu Quang Phục) và Tinh Thiền phụ tá. Tinh Thiền đã từng đốn triéu Lương
cầu cõng danh nhưng vì không thuộc dòng thê phiệt nên quan triều nhà Lương dìm
di, chi cho giữ chức Quang Dương Môn Lang nghĩa là một thứ quan giữ cửa cung
Quang Dương. Tinh Thicn bất mãn và quay vể phò Lý Bôn.
Có tài liệu cúa Maspéro nói rằng vua bị rợ Liêu hạ .sát đem đầu dâng Trần Bá
Tiên dể cầu hoà. Sử Tàu cũng chép là rợ Liêu giết nhà vua vào nãm Đinh Mão
(.‘Ĩ47). Madrrolle cũng nói vua bị giết vào năm này tại xứ Thái thuộc Tuyên Quang.
Hiện nay cách Tuyên Quang 10 cây số trên dường sang Yên Bái có dén thờ cùa vua
ờ trên núi, là chồ vua bị giết.
302
Lang Vương rồi chiêu binh mãi niã mưu đồ khôi phục. Khi nửa chừng,
Thiên Bao mất thì giao quyền cho cháu trong họ là Lý Phật Tử năm 557.
303
Lý Phật Tử về yêu sách Triệu Việt Vương quyền nối nghiệp họ Lý.
Hai bên có đụng độ với nhau mấy trận, cuối cùng giảng hoà rồi chia đất
cùng cai trị, cho đến năm 571, Lý I^hật Tử trở mặt thình lình đánh Triệu
Việt Vương khiến Triệu phải chạy đến sổng Đại Nha (huyện Đại An,
Nam Định) rồi nhảy xuống sông tự tử. Lý Phật Tử còn trị vì đến năm 602.
Những sự việc vừa kể kéo dài 60 năm lừ 541 tới 602, vừa đương
đường chiến đấu chống lại quân Lương, vừa đánh du kích tại đầm lầy,
vừa bôn dào ngoại quốc chiêu binh mãi mã về khôi phục, đủ chứng tỏ dân
Lạc Việt quyết liệt dấu tranh dế thoát vòng đó hộ.
Sự XÂY DỰNG NỂN MÓNG
CỦA PHẢT GIÁO THIỀN TÔNG
CHƯƠNG IV
róM Lược
Vì Phật giáo gặp pháp nạn ở Trung Hoa, pháp sư Ấn Độ Ti Ni Đa
Lưu Chi lui về Giao Châu trú tại chùa Pháp Vân hoằng pháp và dựng nên
dòng Thiền tông thứ nhất.
Chủ trương của Thiển tông
Đây là một biến cố trọng đại.
Nó chấm dứt thời trạng lẫn lộn giữa các khuynh hướng tín ngưỡng
hỗn tạp của Phật giáo thần thồng với triết lý duy thức, Bà La Môn giáo,
có phép tu Yoga cùng thần đạo, với những tứ pháp (vân, vũ, lôi, điện). Nó
nâng mục tiêu sự tu hành lên khỏi cái dích thực dụng bị tác động từ mê
tín dị đoan và mở ra một chân trời mới: tu để đến cõi Giác.
Phương pháp truyền đạo của Thiền tông
Hoá hợp cuộc sống kỳ bí ở nội tâm với cuộc sống kỳ bí ở vũ trụ để
đạt đến sự đồng linh cảm, linh ứng mà thấu suốt cuộc tuần hoàn cùng toả
tình thương yêu ra cùng khắp.
Nhà tu thiền đắc đạo
Bất lập văn tự, lấy tâm truyền tâm gây những va chạm mạnh về tâm lý cho môn đệ tự mình tìm tòi và tiến bước.
Nhà tu ngồi tù' bi lừ tại nên toả huệ tàm ra cùng khắp cho người đời
dịu lòng căm hờn hằn học xuống mà tin ở thiện tâm và nhân tính cúa
nhau, để đãi ngộ nhau là người tất cá.
305
Nhà tu ấy dã hết sức cần cho cuộc sống xã hội, dù không lao tác gì cả.
ở những năm cuối của đời Lý Phật Tử (580), Giao Châu, (gọi là
nước Vạn Xuân), đã gặp một duyên may là Phật giáo ở Trung Hoa bị Chu
Vũ Đế bách hại. nén pháp sư Ân Độ Ti Ni Đa Lưu Chi (Vinitarucci)
khỏnư hoằns pháp được, phái lui vé Giao Châu, trú tại chùa Pháp Vân
oiáng dạy Phật Pháp và dựna; nên dòn» Thién Tòng thứ nhâV’. dấy dòng Thiền bát dầu náy nò' ở xứ la.
Đây là một biến cố trọns dại.
Nó chấm dúl thời Irạnư nửa lỏi nửa sáng, lán lộn luns tunư giữa các
khuynh hướng tín ngưỡng hỗn tạp của Phật giáo thán thông với triết lý
Duy thức, của Bà La Môn giáo với phép tu Yoga, của thần đạo với những
Tứ pháp (Vân, Vũ, Lôi, Điện).
'"Trong sách Thicii học Việt Naiìi. Nguycn Đáng Tliục dã dẫn lời của Đại Nam
'ihién Uvêh Truyền Đăní> Tập Lục như sau;
Thicn sư Ti Ni Lưu Chi (\'initarucci) ớ chùa Pháp Vãn, làng cổ Châu (Bác Ninh
- Siêu Loại), thành Long Biên là người nưức Nam Thiên Trúc chùng lộc Bà La
Mồn. Thuở nhỏ đã ôm ấp cái chí khác dời, di khắp Tày Trúc dc cầu tâm â'n cua
Phật. Pháp duyên chưa gặp chống gậy tích trượng sang Đông Nam.
Đầu năm Nhàm Ngọ là năm thứ VI. niên hiệu Đại Kiến dời Trần Tuyên Đê (513)
mói dẽh Trường An. gặp lúc Chu Vũ Đõ phá diệt Phật pháp, ông muỗn dến dất
Nghiệp (Hổ Nam). Bấy giờd'am Tổ Tăng Xán vì cớ lánh nạn mang y bát dốn ẩn ở
IIÚI Tư Khóng. Ngẫu nhiên ỏng dược gặp Tổ. thấy cử chi khác thường dem lòng
khởi kính, dến trước mạt vòng tav ba lán. Tổ vẫn nhắm mát ngồi im khổng nói.
Trong lúc đứng chờ. suy nghĩ, ông khoát nhiên như có tâm dắc diều gì, ông licn cúi
lạy ba lạy. TÓ cũng chí gật dáu ba lán. ồ n g bèn lùi lại ba bước, thưa:
- Bây lâu dệ tử chưa dược có co' hội, xin Hoà thượng mử lòng dại lừ dại bi cho trò
này dược háu hạ bén mình.
Td nói: Con nên mau mau đi vổ phưong Nam mà giao tiếp, không nên ứ lâu tại dcìy.
Óng bèn từ biệt, dcn trụ trì ở chùa Chỗ Chí thành Quáng Châu. Nãm thứ sáu niên
hiệu Đại Đê dịch xong bộ kinh Tượny Dcải Tinh Xlí Kinh (Gaya Sul Sutra). Báo
Niihiệp Sai Biệt. Quãng tháng ba năm Canh Tý là năm thứ 11 niên hiệu Đại Tường
nhà Hặu Chu (580) ông mới sang nước ta. trụ trì ớ chùa Pháp Vân và lại dịch dược
bọ kinh 7V5/;g Irì (Mahayana vaipulya dharani sutra).
Một hóm óng gọi dệ tứ Pháp Hiền vào buồng mà báo:
Tăm ãn cùa chư Phật không có lừa dối. tròn vẹn như Thái Hư, không thừa, khòng
thiếu, không di, không lại, không dược, không mât, khổng gióng, không khác,
không thirờng còn, không gián doạn, vốn khống ncú sinh cũng không noi diệt,
khỏng xa cách mà khống ph;ii khỏng xa cách, chi vì dôi vói cái duyên lii vọng mà
phái dật ra cái tên gia ihuyếl dỏ thòi. Cho nèn các Phật trong ba thê giới cũng lấy
Tâm ấn như thố, dến la và ngirưi cũng dược Tâm iin nhu' thê, cho dến các loài hữu
tình, vò tình cũng dược Tám ân như thố.
Vii Tổ ta là Tăng Xán, hổi ấn cái lãm này cho la, có bao kíp dến phương Nam
giao tièp, không nên nán ná mãi tại dây. lừ bấy dốn nay ke dã lâu rồi. Niiy ta gặp
ngươi, quá hợp với lời ký chú, ngirơi nén khéo giữ lấy Tâm ấn, dến lúc ta di rồi dây!
Nói xong chắp tay mà inấl. Pháp Hiên làm lẽ hoả thiêu, thu lấy xá lị năm màu
dựng tháp. BâV giờ là năm Giáp Dần, là nãm thứ XIV niên hiệu Khai Hoàng dời
Tuv Vãn Đ ế (605).
306
N(5 nâng mục tiêu sự lu hành lên khỏi cái đích thực dụng do tác
động của mê tín dị doan và mở ra một chân trời mới: tu đế đến cõi giác,
để tự siái thoát mình và tinh thần mình khỏi những điều cố chấp (cả chấp
ngã lẫn chấp kinh, chấp pháp) cho tâm linh mình hoàn toàn trong sáng
mà nhìn thấy chân lý, cũns như hiểu chân lý và sống cái chân lý ấv.
Giữa xã hội den tối ở cuối thế kỷ thứ Ví sang đầu thế kỷ thứ VII,
con người dã mất lòng tin ở nhân tính của nhau. Nếu đạo siáo lại chỉ đê
làm phương tiện tranh đấu (dù là cho một chính nghĩa cao cả là giải
phóng) thì đạo giáo cũng vẫn dẫn thêm người vào sâu con đường mê lầm,
để oán cừu khêu gợi oán cừu. cái khổ vẫn không sao dứt được khỏi vòng
nhân quả liên miên.
Cho nên dòng Thiền lông khi đặt được nền móng ở Giao Châu thì
bôn cạnh nhũng ánh sáng từ bi của tôn giáo đã có cả một hệ thống triết lý
và một nhận thức quan lìm đến tận bản thể của mọi sự, vật và việc, mà
không ngừng lại ở hình danh sắc tướng bên ngoài.
Chủ trương căn bản của Thiền tông là hoá hợp cuộc sống kỳ bí ở
nội lâm với cuộc sống kỳ bí của vũ trụ. Trong sách Văn Học Việt Num
Thời Lv. chúng tôi viết:
Khi sự đồng linh cảm, linh ứng này đã diễn ra, người ta không còn
bị huyễn hoặc bởi hiện lượng giới, không còn bị luẩn quẩn ở những sắc
thái bề ngoài của chân lý, không còn lấy phương tiện Icàm cứu cánh, lấy
kết qua làm nguycn nhân, mà người ta cảm thông được với cả một cuộc
tuần hocàn của vũ trụ. từ những cái vô cùng lớn đến những cái vô cùng
nhỏ, ở hiện tại, ở quá khứ và ở vị lai. Người la không những hiểu cuộc tuần hoàn ấy. Người ta thấy cuộc tuần hoàn ấy, và sống cuộc tuần hoàn ấy.
Và khi đã sống thực cuộc tuần hoàn ấy, người la vui được với cái
vui của muôn vạn chúng sinh, buồn được với cái buồn của muôn vạn
chúng sinh, đau đớn được với cái đau đớn của muôn vạn chúng sinh'"
khiến người ta toá được tình thương yêu ra cùng khắp và nlùn thấy được ử
cùng khắp, lình thương yêu mà người ta gọi là phật tính.
Có thể nói Thién tông là một tông tiêu biểu cho tất cả các tông của
Phật giáo. Đó là một tỏng đã nói dược ra lời tối hậu của Phật giáo về bản
thể của vũ trụ'^" một tông vượt lên trên Duy thức tông, coi hoàn vũ chỉ là
Chúng sinh là gồm tất cá những sinh vật trên thế gian và tất cá những vật mà
người ta quen cho là vô tri giác.
Một bác sĩ người Mv là Saưndcrs có bàn về Thiền tông như sau:
“Thiền tỏng không phái là bài duy tâm luận một cách tuyệt đối (absolute
idealism) cũng không phái là bài hư vỏ luận một cách tuyệt đối (absolute nihilism)
Ông Khuê Phong nói rằng: “nếu tâm và cánh dều không có cả thì ai là người
307
ảnh tượng của một cái đại hồn (một đại hồn bàng bạc khắp tất cả. từ trong
lòng ngọn cỏ lá cây, cho đến khắp không gian vô hạn).
Từ quan niệm đại ngã về vũ trụ đó, người ta đã đến quan niệm đại
ngã về nhân sinh, coi bản ngã của cá nhân chỉ là một với đại ngã của
hoàn vũ. Mỗi con người vừa là một giọt nước trong đại dương của hoàn
vũ mà cũng vừa là cả đại dương đó.
Trong mỗi con người đều có tàng chứa củ Vô cùng, và một khi con
người tàng chứa Vô cùng thì cái sống của nó phải hoà nhịp, phải cảm
ứng, phải đồng nhất với Vô cùng.
Chính Thiền tông dã dùng quan niệm của Duy thức tông nhưng lại
vượt lên trên một bậc để nhận chỉ có một đại ngã và nhận vạn vật đồng
nhất thể"'
BẤT LẬP VĂN Tự
Thiền tông chủ trương bất lập vãn tự, lấy tâm truyền tâm.
Thành ra chỉ có thể dùng trực giác thông cảm thì mới mong hiểu
được phần nào, còn dùng đầu óc và phương pháp duy lý bây giờ thì
không sao mà “thể” được đạo.
biết được là không có ấy? Lại nếu khống có pháp gì là thực thì do đàu mà hiện
ra những cái hư vọng kia? Vả hiện thấy những vật hư vọng của thế gian kia, khổng
cái gì mà không phải nhờ có thực pháp mới thành ra được. Như không có nước là
thứ lính ướt và không bao giờ thay đổi kia thì sao có .sóng là cái giả tưởng hư vọng
nọ? Như không có cái gương trong sạch và không bao giờ thay đối kia, thì sao cỏ
những cái btíng khác nhau nàv? Lại như mộng là hư vọng đấy nhưng nó phái do ỏ
người ngù say mà ra. Bày giờ cho tâm và ánh dều là không thì mộng ấy sẽ nhân đâu
mà vọng hiện ra được? Đó là lời thiên Nguyên nhân luíẬn trong kinh Hoa nghiêm
bác cái thuyết tâm luận vậy
Thực ra thì Thiền Tống
là một bài thực tại luận (Panthéistic-rolism) về chủ
nghĩa vạn hữu nhất thể”.
Thuận Đức Lý Siêu Nhứt dịch chữ Nho.
Đồ Nam Tứ dịch quốc ngữ đăng ở Đuốc Tuệ từ số 90.
Nhưng sau đó người ta cần biết rõ ban thể cúa cái dại ngã đó cũng như trông dại
dưcrng chưa đủ, mà phái nếm vị nước mặn của dại dương.
Song bản thể của đại ngã không giống mọi vật mà ta thường quan niệm nên
không thế lấy lời mà tả hay lấy trí mà tưởng dược mà chỉ có trực giác, chí có hoà
mình làm một với cái vô cùng, với cái đại ngã dó.
Cho nên Thiền Tông chủ trương bất lập văn tự Vcà chi dùng phép tâm truyền, chí
dùng sự yên lặng mà dạy.
Dĩ nhiên là nhiều khi VÌ phưtmg tiện những người trong phái Tliiền Tông cũng phải
thuyết pháp, nhimg lời nói ra chi là tạm và lời nói cuối cùng vẫn là sự yên liặng.
308
Trong lời dẫn sách NỊịhiên cứu vê Ramana MaharsM‘\ Jean
Herbert đã viết:
Maharshi cũng như hầu hết những vị Phật sống, đã nhận thấy râníỊ:
Tiếng nói và mớ hiểu hiểt của người ta dính Hên với tiếnu, nói ấy chỉ lù
những khí cụ thỏ so' có thể giúp dược cho ta vào đạo và hướng dẫn những
hước di dầu tiên của ta trom> CỎIU> cuộc tìm dạo; nhưng dến những chặng
tiến hoá sâu xa hơn thì nó hoàn toàn hất lực. Sự V thức về nhất nguyên, vé
chân như chì có thể truvền cho nhau troníỊ im lặmị. Vì tất cả tiếng nói
của loài mịười dến lúc ấv chỉ khiến sai hiệt chán tướng của nó mà thôi...
‘‘‘'Nhrmg lời nói của Ngài, trà lời cho những câu hỏi, hay dứng hơn
là trả uyi cho nhữm> trạiiíị thúi tinh thần mà Ní^ài nhận thây ở nơi n^icời
hỏi phần nhiều là có mục díclĩ ÍỊÙV cho ìUỊười ấy một va chạm, dể khiến tự
mình tìm ròi thêm và tiến hước...
“5'// tiến hước trên con dư(yfĩí> tìm dạo này, dối với Ní>ài, lại có tuỳ
trình dộ và tuỳ nhân duyên của từng ngưcyi mà khác di. Mỗi m>ười đều được
hoàn toàn tự do, hiểu theo lối của riêng mình những lời dạy của Ní>ài...
'"Ngay dối với kinh Ulladu Narpadu của Ngài, dã có một sô hết sức
lớn nhữníị hàn dịch khúc hẳn nhau (ở lời cũruị như à từnq đoạn thơ), hoặc
hằng tiếmị Phạm, tiếm’ Anh, tiếng Pháp háy hằng những tiếng mới của
Ẩn Độ nlỉinu> chắc chắn khômị có hdn nào lại hị tác giả là chính Ní>ài
coi là sai với ý của mình".
Phép truyền dạo của vị Phật sống mới ấy ở Ân Độ quả không khác
chút gì với phép truyền của ngài Ti Ni Đa Lưu Chi (594), vị tổ Thiền tông
ở Quáng Châu qua truyền cho Pháp Hiền thiền sư (605) ở nước ta'"*.
)|) Nhà xuất bán Adyar, Paris, 1949, trong loại sách Nlĩữn^ bậc thầy vê rinh thần
của Ân Độ hiện đại.
Sách Việi Nam Phật giáo sử lược của Tliượng Toạ Mật Thể trang 84 có chép:
“Nhị tổ phái Thiền tông ở nước ta là Pháp Hiền Thiền Sư. Ngài họ Đỗ, quê ở quận
Chu Diên (tính Sơn Tây bây giờ) khi mới xuất gia thọ giới vứi Quang Diên đại sư ở
chùa Pháp Vân. Đến khi Ti Ni Đa Lưu Chi ở Quảng Châu qua nước ta, tới chùa
Pháp Vân, thấy ngài thì nhìn kỹ vào mặt mà nói:
- Chú họ gì?
Pháp Hiền đáp:
- Hoà thượng họ gì?
Thiền sư lại hỏi lại:
- Chú không có họ à?
- Sao lại không có? Nhưng đò' Hoà thượng biê't.
Thiền sư quát to lên:
- Biết đê làm gì?
3 0 9
N H À T U T H IỂ N Đ Ắ C Đ Ạ O
Phép truyền đạo của Thiền tôna là như thế. Khône phải truyền một
mớ hiểu biết hay một mớ kinh kệ cho người ta thuộc làu làu rồi đi mà
khoe khoang trong cõi tục khiến cái vỏ tiểu ngã càng dầy đặc thêm,
không phá nổi để giải thoát mà nhập với đại ngã.
Theo những nét dại cương vừa dẫn thì nhà tu có thể đác đạo và tự
giải thoát mình ngay khi mình vẫn còn sống. Điều ấy cũng khiến nhiều
người muốn hỏi liệu vai trò của nhà tu đắc dạo ấy là có ích hay vô ích
trong xã hội? tích cực hay tiêu cực? Hữu vi hay vô vi? Trong sách Văn
học Việt Nưm th('n L\\ chúng tôi đã trả lời:
Một vị dại dức chân tu dã dắc dạo, có thâ nói là một háu vật trời
dành cho một dán tộc. Một ììịịưíyi ấy ngồi từ hì từ dại (vô vi như một
tượng gỗ) mà khiển người muôn nghìn người khác sống hớt tội lỗi di, noi
theo gương ấv cài mà lòng mình và hớt khe khất với người, hớt căm hờn
thù oán của trần giới dể ngưỡng vọng những tư cách gì cao cả dẹp dẽ của
con người có thực ngồi tại dó như một vị Phật sống, ngưỡng vọng những
Niết hùn, Thiên Trúc, có ílìể là những nưi Cực lạc do người ta tưởng
tượng ra, nhưng dể ngưíìi ta hằng ngàv tự mình lùm quan toà mà tự xử
nluĩng hành vi thiện ác của mình, de xứng hay không xứng hước chân tới
nơi Cực lạc dó.
Vị dại dức ấy quả dã như một hậc thầy tinh thần của .xã hội ở những
chỗ mà mắt người vô tình không trồng tlỉấv (như từng dã không trông
thấv chân móng của cái lâu dài vậv).
Sự ra đời và có mặt trên cuộc đời của vị dại đức ấy, có thể nói, là
một sự kết tinh của một cái cộng nghiệp của toàn cả xã hội. thao thức và
ngưỡng vọng những gì là ý thiện và dạo lý. Đó là một danh dự cho xã hội.
Pháp Hiền chợt hiểu ý ngài Ti Ni Đa Lưu Chi. liền sụp xuống'lạy xin iheo làm
đệ lử và sau được truyền tam âh.
Câu chuvện ấv chí chép đúng lại mà không giải Ihích thì người cíọc có thể sẽ
không hiếu gì hết.
Hỏi một người tu đạo " Chú họ gì?”, ấy là muốn thứ xem ngươi ấy đã nhập vô
sắc giới mà lòng thì liệu có còn bị những sắc danh của trần tục huyễn hoặc nữa
chăng.
Chú tiếu trá lời có, lại còn tha thiết muốn hỏi lại hoà thượng có không, lại còn
làm như cái họ là một cái gì quan trọng lắm đê’ chú đố hoà thượng biết. Như vậy là
chú hãy còn mê, cho nên thiền sư quát to lên: “Biết để làm gì?”.
Tiếng quát ấy đã khiến Pháp Hiền sực tinh quỳ mọp xuống lạy xin theo làm đệ tử
và sau được truyền tâm ấn. Tiếng quát ấy đã thay đổi cá một đời người cúa Pháp
Hiền vậy.
3 1 0
Dù trước con mắt lệch lạc về chủ nghĩa thực dụng nào đi nữa, cái danh dự
xã hội ấy cũng vẫn hơn hình ảnh cúa nhứng “anh chị chiến sĩ hữu vi và
tích cực” lắm, nhưng dể day tay mắm miệng và mưu mẹo xúi giục kẻ này
người khác nghi ngờ, tranh đấu và căn hờn, thù oán lẫn nhau.
Cho nên từ chu kỳ lịch sử lấy đạo đức làm cơ bản cho cuộc sống về
mọi khía cạnh của xã hội, tiến sang một chu kỳ lịch sử lấy kinh tế làm hạ
tầng cơ sở, lấy văn hoá đạo đức làm thượng tầng kiến trúc và nghĩ cho
vãn hoá ấy bị quy định bởi cái hạ tầng cơ sở về kinh tế kia. ta có cảm
tưởng như loài người đương rủ nhau lao mình xuống vực thẳm.
Biết baò nhiêu sự đđy ải lẫn nhau đã xảy ra giữa loài người kể từ giờ
phút dáo lộn ấy. Biết bao nhiêu nhục nhã mà loài người đương phải chịu
dựng chỉ vì những giá trị tinh thán cũ bị mai một hết đi dế cho những giá
trị vật chất múa may quay cuồng mà dẫn dắt xã hội từ hết tội lỗi này
sang tội lỗi khác trong cái vòng vô minh càng lúc càng dày đặc.
Song điều đáng sợ cho xã hội loài người chẳng phải là sợ mất ngôi thứ
của một nhà tu hành. Nhà tu ấy dã vong kỷ thì còn giới ý gì tới sự người ta
trọng hay khinh, yêu hay ghét mình? Điều đáng sợ cho xã hội loài người Icà
sự mất lòng tin ở phần lốt của nhau và còn lòng tin của phần xấu của nhau.
Một xã hội mà đến như thế là một xã hội đã sa đoạ cùng cực.
Bởi vậy ta kể sự xây dựng nền móng Thiền tông như một biến cố trọng dại.
Trong tạp chí Tư tưởìiiị số I, tháng 3 - 1972, cơ quan ngôn luận của
Viện Đại học Vạn Hạnh, Lê Mạnh Thát, trong bài: Góp vào việc Nohiên
cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam thếk\' thứ năm, có dựa vào sách Tục Cao
Tăng Truyện của Đạo Tuyên người Tàu, viết xong khoảng 645, và nhận
ra tiêu sử hai vị cao tăng của ta người Giao Chỉ, là Huệ Thắng và Đạo
Thiền. Hai vị này sống đồng thời với tổ Bồ Đề Đạt Ma.
Huệ Thắng sinh khoảng 432 - 439, tu ở chùa Tiên Châu Sơn theo
học quán hạnh với luận sư Đạt Ma Bồ Đề. Năm 479, Lưu Hội của nhà Tề
cử binh ra lấy Nam Hủi cỏ nghe tiếng dã mời khéo Huệ Thắng về Giang
Đô. cho đến tu ớ chùa u Tê, núi Ngưu Đầu huyện Thượng Nguvên, rồi
sau đó 8 năm lại về chùa Duyên Hiền, núi Chung Sơn. Sau tịch không rõ
ở đâu thọ 70 tuổi.
311
Đạo Thiền sinh khoang 457, mâ't năm Đại Thông, đời Lương Vũ
Đế, khoáng 527, cũng tu ở chùa Tiên Châu Sơn. Năm 487, Tử Lang con
vua Tề Cao Tổ qua triệu thỉnh ngài vể Kim Lăng giảng nói Phật pháp.
Ngài đến ở chùa Vân Cư Hạ của Chung Sơn cùng một lúc với Huệ Thắng,
điều khiển và dạy dỗ tăn? chúng không bao giờ dưới vài trăm và quy y
cho hơn ngàn cư sĩ.
Cả hai vị này đều là cao tăng tu trì khắc khổ theo nếp tu khổ hạnh
của Phật giáo Việt Nam, quấn y và xin ăn, săn sóc đến kẻ nghèo và dau
yếu, đã thực hiện việc hoàng pháp ở miền Nam Trung Hoa, khi bị kẻ cầm
quyền mời qua (tức là bắt qua).
Huệ Thắng tụng kinh Pháp Hoa ngày một lần, học quán hạnh do Bồ
Đề Đạt Ma truyền đạt cách thức của trường phái Duy Thức An Độ. Đạo
Thiền khi ở Tàu, truyền giảng kinh sách hay cho mọi người “từ ngàn dặm
ruổi xe đến Kim Lăng” lại luôn luôn dùng luật Thập Tụng để điều khiển
tăng chúng. Những sự việc ấy xảy ra trước khi Ti Ni Đa Lưu Chi qua Giao Châu
năm 594 và truyền tâm ấn cho ngài Pháp Hiền năm 605.
Như vậy, chưa hẳn nền móng Thiền tông đã có từ đời Ti Ni. Mà
trước nữa, từ Huệ Thắng và Đạo Thiền, đồng thời với sư tổ Bồ Đề Đạt
Ma, ở Giao Châu đã có nền móng Thiền tông rồi.
312
Nếu sử dựa vào Ti Ni Đa Lưu Chi, lấy gốc của dòng thiền thứ nhất
bắt đầu từ đó thì hoặc là thiếu sót cần cải chính, hoặc là kể từ đó mới có
tổ chức thành dòng tu riêng chàng?
DƯỚI QUYỂN CAI TRị
CỦA NHÀ TUỲ VÀ ĐƯỜNG
CHƯƠNC; V
TÓM LƯỢC
Sùng thượng Phật giáo
Vua Đường cử pháp sư Trần Huyền Trang đi Tây Trúc thỉnh kinh.
Các sư người Giao Châu cũng được vua và nho sĩ vì nể và trọng vọng.
Còn những bài thơ của các danh sĩ đời Đường làm để tặng các vị sư của
Giao Châu khi họ qua thăm hay khi các sư sang tận cung vua Đường
giảng kinh thuyết pháp. Lại có cả những đoàn truyền giáo mà các sư Giao
Châu tham dự, toàn những người đạo cao đức trọng, biết cả chữ Hán lẫn
ch ũ’ Phạm.
Cải tổ nền hành chính
Chia thêm nhiều châu huyện để tập quyền về trung ương của đô hộ
phủ, bớt quyền dịa phương và quan văn cai trị gần dân hơn, quân nhân
bớt nhũng nhiễu.
Các quan lại cai trị
Phần nhiều có vdn tài, khéo biết cách lấy lòng dàn lại dám thẳng tay
trừng trị những võ quan nhũng lạm.
Các danh sĩ người bản xứ
Có người làm quan tại triều đình, giữ những chức gần như tể tướng.
Có người dược người Tàu mến và giới thiệu như chung đúc bởi khí thiêng
sông núi. Có người ẩn danh làm thơ công kích chính sách của nhà Đường.
3 1 3
Chúng tỏ rằng chính sách cai trị của người Đường có cởi mở hơn trước.
Giặc Đổ Bà
Giặc xâm lăng năm 767, đi đường thuỷ theo cửa Thần Phù lên sông
Đáy rồi từ mạn Sơn Tày đánh xuống. Sau khi dẹp được giặc, kinh lược sứ
Tàu cho đắp La Thành vồ phía Tây, Tây Bắc. Chứng tỏ rằng đường sông Hồng qua Bạch Đằng và cửa Nam Triệu
chưa tiện lưu thông.
Giặc Nam Chiếu
Giặc xâm lăng nhiều trận. Trận cuối cùng (863), giặc cưdrp được Giao
Châu, đô hộ phủ phải lui về Tàu. Giặc giết hại 15 vạn dân trong thành.
Việc ấy làm giảm uy tín của quân dội Trung Hoa trước mắt người
bản xứ. Thêm những chứng nghiệm về tài ba xuất sắc của người mình,
người Giao Châu hết mặc cảm lự ty đối với Trung Hoa lại còn cười cợt
và chế giễu nữa. Dòng tu Thiền với những nhà tu dạo cao dức trọng đã ánh hưởng
đến quan lại và chê dộ cai trị của nhà Tuỳ và nhà Đường.
Nhà Tuỳ nổi lên trị vì ở Trung Hoa sau nhũng trận chiến kinh
khủng của thời loạn Thập Bát Phản Vương, dùng vũ lực mà thống nhất
được toàn cõi năm 589, nhưng trị vì không được lâu, chí 26 năm, đến
năm 617 thì dất nước sang tav nhà Đường.
Trong đời Tuỳ, năm 602, vua Tuỳ Văn Đế sai Lưu Phương đem
quàn 27 doanh sang dánh Giao Châu, dụ được Lý Phật Tử ra hàng và định
đặt trở lại dược nền dô hộ. Đến năm 605, vua lại sai Lưu Phương liến vào
đánh Lâm Ap, đến tận quốc đô. Vua Lâm Ap Phạm Phàn Chi phải bỏ
chạy. Uy vũ của Tuỳ ở trong và ngoài nước như vậy nhưng cũng chỉ là cái
công mở lối cho nhà Đường thừa hưởng và ngự trị. Vì Đường còn hùng
cưímg hơn. Đường đã bình định được mọi gốc loạn, thu mọi cõi về một
mối, lại liên miên đánh Đỏng dẹp Bắc, diệt Đòng Đột Quyết, dẹp fợ Hồi
Hột. rồi đánh chiếm Cao Ly, hàng phục Thiên Trúc, bình định các nước
Tây Vực, mở rộng bản dồ Trung Hoa ra dến chưa hồi nào được như thế.
Nhà Đường trị vì Trung Hoa lâu tới gần 300 năm, từ 618 tới 907. So
với các triều đại khác, thì dây là một triều dại thái bình thịnh trị hơn cả,
nhất là ở đời vua Đường Thái Tông (627-649).
SÙNC; THƯỢNÍÌ PH ẬT (ỈIÁO
314
Vua Thái Tông vì việc chinh chiến giết hại sinh linh quá nhiều
cũng có ý hối hạn và lo cho kiếp lai sinh nên ước được có kinh Phật để
cúng siêu độ cho các oan hồn. Vua dã cử nhà sư Huyền Trang sang Thiên
Trúc để ihính kinh. Thây Huyền Trang đi và ở lại Thiên Trúc 17 năm, qua
rất nhiều tiểu quốc được tất cả các Quốc vương tôn trọng, khi về đã đem
theo về được 657 bộ kinh, rồi lại luôn trong 18 năm (645 - 663) tự tay
dịch được 73 bộ, cộng 1330 quyển.
Nội việc ấy cũng đủ thấy vua và triều đình sùng thượng Phật thế
nào. Không có tài liệu để biêt rõ số chùa chiền được xây dựng và số táng
sĩ ở Trung Hoa là bao nhiêu.
Riêng đối với Giao Châu, từ 479 người Trung Hoa đã biết là nơi tiện
đường về đất Phật và cơ sở tôn giáo đã có nhiều, cũng như đã độ được nhiều
nhà sư (1) và'đạo thiền đã được chính truyền từ nhà sư Thiên trúc Ti Ni Đa
Lưu Chi nãm 594, thì sự vị nế dân Lạc Việt cũng bắt đầu có.
Đè minh chứng điều ấy, đây là bài thơ do một thi nhân hữu danh
đời Đường thòi Võ Hậu là Thẩm Thuyên Kỳ sang Giao Châu trị nhậm ở
chàu Hoan. Năm 685. ông có đến viếng chùa Sơn Tĩnh ở Cửu Châu
(Thanh Hoá) và làm để tỏ lòng kính phục Vô Ngại Thượng Nhân.
Đại sĩ sinh Thiên Trúc
Phún thân hoú Nhật Nam
Nhân triim> xiiất phiền não
Sơn hạ tức già lam
Tiên giãn hươm> vi sát
Nguy phong thạch túc am
nần thnvên thanh cốc nhũ
Klìiiv giảng hạch viên tham
Đằng ái vân gián hích
Hoa thê thạch hạ dăm
Tnvền hành n cnng hảo
Lâm qncỉỉ dục V kham
Đệ tử ai vô thức
Y vương tích vị dàm
Siên nhiên Hổ khê tịch
Chích thụ hạ hư lam
Nội dung bài thơ coi Vô Ngại Thượng Nhân như một vị Phật sống,
một đấng hoá thân của Phật, thoát mình khỏi cánh phiền não của người
đời và sống hoà mình với thiên nhiên làm một thể.
Bài thơ có nghĩa là:
(II Xem lời của Đàm Thiên pháp ,sư làu cung Hoàng hậu vợ vua Tề Cao Đế.
315
Đấng đại sĩ (kiếp trước là Phật) sinh ở Thiên Trúc
(Kiếp này) hoá Ihàn sinh ở Nhật Nam
và đã thoát vòng phiền não của cõi tục.
(Đi xuống) dưới núi (thì thấy) toà già lam
Cất ở nơi ngọn núi đá cheo leo
Dưới có một khe nhỏ nước chảy lững lờ
Chim xanh còn non yếu ngồi chầu hầu (khi ngài)
tham thiển
Vượn trắng (đã già) thì lắng nghe lời giảng kinh
thông suốt (của ngài)
Mây quấn quít lấy vách đá dựng (không muôn rời ra)
Hoa (rụng) dưới chân núi (còn) vương vấn trong đầm
(không chịu trôi đi)
Suối chảy từ nguồn xa.trong vắt
(lại sán) cây rừng để hong áo giặt (cho hết bụi trần)
Đệ tử thật lấy làm đáng thương mà không biết
Và tiếc không được hầu chuyện Y vương
(trước) dòng nước phẳng lặng ở khe Hổ Khê
(mà trên là) khí núi bốc lên khoáng hư không, (đệ tử
chỉ được đứng như) một thân cây (buồn tủi)
Một nhà thơ khác là Trương Tịch cũng có bài thơ sau đây tặng
Nhật Nam tăng:
Dộc hướn^ sơn trung lão
Tùng môn bổ lưỡng nhai
Phiên kinh thượng tiêu diệp
Qiiâi nạp lạc đằng hoa"'
Thứ thạch tân khai tỉnh
Xiivên lâm tự chủng ma"'
Thời plìùní’ Nam Hải khách
Man m>fí ván thuv gia?
Bài thơ có nghĩa là:
Một mình ông cụ già tu ở trong hang núi.
Có hai cây tùng đứng trấn lối vào động'‘’
Kinh Phát hiên trên tàu lá chuỏT^’
(II Sách Lịch sửtưtựàníỊ Viêt Nam của Nguyễn Đăng Thuc trang 83 chép là Bài nạp
và tự chúng trà, e rằng tập Toàn Đường Thư chép sai. v l bài iTbầy xếp không noi
đưỢíi: ý dây hoa như cnuoi ngọc treo làm áo nhà tụ. Và trà chỉ là một loại cây dùng
uốiig chơi, không hàm dươc y giống gai may áo dể dcm sắc phục chò loấi người.
*■’ hnếu hình thức rằng có liai canh cỉra tùng đóng lại là sai.
Tức là ngài nhìn tầu lá chuối bay lật đi lặt lại ííià đọc được lời kinh Phật.
316
,;(I)
Dây hoa treo quanh người làm áo cho ngài*
Ngài xếp đá xây một ngòi giếng mới‘“*
Xuyên qua rừng rậm tỉa giống gai*’’
Khi có người khách Nam Hải tới gần
(Thì ngài) hỏi (bằng một giọng lơ lớ như) liếng Mường
ràng; Ai đấy?
Nội dung bài thơ cũng lại tôn trọng nhà tu như một vị Phật sống.
Không những thế, chính vua Đường triệu thỉnh những nhà sư Giao Châu
sang tận cung vua giảng kinh thuyết pháp (cố nhiên bằng tiếng Tàu) nữa.
Thi sĩ Dương Cự Nguyên đời Đường ấy đã tặng Pháp sư Phụng Đình bài thơ như sau;
TỐN(; PHỤNG ĐÌNH PHÁP s ư QUY AN NAM
Cô lì ươn íị Nam Việt ngoại,
Vạn lý hạch vân phong
Kinh luận từ thiên khứ,
Hươm> hoa nhập hài phùng
Lộ đào thanh phạm triệt,
Thần cúc hoú thành trùng,
Tâm dáo Trư('m^ An mạch
Giao Châu hậu dạ chỉiní>. Có nghĩa là:
Quê nhà của Ngcài ở Nam Việt cỡi ngoài
Trên đường vạn dặm gió (duổi) mày tráng
(Thói thế là) những lời giảng về kinh và luận đã xa
vắng (Thiên triều) (Những lời như) Hương và hoa gặp biển cả đã thấm
nhập với nhau. Cò bay trên sóng nước in hình trong suốt lên nền
trời xanh
Sáng sớm mặt trời mọc mà toà lầu (nơi Ngài vẫn
tụng kinh) lặng lẽ trống trơn cả.
c a ụ r i n i i i í i u i ư c , ma pnai meu meo ngma mọng irưng cua loan oai. BƠI inơ aa cno
biéì ngài tu mỏt mình trong núi, hÌLi đến độ quên ca liếng niiuời, gặp khách Nam
Hải thi dùng giọng lơ lớ như giọng Mường ma hỏi: Ai đâ>?.’ Ìhì ngai còn hùng hục
lăn đá khơi giềng yà tỉa gai như mọt lao công để làm gì nữa?
Cá cái ý nói vô lời trên lầu lá chuối cũng phái nhợ rằng thi sĩ xưng tụng ngài đã
là Phật nói ra kinh, chứ không phải chí là một môn dồ để lo việc chép KÌhhr
317
(Thôi) lòng (nsười mà có) đến được Trường An (về phía bắc nữa).
(Thì cũns chỉ bằng) một tiếne chuông lúc đêm tàn từ Giao Châu (gióng lên)
Toàn bài nói lên cái tình đậm đà thắm thiết của thi sĩ đối với Pháp
sư cùng nỗi nhớ chân thành cho đến tướng bóng Ngài đi ngoài biển mà
thấy cái gác nơi Ngài vẫn ngồi tụng kinh buổi sáng trở nên lặng lẽ và
trống rỗng vô biên. Và câu kết ước ao rằng lòng ngài tưởng đến Trường
An thì hãy gióng lên cho một tiếng chuông lúc đêm tàn ở Giao Châu.
Tmh thắm thiết của thi sĩ cổ Đảo liễn pháp sư Duy Giám khi sang
giảng kinh về cũng không kém Vcà đặc biệt còn ghi dấu tích Ngài giảng
kinh cho chính vua ngồi ở giường ngự nghe nữa. Bài thơ như sau:
TỔNG AN NAM DUY (ỈIÁM PHÁP s ư
Giíỉm> kinh xuân diện lý.
Hoa nhiễu lUỊự.sàng phi.
Nam hải kv hổi quá
Cựu sơn lùm lão quy.
Xúc plĩomị hương tổn án
Lộ vũ khánh sanh V.
KlìómỊ thiiỷ ký như hỉ
Vãìu> lai tiêu tức hv!
Có nghĩa là:
(Ngài) giảng kinh ở trong Xuân Điện.
(Mùi) hoa thơm (dâng cao, bay) quấn quýt lấy giường ngự (của vua)
(Bây giờ) Đường Nam Hải trở về lối cũ
Đến ngọn núi xưa của Ngài
Gió táp mùi hương (nhớ nhung) làm mòn cả án (nơi ngồi trông theo nhau)
(Trong khi) mưa trên đường mừng vui lúc gặp mặt (chắc làm lem cả) áo
(Trông ra) trời và nước đều một màu lần nhau cá.
Tin tức đi lại biết bao là xa xôi!
Triều đình vua và quan cùng kẻ sĩ của nhà Đường đối với các nhà
sư Giao Châu đã tràn trọng đến như thế, lại còn để các nhà sư ấy dự vào
các đoàn truyền giáo nữa.
318
Theo Trần Văn Giáp thì về đời Đường có ba doàn truyền giáo ỏ An
Nam. Đocàn thứ nhất có ba người Tàu, đoàn thứ hai cũng có ba người Tàu
và một người Trung Á. đoàn thứ ba đáng chú ý hơn: có 6 pháp SU' An
Nam và bốn người Giao Châu’(Hà Nội và Nam Định) và hai người Ái
Châu (Thanh Hoá bây giờ).
Mấv vị trong đoàn thứ ba là Vân Kỳ thiền sư, Mộc Xoa Đề Bà,
Khuy Sung pháp sư, Huệ Diện phap sư. Trí Hành thiền sư, Đại Thặng
Đăng thiền sư.
Theo lời dẫn trong sách Việt Nam phật giáo sử lược thì:
1. Vân Kỳ thiển sư: Ngài ở Giao Châu thường đi du lịch nước ngoài
với ngài Đàm Nhuận (Pháp sư người Tàu) thông hiểu chữ Phạm có trú ở
Thất Lợi Phật Xá. Ngài thọ chìmg 30 tuổi.
2. Mộc Xoa Đề Bà: Ngài cũng người Giao Châu, không rõ tên thật là
gì, dã vưọt Nam Hải và di khìip các xứ. Khi đến Bồ Đề Đạo Trường, ngài
cúng dường Xá Lợi rồi tịch, thọ dược 25 tuổi.
3. Khuy Sung pháp sư: Ngài cũng ở Giao Châu, đệ tử của ngài Minh
Viễn (Pháp sư người Tàu) tên chữ Phạm là Chất Đạt Đa Đề Bà (Citra
Dcva) cùng ngài Minh Viễn đi đường bể tới dảo Tích Lan rồi qua Tân ấn.
Ngài bẩm lính thông minh và bặt thiệp, hiểu hết các kinh điển chữ Phạm.
Khi đốn thành Vương Xá (Kuồagarapuca) sau khi tham yết Bồ Đề Thợ.
ngài lâm bệnh và tịch trong vườn Trúc Lâm, thọ 30 tuổi.
4. Huệ Diện pháp sư: Ngài cũng ở Giao Châu đệ tử ngài Vô Hành
(pháp sư người Tàu) đi qua Tích Lan rồi trú luôn ở dó. Ngài lịch vào năm
nào không rõ.
5. Trí Hành thiển sư: Ngài cũng ở Ái Châu, tôn chữ Phạm là Bát Nhã
Đc Bà (Prajina Dcva). Ngài qua Trung Âi và hành hoá khắp nơi. Khi đến Bát
Kinh Già (Ganga), ngài nghi luôn ử chùa Tín Già và tịch ở đó, thọ 50 tuổi.
6. Đại Thặng Đăng thiên sư; Ngài cũng ở Ái Châu, tên chữ Phạm là
Na Ga Gia Na Bát Địa Dĩ Ba (Mahâyâna Pradipa). Lúc nhỏ ngài đi theo
sứ gia là Diệm tự về kinh dò Trung Quốc, thọ giới ngài Đường Huyền
Trang. Ngài thông hiểu nhiều kinh diển, quyết chí đến Bồ Đề đạo tràng
tham lễ nên muốn vưọl be qua Thiên Trúc. Ngài qua Tích Lan, qua Đông
An, Nam /\n, rồi nghỉ ở xứ Dam Ma Lập Đế (Tâmaralipti) mười hai năm,
nhân thế mà ngài được thông hiếu chữ Phạm. Ngài có thích nghĩa bộ
Du\ên Sinh Luận (Nidênacastra) và nhiều kinh khác. Rồi ngài cùng đi với
ngài Nghĩa Tịnh đến Trung Ai thăm chùa Na Lan Đà (Nalanda) rồi đến
viếng Kim Cang Toạ và trở về Tịnh Xá Lị (Vaicaly) sau lại qua nước Cu
Chi với ngài Vỏ Hành. Sau ngài tịch ở chùa Bát Niết Bàn (Parinirvâna)
thọ.60 tuổi.
3 1 9
Ta tất nhận ra mức độ kính phục các thiền sư Giao Châu của các
quan lại đô hộ đã phải thế nào? Và khi đã có sự kính phục ấy, thì xung
quanh cái chùa, nơi các thiền sư tu hành, dân chúng ở các làng mạc đã
được dễ thở ra như thế nào?
CẢI TỐ NỀN HÀNH CHÍNH; ĐẶT AN NAM Đ ỏ HỘ PHỦ
Người Việt có một thành kiến đối với chế độ cai trị hà khắc của
Trung Hoa nên đã cho danh từ đô hộ một nội dung là đè ép. Thực ra thì
đô chỉ là đô hội và ÌÌỘ là một ấp, một huyện. Cả danh từ dã chỉ một tổ
chức hành chính để cai trị cái xứ. mà kể từ 697, đổi gọi là An Nam, nghĩa
là cõi Nam dã yên ổn.
An Nam dô hộ phủ dời Đường gồm có 12 châu và 59 huyện.
Mười hai châu ấy là:
1. Giao Châu gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định tất cả 8 huyện.
2. Phom> Clìâu gồm Sơn Tây, Vĩnh Yên cho đến các châu miền
thượng du phía Tây sông Hồng dến Vân Nam tất ca có 5 huyện.
3. Trường Cháu gổin Ninh Bình miền núi giữa Nam Định, Thanh
Hoá, có tất cả 4 huyện.
4. Ái Châu nay là Tlianh Hoá (Cửu Chân, Nhật Nam) tất ca có 4 huyện.
5. Hoan Châu nay là Hà Tĩnh (Việt Thường) tất củ có 4 huyện.
6. Dicn Châu nay là Nghệ An, tất cá có 7 huyện.
7. Phúc Lộc Châu phía Đông Nam Nghệ An có 3 huyện.
8. Lục Cháu nay là Lạng Sítn đến Quảng Yên (Ô Diên) tất ca có 3 huyện.
9. Thang Châu nay là Tuyên Quang tất cá có 3 huyện.
10. Chi Châu nay là Hưng Hoá tất cả có 7 huyện.
11. Vũ Nga Châu nay là Thái Nguyên tất cả có 7 huyện.
12. Vũ An Châu nay ở trong tỉnh Quảng Yên lất cả có 2 huyện.
So với guồng máy hành chính trước dấy kể từ nhà Hán thì Giao
Châu chỉ gồm có 3 quận: Giao Chí với 10 huyện, Cửu Chán với 7 huyện
và Nhật Nam với 5 huyện (cộng là 3 quận 22 huyện). Nay dất hẹp di, mâì
gần hết quận Nhật Nam cho Lâm Âp, mà quận (đổi gọi là Châu) và huyện
thì nhiều hơn lên.
320
Như vậy, chính là dể giảm bớt quyền dịa phương đi cho đô hộ phủ
dẻ tập trung quyền hành về trung ương. Nhân số các viên chức lại thuộc
cũng tăng gia về việc hành chính b(5t trì trệ. Mà quân đội cũng bớt xông
xáo vào các làng hà hiếp dân khi có các quan cai trị ở gần. Rất có thổ còn
có người địa phương có học và làm lại thuộc hoặc giữ một chức việc gì ở
các huyện nhỏ.
CÁC QLIAN LẠI SA N C CAI i RỊ
Điểu đáng lưu ý là chính quvền của triều ĐưÒTis có uy vũ, và nền
chính trị đã ổn định nên các quan lại trấn nhậm ở xa khôns dám lộng
hành. Nhiều vị sang An Nam lại là những tav có văn tài lỏi lạc.
Lã Sĩ Bằng căn cứ vào sử sách Tàu đời Đường có ghi nhạn trong bài
Bắc Thuộc Thời Kv Đích Nam Việt (đăng trong Đâiií’ Nam Á chiivân san.
số 3 - Hồng Kỏng đại học - 1964) có viết:
Thời ĐườiiíỊ nhân vật danh tiíấĩíỊ lấv văn học ra lùm quan ngụ cư ở
An Nam hể có Vươn^ Phúc Trị, Đỗ Thẩm Ngôn, Thẩm Thuyên Kv. Trong
hạn hấv giờ có ke Iđv văn giáo thi thỏ' cho dân sĩ các nơi, có kẻ ìấy túc
phẩm d ể hú, dối với văn phong hưng thịnh của An Nam ảnh hưởng rất
lớn. Vương Phúc Trị người dát Phùng Châu, Long Môn lù thân phụ của
Vitơng Bột một trong hốn tay kiệt tác dầu nhà Đường Cao Tông, Phúc Trị
từ chức tà quân hạt Từ Châu dổi xuống làm quan lệnh ở Giao Chỉ. o dâv
ông truxén cái hục của ông cho dân sĩ An Nam. Sách Việt Nam Tập Lược
Danh Hoạn có ghi:
‘‘Yuơng Phúc Trị thời Đường lù quan lệnh ở dốt Giao Chỉ mở mang
văn giáo, nhân dân và nlìán sĩ là hộc dạo dức, dến nav còn thờ gọi là dền
Vương Phu Từ".
Lại như Thẩm Thuyên Kỳ. người đất Trương Châu danh tiếng
ngang với Tống Chi Vấn thơ hay lời đẹp, trọng âm vận cách luật, được
học giả dương thời cơi là bậc tổ, làm quan bị biếm xuống châu Hoan.
Ông có để lại hơn 10 bài thơ về cánh vật Giao Chi. Khi ở Hoan Châu,
có dến yết kiến vị Thiền sư Việt danh tiếng ở chùa Sơn lin h hạt Cửu
Chân là Vô Ngại Thượng Nhân, vào thời Võ Hậu 685 và có tặng bài
thơ (dã nói ở trên).
Ngoài ra, sách Việt Sử Tán Biên của Phạm Văn Sơn (1956, tr. 240 -
1. Triệu Xương - Triệu Xương tên tự Hồng Tỏ người dất Thiên Thuỷ
bẽn Tàu sinh vào dời Đường Đức Tông (780-803) làm quan thăng dần
đến chức thứ sử Kiến Châu. Năm thứ 7 hiệu Hàm Thông (791), Cao
Chính Binh làm An Nam đô hộ thi hành chính sách quá cay nghiệt, nhân
dân la thán rất nhiều, ông Phùng Hưng nổi lên. Chính Bình lo sợ mà chết.
Sau khi Phùng Hưng chết, cơn là Phùng An lên nối chức giữ lấy phủ
thành dỏ hộ.
241) còn kể dến hai người nữa.
Nhà Đường cử Triệu Xương sang. Họ Triệu lấy lẽ vật và nhân nghĩa
321
dụ Phùng An. Họ Phùng cũng lấy lễ ra đáp lại và đem dân ra quy phục.
Họ Triệu ihiết lập và cái cách nhiều việc như đắp thêm La Thành,
xcm xét các sông nsòi, biên chép nên cuốn Phủ Chí. ông là người râì
hoạt động ihườnc; ncồi xe đi tuần đế có dịp gần dàn chúng, ông đến
thành Minh Luân huyện Đườiiíĩ An tỉnh Hái Dương thấy non sônư đẹp
dẽ. dấl rộng người nhicu lién dụns nhà học ở dấy chung sống với dân,
dặt tên là Đông Giao hươntỉ hiệu (nhà học cõi Đônư). Học trò các nơi
xa dến thụ nghiệp rất dônư và nhờ sự eiáo hoá của ôns nhiều người
được hièn đạt.
ơ phủ 10 năm (791-801), sau có tật dau chân, ỏng xin về Tàu. Vua
Đường cử Binh bộ Lang Trung là Bùi Thái sang thay. Thái tới sai quân sĩ
san pháng các ngòi ao trong thành Đại La và dắp thành Hoan, thành Ái;
sau bị người Giao Châu là Vương Quý Nguyên dánh duổi.
Đường Đức Tông vời Triệu Xương (lúc dó được thăng làm Tế Tử)
dến bàn việc Giao Châu. Tuy bấy giờ ỏng đcã ngoài 70 tuổi mà còn khoẻ
mạnh. Lại dược phái sang Giao Châu lán nữa. Dân Giao Châu nghe tin
ỏng sang lại yên ổn ngay Vcà đưa thư tới mừng. Nãm ấy là năm thứ 19
hiệu Trinh Nguyên (813). Sau Triệu Xương dược thăng Lĩnh Nam tiết dộ
sứ, liếp theo là Công bộ thượng thư gia hcàm Thái tử thiêu bảo.
2. Vương Thức - Vương Thức cũng là một lương quan đời Đường.
Trước Vương Thức, Lý Trác, Điền Hán làm đô hộ độc ác tham lam lừng
lấv một đấu muối dổi inột con trâu, con ngựa của dân chúng, lại giết tù
trưởng là Đỗ Tôn Thành và làm nhiều việc tệ nhũng không sao kể xiết.
Dân chúng chịu không nổi hà chính của bọn này liền liên kết với tướng
Nam Chiếu là Đoàn Tú Thiên. Họ lập lên dạo Bạch Y mệnh một quân
(quân cám tử) vào cướp phá phủ Đô hộ.
Ong qua dời vào nãm 85 tuổi, dược truy tạng Dương Châu Đại đò
dốc. Học trò và nhân dàn thương khóc như cha mẹ và làm nhà thờ bên
cạnh nhà học. ông làm dô hộ dtrợc tất cá 15 năm. Sau này các vua ta dời
Trần. Lê dồu phong ông làm Đại vương. Hiện nay ông dược thờ làm
thành hoàng làng Đan Loan và ở phố Hcàng Đào, Hà Nội bây giờ, có một
ngôi đình cứa người làng Đan Loan dựng lên dế thờ vọng ổng.
322
Tháng giêng năm thứ 12 hiệu Đại Trung, vua Đường cho họ Vương
sang Icàm An Nam đô hộ kinh lược sứ. Họ Vương trước dây là Ihír sử
Châu Tân trong hiệu Đại Trung (847-859). Chính sách của bọn người
trước là hằng năm thu tiền của dân đế làm luỹ bằng gỗ. Công việc không
ra gì mà mồi kỳ thu sinh ra lắm phiền hcà, thúc bách dán chúng rất là khốn
khổ. Vương Thức liền lấy hản liền thuế một năm, mua gỗ thiết mộc trồng
quanh phủ đô hộ khắp 12 dặm, tha hán những thuế ngoại phụ hằng năm
để bớt aánh nạim cho dân. VươntỊ cho đào hào buộc luỹ, ở ngoài lại trổna
tre gai, giặc cướp không thể vào được. Có thời Man binh đến cướp ở bến
Cẩm Điền, Vương cho người thòng dịch đến hiểu dụ bày tỏ điều lợi hại,
quàn Mán liền giải tán.
Khi mới đến phủ nghe dân ta thán La Hành Cung là kẻ cầm binh
quvền ở đấy lâu năm làm nhiều diều nhũng nhiễu, Vương liền trưất bỏ
luôn. Tháng 7 năm ấy (858), dân Giao Chí khởi loạn nửa đêm đánh
trổng reo hò vây phủ thành, nói rao rằng; “Kinh lược sứ là Chu Nhai
sai huy hạ gọi là Hoàng Đầu quân (quân đầu vàng) vượt bể đến đánh
úp, xin đưa đô hộ về Tàu. la dóng d(5n thành này đổ chống quân Hoàng
Đầu. Vương Thức dem tá hữu lên thành nói chuyện phải trái, quân
Giao Chỉ licn rút lui.
Vì dói kém loạn lạc luôn năm sáu năm, Giao Chỉ không có gì cung
cấp cho người Tàu, trong quân cũng không khao thưởng, Vương Thức
bấy giờ mới sửa soạn lệ cống chức, khao thưởng quân ,sĩ. Nước Chiêm
Thcành Chân Lạp lại thông hiếu và nộp tra những người Giao Châu bị họ
bát trước đó.
CÁC DANH S ĩ N (,Ư Ờ I BẢN xứ
Cũng ở triều đại này, người trí thức địa phương cũng tỏ ra khá lỗi
lạc. Trong sách An Nam Chí Lược của Lê Tác (bản dịch của viện Đại
Học Huế 1961 tr.234), thấy có nói đến một thi sĩ người Giao Châu tên
Liễu Tử Hậu được danh sĩ đời Đường là Lưu Hữu Phương giới thiệu với
nhũìig lời như sau:
“Gữ/Ơ Châu có nhiều vàiu> mịọc, châu hán, dổi mồi, tê ngưu và voi,
sân vật dền kỳ qiiúi. c d dến cúv có cũníỊ khác lạ. Tu thường lấv làm lạ
làm sao khí chói súng của mặt trời chỉ phát hiện (ỷ hoa cỏ ngọc /7gừ mà
thôi, ít thcív chnm> đúc vào người. Nav Liễu sinh có dức tính cương thiệp
trọng hậu, thdo luận tín nhường, trong thì chất mù ngoài là văn, thít văn
có điệu dại nhã. Như thể thì sinh dã dược chung díic hởi khí thiêng ư?
Đời rất hiếm có vậv. T hế nhường người đời nav dối với ngục sáng hoa
thơm, ai cũng hiểt cpiý nhưng có ai hiết quỷ sinh không? Nếu có thì ta
hdo người â\' không plìdì là người thường, dời cũng rất hiểm có \’ậv”.
Cũng có nhũ'ng người dược làm quan ở các châu quận như Lê Hồi
người Ái Châu làm Lạc Dương Uý, Khương Thẩn Dực cũng người Ái
Châu làm thứ sử Từ Châu. Nhưng đặc biệt thì có Khương Công Phụ làm
quan lớn ngay tại triéu nữa.
323
Lã Sĩ Bằng trong sách Bắc Thuộc Tluyi Kv Đích Việt Nam có viết:
"Tlìời Đườiỉíỉ vân sĩ An Nam kiệt xnất, Ịịhi tronịỊ sử truyện có
Khương Côiií’ Phụ ìUịuời Ái Châu quận Nhật N a n i'\ CônỊ> Phụ thì dỗ
tiến sĩ tri én Đức Tómị nhủ Đườìnị (7ÓÓ) làm quan trong triều dến chức
Gián Ní>hị Đại phu Đóní> chung thu’ mòn hạ Bình Chưưng sự. Do dấy
có thẻ nói dược rằní> An Nam, ở thời Đường bèn Trung Quốc, dã có
trình dụ văn phom> thịnh vượiHi. Thời Đường lấy văn thơ kén chức
quan, n{>ườị An Nam muôn ra làm quan ắt phải tinh luyện V ’ ỡ
dường lối
ấỵ. Côn\ị Phụ qua khoa cừ lùm quan dến chức cao quý như chức Tê
phụ thì thơ văn phải rất uyên thâm lỗi lạc, tiếc rằng không còn tập nào
truyén lại à dời. Sách Dườniị thi chép việc CÙ IU Ị “Toàn Đườn^ Thi”
dlng chưa thu xếp thơ vùn của ÓIU>. Chỉ có tromị “Toàn Đường Văn”
quycn 446 cỏ chép dược hai thiên:
1. Bạch vàn chiếu xuân hãi
2. Dõi trực ngôn cực gián .sách.
Qua hai thiên văn chiU/níỊ ấy. chím ít ta có thê dại khái thấy dược văn lài, kiến thức của một bậc nhãn
Tại quê niià ớ Thanh Hoá còn có dền thừ.
Vé tiếu .sử của Khươiiíỉ Còng Phụ. ngưừi Việt vào triều đình Trung Hoa làrn đến
bậc Te iưứng. sứ gia Lc Tắc có ghi trong An Nam chí lưực “Cháu nội của Khương
Thán Dực. con của Khương Đĩnh đạu tiến sĩ đời Đường Đức Tỏng (780-804), được
bổ làm Hiẹu Thư Lang nhờ bài chế sách hay, thăng lên chức hữu thập di, Hàn lãm
học sĩ. Nhận chiíc mãn năm. dáng lẽ dổi di nơi khác nliưng vì mẹ già cẩn phụng
dưỡng nên dược lưu lại chức Hộ Tào Tham quân ớ kinh. Công Phụ có tài cao, mỗi
lần thấy việc g'i, trân tấu minh bạch rất dược vua Đức Tỏng kính trọng.
Khi Chu Tý về kinh sư, Công Phụ can vua: “Bệ hạ không nên tin cạy người Tý,
cháng bâng giết di. chớ nuôi cọp rồi dế hại vé sau” Vua không nghe. Bỏng kinh sư
có bién. vua tự cửa vườn chạy ra. Cóng Phụ gò cương ngựa lại mà can “Chu Tý
thường làm quái ớ dất Kinh Nguyên, rất dược lòng tướng sì. Trước dây vì Chu Thao
làm phiin, Tý bị tước binh quvcn, ngàv thường ló phần uất, nay nén mau tới bát Tý
dem theo, ch(’)' dế lọt vào tay quán dữ”. Vua hoàng không kịp nghe theo. Lúc dã di
vua muốn chạv sang Phụng Tường, nương thế Trường Dật. Công Phụ nói: “Dật tuv
là một người bề tôi dáng tin cậy. nhưng chi là một vãn lại vá quân cứa ổng ấy cai
quán, dều là dội ngũ cũ cùa Tý và kỵ binh ở Ngưu Dương. Nếu Chu Tý dược lập
nC'n. Kinh Nguvên biên loạn lh'i ớ lại dáy không phái kê vạn toàn”. Vua bèn chạv
qua Phụng Thiên. Có kẻ nói Chu Tv làm phán xin lo ngăn ngừa. Lưu Kỷ nói ràng;
“Chu Tý trung trực, thành thực, cớ sao ngừ ỏng ấy làm phản, làm mếch lòng ke dại
thần, tôi xin trăm miệng báo dám”.
Vua biết bề tỏi khuyên Chu Tý dèn rước xa giá về, bèn xuống chiếu khiến các
dạo binh phái ngừng lại cách thành một xá.
Còng Phụ tâu vua: “Vương giá chổng cỏ binh túc vệ nghiêm chinh chẳng lấy gì
tòn trọng oai linh, nay cầm quân ít ói mà quân lính déu ở ngoài thật dáng nguy cho
bệ hạ”. Vua khen phái truvền quân dều vào dóng ớ nội thành. Binh Chu Tv quá
324
Như thế ta có thê chắc chắn được là imười Trung Hoa đời Đường, từ
vua quan trona triều, đến quan lại đô hộ và quân đội đã bát đầu có một
biệt nhĩin đối với dân Lạc Việt.
Trần Trọng Kim viết trona Việt Nam sử Lược.
Từ khi nước ta thuộc về inũ/c Tàu. thì có nhà Đường cai tri là nghiệt
hưn củ. Nhưng sử chép lược cỊuủ thường cách hai ha năm mới chép một
việc. Chắc là những nhà làm sử nuức ta sau cứ theo sử Tàu mủ chép lại
cho nén mới SO' lược như vậv.
Trần Trọna Kim viết như thế nhưna không có gì đê chúng minh sự
nghiệt tấy như thế nào. Lấy con mắt vỏ tư ra xét việc, ta thấy các quan lại đô
hộ muốn lắm cOng không còn ngang nhiên đè ép dân như trước được nữa. - Việc Cao Chính Bình làm dân ta thán để Phùng Hưng nổi lên nám
791 khiến Cao lo sợ mà chết. - Việc Triệu Xương sang lấy lễ vật và nhân nghĩa dự Phùng An,
khiến An quy phục. - Việc Vương Thức khi nghe kẻ cầm binh quyền cũ là La Hành Cung làm nhiều điều nhũng lạm thì truất quvền luôn. Những việc ấy dã tỏ rõ có nhiều chuyến hướng về chính sách cai trị,
chưa kể sự vị nể người tu sĩ và nho sĩ bản xứ như đã nói trên.
Dưới đây là một bài thơ có giá trị tài liệu lịch sử, minh chứng rằng
người Lạc Việt đã dùng văn thơ thống trách Trung Quốc, mà quan lại
nhiên đến. đúng như lời Cổng Phụ đoán biết trước, vưa bèn thăng Công Phu
chức Gián nghị Đại phu, Đồng trung thư môn hạ Bình chương sự.
Khi chạy theo vua ra Lương Châu dọc đường con gái lớn của vua là còng chúa
Đường An mất, vua muốn làm tháp, hcành lẻ chôn cất trọng thể. Công Phụ can ngay
vua ràng: “Sơm Nam không phái chỗ ở làu dài và hiện nay cần tiết kiệm dể dùng
vào việc quân”. Vua giận báo Lục Chí ràng Công Phụ chỉ muôn vạch diều lầm lỗi
của trẫm, dể cầu được tiếng trung trực! Lục Chí tâu: “Công Phụ làm quan Gián
Nghị, giữ chức Tè’ tướng, phải lấy việc dâng vua điểu phải bỏ điều trái làm gốc. Đặt
ra chức Tể phụ là cốt đế hôm sớm can vua từ việc nhỏ”.
Vua nói: “Không phai thế, chính vì Phụ tự xét tài không đủ làm Tể tướng, xin
thôi, ta dã hứa cho, nay biết phải thôi, nên giả làm trung trực lấy tiếng”. Bòn dói
Công Phụ làm Thái Tử Tả Thứ Từ. Phụ vì có lang mẹ. xin giải chức. Sau làm Hữu
thứ tử. lâu nãm không dược dời đổi. Lúc Lục Chí làm tướng, Công phụ xin dổi. Lục
Chí thầm bảo: “Thừa tướng Đậu Tam thường bảo ỏng làm quan hay biến đối.
Hoàng thượng không bằng lòng”. Công Phụ sợ xin lầm đạo sĩ. Vua hỏi vì cớ gì?
Phụ không dám tiết lậu lời nói của Lục Chí, lấy lời của Đậu Tam thưa lại vua. Vua
giận, biếm Phụ làm Biệt Giá Tuyên Châu và khiến sứ trách Tham.
Vua Thuận Tông lôn ngôi, cho Phụ làm thứ sử Cát Châu, nhưng chưa nhận chức
thì mất.
{An .Nam Chí Lược - bán dịch Đại học Huế, tr 232 - 233)
325
khôns những không ỉm đi được, vẫn còn phải lưu lại để in vào sách Toàn
Đường Thi q.784.
Bài thơ ấy ghi là làm vào năm Hàm Thông (860) niên hiệu vua Y
Tông, sau khi An Nam hai lần bị quân Nam Chiếu vào đánh phá. Nhưng
có lẽ lám, vì trận xâm lãng kinh khủng của Nam Chiếu !à vào năm 863.
Ngưòi viết không để tên, chỉ ghi là cử nhân triều Y Tông.
Nam hoang hất trạch lại
Trí ngã Giao Chi phúc
Liên miên tam tứ niên
Trí ngã Giao Chỉ nhạc
Nlìii giả dân tắc thoái
Vũ già binh ích dộc
Quân dong mãn tlìiân hạ
Chiến tướng da kim ngọc
Loát dắc tê dân sang
Phân vi mãnh sĩ lộc
Hùng hùng Hứa Xương sư
Trung vũ quan kị' tộc
Khứ mã vạn kỵ phong
Trụ vi nhất xuyên nhục
Th('/i hữu tàn tốt hồi
Thiên môn vạn hộ khốc
Ai thanh dộng lư lý
Oán khi thành sơn cốc
Tlìuỳ năng thích cổ thanh
Bất nhản khán kim thốc
Niệm thử kham lệ lưu
Du du Dĩnh Xuyên lục.
Nghĩa là:
Cõi Nam xa xôi bỏ hoang (hay sao mà) không lựa người cai trị.
( Đế người ta) cố ý đẩy xứ Giao Chi chúng lôi nghiêng ngá. Ba bốn
năm liển.
326
(Người ta đã) làm xứ Giao Chỉ chúng tôi (thật là) nhục nhã.
(Người ta đã) tập quen thổi hễ ra trận đánh nhau thì lùi.
(Mà) lúc đánh nhau thì đồ binh khí (lại) là cái thẻ viết (sớ tấu trình).
Binh lính thì vơ hêí mọi người trong thiên hạ.
Chiến tướng (thì lại súng sính) nhiều vàng ngọc quá.
(Đó là những của) bóc lột được bằng cách chích máu dân
(Rồi) chia chác (với nhau) làm như bọn quan cai nsục chia bổng lộc.
(Người ta) hùnư hổ ra quân từ Hứa Xưưna;.
Lòng trung cang và uy vũ (ngất trời, cứ nhin) mũ của dòng thế lộc (mà khiếp vía).
(Nhưng đến lúc cả vạn ông lính cưỡi) ngựa chạy như gió bay.
(Thì) trơ ra chỉ còn một con sông đầy thây người chết.
Khi làn cuộc trở vé.
Nghìn cửa vạn nhà khóc.
Tiếng than vang động ca làng mạc.
Oán khí chồng chất thành non cao.
Ví như có nghe được tiếng trống.
(Thì) lòng bất nhẫn (mà) cố giữ nước mắt (khỏi) trào ra.
(Đc) sao lục (cáu chuyện) (gửi về) đất Dĩnh Xuyên dằng dặc ở xa.
Xcm nội dụng bài thơ, lác gia cố nhiên không dám ký tôn, ta thấy
thái dộ ngang nhiên của một người yêu nước thương dân, không một lời
hèn hạ quỵ luỵ thiên triều, còn mía mai cay dộc và lên án bọn tham quan
chiến tướng với những chữ thật danh thép.
Bài thơ như thế làm sao gửi về dược đen Tràng An dể rồi dược sĩ
phu nhà Đường truyền tụng mà giữ lại và sau chép vào sách Toàn Đườm>
Thĩì Àt hán giữa các nho sĩ của hai nước dã có sự giao du thân mật lắm.
Nỏ cho phép ta hiểu rằng chế dộ cai trị không cơi mở cũng không dược. Nhân đấy. la lại xét dến nhũ'ng trận giặc xâm lăng.
(ỈIẶC ĐỔ BÀ VÀ CÔ N LỔN
Đồ Bà là tôn hòn dáo ư lận cùng phía Nam của các dáo ở Nam Hải
mà tôn chung là Côn Lỏn. Đường bien giữa phuơng Đỏng và phương Tây
phải qua eo biển La Sonde cạnh đảo ấy hoặc qua eo Malacca.
Trung Hoa biết nước Đồ Bà từ 132 Vcà đã có thông hiếu từ hồi ấy.
Nhưng vì quá xa xói. cũng không có kiều dân cư ngụ nên không còn tài
liệu gì để biết rõ nước ấy. Những di tích cổ cũng rất hiếm. Chi còn một
tấm bia giữa thê kỷ thứ VII với những cổ tích trên đồi Dieng ở giữa đảo,
mà người ta luận rằng khu vực ấy có lẽ xưa là kinh đô Ho Ling. Nhưng
nhiều người khác cho Ho Ling ở bán đáo Mã Lai'".
Theo sử đời Đường thì kinh dỏ Ho Ling giũa thế kỷ thứ VII là một trung lâm
Phật giáo mà Lục Tổ Huệ Năng (638-713) đã hành hương tới dó vào khoáng nãm
664-663 và ở lại, dịch kinh chữ Phạm ra chữ Hán.
Các nhà cổ sử cho tên Ho Ling chính là Kalinga, tên một tiểu quốc ở Nam Hai
mà các tiếu quốc vương ơ Kalinga (Nam Ân) bị dánh duổi nên chạy dến dó dựng
một nước rntíi.
327
Nhờ năm được vị trí then chốt trons việc hàníỊ hải, hồi ây đã phát triển
lại đúng vào thời tàn tạ của Phù Nam, nên Ho Lins trở nên một nước phồn
thịnh với tên là Cnvijaya. Crivijaya từng đcm binh đi đánh đao Java‘'*.
Đảo Java hồi ấy có Scín Vương Sanịaya ngự trị đóng đô ở trung tâm
nơi đồng bằng Kedu có đổi Dieng. Vua này theo đạo Bà La Môn thờ thần
(Ịiva. Sở sĩ biết được là nhờ có bia dựng năm 732 của vua Sanjaya, tìm
thấy trong đống gạch đổ của dền thờ ẹiva. Đó là ổng vua đầu dòng
Cailendras mà người kế vị năm 778 xưng là đại đế Maharaịa Panangkaran
và mở lối phát triển cho Phạt giáo Đại thừa.
Vậy thì Sanjaya Bà La Môn, trị vì Java khoảng 732 tới 778 đã
chống lại nước Crivijaya ở Sumatra. đánh chiếm đao Ba Li, xâm lăng ca
Phù Nam, dánh cả Trung Hoa. Chính vua ấy (hoặc quân của vua ấy cử di)
dã đánh Giao Châu năm 767, mà sứ ta ghi là giặc cỏn Lôn và Đổ Bà.
Giặc đi đường biển, vào lận trung tâm Giao Châu vây hãm phủ đô
hộ lúc ấy là Tư Thành (ở phía Tây Bắc Hà Nội bây giờ). Kinh lược sứ
Trương Bá Nghi cùng với Đô uý Cao Chính Bình phải họp binh đánh
thắng một trận lớn ở gần Sơn Tày bủy giờ mới đuổi dược giặc ra biển. Sau
đó Trương Bá Nghi cho dắp La Thành (767) lấy sông Tô Lịch làm hào
thiên nhiên để phòng thủ.
Việc ấy nay không khỏi gây cho người khảo sử một thắc mắc: giặc
là giặc biển, đường vô xâm lăng phải là đường thuỷ, vậy muốn ngăn giặc
ấy, sao không dắp La Thành ở phía Đông và Đông Nam dọc theo sông
Hồng (nếu giặc vào bàng đường ấy) mà lại đáp thành ở phía Tây và Tây
Bắc theo sông Tỏ Lịch?
Thì đã quả rất dúng rằng dến tận 767 ấy, vùng Hưng Yên vẫn còn là
dầm lầy (đầm Dạ Trạch) và sông Hồng nhiều phù sa túa ra dồng bằng.
Thiền sư Nghĩa Tịnh người Tàu năm 671 di cùng Đại Thặng Đăng Ihién sư người
Ái Châu cùa ta, đến Trung Ân, thăm chùa Na Lan Đà rồi đến Kim Cang toạ, trên
đường có ghé qua đấy ơ sáu tháng học chữ Phạm. Ngài có ghi rằng: ‘Trong thành
Fo Che có h(ín một ngàn sư tăng chuyên nghiên cứu mọi vấn đồ tôn giáo như bên
Thiên Trúc vẠv, lề lục cũng như thế. Nhà sư Tàu nào muốn qua Tày phirơng đê
nghe và đọc được kinh Phật thì nôn ở lại Fo Chc một hai năm học tập Irưức cho
quen, sau đó sc qua Trung Ân” Sau khi ở lại Na Lan Đàn 10 năm, trên đường về,
thiển sư Nghĩa Tịnh lại ghé Fo Chc ư 4 năm từ 68.6-689 để chép và dịch kinh chữ
Phạm sang chữ Hán. Năm 689, ngài về Quáng Đông đón thêm 4 đệ tử rồi trở lại Fo
Chc viết hai tập bút ký vể những cao tăng qua Tây Trúc thính kinh và Nam Hải
pháp môn, trong dó ngài ghi nhận thành Fo Che là nơi ngài ghé năm 671 thì bày giò'
là nước Che Li Fo Che (tức là Crivijaya theo bốn bài bia cổ ở Mã Lai, mà một tấm
có nói rõ là nước Phật giáo vừa chiếm dược dảo Bangka và vùng đất lambi, nay sáp
dem binh di dánh dảo Java vào năm 686 vì dảo này không chịu thần phục).
328
chưa thế là đường sông thuận tiện cho thuyền bè, nên giặc đã vào cửa
Thần Phù theo đường kinh mà người Viộl đcã sử dụng từ thế kỷ thứ V (có
khi trước nữa là thời Hùng Vương) để lên sông Đáy mà tới Sơn Tây, rồi
từ đó mới đánh xiiống phủ Đô h(V‘\
Sau này. năm 791. Phùng Hưng nổi lên ở Sơn Tây rồi cũng từ mặt
ấy đánh xuống phủ Đò hộ mới hiểu rõ việc người Tàu đắp La Thành về
phía Bắc Tây Bắc là nhằm chống dỡ chỗ yếu nhất ấy cả đối với giặc biển
ở ngoài lẫn với giặc từ rừng núi ở trong. Còn chính mặt Đông của sông
Hồng thì khống đáng sợ vì các cửa sông chưa thành hình, nên rất khó đi
thuyền vào.
(ỈIẬC NAM CHIẾU'-’
Nam Chiếu là nước nào và ở đâu?
Phía Tây Bắc Giao Châu thuộc miền Tây tỉnh Vân Nam có một xứ
mà dân là ngươi Thái xưa kia chia làm 6 chiếu thuộc
tu trương ơia
tù trưởng dịa
ma oan la ngươi inai xưa kia cnia lam o cnieu tnuọc
phương cai quản (chiếu dối với dân Thái tức là vua) Mỏng Huề, Việt
Thác, Lãng Khung, Đàng Đạm, Thi Lãng và Mông Xá. Sáu chiếu này có
thời đã cùng thần phục nhà Đường. Mông Xá ở phía Nam đối với các chiếu trên kia và giáp địa phận
Giao Châu. Đó là nước Nam Chiê\L^\
Khoảng năm khai nguycn (733-741) đời vua Đường Huyền Tông,
Bì La Cáp là vua Nam Chiếu có chí lớn, đút lót tiết độ sứ đạo Kiến Nam
Sự kiện này cải chính những khắng định cúa Maspéro rằng đường viền bờ biển
không xê xích nhau bao nhiêu từ xưa lới nay.
Theo Phạm Văn Sơn, Việt SửTân Bicn, Ir. 233, 234.
Dân Nam Chiếu đã từng sống nhiều phen phá oanh liệt và quạt cường. Dưới đời
Ngô Tôn Ọuyền thời Tam Quốc, họ đã biết tìm những nơi sông ngòi, núi non hiểm
trở như Hà Hoa, Q uế Chữ, Vọng Cái, Hoành Sơn, Trường Sa, Hái Ngạn, Lỗ Lôi, o
Tôn. thuộc Hoa Nam đc tụ họp. Ngoài ra họ còn giao thiệp mật thiết với nước Tây
Bà Dạ đế lấy vây cánh. Có sách chép họ là con cháu của Triệu Vũ Đ ế và cúa quan
Tliái phó Lữ Gia bị các tướng nhà Hán là Lộ Bắc Đức và Dương Bộc đánh siêu bạt
đến các xứ trên đây.
Dưới đời Tấn (26.3-316) họ lại hợp lực với bọn Thổ tù làn cận là Triệu Công
Lý chiếm cứ châu Q uỳ, châu Diên đặt Làm lộ Da La, lấy châu Cầm, châu Hoan
làm lộ Lâm An cùng nhau cai trị. Họ lập thành trì ở xã Cao Xá thuộc đất Diễn
Châu, phía Đ ông giáp bể, phía tây giáp Tây Bà Dạ, phía Nam giáp núi Hoành
Sơn rồi tự xưng vương.
Đời Đông Tấn (317-420), Tào Nhĩ được cử đi đánh, nhiều phen đuổi được Nam
Chiếu ra tận bể. Nhưng quân Nam Chiếu rất khôn ngoan, biết trốn tránh sức mạnh,
biết áp dụng chiến thuật co giãn và tiêu hao. Quân Tấn không chịu được thuỷ thổ
đau ốm chốt hại nhiều phải rút lui. Nam Chiếu lại trở về hoành hành như cũ.
329
là Vươns Dục xin thốiiíỉ nhất và quản lĩnh cá 6 chiếu lấy cớ rằng 5 chiếu
kia suy nhược không đứng vững nổi. Đường triều theo lòi đề nghị của
Vương Dục chấp thuận việc thống nhất này Vcà đặt tên cho 6 chiếu hợp
nhất là Quy Nghĩa. Việc thống nhất thực hiện xong, Nam Chiếu trở nên
một quốc gia cường thịnh xuất quân đánh phá các nước láng giềng. Trước
nhất là nước Thổ Phồn (sau này Icà Tây Tạng) bị Nam Chiếu xâm lãng.
Tháng trận ở đây, Nam Chiếu dời đô đến thành Thái Hoà đế có một vị trí
vững vàng hơn. Sau này. Nam Chiếu tự đặt thêm một lên khác là Đại Lý
và thành một mối lo ở biên cương cho Trung Quốc.
Nám Tàn Tỵ Đường Thiên Baơ thứ 9 (750), quân Nam Chiếu vây
thành Côn Minh (quận Vân Nam) cướp được hai châu Tiên Di và Riêu,
gổin tất cá 32 xứ. Nam Chiếu biết lợi dụng rừng núi để nhử quân Đường
vàơ sâư rơi vây hãm và lấn công. Tiết dộ sứ ở Kiến Nam là Trọng Thông,
sau lới tiết dợ sứ Đường Quốc Trung hai lần huy dộng 28 vạn quân dánh
nhau với Nam Chiếu dều bị thua thám hại.
Nãm Đường Trình Nguyên thứ 16 (800), An Phủ sứ Vân Nam là Vi
Cao dánh quân Nam Chiêu ở Thiết Kiéu phủ Lệ Giang.
330
Nám Bính Dần (846). Nam Chiếu tràn qua Giao Châu, kinh lược sú'
là Bùi Nguyên Dụ đánh đuổi dược. Sau dó dến Vương Thức thay Bùi
Nguyên Dụ biết cách cai trị nên mọi mầm loạn dều tắt. Đốn năm Canh
Thin (860). Lý Hộ sang làm Đỏ hộ thì Nam Chiếu dã mạnh thèm nhiều.
Con Phong Hưu (vua Nam Chiếu) là Tư Long lự xưng đế và đặt quốc hiệu
là Đại Mông sau lại dổi là Đại Lỗ. Tư Long lo tăng crrờng ráo riết vồ quân
sự, động viên thanh niên từ 15 tuổi đế dưa vào quân ngũ. Rồi một chuyện
xáy ra dẫn dường chơ quân Nam Chiêu bước thêm lần nữa vào đất Giao
Châu: nguyên Lý Hộ quen ỷ thế mạnh của thiên triều giết lù trưởng cứa
dân Mường là Đỗ Thủ Trùng khiến loàn thổ dân Mường bất mãn. Dân
Mường vốn có liên lạc vói Nam Chiếu muôn báo thù nhưng không đủ
sức. liền vạch đirờng chỉ nẻo và xui giục quân Nam Chiếu xâm lược Giao
Châu. Tháng 11 năm ấy, thành đô hộ bị thất thủ, Lý Hộ và Giám Quận bỏ
chạy vé Vũ Châu. Tháng giêng năm sau, Đường tricLi phái Vương Khoan
dem quân Ung Châu và các miền lân cận sang cứu viện. Quân Nam Chiếu
lại rút về nhưng hai năm sau họ lại lần dến. Tướng Đirờng là Thái Tập
dem ba vạn quân sang đối phó. Nam Chiêu lại lui binh. Sau này, tiết độ
sứ Lĩnh Nam là Thái Kinh sợ Thái Tập lập công to dã mật tấu về triều
đình ràng tình hình Giao Châu đã ổn định không cần phải để quân đội ở
lại. Vua Đường liền rút doàn quân viền chinh về. Thái Tập muốn để lại
5.000 binh cũng không dược.
Hieu được sự lục đục kê trên, năm Quý Mùi tức là năm sau, Nam
Chiếu mở cuộc tấn công mãnh hệt hơn bao giờ hết bằng số 50.000 quàn
tràn như nước lũ vào Giao Châu, chiếm được phủ thành, Thái Tập thế cỏ
phái lự sát. Tướng Đường là Nguyền Duy Đức đem 400 quàn Kinh Nam
đến cứu cũng thua chạy ra đến bò sông thì bí lối vì không có thuyên bè.
Y liổn hô hcào quân .sĩ quay lại liồu sống mái với quân Nam Chiếu bởi
đàng nào cũng chết. Cuộc phan còng này giết hại được 2000 binh ,sĩ Nam
Chiếu nhưng đến đêm, Nguyễn Duy Đức kiệt lực bị tướng Nam Chiếu
váy đánh và giết được ca bọn. Tháng trận hoàn toàn, quân Nam Chiếu vào
phù thành sát hại tới 15 vạn nhân mạng.
Giao Châu lọt vào tay Nam Chiếu. Vua Nam Chiếu là Nông Thê
Long cử Dương Tư Tấn trấn thủ Giao Châu với hai vạn quân và dặt Đoàn
Tú Thièn làm Tiết độ sứ.
Mâì Giao Châu, tạm thời nhà Đường thiên An Nam đỏ hộ phú về
Hái Mòn (?) rồi triệu lập quân các đạo về Lĩnh Nam lo ihuyổn bè và
lương thực. Mùa thu năm sau (864), Caơ Biền được lệnh xuất quân.
ẢNH H IIỎN í ; đ ế n TÂM LÝ N t .ư ờ l LẠC VIỆT
Những trận giặc xàm lăng lớn như thế gây đau thương chơ dân thì
đã cố nhiên rồi, nhưng diếm quan trọng hơn nữa anh hưởng đến tâm lý
người dân bán xứ Là uy tín của thiên triều bị giảm sút rất nhiều. Từ nay
người ta biết rõ là quân dội của thiên triéu Trung Hoa không hẳn dã là
quân đội không biết thua trận.
Chứng nghiệm ấy thêm vào những chứng nghiệm khác vé mức dộ
liến hoá linh thần và tôn giáo cua người bản xứ dã nói trên. Củ những
chứng nghiệm khác nĩra vé tư cách sống của người thường dân Trung
Hoa. cũng luộm thuộm, nhơ nhớp, và đầy rẫy những lừa lọc, dáo điên,
ngay với chính họ, người Lạc Việt thấy hết, dần mặc cảm tự ty dối với
thượng quốc.
Ngay dối với Cao Biền, một danh tướng kiêm danh nho. quáng bác
cả thiên vãn địa lý, mấy năm sau, dem quân sang dánh dẹp dược giặc
Nam Chiếu, rồi đắp thcành Đại La vĩ dại' mà dân chúng vẫn giễu cọl bằng
câu tục ngữ “lẩy báy như Cao Bien dậy non”, với giai thoại vé việc Cao
Biền tự chôn mình trong địa huyệt của kiểu dất phượng hoàng ấp noãn,
Thành bốn mặt dài iKín 1982 trượng lĩnh .s thước (7930m ) cao 2 trượna lĩnh 6
thước (10,4m ) đáp một dường dê bọc ngoài hơn 2125 trượng lĩnh 8 thước
(8530.2m ) cao 1 trượng rưỡu (6m) dầy 2 trượng (8rn). Trong thành cho dân sự làm
nhà hơn 40 vạn nóc.
331
chí trăm ngày lại hổi sinh, rồi làm nên sự nghiệp đế vương, danh vang
bốn bể: Cao Biền nhờ bcà già ở gần đấy mỗi ngày đốt giùm cho một nén
hương, đủ trăm ngày trăm nén thì gọi dậy. rồi xuống huyệt đạp cho đất
lấv lên trên mình. Nhưng vì quên không yểm thần đất nên vỊ thổ thần hộ
huyệt giận mà khiến lũ chuột lự tha trộm của bà lão ba nén hương. Khi
đốt 97 nén thấy hết hương, bà lão tưởng đã đủ trăm ngày mới gọi Biền
dậy. Cao Biền ngồi dậy thấy mạch dất mới được 97 ngày chưa quán khí,
thành ra không làm gì dược, người cứ run bắn lên. Biết trời không cho
mình, Cao Biền thất vọng ra về. Vì vậy mới có câu “Lẩy bẩy như Cao
Biền dậy non”.
Hai í>ifơm tchn íỊÌứo
Mặc áo da hò
Thập thò cửa lỗ
Tiếng cười của người dàn Lạc Việt quá đã bắt đầu đáng sợ.
Người ta cười ông tướng vũ khí rất nhiều, cổ cá áo giáp mà lại nhút nhát, là con cua, trong câu dối chơi với nhau.
Tam thủ tam vĩ, lục nhãn lạc nhĩ
Tứ túc chỉ thiên, tứ túc chỉ dịa
Đốiù con Ịịì?
Người ta cười hai người dân Trung Hoa khiêng một con hco, thành ra một quái vật không tên. trong câu dố chơi:
Người ta cười cờ với trống trận hùng hổ xông pha ghê gớm lắm, mà
Dầu lùmị dành trống
Cuối làníỊ phát cờ
Tvổnv, dành dến dâu
Cờ ba\ dến dâv
chi là một con chó trong câu đố khác:
Ba ô/;g /7gó/ ghế
Một ỏng cậy thể
Một óng cậy thân
Một ỎHÍỊ tần ngần
Đút h.... vào hếp.
Người ta cười các quan cai trị chỉ là cái bễ thổi lửa, trong câu đố khác nữa
332
Ây là những dấu hiệu của sự cựa mình để sắp sửa đứng lên vậy.
PHẨN THÚ T ư
THÒI KỲTỰTRị (907-938)
Người Lạc Việt hết mặc cảm tự ti đối với Trung Hoa. Càng về cuối
đời Đường, chính quyền và quân đội suy yếu. người ta lại càng thêm tự
tin là đủ sức tự quán trị được việc nước.
Đối với Phật giáo mà người la dốc lòng tin trong khi bên Tàu bắt
đáu xoay ra bài bác, khiên thiền sư Vò Ngôn Thông năm 820 phải bỏ
Trường An qua Giao Châu ớ và truyền Thiền Tông thứ hai thì người ta bắt
đầu nhìn thấy thiên triều không còn gì đổ làm thượng quốc mãi.
C H Ư O N G I
TRUYỆN NGUỒN Gốc RồNG TIÊN
Và việc quan trọng hơn hêì, có giá trị hơn hết, là sự sánh mình
ngang hàng với thiên triều, cũng có gốc gác sang trọng như dân thiên
triều vậy, trong câu chuyện nguồn gốc Rồng Tiên.
rỏM LL ỢC
Người ta lầm mà dọc và hiểu nó là sử.
Phải coi là truvện, vì:
- Tên người tên dất bằng chữ Nho, hồi dầu không có.
- Sự việc phong chức cắt dất cũng không có.
- Những vùng đất ở Trung Hoa, người Giao Chỉ cũng không biết.
- Đã khổng có đường để vua di tuần thú dẽ dàng quá.
- Người thời ấy cũng chưa biết những ý nghĩa tượng trưng của
Nội dung của truyện
con'rồng.
Càng dần dần về sau. mỗi đời, người ta lại lược bỏ bớt chi tiết quan
trọng di. Chi giữ lại cái vỏ là con Tiên cháu Rồng mà tác gia mượn đế
333
trình bày câu chuyện. Nỉiười đời sau khôns hiểu đã giữ vỏ mà bỏ b(ýt nội
dung là điều tác giá muốn nói:
1. Người phương Bác quấy nhiễu.
2. Bổ Lạc Long Quân lúc nào cũng sán sàng để cứu dân.
ĩ. Bô bát cóc Âu Co là con vua Tàu.
4. Gốc của Bô là ngang với các dời vua Tàu và cành vàng lá ngọc
như nhau cả.
Đáp ứng nhu cầu giai đoạn
5. Đáng lẽ phụ vương của Bỏ cai trị miền bắc kia.
6. Anh cm đã nhường nhau như vậy mà còn quấy nhau.
Đưa nguồn gốc lên ngang nguồn gốc Trung Hoa cũng sau cá như
Truyện nảy sinh
thế là dể cho dân thấy nicm kiêu hãnh dân tộc.
Truyện do ai sáng tác?
Chí có thể vào hồi hết tự ti mặc cảm với Trung Hoa.
Truyền từ các chùa ra, trong thời kỳ Phật giáo được sùng thượng,
Tính cách thần kỳ quái đản
truyện phủi do các nhà sư có được dọc các truyện Trung Hoa và An Độ.
Phần đóng góp của Ân Độ là Rồng kết duyên với Tiên (đã cổ truyện
Kaudinya lấy con gái vua rắn Naga lập nên vương quốc Phù Nam).
T R U Y Ệ N N C U Ổ N c .ố c R ổ N ( ỉ T IÊ N
Phần đóng góp của Trung Hoa là gốc từ Thần Nông dến Sùng Lãm.
Phần của Lạc Việt là đoạn kết bất hợp lý dương theo dòng Tiên thì
chuyển sang Rồng chỉ vì cái tên Lạc Long Quàn. Cả nội dung sinh một
bọc nở ra trăm con cũng là cái phần thực tê' Lạc Việt.
Truyện này đã làm cho người dời tốn khá nhiều giấy mực. Bởi lẽ
thường với bất cứ một quyển sử nào, nó cũng được đặt ngay vào doạn
đầu, để cho “cây có gốc, nước có nguồn” nên truyện đã phổ thông hết
sức, từ người học sử, dạy sử, đến người suy nghĩ về sử, ai nấy đều có cảm
tướng nếu đấy chẳng phai là sử ở nguồn gốc thực thì cũng là những tuyên
ngôn từ thời thái cổ ấy dể lại.
334
Thành ra tự nhiên người ta tự chia ra theo những thái dộ; nhin nhận
gốc dân lộc là đúng có thực như truyện kế; hoặc nhìn nhận thời cổ xưa
nước nào cũng là gốc thần kỳ thì mình cũnc vậy, chẳiiỉỉ việc aì phái hoài
nahi hoặc nhìn nhận đã có lời truyền lại ắt cũna có phần nào sự thực, có
the kiểm chứna được nữa: hoặc phủ nhận hoàn loàn là mè tín dị đoan,
khôna khoa học tiến bộ.
Tất ca đều mắc phải cái lầm căn bủn: không chịu hiểu nó là truyện
mà cứ dinh ninh nó là sử.
Là sử thì ai nấy có quyền và bổn phận khoe tài, khoe khôn, cả khoe
aiỏi vổ khoa học thái tây dổ biện luận vồ lính cách thực hay khôna thực
của nó. Còn Là truyện thì tâì cả những công việc làm ấy chỉ hái lưựm dược
một nụ cười của người làm truyện.
Có ai dọc một truyện thán liên mà lại để mất thì giờ về việc tìm
hiếu nó có dứng sự thực chăng? B(Vi vậy dối với truyện nguồn gốc rồng
tiên này cũng như các truyện thần liên khác, ta cần bỏ sang một bên cái
vỏ thần kỳ quái đản mà tác gia lạm mưựn dể tìm hiểu thâm ý của tác giả
muôn nói gì.
TẠI SAO HIẾLI NÓ LẢ TRUYỆN?
Nó là truyện vì:
- Bao nhiêu lên người lên đất trong truyện dều bằng chữ Nho cả, mà
ở nguồn gốc, la không hề giao thiệp với Trung Hoa và không có người
nào biết chữ Nho dể dặt lên.
- Những sự việc kể trong truyện như vua cha phong cho con làm vua
cai trị vùng dất này dất nọ dã không thè’ có được trong thời kỳ người ta
còn sống dời sống bộ lạc. Không những không có, mà còn chí có thể nghĩ
ra được khi người ta sống trong chế độ xã hội có vua quan và có kỷ cương
nền nếp.
- Chính những người Giao Chi ở nguồn gốc cũng không biết có
những vùng dất phía bắc với tên là động Đình Hồ, núi Ngũ Lĩnh nữa.
- Đường di từ phía Bác xưống phía Nam toàn rừng núi cheo leo
hiểm trở, chưa có cả đường nữa, không thể có được việc vua di tuần nữa.
Bởi vạy, dây là một truyện do t)c người ta bố trí và tượng tượng ra
sau khi dã có chữ, dã biết việc vua phong, đã biết tên đất. dã có dường đi
và dã hiổu biết những gì về con rồng.
TRUYỆN C ỏ NHŨNí; (ÌÌ 0 NỘI DUNC?
333
Nội dung của truyện thì càng về sau này người la lại càng lược bỏ
bcrt chi tiết đi, chí giữ lại có chữ tục truyền (để ra déu là ta đã liến bộ
khoa học, không mê tín dị đoan nữa) và chỉ giữ lại có việc Tiên và Rống
sinh ra mấy thế hệ, rồi tới vua Hùng Vưong, lấy đó là việc cốt yếu (chẳng
hoá ra người làm truyện lại coi đấy chí là cái vỏ mượn đỡ đc nói những ý
chính khác mà người đời sau lại tưởng Icà phụ để lược bỏ bớt đi).
Như gần đây nhất vào năm 1956, Phạm Văn Son chép trong Việí Sử
Tân Biên như sau:
Truvén tluivết vé họ Hổníị BàníỊ theo lời tục tniyén íroníỊ các cổ sử
thì vua Đ ế Minh cháu ba dời vua Thần Nỏni’ di tuần thú phương Nam
dến miền núi Vg/7 Lĩnh thuộc tỉnh Hồ Nam íỊập một nàng tiên lấv nhau
rỗi sinh ra Kinh Dươmt VirưníỊ. dặt làm vua phương nam. Sau này, Kình
Duơiiíị Vươiỉí’ lâ\' con yái ĐỘIUỊ Đình Quàn là Long Nữ sinh ra Lạc Long
Quán. Lạc Lon^ Quán lấy Âu Cơ sinh ra một học cỏ một trăm trứníỊ nở
ra trăm con (vc dicm nàv cỏ sách ghi rõ râni> Ảu Cơ sinh ra trủm con
nửa trai nửa gứ/, có sách nói trăm con dó dcu trai hết. dđv chỉ là một
truxcn tlìuvct thiết tuởny khôny nên t/uan tâm lắm) nửa theo mẹ lên núi,
nửa theo cha .Kuổny hể Nam Hài vì mẹ là gừyn^ Tiên và cha là í>iô'níỉ
Rổint. Do dó cốmị Bách Việt rdi rác khắp miền Nam Trung Quốc. Nước
của Kinh DươiU’ VitơníỊ lấY quốc hiệu Xích Qu\ í>ổm tỉnh Hồ Nam.
Qudm> Tâv hây g/V>,' ní>ười Việt /;gừv nay tự cho mình lù con Tiên cháu
Rổm> do sự tích này.
Lạc Lom> Quân plìoiut cho con cả lên làm vua nước Văn Lany
(quốc hiệu thứ 2 của nước ta sau Xích Quỷ) vờ .xưng là Lạc Vương.
Xa hơn inột ít, năm 1938, Đào Duv Anh trong V iệ t N a m V ăn
ỉ ỉ o á S ử C ư ơ n g chép:
Theo tục truyền thì mỊười Việt Nam là nòi g/ôưg Tién RồìiíỊ. Vua
dâu tiên họ Hổtuị BủiĩíỊ nước Xích Quỷ là Lộc Tục tức Kinh Dương
Vươiu’, một hóm di nĩịoạn cảnh (ỳ hồ Độní’ Đình thình lình gặp một thiếu
nữ nhan sắc tuyệt V()i tự .xitiìíỊ là Lon‘.ị Nfí con gái của Động Dinh Quân.
Lộc Tục kết duyên cùntị nùm> ấy sinh dược một trai dặt tên Sùng Lãm, ndi
nyôi cha lùm vua xưng là Lạc Long Quán.
336
Lạc Lotuị Quân lấv Âu Cơ là con gứ/ Đe Lai, vua một nước láng
iỉiéniỊ de’ ra một lần trăm cái trứmt .sau nở thành trâm người con trai. Mọt
hóm Lạc Loní> Quân nói với Âu Cơ rằng: Tôi là dòng dõi Long Quân mù
mình là dòm’ dõi thần tiên ăn (ỳ lâu với nhau không thểdiíợc. Nav trăm
dứa con trai thì minh dem 50 dứa lên núi. còn 50 dưa dê tôi dem xuống
Nam Hải. Sau Lom> Quán phone, cho người con dầu tiên làm vua à nước
Văn Lany. Nitười ấy là thuv tổ của giông Việt Nam ta vậy.
Xa hơn nữa, năm 1919, Trần Trọng Kim trong V iệ t N a m sử
L ư ợ c chép với nhiều chi tiết hơn:
1. Họ Hổng Bàng: Cứ theo tục truyền thì vua Đ ế Minh là cháu ha
dời vua Thần Nônị>, đi tuần thú phương nam đến núi NíỊŨ Lĩnh (thuộc
tính Hổ Nam háy giờ) gặp một nùng tiên, lấy nhau đẻ ra người con, tên là
Lộc Tục. Sau Đ ế Minh truyền ngôi lại cho con trưởníỊ lã Đ ế Níịhì lùm
vua phưưng Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, XI ÚĨ Ĩ Ỉ là
Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ ở phía Bắc giáp Động Đình Hỏ (Hồ
nam) phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành) phía Táy giáp Ba Thục
(TứXiyên) phía dông giáp hể Nam Hài.
Kinh Dương Vương lùm vua nước Xích Quy vào khoảng núm Nhàm
Tuất (2879 tr. CN) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, dẻ ra
Sùng Lãm, nối ngôi lùm vua xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đ ế Lai là Ấu Cơ, dẻ một tần dược 100 người con trak".
Lạc Long Quân hào Âu Cơ rằm>: Ta là dòng dõi Lonif Quân, nhà
ngươi là dòng dõi thần tiên, ủn (ỳ lâu với nhau không dược; nay được
trăm dứa con thì nhà ngươi dem 50 dứa con lên núi còn 50 dứa ta đem
xuô'm> hể Nam Hài.
Gốc tích truyện này có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau nước Xích
Quý chìa ra những nước gọi
là Bách Việt. Bởi vậy ngày nay, đất Hổ
Quáng, tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây còn xưng lù
dất Bách Việt. Đấy cũng là một diều nói phỏng, chứ không lấy gì làm
díclĩ xúc dược.
2. Nước Văn Lang: Lạc Long Quân phong cho tnịKỜi con trưởng sang lùm vua nước Văn Lamị, xưng lù Hùng Vương.
... Hùng Vương dóng dô à Phong Châu (bây giờ ở vào dại hạt huyện
Bạch Hạc tỉnh Vĩnh Yên).
Xa hơn nữa, năm 1884 K h á m Đ ịn h V iệ t sử T h ô n g G iá m C ư ơ n g
M ụ c chép với nhiều chi tiết hơn nữa.
Vua dầu tiên của họ Hồng Bàng nước ta là Kinh DươníỊ có con là
Lạc Long Quân vù vua Hùng lù con vua Lạc Long Quán, ở nguyên rlìuv,
vua Đ ế Minh là cháu ha dời của Viêm Đ ế trong dònq họ Thần Nônẹ di
tuần thú phươníf nam dến núi N^ũ Lĩnh íịặp nànq Vụ tiên nữ thì kết duyên
sinh ra người con trai dặt tên là Lộc Tục.
' Có sách chép là Âu Cơ đỏ ra 100 cái trứng nở ra 100 con.
337
Vua Đ ế Minh thươnị’ \'êii Lộc Tục muốn truyền ngói CÌIO. Nhưng
Lộc Tục khước từ nhiứyiu> m>ười anh là Đ ế Nghi làm vua phương Bắc. còn
mình dược làm vua phương Nam. xưng là Kinh Dương Vương.
Kinh Dươmị Vương .sinh ra Sùng Lỡm lên nối ngôi xưng là Lạc Long
Quân. Lạc Long Quân lay hù Âu C(/ và de dược 100 người con.
Xa hơn nữa, thế kỷ XVIII, Ngô Thíri Sĩ chép tron^ V iệt sử Tiêu Á n:
Nước Việt ta thuở trước tương truyền vua dầu tiên là Kinh Dương
Vương. Cháu ha dời vua Viêm Dê là Đè Minh di tuần thú miền nam iịặp
Vụ tiên nữ lấy lùm vợ. sinh con là Lộc Tục. Lộc Tục lù ngưtyi doan chính.
Vua yêu í/uv muốn lập làm kế tự. Nhưní^ Lộc Tục nhuúng dịa vị ấy cho
anh NQìi. Vua hèn plìom> cho Lộc Tục làm vua tại miền Nam Việt. Dó là
Kinh Dương Vươmị.
338
"'Con của Kinh DươiuỊ Vươnịị là Sùng Lãm lân làm vua gọi là vua
Lạc Loin>.... xét troiìíỊ truyện chép tlưyi hây giờ, vua Lạc Lom> về ở trong
dộmị nifớc, dân cố việc gì thì kêu to lên rằng: "Bô ở dâu? Lại đây với ta"
Thì Lom> Quân lại ngay. Bấy í>ih'Dê'Lai (là con D ế Nghi) di tuần choi
xem phoniỊ cảnh núi sôní>. Nàní> Cơ một mình ở hành cung. Ni>ười trong
nước khổ về việc ngiừyi phươni> hác quấy nhiễu, lại gọi Long Quân ra.
Loní> Quàn ra trôiu> thấy nàng Cơ dẹp mà hằiu> lòng lấy, dưa về cho ở
trong hiến (Sử kiêng không nói việc ấy ra, chỉ nói là lây con gái Đ ế Lai lù
vì .xấu hồ việc trai gái chim chuột không khác gì cầm thú, dều là việc
không nên nói ra, không hằng hó di thì hơn). Trong truyện lụi chép: Lạc
Long cùng với Âu Cơ chia con ra mỗi hên tuột nửa theo cha mẹ lên núi và
xuống hể, có việc gì cũng cho nhau hiết. Bù Cơ dưa 50 dứa con dếìì ở
Phong Châu, tôn người hùng trưởng dời dời gọi lù Hùng Vương. Nhà làm
sử muốn lấy người theo cha lùm chính thống nên dổi uyi văn rằng: 50 con
theo cha ở phía Nam, mù lấy Hùng Vương dể à sau, khiến cho việc mất
sự thật, người dọc không thể không nghi được. Nếu Long Quàn không
plìdi là giống Động Dinh sinh ra thì không cần hiện luận làm gì. Long
Quân mà quả là giống Động Đình thì loài ở dưới nước tất nhiên không ở
trên bộ dược. Nhưng người con theo mẹ ai cũng phdi lệ thuộc Long Quân
há có lẽ những người theo mẹ chỉ có thể lùm man mọi ư? Xét sử cũ Ngó Sĩ
Liên hào rằng: dời Hùng Vương dựng nước chia lùm Ị5 hộ, ngoài ỉ 5 hộ
dêu có trưởng tế, lấy các con thử chia tri từng nơi; lại bão rằng 50 con
theo mẹ vê núi thì mẹ
lùm Quân trương, mọi con dều lùm chủ một
phương, mù lấy tên gọi là "nam phụ dạo", "nữphụ dạo" của hạn man tù
ngày nay làm chứng cớ không hiểt thuyết ấy có tổ thuật dâu không?".
ĐỜI SÒNG CÚA CÂU CHUYỆN
Xét chung như thế, ta thấy câu chuyện này có một đời sống khá kỳ lạ
siữa xã hội. Men dần từ gần đây về tới gốc mới phát sinh của nó, ta sẽ thấy:
1. Giữa thê kỷ XX, người đời sợ mình mang tiếng là mê tín dị đoan,
không khoa học nhưng không nỡ bỏ nó mà chỉ nói nhấn mạnh rằng nó là
truyền thuyết.
2. Đầu thế kỷ XX, với Trần Trọng Kim, người ta thao thức tìm nguyên
lý cho gốc tích cả giống Bách Việt, trong đó có một người con làm vua nước
Văn Lang nhưng vẫn đcã phải nhấn mạnh vào chữ tục truyền.
3. Cuối thế kỷ XIX với Khâm Định Việt s ử Thông Giám Ciữxng
Mục, người ta ngang nhiên kể câu chuyện như là sử, không một chút gì
nhận nó là tục truyền nhưng đã lược bcVt mấy chi tiết quan trọng.
4. Giữa thế kỷ XVIII, với Việt SửTiâỉt Án, người ta hiểu câu chuyện
với đầy đủ chi tiết, cổ thể dùng làm căn cứ được. Nhưng cũng trong sách
ấy, tác giả Ngô Thời Sĩ, chắc là vì có nhiều người đưcmg thời tỏ ý không
tin nên đã bênh vực câu chuyện với những lời thật bướng bỉnh như sau:
Nhữmị triivện lấy à sách Trích Quái, u Linh cíhig như Bắc s ử lấv ở
sách Nam Hoa Hổng Liệt. Nêìí nhất khái cho ỉờ dữ sử không đù tin thì
theo ở dán hiết dã việc chế túc lớn lao dược? Cho nên diền gì gán lẽ phải
thì dể lại, diều ÍỊÌ klìôny khảo cứu dược thì hớt di. s ử chép Đ ế Minh lấv
con yái Vụ Tiên sinh ra Kinh Dươm>, cùng với sử nhà Nguyên Nguy chép:
tục m>ữ nói Cát Phán Hoàmị d ế khôm> vợ, hai diều này cùng giống như
nhau. Đại dể các bậc thánh thần lù khí thiêníỊ chung đúc, có khác người
thườnq hoặc còn có lÝ. Đến như việc Kinh Dươn^ lấv con ẹứ/ Động Đình,
Lạc Long lấy Ẩu Cơ, loài ở nước loài ở can lấy nhau, thần với ngiư/ị à
lẩn, lời dó tựa hổ không hợp lẽ thườnĩị. Tôi trộm nghĩ: giời đất mở mang
dẩn dần, nước ta nlìán văn â sau Trum> Quốc, nước lụt dời Nghiêu chưa
hình, cúi vạc .xưa vua Vũ chưa dúc, mênh mang biển Quế Hải vần lù tô
rổní> rắn ma CỊUV tụ họp, những chuyện kỳ cpiúi sao lại không có. Chuyện
dời Chu nước dãi con rồng tụ lại mà sinh ra người con gái còn có dược,
huốny chi về dời Kinh DươiiíỊ Lạc Long? Việc tựa hồ lạ mà không phải lạ
và cũm> klìôm^ nên tự cho lù hẹp hôi như con hạ trùng thì mới phái.
Ngô Thời Sĩ có ý muốn nói bướng rằng kẻ nào không tin thì là con
hạ trùng, tức là loài sâu bọ. Thật là cuộc cãi lý kịch liệt vậy.
339
5. Cuối thế kỷ XV (1474), Ngô Sĩ Liên không phải cãi lý với ai cả,
cứ chép dầy đủ câu chuyện như đã có trong V iệt Điện u Linh và Lĩnh
Nam Chích Quái, để sau Ngô Thời Sĩ dùng làm căn cứ.
ông viết: "'Trong thời Trời Đất mới khai sinh, có những giống (lo
khí hoú mà thành như ho Bùn c ổ chẳng hạn. Có giống do khí hoú rồi
nnỳi có íỉiống do hình hoá, nhưiuị giỏng ncìo mù không hởi hai khí úm
dưo’m’7 Kinh Dịch chóp: Tr(yị dất úp ủ, vạn vcĩt hoủ thành, trai gái
chuní> tình, van vật hoú sinh. BcỶi dc) có chồng có V(/, rồi nuyi cho cha có
con, r()i mới có vua có tôi. Nhưng thánh hiền sinh ra tất khác người
thường. Vì thế do mệnh trời nên một trứniỊ én mà sinh ra nhà Thưcmg,
dạp vào dấu chân ngudi khổnẹ l() mù sinh ra nhà Chu. Đó dểu là chép
sự thực củ. Dòng dõi lự) Thần Nông là Đ ể Minh gặp dược Vụ Tiên nữ
mà sinh ra Kinh Dưcmg Vương, d() lù tlìuv tổ của Bách Việt. Vua Icỉv con
gái Đ ế Lai mù sinh dục có (liềm lành trăm trai, vì th ể mà có thể gáy
dựng cơ dồ nước Việt ta" (ql,2ab).
6. Đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi cũng nhận như Ngô Sĩ Liên, khôna
một ý gì cho là chuyện hoang đường.
Điểm đáng nên lưu ý đặc biệt là gốc để Ngô Sĩ Liên (1474) chép làm
sử là Việt Điện u Linh do Lý Tế Xuyên làm năm 1329 và Lĩnh Nam Chích
Quái thường cho là của Trấn Tliế Pháp, làm từ năm nào không rõ, được in
lại vào đời Hồng Đức (1492). Hai quyên này chép truyện thần kỳ trong
nhũiiR thánh lích của các đền miếu đình chùa và tác giả Lý Tế Xuyên nhận
là đã chi nghe thấy rồi góp nhật lại, không rõ đã có lừ đời nào.
Như vậy, tức là truyện thần kỳ quái đản đã có lừ lâu trong dân gian rồi.
7. Giữa thè kỷ XIII, Lê Vãn Hưu dược vua uỷ cho soạn Đại Việt Sử
Ký, năm 1272 thì câu chuyện lại thấy mất tích hẳn, nhà làm sử chỉ chép
từ đời Triệu trở về sau mà thỏi.
Đồng thời ấy, Lê Tắc bôn dào qua Trung Quốc viết An Nam Chí
Lược thì có chép từ Hồng Bàng nhưng chỉ kể là những bộ lạc rải rác dược
quy tụ về Phong Châu, không nhắc một tí gì đến câu chuyện nguồn gốc
kia nữa.
Tại sao? Tại câu chuyện có nội dung chống Trung Quốc, mà lúc ấy
quân Nguyên ở Trung Quốc đương sắp sang đánh thì Lê Tăc kiều ngụ ở
Trung Quốc không dám nói đã dành, đến Lè Văn Hưu ở trong nước cũng
lại sợ rắc rối mà giấu đoạn đầu của Dai Việt sử Ký đi.
340
Thê là trong cả dọc dài dời sống của câu chuyện, đã có những hồi
nó bị chìm nổi vất vả lắm, những hồi người ta sợ không dám nhắc đến nó
nữa, những hồi người ta ngang nhiên bênh vực nó, cũng như có những hồi
người ta đá kích, khôns vì câu chuyện mà vì danh cho riêng người ta. Đó
là dời Sống thường có của mọi tác phẩm lớn trên thế giới vậy.
ĐẬC TÍNH VĂN HÓA VÀ CHÍNH TRỊ CỦA TRUYỆN
Truyện có những đặc tính này không thể bỏ qua được:
1. Người phương Bắc hay quấy nhiễu.
2. Bô ở động nước, dân bị quây nhiễu kêu gọi thì Bô ra để cứu dân.
3. Bô thấy Âu Cơ là con Đế Lai đẹp thì bắt cóc vào động nước.
4. Gốc tích của Bô Lạc Long Quân cũng từ vua Thần Nông mà ra
như các đời vua của Trung Quốc, không kém gì cả.
5. Thân phụ của Bô là Kinh Dương Vương còn dược ông nội quý
mến định cho cai trị miền Bắc tức là Trung Quốc kia nhưng Kinh Dương
Vương đã nhường lại cho người anh khác mẹ là Đế Nghi.
Thế tức là cành vàng lá ngọc ngang nhau cả.
6. Sự nhường anh thi như thế, mà đối lại thì anh lại cứ quấy nhiễu em, coi nó không đang mắt chút nào cả.
Tính chính trị của truyện không lộ liễu, cho đến người mình vô ý
cũng không ngờ dể’ nhận ra. Truyện có vẻ rất xây dựng, chẳng hại gì đến
ai cả, mà nó đả phá uy tín của Trung Hoa thì thực là tích cực và triệt để.
Bởi thế, nó là một tác phẩm văn hoá.
ĐÁP ÚNC. CẦN DÌIN(ì CỦA C.IAI ĐOẠN
Trong thời kỳ bị đô hộ, người dân Việt có một mặc cảm tự ti vừa do
kẻ đô hộ khinh miệt cố ý gây ra, vừa do sự chênh lệch thực giữa văn minh
Trung Quốc giầu có huy hoàng lộng lẫy và cảnh sống tối tăm nghèo nàn
của mình. Với mặc cảm tự ti ấy không bao giờ người ta dám nghĩ chống
lại kẻ đô hộ. Dù người lãnh đạo có chân thành bậc nào cũng không thể
đẩy nổi đám dân tự ti như vậy. Cho nên điều kiện không có không được
về tinh thần là phải tạo được cho trong đầu người dân có một ý nghĩ mình
không kém gì kẻ đô hộ cả.
Việc đưa lịch sử về đến nguồn gốc ngang hàng với nguồn gốc của
kẻ đô hộ, lại giành lấy cái phai về phần mình, quả đã có một tác dụng tâm
lý hết sức mạnh mà hẳn nhiên người đô hộ không ưa, nên khi thấy họ sắp
dưa binh qua xâm lăng thì phải giấu câu chuyện đó đi, để khi sau này
dánh đuổi được quân xâm lăng rồi thì lại cho câu chuyện hiện trở ra.
Ngoài mánh lới gây tin tưởne cho dân ở sự phù trợ của Rồng và
Tiên, câu chuyện này, với những ý nghĩa tượng trưng của hai ý niệm ấy,
còn muốn nói lên cái kiêu của con cháu giống Rồng và Tiên là năng u,
năng minh, năng tiểu, năng đại. Lúc rồns thất thế thì cuộn tròn mình nằm
dưới ao tù. Nhưng lúc gặp mây thì rồng sẽ vươn mình bay ra khắp vũ trụ.
341
Do đó, ta thấy truyện đã không có tính cách nhũn nhặn chút nào hết.
TRUYỆN NẢY SINH VÀO THỜI NÀO?
Vào thời nào ta sẽ luận ra sau, nhưns phai là hồi ở Giao Châu đã có
chữ Nho. đã có quan niệm và thực tế của sự cắt đất, phong vương và
người dân phải đã có manh nha cái ý không sợ, không phục đàn anh,
cũng như cái ý muốn nghênh ngang riêng mình một cõi.
Càn cứ vào mấy yếu tố ấy, ta tìm lại lịch sử thấy đời Hùng không
thể có được vì chưa có chữ Nho. Cuối đời Hùng có một lớp nho sĩ anh
hùng hảo hán của các nước bị Tần thôn tính mà chạy đến Giao Châu
nhưng những người ấy cũng chưa yêu mến gì đất nước và dân chúng xứ
này đến dộ tạo cho nó có một nguồn gốc sang cả như Trung Hoa nên ta
cũng tin rằng truyện chưa thể nảy sinh ra được. Đời Thục cũng chưa có.
Đến Triệu thì Triệu cũng chỉ mượn tạm dất này làm căn cứ địa mong một
ngày đọ sức với Hán nhưng rồi lại thần phục Hán với lời lẽ quy luỵ trong
.sớ tấu thì Triệu cũng không nghĩ rằng dàn man di này lại có thể có một
nguồn gốc gì ngang với Trung Quốc văn minh. Sau Triệu, dất nước đã ở
trong vòng đô hộ rồi, người dân càng bị khinh miệt, thế tất lại càng khó
dể có câu chuyện này. Tliời gian Giao Chi tự chủ với Hai Bà Trưng chỉ
trong vòng ba năm dã ngắn ngúi quá dể có thổ gây nổi một ý thức hệ như
ý thức hệ Rồng Tiên.
Sau đấy, suốt thời gian dài đằng đẵng, người Giao Chỉ đã bị khinh
mệt, họa chăng đến cuối dời Đường mới bớt phần nào mặc cảm, nhờ có
những vị cao tăng đi sang lận Tây Trúc, đi chung cả vào đoàn thuyền giáo
Trung Hoa, lại sang củ cung vua Đường giảng kinh thuyết pháp.
Sự bót mặc cảm ncày, thêm vào với việc họ Khúc dấy nghiệp xin
dược lự trị (906-907) đã cho ta thấy loé lên cái hy vọng muốn riêng mình
một cõi. Và trận Bạch Đằng của Ngô Quyền mới là dịp quyết định cho
dân tin tưởng dứt khoát Icà mình không kém gì người Trung Hoa cả. Cáu chuyện nguồn gốc Rồng Tiên vậy là chỉ có thể xuất phát được
vào thời khoảng lịch sử của họ Khúc đến dời Ngỏ, Đinh và Lê mà thôi.
TRUYỆN DO AI MÀ cỏ?
342
Hiện nay không biết đích được. Chí biết ràng trong xã hội cổ ngoài
nhà ở ra, không có rạp hát, không có cao lâu tửu điếm thi chỉ có hai nơi
thu hút quần chúng đẹn gặp gỡ nhau và chuyện trò với nhau. Hai nơi ấy là
chợ và chùa. Chợ thì thường người ta đến mua bán, mau mau chóng
chóng rồi về, ít có thì giờ ranh rang ngồi nói chuyện này qua chuyện
khác. Ai đi đâu xa cũng đến chùa lễ bái xin cũng như các tin tức khắp nơi
đã tự nhiên tập trung về chùa, rồi lại từ chùa mà tung trở ra khắp nơi.
Vì vậy, la không sợ lầm lạc khi đoán ràng truyện đã phải do các nhà sư sáng tác.
Ta nhớ ràng từ đòi Đinh, sư Ngô Chân Lưu đã được vua Đinh trọng
vọnư và phong Khuông Việt Thái sư. Tất hẳn ngoài đạo cao đức trọng,
Thái sư còn phải có một uy tín và một khả năng huy động quần chúng thế
nào nữa mới khiến vua Đinh làm việc ấy.
TÓM LẠI
Người ta đã vì tài liệu lịch sử bị cắt xén dần dần và giản lược hoá
dần dần, đến chỉ nhìn thấy có một góc của câu chuyện tưởng là góc căn
bản, nên từ bao nhiêu thế kỷ nay người ta cãi nhau chỉ để biết nội dung
câu chuyện có thực có Rồng kết duyên với Tiên chàng. Tronư khi ấy thì toàn ca câu chuyện lại nhằm mục đích khác mà noười ta không ngờ có để tìm lòi.
Ây là lỗi ở người tiếp nhận, chứ không phải ở tác giả. Câu chuyện
chỉ đẹp ở toàn thể các chi tiết, như bức tranh chỉ đẹp ở sự hoà hợp chung
của tâì cả các đường nét. Cắt nó ra một mảnh, mà lại là cái mảnh vỏ. rồi
cứ tranh cãi với nhau về đúng hay không, khoa học hay không thì thật là
một trò cười.
TÍNH CÁCH THẦN KỲ QUÁI ĐẢN
Nếu ta lại dừng tỏ ý sợ hãi điều mang tiếng là mê tín dị đoan để đi
sâu vào tính cách thần kỳ quái đản mà nghiên cứu thì ta sẽ nhận ra ở thời
phát sinh truyện Iicày, tác gia của nó dã từng được đọc, được nghe biết
nhiều truyện quái đản của Trung Hoa và của Ân Độ. Tất nhiên những
truyện ấy có ánh hưởng giúp cho sự sáng tác chuyện Rồng Tiên này.
Phđn Trung Hoa thì thường yêu quái là thú bị phải lu luyện lâu năm
mới biến thành hình người để kết duyên với người mà làm hại người. Còn
thần tiên đầu thai lấy ngưừi là làm hay cho người. Truyện của Trung Hoa
tuy quái đản nhưng tỷ lượng hợp lý của người vẫn nhiều hơn. Phần Ân Độ thì truyện lại thần kỳ ngay đối với các thần và quái đản ngay đối với những ma quái.
Nghĩa là diểu tưởng tượng của Trung Hoa còn là ở mức người tưởng
tượng ra cho sinh hoạt ở trong thế giới của người, còn của An Độ đã tới
mức là của thần tưởng tượng ra để sinh hoạt trong thế giới của thần.
343
So sánh với hai loại truyện thần kỳ quái đản ấy, thì truyện Rồng
Tiên chưa thấm vào đâu cả. Nó mới chi như truyện Kaudinya một Bà La
Môn từ Ân Độ qua đã lấy con gái vua rắn Naga rồi sáng lập nên vương
quốc Phù Nam.
Truyện Rồng Tiên đã chỉ đảo ngược thế nhân vật của truyện chính
đi cho Tiên (bà) bị Rồng (đực) bắt cóc và đổi rắn thần là Rồng thần.
Rồng vẫn giữ phong thái của rồng là ở động nước, không biến hình thành
người như các chuyện Trung Hoa phải có.
Vậy ta có thể nhận ra cốt truyện là Ân Độ; đoạn dẫn vào chuyện từ
Thần Nông đến Sùng Lãm là Trung Hoa; đoạn bất hợp lý đương theo cái
dòng Thần và Tiên thì chỉ vì danh xưng Lạc Long Quân mà là Rồng,
đoạn ấy chính là Lạc Việt. Đoạn sinh ra trăm con thì vua Văn Vương ở
Trung Hoa cũng có, nhưng sinh dần bởi nhiều bà vợ, một cách rất họp lý
như Tàu. không thần kỳ như An Độ nhưng nó có vẻ thực. Đến đoạn chia
con cìing một bọc mà ra (đồng bào) chính là phần muốn dạy luân lý của
tác gia để tác động tinh thần của quần chúng. Đó là điều đáp ứng nhu cầu
giai đoạn khi người Lạc Việt bắt đầu cựa mình để vùng dậy.
,U 4
GIÀNH GIẬT QUYỂN Tự TRỈ
CHƯƠNCỈII
TÓM LƯỢC
Dân chúng đã giác ngộ quyền lợi quốc gia dân tộc và giá trị bản
thân. Khúc Thừa Dụ lợi dụng lúc triều Đường nshiêng ngả giật lấy chức
Tiết độ sứ và đẩy cho thành việc đcã rồi, để nhà Đường đành hợp thức hoá.
Đến đời cháu, Khúc Thừa Mỹ không giữ được nước, bị quân Nam Hán
bắt và đặt lại ách đô hộ như cũ. Nhưng bộ tướng cũ của họ Khúc là
Dương Diên Nghệ lại nổi lên đuổi quân Nam Hán.
Sáu năm sau, kẻ việt gian là Kiều Công Tiễn thí chúa và xin quy
phục Nam Hán, thì lại có Ngô Quyền là tướng tâm phúc và cũng là con rể
của Dương Diên Nghệ dem binh từ ái Châu ra giết được Công Tiễn và
dánh tan quân Nam Hán ở Bạch Đằng Giang.
Trận Bạch Đằng là một trận thắng oanh liệt của Ngô Quyền, bắt
sống được Thái tử con vua Nam Hán, tiêu diệt hết đoàn thuỷ quân viễn
chinh, đến nỗi vua Nam Hán đành khóc mà cho quân quay thuyền về,
không dám tham chiến nữa.
HỌ KHÚC
Dân chúng đến giai doạn lịch sử này đã giác ngộ về quyền lợi quốc gia dân tộc và giá trị bản thân.
Bằng chứng thứ nhất là khi Khúc Thừa Dụ thấy triều Đường
nghiêng ngả đã không để lỡ cơ hội, giữ luôn ngôi Tiết độ sứ cho thành
việc đã rồi, sau đó mới cho sứ đi xin vua Đường hợp thức hoá. Vua
Đường dành chấp nhận và phong luôn cho ông chức Đồng Bình Chương
Sự là một chức lớn, phải làm quan lâu năm men lên nhiều cấp bậc mới
được, chứ không thể từ một chân hào trưởng tay trắng mà lên ngay chức
ấy và đình thần không một lời dị nghị nào.
345
(Ta bắt buộc phải đoán rằng hào trưởng Khúc Thừa Dụ tất phải
có bà con họ hàng nào với một quan triều hết sức thần thế, chưa biết
chừng là một thứ sui gia, hoặc cũng mất khá nhiều của đút lót mới
trót lọt được việc ấy).
Bằng chứng thứ hai là năm sau họ Khúc tạ thế (909), con là Khúc
Hạo nối quyền cha đã thi hành ngay mọi cải cách, không một chút ei bỡ
ngỡ, để sáp đặt lại các đơn vị hành chính lừ cấp xã trở lên, giải quyết cả
những vấn đề quân sự, sưu dịch, thuế khoán thì nếu ngày thường không
để ý xcm xét những hư hỏng của chế độ trước, ắt người ta không thể làm
ngay những việc cải cách ấy được.
Bằng chứng thứ ba là dân được sống yên ổn thêm 10 năm dưới
quyền cai trị của Khúc Hạo từ 907 tới 917. Trải cuộc biến thiên ở Trung
Hoa, nhà Đường đổ và nhà Lương lên thay, họ Khúc chính thức thần phục
nhà Lương nhưng nghênh ngang với điều kiện không chịu trả lại quyền
cho Nam Bình Vương Lưu Ân được vua Lương cử đi cai trị Quảng Châu
và luôn cả Giao Châu. Trước mưu toan tái lập đô hộ ấy của nhà Lương,
họ Khúc cương quyết chống.
Lưu Ân đành chi giữ có Quảng Châu, được 4 năm thì mất, để em là
Lưu Cung thay thế, và khi thấy nhà Lương suy yếu, Lưu Cung tách luôn đất
ấy ra để biệt lập làm vua, đặt lên nước là Đại Việt sau đổi là Nam Hán.
Bằng chứng thứ tư là sau Khúc Hạo (917), cơn là Khúc Thừa Mỹ cứ
việc nối ngôi, chỉ xin Lưcmg chúa thừa nhận mà không cần biết Nam
Hán, khiến ba năm sau Nam Hán sai tướng Lý Khắc Chính và Lý Tiến
xua quân qua đánh. Khúc Thừa Mỹ chống không lại đành chịu để bị bắt.
Thế là đất nước lại rơi vào vòng đô hộ dưới quyền thứ sử Lý Tiến với
quân đội chiếm dóng của Lý Khắc Chính.
Nhưng không lâu, cái thú sống tự lập dã bốc men trong lòng người
Lạc Việt và quân đội Nam Hán cũng không mạnh gì nên 8 năm sau
(931), tướng tâm phúc của Khúc Hạo là Dương Diên Nghệ nổi lên, lại
duổi được bọn Tiết dộ sứ nhà Nam Hán di và giành lại quyền tự trị. Ta
thấy cuộc vật lộn rất gay go.
Dương Diên Nghệ không dò dưới trướng có kẻ việt gian là Kiều
Công Tiễn, hắn ám hại họ Dương năm 937, rồi giữ lấy ngòi và xin thần
phục Nam Hán.
Thế là Ngô Quyền, tướng tâm phúc của họ Dương mà cũng là con
rể, nhàn việc ấy mới khởi nghĩa lớn đem binh lừ ái Châu ra đánh Kiều
Công Tiễn. Kiều Công Tiễn một mặt chống cự, một mặt kêu gọi quân Nam Hán
qua giúp.
Nam Hán được một dịp may có chính nghĩa để cất quân, lại có thể
nhân cơ hội dẹp loạn giúp tay sai đàn em, mà thôn tính luôn Giao Châu
nên vua cho chính Thái tử Hoang Tháo đem quân di trước, còn mình sẽ
3 4 6
Ihân chinh sau. Phán Ngo Quyền thì một mặt vây Kiều Công Tiễn, một
mạt bố phòng các nơi hiểm yếu để đánh quân Nam Hán.
Quân Nam Hán là thứ quân thiện về thuỷ chiến.
Ngô Quyền biết tất nhiên Nam Hán phải dùng đường thuỷ, chỉ chưa
rõ lực lượng đưa qua hùng hậu thế nào nhưng đội tiền phong mà có cả
Thái tử Hoằng Tháo cầm quân thì không thể coi thường được. Họ Ngô dự
liệu hết các đường xâm nhập, cho quân đi ngăn chặn hết các cửa sông, từ
cửa sông Kinh Thầy lên Lục Đầu Giang, đến các cửa Văn úc, Thái Bình,
cửa Lạch, cửa Đáy, Cửa Thần Phù ở dưới, chỉ để một cửa Nam Triệu vào
Bạch Đằng mà thôi.
Hồi năm 938, cửa Nam Triệu và đường sông Bạch Đằng không đi
thông suốt được như ngày nay. Chỉ khi nước triều xuống, trông rõ đường
sòng thì thuyền đi mới chắc chắn an toàn, nhưng thuyền lớn chở nhiều
quân lính thì lại cạn không đi được. Khi nước triều lên, thuyền lớn đi
được thì nước lại mênh mông, không có gì làm mục tiêu để nhận biết
đưòfng sông mà đi. Hễ đi lệch sang bờ là thuyền mắc cạn.
Bàn dồ vùng Bạch Đằng
1. Ranh giới vùng núi cao
2. Các đồi ở đồng bằng
3. Cây xú, cây bần mọc trèn vùng đất mặn
4. V ùng đất đã có người ớ và trồng trọt
347
TRẬN BẠCH ĐẰNG
Sử chép N2Ô Quyền cho lính đóng cọc gỗ bịt sắt nhọn ở lòng sông
để lừa quân Nam Hán vào tròng, chờ khi nước triều rút thì thuyền bị cọc
đâm thủng mà đắm. Không chắc đúng chiến thuật như vậy bởi vì cọc làm
thủng thuyền của địch thì cũng làm thủng thuyền của mình, còn lấy gì mà
đánh nữa? Có lẽ đấy chỉ là mẹo lừa của Ngô Quyền: cũng đóng cọc để
chạn lối không cho vào như ở các cửa sông khác nhưng các cửa sông
khác thì chặn thật và đã đóng cừ xong rồi, còn cửa sông này thì chặn giả
và chỉ khi thấy quân Nam Hán đến gần mới bắt đầu vội vàng đóng cừ để
chúng thấy thì đến đuổi và phá đi lấy đường vào. Như thế là để chúng yên
trí đưòíng này cũng vào được nên địch mới lo ngăn giữ như vậy.
Hoằng Thao dẫn thuỷ binh rầm rộ có thể đã tiến vào cửa sông Kinh
Thầy là cửa gần nhất từ vịnh Hạ Long tạt qua. Nhưng không đi được. Cừ
gỗ và đá tảng đã chẹn mất lối đi rồi. Hắn tất lại phải cho quân quay
thuyền ra đi xuống cửa Thần Phù, là cửa sông mà giặc Đồ Bà đã dùng để
vào đánh Giao Châu. Cửa ấy còn bị chẹn kỹ hơn nữa. Hắn nôn nóng hết
sức. vừa vì phải tới gấp để cứu Kiều Công Tiễn, vừa vì cái hống hách của
dân Thiên triều cần chóng đến nơi ngay để đánh mà ra oai. Hắn có thể đã
quay thuyền trở ra nữa đến cửa Đáy. Cửa Đáy cũng bị chẹn cứng như thế.
Hắn tức bực lại đưa thuyền đến cửa Nam Triệu thì vừa đúng lúc thấy
quân của Ngô Quyền đương hì hục vội vã dóng cừ. Hắn vội cho quân vào
đuổi rồi nhổ cừ đi, đoạn yên trí đã có đường thì nghỉ ngơi, ăn uống, cười
hả hê, chờ nước triều lên là vô. Hắn đã mắc kế.
Trong này Ngô Quyền chuẩn bị cho quân đi từng hai ba người một
trên những thuyền nhỏ ở các khe rạch. Mục đích chỉ là đánh quấy rối rồi
bỏ chạy loạn xạ.
Hoằng Thao thấy ngon quá. Không ngờ Ngô Quyền lại nghèo nàn tồi
tệ đến nỗi không có cả thuyền chiến và quân thì yếu kém đến chưa đánh đã
thua chạy như vậy. Hắn bèn cho lệnh các chiến thuyền cứ thế mà đuổi.
Hàng trăm hay mấy trăm chiến thuyền như vậy không còn đâu là
đường sông nữa, cứ ào ạt tiến lên. Cho đến lúc nước triều rút thì thuyền
nằm chình ình cả trên những bãy lầy, trong khi những thuyền con của
Ngô Quyền, cứ di động thoăn thoắt trên các kênh rạch và từ đấy mà bắn
xối xả vào.
348
Các chiến thuyền không bị thủng đáy, vì không có cọc nào đâm
thủng cả. Nhưng cái thì ngả nghiêng, cái thì gục đầu, cái thì chồng đầu
lên. Quân trên thuyền nhốn nháo như ong vỡ tổ, còn lòng dạ nào mà
đánh, vả quân địch ở xa thì đánh với ai? Chúng hò nhau nhảy xuống để
kéo thuyền ra. Thì bãi sình lầy lội cứ lún dần người xuống, đê’ đứng trơ ra
làm bia cho quân bên này bắn vào.
Thế là quân tướng của Nam Hán ở trên thuyền cũng chết, nhảy
xuống bãi lầy cũng chết. Trong khi ấy thì tiếng trống thúc quân dồn dập
lừ bốn phía cho những thuyên con túa ra, càng lúc càng dông. Trừ phi có
phép bay lên trời mới thoát dược, còn thì không một tướng tài giỏi nào gỡ
dược trận ấy nữa.
Hoang Thao phải dưa tay chịu trói, còn tất cá đoàn thuỷ quân thì không dầu hàng tất bị bắt hay bị giết. Không sót một mạng. Trong lịch sử chiến tranh, thật chưa từng có một trận dánh nào lý thú dến như vậy.
Vua Nam Hán dẫn binh lới sau, dành khóc mà quay về.
Đó là trận thắng vỏ vang mở dầu cho một giai doạn dộc lập, để nền
349
văn minh Lạc Việt chuyển mình thành văn minh Đại Việt.
TỔNG LUẬN
Trong tập ThưcỊìig của cuốn sách luận này, chúng lôi đã trinh bày vói bạn đọc lịch trình tiến hoá của dân tộc ta lừ khởi nguồn đến thế kỷ thứ X.
Chúng tôi đã cố gắng làin sáng một số vấn đề về sử vẫn gây nhiều
thắc mắc cho bạn đọc Vcà đặt lại một sỏ' vấn đề khác cho sự hiểu sử được
thấu đáo hơn. ấy là theo chỗ chúng tôi thành tủm nghĩ như thế là đúng, đế
ước mong hàm được như thế mà giúp bạn đọc khỏi mất thì giờ quá nhiều
vé những gì đã thuộc quá khứ xa xôi, đế dành tâm lực vào những vấn dé
khác thuộc hiện tại và tương lai của dân tộc.
Nhung cái quyền dứt khoát tư tương một lần như thế không ở một tác
giả là chúng tỏi mà ở chính thiên lưong của bạn dọc, để phán xét về nhũng
phán nàơ hữu lý có thể tin là đúng được. Những sự kiện lịch sử bao giờ cũng
da dạng, phức tạp và tuỳ lập trucmg chính trị mà luận giải được theo nhiều
cách, có khi ngược hán nhau. Nhũng sự việc xảy ra trong hiện tại trước mắt
chúng ta cũng còn thực giả khó phân, hiểu theo chiểu nào cũng thấy là có lý
củ thì còn nói gì tới những việc dã xay ra lừ hcàng trăm, hàng ngcàn năm cũ.
Nếu chỉ căn cứ vào những tcài liệu chép trong những cổ thư, dể cô
chấp cho dấy dã là chân lý thì ta chỉ cần nghĩ rằng: các cổ thư dã có thể
chép lẫn của nhau, cũng dã dủ cho ta giật mình và nghĩ cần phai có cách
gì khác dế lìm những sự thực lịch sử.
Cách gì khác ấy là sự tạm quên mình trong những điều kiện hiểu
biết của hiện tại để vé sống thực trong trạng thái tinh thần và vật chất của
ủa hiện tại đế vé sống thực trong trạng thái tinh thán và vật chất của
Ị thời kỳ lịch sử cũ mà la cần tìm sự thực, rồi lấy những diễn biến
những thời kỳ lịch sử cũ mà la cần tìm sự thực, rồi lấy những diễn biến
iêp của lịch sử làm phương tiện kiểm soát lài liệu trước khi dùng
liên tiếp của lịch sử làm phương tiện kiểm soát lài liệu trước khi dùnr
việc xây dựng lại dời sống xưa.
Chúng tôi dã dùng những cách khác ấy đổ lìm tòi và dã dưa ra trong
sách những vấn đề mà chúng lôi xin liệt kê dè bạn đọc có một thống quan
như sau dây:
1. Nguồn gốc thần kỳ vể con Tiên cháu Rồng
Chỉ có thé’ hicLi dược truyện Nguồn gốc Rồng Tiên là một tác pham
về văn hoá và chính trị, phát xuất ở thời kỳ dân tộc hết lự ti mặc cảm với
Trung Hoa và bắt dầu nuôi một kiêu hãnh quốc gia dổ biìl xiềng đô hộ.
Khổng nên dọc nó là sỉr và cũng không nên đe nó ơ dấu quyển sử, dù có
thém c;i chữ “theo truyền thuyết” khiến người dọc dỗ hiểu lầm.
3.‘SI
Nhưng ngược lại, cũng không nên vì tính cách thần kỳ quái đản để
giải thích nguồn gốc dân tộc ấy mà hồ đồ và hiếu lầm cho cá một đoạn sử
đời Hùng cũng là hoang đường cả.
2. Danh xưng Hùng vương (hay Lạc vương)
Cũng như những nhân danh và địa danh khác, ở thời thượng cổ, con
cháu đã đặt tên cho tổ liên. Thời ấy ta không giao thiệp với Trung Hoa
nên không có chữ Nho, chỉ có một mớ tên nôm nào đó, nay không tìm ra
nữa. Đừng vì một ông H.Maspéro khoe tài bắt bẻ chữ Nho mà mắc vào
cái tiếng cười của người la là mồ cha chẳng khóc, khóc đống mối (cả mấy
nghìn năm) để rồi cuống lên với nhau về vấn đề Hùng đúng hay Lạc
đúng. Hùng là tên mà con cháu người mình đặt cho tổ tiên của mình, đã
có dền thờ, có duệ hiệu, có ghi vào sách và toàn dân đã biết rồi. Còn Lạc
là tên do một ông con nuôi người Tây đem óc hợp lý của Tây vào, bảo
như thế mới dúng. Thì mặc ông ấy. Ta cứ dùng cái tên dã dược công nhận
để chí dòng vua đầu tiên của ta.
3. Thuỷ tổ người Việt Nam
Không thể tách rời việc lìm người thuỷ tổ ra khỏi việc tìm địa bàn
nơi gốc tổ, nó cho phép người thuỷ tổ ấy cư ngụ và sinh sống. Phong
Châu chí là gốc tổ thứ hai mà đời sống đã chuyển sang canh nông. Gốc tổ
thứ nhất chính là cửu Chân, nơi tứ chiếng quần cư của các giống dân
sống bằng nghề săn bắn, chcài lưới, đi biển. Đó là những người lẻ tẻ từ Bác
Hái xuống, từ Nam Hái lên, đế lai giống với nhau thành người Giao Chí.
NhũTig nhà khảo cổ học, căn cứ vào các di tích tiền sử. ở Hoà Bình
và Bắc Sơn, đã nhìn nhận có hai nền văn minh mà văn minh Hoà Bình ở
phía Nam xưa hơn phía Bắc. ấy là đã có một cuộc di cư tìm đất sống để
làm canh nông. Và khi tới nơi, các bộ lạc mới tập hợp lại dưới quyền
thống lãnh cùa họ Hùng Vương.
4. Quốc hiệu Văn Lang
Văn Lang cũng là cái lên mà con cháu về sau này đặt ra khi có học
dược chữ Nho. Cụ tổ Hùng Vương chắc chẳng hề biết gì hết.
3.32
Tuy nhiên, người yêu mến dất nước mình, lo tìm một cái tên dặt
cho đâì nước mình, một việc làm quan trọng hết sức, tất người ây phải
hiếu rõ hết nghĩa ở nội dung của 13 tự dạng của chữ Lang rồi mới so
sánh và lựa chọn. Không ai dùng chữ Lang có nghĩa là con chó sói,
con bọ ngựa, cây cau, câu cỏ. cái xích v.v... Thì người ta tất phải dùng
chữ Lang bộ nữ. troim thành noữ Ngọc Kinh Lang Hoàn, có nghĩa là
nơi Trời để kinh sách.
Sau này bị dưới quyền đô hộ cúa Tàu, ncười mình mới sợ mà phái
tự rút lui. lấy Lang bộ ấp mà một chức quan nhỏ. đê ra déu là “chúii2 con
không dám. chỗ Trời để kinh sách là ở Thiên triều kia”.
Nay ta nên lấy lại chữ Lang với nội dung nguyên thuỷ của nó. Còn
văn chi là dẹp. là văn vẻ chứ không phai là vẽ mình (văn thán).
Sớ dĩ cũng cần phái thế là vì có một việc đáng tiếc xảy ra trong sách
Thuỷ Kinh Chú của Lý Đạo Nguyên dời Hậu Nguy (386-534). Nhà danh
nho ấy của Thiên triéu Trung Hoa đã giả vò không biết tự dạng chũ' Lang
nào. mà chép vào sách chữ Lang với bộ khuyên là con chó sói. Tư cách
danh nho ây thật là tư cách của những kẻ dáu dường xó chợ.
5. Trông dóng có từ hổi nào?
Các nhà học gia phương Tâv xác dịnh niên đại vào khoáng đời Hán,
2.3 trăm năm trước và sau công nguyên. Chúng tôi có cám tưởng là cái
trống ấy bị người la bát nạt. Một cổ vật từ bao nhiêu dời trước truyền dần
mãi dến chúng tói, nav vì loạn lạc chúng tôi phủi chôn nó xuống chạy.
Khi chôn lỡ vương vãi mấy dồng tiền cúa dương thời vào đây. It trăm
năm S íiu dào dược cổ vật ấy người ta bảo nó bằng tuổi với đồng tién kia
thì... nó có miệng dâu mà Ccãi.
Nhưng, thôi cũng dành biết vậy, bởi mình không có người chuyên
về khíio cố học, vẫn phai trông cậy 6 người ta, nèn người ta dịnh sao mình
phái chịu vậy. Chỉ xin ghi nhận ráng thòi dại dồ dồng tại Ai Cập, Lưỡng
Hà dcã dược nhận định là o 3.000 năm trước công nguyên.
6. Trống đồng trong đời sống bộ lạc
Tính cách da dụng của nó (truyền âm, thông tin, tập họp, thúc quán ở
rùng núi) thêm tính cách thiêng liêng (cầu dáo, tê tự) chỉ tù trưởng mới có
trống và mới dược giữ, dùng xong lại kính cẩn cất di và cũng lại chỉ một số
người nào được ân sủng của thán linh mới dúc dược trống. Mỗi bộ lạc có
một thứ trống riêng, mà bộ lạc quán lĩnh tất có trống riêng khác nữa.
7. Hình vẽ trên mặt trống
353
Không phai hình trang trí, và người làm thích g'i thì khác nìíy vào.
Hình vẽ ấy phải tìm hicLi là những dấu hiệu tượng trưng. Còn chưa tìm ra
ý nghĩa ma thuật trong những số lượng hình vẽ thì chưa nên kết luận gì vổ
tiêu đích của toàn bộ hình vẽ. Những trang phục cúa người cũng không
nên hiếu là trang phục thỏnti thườiiíỉ hàn» ngày của người xưa. Đó là
tram: phục riêiiíỉ trong buổi lẻ.
8. Vật tô
Vì Cửu Chân hà nơi tụ hội nhiều bộ lạc với nhiều thứ trống đồng nên
vật tổ trong một cái trống đã không thể nhận hà vật lổ duy nhất cho tất cá
các bộ lạc khác.
9. Chữviết
Chưa thế nhận chù' Mường (Tlianh Hoá) là chữ cổ của người Giao Chỉ.
10. Tiếng nói
Cỏ lẽ nhờ không có chữ dế dinh chế ncn tiếng mới hết .sức phong
phú. Đáu tiên bộ tiếng nói chỉ là những âm mà người ta phát âm một cách
tự nhiên bàng cá nhũìig dáng điệu, nốt mặt, cử dộng, môi, mắt, chiểu ứng
theo hình thái, dáng dấp. chiều hướng, bề thế, của các vật và việc mà
mình muốn nói. Những âm ấy là những àm lượng hình. Đè rồi sau những
người khác nói những âm ấy với ít nhiều sai lệch về bộc ám, thì lất cá
nhũng tiêng có cùng một âm g(5c dều đã có một ý nghĩa ở nội dung thuộc
trong vòng ý nghĩa của âm. Đó Icà những liếng tượng hình. Đó là vinh dự
vé sáng tác của người Việt, như vinh dự của người Trung Hoa dã sáng tác
ra chữ lượng hình.
11. Đường viển bờ biên Bắc Bộ
Dường vién có thay đổi nhiều. Sông Hồng còn dó với nhũng phù sa
bồi dãp hằng nám dế làm chứng. Hồi đầu, họ Hùng Vương không ở được
vùng Cổ Loa (Bắc Ninh) mà phai định cư ở Phong Châu (Việt Trì, Phú
Thọ). Cho đến dời Thục dô mới dời xuống cổ Loa.
12. Đời Hùng dài bao nhiêu năm?
Từ Phúc Yên đến cổ Loa cách 2,^km. Nếu vì không có đê dồn nước
vẻ một hướng, khiến nước sông cứ tràn lan rộng ra, theo ước lính mỗi thê
ký hờ biổn lãn ra dược I km thì dã phai mất 23 thố ký, bờ biển mới tới cổ
Loa. Vậy dời Hùng dcài khoang trên dưới 23 thê kỷ.
13. Gia đình phụ hệ
354
Ngay khi dời sống xã hội chuyển sang canh nông và dịnh cư thì gia
dinh cũng chuyển từ mầu hộ sang phụ hệ. Lúc ấy bát dầu có tư hữu tài
sản, có gia tài của tổ phụ di lai và có sự biết ơn đế thờ phụng gia liên,
cùng chốn cất giữ gìn di hcài người quá cố.
14. Phiếm thần giáo cổ sơ
Người xưa thờ dư thứ thần linh coi là có huyền năng làm ra những
hiện tượng thiên nhiên như: mưa, gió, sấm, sét, bệnh tật, đau ốm. chết
chóc, tai hoạ. Họ cúng cả tà ma, yêu quái nhưng không thờ.
15. Bàn thờ gia tiên trong nhà
Người xưa đặt bàn thừ trong nhà là dể tiện kêu cáu sự phù trợ. với
sự tin chác tổ tiên ông bà hắn phải thưong con cháu dể di kêu xin giúp
những cửa nào cần kcu xin khi con cháu gặp điều không may.
16. Việc thờ thần linh
Việc ấy cũng như việc cúng lỗ, kêu xin giúp dân là dạc quyền tôn
giáo của tù trưởng. Vì vậy, dịa vị tù trưởng được tôn kính hơn lên, ngoài
giéng mối ân nghĩa vổ sự che chở, hướng dần làm ãn và ca liên hệ dòng
máu nửa.
17. Đạo Tiên
Đạo Tiên là một dạo tu đế dược trường sinh bất tử, cho người cố sơ
tin có thể có huyền năng đạt lới được. Đạo này đã có mầm mống ngay từ
đời Hùng Vương. Những hang động dá truyền là noi Tiên ỏ' và đi về.
không ai dám chồn người chết cùng làm gì nhơ uế.
18. Đời sống xã hội
Đất ớ trong làng chật hẹp vì người dông dần lên. Còn dất ruộng thì
rộng. Đất ruộng giữ người ớ lại làm ăn nên không có sự di dịch quan
trọng để cư trú lung tung. Mỗi làng trở thành nơi tụ hội của một họ hav
hai ba họ có liên hệ hôn nhân với nhau. Tinh thân mật hết sức kco sơn.
19. Nền văn hiến
Nền văn hiến đã có ngay từ khi chưa có chữ Nho cúa Trung Quốc
truyền sang. Nhờ dư luận trong làng uốn nắn, khuyến khích, ngăn ngừa,
trừng phạt, nhờ nếp sống lình nghĩa giữa gia đình, họ hàng, người dân dã
ăn ở phai dạo, theo thiên lính. Vậy chưa cần có chữ Nho với dạo của
Thánh hiền Trung Hoa, người Giao Chỉ dã có một nền nếp văn hiến rồi.
355
Cũng chưa cần phải có dạo Lão, ở Văn Lang đã có dạo Tiên rồi.
20. Đời sống chính trị
Theo thiên tính. ThÌLMi Iriéii Hùníỉ Vươniỉ ó' Iruiiíí ưưntỉ. các làns của
các tù trưứiiíi XUI12 quanh là chư hầu. Dân lànư phó mặc tù trưởng giao
thiệp với trung ưo'ng. không phải lo việc ấy. Đó là gốc rỗ nảy sinh đặc
lính tự trị cùa mỗi làng.
21. Đời sống kinh tế
Đời sông không phát triến về trao đổi hàng hoá. Chi có canh nông
lự lúc mà thòi.
22. Kỹ thuật canh tác
Kỹ thuật nàv dõi hỏi nhiéu kinh nghiệm lâu năm tại địa phương về
mưa. náng, nước, bão. lụt, đâì trổng trọt và hạt gióng, phân bón. Nếu phai
dợi người Trung Ht)a dem kỹ thuật canh lác dén cho thì trái mấy nghìn
nãm, dân chêl dói hết còn gì nũa!
23. Những trò chơi vui
Trong làng dã có nhiều trò chơi vui vào những dịp mùa màng gặt
hái xong rỏi. Không chơi vui thì không biết làm gì cá.
Chơi vui như thế cán ca hát, nháy múa. chuyện trò. Bộ liếng nổi
được phát irién, nhất là từ những trò chơi ử gia dinh vồ ám thanh, tiếng
dệm, nói lái.
24. Bộ tiếng nói
Bộ tiêng nói có một dặc tính riêng là nói xuôi, theo trình tự hợp lý kà
nói cái liếng chỉ định một vật hay một việc trước, rối mới thèm lính từ nàơ
dó lớn. nhỏ, dài. ngắn v.v... ia sao. Không giống tiéng của Trung Hoa dã
IKM ngược lại, vì ảnh hướng cách làm văn chương cùa giông dân cớ chữ.
25. Tiếp xúc văn minh miển Nam Trung Hoa
Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, ngưòi Trung Hoa mién Nam dã dên
với tư cách nương nhờ. nên uốn lưỡi nới theo tiêng cúa người bán xứ. Tiêng
nổi của dân Giao Chỉ vì vậy không mâl. mà lại dược phong phú thêm.
Chữ viết do họ mang đến dược dọc theo giọng người bàn xứ, thành
ra tự nhiên có chữ viết riêng.
Người Trung Hoa miền Nam ấy (tức là dân Bách việt) mang mọi
tiến bộ về kv thuật, sinh hoạt dèn, rồi sống chung, lai giống với người ban
356
26. Văn minh Lạc Việt
xứ. Cuối cùng người Bách Việt ẩy mâì, người Giao Chi bản xứ còn. Thế
là họ bị người ban xứ đổng hoá.
27. Cương giới Văn Lang
Mình là người dãn Âu Lạc, họ là người dân Bách Việt, hai giống đã
hoà đồng với nhau thành người Lạc Việt. Không phái là Tây Âu Lạc Việt
cứa Tàu .sau đổi tên là Quý Châu. Người Lạc Việt đã đạt một tiến bộ văn
minh đáng kể, từ cuối đời Hùng và dời Thục An Dương Vương.
28. Thục Phán
Cũng vì người Bách Việt nhìn nhận mình là cùng một giống với họ,
và quẽ hương cũ của hợ cũng thuộc vào dất cúa mình nên khi dồng thời
với việc dặt tên người, tên dấl. cần nói vc cươTig giới thì họ nhận luôn
cương giới Băc đến tận hồ Động Đinh và tây đến tận nước Ba Thục.
Nhưng cả 15 bộ ở đời Hùng dã không hề kể đến những đất đai ấy của
Trung Hoa.
29. Thành cổ Loa
Thục Phán là người họ Thục đã lưu lạc đến sinh sống tại Văn Lang
lừ nhiều đời, không phái dòng họ của vua nước Thục nên 50 năm ở ngôi
báu không hề nghĩ chuyện về phục quốc.
Đó là một công trình xây dựng đại quy mô theo binh thư dồ trận, ớ
thời dánh nhau bằng cung tên giáo mác. đê’ đối phó với nhà Tần. Vì quy
mô vĩ đại làm khổ dân nên dến dèm thành hay bị phá.
30. Triệu đuổi Thục đến cùng đường
Vĩ đại như thế mà thành cổ Loa không giữ được, vẫn bị họ Triệu
vào lọt. không phái tại mất nỏ thần, mà tại Trọng Thuỷ dò biết được
những chỗ không phòng bị.
31. Thời đại Bắc thuộc
Thù gì mà đã lấy được thành của nhau rồi, lại duổi một ông lão 7,80
tuổi đến cùng đường, phái chém con rồi nhảy xuống biển tự tử? Có phải
là tại Thục tô cáo với Tần mưu toan của Triệu nên mới thù sâu như vậy?
Thêm một thời kỳ tự trị nhưng phụ dung của Tần và Hán, từ 257 tới
357
111 tr. CN phái kể thêm 146 năm ấy cũng đã là Bắc thuộc rồi.
32. Nhà ở
Thời này có đôns người Trung Hoa đến sống lẫn với dân bản xứ, cái
làng Lạc Việi nảy ra những điều kiện gắt gao đế ngăn chặn người ngoài,
thành những lộ về ngụ canh ngụ cư.
Vì vật liệu là tre và đất, mà nhà lại dựng trên khu dất đỏ hẹp nên
các gian phải nhỏ hẹp, không cao theo đòi hỏi của kỹ thuật dê tạo thành
một cách điệu kiến trúc riêng biệt, thân mật và ấm cúng.
33. Thế giới vô hình thần bí
Bàn thờ gia tiên choán hết gian giữa, dến khi nhà có công việc, thì
cả hai gian bên cũng phụ thuộc vào bàn thờ, nhà trở thành nơi thờ gia
tiên, còn chỗ dể ở là phụ.
34. Nhân sinh quan lưu ấm
Người Bách Việt nhập canh quan niệm thần bí về thế giới vô hình
cúa Trung Hoa: linh hồn. thánh, thần, tiên, thiên dinh, dịa ngục, dể cùng
tổn lại với những tin tưcVng thần bí khác của địa phương.
Sự tin tưởng rằng cha mẹ hiền lành thì con cháu được thừa hưởng
35. Tại sao bị đò hộ cả ngàn năm, người Lạc Việt vẫn không mất giống?
phúc đức là riêng của người Lạc Việt.
36. Vai trò của quý tộc trong sinh hoạt chính trị
Tại ta dã thành hán một dân tộc có nền nếp sống riêng về vật chất,
tinh thần, tình cảm, tàm linh, ánh hưởng sự sống chung chí là thêm những
nghi thức bề ngoài. Vả chăng chính sách thương mại thực dân Trung Hoa,
với niềm khinh thường dân bản xứ, đã chỉ gây sự cách biệt ở ngay trong
cuộc sống chung. Thêm cái làng Lạc Việt đcã hết sức lợi hại trong việc
báo toàn nòi giống cho con người chịu đựng mà tồn tại.
Những Lạc hầu, Lạc tướng, tù trưởng và những ông làng là quý tộc,
nhưng không giống với quý tộc Trung Hoa và Tây Âu. Họ dại diện dân,
bènh vực quyền lợi chung, trong ấy có quyền lợi của họ mà không bóc lột
ức hiếp dân.
358
Khi họ nổi lên theo Hai Bà Trưng Là họ vì đại nghĩa quốc gia
dân tộc. Khi Hai Bà bị Mã Viện hại rồi thì họ cũng bị lùng bắt và
giết hết. cùng tước đoạt cả trống đồng và vật tượng trưng uy quyền
tù trưởng của họ.
37. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng
Cuộc khởi nghĩa ihành công một phần lớn nhờ bọn lại thuộc chân
tay cũ của nhóm Tích Quang đã bất bình vì chủ bị thay thế, muốn có một
biến cô xảy ra đế mở mát cho vua Hán. Chúng khuyến khích và đê mặc
cho quý tộc huy động quán chúng đã sẩn bừng sôi máu hận.
38. Cột đồng Mã Viện
Ba nãm sau, Hai Bà lại bị thua, không phải tại quý tộc ban xứ không
theo nữa. Tại bọn lại thuộc ấy trở cờ vì sợ Mĩi Viện, đã cô lập hóa lực
lượng của Hai Bà, bằng cách ngăn quý tộc địa phương huy động quần
chúng. Rổi chúng lại dẫn đường cho Mã Viện đi bắt giết hết quý lộc ấv.
Nhất định có cái cột đồng ấy, đề chữ “Đớ/?g trụ chiết, Giao Chỉ
diệr. Khi đã có việc tước đoạt trống đồng là vật tối thiêng liêng để đúc
con ngựa kiểu mà chơi thì Mã Viện cũng có dư đồng để đúc cái cột mà tỏ
sự hống hách cũng như quyền làm chủ của hắn.
Lời ghi trong cột không phải lời trù yểm, mà là lời doạ nạt và mạ
kỵ, kẻ nào động dến gãy cột đỏ, la sẽ giết hết giống.
39. Tinh thần dân chủ trong làng
Cột ấy dựng Icn với mục dích thoá mạ cả dòng giống Giao Chỉ thì
không phcii là cột biên giới để tìm ở những núi cao xa xôi mtà phái tìm ở
những nơi có dông dân qua lại.
Đất ruộng của quý lộc trơ thành vô chủ sau khi quý tộc đã dền nợ
nước. Đất ruộng ấy được kể là dàt công của làng, để cho làng sử dụng
theo cách rất công bằng, hợp lý, Icà luân phiên quân cấp cho dân làng làm
lấy lợi tức đóng thuế và dùng vào việc tế tự.
Còn người để đại diện cho dân thì bấy giờ lấy tuổi tác đặt ngôi thứ. Thật
40. Nghiên cứu vể đình
là một tinh thán dân chủ hiếm có trong các nền văn minh nông nghiệp.
359
Cần dể ý đến cái thê dịa lý của nổ nữa, là cái mà người ta tin ràng
có ảnh hưởng tới sự làm ăn sinh sống và tương lai của cá làng. Không
những vì vật liệu kiên trúc dỗ hư mục dể thường xuyên dược trùng tu, khó
nhận ra nét kiến trúc nguyên thuỷ, chỉ vị trí và hướng đình là không thay,
mà còn vì đây là một đặc điểm. Mọi bản đồ kiến trúc thị thôn của các
nước đều khống cho ngôi nhà hội đồng hay thị sảnh một tầm mức quan
trọng như vậy.
41. Để tỏ lòng biết ơn
42. Các đạo giáo Khổng, Lão, Phật
Nhũns người đã có công với làng hay với nước được người ta thờ
kính như vẫn còn sống, ở những nơi tôn nghiêm, mà cách bố trí làm cho
ai tới đó cũng phai thấy là linh thiêng.
43. Khổng giáo
Các đạo này đến Giao Châu hồi thê kỷ 1 - 11 đều là dùng phương
tiện thần bí, thần thánh hoá các giáo chủ. Dân chúng tin theo vì thế, chứ
chưa đủ sức thấu đáo những triêt Iv cao thâm của các mối đạo.
44. Sự tôn thờ Lão Tử
Khổng giáo đến với những nghi vệ triều đình và nghi thức tế tự. Còn
lời dạy luân lý dạo dức chi là có chữ để trỏ những việc của dân ãn ở theo
luân lý đạo đức vần đã có từ trước. Thêm những phương thuật về y, lý, số,
tướng, thiên văn, địa lý v.v... mà người hành nghề có thổ cũng đã gán
luôn cho lừ họ Khổng ra để thêm uy tín. Người dân đã tôn thò Đức thánh
ngang với một vị thần linh.
45. Đức Phật
Sự tôn thờ là hoá thân của Thái Thirợng Lão Quân dã do những môn
độ của dòng tu tâm dưỡng tính dể được trường sinh, truyền lới lớp môn đệ
sa đoạ, kiếm sống bàng cách lợi dụng lòng mê tín dị đoan của dán, từ
Trung Hoa truyền qua dã rất hợp với tin tưởng thần bí của địa phương.
46. Truyền thống trong việc truyền bá đạo Phật
Đức Phật cũng được coi là người trời đã nhiều kiếp dầu thai xuống
trần, nên dân cũng thờ như các vị thần thánh và liên khác. Nhưng phần
phong phú của thần thoại Vcà truyện ngụ ngôn của văn minh Ân Độ. do
các thương nhân An Độ đem tới dã làm mờ vãn minh Trung Hoa. Thêm
những nốt đặc thù mở lối cứu khổ cho dân mà Khổng và Lão không có,
cũng như những nghi lễ tôn giáo: làm chay, cầu kinh, đáp ứng đúng
những khao khát của dân đương quàn quại trong đau khổ. Đạo Phật đã đi
sàu vào quần chúng liền ngav.
.360
Truyền thống ấy là tôn trọng mọi tín ngưỡng cổ truyền của địa
phương, không bài xích. Vì khổng có trung ương truyền giáo nào để báo
cáo kết quá. người đi truyền giáo dã nhẩn nha không cần mưu mẹo, lừa
47. Sĩ Nhiếp
dối để có nhiều tín đồ; ai theo thì theo, khòns thì thôi. Và chùa chiền,
tượn» Phật, nshi thức cúim lẻ, người truyền giáo cũng không hề bắt dàn
theo dúns như ở chính quốc. Phật giáo trở thành Phật giáo Việt Nam.
48. Công biến chế ra chữ Nôm
Họ Sĩ cai trị Giao Châu vào thời loạn Tam Quốc, lại đúng vào hồi
Khu Liên giết huyện lệnh nhà Hán rồi tự ý cát cứ riêng một khoang đất
mà sáng lập ra nước Lâm Âp. Họ Sĩ dùng chính sách văn trị để dược lòng
dân. Bất cứ viên quan thái thiì Iicào trong hoàn canh ấy cũng phải khôn mà
làm y như Sĩ Nhiếp vậy.
49. Ngô Tôn Quyển
Còng của Sĩ Nhiếp Vcà các nhà nho Trung Hoa và Giao Châu là cái công lón để giữ cho tiếng nói của ta, không vì học chữ Tàu mà mất dược nữa.
50. Người Lâm Ấp
Họ Ngô đã lầm mà cho người sang thay họ Sĩ làm thái thú. Những
người nàv lại đã hèn hạ dùng mưu mẹo lừa bắt các em và con Sĩ Nhiếp
nên dàn chống lại. Khi Bà Triệu nổi lên cũng bị thua, dân đành chịu,
nhưng đĩi tiết hận ra những lời ca dao tục ngữ nay đọc thấy có chứa đựng
một tinh thần bài Ngô. Niềm uất hận sâu dậm đến đỗi lừ đấy những người
Tàu dù dưới triều chính nào, cũng đều được gọi là Ngô để bài xích cá.
51. Guồng máy thương mại thực dân
Người Lâm Ấp theo dạo Bà La Môn thờ thần ọiva. Họ hung hãn,
hiếu chiến, Vcà kỳ thị chủng tộc lại dến trỗ trên hán đảo Trung Ân nên chí
được một vùng đất nghèo ở miền Trung. Suốt 200 năm, họ đã vùng vẫy
dể cô' tiến ra Bác, vì vương quốc Phù Nam ở phía Nam dương cường thịnh
không dám dòm ngó tới. Vì vậy mà Giao Châu bị dưới chế độ quán đội
chiếm đóng của Trung Quốc, vừa để ngăn ngừa Lâm Âp, vừa để đối phó
với người ban xứ.
361
Guồng máy của người Trung Hoa, có quan lại, quân đội, thương
gia. và đỏng đảo dân nghèo theo các nhà cai trị đến thuộc quốc đã hiít hết
sinh lực của dân chúng Lạc Việt bằng một số những cái miệng thật lớn và
muôn vàn cái miệng nhỏ. Những mối lợi mà cất trên nha ra thì cấp dưới
lại hút thêm một lần nữa, cho đến xác xơ thành rác rưởi thì lại có những
cái miệng nhỏ hơn híit thèm một lần nữa.
52. Người Lạc Việt bị mắc kẹt
53. Người Lạc Việt cỏ một triết lý sống còn
Không di cư đi đâu được, người Lạc Việt đành ở lại bám lấy đất ruộng và làng mạc để chịu đựng mà sống còn.
54. Đạo Phật Mật tông
Triết lý ấy dẫn đạo cuộc sống, đã hết sức giá trị, tạo thành truyền
thống còn đến ngày nay. Sự nghi ngờ quan lại đô hộ và sự trí trá để luồn
lọt siữ lấy thân sống, cùng sự sống hướng nội, không bộc lộ tâm tình
cũng là truyền thống của dân tộc.
55. Sựxây dựng nền móng của dòng Thiền tông
Trong thời kỳ đen tối của thế kỷ III, IV, V, có lẽ người Lạc Việt đã đi
tìm tu theo Phật giáo Mật tông vì cái đích thực dụng là để có những phép
màu đối phó với quân Tàu. Nhung họ đã tỏ ra rất khôn không manh động.
56. Triệu Quang Phục đã dùng chiến tranh du kích
Dòng thiền thứ nhất do nhà sư Thiên Trúc Ti Ni Đa Lưu Chi truyền
tới là một biến cố lịch sử trọng đại: gây lòng tin ở nhân tính của mọi
người, giúp mọi người một nhận thức quan sáng suốt để tìm chân lý Vcà
nhấc xã hội lên mức độ sống danh dự của loài người.
57. Nhà Đường sùng thượng Phật giáo
Triệu thắng được quân Lương bằng du kích chiến cũng như ở thế kỷ
thứ II tr. CN, hiệu uý Đồ Thư của Tần đã tử trận ở Nam Việt vì chiến
tranh du kích.
58. Các trí thức của Giao Châu
Nhà Đường có biệt nhãn đối với các nhà tu thiền ở Giao Chàu. Họ
có địa vị được suy tôn như những Phật sống trong các bài thơ còn để lại
của thi sĩ hữu danh đời Đường.
59. Chính sách thuộc địa đã được cởi mở
Các trí thức này cũng được vì nể lắm, để giao cho những chức quan
trọng nhất nhì trong triều đình. Một bài thơ còn lại dã chứng chắc việc người
ta dám phê bình, công kích chính sách và các tướng tá của nhà Đưcmg.
Dầu sao cũng phải nhìn nhận dưới quyền cai trị của nhà Đường,
362
chính sách cai trị đã dễ hơn trước.
60. Truyện nguồn gốc Rồng Tiên
61. Giặc Đồ Bà
Người Lạc Việt nhờ vậy. hết mặc cảm tự ti đối với Trung Hoa. Lại
nhờ đọc sách của cả Trung Hoa lần Ân Độ. người ta sáng tác truyện
Nguồn gốc Rồng Tiên để tỏ ra cũng có nguồn gốc sang trọng không kém
gì Trung Hoa cả. Tác phẩm văn hoá và chính trị ấy tác động đến tiềm
thức của nhân dân để chuẩn bị điều kiện tinh thần cho cuộc vật lộn giành
quyền tự trị.
62. Trận Bạch Đằng
Giặc Đồ Bà xâm lăng, nhưng đụng độ với quân của đô hộ phủ lại ở
gần Sơn Tây. Sau đó, nhà Đường lại cho đắp La Thành theo sỏns Tô Lịch
ở phía Bắc, Tày Bắc Hà Nội bây siờ. Mà không đắp thành ngăn giặc ở
cạnh sông Hồng về phía Đông và Đông Nam. Chứng tỏ rằng quân Đồ Bà
đã vào cửa Thần Phù và sông Đáy. Còn sông Hồng với cửa Bạch Đằng
chưa đi thông suốt được.
Có thể mới hiểu được trận Bạch Đằng của Ngô Quyền không phải
là đóng cọc bịt sắt nhọn đế nước rút thì cọc đâm thủng thuyền. Cọc đâm
thủng thuyền địch và cả thuyền mình thì còn đánh thắng thế nào được?
Cọc ngăn sông và ngăn thực không cho đi là ở cửa Đáy và cửa Thần
Phù. Còn cọc ngăn ở Bạch Đằng là kế giả đóng, để khi đương đóng dở
dang, giặc đến đuổi và nhổ cọc đi lấy đường Vcào. Vào đến trong thì có
những thuyền con ra đánh khiêu khích cho đuổi giạt vào bờ là thuyền
mắc cạn hết. Đến chừng ấy, chi thuyền con di động được thì Ngô Quyền
bắt giặc như bắt một đàn chuột lõm bõm lội trong bùn lầy.
Đó Icà 62 điều tìm lòi suy luận của chúng tôi về lịch trình tiến hoá của dân lộc từ khởi thuỷ đến thế kỷ thứ X.
Chúng tôi viết sách này khởi thắc mác lừ điểm cãn bản là:
Với sức đồng lìoâ kinh khủng của người Trung Hoa, Mãn, Mỏng,
Hồi, Tụng, xâm lăng nó còn hị nó hút di theo nó, vậy mà tại sao tcít cả
các giống Bách Việt à Hoa Nam dâu hi dồng lìoá thành người Trung Hoa
cả, riêng có giống Lạc Việt thì với một trận Bạch Đằng cua Ngỏ Quyền,
lại dứng dậy dược, d ể riêng mình một cõi?
Thì 62 vấn đề kê ở trên đã chung tụ thcành lời giải cho thắc mác ấy mà chúng tôi chỉ còn sợ chưa nói được gãy gọn như ý muốn của bạn đọc thôi.
3 6 3
Chắc bạn đọc C Ũ I I Í Ĩ có ý định lìm hiếu như vậy. Bởi nhữns bài học
lịch sử ấy vẫn có ích rấi nhiều cho cuộc sống hiện tại và tương lai của
chúng la.
Theo dõi nhũTis trang viết ở trên, bạn đọc thấy quá nhiên dòng truyền
thốns khổns hề đứt đoạn. Đến nhữns tập sau, lừ thế kỷ thứ X dến hiện đại,
bạn đọc lại được dịp thấy rõ dòng truyền thống vẫn liên tục như thế. Để
chúng ta tin chắc được vào nhữno nsày mai xán lạn của dân tộc la.
Sài Gòn, 4 - 7-1969
3 6 4
SÁCH THAM KHẢO
BÁCH KHOA THƯ CLARTÉS CHRONOLOGIE. Grands faits
de rhistoire (nguồn gốc đến cuối nãm
1950), Paris.
ĐÀO DUY ANH.
COEDÈS. G.
ZIMMER. H.
ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ. Tỉnh Thanh Hoá. tỉnh Sơn
Tâv, Nha Ván hoá Bộ Q.G.G.D. xuất
bản, 1960-1966.
Việt Nam văn hoá sử cương, Xuất bản Bốn
phương. Sài Gòn, 1951.
Histoire Ancienne des Etats Hindouisés
d’Extrême Orient, I. D.E.O, Hanoi, 1944.
Les Philosophies de ITnde - Payot Paris
1953.
HENRI SEROUYA. Le mysticisme, P.U.E , Paris, 1956.
HOÀN(ỉ TRỌNC; MIÊN. Việt Nam văn học toàn thư, 1959.
IMMANUEL VELIKOVSKY. Mondes en collision, Stock,
1951, Paris.
,ĨEAN HERBERT. Spiritualité hindoue, Albin Michel, Paris.
LÊ VÃN SIÊU.
1951.
- Ramana Maharshi, Adyar, Paris, 1949.
- Việt Nam văn minh sử cương. Lá Bối.
Saigon, 1967.
- Nguồn gốc văn học Việt Nam, Thế Giới.
Saigon, 1956.
- Văn học Việt Nam thơi Lý. Hướng
365
Dương, Saigon, 1958.
- Văn học Việt Nam thời Bắc thuộc, Thế
giới, Saigon, 1957.
- Văn minh Việt Nam, Nam Chỉ Tùng Thư,
Saigon, 1965.
LƯƠNG ĐỨC THIỆP. Xã hội Việt Nam, Liên Hiệp, Saigon,
1950.
L. RENOƯ ET J. FILLI()ZAT. L ’Inde classique, Payot,
Paris, 1950.
M. M DUEEIL. Manuel de Géographie du Vietnam, Kim
Lai ấn quán, Saigon, 1957.
MADROLLE. (Hướng dẫn du lịch) Guide de ITndochine
du Nord, Hachette, Paris, 1932.
MAURICE CR()UZET. Histoire généralc des civilisation.s,
p.u.p, 1963.
MAURICE DƯRAND. Texte et commentaire du miroir complet
de rhistoire du Viet. (Bản dịch Pháp văn
của Khâm Định Việt Sử Thông Giám
Cương Mục), E.P.E.O, 1950, Hanoi.
N(ỈHIÊM THẨM. Sự tồn tại của bản chất Indonésien trong
nền Văn Hoá Việt Nam.
NGUYỄN BẠT TUỴ. Các ngữ ở Việt Nam.
NGUYỄN ĐẢN(Ỉ THỤC.
- Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam (I), Bộ Văn
Hoá, Saigon, 1967.
- Tư Tưởng Việt Nam, Khai trí Sài gòn,
1964.
- Thiền học Việt Nam, Lá Bối, 1967.
NGUYỄN VĂN TỐ. Sử ta so với Sử Tàu, Tập san Tin Sử
Địa, số 11, Saigon, 1964.
P.GOUROU. Les paysans du delta tonkinois.
366
E.E.E.O. Paris.
P.HUARD ET M.DURAND. Connaissance du Vietnam E.P.E.O,
Paris 1954.
PHẠM VĂN SƠN. Việt sử tân biên , Saigon, 1956.
R.DE BERVAL. Présence du Bouddhisme (Erance-Asie),
Siiigon, 1959.
RENÉ (ỈROUSSET. Histoire de rExtrêm e Orient, Paris, 1929.
ROGER BASTIDE. Les problèmes de la vie mystique, Armand
Colin, Paris 1948.
T.T. MẬT THỂ. Việt Nam Phật giáo sử lược.
THÍCH ĐỨC NHUẬN. Trao cho thời đại một nội dung Phật
chất. Vạn Hạnh, 1969.
367
TRẦN TRỌNÍỈ KIM. Việt Nam sử lược, Tân Việt, Hà Nội, 1944.
VIỆT NAM VĂN MINH sử
LƯỢC KHẢO
NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG
175 Giảng Võ - Hà Nội - ĐT: 8566006
C hịu trách nhiệm x u ấ t hản:
Phan Đ à o N g u y ê n
C hịu trách nhiệm hãn th ảo:
Trần D ũ n g
Phạm T hanh N g à
Biên tập:
Trình h à\' sách: M iên L âm - H à P h ư ợ n g
Trình b à y hìa: M in h N g u y ệ t
Sửa hản in:
V i tính:
Trần Đ ìn h T uấn
H u y ền - Q u y ên
13 T h ợ N h u ộ m - H à N ô i
In J()()0 ciiấ ìu k h ổ 1 6 x 2 4 “” T ạ i C ô n g T y Hữu N g h ị - ỉn Á Phi
( ỉ i ấ v p h é p x u ấ t hàn sô':8-I495/XB c ấ p ní>ày Ỉ 7 ! 1212002
Trích ngang KHXB Ỉ2 9 /T N X B c ấ p n g à y 1 6 /8 /2 0 0 3
In xoníỊ và n ộ p lưu chiểu Q u ỷ IV/2 0 0 3 .
VIẸT NAM
Lược KHẢO
TẬP THƯỢNG
TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN THẾ KỶ THỨ X
Sách phát hành tại
iU. í / t ờ .ưỉr/t
MINH NOUV^
13 Thọ Nhuộm-HN.Tel:(04).8289755
G iá : 110.000 đ