Nhà Nguyễn - lịch sử thăng trầm của một dòng họ
Kỳ 2: Chuyện về một công nữ họ Nguyễn
Cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân và quốc vương Chiêm Thành Jaya
Sinhavarman III (sử Việt gọi là Chế Mân) đã đưa hai châu Ô và Rí vào bản đồ Đại
Việt. Bà công chúa họ Trần được đời sau nhớ ơn, gần đây ở Huế có lập một ngôi
đền để tôn vinh bà.
Các đại biểu dự hội thảo “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử VN”
(tổ chức tại Thanh Hóa tháng 10-2008) và đông đảo bà con xã Hà Long, huyện Hà
Trung, Thanh Hóa thắp hương tại lăng Trường Nguyên, tương truyền là nơi an
táng Nguyễn Kim, thân phụ chúa Nguyễn Hoàng - Ảnh: Việt Dũng
Hơn ba thế kỷ sau, một công nữ họ Nguyễn cũng chấp nhận “nước non ngàn dặm
ra đi” làm dâu xứ người, tạo điều kiện cho người Việt vào sinh sống trên lưu vực
sông Đồng Nai, dẫn đến sự thành lập phủ Gia Định năm 1698 - cách nay tròn 310
năm. Bất công thay tên của bà không được biết đến, nói chi việc xây dựng một
tượng đài để ghi công.
Cuộc hôn nhân của công nữ
Năm 1619, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả một con gái của mình cho Araki Sutaru
- một thương nhân Nhật Bản. Năm sau, ông lại gả con gái khác cho quốc vương
Chân Lạp Chey Chêtthâ II. Lúc đó, Chân Lạp đang là nạn nhân của nước láng
giềng phía tây. Cứ vài chục năm một lần, quân Xiêm lại tràn sang đánh chiếm
Chân Lạp, đốt phá, bắt người, cướp của. Vì vậy, năm 1620 vua Chey Chêtthâ II
quyết định cầu hôn con gái vị chúa Đàng Trong, với ý định tìm một chỗ dựa về
chính trị và quân sự nhằm đối phó với các cuộc xâm lược của quân Xiêm.
Theo Biên niên sử hoàng gia Chân Lạp, cô công nữ Đàng Trong có sắc đẹp tuyệt
trần. Mặt khác, nhờ được giáo dục từ nhỏ theo truyền thống đạo đức Phật giáo
(Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên đều sùng mộ đạo Phật) nên cô hội nhập
nhanh chóng vào môi trường văn hóa xứ chùa tháp, nơi tuyệt đại đa số dân chúng
là phật tử. Do đó, tuy Chey Chêtthâ II có nhiều vợ, cô gái Thuận Hóa thùy mị nết
na vẫn được vua yêu quý nhất và được phong làm đệ nhất hoàng hậu.
Để đỡ nhớ quê hương, cô xin vua cho phép người Việt được tự do đến sinh sống
trên lãnh thổ Chân Lạp. Họ buôn bán hay làm thợ thủ công ở vùng kinh đô, đông
đảo hơn là những người đến khai phá vùng đông nam Chân Lạp.
Lãnh thổ Chân Lạp tương đối rộng nhưng dân số ít, nên người nước này sống tập
trung ở vùng đất màu mỡ xung quanh biển Hồ và dọc theo sông Mekong. Theo
nhà sử học Pháp Philippe Devillers, cho đến lúc đó “đồng bằng sông Cửu Long
chỉ là đầm lầy hôi thối, những bãi bùn rộng mênh mông với những cây đước”. Từ
cuối thế kỷ 16, một số người Việt rời quê hương đến đây làm ruộng, đánh cá...
Cuối năm 1621, đầu 1622, vua Xiêm xua quân sang đánh Chân Lạp. Nhờ thuyền
chiến, vũ khí và nhất là nhờ quân tình nguyện do Đàng Trong viện trợ, Chey
Chêtthâ II đã đẩy lui hai đạo quân Xiêm. Năm sau, vua Xiêm cho quân tấn công
Chân Lạp một lần nữa nhưng lại bị tổn thất nặng nề, phải rút về nước. Chúa
Nguyễn Phúc Nguyên gửi sang kinh đô Udong một sứ bộ mang theo nhiều tặng
phẩm để chúc mừng chiến thắng của Chân Lạp, đồng thời đảm bảo với Chey
Chêtthâ II về sự ủng hộ và giúp đỡ của Đàng Trong cho công cuộc bảo vệ và xây
dựng đất nước chùa tháp.
Sứ thần Đàng Trong cũng chuyển cho quốc vương Chân Lạp một quốc thư ngỏ ý
muốn mượn Kas Krobei (Sài Gòn) và Prei Nokor (Chợ Lớn) để lập hai trạm thuế
thương chính trong năm năm. Chey Chêtthâ II hỏi ý kiến các quan đại thần. Tất cả
đều đồng ý. Nhà sử học người Pháp Henri Russier cho biết bà hoàng hậu Đàng
Trong đã năn nỉ chồng chấp thuận đề nghị của cha mình.
Hướng về đất phương Nam
Năm 1624, bà sinh hạ công chúa Ang Na Ksatri. Công chúa rất được vua yêu quý.
Nhưng khi hạnh phúc đang tràn trề thì tiếc thay Chey Chêtthâ II băng hà. Cái chết
của nhà vua đẩy Chân Lạp vào một giai đoạn mất ổn định chính trị nội bộ. Tuy
nhiên, với đức độ và trí thông minh, bà thái hậu Đàng Trong đã vượt lên mọi tranh
chấp phe phái, được các ông hoàng trẻ Chân Lạp kính trọng và nghe theo.
Bà giữ một vai trò quan trọng trong sinh hoạt chính trị của vương quốc. Hoàng tử
Cau Bana Cand (sử Việt gọi là Nặc Ông Chân) - một người con của Chey Chêtthâ
II với bà vợ người Lào - cưới vợ người Mã Lai theo đạo Hồi nên bỏ đạo Phật để
theo đạo của vợ. Năm 1642, Cand dựa vào một nhóm người Mã Lai và Chiêm
Thành theo đạo Hồi nổi loạn, giết vua Ang Nan (rể của bà thái hậu Đàng Trong)
để cướp ngôi. Cand còn giết nhiều người khác (trong đó có chú ruột là nhiếp chính
vương Utey) một cách dã man.
Hai người con của Utey là Ang Sur và Ang Tan (sử Việt gọi là Nặc Ông Xô và
Nặc Ông Tân) cầm đầu một cuộc nổi dậy để lật đổ Cand và báo thù cho cha. Cuộc
nổi dậy không thành công, Sur và Tan bí mật đến gặp bà thái hậu Đàng Trong, nhờ
bà xin chúa Nguyễn giúp đỡ. Bà đồng ý, viết thư cho chúa Nguyễn Phúc Tần
(cháu gọi bà bằng cô).
Đáp ứng yêu cầu của hai hoàng thân Chân Lạp, chúa Nguyễn gửi 3.000 quân sang
bắt Cand đưa về Quảng Bình. Cand xin thần phục chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn trả
tự do cho Cand. Trên đường về Udong, Cand nhuốm bệnh và qua đời ở Bat
Anhchien ven sông Vàm Cỏ Tây. Ang Sur và Ang Tan trở thành chính vương và
phó vương của Chân Lạp. Nhớ ơn bà thái hậu và chúa Nguyễn, hai ông luôn tạo
điều kiện thuận lợi để di dân người Việt làm ăn trên đất nước mình, số lượng
người Việt vào đây mới bắt đầu tăng lên đáng kể.
Theo GS Nguyễn Đình Đầu trong Địa chí văn hóa TP.HCM (do GS Trần Văn
Giàu chủ biên), cho đến cuối thế kỷ 17, đã có hơn 4 vạn hộ dân Việt sống trên một
địa bàn rộng nghìn dặm ở lưu vực sông Đồng Nai. Người Việt trở thành thành
phần dân cư đa số tại đó.
Tên người chưa được sử ghi
Tất cả những gì chúng ta biết được về bà - mà người Chân Lạp gọi là Ang Cuv - là
nhờ Biên niên sử hoàng gia Chân Lạp và các công trình nghiên cứu của các nhà sử
học nước ngoài. Vì một lý do nào đó, các sử gia triều Nguyễn hoàn toàn không
nhắc đến cuộc hôn nhân Việt - Chân Lạp này (cũng như các cuộc hôn nhân Việt -
Nhật Bản và Việt - Chiêm Thành diễn ra trong thời kỳ đó). Vì lẽ đó cho đến nay
chúng ta không biết bà tên gì.
Trước đây, có người cho rằng tên bà là Ngọc Vạn. Nhiều người cũng đã chấp nhận
như vậy. Thật ra cái tên đó chẳng qua là do phỏng đoán, chứ không căn cứ vào
một tài liệu gốc nào.
Theo Đại Nam liệt truyện tiền biên, chúa Sãi có bốn con gái. Hai công nữ thứ nhất
và thứ tư là Ngọc Liên (vợ của phó tướng Nguyễn Phúc Vĩnh, tức Nguyễn Hữu
Vĩnh, trấn thủ dinh Trấn Biên) và Ngọc Đĩnh (vợ của phó tướng Nguyễn Phúc
Kiều, tức Nguyễn Cửu Kiều, trấn thủ dinh Quảng Bình). Đối với hai công nữ thứ
hai và thứ ba là Ngọc Vạn và Ngọc Khoa, Đại Nam liệt truyện tiền biên ghi
“khuyết truyện” (không có tiểu sử). Như vậy, trong hai công nữ Ngọc Vạn và
Ngọc Khoa, ai là hoàng hậu xứ chùa tháp, ai là phu nhân của thương gia Nhật
Bản?
Tên bà vẫn còn là một câu hỏi chưa có lời đáp.