
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 433
NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU
CÁ NHÂN CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
FACTORS AFFECTING PERSONAL BRAND BUILDING
OF UNIVERSITY STUDENTS IN HANOI CITY
Nguyễn Trà My1,*, Đinh Thị Vân Anh1, Phạm Vũ Ngọc Hà2,
Hoàng Thị Ngân1, Nguyễn Thị Kim Ngân1
1Lớp KIEM 02 - K16, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2Lớp KIEM 01 - K16, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
*Email:nguyennhatthumi2003@gmail.com
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu, phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng thương
hiệu cá nhân (THCN) của sinh viên đại học trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Những nhân tố ảnh hưởng bao gồm: nhận diện
bề ngoài (BN), năng lực cá nhân (NL), tương lai (TL), trải nghiệm sống (TN) và cảm xúc (thái độ), tính cách (TD). Dựa
trên số liệu sơ cấp thu được từ 310 phiếu khảo sát đến từ các sinh viên thuộc các trường đại học trên địa bàn Thành phố
Hà Nội với thang đo Likert 1-5 kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng, thông qua chương trình phần mềm SPSS
20, kết quả chỉ ra rằng các nhân tố trên đều ảnh hưởng thuận chiều đến việc xây dựng thương hiệu cá nhân. Kết quả nghiên
cứu là kênh thông tin tham khảo giúp sinh viên định hướng xây dựng và phát triển thương hiệu cá nhân của mình.
Từ khóa: Thương hiệu cá nhân, sinh viên, đại học, Thành phố Hà Nội.
ABSTRACT
This study aims to learn, analyze and evaluate the influence of factors affecting the building of personal brands (THCN)
of university students in Hanoi City. Influential factors include: appearance (BN), personal capacity (NL), future (TL), life
experience (TN) and emotions (attitude), personality (TD). Based on primary data obtained from 310 surveys from students
at universities in Hanoi City with a 1-5 Likert scale combined with quantitative research methods, through the program
Using SPSS 20 software, the results show that the above factors all positively influence personal branding. The research
results are a reference information channel to help students orientate on building and developing their personal brands.
Keywords: Personal brand, student, university, Hanoi City.
1. GIỚI THIỆU
Nếu sử dụng từ khóa “Xây dựng thương hiệu cá nhân
của sinh viên” và tìm kiếm từ khóa đó thông qua google, sẽ
nhận được khoảng hơn 78 triệu kết quả trong vòng 0,35
giây. Điều này khẳng định rằng, việc mọi người đặc biệt các
sinh viên đại học trên toàn thế giới xây dựng thương hiệu
cá nhân đang rất phổ biến. Đa số các sinh viên xây dựng
thương hiệu cá nhân để tạo được hình ảnh nhất định về bản
thân, tạo ấn tượng, niềm tin về tri giác khi người khác nhìn
nhận mình. Thông qua đó, sinh viên đại học phần nào có
thể chủ động trong việc chia sẻ thông tin, thể hiện tính cách,
khẳng định năng lực của bản thân, mở rộng các mối quan
hệ, tìm kiếm cơ hội việc làm, ... khi còn ở trên ghế nhà
trường. Cho nên, sinh viên luôn coi việc xây dựng thương
hiệu cá nhân là một chiến lược lâu dài hướng tới hình ảnh
của mình.
Ở các nước phát triển, việc xây dựng thương hiệu cá
nhân không còn quá mới mẻ đối với sinh viên khi được gia
đình, nhà trường giáo dục, định hướng cho từ khi còn bé.
Vì thế, sinh viên ở các nước phát triển thường sẽ tự xây
dựng cho chính bản thân họ những điều riêng biệt mà khó
ai có thể có được ngoài họ. Hơn thế nữa, họ còn có những
buổi trải nghiệm đời sống, thực hành để tìm kiếm và trau
dồi những kiến thức cơ bản ngay từ khi còn bé. Việc này
giúp họ có hướng đi đúng hơn, có định hướng xa hơn cho
tương lai của bản thân. Ngoài ra, xây dựng thương hiệu cá
nhân còn giúp sinh viên tăng cường sự tự tin và khẳng định
bản thân trong môi trường học tập, làm việc mới lạ. Khi họ
có một hình ảnh cá nhân rõ ràng, họ sẽ cảm thấy tự tin hơn
khi giao tiếp, trình bày ý tưởng hay tham gia các hoạt động.
Điều này góp phần tích cực vào quá trình hội nhập và phát
triển bản thân của họ.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 434Còn ở các nước đang phát triển đặc biệt là Việt Nam
hiện nay, việc xây dựng thương hiệu cá nhân cũng không
còn mới mẻ nữa. Mọi người đặc biệt là sinh viên muốn mọi
người biết đến nhiều hơn, muốn tạo dựng mạng lưới quan
hệ với nhiều người hơn, thể hiện cá tính, nét riêng của mình
trên mọi phương diện thì đều phải thông qua việc xây dựng
thương hiệu cá nhân của mình. Hơn hết việc xây dựng
thương hiệu cá nhân giúp sinh viên khẳng định được vị thế
và tạo ấn tượng tốt với các nhà tuyển dụng, các cơ quan, tổ
chức quốc tế. Khi họ có một thương hiệu cá nhân rõ ràng,
chuyên nghiệp, điều này sẽ làm nổi bật các kỹ năng, thành
tích và giá trị mà họ mang lại. Điều này có thể giúp họ dễ
dàng tìm kiếm các cơ hội việc làm, thực tập hay học bổng
tốt hơn.
Điều quan trọng, quá trình xây dựng thương hiệu cá
nhân là một công việc liên tục, đòi hỏi sự kiên nhẫn và sự
cống hiến. Vì vậy, họ luôn chú trọng tìm hiểu các nhân tố
ảnh hưởng đến việc xây dựng thương hiệu cá nhân. Điều
này là cần thiết đối với sinh viên, giúp họ có cái nhìn tổng
quan, tự tin xây dựng thương hiệu của mình trong thời đại
phát triển.
Xuất phát từ những thực trạng trên, nghiên cứu này tạo
ra nhằm giúp sinh viên nhận diện được các nhân tố ảnh
hưởng đến việc xây dựng thương hiệu cá nhân, từ đó
khuyến khích sinh viên định hướng xây dựng và không
ngừng cải thiện, phát triển thương hiệu cá nhân để phục vụ
quá trình học tập và việc làm trong tương lai.
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của tác giả Lê Đào Hòa An và các tác giả
[1] đã tiến hành khảo sát 204 sinh viên cùng 204 trang
Facebook cá nhân của họ để đề cập tới hình ảnh cái tôi
(HACT) của sinh viên (SV) qua facebook (FB) cá nhân.
Cấu trúc HACT của SV qua FB cá nhân có 7 mặt: nhận diện
bề ngoài, xã hội, cảm xúc, tương lai, năng lực, tính cách và
hưởng thụ - trải nghiệm. Qua FB cá nhân, HACT của SV
được thể hiện với mức độ đậm nhạt khác nhau. Nhìn chung,
xã hội và nhận diện bề ngoài được thể hiện khá rõ nét, còn
HACT - tính cách và HACT - tương lai ở SV thể hiện còn
mờ nhạt. Trên cơ sở này, có thể đưa ra một vài kiến nghị
trong công tác hỗ trợ SV xây dựng thương hiệu cá nhân trên
FB một cách hiệu quả.
Các tác giả Trần Thị Thanh Loan, Nguyễn Hoàng Mai
Trinh, Hoàng Trọng Tuân [2] cho biết xây dựng THCN là
một quá trình, trong đó các cá nhân nỗ lực định vị, duy trì,
phát huy các đặc điểm tích cực nổi bật của mình và tiếp thị
các đặc điểm đó đến công chúng, giúp các cá nhân trở nên
nổi bật và đạt được thành công nhất định trong công việc và
cuộc sống. Nhóm nghiên cứu đã thực hiện khảo sát bảng
hỏi đối với 180 sinh viên thuộc trường ĐHKHXH&NV,
trường Đại học Bách Khoa và trường Đại học Kinh tế -
Luật. Nghiên cứu chỉ ra 6 yếu tố tác động đến việc xây dựng
THCN là (1) Nhận diện bề ngoài, (2) Các mối quan hệ xã
hội, (3) Năng lực cá nhân, (4) Tương lai, (5) Trải nghiệm
sống, (6) Cảm xúc (thái độ), cá tính.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thúy Hà và Nguyễn Thúy
Anh [3], người trẻ ngày nay đang không ngừng xây dựng
thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội. Nghiên cứu dưới đây
là một trong những công trình tiên phong trong việc mô tả
thực tiễn xây dựng thương hiệu cá nhân của sinh viên Việt
Nam bằng việc sử dụng phương pháp định tính và khảo sát
trực tuyến với 248 sinh viên khoa Tiếng Anh Thương mại
(TATM), trường Đại học Ngoại Thương. Kết quả cho thấy,
nhìn chung, sinh viên chưa xây dựng thương hiệu cá nhân
một cách hiệu quả trên mạng xã hội, cũng như chưa có nhận
thức đầy đủ về chủ đề trên. Từ đó, tác giả đưa ra một số
khuyến nghị để giúp sinh viên cải thiện vấn đề này.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo [4], công trình nghiên cứu này sử dụng phương
pháp nghiên cứu định tính với dữ liệu được thu thập ở hai
trường Trung và Trung Đại Tây Dương của Hoa Kỳ đã xem
xét nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của khía cạnh
khác nhau để giúp họ xây dựng thương hiệu cá nhân và hiệu
quả trong việc tạo dựng thương hiệu cá nhân của sinh viên.
Nghiên cứu của tác giả [5] đã coi tạo và xây dựng
thương hiệu cá nhân là một bài tập lớn dành cho sinh viên
giúp cho sinh viên có thể quản lý ấn tượng của người khác
về bản thân họ về các mặt của cuộc sống: kỹ năng, khả năng
hay kinh nghiệm. Katryna thấy rằng có 5 nhân tố có thể ảnh
hưởng đến việc tạo và xây dựng thương hiệu cá nhân: kỹ
năng, khả năng, kiến thức, tài năng, nhân cách, điểm mạnh
và điểm yếu. Tác giả đã sử dụng mô hình SWOT để có thể
tìm ra điểm mạnh, điểm yếu cũng như kiểm tra xu hướng
thị trường hiện này. Từ đó tìm ra nhiều cơ hội việc làm hơn,
phát triển bản thân tốt hơn. Nhưng tác giả cũng chỉ ra mặt
hại của việc tạo và xây dựng thương hiệu cá nhân trên mạng
xã hội là việc đăng tải những hình ảnh phản cảm làm ảnh
hưởng đến tương lai của họ.
Theo [6] đề cập đến các yếu tố mà các nhà tuyển dụng
tập trung vào quá trình tuyển dụng và cách các nhà giáo dục
có thể giúp sinh viên tóm tắt được bằng cách sử dụng giao
tiếp kinh doanh thích hợp để phát triển thương hiệu cá nhân.
Bằng việc phân tích các cuộc phỏng vấn của các chuyên gia
nhân sự đồng thời thực hiện một cuộc khảo sát với các nhà
tuyển dụng khắp nơi, kết quả cho thấy được phần lớn các
nhà tuyển dụng sử dụng hồ sơ Linkedln – một nền tảng
mạng xã hội - để tìm kiếm ứng viên. Nghiên cứu của các
tác giả cho thấy được sinh viên cần có thương hiệu cá nhân
để giúp đảm bảo việc làm trong thị trường cạnh tranh như
ngày nay và sinh viên có thể phát triển thương hiệu cá nhân
của mình bằng hồ sơ Linkedln.
Từ các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, nhóm tác
giả thấy rằng các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 435nước đều đã phần nào nêu bật được cơ sở lý thuyết, các
nhân tố ảnh hưởng liên quan tới đề tài thương hiệu cá nhân,
nhận thức tầm quan trọng của thương hiệu cá nhân để từ đó
nêu ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao việc xây
dựng thương hiệu cá nhân.
Dựa vào mô hình nghiên cứu của [7] và nhiều mô hình
nghiên cứu khác, nhóm đề xuất ra mô hình nghiên cứu các
nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng thương hiệu cá nhân bao
gồm: Nhận diện bên ngoài, Năng lực cá nhân, Tương lai,
Trải nghiệm sống và Thái độ (cảm xúc), tính cách.
Hình 1. Mô hình nghiên cứu (Nhóm nghiên cứu đề xuất)
Bảng 1. Các giả thuyết phân tích
Nhân tố
Giả thuyết
Các nghiên
cứu trước
đó
Nhận
diện bề
ngoài
Giả thuyết (H1): Nhân tố nhận
diện bề ngoài có ảnh hưởng cùng
chiều đến việc xây dựng thương
hiệu cá nhân của sinh viên đại học
trên toàn Tp. Hà Nội.
[1], [2]
Năng l
ực
cá nhân
Giả thuyết (H2): Nhân tố năng lực
cá nhân có ảnh hưởng cùng chiều
đến việc xây dựng thương hiệu cá
nhân của sinh viên đại học trên
toàn Tp. Hà Nội.
[1], [2], [7]
Tương lai
Giả thuyết (H3): Nhân tố tương
lai có ảnh hưởng cùng chiều đến
việc xây dựng thương hiệu cá
nhân của sinh viên đại học trên
toàn Tp. Hà Nội.
[1], [2], [7]
Trải
nghiệm
sống
Giả thuyết (H4): Nhân tố trải
nghiệm sống có ảnh hưởng cùng
chiều đến việc xây dựng thương
hiệu cá nhân của sinh viên đại học
trên toàn Tp. Hà Nội.
[1], [2]
Thái độ
(cảm
xúc),
tính
cách
Giả thuyết (H5): Nhân tố Thái độ
(cảm xúc), tính cách có ảnh hưởng
cùng chiều đến việc xây dựng
thương hiệu cá nhân của sinh viên
đại học trên toàn Tp. Hà Nội.
[1], [2], [7]
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp thu thập thông tin
Nghiên cứu sử dụng số liệu sơ cấp thu thập bằng cách
khảo sát online thông qua phương tiện truyền thông như:
Zalo, Facebook,… bằng đường link Google Forms với các
đối tượng là sinh viên đại học trên địa bàn Thành phố Hà
Nội. Phiếu điều tra xây dựng với 19 câu hỏi với thang đo
Likerts 5 mức độ (1: Hoàn toàn không đồng ý, 2: Không
đồng ý, 3: Bình thường, 4: Đồng ý, 5: Hoàn toàn đồng ý).
Nhóm tác giả thu được 310 phiếu, loại đi những phiếu
không hợp lệ và phiếu trắng thì tổng số phiếu được chọn
đưa vào phân tích là 296 phiếu.
3.2. Xử lí dữ liệu
Lập bảng tần số: đối với các biến về thông tin mẫu (giới
tính, khoá học, chuyên ngành).
Phân tích mô tả: phân tích này là phân tích thống kê tần
số để mô tả các thuộc tính của nhóm mẫu khảo sát như giới
tính, khoá học, chuyên ngành,…
Phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha: Độ tin cậy
của thang đo được đánh giá bằng phương pháp nhất quán
nội tại qua hệ số Cronbach’s Alpha. Nghiên cứu sử dụng
phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha trước khi phân
tích nhân tố EFA để loại ra các biến không phù hợp vì các
biến rác này có thể tạo ra các yếu tố giả. Hệ số tin cậy
Cronbach’s Alpha chỉ cho biết các biến có liên kết với nhau
hay không; nhưng không cho biết biến quan sát nào cần bỏ
đi và biến quan sát nào cần giữ lại. Khi đó, việc tính toán hệ
số tương quan giữa biến - tổng sẽ giúp loại ra những biến
quan sát nào không đóng góp nhiều cho sự mô tả của khái
niệm cần đo.
Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor
Analysis) cho thang đo thương hiệu cá nhân của sinh viên:
Phân tích nhân tố khám phá là kỹ thuật được sử dụng
nhằm thu nhỏ và tóm tắt các dữ liệu. Phương pháp này rất
có ích cho việc xác định các tập hợp biến cần thiết cho vấn
đề nghiên cứu và được sử dụng để tìm mối quan hệ giữa
các biến với nhau. Một số yêu cầu cần thiết trong phân tích
EFA là:
Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) phải đạt giá trị từ
0,5 trở lên (0,5<KMO<1) thể hiện phân tích nhân tố là phù
hợp, còn nếu ngược lại thì phân tích nhân tố có khả năng
không thích hợp với dữ liệu.
● Kiểm định Bartlett (Bartlett’s test) có ý nghĩa thống
kê sig<0,05 chứng tỏ các biến quan sát có quan hệ với nhau.
● Eigenvalue: là tiêu chí để xác định số lượng nhân tố
trong phân tích EFA. Theo đó, chỉ những nhân tố có
Eigenvalue lớn hơn 1 thì mới được giữ lại trong mô hình.
● Tổng phương sai trích TVE (Total Variance
Explained) phải > 0,5; cho biết các nhân tố được trích giải
thích được % sự biến thiên của các biến quan sát.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 436● Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) phải có trọng số
lớn hơn 0,5 thì phân tích EFA mới có giá trị thực tiễn.
Phân tích tương quan:
Kiểm định mối tương quan tuyến tính giữa các biến
trong mô hình: giữa biến phụ thuộc với từng biến độc lập
và giữa các biến độc lập với nhau. Sử dụng hệ số tương
quan Pearson để lượng hóa mức độ chặt chẽ của mối liên
hệ tuyến tính giữa hai biến định lượng: giá trị tuyệt đối của
hệ số Pearson càng gần đến 1 thì hai biến này có mối tương
quan tuyến tính càng chặt chẽ.
Trong mô hình, nghiên cứu kỳ vọng có mối tương quan
tuyến tính chặt chẽ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập;
đồng thời cũng xem xét mối tương quan giữa các biến độc
lập với nhau để nhận dạng hiện tượng đa cộng tuyến.
Phân tích hồi quy đa biến:
Sau quá trình thực hiện kiểm định thang đo: đánh giá độ
tin cậy thang đo (sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha)
và kiểm định giá trị khái niệm của thang đo (phân tích nhân
tố khám phá EFA); tiến hành tính toán nhân số của nhân tố
(giá trị của các nhân tố trích được trong phân tích nhân tố
EFA) bằng cách tính trung bình cộng của các biến quan sát
thuộc nhân tố tương ứng.
Các nhân tố được trích ra trong phân tích nhân tố được
sử dụng cho phân tích hồi quy đa biến để kiểm định mô hình
nghiên cứu và các giả thuyết kèm theo. Các kiểm định giả
thuyết thống kê đều áp dụng mức ý nghĩa là 5%.
Sau khi kết luận là hai biến có mối liên hệ tuyến tính thì
có thể mô hình hóa mối quan hệ nhân quả của hai biến này
bằng hồi quy tuyến tính. Nghiên cứu thực hiện hồi quy đa
biến theo phương pháp Enter: tất cả các biến được đưa vào
một lần và xem xét các kết quả thống kê liên quan.
Phương trình hồi quy đa biến cho mô hình nghiên cứu
đề xuất ban đầu (theo mô hình lý thuyết):
Yi = b0 + b1X1+ b2X2+ ... + biXi + ε
Trong đó:
Y: Thương hiệu cá nhân b0: Hằng số
b1: Hệ số ảnh hưởng của biến độc lập i vào biến phụ
thuộc i; Xi: Mức độ ảnh hưởng của biến độc lập i vào biến
phụ thuộc i; ε: Ảnh hưởng của các nhân tố không được
nghiên cứu
❖
Kiểm định các giả thuyết, sử dụng với phần mềm
SPSS:
● Đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy đa biến
● Kiểm định giả thuyết về độ phù hợp của mô hình
● Kiểm tra giả định về hiện tượng đa cộng tuyến
(tương quan giữa các biến độc lập) thông qua giá trị của độ
chấp nhận (Tolerance) hoặc hệ số phóng đại phương sai VIF
(Variance inflation factor)> 10 thì có thể nhận xét có hiện
tượng đa cộng tuyến.
● Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động
đến việc xây dựng thương hiệu cá nhân của sinh viên: nhân
tố có hệ số càng lớn thì có thể nhận xét rằng nhân tố đó có
mức độ ảnh hưởng cao hơn các nhân tố khác trong mô hình
nghiên cứu.
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Thống kê mô tả
Bảng 2. Kết quả thống kê mô tả
Số mẫu Tỷ trọng
Giới tính
Nam
80 27%
N
ữ 216 73%
Tổng 296 100%
Sinh viên năm thứ
Năm nh
ất 36 12,2%
Năm hai
50 16,9%
Năm ba
154 52,0%
Năm tư
56 18,9%
Tổng 296 100%
Khối ngành học
Khối ngành kinh tế và
quản lý
165 55,7%
Khối ngành kĩ thuật 50 16,9%
Khối ngàng may mặc 21 7,1%
Khối ngành nông-lâm-
ngư
11 3,7%
Khối ngành văn hóa và
nghệ thuật
28 9,5%
Khối ngành sư phạm 12 4,1%
Khối ngành y dược 9 3,0%
Tổng 296 100%
Đã từng xây dựng thương hiệu cá nhân
Đã từng 60 20,3%
Chưa từng 119 40,2%
Có dự định 117 39,5%
Tổng 296 100%
Theo kết quả khảo sát, các đối tượng khảo sát chủ yếu
là nữ chiếm tỉ trọng lớn chiếm 73% do đặc trưng của ngành
Kế toán, kiểm toán. Trong số 296 sinh viên tham gia khảo
sát có 154 sinh viên năm thứ ba, chiếm 52%, sinh viên năm
4 có tổng số phiếu là 56 chiếm 18,9%, tiếp đến lần lượt là
sinh viên năm 2 và năm nhất lần lượt là 50 và 36 phiếu
tương ứng lần lượt 16,9% và 12,2%.
Qua khảo sát ta có thể thấy sinh viên khối ngành kinh tế
và quản lý có số phiếu cao nhất (165 phiếu, chiếm 55,7%),
tiếp đó theo sau là khối ngành kỹ thuật (50 phiếu, chiếm
16.9%), theo sau là khối ngành văn hóa - nghệ thuật (28
phiếu, chiếm 9,5%), tiếp đến là khối ngành may mặc (với
21 phiếu, chiếm 7,1%), tiếp là khối ngành sư phạm (12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 437phiếu, chiếm 4,1%), ngay theo sau là khối ngành nông-lâm-
ngư (11 phiếu chiếm 3,7%) và cuối cùng là khối ngành y
dược (9 phiếu, chiếm 3%). Qua 296 phiếu khảo sát, do tính
chất đặc thù ngành học nên có sự chênh lệch về số lượng
xây dựng thương hiệu cá nhân nhưng nhìn chung các khối
ngành đều phần nào đã chú ý tới việc xây dựng thương hiệu
cá nhân, trong đó ngành học kinh tế và quản ý chú trọng
trong việc xây dựng thương hiệu cá nhân hơn cả (>50%).
Trong tổng số 296 sinh viên tham gia khảo sát với phiếu
khảo sát hợp lệ, có 60 sinh viên đã xây dựng thương hiệu
cá nhân, chiếm 20,3% và 117 sinh viên có ý định xây dựng
thương hiệu cá nhân, chiếm 39,5%. Tuy nhiên, có tới 119
sinh viên chưa từng xây dựng thương hiệu cá nhân, chiếm
40,2%. Tỉ lệ giữa chưa từng và có ý định xây dựng thương
hiệu cá nhân xấp xỉ nhau, chứng tỏ sinh viên đã đặt mục
tiêu trong học tập và công việc sau này nên đang dần định
hướng trong việc xây dựng thương hiệu của bản thân.
4.2. Kiểm định thang đo
4.2.1. Thực hiện bằng Cronbach’s Alpha
Các biến BN, NL, TL, TN, TD có các Cronbach's Alpha
chấp nhận được lần lượt là: 0,720; 0,872; 0,614; 0,876;
0,743 cho thấy các thang đo sử dụng đảm bảo tốt. Các biến
độc lập có Cronbach's Alpha nào > 0,6; nên không có biến
nào bị loại khỏi mô hình.
Trong biến độc lập “Nhận diện bề ngoài (BN)” có biến
quan sát BN4 có hệ số tương quan biến tổng = 0,282 < 0,3.
Do đó, nhóm tác giả đã loại bỏ biến BN4 ra khỏi biến “Nhận
diện bề ngoài (BN)”.
Trong biến độc lập “Tương lai (TL)” có biến quan sát
TL1 có hệ số tương quan biến tổng = 0,252 nhỏ hơn 0,3. Do
đó, nhóm tác giả đã loại bỏ biến TL1 ra khỏi biến “Tương
lai (TL)”.
Trong biến độc lập “Trải nghiệm sống (TN)” có biến
quan sát TN3 có hệ số tương quan biến tổng = 0,296 < 0,3.
Do đó, nhóm tác giả đã loại bỏ biến TN3 ra khỏi biến “Trải
nghiệm sống (TN)”.
4.2.2. Thực hiện bằng EFA
Kết quả phân tích cho thấy chỉ số KMO ở mức cao, là
0,648 > 0,5; điều này chứng tỏ dữ liệu phân tích nhân tố ở
mức 4 – là xuất sắc và hoàn toàn thích hợp. Kết quả kiểm
định Bartlett’s là 1611,105 với mức ý nghĩa Sig. = 0,000 <
0,05. Như vậy các biến tương quan với nhau và thoả mãn
các nhân tố.
Kết quả ma trận xoay lần 2 cho thấy 13 biến quan sát
được phân thành 5 nhân tố, tất cả các biến quan sát đều có
hệ số tải nhân tố Factor Loading lớn hơn 0,5 và không có
các biến xấu, thậm chí có nhân tố hệ số tải rất cao ở mức
±0,7. Điều này chứng minh biến quan sát có ý nghĩa thống
kê rất tốt. Như vậy, phân tích nhân tố khám phá EFA cho
các biến được thực hiện hai lần, 13 biến quan sát hội tụ và
phân biệt thành 5 nhân tố.
Bảng 3. Phân tích ma trận xoay các nhân tố
COMPONENT
1 2 3 4 5
NL2 0,870
NL1 0,858
NL4 0,843
NL3 0,827
BN2 0,881
BN3 0,825
BN1 0,799
TN1 0,975
TN2 0,974
TD2 0,896
TD1 0,889
TL2 0,856
TL3 0,846
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của tác giả)
4.3. Nhân tố khám phá và tương quan giữa các biến
Theo kết quả phân tích tương quan giữa các biến cho
thấy, các biến độc lập được đưa vào mô hình bao gồm: Nhận
diện bề ngoài (BN); Năng lực cá nhân (NL); Tương lai
(TL); Trải nghiệm sống (TN); Thái độ (cảm xúc), tính cách
(TD) có ảnh hưởng đến việc xây dựng thương hiệu cá nhân
của sinh viên đại học trên địa bàn Tp. Hà Nội với mức ý
nghĩa Sig < 0,05. Do đó, điều kiện “Phải có ít nhất một biến
độc lập có tương quan tuyến tính đáng kể với biến phụ
thuộc” đã được đảm bảo. Mặc dù vậy, kết quả cũng cho thấy
một số biến độc lập cũng có sự tương quan với nhau nhưng
hệ số tương quan < 0,6. Tuy nhiên điều này sẽ được kiểm
định kỹ lưỡng thông qua những dấu hiệu đa cộng tuyến
trong mô hình hồi quy để kết luận.
4.4. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến
Phương trình hồi quy chuẩn hoá thể hiện ảnh hưởng của
các nhân tố ảnh hưởng đến Thương hiệu cá nhân của sinh
viên đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội như sau:
THCN = 0,607 + 0,22*NL + 0,167*TD + 0,165*TN
+0,148*TL+ 0,141*BN + ε
Bảng 4. Kết quả phân tích hồi quy
Model R R
Square
Adjusted
R Square
Std.
Error of
the
Estimate
1 0,776a 0,602 0,595 0,28925
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của tác giả)
Với kết quả nghiên cứu hồi quy của biến LP, hệ số giải
thích cho mô hình nghiên cứu R2 = 0,776 có nghĩa là 77,6%
việc xây dựng THCN của sinh viên được giải thích bởi các
biến độc lập trong mô hình. Trong bảng ANOVA ta thấy
Sig = 0,00 < 0,05 nên mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp
với dữ liệu nghiên cứu.

