
Phạm trù Chủ nghĩa cá nhân
của tư tưởng phương Tây
trong sự lý giải của Phan Khôi

1. Tiếp cận mảng văn học Việt Nam 1930-45, hầu hết các nhà nghiên cứu đều
nhận thấy rằng, tư tưởng chủ nghĩa cá nhân, được tiếp nhận từ tư tưởng văn hoá phương
Tây, là cơ sở quan niệm về xã hội và con người trong hầu hết các sáng tác văn học thời
kỳ này như trong Thơ mới, trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, v.v… Tuy vậy, cho đến
tận nay, chúng ta hầu như chưa có nỗ lực nghiên cứu chuyên sâu nào nhằm tìm hiểu việc
các trí thức Việt Nam đương thời tiếp nhận ra sao tư tưởng chủ nghĩa cá nhân phương
Tây và truyền bá tư tưởng này vào công chúng đồng bào của mình, tạo ra những hiểu
biết và đồng thuận ở mức cần thiết để họ có thể tiếp nhận những sáng tác như tiểu thuyết
Tự Lực văn đoàn hay Thơ mới lãng mạn, ít nhất là ở bình diện quan niệm về con người
cá nhân của nó.
Trong bài này, dựa vào việc tìm hiểu một tác giả mà những năm 1920-40 đã hoạt
động trong môi trường văn hóa Việt Nam như một nhà báo, một cây bút nghị luận về
các vấn đề văn hoá xã hội, − tác gia Phan Khôi (1887-1959), − tôi muốn đề cập việc tư
tưởng chủ nghĩa cá nhân của xã hội phương Tây đã được tiếp nhận và lý giải ra sao, ở
trường hợp một tác gia Việt Nam cụ thể. Vượt ngoài phạm vi xem xét ở đây, những vấn
đề như liệu có nên xem Phan Khôi như người chuẩn bị về tư tưởng cho những tư trào
văn chương của Thơ mới, của Tự Lực văn đoàn hay không, − cần phải là đề tài khảo sát
của những chuyên đề khác.
2. Phạm trù chủ nghĩa cá nhân (Individualisme) của tư tưởng phương Tây được
Phan Khôi (1887-1959) đề cập từ cuối những năm 1920 đầu những năm 1930, khi mà
một trong những đề tài thu hút ngòi bút viết báo của ông chính là vấn đề thời sự của đời
sống văn hoá tư tưởng đương thời: trạng thái và số phận của những tư tưởng cổ truyền
phương Đông trước một xu thế đang diễn ra trên chính phương Đông, được gọi là xu
hướng “Âu hoá”. Ông từng tham gia luận bàn về “học thuyết cũ với vận mạng mới nước
Tàu”(1) thảo luận và đưa ra ý kiến phủ định đối với “cái thuyết Âu châu sắp tan nát” của
học giả Trung Hoa Cô Hồng Minh(2) kiểm điểm di sản Nho giáo trên đất Việt
Nam(3) nhìn rộng ra cuộc tiến hoá trong “cạnh tranh sinh tồn” của loài người trên toàn
cầu và đi tới nhận định chung: “... cái đại thể các dân tộc yếu ở Á châu ngày nay là phải

học theo Âu châu thì mới có thể sanh tồn”(4) hơn thế nữa, “muốn duy tân cải cách thì
phải bắt từ học thuật tư tưởng mà duy tân cải cách trước”(5).
Theo sự sưu tầm nghiên cứu của tôi, trong những năm này, ít nhất có 2 tài liệu
cho thấy rõ nhất sự lý giải của Phan Khôi về phạm trù chủ nghĩa cá nhân của tư tưởng
phương Tây.
Năm 1928, trong bài Tư tưởng của Tây phương và Đông phương (Đông Pháp thời
báo, 27/9/1928; 2/10/1928)(6)Phan Khôi nêu ra 3 điểm so sánh sự khác biệt giữa tư
tưởng của phương Tây và của phương Đông: “1/ Tây phương chuộng khoa học, Đông
phương chuộng huyền học”; “2/ Tây phương trọng tự chủ, Đông phương trọng thống
thuộc”; “3/ Tây phương quý tấn thủ, Đông phương quý an phận”. Nội dung thứ hai trong
các điểm so sánh này, − “trọng tự chủ” chính là nói về chủ nghĩa cá nhân.
Phan Khôi viết:
“Chữ tự chủ ở đây nghĩa là mỗi người làm chủ lấy mình, cũng tức là cá
nhân chủ nghĩa. Ở phương Tây, nói rằng “một người”, nghĩa là đối với thế giới,
đối với quốc gia mà nói, chớ không phải phiếm nhiên. Đã gọi là người, thì người
nào cũng vậy, ai ai cũng có cái địa vị cái tư cách đối với thế giới đối với quốc
gia, thật như ta thường nói "đội trời đạp đất ở đời". Như vậy, người nào tự chủ
lấy người ấy, không ai thuộc về ai cả.
Bởi đó mới có sự tự do. Một người đã tới tuổi thành nhân rồi thì không
còn ở dưới quyền cha mẹ nữa. Mà cũng không ở dưới quyền chánh phủ hay là
dưới quyền ông nguyên thủ, song chỉ ở dưới quyền pháp luật. Một người được y
theo trong vòng pháp luật mà tự do. Pháp luật cho mọi người được tư tưởng tự
do, ngôn luận tự do, cư trú tự do,... những quyền tự do ấy, người khác − dầu là
cha mẹ nữa − không được can thiệp đến. Pháp luật đặt ra cốt là hạn chế sự tự
do của từng người để binh vực sự tự do cho từng người.
Lại bởi đó mới có sự bình đẳng. Mọi người đối với quốc gia xã hội đều có
nghĩa vụ và quyền lợi bằng nhau. Ai nấy đều phải nộp thuế, đều phải đi lính, thì
ai nấy đều được hưởng quyền tự do của pháp luật. Trước mặt pháp luật, ai

cũng như nấy, hễ có tội thì bị phạt, không cứ ông nguyên thủ hay là người bình
dân. Pháp luật đặt ra cũng cốt để duy trì sự bình đẳng giữa từng người”.
Tất nhiên cái chủ nghĩa cá nhân với nội hàm như vậy không phải vốn dĩ đã có từ
xa xưa ở các nước phương Tây, mà chỉ mới hình thành từ thời Khai sáng rồi định hình
dưới các xã hội theo kinh tế tư bản thị trường, dưới các chính thể cộng hoà pháp trị.
Nhưng Phan Khôi không bàn về phương diện lịch sử của phạm trù chủ nghĩa cá nhân ở
xã hội phương Tây; ông chủ yếu trình bày nội dung sự việc ở mặt đồng đại, hơn nữa,
nhấn vào trạng thái đương đại, chỉ ra sự tương đồng giữa chủ nghĩa cá nhân với cơ chế
chính trị ở các nước phương Tây:
“Bởi mỗi người đều có địa vị tư cách vững vàng, tự chủ lấy mà không xâm
phạm đến ai như vậy, cho nên khi hiệp với nhau thành đoàn thể thì chỉnh tề và
ổn kiện lắm. Quốc gia, tức là của chung của quốc dân; hội xã tức là của chung
của hội viên; đối với quốc gia xã hội ai có bổn phận gì thì làm hết bổn phận ấy,
có lợi ích thì mọi người cùng hưởng. Mới nghe họ nói những là "quốc gia lợi ích,
xã hội lợi ích" thì tưởng là xung đột với chủ nghĩa cá nhân, mà xét kỹ ra thì
những cái lợi ích ấy cũng chỉ là lợi ích cho từng người vậy.
Các nước bên Tây đều dùng cái chánh thể lập hiến, cộng hoà được, là nhờ
họ sẵn có cái tư tưởng như đã nói trên đó. Cái tư tưởng ấy tức là cái tinh thần
dân chủ”.
Để làm rõ sự khác biệt giữa tính tự chủ, − tức là đặc điểm chính của con người
cá nhân Tây phương, − so với tính chất “thống thuộc” ở đơn vị tương đương của
phương Đông, Phan Khôi chỉ rõ cái đặc điểm mà sau này một số nhà nghiên cứu sẽ
mô tả như là “con người chức năng”. Ông viết:
“Theo cái ý nghĩa của chữ “một người” ở phương Tây, thì ở phương Đông,
trừ ông vua ra, hầu như không có “người” nào hết. Bởi vì “xuất thổ chi tân, mạc
phi vương thần”, ai cũng là thần thiếp của vua, ai cũng là dân của vua. Cứ như
sách dạy, nhân thần không được tư giao với ngoại quốc, ấy là không có tư cách
đối với thế giới; thứ nhân không được nghị luận việc chánh, ấy là không có tư

cách đối với quốc gia. Bởi vậy ai nấy đều phải nộp của cải cho vua, nộp cả đến
thân mình nữa; vua thương thì nhờ, bằng vua không thương mà giết đi cũng
phải chịu. Như vậy gọi là trọn cái bổn phận thờ bề trên; như vậy gọi là thiên
kinh địa nghĩa.
Không những thuộc về vua mà thôi, ai còn có cha mẹ đến chừng nào thì
phải kể cái thân mình là của cha mẹ đến chừng nấy. Lại không những cái thân
mà thôi, mình dầu có của cải, có vợ con, cũng phải kể là của cha mẹ. Theo Kinh
L
ễ
dạy: con yêu vợ mà cha mẹ ghét thì con phải để [= bỏ] vợ đi; con ghét vợ
mà cha mẹ yêu thì con phải hoà thuận với vợ. Lại dạy: có dư của thì nộp cho
tông, thiếu thì lấy của tông. Tông là người tông chủ trong gia đình, tức là cha
mẹ. Còn chưa kể đến những lời tục thường nói "Cha mẹ đặt đâu ngồi đó, bảo
chết hay chết, bảo sống hay sống" thì lại còn nghiêm khắc quá nữa.
Trọng nhứt là vua và cha mẹ, rồi thứ đến quan, làng, họ, cũng đều có
quyền trên một người. Quan, nào có phải một ông, có đến năm bảy lớp, cứ dùi
đánh đục, đục đánh săng, rút lại trăm sự chi cũng đổ trên đầu người dân cả.
Người trong làng thì kể như con của làng, cho nên nói rằng "con làng nhờ làng".
Người trong họ đối với họ cũng vậy”.
Phan Khôi tóm tắt về tính chất thống thuộc của con người chức năng phương
Đông:
“Ấy vậy, lấy ra một người ròng rặt Đông phương mà nói, thì người ấy
không tự mình làm chủ lấy mình được; song là thuộc về vua, về cha mẹ, về
quan, về làng, về họ, nếu là đàn bà thì còn thuộc về chồng nữa.
Bởi cớ ấy, trong xã hội ta như một cái thang có nhiều nấc. Nghĩa vụ và
quyền lợi của mọi người không đồng nhau: người trên đối với người dưới không
có nghĩa vụ; còn ai có nhiều quyền hơn thì được hưởng nhiều lợi hơn. Pháp luật
đối với mọi người thì tùy từng bậc mà khác: cùng phạm một tội mà dân bị phạt
trọng [= nặng], quan được phạt khinh [= nhẹ]; cùng phạm một tội mà kẻ thứ

