BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ------------(cid:91)(cid:91)(cid:9)(cid:92)(cid:92)-------------

BÙI DUY DƯƠNG

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN

THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN PHÂN

PHỐI CỦA CÔNG TY ĐIỆN LỰC ỨNG HOÀ

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN

PGS.TS BÙI XUÂN HỒI

HÀ NỘI - 2014

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan

Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của

PGS.TS Bùi Xuân Hồi Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn

gốc rõ ràng. Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa

từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào.

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 3 năm 2014

Tác giả

Bùi Duy Dương

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT......................................... 2  DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................... 4  DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ................................................................ 5  MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 6  CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI......................................................................................................... 9  1.1 Khái niệm chung về lưới điện và vận hành lưới điện ................................ 10  1.2 Cơ sở lý luận về quản lý vận hành lưới điện............................................. 11  1.3 Kinh nghiệm quản lý vận hành lưới điện của một số công ty vận hành điện trong nước ................................................................................................... 30

CHƯƠNG II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC ỨNG HÒA............................ 35  2.1 Khái quát về Công ty điện lực Ứng Hòa .................................................. 36  2.2 Khái quát về lưới điện phân phối tại huyện Ứng Hòa................................ 39  2.3 Phân tích thực trạng công tác lập kế hoạch và vận hành lưới điện ............. 42  2.4 Phân tích thực trạng công tác tổ chức vận hành lưới điện.......................... 46  2.5 Phân tích thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá điều chỉnh công tác vận hành lưới điện .............................................................................................. 50  2.6 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý vận hành lưới điện .......... 54  2.7 Đánh giá công tác quản lý vận hành lưới điện tại Công ty điện lực Ứng Hòa.............................................................................................................. 64

CHƯƠNG III. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC

QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI CỦA CÔNG TY ĐIỆN LỰC ỨNG HÒA................................................................................................. 67  3.1 Định hướng phát triển của Công ty điện lực Ứng Hòa .............................. 68  3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối của Công ty điện lực Ứng Hòa ...................................................................... 70  KẾT LUẬN......................................................................................................... 92  TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 93

1

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASAI : Mức độ sẵn sàng cung cấp điện trong tháng (Average Service

Availability Index);

ASUI : Mức độ không sẵn sàng cung cấp điện (Average Service

Unavailability Index);

AENS : Điện năng trung bình không cung cấp đến một khách hàng (Average

Energy Not Supplied);

ACCI : Điện năng trung bình không cung cấp đến một khách hàng bị ảnh

hưởng mất điện (Average Customer Curtailment Index);

CAIFI : Số lần mất điện trung bình của khách hàng (Customer Average

Interruption Frequency Index);

CAIDI : Thời gian mất điện trung bình của khách hàng (Customer Average

Interruption Duration Index);

CMIS : Hệ thống thông tin quản lý khách hàng (Customer Management

Information System);

CBCNV : Cán bộ công nhân viên;

CSDL : Cơ sở dữ liệu;

ĐD : Đường dây;

ĐTXD : Đầu tư xây dựng;

ENS : Tổng điện năng không cung cấp (Energy Not Supplied);

EVN : Tập đoàn Điện lực Việt Nam;

GIS : Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System);

KĐTM : Khu đô thị mới;

Lv. Ths. : Luận văn thạc sĩ;

MBA : Máy biến áp;

PP : Phân phối;

QLLĐ : Quản lý lưới điện;

QLDA : Quản lý dự án;

QLĐK : Quản lý điện kế;

2

QLVH : Quản lý vận hành;

SCL : Sửa chữa lớn;

SAIFI : Số lần gián đoạn cung cấp điện trung bình của lưới điện (System

Average Interruption Frequency Index);

SAIDI : Thời gian gián đoạn cung cấp điện trung bình của lưới điện (System

Average Interruption Duration Index);

TBA : Trạm biến áp;

TSCĐ : Tài sản cố định;

TP.HN : Thành phố Hà Nội;

VHLĐ : Vận hành lưới điện;

3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng vật tư thiết bị Công ty quản lý đến năm 2013……………..…. 39

Bảng 2.2 Một số hạng mục vật tư thiết bị chính của Công ty qua các năm….. 42

Bảng 2.3 Kế hoạch đầu tư phát triển, cải tạo lưới điện, sửa chữa lớn TSCĐ… 43

Bảng 2.4 Kế hoạch giảm tổn thất điện năng năm 2013………………………. 45

Bảng 2.5 Bảng cơ cấu lao động Công ty điện lực Ứng Hòa………………….. 49

Bảng 2.6 Công tác kiểm tra định kỳ đường dây và TBA từ năm 2011- 2013... 51

Bảng 2.7 Bảng thống kê sự cố điển hình năm 2013………………………….. 52

Bảng 2.8 Tổng hợp các nguyên nhân gây sự cố lưới điện……………………. 53

Bảng 2.9 Bảng tổng hợp sự cố lưới điện và xử lý vi phạm HLATLĐ………. 54

Bảng 2.10 Chỉ số độ tin cậy điện lưới năm 2013…………………………….. 58

Bảng 2.11 Tỷ lệ tổn thất điện năng Công ty điện lực Ứng Hòa……………… 59

Bảng 2.12 Bảng tổng hợp tổn thất lưới điện hạ thế điển hình năm 2013…….. 60

Bảng 2.13 Tỷ lệ tổn thất điện năng chi tiết theo nguyên nhân……………….. 61

Bảng 2.14 Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2013…………………………. 63

Bảng 2.15 Kết quả kinh doanh qua các năm 2011 - 2013…….……………… 63

4

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Công ty điện lực Ứng Hoà 38

Hình 3.1 Mô hình hóa lưới điện 75

Hình 3.2 Module lập lịch 76

Hình 3.3 Module Cập nhật lưới điện 77

5

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển của Khoa học kỹ thuật cùng với quá trình hội nhập kinh tế sâu

rộng luôn đòi hỏi các Doanh nghiệp không chỉ đổi mới về trang thiết bị máy móc

mà cả về cách thức quản lý. Một doanh nghiệp có hệ thống quản lý vận hành khoa

học đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó đạt được 80% thành công trong hoạt động

của mình.

Hiện nay, ngành điện luôn được xem là một ngành kinh tế kỹ thuật mũi

nhọn, có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nguồn năng lượng

điện có ảnh hưởng bao trùm đến tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và đời

sống sinh hoạt của xã hội. Điện lực Việt Nam đã không ngừng phát triển nhằm thực

hiện tốt bốn mục tiêu của CNH, HĐH nước ta là điện, đường, trường, trạm với

mạng lưới vận hành rộng khắp từ miền núi tới hải đảo và vươn xa sang cả nước bạn

Lào, Campuchia.

Tuy nhiên, điện lực vẫn là một ngành độc quyền và được sự bảo hộ của Nhà

nước. Quá trình hội nhập và phát triển yêu cầu ngành điện phải thay đổi cách thức

quản lý vận hành để phù hợp với yêu cầu cơ chế thị trường, cạnh tranh lành mạnh

trong môi trường công bằng. Trong thời gian từ năm 2001- 2010, Tập đoàn điện lực

Việt Nam, đã xây dựng cho mình những mục tiêu cụ thể trong đó trước tiên là “tiếp

tục cũng cố và hoàn thiện các bộ phận quản lý của Tổng công ty và các đơn vị thành

viên để đảm bảo nhanh, đáp ứng kịp thời cho sản xuất kinh doanh và đầu tư xây

dựng ngày càng tốt hơn”.

Ngành điện nói chung và Công ty điện lực Ứng Hòa nói riêng cần phải có

những thay đổi cơ chế hoạt động cho phù hợp với điều kiện mới, xu thế mới để đáp

ứng tốt nhu cầu của khách hàng và giúp công ty ngày càng phát triển vững mạnh.

Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp

hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối của Công ty điện lực

Ứng Hòa” làm đề tài luận văn khoa học của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

6

2.1 Mục đích chung

Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý vận hành lưới điện phân

phối hiện nay của Công ty, xác lập hệ thống các giải pháp khả thi để hoàn thiện

công tác quản lý cho Công ty trong thời gian tới.

2.2 Mục đích cụ thể

Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý vận hành lưới điện phân phối trong Công

ty.

Phân tích thực trạng công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối trong

Công ty giai đoạn 2011- 2013.

Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối cho

Công ty.

3. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: là phương pháp tìm kiếm những tài liệu liên

quan đến vấn đề nghiên cứu bao gồm các loại tạp chí và báo cáo khoa học, tác phẩm

khoa học trong ngành, giáo trình, mạng internet và các luận án, luận văn..

Phương pháp phân tích tổng hợp: Là phương pháp sử dụng các nguồn tài liệu

đã thu thập để tìm ra những quan điểm, luận điểm liên quan đến chủ để nghiên cứu,

phân tích và tổng hợp lại để hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.

Phương pháp thu thập thông tin và số liệu: Thông tin và số liệu thứ cấp:

được tập hợp từ báo cáo hoạt động kinh doanh của Công ty điện lực Ứng Hòa giai

đoạn 2011 – 2013; ngoài ra tổng hợp từ 1 số cơ quan địa phương.

Phương pháp xử lý số liệu: phần mềm EXCEL.

Phương pháp thống kê mô tả: được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản

của dữ liệu thu thập được qua các hình thức.

Phương pháp phân tích dữ liệu chuỗi thời gian: được dùng để làm công

tác dự báo và kiểm tra các giả thiết kinh tế. Các sự kiện quan sát được sắp xếp

theo trình tự thời gian để rút ra quy luật, so sánh, kết luận.

Phương pháp suy luận và sáng tạo: dùng các cơ sở khoa học lý luận, kiến

thức, hiểu biết của bản thân để đưa ra những kết luận, giải pháp.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

7

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề liên quan đến lưới điện, vận hành lưới điện, nguồn nhân lực

và việc sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Công ty điện lực Ứng Hòa

Thời gian: đánh giá thực trạng giai đoạn 2011 – 2013 để đưa ra giải pháp

trong thời gian tới.

5. Đóng góp của đề tài

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chất lượng và quản lý chất lượng.

Trình bày các khái niệm về lưới điện, tổn thất điện năng, ý nghĩa về việc

nâng cao chất lượng quản lý vận hành lưới điện và các tiêu chí đánh giá chất lượng

quản lý vận hành lưới điện phân phối.

Phân tích thực trạng công tác quản lý vận hành lưới điện Huyện Ứng Hòa -

Thành phố Hà Nội.

Đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện lưới điện, hệ thống thông tin quản lý,

đảm bảo nguồn nhân lực, giảm tổn thất điện năng và nâng cao sự hài lòng của

khách hàng tại Công ty điện lực Ứng Hòa.

6. Nội dung nghiên cứu

Phần mở đầu

Chương I. Cơ sở lý luận về quản lý vận hành lưới điện phân phối.

Chương II. Phân tích thực trạng công tác quản lý vận hành lưới điện tại

Công ty điện lực Ứng Hòa.

Chương III. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vận hành

lưới điện phân phối của Công ty điện lực Ứng Hòa.

8

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN

PHÂN PHỐI

9

1.1 Khái niệm chung về lưới điện và vận hành lưới điện

1.1.1 Khái niệm lưới điện

Khái niệm hệ thống điện: là một phần của hệ thống năng lượng gồm có nhà

máy điện, trạm biến áp, các đường dây tải điện và các thiết bị khác (điều khiển, tụ

bù, thiết bị bảo vệ…) được nối liền với nhau thành hệ thống làm nhiệm vụ sản xuất,

truyển tải, phân phối và cung cấp điện năng tận các hộ dùng điện. [Giáo trình Hệ

thống cung cấp điện, Trương Minh Tấn (2009), NXB Đại học Quy Nhơn].

Mạng điện: là một tập hợp gồm các trạm biến áp, trạm đóng cắt, các đường

dây trên không và các đường dây cáp. Mạng điện được dùng để truyền tải và phân

phối điện năng từ các nhà máy điện đến các hộ tiêu dùng.

Khái niệm lưới điện:

Theo luật điện lực của Việt Nam quy định thì: “Lưới điện là hệ thống đường

dây tải điện, máy biến áp và trang thiết bị phụ trợ để truyền dẫn điện. Lưới điện,

theo mục đích sử dụng và quản lý vận hành, được phân biệt thành lưới điện truyền

tải và lưới điện phân phối”.

Theo PGS.TS Trần Bách: “Lưới điện là một bộ phận của hệ thống điện làm

nhiệm vụ tải điện từ các nguồn điện đến các thiết bị dùng điện. Lưới điện bao gồm

các dây dẫn điện, các nhà máy biến áp và các thiết bị phục vụ khác như: thiết bị

đóng cắt, thiết bị bảo vệ, thiết bị bù dọc, thiết bị bù ngang, thiết bị đo lường và thiết

bị điều khiển chế độ làm việc… Các thiết bị này được sắp xếp trên các đường dây

tải điện và các trạm điện như trạm biến áp, trạm cắt”. [PGS.TS Trần Bách, giáo

trính lưới điện, NXB Giáo dục 2012]

Có hai hệ thống lưới điện:

Lưới điện truyền tải: là phần lưới điện bao gồm toàn bộ các đường dây và

trạm biến áp có cấp điện áp từ 220kV trở lên, các đường dây và trạm biến áp có cấp

điện áp 110kV mang chức năng truyền tải để tiếp nhận công suất từ các nhà máy

điện vào hệ thống điện quốc gia [Theo thông tư 32/2010 TT-BCT của Bộ Công

thương]

Lưới điện phân phối: là phần lưới điện bao gồm các đường dây và trạm biến

áp có cấp điện áp từ 35kV trở xuống, các đường dây và trạm biến áp có cấp điện áp

10

110kV để thực hiện chức năng phân phối điện đến khách hàng sử dụng điện.

[Thông tư 32/2010 TT-BCT của Bộ Công thương].

1.1.2 Phân loại lưới điện

Có nhiều cách phân loại điện áp

- Theo cấp điện áp: [Thông tư 32/2010 TT-BCT của Bộ Công thương]

+ Hạ áp: là cấp điện áp dưới 1000V

+ Trung áp: là cấp điện áp từ 1000V đến 35kV

+ Cao áp: là cấp điện áp danh định trên 35kV đến 220kV

+ Siêu cao áp: là cấp điện áp danh định trên 220kV

- Theo nhiệm vụ: lưới cung cấp (500, 220, 110kV) và lưới phân phối (110,

35, 22, 10, 6 và 0,4kV). Riêng lưới 110kV là truyền tải khi nó mang chức năng

truyền tải để tiếp nhận công suất từ các nhà máy điện vào hệ thống điện quốc gia.

Còn lưới 110kV là phân phối khi nó chức năng phân phối điện đến khách hàng sử

dụng điện.

1.1.3 Công tác vận hành lưới điện

Công tác vận hành lưới điện được thực hiện theo từng cấp điện áp. [PGS.TS

Trần Bách]

Đối với lưới phân phối hạ áp: vận hành kín lưới điện thì tổn thất công suất và

tổn thất điện năng sẽ nhỏ nhất.

Đối với lưới phân phối trung áp: vận hành kín ở mạch vòng 1 nguồn là có thể

được, tuy nhiên muốn tận dụng lưới điện này về mặt độ tin cậy cung cấp điện thì

phải có nhiều điểm phán đoán với cắt rơ le có hướng, điều này làm lưới điện đắt

tiền, đắt hơn là lợi ích do tăng độ tin cậy cho nên hiện nay lưới điện này vẫn vận

hành hở với các thiết bị phân đoạn là dao cách ly có trang bị điều khiển xa hoặc mở

tự động.

Đối với lưới điện cao áp và siêu cao áp: vận hành hở lưới điện để đảm bảo

được công tác vận hành thông suốt.

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý vận hành lưới điện

1.2.1 Khái niệm quản lý và quản lý vận hành lưới điện

* Khái niệm quản lý

11

Trên thế giới hiện nay có nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ quản

lý. Một số ý kiến cho rằng, quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy; một số khác

lại đứng ở góc độ quản lý là hành chính, cai trị. Quản lý được nhìn nhận dưới hai

góc độ.

Quản lý theo góc độ chính trị, xã hội: là sự kết hợp giữa tri thức và lao động.

Việc kết hợp này sẽ tạo động lực để xã hội phát triển và ngược lại sẽ kìm hãm nếu

như có sự kết hợp không tốt. Sự kết hợp đó được biểu hiện trước hết ở cơ chế quản

lý, chế độ, chính sách, biện pháp quản lý, tâm lý xã hội.

Theo góc độ hành động, góc độ quy trình công nghệ của tác động thì quản lý

là điều khiển. Theo khái niệm này thì có ba loại hình:

- Thứ nhất, con người điều khiển những vật hữu sinh không phải con người

để bắt chúng phải thực hiện theo ý chí của người điều khiển như quản lý sinh học,

môi trường…

- Thứ hai, con người điều khiển những vật vô tri, vô giác để bắt chúng phát

triển và thực hiện theo ý chí của người điều khiển. Loại hình này được gọi là quản

lý kỹ thuật.

- Thứ ba, con người điều khiển con người, được gọi là quản lý xã hội.

Như vậy, có thể hiểu: quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển của chủ thể

quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong

điều kiện biến động của môi trường.

* Khái niệm quản lý vận hành lưới điện

Quản lý vận hành: là tập hợp các hoạt động tạo ra giá trị được biểu hiện

dưới dạng hàng hóa và dịch vụ bằng cách chuyển hóa các đầu vào thành đầu ra.

Quản lý vận hành lưới điện: là hệ thống các hoạt động cung cấp điện một

cách an toàn , liên tục cho khách hàng sử dụng điện một lượng điện năng đảm bảo

chất lượng và giá thành hợp lý để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh

nghiệp và hộ gia đình.

1.2.2 Các yêu cầu về công tác quản lý vận hành lưới điện

Công tác quản lý vận hành lưới điện đặt ra nhiều yêu cầu không chỉ đối với

khách hàng là chất lượng điện năng được cung cấp, đảm bảo thiết bị sử dụng điện

12

năng đạt hiệu quả cao mà còn có những yêu cầu rất cụ thể của ngành điện lực nhằm

xác định chất lượng điện năng. Một số yêu cầu chính:

a. Tần số hệ thống điện: Theo luật điện lực của Việt Nam quy định, tần số

dao động trong phạm vi ± 0,2Hz so với tần số danh định 50Hz. Trong trường hợp

hệ thống điện chưa ổn định cho phép làm việc với độ lệch tần số ± 0,5Hz

Điều chỉnh tần số hệ thống điện quốc gia được chia làm 3 cấp:

Điều chỉnh tần số cấp 1 ở các tổ máy phát điện được quy định trước sao cho

hệ thống ổn định ở tần số (50 ± 0,2)Hz.

Điều chỉnh tần số cấp 2 ở các tổ máy phát điện được quy định trước sao cho

hệ thống trong giới hạn (50 ± 0,5)Hz.

Điều chỉnh tần số cấp 3 điều chỉnh bằng sự can thiệp của kỹ sư điều hành hệ

thống điện.

b. Độ lệch điện áp: dao động trong khoảng ±5% so với điện áp danh định.

Trong trường hợp lưới điện chưa ổn định, điện áp được dao động từ +5% ÷ -10%.

c. Các chỉ số độ tin cậy: Các Công ty điện lực trên thế giới thường xây dựng

một số chỉ số định lượng cụ thể để đánh giá chẳng hạn như báo cáo bình quân khách

hàng khu vực sinh hoạt bị mất điện 3 vụ/năm, 120 phút/năm... Mỗi đơn vị tự xây

dựng các chỉ tiêu để đánh giá IEEE, EEI, EPRI, CEA để đánh giá. Một số chỉ tiêu

cụ thể như sau:

* SAIDI (System Average Interruption Duration Index): Thời gian gián đoạn

cung cấp điện trung bình của lưới điện.

SAIDI được tính bằng tổng thời gian mất điện của các Khách hàng sử dụng

điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện

trong một quý chia cho tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối

và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý đó, theo công thức

n

Ki

sau:

∑ Ti

i-1

SAIDIj =

K

4

SAIDI = ∑

SAIDIj

j-1

13

Trong đó:

Ti: Thời gian mất điện lần thứ i kéo dài trên 5 phút trong quý j;

Ki: Số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua

điện của Đơn vị phân phối điện bị ảnh hưởng bởi lần mất điện thứ i trong quý j;

n: số lần mất điện kéo dài trên 5 phút trong quý j;

K: Tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện

mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý j.

* SAIFI (System Average Interruption Frequency Index): Số lần gián đoạn

cung cấp điện trung bình của lưới điện.

SAIFI được tính bằng tổng số lần mất điện của Khách hàng sử dụng điện và

các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý

chia cho tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện

SAIFIj =

n K

4

SAIDI =

SAIFIj

mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý đó, theo công thức sau:

j-1

Trong đó:

ni: số lần mất điện kéo dài trên 5 phút trong quý j;

K: Tổng số khách hàng trong quý j của Đơn vị phân phối điện.

* MAIFI (Momentary Average Interruption Frequency Index): Chỉ số về số

lần mất điện thoáng qua trung bình của lưới điện phân phối.

MAIFI được tính bằng tổng số lần mất điện thoáng qua của Khách hàng sử

dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối

điện trong quý chia cho tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối

và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý đó, theo công thức

MAIFIj =

m K

4

MAIDI = ∑

MAIFIj

j-1

sau:

14

Trong đó:

m: số lần mất điện thoáng qua trong quý j;

K: Tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện

mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý j.

* CAIFI (Customer Average Interruption Frequency Index): Số lần mất điện

CAIFI =

Ki K*

trung bình của khách hàng)

K* : số công tơ điện khách hàng bị ảnh hưởng mất điện do sự cố

* CAIDI (Customer Average Interruption Duration Index): Thời gian mất

CAIDI =

SAIFI

điện trung bình của khách hàng. SAIDI

* ASAI (Average Service Availability Index): Mức độ sẵn sàng cung cấp

∑ K x t

∑ Ti Ki

(ASAI < 1)

ASAI =

∑ K x t

điện trong tháng

t: số giờ cung cấp điện trong tháng

* ASUI (Average Service Unavailability Index): Mức độ không sẵn sàng

ASUI = 1 ASAI

cung cấp điện.

* ENS (Energy Not Supplied): Tổng điện năng không cung cấp.

ENS = ∑ Li Ti

Li : công suất không phân phối đến khách hàng trong lần mất điện thứ i

Ti : thời gian mất điện (phút) của khách hàng trong lần mất điện thứ i

* AENS (Average Energy Not Supplied): Điện năng trung bình không cung

ENS

AENS =

K

cấp đến một khách hàng.

15

* ACCI (Average Customer Curtailment Index): Điện năng trung bình không

ACCI =

ENS K*

cung cấp đến một khách hàng bị ảnh hưởng mất điện.

1.2.3 Các nội dung của công tác quản lý vận hành lưới điện

a. Công tác lập kế hoạch và vận hành lưới điện

Lập kế hoạch vận hành lưới điện là một trong những nội dung quan trong

của công tác quản lý vận hành lưới điện. Các đơn vị truyền tải, phân phối điện có

thể tham khảo và thực hiện lập kế hoạch vận hành hệ thống điện theo từng năm và

kế hoạch vận hành hệ thống điện hàng tháng theo quyết định số 14/QĐ-ĐTĐL của

Bộ Công thương.

Việc lập kế hoạch vận hàng lưới điện phải dựa trên số liệu đầu vào như: nhu

cầu phụ tải điện năm tới, kế hoạch phát triển lưới điện năm tới, kế hoạch bảo

dưỡng, sữa chữa lưới điện và nhà máy điện năm tới, kế hoạch xuất nhập khẩu điện

năm tới, dự kiến thủy văn năm tới, các thông số kỹ thuật của nhà máy điện, các

thông số ràng buộc về hợp đồng mua bán điện…

Sau khi có số liệu đầu vào, phải có đánh giá kế hoạch vận hành lưới điện để

đánh giá những sai số giữa kế quả dự báo và phụ tải điện thực tế; đánh giá sản

lượng điện phát thực tế của các nhà máy điện so với kế hoạch, đánh giá tình hình

thủy văn, đánh giá tình hình ngừng giảm cung cấp điện…

Nội dung kế hoạch vận hành lưới điện năm

- Đánh giá kế hoạch vận hành hệ thống điện năm trước (năm Y-1) và 6 tháng

đầu năm hiện tại (năm Y).

- Dự báo phụ tải năm tới của hệ thống điện quốc gia, hệ thống điện miền

(Bắc, Trung, Nam) và từng Đơn vị phân phối điện.

- Sản lượng điện dự kiến từng tháng và cả năm của từng nhà máy điện trong

năm tới.

- Mực nước thượng lưu các hồ chứa thủy điện vào ngày cuối cùng các tháng

trong năm tới.

16

- Kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa lưới điện và nhà máy điện từng tháng trong

năm tới.

- Sơ đồ kết dây cơ bản hệ thống điện quốc gia năm tới.

- Cảnh báo suy giảm an ninh hệ thống điện (nếu có).

- Các giải pháp để đảm bảo vận hành hệ thống điện ổn định, an toàn, tin cậy.

Trước ngày 01 tháng 12 hàng năm, Đơn vị phân phối điện hoàn thành kế

hoạch vận hành năm tới và công bố trên trang thông tin điện tử của đơn vị đồng thời

thông báo kế hoạch vận hành năm tới của lưới điện 110kV, các tổ máy phát điện

đấu nối vào lưới điện phân phối và các điểm đấu nối với lưới điện truyền tải cho

Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, Đơn vị truyền tải điện và các

Đơn vị phân phối điện khác có liên quan để phối hợp thực hiện.

Nội dung kế hoạch vận hành lưới điện tháng

- Đánh giá kế hoạch vận hành hệ thống điện tháng hiện tại (tháng M).

- Dự báo phụ tải tháng tới của hệ thống điện quốc gia, hệ thống điện miền

(Bắc, Trung, Nam) và từng Đơn vị phân phối điện.

- Sản lượng điện dự kiến của từng nhà máy điện trong tháng tới.

- Mực nước thượng lưu các hồ chứa thủy điện ngày cuối cùng trong tháng tới

- Kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa lưới điện và nhà máy điện trong tháng tới.

- Cảnh báo suy giảm an ninh hệ thống điện (nếu có).

- Các giải pháp để đảm bảo vận hành hệ thống điện ổn định, an toàn, tin cậy.

Trước ngày 25 hàng tháng, Đơn vị phân phối điện hoàn thành kế hoạch vận

hành tháng tới và công bố trên trang thông tin điện tử của đơn vị đồng thời thông

báo kế hoạch vận hành tháng tới của lưới điện trung áp và 110kV, các tổ máy phát

điện đấu nối vào lưới điện phân phối và các điểm đấu nối với lưới điện truyền tải

cho Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, Đơn vị truyền tải điện và các

Đơn vị phân phối điện khác có liên quan để phối hợp thực hiện.

Kế hoạch vận hành tuần

Đơn vị phân phối điện lập kế hoạch vận hành hệ thống điện phân phối cho

hai tuần tới căn cứ vào kế hoạch vận hành tháng đã công bố, bao gồm các nội dung

như: Dự báo nhu cầu phụ tải điện hai tuần tới; Kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng trong

17

hai tuần tới; Dự kiến thời gian và phạm vi ngừng cung cấp điện trong hai tuần tới;

Dự kiến sản lượng điện năng và công suất phát trong hai tuần tới của từng nhà máy

điện có công suất đặt từ 30 MW trở xuống đấu nối vào lưới điện phân phối.

Trước 15 giờ 00 phút ngày thứ Năm hàng tuần, Đơn vị phân phối điện hoàn

thành kế hoạch vận hành của hai (02) tuần tới và công bố trên trang thông tin điện

tử của đơn vị đồng thời thông báo kế hoạch vận hành hai (02) tuần tới của lưới điện

trung áp và 110kV, các tổ máy phát điện đấu nối vào lưới điện phân phối và các

điểm đấu nối với lưới điện truyền tải cho Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị

trường điện, Đơn vị truyền tải điện và các Khách hàng lớn sử dụng lưới điện phân

phối có liên quan biết để phối hợp thực hiện.

Trước ngày 15 giờ 00 phút ngày thứ Sáu hàng tuần, căn cứ vào kế hoạch vận

hành tuần, Đơn vị phân phối điện và Đơn vị phân phối và bán lẻ điện hoàn thành kế

hoạch vận hành lưới điện hạ thế và thông báo tới khách hàng bị ảnh hưởng trong

phạm vi quản lý của mình.

b. Công tác tổ chức quản lý vận hành lưới điện

Công tác tổ chức vận hành lưới điện là một hoạt động nhằm tạo ra một đội

ngũ lao động có trình độ tay nghề cao để phục vụ tốt sự vận hành lưới điện.

Xây dựng mô hình tổ chức quản lý phải đảm bảo được tính khoa học, gọn

nhẹ nhưng hiệu quả làm việc cao.

Đội ngũ cán bộ quản lý phải có trình độ lý luận chính trị vững vàng, kỹ năng

lãnh đạo quản lý. Có trình độ tay nghề, trung thực và cẩn thận.

Tại Việt Nam Chính phủ cũng đã ban hành các nghị định đối với người làm

công việc vận hành, thí nghiệm, xây lắp và sữa chữa đường dây điện hoặc thiết bị

điện phải được huấn luyện về an toàn điện định kỳ 1 năm 1 lần và có kiểm tra sát

hạch, xếp bậc và cấp thẻ an toàn điện.

Để công tác tổ chức quản lý vận hành lưới điện được thực hiện tốt, phải đảm

bảo từ khâu chuẩn bị cán bộ công nhân viên. Mỗi cán bộ công nhân viên trước khi

vận hành, hiệu chỉnh, thí nghiệm và sữa chữa thiết bị điện đều được khám sức khỏe

phù hợp với ngành nghề đã được duyệt.

18

Nhân viên vận hành bắt buộ phải tỏ chức những hình thức về học tập tại vị

trí vận hành và phải được kiểm tra định kỳ về kiến thức thường xuyên.

Yêu cầu, tiêu chuẩn về nhân lực: [Theo Quy trình kỹ thuật an toàn điện

của Tập đoàn điện lực Việt Nam]

- Những người trực tiếp làm công việc quản lý vận hành, thí nghiệm, sửa

chữa, xây dựng điện phải có sức khoẻ tốt và có giấy chứng nhận về thể lực của cơ

quan y tế. Hàng năm tổ chức khám sức khỏe. Khi phát hiện thấy công nhân có bệnh

thuộc loại thần kinh, tim, mạch, thấp khớp, lao phổi, thì tổ chức phải điều động

công tác thích hợp.

- Nhân viên mới phải qua thời gian kèm cặp của nhân viên có kinh nghiệm

để có trình độ kỹ thuật cần thiết, sau đó phải được sát hạch vấn đáp trực tiếp, đạt

yêu cầu mới được giao nhiệm vụ.

- Công nhân, kỹ thuật viên, kỹ sư trực tiếp sản xuất phải được kiểm tra kiến

thức về quy trình kỹ thuật an toàn mỗi năm 1 lần. Giám đốc uỷ nhiệm cho đơn vị

trưởng tổ chức việc huấn luyện và sát hạch trong đơn vị mình. Kết quả các lần sát

hạch phải có hồ sơ đầy đủ để quyết định công nhận được phép làm việc với thiết bị

và có xếp bậc an toàn.

- Các trưởng, phó đội sản xuất, chi nhánh điện, kỹ thuật viên, hai năm được

sát hạch kiến thức quy trình kỹ thuật an toàn một lần do hội đồng kiểm tra kiến thức

của xí nghiệp tổ chức và có xếp bậc an toàn.

- Trong khi làm việc với đồng đội hoặc khi không làm nhiệm vụ, nếu thấy

người bị tai nạn điện giật thì bất cứ người nào cũng phải tìm biện pháp để cấp cứu

nạn nhân ra khỏi mạch điện và tiếp tục cứu chữa.

Mô hình tổ chức: [Theo quy trình điều độ hệ thống điện quốc gia]

Điều độ hệ thống điện Quốc gia được phân thành 3 cấp:

- Cấp điều độ hệ thống điện Quốc gia là cấp chỉ huy điều độ cao nhất của

toàn bộ hệ thống điện Quốc gia (gọi tắt là A0). Người trực tiếp chỉ huy điều độ hệ

thống điện Quốc gia là Kỹ sư điều hành HTĐ Quốc gia trực ban.

- Cấp điều độ HTĐ miền là cấp chỉ huy điều độ HTĐ miền, chịu sự chỉ huy

trực tiếp của cấp điều độ HTĐ Quốc gia. Cấp điều độ HTĐ miền do cácTrung tâm

19

Điều độ HTĐ miền (ĐĐM Bắc, ĐĐM Nam, ĐĐM Trung gọi tắt là A1, A2, A3)

đảm nhiệm. Người trực tiếp chỉ huy điều độ HTĐ miền là KSĐH HTĐ miền trực

ban.

- Cấp điều độ lưới điện phân phối: là cấp chỉ huy điều độ lưới điện phân

phối, chịu sự chỉ huy trực tiếp về điều độ của cấp điều độ HTĐ miền tương ứng.

Cấp điều độ lưới điện phân phối do các Trung tâm hoặc Phòng điều độ của các

Công ty Điện lực độc lập, các Điện lực tỉnh, thành phố thuộc CTĐL 1, 2, 3 đảm

nhiệm.

Người trực tiếp chỉ huy điều độ lưới điện phân phối là ĐĐV lưới điện phân

phối trực ban. Nhân viên vận hành cấp dưới trực tiếp của ĐĐV lưới điện phân phối

(đối với các thiết bị thuộc quyền điều khiển) bao gồm: Trưởng kíp trạm biến áp

phân phối, trạm trung gian, trạm bù, trạm diesel và thủy điện nhỏ trong lưới điện

phân phối. Trực ban các đơn vị cơ sở trực thuộc. Trưởng kíp trạm biến áp 220kV,

110kV, 66kV (đối với các trạm biến áp có cấp điện cho khu vực địa phương ở cấp

điện áp ≤ 35 kV). Trưởng ca các NMĐ (đối với các NMĐ có cấp điện cho khu vực

địa phương ở cấp điện áp ≤ 35KV).

c. Tiêu chuẩn vật tư thiết bị khi đưa vào lưới điện

Vật tư thiết bị khi đưa vào lưới điện phải tuân theo các tiêu chuẩn:

- Được chế tạo theo các tiêu chuẩn Việt Nam, IEC hoặc các tiêu chuẩn tương

đương. Phải có biên bản thí nghiệm điển hình (Type test report) do một đơn vị thí

nghiệm độc lập, đủ thẩm quyền cấp và biên bản thí nghiệm xuất xưởng (Routine

test report) hoặc giấy chứng nhận xuất xưởng của nhà sản xuất.

- Nhà sản xuất vật tư, thiết bị phải được cấp Chứng chỉ ISO (còn hiệu lực)

phù hợp với lĩnh vực sản xuất hàng hoá cung cấp và thiết bị phải có tài liệu chứng

minh kinh nghiệm 05 (năm) năm trong lĩnh vực sản xuất hàng hoá cung cấp.

- Vật tư, thiết bị phải có Catalog, tài liệu hướng dẫn lắp đặt vận hành và bảo

dưỡng phù hợp với bảng đặc tính kỹ thuật. Các vật tư, thiết bị lắp đặt trên lưới phải

được nhiệt đới hoá, phù hợp với điều kiện môi trường làm việc tại Việt Nam.

- Xác nhận của người sử dụng chứng tỏ đã được vận hành tốt trong thời gian

tối thiểu 02 (hai) năm.

20

- Có chiều dài đường rò bề mặt phải đảm bảo ≥ 25mm/kV. Đối với các

trường hợp đặc biệt phải có ghi chú riêng. Các chi tiết bằng thép (xà, giá đỡ, tiếp

địa, các bulông, đai ốc ...) phải được mạ kẽm nhúng nóng, bề dày lớp mạ không

được nhỏ hơn 80µm.

Tiêu chuẩn bảo vệ thiết bị:

+ IP-41 đối với thiết bị đặt trong nhà.

+ IP-55 đối với thiết bị đặt ngoài trời.

Nguồn tự dùng: 220/380VAC và 220VDC.

Tất cả các vật tư, thiết bị có sử dụng dầu cách điện, phải đảm bảo là loại

không có chất PCB theo quy định.

d. Công tác kiểm tra, đánh giá điều chỉnh kế hoạch vận hành lưới điện

Kiểm tra trong quá trình vận hành hệ thống điện bao gồm các thí nghiệm

được tiến hành trên hệ thống điện, từ nguồn cung chính đến các thiết bị và phụ kiện

đầu cuối, thuộc điện cao áp hay thấp áp tùy theo yêu cầu trong vận hành.

Công tác kiểm tra, đánh giá điều chỉnh kế hoạch vận hành lưới điện được

thực hiện ở hai khía cạnh:

* Công tác kiểm tra, đánh giá kế hoạch vận hành lưới điện được thực hiện

liên tục và song song trong suốt quá trình vận hành lưới điện: thông thường, việc

kiểm tra được chia ra các nhóm khác nhau:

- Kiểm tra định kỳ: kiểm tra vào ban ngày hoặc ban đêm vào một ngày cụ thể

trong tháng hoặc theo một chu kỳ ( 1 ngày, 2 ngày, 1 tuần, 1 tháng…).

- Kiểm tra bất thường: là việc kiểm tra một cách đường đột không cần kế

hoạch trước như trong điều kiện thời tiết nắng nóng hoặc bão lụt.

- Kiểm tra sự cố: ngay sau khi sự cố xảy ra.

- Kiểm tra thí nghiệm: sử dụng các thiết bị thí nghiệm để kiểm tra khi nghi

ngờ lưới điện có dấu hiệu không đạt tiêu chuẩn vận hành.

* Công tác kiểm tra công tác vận hành, cần thiết phải đánh giá, kiểm tra

theo kế hoạch vận hành đã lập từ trước: thông thường, kế hoạch vận hành được

thực hiện theo năm, tháng, tuần, ngày; các kế hoạch vận hành này đều được đánh

giá dựa trên những số liệu đầu vào. Nội dung công tác đánh giá như sau: [Theo Quy

21

trình lập kế hoạch vận hành lưới điện quốc gia, ban hành kèm theo Quyết định số

14/QĐ-ĐTĐL của Bộ Công thương]

- Đánh giá sai số giữa kết quả dự báo và phụ tải điện thực tế, bao gồm sản

lượng điện, công suất cực đại và cực tiểu; sản lượng điện phát thực tế của các nhà

máy điện so với kế hoạch đã được phê duyệt.

- Đánh giá tình hình thủy văn các hồ thủy điện bao gồm đánh giá lưu lượng

nước về dự báo và thực tế, lưu lượng nước xả dự kiến và thực tế, mực nước thượng

lưu hồ chứa dự kiến và thực tế tại các thời điểm đầu tháng, cuối tháng;

- Đánh giá tình hình cung cấp nhiên liệu sơ cấp cho các nhà máy nhiệt điện;

- Đánh giá tình hình ngừng, giảm cung cấp điện (nếu có), bao gồm số lần và

nguyên nhân ngừng, giảm cung cấp điện; sản lượng điện, công suất ước tính bị

ngừng, giảm cung cấp điện;

- Ghi nhận những bất thường trong thực tế vận hành sai khác với kế hoạch đã

được phê duyệt;

- Đánh giá nguyên nhân của các vấn đề nêu trên.

Việc đánh giá cũng chia ra theo kế hoạch vận hành năm, tháng, tuần, ngày:

Đánh giá kế hoạch vận hành hệ thống điện năm: trước ngày 01 tháng 02

hàng năm, đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện đánh giá kết quả thực tế

vận hành hệ thống điện năm so với kế hoạch vận hành hệ thống điện năm đã được

phê duyệt.

Đánh giá kế hoạch vận hành hệ thống điện tháng: Trước ngày 20 hàng tháng

đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện đánh giá kết quả thực tế vận hành

hệ thống điện tháng so với kế hoạch vận hành hệ thống điện tháng đã được phê

duyệt.

Đánh giá kế hoạch vận hành tuần: Trước 16h30 thứ Hai hàng tuần (tuần W),

Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện đánh giá kết quả thực tế vận hành

hệ thống điện tuần trước (tuần W-1) so với kế hoạch vận hành hệ thống điện tuần

trước (tuần W-1) đã được phê duyệt.

22

Đánh giá kế hoạch vận hành ngày: Trước 10h00 hàng ngày (ngày D), Đơn vị

vận hành hệ thống điện và thị trường điện đánh giá kết quả thực tế huy động ngày

trước (ngày D-1) so với lịch huy động ngày trước (ngày D-1) đã được phê duyệt.

1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý vận hành lưới điện

a. Các chỉ tiêu kỹ thuật

* Tính an toàn

An toàn thường được đặt lên hàng đầu khi thiết kế, lắp đặt và vận hành công

trình điện. An toàn cho cán bộ vận hành, cho thiết bị công trình, cho người dân và

các công trình xung quanh. Người thiết kế và vận hành công trình điện phải tuyệt

đối tuân theo quy định an toàn điện.

Chỉ tiêu kỹ thuật về an toàn của công tác quản lý và vận hành lưới điện ở

Việt Nam cũng đã được Thủ tướng Chính phủ quy định trong các nghị định cụ thể,

ví dụ như tại:

- Nghị định 47/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số

điều của luật điện lực về an toàn công trình lưới điện cao áp. Trong đó chỉ rõ điều

kiện xây dựng công trình lưới điện cao áp; khoảng cách an toàn phóng điện theo cấp

điện áp, hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không…

- Nghị định 169/2003/NĐ-CP quy định về an toàn điện trong sản xuất, truyền

tải, phân phối và sử dụng điện nhằm đảm bảo an toàn đối với con người, các thiết bị

và công trình điện. Trong đó có chương 3. quy định cụ thể an toàn điện trong truyền

tải, phân phối: “Đơn vị quản lý vận hành lưới điện phải định kỳ tổ chức kiểm tra,

bảo dưỡng kỹ thuật và đại tu lưới điện, đảm bảo cho hệ thống vận hành an toàn theo

quy định; thường xuyên kiểm tra phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm quy định

của Nghị định này và của pháp luật về bảo vệ an toàn lưới điện cao áp”.

* Chất lượng điện

Chất lượng điện được thể hiện qua hai thông số: tần số (f) và điện áp (U).

Các trị số này phải nằm trong phạm vi cho phép.

Trung tâm điều độ quốc gia và các trạm điện có nhiệm vụ giữ ổn định các

thông số này: Tần số f được giữ 50 ± 0,5Hz. Độ giao động tần số không vượt quá

0,2Hz. Điện áp yêu cầu độ lệch |δU|= U – Uđm≤5%Uđm.

23

Dao động điện áp (cid:85)U = (Umax – Umin)/Uđm.100% [Giáo trình Hệ thống

cung cấp điện, Trương Minh Tấn (2009), NXB Đại học Quy Nhơn].

* Tổn thất điện năng

Tổn thất trên lưới điện là lượng điện năng tiêu hao cho quá trình truyền tải và

phân phối điện khi tải điện từ ranh giới giao nhận với các nhà máy phát điện qua

lưới điện truyền tải và phân phối đến các hộ tiêu thụ điện.[Hồ Văn Hiến, “Mạng

truyền tải và phân phối điện”, NXB Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2007].

Trong quản lý, tổn thất điện năng được chia ra tổn thất điện năng kỹ thuật và tổn

thất điện năng phi kỹ thuật.

Tổn thất điện năng kỹ thuật: Điện năng được sản xuất ra từ các nhà máy

điện, muốn tải đến các hộ tiêu thụ điện phải qua hệ thống lưới điện cao áp, trung áp,

xuống hạ áp, (hệ thống bao gồm các máy biến áp, đường dây và các thiết bị điện

khác). Trong quá trình truyền tải đó, dòng điện tiêu hao một lượng nhất định khi

qua máy biến áp, qua điện trở dây dẫn và mối nối tiếp xúc làm phát nóng dây, qua

các thiết bị điện, thiết bị đo lường, công tơ điện... gây tổn thất điện năng. Chưa kể

đường dây dẫn điện mang điện áp cao từ 110 kV trở lên còn có tổn thất vầng quang;

dòng điện qua cáp ngầm và tụ điện còn tổn thất do điện môi. Vì thế mà tổn thất điện

năng còn được định nghĩa là điện năng dùng để truyền tải và phân phối điện.

Đó chính là tổn thất điện năng kỹ thuật và xảy ra tất yếu trong quá trình

truyền tải điện từ nhà máy phát qua hệ thống lưới điện cao hạ áp đến các hộ sử dụng

điện. Mức độ tổn thất điện năng kỹ thuật lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào cấu trúc lưới

điện, chất lượng thiết bị, chất lượng đường dây tải điện và phương thức vận hành hệ

thống điện.

Tổn thất điện năng phi kỹ thuật (tổn thất điện năng thương mại): không định

lượng được song cũng có tác động không nhỏ đến hệ thống, làm gia tăng tỷ lệ tổn

thất điện năng chung. Nguyên nhân gây ra tổn thất điện năng thương mại là do tình

trạng vi phạm trong sử dụng điện như: Lấy cắp điện dưới nhiều hình thức (câu móc

điện trực tiếp, tác động làm sai lệch mạch đo đếm điện năng, gây hư hỏng, chết

cháy công tơ...); do chủ quan của người quản lý khi công tơ hỏng không thay thế

24

kịp thời, bỏ sót hoặc ghi sai chỉ số; do không thực hiện đúng chu kỳ kiểm định và

thay thế công tơ định kỳ theo quy định của Nhà nước.

Chỉ tiêu đánh giá tổn thất điện năng:

+ Dựa trên chương trình phần mềm PSS/ADEPT.

+ Phân tích tính chính xác, độ tin cậy và khả năng ứng dụng chương trình để

tính toán các biện pháp giảm tổn thất điện năng.

+ Xây dựng thư viện dữ liệu, sơ đồ lưới điện để phục vụ tính toán trong

chương trình PSS/ADEPT.

+ Đánh giá kết quả tính toán, so sánh với thực tế vận hành để kiểm chứng độ

tin cậy của kết quả.

b. Chỉ tiêu kinh tế

Được thông qua hai chỉ tiêu: vốn đầu tư và chi phí vận hành. Vốn đầu tư một

công trính điện bao gồm tiền mua vật tư, thiết bị, tiền vận chuyển, thí nghiệm, mua

đất đai, đền bù hoa màu… Còn phí tổn vận hành bao gồm các khoản tiền phải chi

phí trong quá trình vận hành công trình điện lực: lượng cán bộ quản lý, kỹ thuật,

vận hành, chi phí bảo dưỡng và sữa chữa, chi phí cho thí nghiệm thử nghiệm, do tổn

thất điện năng trên công trình điện.

Thông thường hai loại chi phí này mâu thuẫn nhau, phương án cấp điện tối

ưu là phương án dung hòa hai chi phí trên đó là có chi phí tính toán hàng năm nhỏ

nhất.

Z = (avh + atc).K + c.∆A → min

Trong đó:

avh: hệ số vận hành với đường dây không lấy 0,04; cáp và trạm biến áp lấy

0,1

atc: hệ số thu hồi vốn đầu tư tiêu chuẩn = 1 với lưới cung cấp điện Ttc = 5

năm

K: vốn đầu tư

∆A: tổn thất điện năng 1 năm

c: giá tiền tổn thất điện năng (đ/kWh)

25

Như vậy, việc quản lý vận hành lưới điện tốt đó là mất một khoản vốn đầu tư

và chi phí thấp nhất, với mức tổn thất điện năng nhỏ nhất nhưng vẫn đảm bảo được

tính an toàn, và chất lượng điện tốt nhất trong phạm vi thông số cho phép trong suốt

quá trình vận hành lưới điện đến khách hàng tiêu thụ điện.

Ngược lại, nếu như việc vận hành thiếu thông suốt và chi phí cũng như hao

tổn điện năng quá cao thì đồng nghĩa rằng quản lý vận hành lưới điện đang có vấn

đề không tốt.

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý vận hành lưới điện phân

phối

a. Yếu tố bên trong

Công tác quản lý vận hành lưới điện bị tác động không nhỏ từ yếu tố bên

trong như: nhân lực, vật lực, chế độ đãi ngộ…

Yếu tố nhân lực có sự tác động mạnh mẽ nhất bởi để hệ thống lưới điện phân

phối có thể vận hành được thì con người phải đứng ra điều khiển và kiểm soát.

Nhân lực ở đây bao gồm cả trí lực lẫn thể lực. Nếu một công ty vận hành lưới điện

phân phối được hoạt động và điều khiển bới một nhà lãnh đạo giỏi, có tấm nhìn

chiến lược, biết quản lý, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên của công ty tốt, tạo ra

được môi trường làm việc lành mạnh, văn minh hiện đại. Cùng với một đội ngũ

người lao động chuyên nghiệp, tay nghề kỹ thuật cao, sức khỏe tốt, thì việc quản lý

vận hành sẽ trôi chảy. Ngược lại, một công ty được dẫn dắt bởi những con người có

tác phong làm việc quan liêu bao cấp, được sự bảo hộ của Nhà nước thì dẫn đến sự

trì trệ và kém hiệu quả trong công việc.

Yếu tố động lực làm việc của người lao động cũng là một yếu tố tác động

trực tiếp lên chính những người quản lý vận hành lưới điện. Chế độ lương thưởng,

đãi ngộ tốt; được trang bị đầy đủ trang thiết bị làm việc, bảo hộ; được tạo cơ hội học

tập, nâng cao trình độ tay nghề và cơ hội thăng tiến… sẽ làm cho người lao động

thêm hăng say làm việc, phát huy hết khả năng và tính sáng tạo cũng như tạo mối

quan hệ bền chặt giữa Công ty với người lao động. Điều này sẽ tạo ra được một tập

thể vững mạnh, đoàn kết và tạo ra sức mạnh thúc đẩy công tác quản lý vận hành tốt

hơn.

26

Yếu tố vật lực cũng rất quan trọng không kém bên cạnh yếu tố nhân lực. Hiện

nay, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, việc ứng dụng các tiến bộ công nghệ

vào công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối sẽ làm giảm thiểu chi phí cũng

như hạn chế tổn thất điện năng; tăng hiệu quả quản lý. Một số công ty Điện đã sử

dụng các phần mềm quản lý nhân lực, sử dụng hệ thống SCADA/DMS…

b. Yếu tố bên ngoài

Bên cạnh các yếu tố nhân lực, vật lực; công tác quản lý vận hành lưới điện

còn chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế xã hội, thời tiết, khí hậu, an ninh trật

tự…

Về yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội: hiện nay, ngành điện đang trên đường

thực hiện kinh doanh điện theo cơ chế thị trường, dần xỏa bỏ độc quyền để hướng

tới sự cạnh tranh. Bộ Công thương cũng đã ban hành một số thông tư như

03/2013/TT-BCT về vận hành thị trường điện cạnh tranh để hộ tiêu thụ điện được

sử dụng với giá thành thấp nhất và chất lượng điện cao nhất. Điều này bắt buộc các

Công ty điện cũng phải thay đổi trong công tác vận hành quản lý để có thể cạnh

tranh với các công ty khác khi tham gia hoạt động kinh doanh phân phối điện. Bên

cạnh đó, các chính sách phát triển kinh tế, phong tục tập quán, quá trình toàn cầu

hóa ngày càng sâu rộng, tình hình ổn định chính trị cũng tác động đến công tác quản

lý vận hành điện. Nếu một công ty hoạt động trong điều kiện chính trị ổn định, các

chính sách phát triển kinh tế tốt, nền kinh tế vững mạnh, có sự hợp tác mạnh mẽ với

các nước bên ngoài, tình hình an ninh trật tự ổn định (không có nạn trộm cắp câu

điện) thì công ty sẽ có điều kiện thuận lợi để hoạt động và phát triển.

Về yếu tố địa hình: công tác quản lý vận hành lưới điện có sự khác biệt trong

khu vực thành thị với nông thôn; giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp. Đối với

khu vực thành thị thì thường sử dụng cấp lưới điện trung áp có cấu trúc mạch vòng

kín vận hành hở. Để đảm bảo an toàn và mỹ quan cho đô thị thường sử dụng cáp

ngầm cho mạng trung và hạ áp, thường sử dụng trạm biến áp kiểu xây và để đẽ

quản lý vận hành thì trạm biến áp phân phối này thường được đặt ở góc hay giữa

đoạn đường. Còn lưới điện nông thôn, các tuyến dây đều là đường dây trên không,

27

các trạm biến áp thường dùng kiểu trạm cột và cho dễ quản lý và vận hành thì trạm

biến áp phân phối được đặt giữa thôn…

Về yếu tố tự nhiên: các hiện tượng mưa lụt, hạn hán, gió bão đều ảnh hưởng

không tốt đến vận hành lưới điện và có thể gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho

Công ty vận hành lưới điện. Do đó, việc kiểm tra quản lý vận hành lưới điện phải

được thực hiện một cách thường xuyên để hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể xảy

ra.

Về yếu tố an ninh trật tự: việc vận hành lưới điện không chỉ tập trung ở một

địa điểm cụ thể như những công ty sản xuất kinh doanh các mặt hàng khác mà nó

trải dài khắp đất nước với một mạng lưới rộng lớn, do đó việc quản lý gặp nhiều

khó khăn hơn. Hiện nay, hoạt động câu móc trộm điện, ăn cắp đường dây, làm sai

lệch vòng quay công tơ… đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng điện năng cũng

như gây tổn thất lớn cho các công ty vận hành lưới điện. Vì vậy, nếu công ty hoạt

động trong môi trường có tình hình an ninh trật tự tốt thì công tác vận hành lưới

điện cũng hiệu quả hơn.

Ngoài ra, có có rất nhiều yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến công tác quản lý

vận hành lưới điện phân phối: bán kính cấp điện, chất lượng lưới điện, công tác đầu

tư phát triển hệ thống lưới điện…

1.2.6 Phương pháp sử dụng trong luận văn

a. Phương pháp so sánh

Là phương pháp dựa trên những số liệu đã được thu thập, phân tích để tìm

hiểu sự tương đồng và khác biệt; đối chiếu đánh giá giữa các đối tượng nghiên cứu.

Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu:

Chỉ tiêu nghiên cứu muốn so sánh được phải đảm bảo thống nhất về nội

dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn

vị đo lường.

Gốc so sánh:

Gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về không gian hay thời gian, tuỳ

thuộc vào mục đích phân tích. Về không gian, có thể so sánh đơn vị này với đơn vị

khác, bộ phận này với bộ phận khác, khu vực này với khu vực khác... Việc so sánh

28

về không gian thường được sử dụng khi cần xác định vị trí hiện tại của doanh

nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, so với số bình quân ngành, bình quân khu vực...

Cần lưu ý rằng, khi so sánh về mặt không gian, điểm gốc và điểm phân tích có thể

đổi chỗ cho nhau mà không ảnh hưởng đến kết luận phân tích. Về thời gian, gốc so

sánh được lựa chọn là các kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hay kế hoạch, dự toán.

Cụ thể:

- Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích, gốc so

sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ

trước (năm trước). Lúc này sẽ so sánh trị số chỉ tiêu giữa kỳ phân tích với trị số chỉ

tiêu ở các kỳ gốc khác nhau;

- Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, gốc so sánh là

trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích. Khi đó, tiến hành so sánh giữa trị số thực tế

với trị số kế hoạch của chỉ tiêu nghiên cứu.

Các dạng so sánh:

Các dạng so sánh thường được sử dụng trong phân tích là so sánh bằng số

tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối và so sánh vớisố bình quân.

So sánh bằng số tuyệt đối phản ánh qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên khi

so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động về qui mô

của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ (điểm) phân tích với kỳ (điểm) gốc.

So sánh bằng số tương đối : Khác với số tuyệt đối, khi so sánh bằng số tương

đối, các nhà quản lý sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ

phổ biến và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế

b. Phương pháp phân tích chi tiết

Là phương pháp dựa trên những số liệu đã thu thập để tìm ra những quan

điểm, luận điểm liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

Có các loại phương pháp phân tích chi tiết:

- Phân tích chi tiết theo thời gian: theo phương pháp này chỉ tiêu phân tích

trong một thời kỳ dài nhất định sẽ được chia nhỏ theo từng giai đoạn, từng thành

phần thời gian nhỏ hơn.

29

- Phân tích chi tiết theo không gian, bộ phận, chủng loại: chỉ tiêu phân tích sẽ

được chia nhỏ theo không gian, lĩnh vực, chủng loại… và được phân tích theo các

thành phần đã được chia nhỏ.

- Phân tích chi tiết theo các nhân tố cấu thành.

c. Phương pháp thống kê

Là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng

của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và đề ra

các quyết định.

Thông thường, phương pháp thống kê được chia ra hai lĩnh vực:

- Thống kê mô tả: bao gồm các phương pháp liên quan đến việc thu thập số

liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách

tổng quát đối tượng nghiên cứu.

- Thống kê suy luận: bao gồm các phương pháp ước lượng đặc trưng của

tổng thể nghiên cứu, phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng nghiên cứu, dự đoán

hoặc để ra quyết định trên cơ sở các số liệu thu thập được.

1.3 Kinh nghiệm quản lý vận hành lưới điện của một số công ty vận

hành điện trong nước

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý vận hành trong công tác truyền tải điện Thanh

Hóa

Luôn luôn chủ động: Truyền tải điện Thanh Hoá có nhiệm vụ quản lý vận

hành lưới điện quốc gia 500 kV và 220 kV qua 18 huyện, thị trên địa bàn tỉnh

Thanh Hoá. Các tuyến đường dây hầu hết thuộc vùng đồi núi cao, rừng sâu, trình độ

dân trí còn thấp, cơ sở hạ tầng chưa phát triển... nên đơn vị gặp nhiều khó khăn

trong việc vận hành, bảo vệ lưới điện.

Để đảm bảo an toàn cho hệ thống truyền tải điện, các cán bộ công nhân viên

của Truyền tải luôn bám tuyến, bám trạm, thực hiện đầy đủ quy trình, quy phạm kỹ

thuật. Đơn vị đã tổ chức 6 đội quản lý vận hành đường dây và trạm biến áp, bố trí

25 chốt gác dọc theo tuyến 500 kV để thường xuyên phát hiện và ngăn chặn kịp

thời các hiện tượng vi phạm gây ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống.

30

Lưới điện ngày càng phát triển, các thiết bị kỹ thuật ngày một hiện đại nên

mỗi cá nhân trong Truyền tải luôn phấn đấu học tập, nâng cao kiến thức chuyên

môn và tay nghề để đáp ứng yêu cầu mới. Đơn vị cũng chú trọng công tác đào tạo,

phát động các phong trào thi đua lao động sản xuất, từ đó tạo nên một khí thế hăng

say lao động và học tập trong toàn Truyền tải, góp phần nâng cao chất lượng công

tác quản lý vận hành lưới điện.

Phát huy sức mạnh toàn xã hội: việc đảm bảo an toàn lưới điện lâu dài,

bền vững không chỉ là trách nhiệm hay sự nỗ lực của ngành Điện mà cần hơn rất

nhiều sự phối hợp đồng bộ và hỗ trợ có hiệu quả của toàn xã hội. Chính vì vậy,

trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình, đơn vị luôn coi công tác

tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ hệ thống truyền tải điện là nhiệm

vụ trọng tâm, xuyên suốt từng thời kỳ với phương châm phủ kín thông tin, thu hút

đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, hướng đến mục tiêu xã hội hoá công tác

bảo vệ lưới điện quốc gia. Trong những năm 1994 - 1998, ĐZ 500 kV mạch 1 mới

được đưa vào vận hành nên hệ thống lưới điện còn rất mới lạ với người dân dọc

tuyến.

Do vậy, nhiệm vụ tuyên truyền thời kỳ này là cung cấp cho nhân dân những

hiểu biết cơ bản về các quy phạm pháp luật liên quan đến hệ thống qua việc rải tờ

rơi, ký cam kết, sao băng tuyên truyền, tổ chức hội thi, đưa các nội dung dưới hình

thức sân khấu hoá về các làng, bản,... Bằng những cách làm trên, người dân dọc

tuyến đã có những hiểu biết cơ bản để tham gia bảo vệ hệ thống ĐZ 500 kV quốc

gia.

Tuy nhiên, đến giai đoạn 1999 - 2004, trước thực trạng xảy ra nhiều sự cố

đường dây do cháy rừng, đốt nương rẫy xuất phát từ tập quán canh tác lâu đời của

người dân dọc tuyến, Truyền tải điện Thanh Hoá được sự ủng hộ, tham gia nhiệt

tình của cấp uỷ và chính quyền địa phương, đã tiến hành chuyển đổi hàng chục

hécta mía sang trồng sắn, dứa. Nhân dân đã cùng lực lượng quản lý vận hành chặt

hạ và vận chuyển khỏi hành lang lưới điện hàng nghìn m2 cây rừng hỗn tập, đảm

bảo hành lang thông thoáng và loại trừ triệt để nguy cơ cháy nổ tuyến. Nếu như

31

trước đây, một năm có 4 - 5 lần sự cố ĐZ 500 kV thì sau khi thực hiện chuyển đổi

cây trồng, sự cố do cháy nổ đã hoàn toàn được loại bỏ.

Từ năm 2005 đến nay, ĐZ 500 kV mạch 2 được đưa vào vận hành, lưới 220

kV tiếp tục được phát triển mạnh, đặt ra những yêu cầu ngày càng cao với công tác

quản lý vận hành. Phát huy kinh nghiệm từ công tác tuyên truyền trên lưới ĐZ 500

kV mạch 1, cùng với việc tăng cường chất lượng quản lý vận hành và bảo vệ lưới

điện, Truyền tải điện Thanh Hoá đã phối hợp với Ban dân vận Tỉnh, Tỉnh đoàn

Thanh Hoá tổ chức cuộc thi viết “Tìm hiểu về an toàn lưới truyền tải điện quốc

gia”. Ban tổ chức đã nhận được gần 120.000 bài viết của đông đảo các tầng lớp

nhân dân tại 22 huyện (trong đó có 4 huyện phụ cận không có đường dây đi qua).

Từ đó cho thấy người dân luôn quan tâm nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao

với công tác bảo vệ an toàn lưới điện quốc gia.

Bên cạnh các biện pháp tuyên truyền, vận động tạo ra các phong trào quần

chúng rộng khắp theo phương châm xã hội hoá công tác bảo vệ, Truyền tải điện

Thanh Hoá luôn kết hợp chặt chẽ với chính quyền, lực lượng công an các cấp, lực

lượng bảo vệ bán chuyên trách để xây dựng đội ngũ nòng cốt, đi đầu trong công tác

đảm bảo an toàn cho các tuyến đường dây. Cùng với CBCNV của đơn vị, trên tuyến

đường dây 500 kV của Tỉnh có 250 bảo vệ viên là lực lượng tại chỗ thông thạo địa

bàn, được chính quyền, công an các địa phương và Truyền tải điện Thanh Hoá

tuyển chọn, huấn luyện nghiệp vụ cơ bản phục vụ công tác bảo vệ lưới điện. Đây

cũng chính là những tuyên truyền viên tích cực, là cánh tay đắc lực giúp Truyền tải

điện và các cấp chính quyền địa phương thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ giữ

vững ổn định tình hình an ninh trên tuyến đường dây.

Với những nỗ lực không ngừng của đơn vị cũng như được sự ủng hộ nhiệt

tình của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương, thời gian

qua, lưới điện trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá luôn được vận hành thông suốt. Tuy

nhiên, vẫn còn tồn tại những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn của hệ thống như:

Xuất hiện cục bộ ở một số điểm các hiện tượng vi phạm và tái vi phạm hành lang

do nhận thức, ý thức chấp hành của một bộ phận nhân dân chưa tốt; tình trạng mất

cắp các thiết bị vẫn còn tồn tại trên tuyến đường dây 220 kV... Để lưới điện được

32

tuyệt đối an toàn, việc phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan liên quan và nhân

dân địa phương với Truyền tải phải chặt chẽ, phát huy hiệu quả cao hơn nữa, từ đó

đưa hoạt động xã hội hoá công tác bảo vệ lưới điện quốc gia lên một bước tiến mới,

phát huy sức mạnh của toàn dân, giữ cho dòng điện luôn toả sáng mọi miền Tổ

quốc.

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý vận hành trong phân phối điện từ Công ty Điện

lực Sơn La

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Công ty Điện lực Sơn La từng bước cải

tiến phương thức sản xuất kinh doanh, phục vụ; kiện toàn tổ chức gắn với đào tạo

và đào tạo lại, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực đội ngũ cán bộ,

công nhân, gắn trách nhiệm của công nhân với công việc.

Công ty Điện lực Sơn La đã đưa vào sử dụng, vận hành các thiết bị mới, hiện

đại, thường xuyên kiểm tra mạng lưới điện, phát hiện và xử lý kịp thời nguy cơ gây

sự cố. Đồng thời, đẩy mạnh phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong quản lý,

vận hành an toàn lưới điện và giảm tổn thất điện năng; tập trung xây dựng mạng

lưới điện đến các vùng kinh tế trọng điểm, vùng sâu, vùng xa và các khu tái định cư

thủy điện Sơn La của tỉnh.

Hiện nay, Công ty Điện lực Sơn La quản lý gần 3.000km đường dây trung

thế, 2.700 km đường dây hạ thế và 1.263 trạm biến áp.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh

doanh, Công ty thực hiện sắp xếp lao động theo mô hình chuyên sâu. Chỉ đạo điện

lực các huyện, thành phố lập kế hoạch, tổ chức tập huấn và diễn tập các phương án

xử lý sự cố cho cán bộ, công nhân; quản lý số lượng khách hàng; tăng cường kiểm

tra, khảo sát, xác định công suất và thời gian hoạt động của từng loại thiết bị để áp

giá đúng với mục đích, thực tế sử dụng điện của khách hàng. Bố trí công nhân trực

24/24 giờ để xử lý và sửa chữa điện cho khách hàng khi có sự cố; hạn chế thấp nhất

thời gian cắt điện và tránh cắt điện vào giờ cao điểm; lập các phương án kỹ thuật

chi tiết để giảm sự cố và thời gian xử lý; phương án phòng chống lũ bão, phòng

chống cháy nổ. Công tác kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột xuất sau sự cố hệ thống

đường dây trung thế, hạ thế và các trạm biến áp thực hiện nghiêm túc, sự cố kỹ

33

thuật được phát hiện, khắc phục kịp thời, bảo đảm các thiết bị hoạt động liên tục, an

toàn. Đồng thời, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động và hướng dẫn nhân dân

thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn hệ thống điện trên địa bàn.

Cùng với việc nâng cao chất lượng công tác quản lý, vận hành an toàn lưới

điện, Công ty Điện lực Sơn La đã huy động mọi nguồn lực để đáp ứng nhiệm vụ

cấp điện phục vụ công tác di dân tái định cư thủy điện Sơn La. Công ty được

UBND tỉnh giao làm chủ đầu tư 40 dự án cấp điện cho 40 khu, 102 điểm TĐC trên

địa bàn 8 huyện, thành phố. Đến nay, đã cơ bản cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản

xuất của bà con tái định cư trong tỉnh. Bên cạnh đó, thực hiện Nghị quyết 30A của

Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh bền vững, tỉnh ta đã xây dựng

Đề án hỗ trợ đầu tư lưới điện cho các xã vùng nông thôn của tỉnh giai đoạn 2009-

2011, Công ty đã cam kết phối hợp với các ngành, địa phương khảo sát lập dự án,

sử dụng hiệu quả nguồn vốn, bảo đảm tiến độ xây dựng mạng lưới điện đến vùng

sâu, vùng xa, vùng nông thôn của tỉnh.

Không ngừng nâng cao chất lượng quản lý, vận hành lưới điện, cải tiến

phương thức sản xuất kinh doanh, phục vụ, Công ty Điện lực Sơn La phấn đấu hoàn

thành tiến độ dự án “Cung cấp điện lưới quốc gia cho đồng bào các dân tộc tỉnh Sơn

La”.

34

CHƯƠNG II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN

HÀNH LƯỚI ĐIỆN TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC ỨNG HÒA

35

2.1 Khái quát về Công ty điện lực Ứng Hòa

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty

Tên doanh nghiệp: Công ty điện lực Ứng Hòa

Địa chỉ: Số 105 Trần Đăng Ninh – TT Vân Đình – H.Ứng Hòa – TP. Hà Nội

Công ty điện lực Ứng Hòa là một doanh nghiệp nhà nước, là đơn vị thành

viên hạch toán phụ thuộc Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội, chịu sự ràng buộc về

quyền lợi và nghĩa vụ với Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội. Công ty có tư cách

pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng và được mở tài khoản tại ngân hàng và hoạt

động theo sự phân cấp, uỷ quyền của Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội và Tập

đoàn Điện lực Việt Nam. Công ty điện lực Ứng Hòa đã có 32 năm phát triển với

những mốc son đáng nhớ:

Công ty điện lực Ứng Hòa tiền thân là Chi nhánh điện Vân Đình được thành

lập năm 1982 trực thuộc Sở phân phối điện Hà Sơn Bình, quản lý trên toàn bộ địa

bàn huyện Ứng Hòa và huyện Mỹ Đức. Năm 1997 sau khi chia tách Tỉnh Hà Sơn

Bình thành tỉnh Hòa Bình và Hà Tây, chi nhánh trực thuộc Điện lực Hà Tây. Năm

1999 chi nhánh được chia tách và đổi tên thành Chi nhánh điện Ứng Hòa, khu vực

quản lý điện trên địa bàn huyện Ứng Hòa. Tháng 8 năm 2008 sau khi có quyết định

sát nhập tỉnh Hà Tây vào thành phố Hà Nội và giải thể Điện lực Hà Tây, chi nhánh

được kiện toàn và trực thuộc Công ty điện lực TP.Hà Nội. Tháng 04 năm 2010

Công ty điện lực TP.Hà Nội được nâng cấp thành Tổng Công ty Điện lực TP. Hà

Nội đồng thời Chi nhánh được nâng cấp và đổi tên thành Công ty điện lực Ứng Hòa

từ ngày 01/7/2010.

2.1.2 Mô hình tổ chức của Công ty

Công ty điện lực Ứng Hòa là một đơn vị trực thuộc của Tổng Công ty điện

lực Hà Nội, hoạt động dựa trên mô hình hỗn hợp trực tuyến - chức năng với các

phòng, tổ chuyên môn nghiệp vụ và đội quản lý.

* Mô hình tổ chức gồm:

Ban Giám đốc: 4 người, trong đó:

Giám đốc chịu trách nhiệm chung trong công tác hoạt động sản xuất kinh

doanh của Công ty, trực tiếp chỉ đạo Phòng Tổng hợp, Phòng Tài chính - Kế toán,

36

Phòng Kế hoạch và Vật tư, Đội kiểm tra giám sát sử dụng điện, các đội quản lý điện

1 – 9.

Có 03 Phó giám đốc:

- Phó Giám đốc Kỹ thuật: chịu trách nhiệm công tác kỹ thuật vận hành và

trực tiếp chỉ đạo Phòng Kỹ thuật, Phòng Điều độ vận hành, Đội kiểm tra giám sát sử

dụng điện, các đội quản lý điện 1 – 9.

- Phó Giám đốc Kinh doanh: chịu trách nhiệm công tác kinh doanh bán điện

và trực tiếp chỉ đạo: Phòng kinh doanh, Đội kiểm tra giám sát sử dụng điện, các đội

quản lý điện 1 – 9.

- Phó Giám đốc sản xuất: chịu trách nhiệm công tác sản xuất khác, công tác

Công nghệ thông tin, trực tiếp chỉ đạo Đội đại tu xây lắp, các đội quản lý điện 1 – 9.

Có 7 phòng ban, 1 tổ chuyên môn nghiệp vụ: Phòng Tổng hợp, Phòng Tài chính

kế toán, Phòng Kỹ thuật và an toàn; Phòng kế hoạch và vật tư, Phòng Kinh doanh điện

năng, Phòng Điều độ vận hành, Phòng quản lý đầu tư.

Có 11 đội quản lý: 9 Đội quản lý điện từ 1 – 9, Đội kiểm tra giám sát sử dụng

điện, Đội đại tu xây lắp.

* Sơ đồ tổ chức như sau: (Hình 2.1)

37

GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC KỸ THUẬT PHÓ GIÁM ĐỐC KINH DOANH PHÓ GIÁM ĐỐC SẢN XUẤT

PHÒNG TỔNG HỢP PHÒNG KINH DOANH PHÒNG ĐIỀU ĐỘ VẬN HÀNH PHÒNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÒNG KẾ HOẠCH VÀ VẬT TƯ PHÒNG KỸ THUẬT VÀ AN TOÀN PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN

ĐỘI KIỂM TRA GIÁM SÁT SỬ DỤNG ĐIỆN

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức Công ty điện lực Ứng Hoà

ĐỘI QUẢN LÝ ĐIỆN 1 ĐỘI QUẢN LÝ ĐIỆN 3 ĐỘI QUẢN LÝ ĐIỆN 4 ĐỘI QUẢN LÝ ĐIỆN 5 ĐỘI QUẢN LÝ ĐIỆN 7 ĐỘI QUẢN LÝ ĐIỆN 8 ĐỘI ĐẠI TU XÂY LẮP ĐỘI QUẢN LÝ ĐIỆN 2 ĐỘI QUẢN LÝ ĐIỆN 9 ĐỘI QUẢN LÝ ĐIỆN 6

38

2.1.3 Lĩnh vực hoạt động

Công ty điện lực Ứng Hòa là một đơn vị thành viên của Tổng Công ty điện

lực Hà Nội, có lĩnh vực hoạt động chính là kinh doanh điện năng trên địa bàn huyện

Ứng Hòa; ngoài ra còn hoạt động trên một số lĩnh vực khác như:

- Phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, bán buôn điện, bán lẻ điện.

- Sửa chữa thiết bị điện.

- Xây lắp các công trình lưới điện từ cấp điện áp 35 kV trở xuống.

- Tư vấn thiết kế, giám sát thi công các công trình lưới điện từ cấp điện áp

35kV trở xuống.

- Thiết kế lưới điện cấp điện áp < 35kV.

- Kinh doanh vật tư thiết bị điện, phụ kiện điện và đồ dùng dân dụng.

- Xây lắp các công trình viễn thông công cộng.

- Đại lý bảo hiểm.

- Quảng cáo và các dịch vụ liên quan đến quảng cáo…

2.2 Khái quát về lưới điện phân phối tại huyện Ứng Hòa

Toàn bộ lưới điện phân phối tại huyện Ứng Hòa đều dưới sự quản lý vận

hành của Công ty điện lực Ứng Hòa với các loại vật tư kỹ thuật như: trạm biến áp,

máy biến áp, đường dây… Hệ thống lưới điện phân phối nhìn chung đã đáp ứng các

yêu cầu kỹ thuật nhằm đảm bảo các yêu cầu của công tác quản lý và phân phối điện

như tính an toàn, chất lượng điện, giảm tổn thất điện năng và vận hành thông suốt

đến khách hàng.

Bảng 2.1 Bảng vật tư thiết bị Công ty quản lý đến năm 2013

TT

Hạng mục quản lý

Đơn vị

Số lượng

1

Số lượng trạm biến áp

1.1 Trạm biến áp Công ty

Trạm

225

1.2 Trạm biến áp khách hàng

Trạm

38

Trạm

Tổng (Công ty + khách hàng)

263

2

Số lượng máy biến áp

2.1 Máy biến áp Công ty

Máy

244

39

2.2 Máy biến áp khách hàng

Máy

43

Máy

Tổng (Công ty + khách hàng)

287

3

Tổng dung lượng các TBA

3.1 Dung lượng TBA Công ty

kVA

72,935

3.2 Dung lượng TBA Khách hàng

kVA

22,537

kVA

Tổng (Công ty + khách hàng)

95,472

4 Khối lượng đường dây trung thế

4.1 Đường dây không

M

197,334

4.2 Đường cáp ngầm

M

580

M

Cáp ngầm Công ty

580

M

Cáp ngầm khách hàng

0

M

Tổng (ĐDK+ Cáp ngầm)

197,914

5 Khối lượng đường dây hạ thế

5.1 Tổng số chiều dài đường trục hạ thế

Km

331.960

5.2 Tổng số chiều dài nhánh rẽ hạ thế

Km

111.8400

Km

Tổng chiều dài đường trục + nhánh rẽ

443.800

6 Khối lượng cầu dao phụ tải

Bộ

6.1 Cầu dao phụ tải công cộng

14

Cầu dao phụ tải 35kV

Bộ

11

Cầu dao phụ tải 10 kV

Bộ

3

Cầu dao phụ tải 6kV

Bộ

0

Bộ

6.2 Cầu dao phụ tải khách hàng

3

Cầu dao phụ tải 35 kV

Bộ

3

Cầu dao phụ tải 10 kV

Bộ

0

Cầu dao phụ tải 6kV

Bộ

0

Bộ

Tổng (Công ty + khách hàng)

17

7 Khối lượng cầu dao cách ly

Bộ

7.1 Cầu dao cách ly công cộng

100

Bộ

74

Cầu dao cách ly 35kV

Cầu dao cách ly 10kV

Bộ

26

Bộ

0

Cầu dao cách ly 6kV

40

Bộ

7.2 Cầu dao cách ly khách hàng:

12

Bộ

6

Cầu dao cách ly 35kV

Bộ

6

Cầu dao cách ly 10kV

Bộ

0

Cầu dao cách ly 6kV

Bộ

Tổng (Công ty + khách hàng)

112

8 Khối lượng SI

Bộ

8.1 Cầu chì tự rơi (SI) Công cộng

184

Cầu chì tự rơi 35 kV

Bộ

123

Cầu chì tự rơi 10 kV

Bộ

58

Cầu chì tự rơi 6 kV

Bộ

3

Bộ

8.2 Cầu chì tự rơi (SI) khách hàng

32

Cầu chì tự rơi 35 kV

Bộ

25

Cầu chì tự rơi 10 kV

Bộ

7

Cầu chì tự rơi 6 kV

Bộ

0

Bộ

Tổng (Công ty + khách hàng)

216

9 Khối lượng chống sét

Bộ

9.1 Chống sét công cộng

186

Chống sét 35 kV

Bộ

127

Chống sét 10 kV

Bộ

56

Chống sét 6 kV

Bộ

3

Bộ

9.2 Chống sét khách hàng

87

Chống sét 35 kV

Bộ

31

Chống sét 10 kV

Bộ

56

Chống sét 6 kV

Bộ

0

Bộ

273

Tổng số TBA (Công ty + khách hàng)

(Nguồn: Báo cáo quản lý kỹ thuật năm 2013 Công ty điện lực Ứng Hòa)

Tính đến hết năm 2013, các hạng mục vật tư kỹ thuật đã không ngừng được

Công ty điện lực Ứng Hòa đầu tư để nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vận hành lưới

điện được thể hiện ở bảng 2.2.

41

Bảng 2.2 Một số hạng mục vật tư thiết bị chính của Công ty qua các năm

So sánh

TT Hạng mục quản lý

Đơn vị

Năm 2012

Năm 2013

%

Km

1

Đường dây trung áp

198,472

105,1

208,603

Km

Cáp ngầm

1,028

100,6

1,034

2

Km

Đường dây hạ áp

504,905

113

570,416

Trạm biến áp

111,5

301

Trạm

270

- Tổng số trạm

3

110,3

333

MBA

302

- Tổng số MBA

112.368

112,6

kVA

99.798

- Tổng công suất

Công tơ

101,9

64.968

- Tổng số

63.731

133,4

639

4

- 3 pha điện tử

Cái

479

98,8

2.068

- 3 pha cơ khí

2.094

101,8

62.261

- 1 pha

61.158

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của Công ty điện lực Ứng Hòa)

Qua bảng số liệu cho thấy, năm 2013 các hạng mục đường dây cáp, cáp

ngầm, trạm biến áp, công tơ… đều có mức tăng hơn so với năm 2012; trong đó

đường dây trung áp đã tăng 10,131km; đường dây hạ áp tăng 65,511km; trạm biến

áp tăng 31 trạm; máy biến áp tăng 31 máy; công tơ tăng 1,237 cái. Điều này cho

thấy Công ty điện lực Ứng Hòa đã không ngừng mở rộng lưới điện vận hành trên

toàn huyện Ứng Hòa, để có thể đưa điện đến tận các điểm sâu, xa nhất phục vụ tốt

nhu cầu của khách hàng sử dụng điện.

2.3 Phân tích thực trạng công tác lập kế hoạch và vận hành lưới điện

Công tác lập kế hoạch và vận hành lưới điện được thực hiện theo quy định

của Tập đoàn điện lực Việt Nam và xây dựng những kế hoạch phù hợp với đặc

điểm hoạt động quản lý vận hành lưới điện riêng của Công ty. Hàng năm Công ty

phải lập kế hoạch công tác phát triển lưới điện, bảo trì, sửa chữa lưới điện như: kế

hoạch đầu tư xây dưng; kế hoạch sửa chữa lớn lưới điện. Ngoài ra còn có các kế

hoạch như: kế hoạch bảo trì vệ sinh công nghiệp lưới điện, kế hoạch nhu cầu vật tư

nhằm chuẩn bị vật tư cho các phương án phát triển, sửa chữa lưới điện của năm sau,

42

kế hoạch giảm tổn thất điện năng, kế hoạch giảm mất điện (sự cố), kế hoạch giảm vi

phạm hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp, kế hoạch kiểm tra định kỳ, kế

hoạch thí nghiệm định kỳ.

Việc lập kế hoạch vận hành lưới điện của Công ty điện lực Ứng Hòa được

xây dựng dựa trên số liệu đầu vào như: nhu cầu phụ tải điện, kế hoạch phát triển

lưới điện, kế hoạch bảo dưỡng, sữa chữa lưới điện, dự kiến thời tiết diễn biến năm

tới, các thông số ràng buộc về hợp đồng mua bán điện theo quy định… Sau khi có

số liệu đầu vào, Công ty sẽ có đánh giá kế hoạch vận hành lưới điện để đánh giá

những sai số giữa kết quả dự báo và phụ tải điện thực tế…

Trong giới hạn của luận văn, tác giả chỉ nêu một số kế hoạch chính, nổi bật

của Công ty để đánh giá một cách chính xác nhất công tác quản lý vận hành lưới

điện của Công ty điện lực Ứng Hòa trong những năm qua.

Bảng 2.3 Kế hoạch đầu tư phát triển, cải tạo lưới điện, sửa chữa lớn TSCĐ

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

STT

Chỉ tiêu

Kế

Thực

Tỉ lệ

Kế

Thực

Tỉ lệ

Kế

Thực

Tỉ lệ

hoạch

hiện

%

hoạch

hiện

%

hoạch

hiện

%

I. Số công trình

Đầu tư xây

1

4

2

50

3

3

100

2

2

100

dựng cơ bản

Sửa chữa lớn

2

42

42

100

41

41

100

42

36

86

TSCĐ

Sửa chữa

3

37

36

97

39

39

100

35

35

100

thường xuyên

II. Tổng số vốn (triệu đồng)

Đầu tư xây

1

9.756

5.153

52

10.220

9.953

97

11.573

11.573

100

dựng cơ bản

Sửa chữa lớn

2

17.188 14.544

85

18.501

15,677

85

21.933

13.715

63

TSCĐ

Sửa chữa

3

2.559

2.559

100

3.455

3,455

100

3.391

3.391

100

thường xuyên

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của Công ty điện lực Ứng Hòa)

43

Qua bảng số liệu cho thấy các kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản, sữa chữa

lớn TSCĐ và sửa chữa thường xuyên đều được lên kế hoạch cụ thể và triển khai

thực hiện đồng bộ theo đúng kế hoạch đề ra.

* Đối với kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản

Từ năm 2011 đến nay, Công ty điện lực Ứng Hòa đã có trung bình 3 dự

án/năm với những mức đầu tư 9,7 tỷ đồng đến 11,5 tỷ đồng tăng dần qua từng năm.

Kế hoạch đầu tư cho các dự án ở mức đầu tư khá cao; cho thấy Công ty đã chú

trọng hơn trong việc đầu tư để tránh những dự án nhỏ lẻ, manh mún; tập trung vào

những dự án trọng điểm cho lại hiệu quả cao hơn.

Năm 2011, việc thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản so với kế hoạch chỉ đạt

50% với số tiền giải ngân là 5.153 triệu đồng. Năm 2011 được coi là năm đặc biệt

khó khăn của nền kinh tế, Chính Phủ Việt Nam buộc phải thắt chặt chi tiêu công để

khống chế lạm phát. Nguyên nhân ảnh hưởng từ suy thoái nền kinh tế cũng là một

nguyên nhân lớn ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của Công ty điện lực Ứng Hòa.

Việc xây dựng kế hoạch xây dựng cơ bản trong năm 2011 chưa thật sự đo lường

được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài dẫn đến việc hoàn thành kế

hoạch đề ra gặp khó khăn.

Tuy nhiên, các năm 2012 và 2013, việc xây dựng kế hoạch đã được chú

trọng và Công ty điện lực Ứng Hòa đã hoàn thành 100% số lượng các công trình đề

ra và tổng số nguồn vốn giải ngân năm 2012 là 9.953 triệu đồng (97% kế hoạch) và

năm 2013 là 11.573 triệu đồng (100% kế hoạch). Việc xây dựng kế hoạch nguồn

vốn là khá sát với thực tế và tuân theo đúng kế hoạch được giao.

* Đối với kế hoạch sửa chữa lớn TSCĐ

Kế hoạch sửa chữa lớn lưới điện được lập từ tháng 3 hàng năm để thực hiện

cho năm sau. Năm 2011 và 2012 Công ty điện lực Ứng Hòa đều hoàn thành 100%

công trình sửa chữa theo kế hoạch đã đề ra. Năm 2013, công tác sửa chữa lớn

TSCĐ chỉ đạt 86% (36/42 công trình hoàn thành). Năm 2013, Công ty điện lực Ứng

Hòa chưa hoàn thành được kế hoạch đề ra là do 6 hạng mục công trình được giao

44

thêm vào thời điểm 06/2013. Đến cuối năm 2013, các công trình này vẫn đang trong

công tác chuẩn bị đầu tư để đảm bảo đúng tiến độ được giao.

Mặc dù Công ty điện lực Ứng Hòa hoàn thiện gần như 100% các công trình

sửa chữa theo kế hoạch nhưng tổng số vốn giải ngân cho các công trình này lại chỉ

chiếm từ 63% đến 85% so với kế hoạch. Điều nay ghi nhận cố gắng của Công ty

điện lực Ứng Hòa trong công tác tiết kiệm chi phí trong kinh doanh đồng thời đòi

hỏi công tác tính toán chi phí nguồn vốn đầu tư dự kiến cho sửa chữa lớn TSCĐ cần

theo sát hơn nữa thực tế của doanh nghiệp.

* Đối với kế hoạch sửa chữa thường xuyên

Đây là các kế hoạch được lập hàng tháng và thường được thực hiện liên tục

khi có các dấu hiệu sự cố; bão lụt… Công ty điện lực Ứng Hòa đã xây dựng kế

hoạch và thực hiện kế hoạch sửa chữa thường xuyên rất hiệu quả. Năm 2012, 2013

công ty đều hoàn thành 100% số lượng công trình và giải ngân toàn bộ nguồn vốn

cho hoạt động sửa chữa thường xuyên. Công tác sửa chữa thường xuyên của điên

lực Ứng Hòa cũng đã dần đi vào chiều sâu chất lượng từ việc lập kế hoạch thực hiện

các công việc đến công tác thực hiện cụ thể trên hiện trường

* Kế hoạch giảm tổn thất điện năng

Giảm tổn thất điện năng là một yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất

lượng điện năng và giảm chi phí vận hành lưới điện.

Bảng 2.4 Kế hoạch giảm tổn thất điện năng năm 2013

So Thực So Thực Thực

sánh hiện sánh hiện hiện Chỉ tiêu Đơn vị 2013/ năm 2012/ năm năm

2012 2013 2011 2012 2011

Tỷ lệ tổn thất % 8.30 -0.34 7.90 -0.40 8.64

Tổn thất các ĐDK 35kV % 2.22 -0.11 2.80 0.58 2.33

Tổn thất các ĐDK 22kV % 2.40 -1.27 2.40 0.00 3.67

Tổn thất các ĐDK 10kV % 5.88 0.56 5.80 -0.08 5.32

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của Công ty điện lực Ứng Hòa)

45

Công ty điện lực Ứng Hòa đã xây dựng các kế hoạch giảm tổn thất điện năng

dựa trên dữ liệu đầu vào là kết quả thực hiện những năm trước đó. Ví dụ, kế hoạch

năm 2013 được xây dựng dựa trên kết quả năm 2011, 2012 cùng với đánh giá một

số các yếu tố khách quan khác mang lại. Tuy nhiên các kế hoạch này chung chung,

chưa cụ thể hóa phân công cụ thể những bộ phận nào phải làm gì, giải pháp cụ thể

ra sao, đánh giá đúng tổn thất điện năng là do nguyên nhân nào…

Như vậy, công tác quản lý vận hành lưới điện đã được Công ty điện lực Ứng

Hòa lên kế hoạch và thực hiện theo đúng quy trình, quy định của EVN. Tuy nhiên

các kế hoạch này chỉ tập trung ở lĩnh vực đầu tư xây dựng phát triển, sửa chữa,

giảm tỷ lệ tổn thất điện năng…theo từng năm, quý. Đối với kế hoạch theo từng

tháng, ngày còn chung chung, chưa cụ thể. Mặc dù rất cố gắng bám sát và thực hiện

các chỉ tiêu kế hoạch, nhưng Điện lực vẫn chưa tìm ra giải pháp phù hợp để thực

hiện các kế hoạch của Tổng Công ty giao và của đơn vị tự đặt ra.

2.4 Phân tích thực trạng công tác tổ chức vận hành lưới điện

2.4.1 Công tác phân công nhiệm vụ, trách nhiệm các bộ phận

Nhiệm vụ chính của Công ty điện lực Ứng Hòa là kinh doanh điện năng trên

địa bàn huyện Ứng Hòa, truyền tải điện đến các phụ tải, nên tất cả các bộ phận sản

xuất đều nhằm mục đích cơ bản là cung cấp điện an toàn, liên tục và ổn định cho

các khách hàng sử dụng điện. Để đảm bảo việc vận hành lưới điện được liên tục,

Công ty điện lực Ứng Hòa đã xây dựng cơ cấu tổ chức gồm 04 bộ phận cơ bản: Bộ

phận quản lý vận hành; Bộ phận sửa chữa, thí nghiệm, hiệu chỉnh; Bộ phận phục vụ

và Bộ phận kinh doanh bán điện. Trong đó, bộ phận quản lý vận hành chịu trách

nhiệm chính về vận hành lưới điện với sự phối kết hợp các bộ phận còn lại.

Chủ đạo của bộ phận quản lý vận hành là Phòng Kỹ thuật và An toàn, Phòng

Điều độ vận hành.

Trong đó:

* Phòng kỹ thuật và an toàn: có nhiệm vụ theo dõi sự hoạt động chung trên

hệ lưới điện, tham mưu đề xuất các phương án, giải pháp kỹ thuật tối ưu cho hệ

46

thống lưới điện. Phòng kỹ thuật và an toàn được chia thành 02 bộ phận chuyên

chuyên trách các công việc:

+ Bộ phận tham mưu trong công tác quản lý đường dây và trạm biến áp: có

trách nhiệm theo dõi toàn bộ thông số vận hành của các đường dây cao, hạ thế, các

trạm biến áp của Công ty điện lực Ứng Hòa, hàng ngày nắm bắt quá trình vận hành

của đường dây, các tham số vận hành của các máy biến áp từ đó đề xuất các phương

án cải tạo, phương án đại tu, xây lắp mới đảm bảo cho hệ thống lưới điện vận hành

an toàn và ổn định.

+ Bộ phận an toàn lao động: có nhiệm vụ đôn đốc các phòng ban, các đội

quản lý điện thực hiện tốt công tác an toàn bảo hộ lao động… tổ chức kiểm tra định

kỳ việc chấp hành các quy trình về an toàn lao động trong quá trình làm việc của

công nhân trực tiếp, đề xuất các biện pháp đảm bảo an toàn lao động. Nghiên cứu,

đề xuất chế độ làm việc hợp lý, đảm bảo an toàn sức khoẻ cho người lao động. Tập

huấn, huấn luyện các an toàn viên theo định kỳ, bảo đảm cho lực lượng này có đầy

đủ nghiệp vụ thực hiện tốt trách nhiệm của mình.

* Phòng Điều độ vận hành: làm nhiệm vụ điều hành hoạt động hệ thống điện

bằng cách chỉ đạo trực tiếp qua điện thoại cho công nhân vận hành các trạm trung

gian, trạm biến áp phân phối, thao tác đóng cắt khi sửa chữa, khi xảy ra sự cố và khi

mất cân đối về công suất, đồng thời nhận các thông số kỹ thuật từ các trạm 110 KV

báo về nhằm hạn chế thấp nhất việc mất điện lưới cao thế, bảo đảm cho việc cấp

điện được liên tục. Phòng điều độ quản lý trực tiếp các bộ phận:

+ Bộ phận vận hành: làm nhiệm vụ quản lý toàn bộ lưới điện trung áp dưới

35 KV, kịp thời phát hiện ra những nguy cơ sự cố, các ảnh hưởng, gây mất an toàn

lưới điện, khắc phục, xử lý kịp thời các sự cố đột xuất, sửa chữa định kỳ thường

xuyên để đảm bảo an toàn lưới điện.

+ Công nhân quản lý đường dây trung hạ áp, các trạm biến áp đến 35KV:

theo dõi sự hoạt động của toàn bộ các thiết bị trong trạm, nhận lệnh trực tiếp từ

Phòng Điều độ vận hành đồng thời đọc và báo cáo các thông số kỹ thuật về phòng

47

Điều độ vận hành. Kiểm tra định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của Phòng điều độ vận

hành.

+ Bộ phận sửa chữa, thí nghiệm, hiệu chỉnh: Công việc chính của đơn vị này

là thí nghiệm kịp thời khi có sự cố về thiết bị, thí nghiệm định kỳ tiếp địa và các

máy biến áp để cảnh báo những tồn tại trong công tác quản lý vận hành đường dây

và trạm biến áp.

Tất cả các đơn vị làm việc trong trạm biến áp, dưới đường dây tải điện, phải

chấp hành những quy định nghiêm ngặt về quy trình, quy phạm trong ngành điện.

Đó là: phải có phiếu thao tác, lệnh đóng điện, lệnh cắt điện và sử dụng các loại biển

báo…

Để đảm bảo công tác vận hành lưới điện cũng cần có sự tham gia của Phòng

Kế hoạch và vật tư thuộc bộ phận phục vụ có chức năng cung cấp đầy đủ, kịp thời

vật tư khi các bộ phận quản lý vận hành, bộ phận sửa chữa, bộ phận kinh doanh bán

điện cần đến.

Việc phân chia cơ cấu quản lý vận hành thành các bộ phận có nhiệm vụ,

trách nhiệm riêng biệt, cụ thể giúp công tác chuyên môn được chuyên sâu và hiệu

quả. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành đòi hỏi phải có sự phối hợp nhịp nhàng

giữa tất cả các bộ phận nhằm tránh kéo dài thời gian sử lý công việc, đảm bảo thời

gian mất điện là ngắn nhất.

2.4.2 Công tác nhân sự

Do nhu cầu điện năng phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt của người

dân ngày càng tăng cao, do đó việc đảm bảo công tác vận hành lưới điện an toàn,

liên tục đảm bảo cung cấp kịp thời luôn là mục tiêu quan trọng và cần thiết. Hiện

nay Công ty bố trí nhân viên trực vận hành và giải quyết sự cố điện để đảm bảo tính

liên tục của hệ thống như sau :

+ Tổ chức trực 24/24 giờ theo 3 ca 4 kíp tại Phòng trực điều độ vận hành,

sửa chữa điện tại Công ty. Mỗi ca trực có 4 người gồm: 1 Trưởng ca điều độ, 2 công

nhân thao tác, sửa chữa trực tiếp, 1 lái xe.

+ Tại các Đội quản lý điện bố trí thời gian trực 7h00 đến 22h00 hàng ngày.

48

Công tác bố trí lịch trực tại Phòng điều độ vận hành và các Đội quản lý điện

đã đảm bảo luôn có cán bộ theo dõi, tiếp nhận thông tin khi khách hàng phản ánh

kịp thời, đáp ứng được việc sửa chữa điện cho khách hàng được nhanh chóng.

Ngoài ra, để công tác tổ chức quản lý vận hành lưới điện được thực hiện tốt,

ngoài yêu cầu về cơ sở hạ tầng thì vai trò của các cán bộ công nhân viên trong Công

ty điện lực Ứng Hòa là hết sức quan trọng. Một đội ngũ quản lý có trình độ luận

chính trị vững vàng, kỹ năng lãnh đạo quản lý; một đội ngũ lao động có trình độ tay

nghề cao sẽ đảm bảo tốt sự vận hành lưới điện.

Bảng 2.5 Bảng cơ cấu lao động Công ty điện lực Ứng Hòa

2011 2012 2013 So sánh 2013/2011 Chỉ tiêu SL CC SL CC SL CC SL ±

(%) (%) (%) (%)

Tổng số LĐ 142 100 161 100 182 100 40 21,9

1. Phân theo giới tính

- Nam 111 78,2 125 77,7 138 75,8 27 24,3

- Nữ 31 21,8 36 22,3 44 24,2 13 41,9

2. Phân theo độ tuổi

- Dưới 30 68 47,9 79 49,0 92 50,5 24 35,9

- Từ 30-40 35 24,6 41 25,4 51 26,5 16 45,7

-Từ 40-50 23 16,3 26 16,1 29 15,9 6 26,0

-Trên 50 16 11,2 15 9,5 10 5,4 -6 -37,5

3. Phân theo trình độ

29 20,4 32 19,8 39 21,4 10 34,5

- Đại học và trên đại học

62 43,7 69 42,9 88 48,4 26 41,9

- Cao đẳng, trung cấp

- Công nhân 35,9 30,2 37,2 60 55 4 7,8

51 (Nguồn: Phòng Tổng hợp Công ty điện lực Ứng Hòa)

Tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, trung cấp chiếm cao nhất với 48,4% vào

năm 2013. Tiếp đó là nhóm công nhân và thấp nhất vẫn là nhóm có trình độ đại học

49

và sau đại học – chủ yếu là các cán bộ kỹ sư, cán bộ quản lý các bộ phận. Tất cả các

vị trí tại Công ty điện lực Ứng Hòa đều đáp ứng đúng trình độ tối thiểu theo quy

định của tổng công ty EVN. Nhìn chung trình độ cán bộ công nhân viên của Công

ty còn thấp, Công ty cần phát triển hơn nữa đội ngũ nhân viên lao động có trình độ

tay nghề, trung thực và cẩn thận.

Công ty điện lực Ứng Hòa cũng thực hiện các công tác huấn luyện về an toàn

điện định kỳ 1 năm 1 lần và có kiểm tra sát hạch, xếp bậc và cấp thẻ an toàn điện

đối với người làm công việc vận hành, thí nghiệm, xây lắp và sữa chữa đường dây

điện hoặc thiết bị điện. Đồng thời, mỗi cán bộ công nhân viên trước khi vận hành,

hiệu chỉnh, thí nghiệm và sữa chữa thiết bị điện đều được khám sức khỏe phù hợp

với ngành nghề đã được đào tạo. Tuy nhiên việc học tập tại và kiểm tra định kỳ về

kiến thức thường xuyên của nhân viên vận hành của Công ty còn mang nặng tính

hình thức và chưa được chú trọng.

2.5 Phân tích thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá điều chỉnh công tác

vận hành lưới điện

Việc kiểm tra, đánh giá điều chỉnh vận hành lưới điện được chia làm hai khía

cạnh là kiểm tra, đánh giá công tác vận hành lưới điện được thực hiện trong suốt

quá trình vận hành và kiểm tra công tác vận hành lưới điện theo kế hoạch đã lập từ

trước.

2.5.1 Kiểm tra, đánh giá trong quá trình vận hành lưới điện.

Việc kiểm tra đánh giá công tác vận hành lưới điện tại Công ty điện lực Ứng

Hòa được thực hiện theo quy trình vận hành và bảo dưỡng của Tập đoàn điện lực

Việt Nam. Việc vận hành các hệ thống lưới được sẽ được kiểm tra định kỳ, kiểm tra

bất thường, kiểm tra sự cố và kiểm tra thí nghiệm tùy thuộc vào đặc điểm của từng

lưới điện. Trên lưới điện của Công ty điện lực Ứng Hòa có 3 thành phần được kiểm

tra đó là lưới điện trung áp, hạ áp và trạm biến áp.

50

Bảng 2.6 Công tác kiểm tra định kỳ đường dây và TBA từ năm 2011- 2013

Hạng mục

Đơn vị

2011

2012

2013

1. Kiểm tra đường dây trung áp

56

24

- Kiểm tra đêm

38

98

72

- Kiểm tra ngày

Lần

71

63

51

- Kiểm tra đột xuất

54

526

463

- Thí nghiệm tiếp địa

499

2. Kiểm tra đường dây hạ áp

801

820

826

- Kiểm tra đêm

Lần

2079

2380

2683

- Kiểm tra ngày

211

189

213

- Kiểm tra cao điểm

3. Kiểm tra TBA

1170

1200

1353

- Kiểm tra đêm

Lần

3802

3612

3849

- Kiểm tra ngày

321

341

396

- Kiểm tra cao điểm

(Nguồn: Phòng điều độ vận hành Công ty điện lực Ứng Hòa)

Công tác kiểm tra qua các năm ngày càng được coi trọng và tần suất kiểm tra

ngày càng tăng lên. Trong năm 2013, Công ty đã thực hiện kiểm tra với số lần cao

hơn so với các năm trước nhằm đảm bảo tính vận hành an toàn, thông suốt cho lưới

điện vận hành.

Kiểm tra đột xuất được áp dụng trong các trường hợp trước hoặc sau khi có

mưa bão, thời tiết nắng nóng bất thường, trước dịp lễ và các ngày quan trọng.

Kiểm tra sự cố thực hiện ngay sau khi có sự cố.

Kiểm tra thí nghiệm: thí nghiệm định kỳ và đột xuất đối với thiết bị trong

trạm có nghi ngờ không đạt tiêu chuẩn vận hành.

Đối với đường dây trung áp, kiểm tra đột xuất được thực hiện nhiều hơn để

nhanh chóng giải quyết những tồn tại; đối với đường dây hạ áp, tăng cường kiểm tra

cao điểm 2 ngày 1 lần. Riêng đối với kiểm tra trạm biến áp; bình quân kiểm tra 3

lần vào ban đêm và 10 lần vào ban ngày. Theo Quy định thì việc kiểm tra lưới điện

hết sức chặt chẽ và kỹ lưỡng từ nội dung kiểm tra cho đến định kỳ. Tuy nhiên để

51

thực hiện đầy đủ và đúng Quy định thì cần rất nhiều nhân lực mà đôi khi không hiệu

quả vì hiện tại người công nhân kiểm tra lưới điện chỉ có thể thực hiện kiểm tra trực

quan bằng mắt chứ không có thiết bị hiện đại hỗ trợ cũng như ghi chép các thông tin

lưới điện vào giấy mà không có thiết bị kỹ thuật số nào để cập nhật.

Bảng 2.7 Bảng thống kê sự cố điển hình năm 2013

Biện pháp

Giờ trả

Giờ, ngày

Tên sự

Tình trạng sự

Nguyên nhân

TT

khắc phục

điện

tháng, năm

cố

cố

A

Do dây diều

Mắc diều tại

Gỡ diều tại

12h49, ngày

mắc vào cột

cột số 4 nhánh

11h45, ngày

Kéo

1

cột 4 nhánh

10/04/2013

số 4 nhánh Dư

Dư Xá

lộ

10/04/2013

Dài

Dư Xá 1

Xá 1

974E10,2

Thay

5m

dây AC95,

Do mưa giông

Đứt dây cột

4 ghíp 95

sét gây sự cố

79, vỡ sứ cột

07h57, ngày

3h10,

ngày

Kéo

và thay 3

đứt dây côt 79

2

78,81,85 ĐDK

01/05/2013

01/05/2013

Dài

quả

sứ

và vỡ sứ cột

375 E10.2

78,81,85

VHD

35KV

Thay 02 sứ

Vỡ sứ nhánh

Do mưa giông

18h37, ngày

15h09, ngày

Kéo

cột

53

Trần Đăng 1

3

sét gây sự cố

nhánh Trần

30/05/2013

lộ

30/05/2013

Dài

vỡ sứ cột 53

Đăng

ĐDK375E10.2

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của Công ty điện lực Ứng Hòa)

Kết quả kiểm tra, đánh giá hoạt động của lưới điện được Công ty điện lực

Ứng Hòa cập nhật chi tiết và phân tích rõ các nguyên nhân gây ra sự cố. Hầu hết

các nguyên nhân nhân gây ra sự cố lưới điện được Công ty tổng hợp lại đều là do

yếu tố khách quan như thời tiết (mưa to, sét đánh 70-80%), nguyên nhân khác

khoảng 20-30%...

52

Bảng 2.8 Tổng hợp các nguyên nhân gây sự cố lưới điện

TT Loại sự cố Các nguyên nhân chủ yếu

- Do mưa to sét đánh qua dòng 80% 1 Thoáng qua trung thế - Nguyên nhân khác 20%

- Mưa to sét đánh vỡ sứ, đứt dây: 70% 2 Vĩnh cửu trung thế - Nguyên nhân khác: 30%

- Do mưa giông sét đánh 60% 3 TBA phân phối - Do mưa làm chập cáp 40%

- Do sự cố ghíp bắt xuống hòm công tơ 90% 4 Hạ thế - Nguyên nhân khác 10%

(Nguồn: Phòng Điều độ vận hành Công ty điện lực Ứng Hòa)

Từ đó có thể thấy rằng công tác kiểm tra lưới điện đang vận hành đúng quy

trình, quy phạm tuy nhiên không đạt hiệu quả cao. Công ty điện lực Ứng Hòa có

khối lượng đường dây lớn; địa hình rộng, phức tạp tuy nhiên việc kiểm tra đánh giá

lưới điện được thực hiện thủ công. Công tác kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột suất

còn mang tính chất đối phó, chất lượng kiểm tra còn chưa cao, không đánh giá đúng

tình trạng hoạt động của các thiết bị vận hành trên lưới, đây cũng là nguyên nhân

ảnh hưởng lớn đến việc cung cấp các thông tin đầy đủ và kịp thời để phục vụ cho

công tác quản lý vận hành hệ thống lưới điện.

2.5.2 Công tác kiểm tra theo kế hoạch đã lập từ trước

Việc đánh giá theo kế hoạch lập từ trước được Công ty thực hiện một cách

đầy đủ. Khi đưa ra kế hoạch vận hành lưới điện theo năm, tháng, tuần, ngày; thông

thường các kế hoạch này sẽ được các đơn vị phòng, đội tổ chức thực hiện. Hàng

ngày, Phòng điều độ vận hành có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá kết quả thực tế

ngày hôm qua; xem xét đạt hay không đạt kế hoạch đề ra. Các kết quả này sẽ được

tổng hợp lại để xây dựng bản đánh giá kế hoạch vận hành tuần, tháng, năm.

Việc đánh giá này là cở sở để xây dựng các kế hoạch tiếp theo cho công tác

vận hành lưới điện; nhưng nhìn chung, các đánh giá chưa thực sự nhiều, chỉ mới ở

các đánh giá về sự cố mất điện, tăng giảm cung cấp điện… Mặt khác, số liệu cập

53

nhật báo cáo đôi khi không chính xác do việc báo cáo vẫn còn thủ công và phải tập

hợp số liệu từ nhiều bộ phận khác nhau.

Có thể nói Công ty điện lực Ứng Hòa đã thực hiện công tác kiểm tra, đánh

giá vận hành lưới điện theo đúng quy định của ngành điện lực. Công ty có kế hoạch

kiểm tra cụ thể và cập nhật thường xuyên kết quả kiểm tra trong quá trình vận hành

cũng như theo kế hoạch đã lập từ trước. Tuy nhiên việc cập nhật kết quả thực hiện

thực tế còn thủ công dẫn đến các phân tích, đánh giá chưa thực sự chính xác. Có

nhiều nguyên nhân nhưng quan trọng nhất vẫn là trình độ chuyên môn của người

lao động còn hạn chế; máy móc trang thiết bị lạc hậu và cách thức quản lý còn

nhiều bất cập.

2.6 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý vận hành lưới điện

2.6.1 Chỉ tiêu kỹ thuật

Công tác quản lý vận hành lưới điện được đánh giá qua các chỉ tiêu an toàn,

chất lượng điện, tổn thất điện năng.

a) Chỉ tiêu An toàn điện

Công ty đã thực hiện tốt các yêu cầu về tính an toàn trong công tác quản lý

vận hành lưới điện theo quy định về an toàn điện của Chính phủ. Tính an toàn được

thể hiện ở tình hình sự cố lưới điện, xử lý vi phạm hành lang an toàn lưới điện cao

áp; công tác kiểm tra đường đây và trạm biến áp.

* Tình hình sự cố lưới điện, xử lý vi phạm hành lang an toàn lưới điện cao

áp: đã được Công ty thực hiện một cách nghiêm túc, mặc dù suất sự cố có giảm

nhưng vẫn ở mức cao và có những năm không đạt chỉ tiêu đề ra.

Bảng 2.9 Bảng tổng hợp sự cố lưới điện và xử lý vi phạm hành lang an toàn

lưới điện

TT

Nội dung

2011

2012

2013

Tỉ lệ

Tỉ lệ

Tỉ lệ

KH

TH

KH

TH

KH

TH

(%)

(%)

(%)

I

Suất sự cố

Suất sự cố (thực

1

hiện/kế hoạch)

54

- Thoáng qua trung

38

47

123,7

36

45

125,0

8

6

75,0

thế

- Vĩnh cửu trung

12

150,0

14

155,6

25

25

100.0

9

8

thế

Sự cố TBA phân

6

85.7

8

88.9

1

6

600.0

9

2

7

phối

3

Sự cố Hạ thế

600

515

85.8

575

682

118.6

601

137

22.8

II Xử lý VPHLATLĐCA

Xử lý

2

3

150.0

3

2

66.7

2

2

100.0

VPHLATLĐCA

(Nguồn: Báo cáo tổng kết các năm Công ty điện lực Ứng Hòa)

Qua bảng số liệu cho thấy:

Về lưới điện trung thế: đường dây lưới điện trung thế được nâng cấp và mở

rộng qua từng năm, tuy nhiên suất sự cố ở đường dây này khá lớn. Năm 2011 và

2012, suất sự cố đều tăng so với kế hoạch đặt ra. Năm 2011, sự cố thoáng qua tăng

23,7% so với kế hoạch, tương đương 9 vụ và năm 2012 tăng 25% so với kế hoạch.

Đặc biệt các sự cố vĩnh cửu trong thực tế tăng cao so với kế hoạch đề ra, từ 50%

(năm 2011) đến 55,6 % (năm 2012). Tuy nhiên, năm 2013 Công ty điện lực Ứng

Hòa đã nỗ lực khắc phục và đảm bảo sự cố đề ra không tăng so với kế hoạch năm.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự cố đường dây trung thế như:

- Do đứt dây, vỡ sứ cách điện kém, các vật bên ngoài vào đường dây.

- Các tuyến đường trục đã dần được ngầm hóa và sử dụng dây dẫn bọc, tuy

nhiên do mật độ xây dựng các công trình nhà ở ngày một tăng cao, tình trạng lấn

chiếm hành lang an toàn lưới điện chưa được giải quyết triệt để, làm tăng xuất sự cố

trên lưới phân phối. Công nhân quản lý lưới điện thiếu sót trong việc kiểm tra và xử

lý hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp.

- Một số đường dây đã được bọc cách điện nhưng chưa phù hợp với cấp điện

áp nên dẫn đến nhiều vụ sự cố chủ quan do chất lượng dây dẫn.

55

- Các đường trục cao thế và các trạm biến áp của khách hàng vận hành lâu

năm chưa được củng cố, đại tu và bảo dưỡng, nâng cấp kịp thời nên bị xuống cấp

gây sự cố.

- Chất lượng của một số thiết bị đưa vào vận hành kém chất lượng và không

đảm bảo điều kiện vận hành an toàn.

- Công tác thí nghiệm và kiểm định định kỳ vẫn chưa được thực hiện đúng

định kỳ và chất lượng kiểm định vẫn chưa cao đôi khi còn mang tính số lượng.

- Các sự cố thoáng qua xảy ra rất nhiều nhưng hầu hết công tác điều tra chỉ là

đối phó không tìm ra nguyên nhân.

Như vậy có thể thấy, những sự cố trên lưới trung áp ngoài vấn đề chất lượng

thiết bị xuống cấp và không đồng bộ thì nguyên nhân đáng kể đó là sự chưa nghiêm

túc trong việc kiểm soát liên tục hệ thống lưới trung thế để có những cảnh báo cần

thiết cho công tác bảo trì, thay thế các thiết bị, dây kém chất lượng và làm giảm số

lượng các sự cố trong thời gian vừa qua. Bên cạnh đó công tác điều tra, phân tích

nguyên nhân và tìm giải pháp ngăn ngừa sự cố vần còn mang tính hình thức, có

kiểm tra mà không ra được các nguyên nhân. Điều này sẽ dẫn đến những thiệt hại

cho Công ty và cho khách hàng sử dụng điện là không thể tính hết được.

Về trạm biến áp: sự cố trạm biến áp giảm đáng kể trong năm 2013 còn 1 vụ

trên chỉ tiêu 6 vụ trong khi đó vào năm 2012 có đến 9 vụ, vượt kế hoạch đề ra. Bán

kính cấp điện của các TBA Công cộng quá xa. Mặc dù năm 2010 Công ty đã được

đầu tư xây dựng một số TBA mới, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được lưới điện hiện

trạng cũng như nhu cầu sử dụng của phụ tải. Nguyên nhân dẫn đến sự cố biến áp là

do phóng cách điện thiết bị trung thế như: Cầu chì tự rơi, cầu dao đóng cắt trung

thế, TU, TI, sứ cách điện…; sét đánh trực tiếp; động vật chui vào trạm, lên máy

biến thế gây phóng điện; lắp đặt chì không đúng cấp bảo vệ, máy cắt hạ thế hoạt

động không đúng; quá tải máy biến áp; quá điện áp lan truyền cũng gây ra sự cố

trạm biến áp; sử dụng lệch pha; dầu máy biến áp vận hành lâu ngày không được

thay thế, bổ xung dẫn đến máy biến áp không đạt tiêu chuẩn vận hành.

56

Về lưới điện hạ thế: sự cố hạ thế trong các năm 2011 và 2012 đều đạt chỉ tiêu

kế hoạch nhưng ở mức cao trên 500 vụ/năm. Riêng năm 2013, Công ty điện lực

Ứng Hòa đã phấn đấu giảm sự cố ở mức thấp nhất và đạt ở mức 137 vụ, giảm 73%

so với kế hoạch đề ra, thấp nhất trong vòng 8 năm trở lại đây. Nguyên nhân gây ra

sự cố lưới điện hạ thế là: Hỏng thiết bị đóng cắt hạ thế tại trạm; chạm chập cáp tại

trạm biến áp và đường dây; xe ôtô đâm gãy cột điện; do đứt dây, đổ cột, cháy cáp,

hỏng tiếp xúc, cây chạm lưới điện, nổ cầu chì bảo vệ; quá tải cáp xuất tuyến so với

dòng định mức cho phép; lệch pha tại các đường trục hạ thế dẫn đến các thiết bị

đóng cắt phải hoạt động liên tục làm giảm tuổi thọ và số lần đóng cắt của thiết bị;

thiết bị và đường dây vận hành lâu ngày chưa được cải tạo thay thế dẫn đến nguy cơ

gây sự cố cao.

Về xử lý vi phạm hành lang an toàn lưới điện cao áp: Công ty điện lực Ứng

Hòa đã thực hiện tốt công tác kiểm tra, bảo vệ an toàn hành lang công trình lưới

điện cao áp kịp thời ngăn chặn, phát hiện sớm các hành vi vi phạm nên đơn vị còn

rất ít vụ vi phạm hành lang ATLĐCA, trung bình 2-3 vụ/năm. Hầu hết các vụ vi

phạm hành lang an toàn lưới điện cao áp là việc dựng nhà dưới, cây mọc dưới

đường dây trung áp. Để đảm bảo hành lang an toàn lưới điện trung áp, trong tháng

05, tháng 06 năm 2013 Công ty điện lực Ứng Hòa đã thực hiện chiến dịch xử lý

cây cối trong và ngoài hành lang lưới điện, về cơ bản đã giảm thiểu được nhiều vị

trí cây cối vi phạm, làm giảm được suất sự cố lưới điện. Việc sử lý nghiêm túc vừa

bảo vệ lưới điện vận hành tốt, vừa làm tăng thêm ý thức cho người vi phạm.

Có thể nói tình hình an toàn điện của Công ty điện lực Ứng Hòa đã được

quan tâm và thực hiện kịp thời nhằm đảm bảo công tác vận hành lưới điện. Tuy

nhiên, lưới điện hạ thế và lưới trung thế chưa được kiểm soát chặt chẽ, làm việc

theo theo kiểu hỏng đến đâu thay đến đó và hậu quả không những giảm chất lượng

điện năng cung cấp cho khách hàng mà về phía Công ty còn gây ra những tổn thất

cũng không nhỏ như: gây hư hỏng thiết bị, giảm sản lượng, giảm doanh thu và cũng

là nguyên nhân tiềm ẩn gây ra nhiều sự cố vĩnh cửu.

b. Chỉ số thực hiện độ tin cậy lưới điện

57

Trong năm 2013, Công ty điện lực Ứng Hoà đã có nhiều cố gắng thực hiện

các biện pháp giảm chỉ số, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện cho khách hàng. Các

chỉ số độ tin cậy bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:

+ Cắt điện để công tác bảo trì sửa chữa lưới điện theo kế hoạch.

+ Cắt điện đột xuất để xử lý các điểm sự cố.

+ Sự cố lưới điện từ lưới điện trung thế, trạm biến áp và lưới hạ thế.

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện có 4/9 về sự cố và cắt điện chỉ tiêu

không đạt là: SAIFI cắt điện (vượt 37,9%), SAIFI tổng 5 nguyên nhân (vượt

40,60%). Chỉ có duy nhất chi tiêu MAIFI sự cố là đạt yêu cầu so với kế hoạch đề ra.

Bảng 2.10 Chỉ số độ tin cậy điện lưới năm 2013

Năm 2013

Hạng

Thực hiện

Đánh giá

Đơn vị

Kế

mục

Khách

hoạch

Chủ quan

quan

SAIDI

phút

5700

218

7800

Không đạt

SAIIFI

Lần

13.55

2.63

16.06

Không đạt

MAIFI

Lần

2.19

1.6

0.00

Đạt

(Nguồn: Phòng Điều độ vận hành Công ty điện lực Ứng Hòa)

Để vượt chỉ tiêu trên, ngoài những nguyên nhân khách quan như: do thời

gian mất điện lưới 110 kV tăng cao, tình hình mưa bão diễn ra nhiều, đường dây

dài… trong đó còn nhiều nguyên nhân do chủ quan từ phía Công ty điện lực Ứng

Hòa như:

+ Việc lập kế hoạch và phương thức cắt điện còn nhiều yếu kém, bố trí

không hợp lý, nhiều kế hoạch cắt điện đột xuất đặc biệt là để đấu nối thiết bị, một

đoạn tuyến bị cắt nhiều lần để sửa chữa; chưa biết phối hợp các đơn vị cùng thao tác

trên tuyến đường dây cắt điện.

+ Đăng ký cắt điện chưa đúng thời gian quy định, nội dung sơ sài chưa rõ

công việc cụ thể.

58

+ Việc cắt điện để vệ sinh công nghiệp hàng năm rất lớn (chỉ số SAIDI là

479.9 phút, chiếm 32,8%); việc cắt điện vệ sinh công nghiệp và thí nghiệm các thiết

bị thường không kết hợp cùng thực hiện các công việc khác làm tăng thời gian cắt

điện.

So sánh với một số khu vực trên thế giới về chỉ số SAIFI, SAIDI như

Singapore, Tokyo, Hongkong, NewYork, Chicago, Dublin… trong năm 2013 thấy

rằng chỉ số SAIDI lớn nhất cũng chỉ là 4.570 phút, chỉ số SAIFI lớn nhất là 3,16

lần; một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines,

Indonesia… trong năm 2013 thì chỉ số SAIDI lớn nhất là 5.096 phút và SAIFI là

14,85 lần thuộc nước Thái Lan trong khi đó chỉ số độ tin cậy SAIDI, SAIFI năm

2013 của Công ty điện lực Ứng Hòa lần lượt là SAIFI = 18,69 lần, SAIDI = 8.018

phút.

Có thể thấy rằng độ tin cậy cung cấp điện của Công ty điện lực Ứng Hòa là

rất thấp so với các nước trong khu vực. Điều này thể hiện rất nhiều hạn chế trong

công tác quản lý vận hành của Công ty trong việc cắt điện theo kế hoạch để sửa

chữa, cắt điện đột suất và để xảy ra nhiều sự cố chủ quan. Công ty điện lực Ứng

Hòa cần xây dựng kế hoạch và phương thức quản lý cắt điện, sửa chữa một cách

khoa học và phù hợp với thực tế hơn nữa để nâng cao hiệu quả công tác quản lý vận

hành của mình.

c. Tổn thất điện năng

Qua báo cáo tổng kết công tác SXKD ta thấy tỷ lệ tổn thất điện năng của

Công ty điện lực Ứng Hòa như sau:

Bảng 2.11 Tỷ lệ tổn thất điện năng Công ty điện lực Ứng Hòa

Năm Năm So sánh Năm So sánh

2011 2012 2012/2011 2013 2013/2012

Kế hoạch 11,9 10,22 (1.66) 8,41 (1,81)

Thực hiện 10,79 9,6 (1.19) 7,66 (1,94)

Tỷ lệ TH/KH (%) (1,11) (0,62) (0.75)

(Nguồn: Báo cáo hàng năm của Công ty điện lực Ứng Hòa)

59

Giảm tổn thất điện năng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của ngành điện.

Nếu giảm được tổn thất điện năng thì kinh doanh điện năng mới có hiệu quả và đời

sống CBCNV mới được nâng cao. Tổn thất điện năng có xu hướng giảm qua các

năm và hoàn thành kế hoạch đề ra. Đến năm 2013 tỷ lệ tổn thất điện năng thực hiện

7,66%, so với năm 2012 giảm 1,94%, so với kế hoạch giảm 0,75%. Kết quả này cho

thấy nỗ lực của Công ty điện lực Ứng Hòa trong công tác giảm tỷ lệ tổn thất điện

năng là rất lớn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác vận hành lưới điện của công

ty.

Tỷ lệ tổn thất điện năng tại Công ty điện lực Ứng Hòa chủ yếu do lưới hạ thế

là chính, năm 2013 tỷ tổn thất lưới điện hạ thế là 9,2%; tỷ lệ tổn thất các đường dây

trung áp gần tiệm cận với tổn thất kỹ thuật: tổn thất các đường dây trung áp 35 KV

chỉ 2-3%, tổn thất các đường dây 10KV khoảng 9-10%. Tuy tỷ lệ tổn thất qua các

năm có giảm nhưng so với tổn thất kỹ thuật tính toán thì còn rất cao.

Bảng 2.12 Bảng tổng hợp tổn thất lưới điện hạ thế điển hình năm 2013

TỔNG HỢP TỔN THẤT LƯỚI ĐIỆN HẠ THẾ CỦA CÁC ĐỘI QUẢN LÝ ĐIỆN

Kết quả thực hiện chỉ tiêu tổn thất điện năng (%)

Tên

Đánh

Quý I

Quý II

Quý III

Quý IV

Cả năm

đội

giá

Thực

So

Thực

So

Thực

So

Thực

So

Thực

So

KH

KH

KH

KH

KH

hiện

sánh

hiện

sánh

hiện

sánh

hiện

sánh

hiện

sánh

-0.45 7.61

8.44 0.83

8.02

8.43

0.41

7.86

7.78

-0.08 8.18 8.17

Đội 1 8.57 8.12

-0.01 Đạt

9.5

8.12 -1.38 8.01

7.75

-0.26

7.39

7.17

-0.22 8.52 8.44

Đội 2 9.62 10.94 1.32

-0.08 Đạt

-0.16 8.14

8.48 0.34

8.18

8.10

-0.08

7.86

6.94

-0.92 8.12 8.05

Đội 3 8.75 8.59

-0.07 Đạt

(Nguồn: Phòng Kinh doanh Công ty điện lực Ứng Hòa)

60

Bảng 2.13 Tỷ lệ tổn thất điện năng chi tiết theo nguyên nhân

Nguyên nhân tổn thất Tỷ lệ tổn thất (%) TT

1 4,34 Tổn thất kỹ thuật

3,32 Tổn thất thương mại:

0,15 Khách hàng lấy cắp điện

2,67 2 Thiết bị đo đếm

0,3 Ghi sai chỉ số

0,2 Các nguyên nhân khác

7,66 3 Tổng

(Nguồn: Phòng Kinh doanh Công ty điện lực Ứng Hòa)

Nguyên nhân gây ra tổn thất đó chính là các sự cố đường dây trung thế, hạ

thế, máy biến áp còn nhiều. Hiện nay, chất lượng của các đường dây lưới điện của

Công ty, nhất là lưới điện hạ thế đã xuống cấp, nhiều năm chưa được cải tạo, hệ

thống công tơ không được kiểm định, thay thế kịp thời. Một số đường dây đã bị

xuống cấp nhưng còn phải chuyên tải hộ như lộ 377, 375, 374 E10.2, các đường dây

này thường xuyên vận hành ở chế độ đầy và quá tải. Tình trạng câu móc trộm vẫn

còn diễn ra phức tạp. Hiện nay Công ty cần tính toán hiệu suất khu vực trung và hạ

thế nhằm phân nhỏ vùng có khả năng gây ra tổn thất cao.

Vấn đề nguồn nhân lực thiếu cả về số lượng lẫn người có đủ trình độ quản lý

nên việc sử dụng gặp nhiều khó khăn. Việc tính toán hiệu suất khu vực hạ thế: cập

nhật chỉ số vào phân hệ quản lý tổn thất; tính toán lượng điện năng tăng giảm do cắt

điện; san tải lưới điện; truy thu do ghi sai chỉ số, do công tơ kẹt, chết, cháy; cập nhật

biến động khách hàng trong CMIS để tính toán hiệu suất khu vực hạ thế. Từ kết quả

phân tích những khu vực có tổn thất cao bất thường, tùy theo đặc điểm của từng khu

vực mà đưa ra những biện pháp giảm tổn thất phù hợp để nâng cao hiệu quả công

tác giảm tổn thất.

Việc giảm tổn thất điện năng có ý nghĩa rất lớn đối với toàn xã hội từ Nhà

nước đến ngành điện. Tổn thất điện năng chính là một bộ phận cấu thành nên chi

phí sản phẩm, khi tỷ lệ tổn thất cao tất yếu sẽ dẫn đến giá thành điện cao. Do đó,

61

việc giảm tỷ lệ tổn thất điện năng là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý vận hành

điện của các Công ty điện lực. Với các tỉ lệ tổn thất điện năng qua các năm giảm so

với năm trước cho thấy Công ty điện lực Ứng Hòa đã từng bước làm tốt vai trò

quản lý vận hành lưới điện của mình.

2.6.2 Chỉ tiêu kinh tế

Đánh giá công tác vận hành lưới điện bằng chỉ tiêu kinh tế được thực hiện

thông qua hai chỉ tiêu: vốn đầu tư và chi phí vận hành.

Theo Quy chế hiện nay, Công ty điện lực Ứng Hòa được Tổng Công ty Điện

lực Thành phố Hà Nội giao hạn mức vốn khấu hao cơ bản và vốn sửa chữa lớn lưới

điện theo định mức tương ứng với khối lượng tài sản điện lực quản lý.

Qua bảng 2.3 về kế hoạch đầu tư phát triển, cải tạo sửa chữa lưới điện, ta

nhận thấy như sau:

Về chi phí vận hành trong năm 2013, tổng chi phí cho các công trình đầu tư

xây dựng, sửa chữa, sửa chữa thường xuyên của Công ty điện lực Ứng Hòa hết

28.59 tỷ đồng, trong đó: Vốn chi đầu tư XDCB là 11,57 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 40,5%;

sửa chữa lớn là 13,7 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 47,9% , còn lại là chi phí sửa chữa thường

xuyên với số tiền là 3,39 tỷ đồng.

Như vậy, việc quản lý vận hành lưới điện của Công ty điện lực ứng Hòa khá

tốt với một khoản vốn đầu tư và chi phí thấp nhất. Việc sửa chữa kịp thời lưới điện

hư hỏng, đảm bảo an toàn vận hành cung cấp điện với chi phí hợp lí đã góp phần

giảm tổn thất điện năng, giảm suất sự cố, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

của đơn vị. Mặc dù vậy hoạt động đầu tư vẫn chưa thực sự đem lại kết quả như kế

hoạch đã đề ra khi tỉ lệ tổn thất điện năng vẫn còn cao nhưng vẫn đảm bảo được tính

an toàn và chất lượng điện tốt nhất trong phạm vi thông số cho phép trong suốt quá

trình vận hành lưới điện đến khách hàng sử dụng điện.

Công tác vận hành lưới điện của Công ty điện lực Ứng Hòa còn được ghi

nhận thông qua kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty. Trong năm 2013 Công

ty quản lý bán điện trực tiếp cho 64.551 khách hàng, trong đó: 58.872 hộ sinh hoạt

gia đình và 5.679 khách hàng là các cơ quan, doanh nghiệp.

62

Bảng 2.14 Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2013

Kế hoạch So sánh TH/KH Thực TT Hạng mục Đơn vị Giao điều Giao điều hiện Giao Giao chỉnh chỉnh

Điện thương Tr.kWh 126 136.27 137.026 108.75% 100,55% 1 phẩm

2 Giá bán điện đ/kWh 1.379,8 1.390,5 1.392,1 12.3 1.6

Tỷ Doanh thu 173.8 190.5 190.7 16.9 0.2 3 đồng tiền điện

Nộp ngân Tr.đồng 448.604 4 sách NN

(Nguồn: Phòng Kinh doanh Công ty điện lực Ứng Hòa)

Năm 2013, Công ty đã hoàn thành tương đối tốt các chỉ tiêu SXKD so với kế

hoạch Tổng Công ty giao. Sản lượng điện thương phẩm năm 2013 đạt 137.026 triệu

kwh, tăng 8.75% so với kế hoạch giao ban đầu và tăng 0,55% so với kế hoạch điều

chỉnh. Số tiền nộp ngân sách nhà nước đạt 448.604 triệu đồng.

Sản lượng điện thương phẩm liên tục tăng qua các năm. Năm 2012, sản

lượng điện tăng 15,1% so với năm 2011 (tức tăng 17.440 trkw) và năm 2013 đã

tăng thêm 4.216 trkh.

Bảng 2.15 Kết quả kinh doanh qua các năm 2011 - 2013

Số lượng Sản lượng tiêu thụ Giá bán Doanh thu Năm khách hàng (Tr.kWh) bình quân (Tỷ VNĐ)

2011 60.839 115.370 1.213,43 139.9

2012 61.948 132.810 1.350,15 179.3

(Nguồn: Phòng kinh doanh Công ty điện lực Ứng Hòa)

2013 64.551 137.026 1.392,1 190.7

Ngoài ra, giá bán điện bình quân của Công ty điện lực Ứng Hòa đạt 1.329

đ/kwh, tăng 41,95 đ/kwh so với năm 2012, tăng 178,67 đ/kWh so với năm 2011.

63

Công ty đã thực hiện nghiêm túc việc áp giá bán điện theo đúng quy định của Chính

phủ, áp giá đúng đối tượng, đúng mục đích sử dụng điện của khách hàng do vậy đã

nhận được đánh giá tích cực từ phía khách hàng và các cơ quan hữu quan.

Có thể nói, nhờ công tác vận hành lưới điện được thực hiện tốt, đảm bảo

cung cấp điện liên tục, ổn định, hạn chế tối đa xảy ra sự cố do chủ quan… đã góp

phần đẩy mạnh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh điện trong thời gian qua của

Công ty điện lực Ứng Hòa.

2.7 Đánh giá công tác quản lý vận hành lưới điện tại Công ty điện lực

Ứng Hòa

2.7.1 Thành tựu đạt được

Công tác quản lý vận hành lưới điện của Công ty điện lực Ứng Hòa trong

những năm qua không ngừng được đẩy mạnh và đã đạt được thành tựu nhất định:

1. Công ty đã tiến hành lập kế hoạch vận hành lưới điện theo đúng quy trình

và quy định của EVN. Việc lập kế hoạch được thực hiện chi tiết theo từng tuần,

tháng, quý và năm với những chỉ tiêu quan trọng như kế hoạch sửa chữa thường

xuyên, kế hoạch sửa chữa TSCĐ; kế hoạch đầu tư xây dựng, …giúp từng bộ phận,

cán bộ công nhân viên theo sát được mục tiêu đề ra của công ty.

2. Cơ cấu tổ chức quản lý phù hợp với tình hình hoạt đông của Công ty cũng

như theo mô hình chung của ngành điện lực. Thực hiện cơ chế quản lý phân cấp có

hiệu quả, đồng thời tăng cường trách nhiệm của các từng cá nhân trong quản lý kinh

doanh.

3. Chú trọng công tác kiểm tra, đánh giá điều chỉnh kịp thời công tác vận

hành lưới điện.

4. Chú trọng các giải pháp kỹ thuật tăng cường đầu tư cải tạo hệ thống trạm

biến áp, lưới điện. Nhờ đó sản lượng điện tiêu thụ tăng nhanh qua các năm, giảm

dần tổn thất điện năng do nguyên nhân lạc hậu kỹ thuật gây ra. Cùng với quá trình

đầu tư, nâng cấp cải tạo lưới điện là quá trình tăng cường bồi huấn quản lý kỹ thuật,

giảm các sự cố kỹ thuật và nhanh chóng khắc phục khi có sự cố xảy ra.

64

Nhìn chung Công tác quản lý, chỉ huy điều độ lưới điện phân phối đã được

thực hiện tốt, đảm bảo cung cấp điện liên tục, ổn định, không để xảy ra sự cố nào do

chủ quan; chỉ huy thao tác, xử lý sự cố đúng quy trình, quy phạm, an toàn và khẩn

trương; Thời gian mất điện trong thao tác và xử lý sự cố đã giảm so với năm 2012.

2.7.2 Hạn chế và nguyên nhân

Trong những năm qua, bên cạnh những thành tựu đạt được thì công tác vận

hành lưới điện của Công ty còn rất nhiều tồn tại cần khắc phục:

1. Công tác lập kế hoạch vận hành lưới điện

Công tác lập kế hoạch năm, tháng, tuần, ngày của Công ty điện lực Ứng Hòa

chưa đánh giá được đầy đủ tình hình vận hành điện và chưa được công bố rộng rãi

trên trang thông tin Công ty. Việc lập kế hoạch cần có nguồn dữ liệu đầu vào là kết

quả thực hiện các công tác vận hành lưới điện từ những tháng, quý, năm trước đó.

Tuy nhiên hiện nay, Công ty điện lực Ứng Hòa chưa quản lý được hệ thống thông

tin lưới điện chính xác, cập nhật thông tin lưới điện hoàn toàn thủ công, tốn kém

nhiều nguồn lực cho công tác này.

2. Công tác tổ chức vận hành lưới điện

Mạng lưới công nhân vận hành lưới điện còn hạn chế về tầm nhìn, tính phối

hợp giữa các bộ phận chưa cao. Thời gian chờ xử lý giữa các bộ phận còn lâu. Các

cán bộ quản lý chưa thực sự cương quyết xử lý nghiêm minh các lỗi sai phạm của

CBCNV. Quản lý còn lỏng lẻo, chưa thực hiện đầy đủ các quy trình, quy phạm gián

tiếp dẫn đến cán bộ công nhân viên cấp dưới thực hiện công việc dẫn đến nhiều sai

phạm. Trong khi đó, lại có rất nhiều quy định giấy tờ không cần thiết. Công tác

kiểm tra các thiết bị ĐDK, TBA biên bản nội dung biên bản còn sơ sài chưa thực sự

phản ánh các tồn tại thực tế. Ngoài ra, công ty chưa chú trọng việc đào tạo bồi

dưỡng nghiệp vụ cho nhân viên để nâng cao tay nghề cũng như tinh thần trách

nhiệm trong công việc.

3. Chất lượng hiện trạng lưới điện phân phối

Nhiều thiết bị trên lưới điện sử dụng đã nhiều năm không được bảo dưỡng

định kỳ do vậy chất lượng vận hành không đảm bảo nhưng vẫn chưa được thay thế.

65

Thiết bị mới đưa vào vận hành nhưng không đáp ứng được điều kiện vận hành, chất

lượng không đảm bảo. Lắp đặt thiết bị đóng cắt không phù hợp về vị trí, chủng loại

làm cho việc chuyên tải, vận hành lưới điện không linh hoạt, thời gian sự cố kéo

dài, khả năng cung cấp điện không cao. Lưới điện trung thế của điện lực gần như

100% là đường dây nổi trên không do đó thường xảy ra sự cố do chạm chập, sự cố

lưới điện, hư hỏng vật tư thiết bị trên lưới điện, lưới điện hình tia do vậy việc liên

kết, hỗ trợ cho nhau không tốt. Mật độ trạm biến áp công cộng nhỏ, bán kính cấp

điện từ các trạm biến áp đến khách điện dài, có những nơi lên đến 2,7km. Do bán

kính cấp điện hạ thế lớn nên chất lượng điện áp chưa được đảm bảo.

Các chỉ tiêu an toàn lưới điện và độ tin cậy lưới điện còn thấp. Ngoài nguyên

nhân khách quan do ảnh hưởng của thời tiết, điều kiện kinh tế - xã hội thì còn có

các nguyên nhân chủ quan từ phía Công ty như chưa tuân theo đúng quy trình, quy

định; việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch còn yếu kém….

Tổn thất điện năng hiện nay đã giảm nhưng còn ở mức cao, tình trạng mất an

toàn hành lang lưới điện, ăn cắp móc trộm điện vẫn còn tiếp diễn.

4. Công tác kiểm tra, đánh giá điều chỉnh vận hành lưới điện

Hiện nay việc kiểm tra lưới điện chỉ có thể thực hiện kiểm tra trực quan bằng

mắt chứ không có thiết bị hiện đại hỗ trợ cũng như ghi chép các thông tin lưới điện

vào giấy mà không có thiết bị kỹ thuật số nào để cập nhật, do đó các thông tin về

hiện trạng lưới không được ghi chép cập nhật đầy đủ, các thông tin báo cáo chuyển

về Phòng kỹ thuật và an toàn của Công ty còn rất sơ sài, mang tính đối phó, số

lượng các kiến nghị đề xuất giải pháp từ phía công nhân vận hành trực tiếp là rất

hạn chế.

Quy định về việc kiểm tra lưới điện của Công ty hết sức chặt chẽ và kỹ

lưỡng từ nội dung kiểm tra cho đến định kỳ. Tuy nhiên để thực hiện đầy đủ và đúng

quy định thì cần rất nhiều nhân lực, trong khi đó việc đảm bảo đủ nhân lực có trình

độ để có thể kiểm tra, xử lý kịp thời các sự cố trong ca trực còn nhiều khó khăn.

66

CHƯƠNG III. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC

QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI

CỦA CÔNG TY ĐIỆN LỰC ỨNG HÒA

67

3.1 Định hướng phát triển của Công ty điện lực Ứng Hòa

3.1.1 Mục tiêu phát triển của Công ty điện lực Ứng Hòa trong những năm

tiếp theo

Những năm tới được dự đoán nền kinh tế chưa thoát khỏi tình trạng suy thoái

như hiện nay, do vậy sẽ là một năm khó khăn thách thức với đối với ngành điện nói

chung và Công ty điện lực Ứng Hòa nói riêng.

Với đặc điểm tình hình khó khăn trong những năm tới, Công ty cần xác định

mục tiêu như sau:

Mục tiêu thứ nhất: Công tác vận hành lưới điện

(cid:190) Thực hiện tốt các chỉ tiêu độ tin cậy lưới điện SAIDI, SAIFI, MAIFI

Tổng công ty điện lực TP Hà Nội giao. Giảm về tiệm cận với các nước trong khu

vực Đông Nam Á.

(cid:190) Giảm số vụ vi phạm hành lang lưới điện cao áp: trung bình mỗi năm

giảm 20% số vụ/ tổng số vụ hiện có, tuyệt đối không phát sinh vụ mới.

(cid:190) Đảm bảo điện cho các sự kiện chính trị, xã hội, văn hóa trên địa bàn, đảm

bảo điện cho bơm nước tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông

thôn.

(cid:190) Tiếp tục cải thiện chất lượng điện năng, từng bước đảm bảo cấp điện phát

triển chuyển đổi sản xuất trang trại, chung tay xây dựng nông thôn mới

Mục tiêu thứ hai: Thực hiện chỉ tiêu KTKT và thu nhập

(cid:190) Điện thương phẩm: đảm bảo tốc độ tăng trưởng trung bình 12-16%/năm,

cụ thể năm 2014 cần tăng thương phẩm lên 152 triệu kWh.

(cid:190) Tổn thất điện năng: Giảm tổn thất điện năng lưới điện trung hạ áp về tiệm

cận biên độ của tổn thất kỹ thuật, tổn thất thương mại là nhỏ nhất. Đối với đường

dây trung áp 35KV: tổn thất từ 1-1.5% ; đường dây 10, 22KV: tổn thất từ 2.5-4% ;

tổn thất lưới điện hạ áp từ 5-6% ; cụ thể trong năm 2014 cần giảm tổn thất của Công

ty về mức 7,43%, giảm 0.23% so với 2013

68

(cid:190) Giá bán điện bình quân: Thực hiện bằng và cao hơn giá bán điện Tổng

công ty giao, tính toán hợp lý giá bán điện bình quân theo 3 giá, cụ thể năm 2014

giá bán điện đạt 1449,34 đ/kWh

(cid:190) Tiết kiệm điện năng: hàng năm tiết giảm từ 2-2,5% tổng điện năng tiêu

thụ của năm, năm 2014 tiết giảm 3,8 triệu kWh tương ứng 2,5%

Mục tiêu thứ 3: Tiếp tục thực hiện đề án nâng cáo chất lượng dịch vụ

khách hàng gắn với cải cách thủ tục hành chính

(cid:190) Thực hiện có hiệu quả hơn, thực chất hơn nội dung đề án nâng cao chất

lượng dịch vụ khách hàng.

(cid:190) Tiếp tục nghiên cứu phân công, phân cấp, hoàn thiện mô hình quản lý.

(cid:190) Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy chế, quy định nội bộ, tăng cường công

tác kiểm tra, có hình thức khen thưởng kỷ luật trong công tác kinh doanh, vận hành.

Mục tiêu thứ 4: Thực hiện tiêu chí quản trị doanh nghiệp

(cid:190) Bám sát tiêu chí, chỉ tiêu Tổng Công ty giao về quản trị doanh nghiệp,

phân công cán bộ theo dõi, tham mưu tốt cho Công ty.

(cid:190) Phấn đấu thực hiện năng suất lao động

(cid:190) Thực hiện bảo toàn vốn, trích khấu hao và không vượt chi phí Tổng Công

ty giao.

3.1.2 Phương hướng, nhiệm vụ

(cid:153) Nâng cao ý thức toàn thể CBCNV-LĐ trong Công ty về việc thực hiện

Văn hóa doanh nghiệp; thực hiện nghiêm túc kỷ luật lao động; tuân thủ đúng quy

định của ngành và Pháp luật của Nhà nước.

(cid:153) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về mọi mặt tại các đơn vị đặc biệt

là công tác quản lý kỹ thuật vận hành; đảm bảo an toàn tuyệt đối về con người và

thiết bị, không để xảy ra sự cố chủ quan, giảm thiểu tối đa sự cố khách quan; thực

hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Tổng công ty về công tác "An toàn lao

động ".

(cid:153) Đôn đốc các nhà thầu thi công xây dựng các gói thầu bảo đảm chất

lượng, tiến độ, kế hoạch giải ngân theo đúng kế hoạch được duyệt.

69

(cid:153) Tập trung chỉ đạo các đơn vị thực hiện chương trình giảm tổn thất điện

năng theo kế hoạch đảm bảo chỉ tiêu giao.

(cid:153) Tổ chức, bố trí, sắp xếp lao động hợp lý, thực hiện luân chuyển cán bộ để

phát huy điểm mạnh của các cá nhân nhằm tiết kiệm lao động để tăng năng suất lao

động và tăng thu nhập cho người lao động.

(cid:153) Tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng như: lắp đặt công tơ,

khắc phụ sự cố, thái độ giao tiếp...

(cid:153) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý kỹ thuật,

kinh doanh điện năng đảm bảo nâng cao độ chính xác, nhanh chóng, thuận tiện, tiết

kiệm chi phí và hiệu quả.

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới điện

phân phối của Công ty điện lực Ứng Hòa

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch vận hành lưới điện

3.2.1.1 Căn cứ đề xuất giải pháp

- Hiện nay công tác lập kế hoạch của Công ty điện lực Ứng Hòa chưa thật sự

theo sát thực tế, chưa đánh giá được đầy đủ tình hình vận hành điện và công tác

truyền tải thông tin theo yêu cầu.

- Công tác lập kế hoạch còn mang tính chung chung, chưa cụ thể

- Năng lực, trình độ hiện tại của CBCNV trong Công ty

3.2.1.2 Nội dung giải pháp:

- Việc lập kế hoạch vận hàng lưới điện phải dựa trên số liệu đầu vào như:

nhu cầu phụ tải điện năm tới, kế hoạch phát triển lưới điện năm tới, kế hoạch bảo

dưỡng, sữa chữa lưới điện, các thông số kỹ thuật của đường dây và trạm biến áp,

các thông số ràng buộc về hợp đồng mua bán điện… Theo quy định, trước ngày 01

tháng 12 hàng năm, Đơn vị phân phối điện có trách nhiệm hoàn thành kế hoạch vận

hành năm tới và công bố trên trang thông tin điện tử của đơn vị đồng thời thông báo

kế hoạch vận hành năm tới của lưới điện, các công trình đấu nối vào lưới điện phân

phối và các Đơn vị phân phối điện khác có liên quan để phối hợp thực hiện.

70

Công ty điện lực Ứng Hòa cần phải quán triệt công tác tổ chức kế hoạch

trong doanh nghiệp để làm cho kế hoạch trở thành công cụ hiệu quả nhất để điều

hành hoạt động vận hành điện năng. Công tác kế hoạch hóa doanh nghiệp đòi hỏi sự

tham gia không chỉ của các nhà kế hoạch mà còn là công việc của các nhà lãnh đạo

doanh nghiệp, các phòng ban chức năng và sẽ tốt hơn nếu lôi kéo được sự tham gia

của người lao động vào việc thảo luận và soạn lập cũng như tổ chức thực hiện kế

hoạch. Cụ thể như sau:

a. Ban Giám đốc

Đối với công tác kế hoạch hóa, Ban giám đốc là những người thiết kế quá

trình kế hoạch hóa, phải làm cho kế hoạch dễ tiếp cận và dễ hiểu cho mọi thành viên

của Công ty, lôi kéo mọi người lao động vào công việc này.

Trong nội dung của quy trình lập kế hoạch, Ban giám đốc có nhiệm vụ soạn

lập chiến lược doanh nghiệp, ra các quyết định về kế hoạch hóa chiến lược. Ban

giám đốc phải xác định các mục tiêu phát triển chung của Công ty và các giải pháp

chính sách cơ bản để đạt được các mục tiêu chung đó. Để thực hiện chức năng của

mình, yêu cầu ban giám đốc phải có khả năng phân tích và hiểu biết rộng rãi trong

lĩnh vực này.

b. Các phòng ban chức năng

Hiện nay, số lượng các phòng ban chức năng được tổ chức tương đối phù

hợp với quy mô và tính chất hoạt động của ngành điện lực, chức năng và nhiệm vụ

của mỗi phòng ban được phân bổ rõ ràng. Trong quy trình soạn lập kế hoạch, lãnh

đạo và chuyên viên các phòng ban chịu trách nhiệm xây dựng các kế hoạch tác

nghiệp cũng như đề xuất các chính sách, giải pháp cần thiết theo chức năng quản lý

của mình nhằm thực hiện các kế hoạch chức năng một cách có hiệu quả. Để thực

hiện hoạt động trên, các chuyên viên, cán bộ phòng ban chức năng cần phải thực

hiện phân tích, soạn lập các dự án, tham gia đánh giá và xét duyệt các phương án

chiến lược đề ra cho Công ty.

c. Phòng Kế hoạch và vật tư của Công ty điện lực Ứng Hòa

71

Đây là bộ phận chính thực hiện công tác soạn lập và theo dõi thực hiện kế

hoạch. Trong công tác kế hoạch hóa, vai trò của Phòng Kế hoạch và vật tư thể hiện

trong những chức năng cụ thể sau:

- Tư vấn, cố vấn việc soạn thảo chiến lược kinh doanh, làm sáng tỏ những

mục tiêu của doanh nghiệp, thảo luận cùng Ban giám đốc của Công ty điện lực Ứng

Hòa để họ quyết định chiến lược kinh doanh.

- Phòng kế hoạch và vật tư thực hiện cung cấp thông tin có giá trị, chính xác

cho các chuyên viên chức năng của các phòng ban và cùng với các phòng ban phối

hợp trong việc thực hiện, giám sát và đánh giá công tác thực hiện kế hoạch.

- Tư vấn về kỹ thuật lập, quản lý, tổ chức thực hiện, theo dõi và kiểm tra,

đánh giá kế hoạch; tiến hành phổ biến những phương pháp kế hoạch hóa một cách

đúng đắn và khoa học.

- Tổ chức các khóa học cần thiết cho những người tham gia vào công tác kế

hoạch hóa.

Để thực hiện tốt chức năng của mình, cán bộ Phòng Kế hoạch và vật tư của

Công ty cần được đào tạo và tuyển chọn để có những phẩm chất nhất định. Đó là:

- Là nhà lý luận tốt, có tính chất của nhà ngoại giao.

- Có chuyên môn về kế hoạch sâu, biết sử dụng hiểu biết của mình vào việc

soạn thảo kế hoạch, chính sách và tổ chức điều hành công tác kế hoạch hóa trong

doanh nghiệp.

- Có khả năng giao tiếp ở mức độ chuyên nghiệp với các chuyên viên,

chuyên gia ở các chuyên môn chức năng khác nhau như: tài chính, hành chính,…

- Có kinh nghiệm lãnh đạo.

- Là người hiểu biết sâu rộng tất cả các mối quan hệ: kinh doanh, kỹ thuật, kể

cả chính trị - xã hội.

3.1.2.3 Hiệu quả của giải pháp mang lại

- Công tác lập kế hoạch được chi tiết, cụ thể hoá

- Làm rõ được chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong Công ty

72

- Ban giám đốc xác định các mục tiêu phát triển chung của Công ty và các

giải pháp chính sách cơ bản để đạt được các mục tiêu.

- Các phòng ban chức năng cùng cán bộ công nhân viên có cơ hội được tham

gia đóng góp vào công tác lập kế hoạch của Công ty.

- Khi Kế hoạch ban hành nhận được sự ủng hộ của CBCNV trong Công ty.

- Xây dựng, định hình được đội ngũ cán bộ có chuyên môn hoá, có trình độ

hiểu biết sâu rộng trong công tác lập kế hoạch, đáp ứng được nhu cầu công việc

trong tương lai.

3.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức vận hành lưới điện

3.2.2.1 Căn cứ đề xuất giải pháp

- Việc phân cấp giữa các đơn vị trong Công ty nhiều khi chưa rõ ràng

- Công tác kiểm tra của CBCNV còn mang nặng tính hình thức, mang tính

chất đối phó, chất lượng kiểm tra chưa cao

- Phân công công việc chưa đúng người đúng việc

- Công tác phối hợp giữa các đơn vị chưa thật nhịp nhàng, ăn khớp với nhau

- Việc áp dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý vận hành chưa thực

hiện làm cho việc kiểm tra, cặp nhặt thông tin không chính xác, kịp thời.

- Khả năng làm việc của thiết bị điện chưa được tối ưu hoá, chưa tạo niềm tin

tốt cho khách hàng sử dụng điện

3.2.2.2 Nội dung giải pháp

- Phân cấp quản lý, giao quyền và trách nhiệm rõ ràng cho các bộ phận liên

quan để tăng cường hoạt động vận hành mạng lưới có hiệu quả

Hiện nay ở Công ty điện lực Ứng Hòa, công tác vận hành lưới điện do Phòng

kỹ thuật & an toàn, Phòng điều độ vận hành chịu trách nhiệm chính. Bên cạnh đó,

còn có sự phối hợp của các bộ phận khác như vật tư, các đội quản lý điện, đội đại tu

xây lắp… Với hình thức này thì rất khó để có thể đẩy mạnh công tác quản lý vận

hành điện năng thông qua việc tăng cường số lần kiểm soát, quản lý và xử lý các

hành vi cố tình vi phạm.

73

Xuất phát từ đặc thù của công tác quản lý vận hành điện là số lượng đường

dây lớn và trải dài, việc mua bán điện diễn ra đồng thời và ở nhiều nơi nên ban lãnh

đạo của Công ty điện lực Ứng Hòa phải quan sát toàn diện, phải thường xuyên kiểm

tra và nắm vững tình hình tiêu thụ của khách hàng, mục đích sử dụng, mức tiêu thụ

điện vận hành hàng ngày,... thông qua việc giao quyền hạn và trách nhiệm cho các

bộ phận liên quan quản lý về các mặt sau đây:

(cid:153) Giao Phòng Kỹ thuật tính toán tổn thất kỹ thuật, giao chỉ tiêu tổn thất cho

các Đội quản lý nhằm quản lý chặt chẽ trong công tác nâng cao chất lượng điện và

giảm tổn thất điện năng trên lưới. Tổ chức kiểm tra và tham mưu đề xuất trong công

tác đầu tư, cải tạo lưới điện.

(cid:153) Giao Phòng điều độ phối hợp với Đội quản lý điện trong quản lý vận

hành thống nhất hệ thống lưới điện trên địa bàn chặt chẽ, cố gắng khai thác đường

dây trạm nhiều giờ nhất trong ngày.

(cid:153) Giao Phòng kinh doanh cải cách về thủ tục hành chính, đơn giản hoá thủ

tục mua bán điện, đảm bảo tiến độ thay công tơ định kỳ, đẩy mạnh việc thay công

tơ cơ khí sang công tơ điện tử.

(cid:153) Giao Đội kiểm tra giám sát sử dụng điện lập kế hoạch kiểm tra giám sát

thường xuyên, ngày đêm tránh tình trạng câu móc, tác động vào hệ thống đo đếm

điện năng làm sai lệch đo đếm, kiểm tra chống thất thoát điện năng phi kỹ thuật trên

lưới điện.

(cid:153) Giao các Đội quản lý điện tăng cường công tác quản lý đường dây và

trạm biến áp, kiểm tra công tác ghi chỉ số công tơ của khách hàng cũng như chỉ số

công tơ tại các trạm để ngăn chặn, những hành vi cố tình ghi sai chỉ số, thường

xuyên kiểm tra công suất sử dụng của khách hàng với công suất đăng ký để kịp thời

thay thế, điều chỉnh cho phù hợp.

Hàng tháng, Công ty điện lực Ứng Hòa tiếp tục thực hiện giao các chỉ tiêu

cho các đơn vị có gắn trách nhiệm và quyền lợi, từ đó góp phần làm cho các Đội

quản lý điện có trách nhiệm hơn trong hoạt động vận hành lưới điện của mình.

- Sử dụng các công nghệ mới trong công tác vận hành lưới điện

74

Mạng lưới vận hành lưới điện còn hạn chế về tầm nhìn, tính phối hợp giữa

các bộ phận chưa cao. Thời gian chờ xử lý giữa các bộ phận còn lâu. Trong khi đó,

lại có rất nhiều quy định giấy tờ không cần thiết. Để giảm thiểu hạn chế từ việc phối

hợp thủ công giữa các phòng ban, Công ty điện lực Ứng Hòa có thể các công nghệ,

phần mềm quản lý vận hành lưới điện để hiện đại hóa công tác vận hành của đơn vị.

Công ty điện lực Ứng Hòa có thể sử dụng chương trình Mô hình hóa lưới

điện của Công ty Công nghệ Thông tin Điện lực miền Nam đang được triển khai

ứng dụng tại một số các điện lực khác như: Tiền Giang, Đồng Nai, Long An, Tây

Ninh…Nội dung của chương trình Mô hình hóa lưới điện sẽ phục vụ cho công tác

quản lý vận hành lưới điện và công tác dịch vụ khách hàng.

Hình 3.1 Mô hình hóa lưới điện

(Nguồn: Công ty Công nghệ Thông tin Điện lực miền Nam)

Hệ thống có khả năng liên kết dữ liệu với chương trình quản lý khách hàng

(CMIS) và chương trình Thông tin DVKH 22kV đang vận hành tại các Công ty

Điện lực.

Chương trình gồm có các module:

a. Module Vận hành

Cho phép nhân viên vận hành lưới điện ghi nhận các thao tác đóng cắt điện

tại các điểm thực tế dựa trên sơ đồ lưới điện đã được mô hình hóa của chương trình,

máy tính sẽ ghi nhận lại các thời điểm đóng cắt thực tế và so sánh với lịch đã được

lập.

75

Sau khi thực hiện các thao tác vận hành trên sơ đồ lưới, tình trạng lưới điện

vận hành được thể hiện một cách trực quan về: tình trạng nhánh có điện/ mất điện,

TBA có điện/ mất điện, tình trạng đóng/ mở của các thiết bị đóng cắt trên lưới.

b. Module Lập lịch

Cho phép người dùng lập lịch cắt điện cho Điện lực, giả lập các phương án

cắt điện, tiên lượng nhánh rẽ, trạm mất điện, số khách hàng bị mất điện, sản lượng

tiết giảm…

Hình 3.2 Module lập lịch

(Nguồn: Công ty Công nghệ Thông tin Điện lực miền Nam)

c. Module Cập nhật lưới điện

Bao gồm các chức năng:

(cid:190) Cập nhật lưới điện:

Cho phép người dùng cập nhật dữ liệu trạng thái cho sơ đồ lưới điện, bao gồm: Cập

nhật nhánh, Cập nhật kết nối và các thiết bị, Vẽ nhánh…

Ngoài ra, chương trình còn cho cập nhật lưới điện trên sơ đồ địa lý (GIS): cập nhật

đường dây, các trạm thuộc đường dây trên bản đồ địa lý (GIS) với mục đích xem

được lưới điện vận hành trên bản đồ địa lý sau này.

(cid:190) Cập nhật địa dư cho trạm

76

Cho phép người dùng cập nhật thông tin địa dư (khu phố, phường/xã, huyện)

cho từng trạm biến áp, phục vụ cho công tác in thông báo tình hình ngưng cung cấp

điện của các Điện lực và Công ty Điện lực.

Hình 3.3 Module Cập nhật lưới điện

(Nguồn: Công ty Công nghệ Thông tin Điện lực miền Nam)

d. Module Các tiện ích

Xem lịch cắt điện: cho phép thực hiện các công tác sau: Xem /In lịch cắt điện

theo ngày của từng Điện lực, bao gồm các thông tin: Ngày cắt điện, thời gian cắt

điện, khu vực cắt điện. In thông báo về việc tạm ngừng cung cấp điện của Công ty

Điện lực. Xuất danh sách lịch cắt điện, trạm mất điện, khách hàng mất điện dưới

dạng file Excel.

Xem danh sách khách hàng quan trọng để gửi mail, văn bản, SMS hoặc điện

thoại thông báo.

Xem DVKH 22KV: Cho phép người dùng xem các thông tin Dịch vụ khách

hàng 22KV.

Khách hàng tra cứu lịch cắt điện: Cho phép tra cứu lịch cắt điện của từng

khách hàng trong tương lai, dựa trên các thông tin liên quan đến khách hàng.

77

Lịch sử KH mất điện: Cho phép người dùng tra cứu lịch sử khách hàng đã

được cắt điện trong thực tế, dựa trên các thông tin liên quan về khách hàng.

Lịch sử trạm mất điện: Cho phép người dùng tra cứu lịch sử các trạm đã

được cắt điện trong thực tế.

Xem lưới điện dạng cây: Cho phép người dùng Xem sơ đồ lưới điện dưới

dạng cây, gồm các nhánh, các trạm thuộc nhánh và danh sách khách hàng tương

ứng của trạm.

Xem trạm thuộc nhánh: Cho phép người dùng Xem danh sách trạm thuộc

nhánh và danh sách trạm chưa thuộc nhánh (hỗ trợ chức năng Thêm Trạm biến áp

vào nhánh để người dùng biết được đã thêm hoàn tất các trạm của đơn vị vào nhánh

chưa)

e. Module tính độ tin cậy

Cho phép người dùng tính toán và xuất các báo cáo theo quy định về độ tin

cậy cung cấp điện, gồm các chỉ số SAIDI, SAIFI, MAIFI.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý vận hành điện và đào tạo kỹ thuật lành

nghề cho lao động

Mô hình quản lý hiện nay của Công ty điện lực Ứng Hòa chưa kích thích

được người lao động chủ động trong công việc và việc bố trí công việc chưa hợp lý.

Quá trình vận hành lưới điện đòi hỏi ý thức của nhân viên trong việc thực hiện đầy

đủ các quy trình, quy phạm đảm bảo thao tác đúng và tránh xảy ra sai sót. Do đó,

Công ty cần chú trọng việc đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho nhân viên để nâng cao

tay nghề cũng như tinh thần trách nhiệm trong công việc.

Kinh doanh điện năng là hoạt động mang những nét đặc thù riêng có. Từ tiếp

nhận điện năng từ các trạm biến áp đến khách hàng sử dụng điện và vận hành điện

năng đều trên một hệ thống đường dây và trạm biến áp với khối lượng cơ sở vật

chất đồ sộ, một đội ngũ lao động lớn để thực hiện cho hoạt động này, đối tượng

phục vụ nhiều, địa bàn phục vụ rộng khắp… Tất cả những yếu tố này cho thấy việc

thực hiện và quản lý hoạt động kinh doanh điện năng là một công việc phức tạp như

78

thế nào. Nó đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý không những phải đáp ứng yêu cầu về

kỹ thuật mà yêu cầu về tổ chức, lãnh đạo và quản lý là rất cao.

Để có được đội ngũ CBCNV đảm bảo cho sự phát triển, Công ty điện lực

Ứng Hòa cần thực hiện công tác hoạch định nguồn nhân lực và đưa vào chỉ tiêu kế

hoạch hàng năm. Công ty cần căn cứ vào nhu cầu lao động trong những năm tiếp

theo để có kế hoạch tuyển dụng người sao cho đủ số lượng và chất lượng cần thiết

để đảm bảo công tác kinh doanh hoạt động được tốt hơn. Không để tình trạng thiếu

lao động ảnh hưởng đến việc hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch được giao.

Do đặc điểm của ngành điện cũng như công tác vận hành lưới điện đòi hỏi

nhân viên cần hiểu biết về kỹ thuật nên việc tuyển đúng người vào đúng vị trí công

tác là rất quan trọng. Để nâng cao chất lượng cho đội ngũ CBCNV Công ty cần rà

soát, củng cố đội ngũ CBCNV hiện tại, tập trung giải quyết các tồn tại yếu kém

trong các mặt công tác, thống nhất thực hiện chức năng nhiệm vụ, phương thức

hành động, kiện toàn bộ máy tổ chức cho phù hợp tình hình mới. Tiếp tục triển khai

kế hoạch bồi dưỡng tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên làm việc trực

tiếp, khuyến khích người lao động nâng cao trình độ bản thân bằng các hình thức

học tại chức, đào tạo tại chỗ, tổ chức các lớp đào tạo về quy trình quy phạm kỹ

thuật, mở các lớp nâng cao trình độ vi tính cho cán bộ làm công tác quản lý.

Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy chế cũng như chuyên môn nghiệp

vụ của CBCNV, kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm để nâng cao ý thức

chấp hành kỷ luật lao động trong Công ty.

Để đảm bảo vận hành và an toàn khi công tác trên lưới điện đòi hỏi người lao

động phải tuân thủ quy trình kỹ thuật và quy trình an toàn điện. Do vậy, tất cả lao

động phải được trang bị kiến thức kỹ thuật điện cao, nhưng đó mới chỉ là điều kiện

cần nhưng chưa đủ. Tuỳ chức năng của từng nhân viên, từng lao động phải được

đào tạo chính quy hoặc phi chính quy về kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn sâu để

nắm bắt nhanh, phán đoán nhanh tất cả những biến cố đã, đang hoặc sẽ xảy ra trong

quá trình công tác. Có như vậy mới làm chủ được kỹ thuật, tài sản và phương tiện

79

của mình nhằm đẩy mạnh công tác quản lý kinh doanh điện năng ngày càng hiệu

quả.

Hiện nay, hàng năm Công ty điện lực Ứng Hòa đã trích khoản ngân sách của

mình sử dụng cho việc đào tạo lao động, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho thợ điện,

tổ chức các cuộc thi an toàn trong lao động,… Tuy nhiên, số lượng cán bộ, lao động

của Công ty được bồi dưỡng hàng năm còn ít chủ yếu do kinh phí đào tạo còn hạn

hẹp.

Trước mắt Công ty có thể đào tạo thêm 3 loại hình lao động như sau:

Thứ nhất: Coi trọng cán bộ quản lý kinh doanh. Có thể tiêu chuẩn hoá đội

ngũ cán bộ quản lý này bằng một số tiêu chuẩn hoá quốc gia. Nhằm tạo cho đội ngũ

quản lý này phải vừa giỏi chuyên môn, vừa có kiến thức quản lý, hiểu biết pháp

luật, hiểu rõ và thương yêu lao động, thực sự yêu nghề, quan tâm đến lợi ích lao

động và đảm bảo lợi ích khách hàng. Đội ngũ này phải dám chịu trách nhiệm về

hành vi của mình trước tập thể và trước pháp luật.

Thứ hai: Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hoá một lực lượng

cán bộ kỹ thuật có trình độ cao về chuyên môn theo chức năng và chức danh nhằm

sử dụng họ vào các chức năng chuyên trách, then chốt trong dây chuyền SXKD điện

năng. Chính họ là lực lượng tận tình giúp việc cho đội ngũ cán bộ quản lý và là

người kế cận quản lý tương lai. Đội ngũ này cũng đòi hỏi có kiến thức vừa rộng vừa

sâu, đạo đức tốt, tận tình vì tập thể, vì công việc.

Thứ ba: Cần đào tạo hoặc bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức nghiệp vụ

kỹ thuật chuyên môn của chức danh nghề nghiệp cho tất cả lực lượng lao động

trong toàn đơn vị, để lao động biết và làm tốt chức năng của mình, hạn chế thấp

nhất sai sót có thể xảy ra trong dây chuyền SXKD điện năng.

Bên cạnh các loại hình đào tạo bồi dưỡng chuyên môn trên còn cần có một

cơ chế tiền lương, khen thưởng đối với những cá nhân, tập thể hoàn thành tốt các

chỉ tiêu, từ đó khuyến khích họ làm việc có tinh thần trách nhiệm cao hơn và phải

có khung hình phạt rõ ràng thì mới có thể thắt chặt kỷ luật lao động nhằm nâng cao

hiệu quả kinh doanh trong Công ty.

80

3.2.2.3 Hiệu quả giải pháp mang lại

- Phân cấp giữa các đơn vị trong Công ty rõ ràng, các đơn vị căn cứ chức

năng nhiệm vụ được phân công của mình để thực hiện nhiệm vụ, công việc được

phối hợp nhịp nhàng sẽ rút ngắn được thời gian trong xử lý công việc, tránh tình

trạng đổ lỗi cho nhau

- CBCNV có trách nhiệm hơn trong công tác kiểm tra vận hành lưới điện,

chất lượng kiểm tra cao hơn

- Việc áp dụng các công nghệ hiện đại trong công tác vận hành lưới điện sẽ

giúp Công ty điện lực Ứng Hòa:

+ Luôn theo dõi được tình trạng hoạt động của thiết bị, tính toán vận hành lưới

lưới điện theo sơ đồ nối dây tối ưu nhất, hiệu suất của thiết bị cao nhất. Giảm suất

sự cố, nâng cao tính ổn định của hệ thống do không phải vận hành ở tình trạng non

tải, đầy tải hoặc quá tải.

+ Tiết kiệm tối đa nhân lực, nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên nhờ

tiết kiện tối đa quỹ tiền lương.

+ Tạo niềm tin đối với khách hàng, giảm đến mức thấp nhất các khiếu kiện do

sai sót chủ quan.

- Thực hiện đồng bộ các giải pháp về Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý vận

hành điện và đào tạo kỹ thuật lành nghề cho lao động thì Công ty điện lực Ứng Hòa

có thể hoàn thành mục tiêu về nguồn nhân lực đã đề ra, đó là “tăng cường nhân lực

với tỷ lệ trung bình 8% /năm từ nay đến 2015, chú trọng vào đội ngũ kỹ sư điện và

công nghệ thông tin, trẻ hoá đội ngũ CBCNV, đưa độ tuổi bình quân xuống dưới 35

tuổi với mục tiêu: Tăng tỷ lệ kỹ sư, tỷ lệ công nhân có tay nghề cao trong cơ cấu

nguồn nhân lực theo lộ trình thích hợp”.

3.2.3 Nhóm giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra, đánh giá điều chỉnh

vận hành lưới điện

3.2.3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp

- Việc kiểm tra lưới điện chỉ có thể thực hiện kiểm tra trực quan bằng mắt

chứ không có thiết bị hiện đại hỗ trợ chỉ ghi chép vào giấy mà không có thiết bị kỹ

81

thuật số nào để cập nhật, do đó các thông tin về hiện trạng lưới không được ghi

chép cập nhật đầy đủ, các thông tin báo cáo chuyển về Phòng kỹ thuật còn rất sơ

sài, mang tính đối phó, số lượng các kiến nghị đề xuất giải pháp từ phía công nhân

vận hành trực tiếp là rất hạn chế.

3.2.3.2 Nội dung giải pháp

Để hỗ trợ việc cập nhật kết quả kiểm tra, đánh giá, Công ty điện lực Ứng

Hòa cần thực hiện công tác số hóa hệ thống thông tin lưới điện, quản lý lưới điện

trên bản đồ địa chính số, kiểm soát lý lịch từng phần tử lưới điện phục vụ cho việc

quản lý, sửa chữa…

Để hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý lưới điện, Công ty cần:

- Nghiên cứu chuyên sâu hơn về ứng dụng GIS trong quản lý hệ thống thông

tin lưới điện.

- Xây dựng chương trình mang tính chiến lược về việc đầu tư cơ sở kỹ thuật

bản đồ nền (bản đồ kỹ thuật số), đào tạo con người, hệ thống thu thập thông tin lưới

điện ngoài thực địa.

- Xây dựng hệ thống thông tin có thể dùng chung và chia sẻ cơ sở dữ liệu dễ

dàng. Quy định chặt chẽ trong việc thu thập dữ liệu, dữ liệu dùng chung phải thống

nhất.

- Lập kế hoạch và bố trí nguồn kinh phí để đảm bảo việc chuẩn hóa lại lưới

điện trung hạ thế, số hóa toàn bộ hệ thống lưới điện hạ thế, trạm biến áp, dây từ sau

công tơ đến khách hàng sử dụng điện.

3.2.3.3 Hiệu quả của giải pháp

- Xây dựng được cơ sở dữ liệu về lưới điện

- Luôn theo dõi được tình trạng hoạt động của thiết bị, tính toán vận hành

lưới điện theo sơ đồ nối dây tối ưu nhất, hiệu suất của thiết bị cao nhất.

- Giảm suất sự cố, nâng cao tính ổn định của hệ thống do không phải vận

hành ở tình trạng non tải, đầy tải hoặc quá tải.

- Phân vùng được khu vực bị sự cố để từ đó có biện pháp kiểm tra khắc phục

kịp thời.

82

- Tiết kiệm tối đa nhân lực, nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên

nhờ tiết kiện tối đa quỹ tiền lương.

3.2.4 Một số giải pháp khác

3.2.4.1 Căn cứ đề xuất giải pháp

- Hiện trạng lưới điện của Công ty điện lực Ứng Hoà

- Độ tin cậy lưới điện chưa cao, thời gian mất điện do lỗi chủ quan còn

nhiều.

- Tổn thất hiện nay của lưới điện, lộ trình giảm tổn thất của Công ty

- Công nghệ thông tin áp dụng vào công tác kinh doanh điện năng chưa được

thực hiện triệt để.

- Chất lượng điện năng hiện tại cung cấp cho khách hàng có độ tin cậy thấp.

- Quan hệ giữa khách hàng và điện lực về trao đổi các thông tin liên quan

đến cung cấp điện cho khách hàng chưa đầy đủ, thông suốt.

3.2.4.2 Nội dung giải pháp

* Nâng cao chất lượng công tác quản lý và bảo dưỡng đường dây

Hiện nay, nhiều thiết bị trên lưới điện của Công ty điện lực Ứng Hòa không

còn đảm bảo chất lượng vận hành nhưng vẫn chưa được thay thế. Thiết bị mới đưa

vào vận hành nhưng không đáp ứng được điều kiện vận hành, chất lượng không

được thử nghiệm. Lắp đặt thiết bị đóng cắt không phù hợp về vị trí, chủng loại làm

cho việc chuyển tải, vận hành lưới điện không linh hoạt, thời gian sự cố kéo dài,

khả năng cung cấp điện không cao. Để đảm bảo quá trình truyền tải điện được liên

tục đòi hỏi Công ty điện lực Ứng Hòa cần chú trọng công tác quản lý và bảo dưỡng

đường dây.

Để quản lý sử dụng hiệu quả tài sản đường dây truyền tải, Công ty cần thành

lập một đơn vị có đủ năng lực chuyên môn và nhân lực cần thiết để thực hiện các

chức năng, đó là phải nắm được những vấn đề như: Các loại vật liệu, thiết bị khác

nhau được sử dụng trên tất cả các tuyến dây đặc tính và nơi lắp đặt, hồ sơ bảo

83

dưỡng các bộ phận, tình trạng vận hành của tất cả các bộ phận và các kết cấu khung

cứng, các biện pháp quản lý và kiểm tra việc sửa chữa….

Trong quá trình quản lý đường dây, Công ty điện lực Ứng Hòa cần xây dựng

chính sách bảo dưỡng trên cơ sở các khuyến nghị của nhà chế tạo, đánh giá về kỹ

thuật, các dữ liệu về thực tế vận hành các bộ phận. Để phù hợp với tình hình cụ thể

của từng khu vực trên địa bàn mà Công ty điện lực Ứng Hòa sửa đổi bổ sung, ở một

chừng mực nào đó, một số tiêu chuẩn và chính sách bảo dưỡng theo điều kiện cụ

thể vận hành tại đó, dựa trên các loại bảo dưỡng chính như sau:

+ Bảo dưỡng dự phòng: bao gồm kiểm tra định kỳ, theo dõi tình trạng thiết

bị vật liệu, thay thế các bộ phận thiết bị xung yếu không để chúng bị hư hỏng. Một

số công việc có thể thực hiện ngay khi đường dây vẫn mang điện, một số các công

việc khác phải thực hiện khi cắt điện (thời gian cắt điện kế hoạch). Bồi dưỡng dự

phòng được đặc trưng bởi định kỳ thực hiện (03 tháng hoặc 06 tháng một lần), thời

gian thực hiện, các khoản giảm doanh thu và số giờ lao động.

+ Bảo dưỡng tiên liệu: gồm các biện pháp theo dõi trực tiếp xác định chính

xác tình trạng của các bộ phận nhằm dự đoán những hư hỏng có thể xảy ra và chỉ ra

những bộ phận cần phải được bảo dưỡng. Ví dụ, theo dõi độ rung của dây dẫn sẽ

cho phép xác định tuổi thọ còn lại của dây dẫn, hoặc theo dõi độ căng của dây cáp

sẽ chỉ ra khi nào cần phải căng lại dây nếu như khoảng cách so với đất bị giảm do

dây bị rão hoặc tăng độ điện dung.

+ Sửa chữa sự cố: bao gồm tất cả những hoạt động sửa chữa ngoài kế hoạch,

được thực hiện nhằm khôi phục đường dây khi xảy ra hư hỏng một bộ phận nào đó

và mất khả năng mang dòng điện. Công việc bao gồm việc chỉ ra bộ phận, vị trí hư

hỏng, giải quyết trạm chập, tháo và thay thế bộ phận hoặc chi tiết bằng phụ tùng

thay thế hoặc sửa chữa tại hiện trường (như nối dây dẫn đứt bằng ống nối hay bằng

nối ép). Sửa chữa sự cố được đặc trưng bởi tần suất thực hiện, thời gian thực hiện,

khoản giảm doanh thu và số giờ lao động. Thông thường sửa chữa sự cố tốn kém và

mất nhiều thời gian hơn so với bảo dưỡng dự phòng, do đó, mục tiêu của quản lý

bảo dưỡng là phải xây dựng một kế hoạch bảo dưỡng nhằm đảm bảo độ tin cậy với

84

mức chi phí thấp nhất. Việc thực hiện bảo dưỡng đường dây dựa vào chính sách,

tiêu chuẩn, phương pháp và hướng dẫn bảo dưỡng của Công ty điện lực Ứng Hòa.

Tất cả các tài liệu này được tập hợp trong tập “Quản lý bảo dưỡng” và đây là tài liệu

tham khảo cho các cán bộ chịu trách nhiệm bảo dưỡng thiết bị.

Các tiêu chuẩn bảo dưỡng quy định các hoạt động bảo dưỡng dự phòng có hệ

thống, như các loại kiểm tra cần thực hiện, định kỳ thực hiện cũng như các chỉ tiêu

liên quan đến các hoạt động bảo dưỡng có điều kiện, các hoạt động này tuỳ thuộc

vào kết quả kiểm tra và tình hình quan sát được, từ đó sẽ sửa chữa hay thay thế các

bộ phận.

Các hướng dẫn dưới dạng phương pháp vận hành nhằm tạo điều kiện cho

công việc kiểm tra và sữa chữa, phương pháp sửa chữa cũng được tiêu chuẩn hoá

Bảo dưỡng dự phòng được thực hiện nhằm tránh xảy ra tình trạng cắt điện và

do đó, ngăn ngừa các bộ phận đường dây bị hư hỏng hoặc làm việc kém, tức là xác

định những chỗ bất thường, những chỗ hỏng hoặc bắt đầu hỏng để phát hiện những

bộ phận đường dây bị hư hại, đánh giá tình trạng hiện tại của các bộ phận và xác

định tuổi thọ còn lại của chúng.

Các hoạt động bảo dưỡng dự phòng chủ yếu là kiểm tra quan trắc, tuy nhiên

cũng một số các thử nghiệm tại chỗ hay lấy mẫu về thử nghiệm tại phòng thí

nghiệm nhằm chuẩn đoán tình trạng của một số bộ phận.

* Nâng cao độ tin cậy cung cấp điện

Hiện nay các chỉ tiêu an toàn lưới điện và độ tin cậy lưới điện của Công ty

điện lực Ứng Hòa còn thấp. Ngoài nguyên nhân khách quan do ảnh hưởng của thời

tiết, điều kiện kinh tế - xã hội thì còn có các nguyên nhân chủ quan từ phía Công ty

như chưa tuân theo đúng quy trình, quy định; việc lập kế hoạch và thực hiện kế

hoạch còn yếu kém….

Nâng cao độ tin cậy cung cấp điện được hiểu theo nghĩa cụ thể là phải giảm

số lần mất điện và thời gian mất điện cho khách hàng trong bất kỳ trường hợp nào:

do sự cố (khách quan) hay do bảo trì, bảo dưỡng lưới điện (chủ quan). Độ tin cậy

cung cấp điện là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng phục vụ

85

khách hàng của ngành điện, phản ánh thực chất và cụ thể hiệu quả công tác quản lý

vận hành và kinh doanh của đơn vị phân phối điện. Do đó Công ty điện lực Ứng

Hòa cần đề ra các giải pháp và quán triệt đến từng đơn vị để phấn đấu ngày càng

thực hiện tốt chỉ tiêu độ tin cậy cung cấp điện. Về giải pháp, Công ty điện lực Ứng

Hòa cần thực hiện các nội dung sau:

- Nâng cao chất lượng kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ hệ thống điện, phát

quang hành lang tuyến nhằm ngăn ngừa sự cố; hoán chuyển hợp lý các thiết bị đóng

cắt phân đoạn để giảm tối thiểu thời gian và số lượng khách hàng mất điện khi xảy

ra sự cố hoặc công tác trên lưới điện; tập trung xử lý nhanh các sự cố để khôi phục

cấp điện trở lại trong thời gian sớm nhất cho khách hàng; nâng cao chất lượng cũng

như đẩy nhanh tiến độ các công trình sửa chữa lớn, chống quá tải …

- Đối với công tác trên lưới điện, các đơn vị thi công phải lập phương án thi

công chi tiết, kết hợp nhiều hạng mục thi công vào cùng một lần cắt điện và yêu cầu

phải hoàn thành thi công, đóng điện đúng thời gian quy định theo đăng ký. Yêu cầu

đội ngũ cán bộ kỹ thuật từ Công ty đến các Đội quản lý điện tăng cường việc hệ

thống, phân tích nguyên nhân sự cố để tìm giải pháp khắc phục hiệu quả. Hàng

tháng, Công ty điện lực Ứng Hòa cần đánh giá kết quả thực hiện độ tin cậy cung

cấp điện đối với từng Đội và cả Công ty, chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân những

việc làm được hoặc chưa làm được trong việc nâng cao độ tin cậy cung cấp điện.

- Thực hiện nghiêm túc công tác huấn luyện, kiểm tra sát hạch quy trình an

toàn điện định kỳ; nâng cao chất lượng và nội dung công tác huấn luyện các kiến

thức về ATVSLĐ, tăng cường nội dung thực hành thực tế;

- Nghiêm túc thực hiện xây dựng kế hoạch cắt điện đảm bảo có sự phối hợp

giữa các đơn vị, giữa các tổ đội trong 1 đơn vị hiệu quả nhất theo đúng quy định,

Quy trình Điều độ HTĐ Quốc gia.

- Tăng cường đầu tư xây dựng các tuyến mạch vòng nhằm có sự liên kết, bổ

trợ cho các đường dây trung áp và liên kết lưới điện hạ áp giữa các trạm biến áp với

nhau.

- Lắp đặt thiết bị cảnh báo sự cố trên các tuyến đường dây trung áp.

86

- Lắp đặt mới, di chuyển các vị trí cầu dao phụ tải không hợp lý về các vị trí

thích hợp nhằm giảm phạm vi mất điện là nhỏ nhất.

* Giảm tổn thất điện năng

Tỷ lệ tổn thất điện năng của Công ty điện lực Ứng Hòa các năm gần đây luôn

đạt kế hoạch đề ra, tuy nhiên vẫn còn ở mức cao. Để nâng cao hiệu quả vận hành

lưới điện thì việc giảm tỉ lệ tổn thất điện năng là việc làm cần thiết.

Tổn thất kỹ thuật hiện nay của Công ty điện lực Ứng Hòa chủ yếu là do hệ

thống lưới điện phân phối đã cũ, được xây dựng từ 30 năm trước, đã quá thời gian

vận hành, không đảm bảo an toàn. Biện pháp khắc phục duy nhất là tiến hành cải

tạo đại tu lưới điện thay thế hệ thống cũ, đầu tư áp dụng công nghệ mới (như thay

thế hoàn toàn bằng công tơ điện cho công tơ cơ được sử dụng trước đây, xây dựng

các trạm biến áp, phụ tải, nâng cao chất lượng đường dây,…). Việc đảm bảo kỹ

thuật trong kinh doanh điện năng sẽ không những đảm bảo an toàn cho việc cung

ứng và sử dụng điện mà còn góp phần giảm tổn thất kỹ thuật tăng điện năng thương

phẩm. Giảm tổn thất điện năng kỹ thuật ngoài việc tiến hành cải tạo lưới điện, Điện

lực cần tăng cường áp dụng các biện pháp kỹ thuật như: lắp tụ bù, nâng cao công

suất của các trạm quá tải, tăng tiết diện dây của các đường dây cũ không đáp ứng

được phụ tải, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác vận hành kinh doanh

điện năng, tránh tình trạng cắt điện kéo dài do các nguyên nhân chủ quan, đảm bảo

cấp điện an toàn liên tục.

Tổn thất điện năng thương mại cũng đáng kể do người tiêu dùng câu móc

trộm bằng nhiều biện pháp khác nhau. Do đó, nó đòi hỏi Công ty cần tăng cường

quản lý phụ tải, tức là quản lý người tiêu dùng điện. Việc cải tạo lưới điện vừa giúp

cho công tác quy hoạch lưới điện được hợp lý hơn vừa đảm bảo chống lại hiện

tượng câu móc, lấy cắp điện của một số khách hàng, góp phần giảm tổn thất điện

năng. Để công tác cải tạo lưới đạt hiệu quả, về phía các Đội quản lý điện cần chủ

động lập phương án hoàn thiện sữa chữa thường xuyên những khu vực có tỷ lệ tổn

thất cao. Khi phương án được thông qua, cần nhanh chóng tổ chức thực hiện, phải

coi đây là công tác quan trọng nhất, có vai trò quyết định trong hoạt động giảm tổn

87

thất điện năng. Về phía Công ty điện lực Ứng Hòa cần đảm bảo đủ vốn, vật tư kỹ

thuật cho các công trình, nhanh chóng duyệt các phương án theo kế hoạch, tạo điều

kiện thuận lợi cho các Đội quản lý điện trong việc cải tạo lưới hạ thế.

Để giảm tỷ lệ tổn thất điện năng, Công ty điện lực Ứng Hòa cần thực hiện

đồng bộ các chính sách sau :

a. Về chính sách giá điện

Khuyến khích khách hàng sử dụng điện vào giờ thấp điểm. Đây cũng là một

động lực thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất hoạt động vào giờ thấp điểm nhằm hạ

giá thành sản phẩm. Điều đó góp phần làm cho ngành điện san bằng biểu đồ phụ tải,

giảm tổn thất điện năng.

Cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế trên địa bàn Ứng Hòa,

công ty cần tăng cường kiểm tra, theo dõi và giám sát mục đích sử dụng điện của

các đối tượng khách hàng để áp giá bán chính xác, giảm thất thoát tài chính cho

Công ty. Bên cạnh đó, phải có những biện pháp xử lý đối với những trường hợp cố

tình vi phạm trong sử dụng điện.

b. Về quản lý tài sản

Trong điều kiện Nhà nước chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào cụ

thể giúp cho công tác quản lý của ngành điện được hiệu quả thì việc tăng cường hơn

nữa sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành điện với chính quyền và các cơ quan chức

năng địa phương được xem là biện pháp hữu hiệu nhất.

c. Tăng cường quản lý khách hàng

Việc tăng cường quản lý khách hàng là biện pháp cần thiết giúp cho việc

kinh doanh điện năng đạt được hiệu quả cao hơn, đồng thời làm giảm tổn thất điện

năng. Do số lượng khách hàng của Công ty điện lực Ứng Hòa lớn nên trong công

tác quản lý khách hàng cần phải phân ra cho các tổ, đội sản xuất. Mỗi tổ đội quản lý

một nhóm khách hàng nhất định tại những khu vực nhất định ví dụ như các tổ ở các

xã... Tuy nhiên nếu tại mỗi thôn xã lại thành lập một tổ đội quản lý khách hàng

riêng thì điều này gây ra sự cồng kềnh về tổ chức, tốn kém chi phí nhân công. Do

88

đó, Công ty cần có biện pháp tổ chức phối hợp giữa công tác quản lý khách hàng

với quản lý lưới điện theo mô hình Đội quản lý tổng hợp.

Việc quản lý khách hàng thường xuyên và chặt chẽ sẽ giúp cho Công ty phát

hiện ra khách hàng ăn cắp điện, sử dụng sai mục đích so với hợp đồng, từ đó có

biện pháp xử lý phù hợp. Đối với những khách hàng ăn cắp điện khi bị phát hiện,

Công ty cần có biện pháp xử lý cứng rắn, trong đó biện pháp hữu hiệu nhất là biện

pháp kinh tế phạt tiền đối với trường hợp ăn cắp điện lần đầu, nếu tiếp tục vi phạm

thì ngoài biện pháp phạt hành chính tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị tố cáo vì ăn

cắp điện cũng chính là ăn cắp tài sản của Nhà nước. Đối với những khách hàng sử

dụng điện sai mục đích ghi trong hợp đồng làm cho việc tính toán giá điện bị nhầm

lẫn gây tổn thất thì biện pháp hữu hiệu là phạt hành chính đồng thời tạm ngừng việc

cấp điện do khách hàng không thực hiện đúng nội dung trong hợp đồng đã ký kết.

Hiện nay để phát hiện ra những khách hàng ăn cắp điện cũng là một vấn đề

khó khăn. Do đó chúng ta có thể dựa vào chính quyền sở tại bằng cách đưa lên hệ

thống loa đài của mỗi địa phương khuyến khích mọi người tố giác những hộ ăn cắp

điện và mỗi người khi tố giác những hộ ăn cắp điện đều được thưởng với một mức

thưởng hợp lý (tên những người tố giác sẽ được giữ kín). Hơn nữa đối với lưới hạ

thế ở những vị trí bị nghi ngờ là ăn cắp điện chúng ta có thể dùng ống nhựa bọc

ngoài dây dẫn trong khoảng đó.

Cùng với việc phát hiện xử lý những khách hàng ăn cắp điện làm giảm tổn

thất thương mại thì một biện pháp cũng rất quan trọng là tuyên truyền, phổ biến cho

khách hàng những quy định, quy chế đối với hành vi ăn cắp điện, tuyên truyền giúp

khách hàng sử dụng thiết bị đúng công suất, tiết kiệm điện, sử dụng điện an toàn,

tránh xảy ra sự cố cháy, chập điện gây chết cháy công tơ, qua tải đường dây làm

tăng tổn thất điện năng. Công ty cần xây dựng chế độ xử phạt đối với những Đội

quản lý điện trong trường hợp để tổn thất điện năng cao nguyên nhân do khách hàng

mà không phát hiện ra và có chế độ khen thưởng đối với những Đội quản lý thực

hiện tốt công tác giảm tổn thất điện năng.

89

Một biện pháp nữa giúp cho Công ty nâng cao công tác quản lý khách hàng

một cách hiệu quả là khai thác triệt để hệ thống Quản lý thông tin khách hàng

CMIS. Quản lý khách hàng bằng máy vi tính có nhiều ưu điểm:

(cid:153) Công tác thống kê, phân tích số lượng khách hàng ở các trạm biến áp, các

Chi nhánh sẽ nhanh gọn chính xác hơn nhờ sự trợ giúp của máy tính, tạo điều kiện

cho công tác quy hoạch phát triển lưới điện. Nhờ vi tính hoá, số người làm công tác

này sẽ giảm xuống nhưng chất lượng công việc vẫn đảm bảo góp phần giảm chi phí

quản lý.

(cid:153) Mã hoá sẽ giúp cho công tác theo dõi nợ, chấm xoá nợ được chính xác

kịp thời phát hiện ra những trường hợp khách hàng chây ỳ không thanh toán tiền

mua điện để có biện pháp giải quyết triệt để, không để xảy ra tình trạng nợ đọng kéo

dài, gây khó khăn cho công tác thu tiền điện. Hiện nay với sự phát triển của công

nghệ thông tin thì việc mã hoá khách hàng sẽ trở nên dễ dàng hơn. Do đó việc đưa

vi tính vào quản lý khách hàng là có thể thực hiện được một cách dễ dàng.

(cid:153) Bên cạnh việc tiến hành kiểm tra thường xuyên việc sử dụng điện của

khách hàng, Công ty cũng cần có những đợt tổng kiểm tra khách hàng, hệ thống

lưới điện để phát huy hơn nữa hiệu quả của công tác quản lý khách hàng. Công ty

cũng cần tập trung phương tiện vật tư, kỹ thuật và nhân lực giải quyết ngay những

tồn tại phát hiện trong quá trình tổng kiểm tra đảm bảo kiểm tra đến đâu giải quyết

nhanh gọn đến đó, dứt điểm từng trạm tránh tình trạng làm đi làm lại nhiều lần gây

lãng phí.

3.2.4.3 Hiệu quả của giải pháp mang lại

- Độ tin cậy lưới điện cao, thời gian mất điện do lỗi chủ quan ít.

- Nâng cao chất lượng điện năng.

- Nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp điện cho khách hàng.

- Nâng cao khả năng thông tin quản lý khách hàng.

- Nâng cao khả năng điều hành lưới điện.

- Tạo niềm tin đối với khách hàng.

90

- Giảm thất thoát điện bất hợp pháp, tạo công bằng cho các khách hàng sử

dụng điện.

- Tăng doanh thu, tăng lợi nhuận.

- Hoàn thành chỉ tiêu tổn thất theo lộ trình.

- Từng bước nâng cao đời sống CBCNV nhờ tăng lợi nhuận.

91

KẾT LUẬN

Ngành điện là ngành đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội

và đảm bảo an ninh quốc phòng. Trong quá trình phát triển các nguồn điện lưới

quốc gia của Việt Nam hiện nay thì một vấn đề rất cần chú ý phải tìm các giải pháp

nâng cao chất lượng quản lý vận hành lưới nhằm đảm bảo lợi ích khách hàng (các

doanh nghiệp, tổ chức, các hộ tiêu thụ cá nhân), nâng cao doanh thu và lợi nhuận

cho chính các Công ty điện lực.

Chất lượng quản lý vận hành của các lưới phân phối cụ thể trong phạm vi

lãnh thổ Việt Nam đã và đang được nghiên cứu, trong tiến trình đó thì Luận văn

cũng đóng góp những nghiên cứu trong phạm vi lưới điện phân phối của Huyện

Ứng Hòa.

Luận văn đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận quan trọng về Công tác quản lý

vận hành lưới điện đồng thời phân tích hiện trạng công tác quản lý vận hành của

Công ty điện lực Ứng Hòa. Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm

hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới điện của Công ty điện lực Ứng Hòa. Các

giải pháp này được đưa ra dựa trên mục tiêu phát triển điện lực Huyện Ứng Hòa,

thực trạng quản lý vận hành lưới điện, nguồn nhân lực hiện nay của Công ty và nhu

cầu phát triển của địa phương, của người sử dụng điện. Tuy còn một số hạn chế

nhất định nhưng tác giả mong rằng với nội dung được đề cập trong đề tài sẽ đóng

góp một phần nào đối với việc quản lý vận hành lưới điện phân phối của Công ty

điện lực Ứng Hòa hiệu quả hơn.

Tác giả xin chân thành cảm ơn ban Lãnh đạo của Công ty điện lực Ứng Hòa

nói riêng và Tổng Công ty điện lực TP. Hà Nội nói chung, các phòng ban, các đồng

nghiệp đã đóng góp ý kiến, cung cấp số liệu bổ sung cho luận văn. Cuối cùng tác

giả mong tiếp tục nhận được sự cộng tác, giúp đỡ của mọi người trong quá trình

hoàn thiện tri thức cũng như trong công việc sau này./.

92

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Bách (2004), Lưới điện và hệ thống điện, Nhà xuất bản Khoa học & Kỹ

thuật, Hà Nội.

2. Nguyễn Tiến Cường (2003), Công tác điều độ trong thị trường điện cạnh tranh.

3. Phùng Văn Cường (2005), Nghiên cứu các mô hình thị trường điện và phương

pháp tính phí truyền tải trong thị trường điện cạnh tranh.

4. Nguyễn Lê Định (2006), Nghiên cứu áp dụng bài toán OPF trong thị trường

điện.

5. Nguyễn Văn Giáp (2010), Đánh giá hệ thống truyền tải điện Việt Nam và tính

toán phí sử dụng lưới điện truyền tải.

6. Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự, 2009. Dự báo và phân tích dữ liệu. Hà Nội: Nhà

xuất bản Thống kê.

7. Đinh Thế Lợi (2004), Một số giải pháp nhằm giảm tổn thất điện năng ở Điện lực

Quảng Ninh. Đồ án tốt nghiệp. Trường Đại học Bách khoa Hà nội.

8. Nguyễn Danh Sơn (2005), Một số biện pháp xây dựng thị trường điện lực ở Việt

Nam.

9. Nguyễn Thành Sơn, Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính của Công ty Điện lực

3, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà Nẵng, 2005.

10. Nguyễn Hồng Thắng (2006), Định giá truyền tải điện trên thị trường điện

cạnh tranh.

11. Nguyễn Anh Tuấn, Trần Đăng Khoa, Định hướng xây dựng thị trường điện

cạnh tranh của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, Tạp chí Điện và đời sống số

65, 2004.

12. Nguyễn Anh Tuấn (2009), Nghiên cứu phương pháp xác định giá truyền tải

điện và các phương pháp chống tắc nghẽn phù hợp điều kiện thị trường điện ở

Việt Nam.

93

13. Chính phủ (2005), Nghị định số 137/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013

quy định chi tiết thi hành một số điều của luật điện lực và luật sửa đổi, bổ

sung một số điều của luật điện lực.

14. Chính phủ (2006), Quyết định số 26/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 01 năm 2006

Phê duyệt lộ trình, các điều kiện hình thành và phát triển các cấp độ thị

trường điện lực tại Việt Nam.

15. Chính phủ (2007), Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg ngày 18 tháng 07 năm

2007 phê duyệt quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006 - 2015

có xét đến 2025.

16. Chính phủ (2008), Quyết định số153/2008/QĐ-TTg ngày 28 tháng 11 năm 2008

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục điều tiết

Điện lực thuộc Bộ Công thương.

17. Chính phủ (2010), Nghị định số 134/2013/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2013

quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, an toàn đập

thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

18. Báo cáo kinh doanh, báo cáo kỹ thuật, báo cáo tổng hợp hàng tháng, hàng năm

của Công ty điện lực Ứng Hòa, từ năm 2011, 2012 và 2013.

19. Bộ Công thương (2009), Thông tư số 27/2009/TT-BCT ngày 25 tháng 09 năm

2009 Quy định đo đếm điện năng trong thị trường phát điện cạnh tranh.

20. Bộ Công thương (2009), Quyết định số 6713/QĐ-BCT ngày 31 tháng 12 năm

2009 Quyết định Phê duyệt Thiết kế Thị trường phát điện cạnh tranh Việt

Nam.

21. Bộ Công thương (2010), Thông tư số 32 /2010/TT-BCT ngày 30 tháng 7 năm

2010 Thông tư Quy định hệ thống điện phân phối.

22. Bộ Công thương (2010), Thông tư số 14/2010/TT-BCT ngày 15 tháng 4 năm

2010 Quy định phương pháp lập, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành và quản

lý giá truyền tải điện.

94

23. Bộ Công thương (2010), Thông tư số 13/2010/TT-BCT ngày 15 tháng 4 năm

2010 Quy định phương pháp lập, trình tự, thủ tục xây dựng chi phí vận hành

hệ thống điện và thị trường điện.

24. Bộ Công thương (2010), Thông tư 12/2010/TT-BCT ngày 15 tháng 4 năm 2010

Quy định hệ thống điện truyền tải.

25. Bộ Công thương (2010), Quyết định số 6941/QĐ-BCT ngày 30 tháng 12 năm

2010 Phê duyệt Thiết kế tổng thể cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho vận

hành và giám sát hoạt động của Thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam.

26. Bộ công thương (2013), Thông tư số 27/2013/TT-BCT ngày 31 tháng 10 năm

2013 quy định về kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết

tranh chấp hợp đồng mua bán điện.

27. Bộ công thương (2013), Thông tư số 30/2013/TT-BCT ngày 31 tháng 10 năm

2013 quy định điều kiện, trình tự ngừng, giảm mức cung cấp điện.

28. Bộ công thương (2013), Thông tư số 03/2013/TT-BCT ngày 08 tháng 2 năm

2013 Quy định vận hành thị trường phát điện cạnh tranh.

29. Bộ công thương (2013), Thông tư số 19/2013/TT-BCT ngày 31 tháng 7 năm

2013 Quy định về giá bán điện và hướng dẫn thực hiện.

30. Quốc Hội: Luật Điện lực số 28 năm 2004. Luật số 24 về sửa đổi bổ sung một số

điều của Luật điện lực năm 2013

31. Quyết định số 17/QĐ-ĐTĐT - "Ban hành quy trình lập kế hoạch thị trường điện

năm tới, tháng tới và tuần tới" - Cục Điều tiết Điện lực ban hành ngày

30/3/2012

32. Trung tâm điều độ Hệ thống điện Quốc gia A0 (2012), Tổng kết vận hành hệ

thống điện quốc gia năm 2011.

33. Các trang web của:

+ Bộ Công thương: http://www.mot.gov.vn/web/guest/home

+ Tập đoàn điện lực Việt Nam: http://www.evn.com.vn/

+ Tổng Công ty điện lực TP. Hà Nội: http://www.evnhanoi.com.vn/

95