
5
Điều tiết kinh tế được sử dụng để kiểm soát sức mạnh thị trường hiện có trong các
ngành cụ thể. Trước cải cách, khâu PPĐ ở các quốc gia thuộc công ty tích hợp dọc các
khâu của ngành điện hoặc bao gồm các CTPPĐ riêng tự điều tiết. Trong quá trình cải cách
ngành điện ở các quốc gia, do khâu PPĐ có tính độc quyền tự nhiên, việc điều tiết khâu
PPĐ là một hình thức quản lý ngành cần thiết của nhà nước để đảm bảo lợi ích cho người
tiêu dùng.
1.2. Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các công ty phân phối điện
1.2.1. Nhóm các nghiên cứu về điều tiết theo hiệu quả hoạt động
Các thảo luận về điều tiết và điều tiết kinh tế được trình bày tại Johan den Hertog
(2010), Essential Services Commission - Victoria (n.d.). Ricketts (2006) thảo luận về độc
quyền tự nhiên. Coelli và cộng sự (2003) thảo luận về ngành công nghiệp lưới điện, trong
đó có CTPPĐ có đặc điểm độc quyền tự nhiên cần phải điều tiết.
Khái niệm điều tiết theo HQHĐ (performance-based regulation) được thảo luận tại
Coglianese và cộng sự (2003) và OECD (2022): điều tiết theo HQHĐ là phương thức điều
tiết cụ thể hóa kết quả hoặc mục tiêu yêu cầu, thay vì quy định cụ thể phương tiện để đạt
được; công ty có thể chọn quá trình hoặc quy trình sản xuất phù hợp với quy định.
Các thảo luận về cơ chế điều tiết theo HQHĐ của các CTPPĐ có thể được tìm thấy
tại Ontario Energy Board staff (1999), Weyman-Jones (2001), Wang và cộng sự (2007),
Newton Lowry và Woolf (2016) và EPA (2022). Thảo luận liên quan đến mô hình điều
tiết theo HQHĐ có công thức Po*(1+RPI-X) với các thông số giá hoặc doanh thu đầu chu
kỳ điều tiết Po và hệ số năng suất X được xác định thông qua việc đo lường điểm số hiệu
quả và phân tích năng suất của các CTPPĐ.
1.2.2. Nhóm các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của công ty phân phối điện
* Nhóm các nghiên cứu về hiệu quả của CTPPĐ áp dụng các phương pháp đo
lường hiệu quả khác nhau
Jamasb và Pollitt (2001), Jamasb và Pollitt (2008) đã khảo sát các nghiên cứu sử
dụng các phương pháp khác nhau để đo lường hiệu quả các CTPPĐ. Các tác giả nhận thấy
rằng các phương pháp chủ yếu là phương pháp so sánh chuẩn giới hạn biên và phương
pháp áp dụng mô hình đơn vị tham chiếu. Khảo sát của Jamasb và Pollitt (2001), AER và
RDB-ACCC (2012) cho thấy các nước và vùng lãnh thổ đã áp dụng các phương pháp so
sánh chuẩn giới hạn biên để phân tích hiệu quả CTPPĐ. Theo Jamasb và Pollitt (2001),
chỉ số hiệu quả theo phương pháp COLS dễ bị ảnh hưởng bởi vị trí so với biên hiệu quả
của công ty. Kuosmanen và cộng sự (2013) đã phân tích nhược điểm của SFA khi phân
tích hiệu quả CTPPĐ. Jamasb và Pollitt (2001) chỉ ra rằng trong thực tiễn, các phương
pháp phi tham số như DEA được ưu tiên sử dụng hơn. Cronin và Motluk (2007) đưa ra
các ưu điểm của phương pháp DEA so với các phương pháp khác.
* Nhóm các nghiên cứu về hiệu quả của CTPPĐ áp dụng phương pháp phân tích
bao dữ liệu DEA
6
Jamasb và Pollitt (2001) đã khảo sát các nghiên cứu đánh giá HQHĐ của các
CTPPĐ áp dụng tại các nước OECD và một số nước chủ yếu áp dụng phương pháp DEA.
Các nghiên cứu điển hình sử dụng mô hình DEA để đánh giá hiệu quả CTPPĐ gồm các
nghiên cứu của Edvardsen và Førsund (2003), Korhonen và Syrjänen (2003), Kinnunen
(2005), Giannakis và cộng sự (2005) và Von Hirschhausen và cộng sự (2006). Giannakis
và cộng sự (2005) xem xét HQHĐ của CTPPĐ trên ba khía cạnh chính là năng suất, hiệu
quả và chất lượng. Các nghiên cứu hiệu quả CTPPĐ trong các năm gần đây sử dụng phân
tích DEA gồm nghiên cứu của Pérez-Reyes và Tovar (2021) cho các CTPPĐ tại Peru,
Mirza và cộng sự (2021) khảo sát hiệu quả các CTPPĐ ở Pakistan, Medeiros và cộng sự
(2022) nghiên cứu khâu PPĐ của Brazil.
* Nhóm các nghiên cứu năng suất của CTPPĐ
Các nghiên cứu năng suất của các CTPPĐ chủ yếu sử dụng mô hình DEA và phân
tích chỉ số Malmquist. Điển hình là các nghiên cứu của Hjalmarsson và Veiderpass (1992),
Abbott (2006), Pombo và Taborda (2006), Miguéis và cộng sự (2012), Mirza và cộng sự
(2021) và Ajayi và cộng sự (2021).
1.3. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công
ty phân phối điện
Theo Jamasb và Pollitt (2001), Miguéis và cộng sự (2012), để cơ chế điều tiết các
CTPPĐ có hiệu quả hơn, các điều kiện hoạt động hay là các biến môi trường nên được
tính đến khi đánh giá hiệu quả các CTPPĐ.
Von Hirschhausen và cộng sự (2006), Çelen (2013), Pombo và Taborda (2006),
Kinnunen (2005), Filippini và cộng sự (2004), Cullmann và Hirschhausen (2008),
Kumbhakar và cộng sự (2015), Bobde và Tanaka (2018), Vanessa de Quadros và cộng sự
(2018), Pérez-Reyes và Tovar (2021) đã nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ khách hàng
theo chiều dài lưới điện, mật độ dân số, tỷ lệ chiều dài cáp ngầm, tỷ trọng công nghiệp,
quy mô doanh nghiệp tới hiệu quả kỹ thuật của CTPPĐ. Tác động của tiến bộ công nghệ
tới năng suất CTPPĐ được phân tích trong các nghiên cứu của Pérez-Reyes và Tovar
(2009), Çelen (2013).
1.4. Khoảng trống nghiên cứu
1.4.1. Ngành điện và khâu phân phối điện tại Việt Nam
Việc hình thành cơ chế khuyến khích đối với khâu phân phối điện là cần thiết trong
thị trường bán lẻ điện để cung cấp dịch vụ phân phối điện một cách hiệu quả cho các đơn
vị bán lẻ điện và khách hàng sử dụng điện tham gia thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, đồng
thời để tạo động lực, tính tự chủ trong quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của khâu
phân phối điện tại Việt Nam.
1.4.2. Các nghiên cứu liên quan tại Việt Nam