BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
---------------------------------
TRẦN TUỆ QUANG
PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÁC CÔNG TY PHÂN PHỐI ĐIỆN
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 9310110
TÓM TT LUN ÁN TIẾN
HÀ NỘI - 2023
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Đỗ Thị Hải Hà
2. TS. Nguyễn Việt Long
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Vào hồi: ngày tháng năm 2023
Có thế tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Đại học Kinh tế Quốc dân
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm qua ngành điện lực Việt Nam đã phát triển để đáp ứng nhu cầu
năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội sinh hoạt của nhân dân với tốc độ tăng trưởng
nhu cầu điện năng bình quân hàng năm khoảng 10%. Ngành điện hiện tại ở Việt Nam vẫn
là ngành tích hợp dọc các khâu trong dây chuyền sản xuất gồm phát điện, truyền tải điện,
phân phối điện (PPĐ) và bán lẻ điện. Khâu PPĐ đóng vai trò quan trọng trong việc cung
ứng điện đến hộ tiêu thụ cuối cùng, đảm bảo cung cấp điện ổn định, liên tục cho sự phát
triển kinh tế hội. Với tốc độ tăng trưởng điện cao hàng năm, việc đảm bảo cung ng
điện với giá bán lẻ điện ở mức chấp nhận được là một thách thức lớn.
Luật Điện lực (Quốc hội khóa XI, 2004) năm 2004 và sửa đổi vào năm 2012 (Quốc
hội khóa XIII, 2012) đặt nền tảng cơ sở cho việc cải tổ ngành điện theo hướng thị trường,
khuyến khích cho các bên tham gia trong lĩnh vực hoạt động điện lực.
Xu hướng cải cách ngành điện trong các m qua đã làm thay đổi thể chế cấu
trúc của ngành điện ở các quốc gia. Trong công cuộc cải cách ngành điện này, khâu PPĐ
được xem có tính độc quyền tự nhiên cần được điều tiết bởi cơ quan quản ngành.
Điều tiết theo hiệu quả hoạt động (HQHĐ) chế điều tiết được áp dụng cho các CTPPĐ
do có các yếu tố khuyến khích hơn so với hình thức điều tiết trước khi cải cách ngành điện
ở các nước.
chế điều tiết theo HQHĐ (performance-based regulation, PBR) của các CTPPĐ
được thực hiện theo chu kỳ điều tiết nhiều năm với mô hình Po*(1+RPI-X), trong đó Po
giá PPĐ hoặc doanh thu đầu chu kỳ điều tiết, X hệ số tăng trưởng năng suất nhân tố
tổng hợp của CTPPĐ. Từ góc độ quản lý nhà nước về ngành điện, xuất phát từ hình thức
điều tiết theo HQHĐ, thể thấy nội dung HQHĐ trong chế điều tiết bao gồm hai thành
phần hiệu quả kỹ thuật năng suất. Hai thành phần này quyết định mức giá PPĐ
mức độ lợi ích của CTPPĐ cần chia sẻ với khách hàng sử dụng.
Ý nghĩa của việc xác định mức hiệu quả kỹ thuật để các CTPPĐ phấn đấu bắt
kịp các CTPPĐ ngang hàng. Năng suất và yếu tố tiến bộ công nghệ tác động tới năng suất
cũng cần phải được hiểu để đánh giá được mức độ chia sẻ lợi ích các CTPPĐ với khách
hàng sử dụng dịch vụ. Các nhân tảnh ởng đến hiệu quả kỹ thuật thể tác động
đến tình trạng tài chính của các đơn vị. Vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu về mức độ hiệu
quả kỹ thuật, phân tích năng suất và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các
CTPPĐ. Đây các nội dung mới cần được quan tâm trong bối cảnh triển khai các bước
tiếp theo trong lộ trình phát triển ngành điện.
Vì lý do trên, tôi chọn đề tài luận án là: “Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
hoạt động của các công ty phân phối điện”.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Phân tích HQHĐ, bao gồm HQKT năng suất theo quan điểm quản lý ngành điện
và phân tích nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của các CTPPĐ.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tổng quan nghiên cứu về HQHĐ của các CTPPĐ, về phương pháp phân tích đo
lường HQKT và năng suất của CTPPĐ, và về các nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của các
CTPPĐ, từ đó đề xuất được khoảng trống nghiên cứu.
- Phân tích cơ sở luận về HQHĐ các nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của các
CTPPĐ.
- Lựa chọn hình tính toán điểm số HQKT và năng suất của các CTPPĐ, phân
tích các nhân tố quyết định chủ yếu đến HQKT của các CTPPĐ với số liệu điển hình từ
các CTPPĐ khu vực phía Nam.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới HQHĐ của các CTPPĐ nêu trên.
- Đề xuất hàm ý chính sách quản lý ngành đối với khâu PPĐ.
3. Đối tượng & phạm vi của nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu HQHĐ của các CTPPĐ, các nhân tảnh hưởng đến HQHĐ
và cơ chế quản lý điều tiết đối với các CTPPĐ.
Phạm vi của đề tài nghiên cứu:
- Về nội dung: Từ góc độ điều tiết các CTPPĐ của cơ quan quản lý ngành, với nội
dung HQHĐ bao gồm hai thành phần hiệu quả k thuật năng suất, luận án nghiên
cứu HQHĐ gồm hiệu quả kỹ thuật và năng suất của các CTPPĐ khu vực phía Nam. Luận
án phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật và yếu tố tiến bộ công nghệ tác
động đến năng suất của các CTPPĐ khu vực phía Nam.
- Về không gian: 21 CTPPĐ khu vực phía Nam.
- Về thời gian: giai đoạn 2011-2020.
4. Cơ sở lý luận chính và tóm tắt phương pháp nghiên cứu
Luận án nghiên cứu ước lượng HQHĐ bao gồm HQKT năng suất của các
CTPPĐ; tìm ra yếu tố quyết định tác động đến HQHĐ các CTPPĐ; phân tích các nhân tố
ảnh hưởng đến HQHĐ của các CTPPĐ, trong đó có thành phần tăng trưởng năng suất do
thay đổi công nghệ.
Nghiên cứu sử dụng hình phân tích hiệu quả theo phương pháp phân tích bao
dliệu DEA, lựa chọn biến số đầu vào đầu ra cho hình phân tích DEA tiến
3
hành thu thập dữ liệu nghiên cứu từ 21 CTPPĐ của Tổng công ty Điện lực miền Nam
(TCTĐLMN) thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam trong giai đoạn từm 2011 đến năm
2020.
Nghiên cứu sử dụng mô hình Tobit để phân tích nhân tố ảnh hưởng đến HQKT tính
toán được từ kết quả của hình DEA. Quá trình phân tích này cũng cần xác định các
biến số môi trường trên cơ sở dữ liệu biến số đầu vào và đầu ra của mô hình DEA thu thập
được và các yếu tố bên ngoài khác.
Nghiên cứu sử dụng phân tích năng suất Malmquist để tách thành phần tăng trưởng
năng suất do tiến bộ công nghệ. Đây cũng là một yếu tố tác động đến HQHĐ của CTPPĐ.
5. Cấu trúc luận án
Nội dung chính của Luận án gồm các chương sau:
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu
Chương 2. Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng hiệu quả
hoạt động của công ty phân phối điện
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
Chương 4. Phân tích hiệu quả hoạt động các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
hoạt động của các công ty phân phối điện
Chương 5. Thảo luận kết quả và hàm ý chính sách
6. Đóng góp mới của nghiên cứu
- Luận án sử dụng các phương pháp phân tích kinh tế gồm phân tích DEA kỹ
thuật Malmquist đphân tích hiệu quả kthuật năng suất của các công ty phân phối
điện khu vực phía Nam, từ đó thể áp dụng trong phân tích, y dựng chính sách quản
ngành đối với khâu phân phối điện tại Việt Nam, trong bối cảnh đến nay chưa có các
nghiên cứu với nội dung tương tự đối với khâu phân phối điện tại Việt Nam.
- Do chưa có nghiên cứu phân tích hiệu quả kỹ thuật của các công ty phân phối điện
tại Việt Nam, nên chưa các nghiên cứu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng. Luận án sử
dụng phương pháp phân tích hồi quy Tobit tìm ra mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng
và hiệu quả kỹ thuật của các công ty phân phối điện tại khu vực phía Nam của Việt Nam.
- Luận án đưa ra những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các công ty
phân phối điện với số liệu ở khu vực phía Nam đã kiểm định được các nhân tố gồm mật
độ khách hàng theo chiều dài lưới điện, mật độ dân số, tỷ lệ ngầm hóa lưới điện, quy mô
công ty phân phối điện tỷ trọng công nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của
công ty phân phối điện đang được nghiên cứu. Tiến bcông nghệ thành phần chính
đóng góp vào tăng trưởng ng suất của các công ty phân phối điện khu vực phía Nam.
4
Luận án cũng đưa ra kết luận cấu trúc khách hàng không ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật
của công ty phân phối điện, phù hợp với kết quả nghiên cứu tương tự tại Thổ Nhĩ Kỳ.
- Hiệu quả kỹ thuật tổng thể của các công ty phân phối điện khu vực phía Nam chưa
đạt chủ yếu là do chưa hiệu quả về quy mô. Một số công ty phân phối điện khu vực phía
Nam chưa đạt hiệu quả tối đa do có quy mô chưa tối ưu. Do kết quả phân tích nhân tố ảnh
hưởng cho thấy quy tác động cùng chiều tới hiệu quả kthuật của công ty phân
phối điện, các công ty phân phối điện có thể được nghiên cứu sáp nhập để nâng cao hiệu
quả kỹ thuật.
- Luận án đề xuất một số hàm ý về chính sách quản lý nhà nước trong lĩnh vực điều
tiết các công ty phân phối điện tại Việt Nam, gồm: (i) khẳng định sự cần thiết điều tiết
khâu phân phối điện, đề xuất bổ sung quy định về giá sử dụng dịch vụ lưới phân phối điện
và các chính sách liên quan; (ii) áp dụng cơ chế điều tiết theo hiệu quả hoạt động đối với
khâu phân phối điện với thiết kế so sánh chuẩn để giảm thiểu các điểm bất lợi do bất cân
xứng thông tin trong quá trình điều tiết; (iii) điều chỉnh đối với sự khác biệt về điều kiện
vận hành lưới điện, tính toán loại bỏ ảnh hưởng các yếu tố môi trường khi thiết kế cơ chế
điều tiết và xây dựng các mục tiêu hiệu quả; và, (iv) hàm ý cho công ty phân phối điện về
việc phân ch tối ưu các thông số hoạt động để có thể đưa ra ltrình phấn đấu đạt mức
hoạt động hiệu quả. Đây các hàm ý cần thiết trong việc phát triển của ngành điện
khâu phân phối điện trong thời gian tới và trong dài hạn.
CHƯƠNG 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Nghiên cứu về ngành điện và khâu phân phối điện
Newbery (2000), Von Hirschhausen cộng sự (2006), RAP (2011), Mydland
cộng sự (2018), Söderberg (2011) đã mô tả ngành điện và quá trình tái cơ cấu ngành điện
tại các quốc gia điển hình gồm Anh, Đức, Hoa Kỳ, Na Uy và Thụy Điển.
Trước khi tái cơ cấu, ngành điện tại các quốc gia có đặc điểm chung là một ngành
tích hợp dọc gồm các khâu chủ yếu là phát điện, truyền tải điện, PPĐ để cung cấp cho hộ
sử dụng điện. Khâu PPĐ bao gồm cả bán lẻ điện khâu sản xuất kinh doanh cuối cùng
của ngành điện cung cấp điện tới khách hàng sử dụng điện. Quá trình tái cấu ngành
điện của các quốc gia được khởi đầu từ Vương quốc Anh sau đó lan rộng đến các quốc gia
khác trên thế giới. Việc ban hành các đạo luật cải cách ngành điện ở các quốc gia đã thúc
đẩy táicấu, tự do hóa ngành điện và phân tách các khâu của ngành điện tích hợp dọc.
Việc cải cách ngành điện ở các quốc gia đã thúc đẩy thành lập quan điều tiết có trách
nhiệm điều tiết các khâu có tính độc quyền tự nhiên như truyền tải điện và phân phối điện,
thúc đẩy thiết lập thị trường điện ở các khâu phát điện và bán lẻ điện.
5
Điều tiết kinh tế được sử dụng để kiểm soát sức mạnh thị trường hiện có trong các
ngành cụ thể. Trước cải cách, khâu PPĐ các quốc gia thuộc công ty tích hợp dọc các
khâu của ngành điện hoặc bao gồm các CTPPĐ riêng tự điều tiết. Trong quá trình cải cách
ngành điện các quốc gia, do khâu PPĐ nh độc quyền tự nhiên, việc điều tiết khâu
PPĐ là một hình thức quản lý ngành cần thiết của nhà nước để đảm bảo lợi ích cho người
tiêu dùng.
1.2. Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các công ty phân phối điện
1.2.1. Nhóm các nghiên cứu về điều tiết theo hiệu quả hoạt động
Các thảo luận về điều tiết điều tiết kinh tế được trình y tại Johan den Hertog
(2010), Essential Services Commission - Victoria (n.d.). Ricketts (2006) thảo luận về độc
quyền tự nhiên. Coelli và cộng sự (2003) thảo luận về ngành công nghiệp lưới điện, trong
đó có CTPPĐ có đặc điểm độc quyền tự nhiên cần phải điều tiết.
Khái niệm điều tiết theo HQHĐ (performance-based regulation) được thảo luận tại
Coglianese và cộng sự (2003) và OECD (2022): điều tiết theo HQHĐ là phương thức điều
tiết cụ thể hóa kết quả hoặc mục tiêu yêu cầu, thay vì quy định cụ thể phương tiện để đạt
được; công ty có thể chọn quá trình hoặc quy trình sản xuất phù hợp với quy định.
Các thảo luận về cơ chế điều tiết theo HQHĐ của các CTPPĐ có thể được tìm thấy
tại Ontario Energy Board staff (1999), Weyman-Jones (2001), Wang cộng sự (2007),
Newton Lowry Woolf (2016) EPA (2022). Thảo luận liên quan đến hình điều
tiết theo HQHĐ có công thức Po*(1+RPI-X) với các thông số giá hoặc doanh thu đầu chu
kỳ điều tiết Po và hệ số năng suất X được xác định thông qua việc đo lường điểm số hiệu
quả và phân tích năng suất của các CTPPĐ.
1.2.2. Nhóm các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của công ty phân phối điện
* Nhóm các nghiên cứu về hiệu quả của CTPáp dụng các phương pháp đo
lường hiệu quả khác nhau
Jamasb Pollitt (2001), Jamasb Pollitt (2008) đã khảo sát các nghiên cứu sử
dụng các phương pháp khác nhau để đo lường hiệu quả các CTPPĐ. Các tác giả nhận thấy
rằng các phương pháp chủ yếu phương pháp so nh chuẩn giới hạn biên phương
pháp áp dụng mô hình đơn vị tham chiếu. Khảo sát của Jamasb và Pollitt (2001), AER và
RDB-ACCC (2012) cho thấy các nước và vùng lãnh thổ đã áp dụng các phương pháp so
sánh chuẩn giới hạn biên đphân tích hiệu quả CTPPĐ. Theo Jamasb Pollitt (2001),
chỉ số hiệu quả theo phương pháp COLS dễ bị ảnh hưởng bởi vị trí so với biên hiệu quả
của công ty. Kuosmanen cộng sự (2013) đã phân tích nhược điểm của SFA khi phân
tích hiệu quả CTPPĐ. Jamasb Pollitt (2001) chỉ ra rằng trong thực tiễn, các phương
pháp phi tham số như DEA được ưu tiên sử dụng hơn. Cronin Motluk (2007) đưa ra
các ưu điểm của phương pháp DEA so với các phương pháp khác.
* Nhóm các nghiên cứu vhiệu quả của CTPPĐ áp dụng phương pháp phân tích
bao dữ liệu DEA
6
Jamasb Pollitt (2001) đã khảo sát các nghiên cứu đánh giá HQ của các
CTPPĐ áp dụng tại các nước OECD và một số nước chủ yếu áp dụng phương pháp DEA.
Các nghiên cứu điển hình sử dụng hình DEA để đánh giá hiệu quả CTPPĐ gồm các
nghiên cứu của Edvardsen Førsund (2003), Korhonen Syrjänen (2003), Kinnunen
(2005), Giannakis và cộng sự (2005) và Von Hirschhausen và cộng sự (2006). Giannakis
và cộng sự (2005) xem xét HQHĐ của CTPPĐ trên ba khía cạnh chính là năng suất, hiệu
quả và chất lượng. Các nghiên cứu hiệu quả CTPPĐ trong các năm gần đây sử dụng phân
tích DEA gồm nghiên cứu của Pérez-Reyes Tovar (2021) cho các CTPPĐ tại Peru,
Mirza cộng sự (2021) khảo sát hiệu quả c CTPPĐ ở Pakistan, Medeiros và cộng sự
(2022) nghiên cứu khâu PPĐ của Brazil.
* Nhóm các nghiên cứu năng suất của CTPPĐ
Các nghiên cứu năng suất của các CTPPĐ chủ yếu sử dụng mô hình DEA và phân
tích chỉ số Malmquist. Điển hình là các nghiên cứu của Hjalmarsson Veiderpass (1992),
Abbott (2006), Pombo và Taborda (2006), Miguéis và cộng sự (2012), Mirza và cộng sự
(2021) và Ajayi và cộng sự (2021).
1.3. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công
ty phân phối điện
Theo Jamasb Pollitt (2001), Miguéis và cộng sự (2012), để cơ chế điều tiết các
CTPPĐ hiệu quả hơn, các điều kiện hoạt động hay các biến môi trường nên được
tính đến khi đánh giá hiệu quả các CTPPĐ.
Von Hirschhausen cộng sự (2006), Çelen (2013), Pombo Taborda (2006),
Kinnunen (2005), Filippini cộng sự (2004), Cullmann Hirschhausen (2008),
Kumbhakar và cộng sự (2015), Bobde và Tanaka (2018), Vanessa de Quadros và cộng sự
(2018), Pérez-Reyes Tovar (2021) đã nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ khách hàng
theo chiều dài lưới điện, mật đdân số, tlệ chiều dài cáp ngầm, ttrọng công nghiệp,
quy mô doanh nghiệp tới hiệu quả kỹ thuật của CTPPĐ. Tác động của tiến bộ công nghệ
tới năng suất CTPPĐ được phân tích trong các nghiên cứu của Pérez-Reyes Tovar
(2009), Çelen (2013).
1.4. Khoảng trống nghiên cứu
1.4.1. Ngành điện và khâu phân phối điện tại Việt Nam
Việc hình thành cơ chế khuyến khích đối với khâu phân phối điện là cần thiết trong
thị trường bán lẻ điện để cung cấp dịch vụ phân phối điện một cách hiệu quả cho các đơn
vị bán lẻ điện khách hàng sử dụng điện tham gia thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, đồng
thời đtạo động lực, tính tự chủ trong quản hoạt động sản xuất kinh doanh của khâu
phân phối điện tại Việt Nam.
1.4.2. Các nghiên cứu liên quan tại Việt Nam
7
rất ít các nghiên cứu về HQHĐ cũng như ảnh hưởng của các nhân tố đến HQHĐ
của các CTPPĐ tại Việt Nam. Nghiên cứu về HQHĐ nghiên cứu đối với các CTPPĐ
khu vực phía Nam của Trần Tuệ Quang và cộng sự (2022), nghiên cứu về các nhân tố ảnh
hưởng đến HQHĐ của CTPPĐ nghiên cứu đối với các công ty khu vực phía Nam của
Trần Tuệ Quang (2022), nghiên cứu tại Tran Tue Quang (2022) nghiên cứu về năng
suất nhân tố tổng hợp của các CTPPĐ khu vực phía Nam.
1.4.3. Khoảng trống nghiên cứu
Đã có nhiều nghiên cứu các nước về HQHĐ của CTPPĐ nhân tố ảnh hưởng
đến HQHĐ của CTPPĐ. Tuy nhiên, cho đến nay, ở Việt Nam mới các nghiên cứu phân
tích hiệu quả đối với một số ngành lĩnh vực khác, có rất ít các nghiên cứu về HQHĐ
của các CTPPĐ nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của các CTPPĐ. Luận án cần nghiên
cứu về HQHĐ và nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của các CTPPĐ tại Việt Nam.
Dựa trên mẫu số liệu của các CTPPĐ ở các nước, phát hiện của các tác giả ở nước
ngoài về c nhân tố nh hưởng đến HQHĐ của các CTPPĐ vẫn n có sự khác biệt.
Nghiên cứu y được thực hiện để phát hiện các nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của
CTPPĐ trên mẫu số liệu các CTPPĐ tại khu vực phía Nam của Việt Nam.
Tại các quốc gia khác, đã có các nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn trong việc áp
dụng cơ chế điều tiết theo HQHĐ của các CTPPĐ để mang lại lợi ích cho KH sử dụng. Vì
vậy, chính sách quản lý nhà nước về điều tiết các CTPPĐ cần được tổng kết, đánh giá,
nghiên cứu cụ thể để khuyến nghị các hàm ý quản lý nhà nước trong lĩnh vực có tính độc
quyền tự nhiên như PPĐ tại Việt Nam.
Luận án y nghiên cứu vHQHĐ của các CTPPĐ khu vực phía Nam của Việt
Nam và phân tích nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của các CTPPĐ này với mục đích mong
muốn các phương pháp nghiên cứu về HQHĐ và các nhân tố ảnh hưởng được sử dụng
các ngành công nghiệp khác và ở các quốc gia được đưa vào áp dụng đối với ngành điện
Việt Nam, đặc biệt đối với lĩnh vực PPĐ. Đồng thời, Luận án cũng mong muốn các phương
pháp nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế được ng dụng vào việc phân tích, nghiên cứu
chính sách quản lý nhà nước đối với lĩnh vực PPĐ tại Việt Nam.
CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY PHÂN PHỐI ĐIỆN
2.1. Đặc điểm của ngành điện và công ty phân phối điện
2.1.1. Đặc điểm chung của ngành điện
Do điện không lưu trữ được ở quy mô lớn, việc sản xuất cung ứng điện xảy ra đồng
thời với tiêu thụ trong toàn bộ chuỗi cung ứng của ngành điện. Các đặc điểm sản xuất và
8
tiêu thụ diễn ra đồng thời và tính kinh tế khi phối hợp giữa các hoạt động của các khâu đã
dẫn đến cấu trúc tích hợp các khâu theo chiều dọc trong ngành điện cấu trúc phợp
trong lịch sử. Với đặc điểm đồng thời trong sản xuất và tiêu thụ, các hoạt động cạnh tranh
trong ngành điện gồm phát điện bán lẻ điện phụ thuộc đáng kể vào hoạt động của các
khâu có tính độc quyền tự nhiên gồm PPĐ và truyền tải điện.
2.1.2. Cải cách ngành điện
Trong công cuộc cải cách ngành điện các nước, các hoạt động phát điện bán
lẻ điện thường các hoạt động có tính cạnh tranh, các khâu lưới truyền tải điện phân
phối điện là khâu có tính độc quyền tự nhiên được điều tiết bởi cơ quan điều tiết.
2.1.3. Công ty phân phối điện
* Đặc điểm công ty phân phối điện
Hoạt động của các CTPPĐ có ảnh hưởng lớn đến chất lượng dịch vụ cung cấp điện
và có tác động đáng kể đến hình ảnh của ngành điện đối với xã hội. CTPPĐ có tính chất
độc quyền do khách hàng không thể tự lựa chọn nhà cung cấp điện. CTPPĐ ngoài việc
đảm bảo đáp ứng nhu cầu điện còn phải vận hành hiệu quả.
* Sự cần thiết về điều tiết kinh tế các công ty phân phối điện
Đối với các công ty tính độc quyền tự nhiên, chế điều tiết kinh tế được áp
dụng để thay thế cho cơ chế cạnh tranh của thị trường ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực
độc quyền của công ty nhằm bảo vệ người tiêu dùng.
* Các cơ chế điều tiết công ty phân phối điện
nhiều cơ chế điều tiết đối với CTPPĐ để giảm quyền lực do độc quyền tự nhiên
đồng thời để giảm sự bất cân xứng về thông tin giữa CTPPĐ và cơ quan điều tiết: cơ chế
điều tiết truyền thống về chi phí dịch vụ Hoa Kỳ Châu Âu; cơ chế áp dụng các tiêu
chí rà soát chi phí được sử dụng và hữu ích, có yêu cầu nghiên cứu chi tiết của các chuyên
gia tư vấn độc lập. Cơ chế chi phí cộng thêm làm cho CTPPĐ có ít động lực để hoạt động
hiệu quả (Bell, 2002).
* Cơ chế điều tiết theo hiệu quả hoạt động
chế điều tiết thường được áp dụng đối với CTPPĐ điều tiết theo HQHĐ
(performance-based regulation). Joskow (2006) đã mô tả tóm tắt chế điều tiết khuyến
khích gtrần của các ngành bị điều tiết tại các nước như Anh, New Zealand, Úc, các nước
khu vực Mỹ Latinh ngành viễn thông Hoa Kỳ. Giá trong k định giá đầu tiên được
áp dụng theo công thức:
P = Po * (1 + RPI - X)