1189
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC
Kiu Mạnh Hùng, Nguyễn Tiên Hoàng
Khoa Giáo dục Tiểu học,
Trường Đại học Sư phạm, Đi hc Đà Nẵng
TÓM TẮT
Sự bùng nổ của khoa học công nghệ đã tạo ra những phương tiện,
phương pháp dạy học giúp tăng khả năng, hiệu quả cho việc học tập, tạo cơ hội
cho mọi người có thể được học tập dưới nhiều hình thức, phù hợp với khả năng
và điều kiện khác nhau. Trong bối cảnh trên, bài viết nhằm đề xuất một số biện
pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học môn Toán ở tiểu học. Với
cách tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết giới thiệu ba
phương pháp tchức hoạt động dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của
học sinh trong dạy học môn Toán nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán
nói riêng, chất lượng dạy học và giáo dc Tiểu học nói chung.
Từ khóa: Tính tích cực; dạy học; môn Toán; tiểu học
1. Giới thiu
Điều 30, Luật Giáo dục 2019 nêu “Phương pháp giáo dục phổ thông
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc
trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương
pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng duy độc lập…”
1
.
Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học được xem như một nguyên tắc,
chìa khóa của quá trình dạy học đảm bảo chất ợng hiệu quả Kharlamop
đã chứng minh rằng muốn phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh trong
học tập, giáo viên phải phương pháp tác động không những vào duy của
trẻ, còn tác động đến clĩnh vực xúc cảm bên trong (Kharlamop, 2019).
Nhóm tác giả Nguyễn Lăng Bình - Đỗ Hương T(2021) đã phân tích một số
phương pháp dạy học nhằm phát huy tạo dựng được duy thành công cho
học sinh, giúp học sinh không thụ động trong tiếp nhận kiến thức ngưi
chủ động học, đồng thời trực tiếp thực hiện các thực hành và trải nghiệm, do đó
sẽ luôn cảm thấy hứng tkhi tham gia hoạt động học tập. Trong nghiên cứu của
mình nhóm tác giả Тагаева, Махкамова and Маматмусаева (2022) cho rằng
1
Chính ph (2019), Lut Giáo dc, Hà Ni
1190
cách tiếp cận dựa trên năng lực là cách thức cơ bản và hiện đại nht để đạt đưc
chất lượng giáo dục cho học sinh lứa tuổi tiểu học. Nhóm nghiên cứu này khẳng
định năng lực của học sinh tiểu học có thể được xem như một hệ thống các phẩm
chất và khả ng giáo dục chung phquát, các em luôn có nhu cầu áp dụng năng
lực của bản thân vào thực tế. Mục tiêu kết quả dạy học sẽ đạt được khi phát
huy tính tích cực của học sinh qua việc tạo cơ hội áp dụng kiến thức vào các lĩnh
vực khác nhau trong thc tiễn.
Drew và Madelyn khẳng định tầm quan trọng khi giáo viên biết ch khơi
gợi và diễn giải chính xác những suy nghĩ của học sinh. Công trình cũng đã đưa
ra những cách thức giúp giáo viên phát triển năng lực khơi gợi diễn giải suy
nghĩ chính xác của học sinh học lực yếu tiểu học. Nghiên cứu cũng chỉ ra
rằng khi giáo viên kỹ năng đặt câu hỏi hợp lý, học sinh stiếp thu kiến thức
một cách nhanh chóng (Drew & Madelyn, 2021).
Dựa trên đặc điểm tâm của học sinh tiểu học, đặc điểm môn Toán ở tiu
học, nghiên cứu đã đề xuất ba biện pháp giúp giáo viên áp dụng trong dạy hc
nhằm phát huy tối đa tính tích cực của học sinh.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu y sử dụng phối hợp các phương pháp sau: Thnhất, phân
tích và tổng hợp lý luận về các tài liệu liên quan đến dạy học tích cực, phát huy
tính tích cực trong dạy học phổ thông. Thhai, vận dụng phương pháp tiếp cn
hệ thống bằng cách tích hợp các nội dung các môn khoa học để tạo nguồn thông
tin đa dạng, phong phú về các kiến thức liên quan đến biện pháp dạy học cho hc
sinh tiểu học trong môn Toán.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Tính tích cực học tập của học sinh
Xu hướng hội nhập toàn cầu về mọi mặt của đời sống xã hội đòi hỏi mỗi
nhân phải không ngừng tích cực, năng động, sáng tạo và luôn y dựng ý thức
knăng hợp tác trong tập thể. Muốn đạt được điều này, mọi nhân phải
được tập dượt knăng phát hiện giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sng
thc tiễn, được rèn luyện phương pháp tự học để có thể học tập suốt đời.
Mặc Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 đã được triển khai
gần 6 năm qua, các bộ sách giáo khoa mới cơ bản hoàn thiện, tuy nhiên qua tìm
hiểu thực tế chúng tôi nhận thấy, phần lớn các tiết dạy trong môn Toán được triển
khai chủ yếu dựa vào nội dung sách giáo khoa một cách rập khuôn, chủ yếu sử
dụng phương pháp diễn giảng kết hợp với đàm thoại. Các hoạt động khởi động,
khám phá có tổ chức nhưng hiệu quả chưa cao. Cách kiểm tra, đánh giá chủ yếu
1191
sử dụng câu hỏi tái hiện, ít câu hỏi tổng hợp, vận dụng, đòi hỏi shiểu biết
nắm vững kiến thức của học sinh. Phần lớn các bài giảng còn theo lối dạy hc
truyền thống, chưa phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của người học.
Trong dạy học môn Toán, đđạt được hiệu quả cao nhất thì người học
phải có kỹ năng kết nối nhiều khái niệm từ các chủ đề toán học khác nhau. Khi
kết nối được nhiều khái niệm, các em có thể nhận biết và áp dụng kiến thức toán
học trong các tình huống ngoài toán học. Trong mỗi tiết học, học sinh được hoạt
động, được tham gia tích cực vào quá trình học tập, có cơ hội làm việc, thảo luận
và chia sẻ ý kiến với bạn học với giáo viên. Từ đó thúc đẩy sự phát triển các
kỹ năng như duy phản biện, giao tiếp, giải quyết vấn đề duy sáng tạo.
Bên cạnh đó, môi trường học tập dựa trên hoạt động sẽ cung cấp cho người học
hội tiếp thu các knăng như kết nối, biểu diễn, giao tiếp suy luận, từ đó
mang đến cho người học cơ hội hình thành kiến thức mới.
Phương pháp dạy học theo hướng phát huy nh tích cực giúp học sinh
nâng cao năng lực liên hệ - kết ni trong hc tập. Liên hệ - kết ni trong học tập
nói chung, trong môn Toán nói riêng được hiểu là các mạng lưới, các liên kết mà
người học tạo ra giữa các khái niệm chủ đề toán học (các kết nối nội môn
học), giữa toán học các lĩnh vực khác (các kết nối ngoài toán học), giữa
toán học với thế giới thực hoặc cuộc sống hàng ngày (các kết nối ngoài toán học).
Khi có ng lực liên hệ, người học thể nhận biết kết nối các ý ởng toán
học, hiểu cách thức c khái niệm toán học quan hệ với nhau y dựng dựa
vào nhau đtạo ra một tổng thể mạch lạc thống nhất. Học sinh kỹ năng kết
nối toán học thđưa ra những quan sát liên quan hoặc liên kết các khái
niệm trong quá trình giải quyết vấn đề. Các em thể giải một bài toán thành
công khi kết nối được nó với mt mạng lưới các khái niệm hiện có trong tri thức
của mình. Mạng lưới các ý tưởng toán học được tạo ra khi học sinh kết hợp các
khái niệm mới vào kiến thức hiện có. nvậy, học sinh mới hình thành, hiểu,
ghi nhớ sâu sắc lâu dài vấn đề. Tuy nhiên, học sinh tiểu học lại thường gặp
khó khăn trong việc kết nối các khái niệm khi giải bài toán.
3.2. Thang đánh giá mc đtích cực trong học tập của học sinh
Tính tích cực của một nhân được biểu hiện thông qua việc chủ động
thực hiện hoạt động của nhân đó. Đối với học sinh, nh tích cực được biểu
hiện trong hoạt động chủ đạo là học tập, ngoài ra còn biểu hiện trong lao động,
thể dục thể thao, vui chơi giải trí, hoạt động xã hộiTính tích cực học tập ca
học sinh đặc trưng bởi sự khát vọng tìm tòi, cố gắng chiếm lĩnh tri thức. Theo
Sukina (1979), nh tích cực học tập biểu hiện những dấu hiệu sau (dẫn theo
1192
Nguyễn Bích Ngân (2009):
- Hăng hái trả lời các câu hỏi, bổ sung câu trả lời của bạn, thích được phát
biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra.
- Hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa rõ.
- Chđộng vận dụng linh hoạt những kiến thức, k năng đã học đnhn
thc vấn đề mới.
- Mong muốn được đóng góp những thông tin mới lấy từ những nguồn
khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn học.
Ngoài những biểu hiện dễ nhận thấy trên, còn có những biểu hiện về mặt
xúc cảm, khó nhận thấy, như: thờ ơ/hào hứng, phớt lờ/ngạc nhiên, hoan hỉ/buồn
chán trước một nội dung nào đó của bài học, hoặc khi tìm ra lời giải cho một bài
tập.
Bảng 1. Thang đánh giá mức độ tích cực trong tập n Toán của học sinh tiểu học
Biu
hiện
Mức độ 1: Bắt
chước
Mức độ 2: Tìm tòi
Mức độ 3: Sáng tạo
Khao
khát
học tập
Học sinh tích cực
bắt chước hoạt
động của giáo
viên, của bạn bè.
Học sinh tìm cách độc
lập giải quyết bài tập
nêu ra, mẫm
những cách giải khác
nhau đểm ra lời gii
hợp lý nhất.
Học sinh nghĩ ra cách giải
mới độc đáo, đề xut
những giải pháp hiệu
quả, sáng kiến lắp đặt
những thí nghiệm để
chứng minh bài học.
Hay nêu
câu hi,
thc
mắc
Học sinh bắt
chước đưa ra
được câu hi
tương tự của giáo
viên, của bạn bè.
Học sinh đề xuất được
câu hỏi nội dung
độc lập.
Học sinh ng ra những
câu hỏi, những thắc mắc
độc đáo, những thắc mắc
thể thay đổi kết quả của
bài toán.
Ch
động
vận
dụng
Học sinh bắt
chước vận dụng
theo những tình
huống giáo
viên bạn đã
vận dụng
Học sinh biết ch vận
dụng vào các tình
huống độc lập.
Học sinh liệt được hết
các tình huống thvận
dụng kiến thức, phân tích
các khía cạnh khi vận
dụng kiến thức vào tình
huống.
Dancop (1979) đã đưa ra 5 nguyên tắc bản để phát huy tính tích cực
học tập của học sinh (dẫn theo Nguyễn Bích Ngân (2009), gồm:
1193
- Vic dy học phải đưc tiến hành ở mức đkhó khăn cao.
- Việc yêu cầu nắm vững kiến thức thuyết phải chiếm ưu thế. Trong quá
trình dy học, phải duy trì nhịp độ khẩn trương của việc nghiên cứu tài liệu, còn
những kiến thức đã lĩnh hội sẽ được củng cố khi nghiên cứu kiến thức mi.
- Trong dạy học, phải tích cực chăm lo cho sphát triển của tất cả các học
sinh, dù loi giỏi hay loại yếu.
- Quá trình dạy học phi làm cho học sinh ý thức được bản thân quá trình
học tập, nắm vững các phương pháp làm việc trí tuệ để hiểu, ghi nhớ tài liệu học
tập, hình thành knăng, kxảo thực hiện việc tự kiểm tra sự lĩnh hội kiến
thc.
Tuy nhiên, việc giảng dạy và học tập theo hướng phát huy tính chđộng
và tích cực của học sinh tiểu học nói chung và trong môn Toán nói riêng hiện
nay còn nhiều bất cập. Để sở đánh giá mức độ tích cực trong học tập, chúng
tôi đề xuất thang đánh giá với các biểu hiện ứng với ba mức độ (Bảng 1).
3.3. Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học
Học sinh tiểu học độ tuổi từ 6 - 11 tuổi, đây giai đoạn hình thành
những đặc trưng tâm sinh lý. Mặc dù các em chưa hoàn thiện kỹ năng, ý thức để
đối phó với những biến động của cuc sống, tuy nhiên nhiệm vụ của người giáo
viên là trao đổi, theo dõi, chỉ dạy, dìu dắt để c em vượt qua giai đoạn nhạy cảm
với nhiều biến đổi, phát triển nhanh chóng về cảm xúc, trí tưởng tượng. Trong
giai đoạn y, học sinh tiểu học bắt đầu tiếp cận với thế giới xung quanh thông
qua trí với cách suy nghĩ nhìn nhận riêng của mình, khả năng kiểm soát
cảm xúc chưa hoàn thiện, dễ giận hờn, dễ xúc động, dễ vui buồn, thiếu kiên nhẫn
chưa hiểu một cách ràng về sự vật, hiện tượng. Hầu hết thường tò mò, thích
khám phá điều mới, mong muốn tìm hiểu sự vật, hiện tượng qua những câu hỏi,
thắc mắc để qua đó các em phát triển duy, phát triển toàn diện. Đây cũng
giai đoạn các em thích được khen ngợi nhất. Khi được khen, khích lệ, các em sẽ
cảm thấy thành công, thấy hào hứng phấn khích. Nắm đặc điểm y trong dạy
học giáo dục, giáo viên nên dành tặng học sinh những lời khen tặng chân
thành để kịp thời động viên, khích lệ các em tiếp tục cố gắng, phấn đấu trong
học tập.
Một đặc điểm khá nổi bật đối với học sinh tiểu học là khả năng bắt chưc.
Trong giai đoạn y trthường thích bắt chước hành vi của người lớn, những
người xung quanh, nhân vật trong bphim yêu thíchĐây đặc điểm thuận
lợi để giáo viên khai thác trong quá trình triển khai hoạt động dạy học.
Tóm lại, đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học có nhiều thuận lợi cho việc