
3
Dự án G20TS Project - Output 2.1. Stock-taking Report - Governance -version 20180710 - VNM - CLEAN, trang
3/46
I. KHÁI NIỆM QUẢN TRỊ1
I.1 Định nghĩa về quản trị
Các chính sách của ILO hỗ trợ quản trị các vấn đề về lao động
Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) được dựa trên nguyên tắc ba bên tập trung vào đối thoại và hợp tác
giữa chính phủ, chủ lao động và người lao động trên khuôn khổ xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn
và chính sách về các vấn đề lao động.2 Nguyên tắc này đã được củng cố lại qua “Công ước Ba bên
(Các tiêu chuẩn Lao động Quốc tế) của ILO, 1976 (số 144)”. Vấn đề về quản trị được nhấn mạnh một
lần nữa tại Tuyên bố 2008 của ILO về Bình đẳng Xã hội trong quá trình toàn cầu hóa nhằm cung cấp
hỗ trợ cho vấn đề quản trị như là cơ sở để đạt mục tiêu việc làm năng suất và bền vững cho tất cả mọi
người, mục tiêu trung tâm của các chính sách quốc gia. “Đối thoại xã hội” vẫn là một trong bốn mục
tiêu chiến lược của ILO cùng với “việc làm, bảo trợ xã hội và các quyền tại nơi làm việc”. Tuyên bố
cho rằng các bên có thể có những nhu cầu khác nhau cần được đáp ứng thông qua đối thoại và các
hoạt động kỹ thuật. Tuyên bố hỗ trợ đối thoại xã hội và thông lệ ba bên giữa chính phủ, các tổ chức
của người lao động và người lao động có thể giúp đưa các mục tiêu phát triển chiến lược đến với các
nhu cầu và hoàn cảnh của từng quốc gia và thúc đẩy xây dựng đồng thuận trong các chính sách về
việc làm và đào tạo. Việc hợp tác mới với các chủ thể không phải cơ quan nhà nước cũng được
khuyến khích có thể sẽ đóng vai trò quan trọng lớn trong việc thức đẩy việc làm và tăng cường kỹ
năng.
Công ước ILO về “Quyền tự do Hiệp hội và về việc Bảo vệ quyền được tổ chức” (Số 87) đã xác định
rằng người lao động và chủ lao động có quyền tự do thành lập và gia nhập các tổ chức do họ lựa chọn,
tự do bầu các đại diện và tổ chức việc điều hành hoạt động của tổ chức đó.3 Đối thoại xã hội và quá
trình đưa ra quyết định yêu cầu sự tham gia của chính phủ đối với các vấn đề chính sách. Tuy nhiên,
các cơ quan công quyền không bị bắt buộc phải tham khảo với các đối tác xã hội trừ khi các cơ quan
này được công nhận trong hệ thống luật pháp. Quá trình thành lập và được công nhận có thể diễn ra
độc lập theo hướng những cơ quan này có thể đóng góp cho các mục đích xã hội. Nhiều đối tác xã hội
liên quan đến việc phát triển kỹ năng vận hành dưới luật doanh nghiệp và luật về các tổ chức phi lợi
nhuận trong khi có thể không được đề cập đến luật về việc làm và giáo dục đào tạo nghề nghiệp. Tại
một số quốc gia, ví dụ như Úc và Vương quốc Anh, việc cần thiết của các cơ quan theo ngành và chức
năng của các cơ quan này đã được công nhận và mô tả trong các quy định của Khung trình độ chuyên
môn Quốc gia và trong các nguyên tắc quốc gia có liên quan về việc đánh giá kỹ năng đối với trình độ
nghề quốc gia. Trong một số trường hợp, các cơ quan này được thành lập trên cơ sở tham khảo từ
chính phủ cùng với đề xuất cung cấp tài chính cho các dịch vụ này.
Định nghĩa trong quản lý về quản trị
Quản trị là quá trình tư vấn và đưa ra quyết định. Quản trị bao gồm hai đặc điểm quan trọng. Thứ nhất
là việc đưa ra các quyết định chiến lược về định hướng và vai trò. Điều này nghĩa là việc quản trị
không chỉ về đường hướng, mà còn về việc ai là người nên được tham gia vào quá trình quyết định, và
chuyên môn mà họ tham gia. Theo nghĩa này, quản trị và quản lý không phải là một do quan trị là về
việc cung cấp đường hướng trong khi quản lý nghĩa là việc triển khai hàng ngày các chính sách và kế
hoạch. Thứ hai, quản trị nghĩa là việc đưa ra các quyết định nhằm đại diện cho quyết lợi các các nhóm
liên quan bao gồm các cơ quan chính phủ ở các cấp, những người sản xuất và tiêu thụ sản phẩm và
hàng hóa, v.v. Do đó, cấu trúc quản trị, ít nhất về lý thuyết, là cấu trúc phục vụ cho lợi ích của từng
nhóm liên quan. 4 Hệ thống quản trị bao gồm một chuỗi các nhân tố bao trùm quá trị quản trị - gồm
1 Báo cáo này được thực hiện trong Kết quả 2.1 “ Các đơn vị trong ngành và Hội đồng kỹ năng ngành (HĐKNN)
giới thiệu hoặc nâng cao hệ thống của quản trị TVET trong từ ngành” của dự án do ILO thực hiện “Áp dụng
Chiến lược Đào tạo G20” (Giai đoạn 2)”.
2 http://www.ilo.org/global/standards/subjects-covered-by-international-labour-standards/tripartite-
consultation/lang--en/index.htm
3 Công ước Quyền tự do Hiệp hội và về việc Bảo vệ quyền được tổ chức, ILO, 1948 (Số. 87)
4 Phần này được dựa trên: V. Gasskov, Eds. Vocational education and training institutions: A management
handbook and CD-ROM. ILO. Geneva, 2006