CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến cấp tỉnh
Chúng tôi ghi tên dưới đây:
T
THọ và tên Ngày sinh Nơi
công tác Chức vụ Trình độ
CM
Tỷ lệ
đóng góp
vào việc
tạo ra SK
1 Phạm Thị Tuất 19/11/1970
Phòng
GDTH -
Sở GDĐT
Trưởng
phòng Thạc sĩ 25%
2 Phạm Văn Tỉnh 15/8/1978 Phó trưởng
phòng Thạc sĩ 25%
3 Trần Thị Giang 05/4/1977 Chuyên
viên Thạc sĩ 25%
4 Lương Thị Huyền Anh 02/9/1986 Viên chức Đại học 25%
I. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến “Nâng cao chất lượng
giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật thông qua xây dựng kế hoạch giáo dục
cá nhân”.
Lĩnh vực áp dụng: Quản lí giáo dục
II. Nội dung sáng kiến
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục hòa nhập xu thế tất yếu của hầu hết c nước trên thế giới cũng
như tại Việt Nam nhằm đảm bảo các quyền bản của mọi trẻ em được nêu trong
Công ước quốc tế về Quyền tr em, Quyền của Người khuyết tật Việt Nam đã
cam kết tham gia. Mỗi trẻ em kể cả trẻ khuyết tật đều những ng lực nhất
định, nếu những tác động giáo dục phù hợp thì trẻ sẽ phát triển được những
năng lực ấy.
Mục tiêu của giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật tại Việt Nam đã được
khẳng định trong Thông 03/2018/TT-BGDĐT ngày 29/01/2018 của B Giáo
dục Đào tạo: “Người khuyết tật được phát triển khả năng của bản thân, được
hòa nhập tăng hội đóng góp cho cộng đồng; Đảm bảo quyền học tập bình
đẳng, chất lượng và phù hợp với đặc điểm, khả năng của người khuyết tật”.
Để thực hiện được mục tiêu trên, nhà trường, giáo viên cần phải sự thay
đổi về môi trường, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để phù hợp
với đặc điểm, khả năng, nhu cầu của học sinh khuyết tật (HSKT). Mỗi HSKT lại
những khiếm khuyết cũng như mặt mạnh riêng, nghĩa cần phải một kế
hoạch riêng, cụ thể đối với từng trẻ để trẻ thể phát huy hết khả năng của mình.
Đây cũng quy định trong Thông số 03/2018/TT-BGDĐT ngày 29/01/2018
1
của Bộ Giáo dục Đào tạo (Khoản 1 - Điều 9: “Mỗi người khuyết tật học hòa
nhập có kế hoạch giáo dục cá nhân”).
Hiện nay, việc thực hiện giáo dục hòa nhập HSKT tại các sở giáo dục
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã đạt được một số kết quả nhất định. Các trường huy
động tối đa trẻ khuyết tật đến lớp, miễn, giảm học phí, hỗ trợ sách giáo khoa, thực
hiện đầy đủ các chính sách giáo dục đối với HSKT theo quy định; giáo viên xây
dựng kế hoạch giáo dục nhân cho từng trẻ, một số điều chỉnh trong dạy học
để phù hợp với khả năng, nhu cầu của từng em, các em được tham gia một shoạt
động cùng với các bạn trong lớp, trong trường.
Tuy nhiên, tại đa số các trường chưa giáo viên được đào tạo về giáo dục
đặc biệt, giáo viên được tham gia các lớp tập huấn về dạy học HSKT nhưng lại
không sâu hoặc không dạy lớp HSKT, giáo viên dạy lớp HSKT chưa
nhiều kiến thức, năng dạy học HSKT, số lớp học đông, trong khi giáo viên
phải đảm bảo chất lượng dạy học theo chương trình chung, việc xây dựng kế hoạch
giáo dục nhân HSKT chủ yếu được thực hiện cấp Tiểu học, các cấp học khác
chưa được quan tâm nhiều, trong khi chưa có sách giáo khoa riêng dành cho HSKT
học hòa nhập. Từ đó dẫn đến việc thiết kế hoạt động dạy học dành cho HSKT còn
hạn chế, HSKT chưa được tham gia nhiều vào c hoạt động của lớp, của trường,
chất lượng giáo dục HSKT không được đảm bảo, các em chưa được phát triển hết
khả năng của mình.
vậy, chúng tôi đã thiết kế mẫu kế hoạch giáo dục nhân HSKT dành
cho mỗi cấp học từ mầm non đến trung học phổ thông với mong muốn xây dựng
một kế hoạch giáo dục HSKT có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của các
nhà trường, giúp giáo viên định hướng được những nội dung, phương pháp cần
thực hiện trong q trình dạy học HSKT góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
hòa nhập HSKT trong các cơ sở giáo dục.
2. Giải pháp cũ thường làm
2.1. Các bước xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân HSKT
Để thực hiện giáo dục HSKT, giáo viên cần xây dựng kế hoạch giáo dục
nhân riêng cho từng em. Việc xây dựng kế hoạch được thực hiện các trường tiểu
học những trường mầm non, THCS thực hiện các dự án về GDHN TKT. Quy
trình xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân được giáo viên thực hiện như sau:
Vào đầu m học, khi tiếp nhận HSKT vào lớp, thông qua giấy xác nhận
khuyết tật hồ của trẻ, giáo viên xác định được dạng tật, mức độ tật, nguyên
nhân gây tật của trẻ một phần khả năng, nhu cầu của trẻ do giáo viên các lớp
trước bàn giao. Trong quá trình dạy học trên lớp và trao đổi với gia đình, giáo viên
đánh giá khả năng hạn chế của các em trong các môn học, các lĩnh vực: thể
chất (hình dáng, chân tay, chiều cao, cân nặng, khả năng đi, đứng, ngồi, chạy,
nhảy, cầm, nắm), ngôn ngữ (vốn từ, khả năng nghe hiểu, diễn đạt ngôn ngữ, sử
dụng ngôn ngữ nói, viết), nhận thức (trí nhớ, chú ý, khả ng học tập), năng tự
phục vụ (ăn, uống, vệ sinh nhân, chuẩn bị đồ dùng nhân), hành vi (bình
thường, bất thường: la hét, đập phá, thờ ơ, lãnh đạm).
2
Sau khi xác định được điểm mạnh, hạn chế của trẻ, giáo viên xác định mục
tiêu giáo dục cho trẻ theo năm học về: chăm sóc/phục hồi chức năng, kiến thức,
năng, hành vi thái độ. Tiếp theo xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng tháng trong
năm học trong các lĩnh vực theo mục tiêu đã đề ra, trong đó xác định nội dung,
biện pháp, người thực hiện và kết quả thực tế.
Về nội dung đề ra trong từng tháng, giáo viên tập trung vào rèn luyện các
kiến thức về hai môn Tiếng Việt Toán mức độ đơn giản, hạ thấp yêu cầu so
với chuẩn kiến thức, năng các môn học. Mục tiêu chủ yếu đọc, viết, tính toán
đơn giản.
Việc xây dựng kế hoạch này được thực hiện bởi giáo viên chủ nhiệm, cha
mẹ trẻ và cán bộ y tế xã/phường/thị trấn, có xác nhận của lãnh đạo nhà trường.
2.2. Việc thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân đã xây dựng
Trên sở kế hoạch đã xây dựng, giáo viên tiến hành thực hiện các biện
pháp đã đề ra để thực hiện được mục tiêu dành cho HSKT. Giáo viên điều chỉnh
các hoạt động giáo dục vào từng môn học, bài học, tạo cơ hội cho trẻ tham gia.
HSKT tham gia học cùng với các bạn không khuyết tật các môn học theo
đúng chương trình chung do B GDĐT quy định, trừ những môn học trẻ được
miễn tham gia do khuyết tật của trẻ. HSKT tùy vào mức độ tật được tham gia
vào một phần hay toàn bộ tiết học cùng với các bạn. Đối với những em khuyết tật
nhẹ, thể tham gia vào hầu hết các hoạt động cùng các bạn không khuyết tật thì
giáo viên không điều chỉnh nhiều về nội dung dạy học, chỉ điều chỉnh vị trí ngồi
sao cho phù hợp, dễ nghe, dễ quan sát, dễ di chuyển đối với c em. Đối với các
em nặng, khó tham gia vào hoạt động chung, giáo viên giao bài tập, nhiệm vụ
riêng theo khả năng của từng em.
Trong giờ học, giáo viêny dựng vòng tay bạn hỗ trợ trẻ trong các hoạt
động trẻ tham gia, phân công các bạn trong lớp giúp đỡ HSKT hoàn thành
nhiệm vụ học tập được giao.
Giáo viên thường xuyên trao đổi, phối hợp với cha mẹ trẻ trong việc giáo
dục trẻ tại nhà trường và gia đình.
Cuối cùng đánh giá chất lượng giáo dục HSKT. Trong bản kế hoạch giáo
dục cá nhân, giáo viên đánh giá kết quả thực tế với những nội dung đã đề ra cho trẻ
trong từng tháng, không có phần đánh giá kết quả cuối kì, cuối năm học. Việc đánh
giá được thực hiện thông qua đánh giá thường xuyên trên lớp, qua cáci kiểm tra
riêng vào cuối học cuối m học với mức độ thấp hơn so với yêu cầu chung,
đánh giá dựa trên sự tiến bộ của trẻ, kết quả đánh giá trẻ được thể hiện trong học
bạ của trẻ.
2.3. Ưu điểm, hạn chế của giải pháp cũ
a) Ưu điểm
- Mỗi HSKT được xây dựng một kế hoạch giáo dục nhân riêng giúp giáo
viên thể định hướng được nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt
động giáo dục HSKT trong môi trường hòa nhập tại nhà trường và gia đình.
3
- Giáo viên biết được những khả năng, hạn chế của HSKT để xây dựng mục
tiêu, đề ra biện pháp thực hiện đạt được mục tiêu đã đề ra.
- Việc thiết kế mục tiêu riêng trong từng tiết học, điều chỉnh nội dung,
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với khả năng của trẻ tạo hội
để trẻ được tham gia vào một số hoạt động trong lớp cùng với các bạn không
khuyết tật, giúp trẻ tự tin, hòa nhập hơn với bạn bè, thầy cô.
- Xây dựng được vòng tay bạn bè trong hỗ trợ HSKT, tạo sự cảm thông, chia
sẻ, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau của các bạn học sinh trong lớp đối với những bạn
gặp khó khăn, học sinh không khuyết tật học được ch giúp đ bạn khuyết tật
trong học tập cũng như trong việc tham gia các hoạt động tại lớp, trường, tại gia
đình trẻ, qua đó góp phần giáo dục kĩ năng sống và phẩm chất yêu thương, giúp đỡ
lẫn nhau cho học sinh.
- Huy động được sự tham gia của gia đình HSKT cán bộ y tế trong việc
xây dựng kế hoạch chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng cho trẻ tại c môi
trường khác nhau.
b) Hạn chế
- Cả ba cấp học cùng sử dụng chung một mẫu kế hoạch giáo dục nhân,
chưa p hợp với đặc trưng từng cấp học. Việc tập huấn, hướng dẫn xây dựng kế
hoạch giáo dục nhân cấp mầm non THCS, THPT chưa được quan tâm
nhiều, hầu hết giáo viên dạy hòa nhập c trường THCS, THPT chưa xây dựng
kế hoạch giáo dục cá nhân cho HSKT.
- Giáo viên đánh giá khả năng, hạn chế, nhu cầu phát triển của trẻ chủ yếu
thông qua quan sát qua c hoạt động trẻ tham gia trên lớp học không dựa
vào công cụ đánh giá cụ thể dành riêng cho từng dạng tật, dẫn đến chưa xác định
được ràng khả năng hay hạn chế của trẻ trong các lĩnh vực về thể chất, ngôn
ngữ, giao tiếp, kĩ năng sống hay việc học tập các môn học. Do đó, thông tin về khả
năng, nhu cầu của trẻ đưa ra một cách chung chung, không định lượng được, chưa
xác định được chính xác khả năng của trẻ.
- Khi c định điểm mạnh, điểm hạn chế trẻ, giáo viên chủ yếu xác định
những mặt hạn chế, không đề cập nhiều đến khả năng, điểm mạnh của trẻ, chưa
xác định được trẻ làm được những gì, dẫn đến khó khăn trong việc thiết kế các
hoạt động để trẻ có thể tham gia.
- Việc đánh giá khả năng, hạn chế của trẻ về mặt nhận thức mới chỉ tập
trung vào khả năng đọc, viết, tính toán, tức mới dừng lại hai môn Toán, Tiếng
Việt, khả năng của trẻ trong việc học các môn học còn lại đang bị giáo viên bỏ
qua”. Do đó, việc xây dựng mục tiêu cũng như việc tổ chức các hoạt động dạy học
dành cho trẻ cũng mới chỉ tập trung vào hai môn học Tiếng Việt và Toán, các môn
khác chưa được chú ý nhiều. Việc này làm cho trẻ chưa được tạo hội để phát
triển được khả năng, tiềm năng của trẻ trong các môn học khác nhau, thực tế
nhiều trẻ mặc khuyết tật nhưng lại những khả năng đặc biệt như: vẽ đẹp, hát
hay, học tiếng Anh tốt, khả năng ghi nhớ tốt, ... Giáo viên chưa tận dụng được hết
những khả năng này trong việc tổ chức hoạt động để trẻ tham gia.
4
dụ: Một trẻ khuyết tật vận động chân, phải ngồi xe lăn nhưng hai tay của
trẻ vẫn hoạt động bình thường, ngôn ngữ của trẻ như trẻ cùng lứa tuổi. Việc c
định khả năng của trẻ không đầy đủ dẫn đến việc trong giờ học môn Thể dục, trẻ
không được tham gia cùng các bạn. Tuy nhiên nếu giáo viên hiểu rõ được khả năng
của trẻ ngay từ đầu thì sẽ thiết kế mục tiêu riêng cho trẻ trong môn Thể dục như
thay việc thực hành bằng nêu lí thuyết của các động tác hay sử dụng tay trong thực
hành, chứ không phải là miễn cho trẻ không phải học đối với môn Thể dục.
Bên cạnh đó, việc này còn làm hạn chế sự tham gia của trẻ vào các hoạt
động học tập cùng với các bạn khác, tạo sự ngăn cách trẻ với trẻ, cản trở sự phát
triển tâm lí ở trẻ khuyết tật.
- Giáo viên xây dựng kế hoạch của cả năm học ngay từ đầu năm, không
sự điều chỉnh trong từng tháng gây khó khăn cho việc thực hiệnc nội dung giáo
dục phù hợp với khả năng của trẻ từng thời điểm nhất định. Trẻ khuyết tật để đạt
được một năng hay một kiến thức nào đó phải mất rất nhiều thời gian, khi
một kiến thức giáo viên phải dạy đi dạy lại nhiều lần, tháng này chưa được phải
tiếp tục dạy cho trẻ trong tháng tiếp theo. Đến một thời điểm nào đó, khả năng của
trẻ không đáp ứng được mục tiêu đã đề ra mà giáo viên không có sự điều chỉnh dẫn
đến tình trạng HSKT, thậm chí cả giáo viên sẽ cảm thấy áp lực, chán nản, không
muốn thực hiện tiếp.
- Việc xây dựng thực hiện kế hoạch giáo dục nhân do một mình giáo
viên chủ nhiệm thực hiện, chưa sự phối hợp với giáo viên các bộ môn khác nên
việc tổ chức hoạt động dạy học cho HSKT ở các môn không đồng đều, có môn học
sinh được học, có môn không.
- Đối với cấp học mầm non THCS, THPT, hầu hết giáo viên chưa xây
dựng kế hoạch giáo dục nhân dành cho HSKT, gây khó khăn trong việc định
hướng các nội dung dạy học dành riêng cho trẻ trong mỗi tiết học, môn học cụ thể,
giáo viên tổ chức để trẻ tham gia vào các hoạt động học tập nhưng không phù hợp
với khả năng, nhu cầu của trẻ, kết quả trẻ bị “bỏ rơi” mặc vẫn ngồi học cùng
với các bạn khác trong lớp.
Những nguyên nhân trên dẫn đến việc giáo viên thấy khó khăn trong việc
dạy học cho HSKT, điều đó góp phần làm cho chất lượng giáo dục HSKT không
cao, HSKT chưa được tạo cơ hội để phát triển hết khả năng của mình.
3. Giải pháp mới cải tiến
Để khắc phục những hạn chế trên, Sở GDĐT đã đưa ra những giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập HSKT thông qua việc xây dựng, tổ
chức thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân HSKT.
3.1. Thiết kế mẫu kế hoạch giáo dục cá nhân HSKT cho từng cấp học
Từ năm học 2016-2017, Sở Giáo dục Đào tạo đã thiết kế mẫu kế hoạch
giáo dục nhân trẻ khuyết tật riêng cho mỗi cấp học từ mầm non đến THCS theo
đặc trưng riêng của mỗi cấp học. Đến năm học 2019-2020, Sở GDĐT thiết kế mẫu
kế hoạch dành cho các trường THPT điều chỉnh, bổ sung mẫu kế hoạch
mầm non, tiểu học và THCS.
(Mẫu kế hoạch giáo dục cá nhân từng cấp học thể hiện ở phần phụ lục).
5