
1
PHỤ LỤC II: MẪU BÁO CÁO KẾT QUẢ SÁNG KIẾN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO AG
TRƯỜNG THPT CHUYÊN
THOẠI NGỌC HẦU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
An Giang, ngày 25 tháng 01 năm 2019
BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến, cải tiến, giải pháp kỹ thuật, quản lý, tác nghiệp,
ứng dụng tiến bộ kỹ thuật hoặc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
I- Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên: Phạm Hữu Tâm Nam, nữ: Nam
- Ngày tháng năm sinh: 21/09/1961
- Nơi thường trú: 10/5 Phan Liêm – Phường Mỹ Xuyên – Tp.Long Xuyên – An Giang
- Đơn vị công tác: Trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu
- Chức vụ hiện nay: Phó Hiệu trưởng
- Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ
- Lĩnh vực công tác: Xây dựng hiệu quả kế hoạch một phong trào trong nhà trường phổ
thông.
II- Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị: Nêu tóm tắt tình hình đơn vị, những thuận lợi,
khó khăn của đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ
- Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị:
Trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu là một trường trọng điểm của tỉnh với nhiệm
vụ đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự phát triển của tỉnh An Giang và cả nước.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang, Sở Giáo
dục và Đào tạo, cấp ủy, Hội Cha Mẹ học sinh, cũng như ban ngành tỉnh đã đầu tư về cơ sở
vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
và ứng dụng Công nghệ thông tin trong xã hội ngày càng phát triển. Đồng thời với sự quan
tâm của Ban giám hiệu, trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu đã có những chuyển biến
tích cực: trường lớp khang trang, cảnh quan nhà trường xanh sạch đẹp hơn. Nhà trường
tích cực đổi mới phương pháp dạy học thông qua phong trào áp dụng các sáng kiến kinh
nghiệm, giải pháp công nghệ của giáo viên được chú trọng và có tác dụng thúc đẩy chất
lượng giáo dục của nhà trường.

2
- Tên sáng kiến/đề tài giải pháp:
Xây dựng hiệu quả kế hoạch phong trào Nghiên cứu khoa học kỹ thuật trong học
sinh tại Trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu.
- Lĩnh vực: Xây dựng hiệu quả kế hoạch một phong trào trong nhà trường phổ thông
III- Mục đích yêu cầu của đề tài, sáng kiến:
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến:
Nghiên cứu khoa học trong học sinh cấp Trung học nhằm tạo sân chơi bổ ích cho
học sinh, khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức và giải quyết những vấn đề thực tiễn
cuộc sống; tạo cơ hội cho học sinh được chia sẻ các ý tưởng khoa học với bạn bè trong và
ngoài nước, góp phần đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học cho học sinh trong các
trường phổ thông nói chung và trường chuyên nói riêng.
Mặt khác, nghiên cứu khoa học góp phần đổi mới phương pháp dạy học trong các
trường phổ thông, nâng cao chất lượng giáo dục.
Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập của nước ta hiện nay, để khoa học, công nghệ
đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, các nhà nghiên cứu, những người làm công
tác khoa học, nhất là giáo viên tại các trường THPT chuyên phải là lực lượng nòng cốt
trong việc nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó vào mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội.
Tuy nhiên trên thực tế, nền giáo dục nước ta trong những năm qua đã thể hiện sự
bất cập: nặng về truyền đạt tri thức và xem nhẹ giáo dục tự học, tự nghiên cứu của học
sinh, đặc biệt trong nghiên cứu khoa học. Trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu cũng
không phải là một ngoại lệ. Đây chính là điểm hạn chế của chúng ta và nếu không có giải
pháp đúng đắn thì những mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục đều khó có thể trở thành
hiện thực.
Nghiên cứu khoa học từ học sinh trong các trường THPT chuyên hiện nay có thể
nói là một chủ đề mang tính tiềm năng nhưng còn nhiều điều hạn chế. Tính tiềm năng ở
chỗ học sinh THPT chuyên là một lực lượng trẻ, đầy nhiệt huyết, dám nghĩ dám làm, có
thời gian và một sự sáng tạo không ngừng được phát triển dưới mái trường phổ thông. Vấn
đề còn hạn chế ở đây là do học sinh chưa nhận thức được những lợi ích từ nghiên cứu khoa
học; chúng ta chưa tạo điều kiện về thời gian, điều kiện về cơ sở vật chất để các em thực
hiện những ý tưởng đã học được từ sách vở vào thực tiễn cuộc sống. Đặc biệt, thiếu sự

3
hướng dẫn, gợi mở của thầy cô để các em mạnh dạn phát huy sáng tạo, nhất là trong nghiên
cứu khoa học.
Nhận ra những vấn đề còn thiếu trong giáo dục toàn diện cho học sinh, Ban giám
trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu từ hai năm qua đã chú trọng hơn đến công tác nghiên
cứu khoa học cho học sinh. Nhà trường đã xác lập định hướng, kế hoạch cụ thể cho công
tác nghiên cứu khoa học đối với học sinh; như xin Sở GDĐT, vận động Sở nội vụ và hội
cha me học sinh học tập và tham quan nghiên cứu khoa học tại Đại học Khoa học tự nhiên
Thành phố Hồ Chí Minh và các trường có thế mạnh về NCKH trong cả nước, nhằm tạo
hứng thú và trãi nghiệm thực tế cho học sinh trong vấn đề NCKH.
Cùng với Hướng dẫn số 6348/BGDĐT-GDTrH ngày 25 tháng 9 năm 2012 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn tổ chức cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học
sinh trung học; Căn cứ Hướng dẫn số 34/HD-SGDĐT của Sở GDĐT An Giang ngày 27 tháng
8 năm 2013 về việc tổ chức cuộc thi nghiên cứu khoa học (NCKH) cho học sinh trung học năm
học 2013-2014 và những năm sau này, Ban giám hiệu đẩy mạnh hơn công tác hướng dẫn
học sinh làm đề tài NCKH.
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến:
Thực tiễn cho thấy, hoạt động Nghiên cứu khoa học cùng với chất lượng đào tạo là
một trong hai nhiệm vụ quan trọng đối với bất cứ một trường học. Phải khẳng định rằng,
hoạt động nghiên cứu khoa học luôn đi đôi và gắn liền với chất lượng đào tạo. Việc nhận
thức đúng và tham gia có hiệu quả vào hoạt động nghiên cứu khoa học là con đường ngắn
và hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng đào tạo tại trường học.
Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập của nước ta như hiện nay, để khoa học công
nghệ đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, các nhà nghiên cứu, những người làm
công tác khoa học, nhất là giáo viên tại các trường chuyên phải là lực lượng nòng cốt trong
việc hướng dẫn nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó vào hoạt động giảng
dạy và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học,
mỗi trường luôn muốn tự làm mới mình, muốn không bị lạc hậu trước xu thế phát triển
ngày càng sâu và rộng của quá trình hội nhập, muốn luôn đổi mới, sáng tạo và đảm bảo
chất lượng đào tạo cần phải coi trọng hoạt động nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình
đào tạo của mình.... Để làm được điều đó thì mỗi nhà giáo phải thực hiện cùng lúc hai
nhiệm vụ song hành là giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Nhà trường phải là nơi để các
em học sinh biến những ý tưởng, niềm đam mê khoa học thành những sản phẩm thực tế
cuộc sống.
Để làm được điều đó thiết nghĩ cần những giải pháp đồng bộ như sau:

4
- Về phía nhà trường:
Nâng cao nhận thức cho CBGV về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động NCKH và
là một sứ mệnh của trường chuyên.
Ban Giám hiệu trường tạo điều kiện tốt nhất cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, học sinh
thường xuyên đi nghiên cứu thực tế cả trong và ngoài tỉnh, tiếp cận thực tế sưu tầm tư liệu,
số liệu góp phần làm rõ những vấn đề thực tiễn đặt ra. Ban Giám hiệu quan tâm chỉ đạo và
thể hiện vai trò tiên phong gương mẫu trong hoạt động nghiên cứu khoa học, vừa định
hướng dẫn dắt vừa khích lệ, động viên cán bộ, giáo viên, học sinh tích cực chủ động tham
gia các đề tài khoa học.
Tăng cường tổ chức các hình thức sinh hoạt khoa học phong phú trong học sinh
như: câu lạc khoa học vật lý, câu lạc bộ Robot, v.v…. Đây là hình thức hóa sinh hoạt khoa
học, tạo môi trường khoa học sinh động, mở ra nhiều kênh trao đổi thông tin, tạo điều kiện
cho học sinh học tập, trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động khoa học.
Nhà trường cần vận động các nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất nhằm hỗ trợ cho
giáo viên và học sinh nghiên cứu khoa học. Khen thưởng xứng đáng và khích lệ những
nghiên cứu khoa học đạt giải cấp tỉnh và toàn quốc gia hoặc những giải pháp khoa học giải
quyết thực tiễn cuộc sống và học tập.
Nhà trường cần tạo nhiều thời gian và môi trường thuận tiện cho cho giáo viên và
học sinh nghiên cứu khoa học. Nghĩa là thời gian học tập của các em không chỉ là những
1. Tăng
cường
tuyên
truyền
2. Có kế
hoạch tổ
chức NCKH
3. Thường
xuyên tổ
hội thảo
NCKH
4. Động
viên, khích
lệ NCKH
trong GV,
HS
5. Vận
động
nguồn lực
và khen
thưởng cho
NCKH

5
giờ lý thuyết suôn mà cần nhiều thời gian hơn nữa trong thí nghiệm thực hành. Bên cạnh
đó, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh thí nghiệm chứng minh, thu thập số liệu nếu có
yêu cầu và khả năng cho phép của nhà trường.
- Về phía giáo viên:
Mỗi giáo viên tự rèn luyện tư duy nghiên cứu khoa học, tự tìm tòi để nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ từ chính môn mình đang giảng dạy. Biết ứng dụng công nghệ
thông tin làm phương tiện dạy và học; không ngừng cập nhật thông tin để cải tiến phương
pháp giảng dạy phù hợp và hiệu quả.
Khi hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học, giáo viên chú ý lựa chọn hình thức,
nội dung sao cho phù hợp với khả năng chuyên môn, với điều kiện thời gian và kinh phí
hiện có.
Từ những vấn đề cụ thể đặt ra cần giải quyết trong giảng dạy, trong quá trình tiếp
thu kiến thức của học sinh, giáo viên hình thành dần khái niệm và quy trình nghiên cứu
khoa học nhằm tạo nền tảng vững chắc về sau cho các em học sinh. Giáo viên luôn đặt vấn
đề và gợi ý cho học sinh giải quyết vấn đề đặt ra trên nền tảng kiến thức sẵn có của các em.
Cần luôn động viên và khích lệ các em tìm tòi, nghiên cứu và sáng tạo giải quyết những
vấn đề đặt ra cho dù đó là những giải pháp ngây ngô, chưa hoàn thiện, nhưng từ đó sẽ ấp ủ
niềm say mê khoa học của các em.
- Về học sinh:
Học sinh phải cố gắng học hỏi, tìm tòi, chủ động và phát huy tính sáng tạo trong
học tập và trong nghiên cứu.
Các em cần tham gia các câu lạc bộ khoa học do nhà trường tổ chức. Xem hoạt động
NCKH là một động lực nhằm hoàn thiện tri thức mà các em đã được tiếp thu từ thầy cô, từ
sách vở. Xem việc NCKH là một trãi nghiệm thật sự cho bước đường học tập và nghiên
cứu sau này của chính các em.
Các em có thể ghi nhớ câu danh ngôn: “Nghịch cảnh và khó khăn có thể khiến cho
con người trở nên thông minh, dù không thể làm cho con người trở nên giàu có”. Và con
đường NCKH luôn ghồ ghề không bằng phẳng, nhưng nó đem lại cho các em niềm hân
hoan và hạnh phúc mỗi khi đạt được thành công.

