
MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ ………………………............ 1
1. Lý do chọn sáng kiến ……………………………… 1
2. Mục đích nghiên cứu ……………………………… 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ……………………………… 2
4. Giả thuyết nghiên cứu ……………………………… 2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ……………………………… 2
6. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu ……………………………… 2
7. Phương pháp nghiên cứu ……………………………… 3
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ………………………………. 3
Chương 1: Cơ sở lý luận …………………………….… 3
Chương 2: Thực trạng ………………………………. 4
Chương 3: Giải pháp ………………………………. 5
Chương 4: Hiệu quả ……………………………..... 12
III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ……………………………..... 14
1. Kết luận ……………………………….. 14
2. Khuyến nghị ………………………………... 14

1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn sáng kiến
Khi bàn về vai trò yếu tố giáo dục trong sự phát triển nhân cách con
người, Bác Hồ đã viết trong bài thơ “Nửa đêm” (trích “Nhật ký trong tù”).
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà ra”
Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, con người ta sau khi sinh ra vốn bản
chất là tốt nhưng chỉ do ảnh hưởng của giáo dục và môi trường sống cùng sự
phấn đấu, rèn luyện của mỗi cá nhân mà hình thành những con người thiện, ác
khác nhau. Câu nói của người xưa trong Tam Tự Kinh: “Nhân chi sơ, tính bản
thiện” đã từng được Người nhắc lại nhiều lần trong các bài viết, bài nói chuyện.
Theo Người, con người sinh ra bản chất là tốt, song trong xã hội luôn có thiện và
có ác nên trong bản thân mỗi con người cũng có thiện và ác. Cái ác có là do ảnh
hưởng của xã hội và sự biến đổi của mỗi người. Do đó, giáo dục là một nhiệm
vụ vô cùng cần thiết, là rèn luyện, biến đổi dần dần tính cách con người, hướng
người ta đến sự hoàn thiện của một nhân cách tốt đẹp, xây dựng một xã hội với
những con người có ích và hướng thiện.
Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước ta đã xác định sự nghiệp trồng người
không chỉ là sự nghiệp của toàn nhân loại nói chung mà còn của toàn Đảng, toàn
dân ta nói riêng. Đối với nước ta, giáo dục được xác định là “quốc sách hàng
đầu”, là vô cùng quan trọng và cấp thiết bởi sự thành đạt của một con người, sự
phát triển của một thế hệ, sự hưng thịnh của đất nước đều phụ thuộc vào kết quả
của hoạt động giáo dục “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm
trồng người”. Hơn thế, trong một thời đại hội nhập kinh tế, thời đại công nghệ
thông tin phát triển như vũ bão hiện nay thì giáo dục lại vô cùng cần thiết. Làm
thế nào để những người chủ tương lai của đất nước có đủ đức lẫn tài? Làm thế
nào để sự nghiệp giáo dục mang lại hiệu quả tốt? Đây chính là trách nhiệm
chung của toàn xã hội, của tất cả những người làm công tác giáo dục, đặc biệt là
của người giáo viên chủ nhiệm lớp, người trực tiếp và thường xuyên nhất tiếp
xúc với các em học sinh. Bởi vậy, người gần gũi nhiều nhất với các em học sinh,
người luôn ở bên cạnh giải đáp mọi khó khăn thắc mắc của các em, người mà
các em kính trọng và yêu quí nhất, người mà được các em xem như là cha là mẹ
không ai khác chính là người giáo viên chủ nhiệm lớp.
Là một giáo viên chủ nhiệm lớp, tôi rất mong muốn học trò của mình là
những con ngoan, trò giỏi, tài đức vẹn toàn để sau này lớn lên các em tự tin,
năng động, bản lĩnh bước vào đời, trở thành những người công dân có ích cho
xã hội. Để thực hiện điều này, tôi quyết tâm làm tốt công tác chủ nhiệm lớp. Vì

2
vậy, trong năm học 2019 – 2020, tôi mạnh dạn chọn sáng kiến: “Bảy biện pháp
nâng cao công tác chủ nhiệm ở lớp 2A trường Tiểu học Vạn Thọ 1” này để
làm sáng kiến kinh nghiệm cho bản thân cũng như làm tư liệu tham khảo cho
các đồng nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu sáng kiến
Với đề tài sáng kiến này, mục đích nghiên cứu của bản thân tôi là:
- Tìm ra những nguyên nhân mà công tác chủ nhiệm chưa đạt hiệu quả.
Qua đó đề ra một số biện pháp hữu hiệu để giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm
nhằm khắc phục tình trạng nề nếp lớp, hạn chế học sinh bỏ học một cách tốt
hơn.
- Giúp học sinh lớp Hai có những nề nếp và thói quen tốt trong học tập, từ
đó làm nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện năng lực, phẩm chất của học
sinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Bảy biện pháp nâng cao công tác chủ nhiệm.
3.2. Khách thể nghiên cứu: Lớp 2A trường Tiểu học Vạn Thọ 1.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Với những giải pháp đã thực hiện và học hỏi kinh nghiệm của đồng
nghiệp sẽ xây dựng biện pháp nâng cao công tác chủ nhiệm ở lớp 2A trường
Tiểu học Vạn Thọ 1.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận: Về vấn đề các biện pháp nâng cao công
tác chủ nhiệm ở lớp 2.
5.2. Nghiên cứu thực trạng: Nề nếp học tập ban đầu của học sinh lớp 2A.
5.3. Đề xuất giải pháp: Nắm được thực trạng nề nếp học tập của học sinh
lớp 2A trường Tiểu học Vạn Thọ 1, từ đó có biện pháp giáo dục, rèn luyện để
tạo cơ hội cho các học sinh ấy tiến bộ hơn, học tập tốt hơn và trở thành học sinh
có ý thức, có phẩm chất đạo đức tốt.
6. Phạm vi và giới hạn sáng kiến
- Nội dung nghiên cứu: “Bảy biện pháp nâng cao công tác chủ nhiệm ở
lớp 2A trường Tiểu học Vạn Thọ 1”.
- Thời gian: Từ 11/ 2018 đến 09/2019.
- Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 2A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1.

3
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đọc sách và tài liệu tham khảo: Tôi đã tìm hiểu một số tài
liệu viết sự hình thành nhân cách của trẻ, tâm sinh lí học sinh lứa tuổi tiểu
học,…
- Phương pháp quan sát: Theo dõi quá trình học tập và hoạt động của các
em học sinh cá biệt trong lớp. (Trước, trong và sau khi áp dụng các biện pháp
giáo dục)
- Phương pháp đàm thoại: Tiến hành trò chuyện trực tiếp với các em nhằm
tìm hiểu nguyên nhân và gần gũi với các em hơn. Trao đổi trực tiếp với gia đình
các em để cùng tìm biện pháp giúp đỡ các em.
- Phương pháp điều tra thực tế: Tìm hiểu hoàn cảnh sống gia đình các em
để có biện pháp phù hợp.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh: Đối chiếu kết quả trước và sau khi thực
hiện đề tài.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích và tổng hợp nguyên nhân
cũng như kết quả đạt được.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1. Cơ sở khoa học
Khác với các bậc học khác, người giáo viên chủ nhiệm ở tiểu học là người
trực tiếp vừa “dạy” vừa “dỗ” và đảm nhiệm hầu hết các môn học, là người quản
lý toàn diện một tập thể học sinh của một lớp và có nhiều thời gian gắn bó, gần
gũi với học sinh. Hơn nữa về trình độ hiểu biết và vốn sống của học sinh tiểu
học còn nhiều hạn chế, vì vậy các em rất cần có một người thường xuyên hướng
dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo, dìu dắt. Do đó, giáo viên chủ nhiệm ở Tiểu học có một vị
trí vô cùng quan trọng trong việc hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và
các kĩ năng sống cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở.
Ngoài việc tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh, giáo
viên chủ nhiệm lớp còn phải thường xuyên theo dõi các hoạt động trong giờ
chơi, trong các buổi sinh hoạt, giao lưu tập thể,…và cả hoạt động học tập ở nhà
của học sinh. Bởi thế, công việc của một giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học là
rất nặng nề, rất vất vả và vô cùng phức tạp. Giáo viên chủ nhiệm nào có tinh
thần trách nhiệm cao, tận tâm với học sinh của mình thì chắc chắn sẽ tìm ra

4
được các biện pháp để thu hút học sinh đến lớp, làm cho học sinh trở nên chăm
ngoan, thích đi học và luôn cảm thấy “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Tuy giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học dạy được tất cả các lớp (từ lớp
Một đến lớp Năm) nhưng trong thực tế, không phải giáo viên nào cũng theo học
sinh của mình từ lớp này lên lớp khác. Vì vậy, mỗi năm lên lớp, các em lại được
học với một thầy (cô) khác nhau. Nếu giáo viên lớp dưới làm tốt công tác chủ
nhiệm, xây dựng tốt nề nếp lớp học, rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học
và nhiều kĩ năng sống cơ bản khác; nhưng lên lớp trên, giáo viên chủ nhiệm lớp
không duy trì, không phát huy thì rồi nề nếp lớp học và chất lượng học tập của
học sinh sẽ ra sao? Do vậy, công tác chủ nhiệm lớp phải được thực hiện đồng bộ
từ lớp Một đến lớp Năm. Nề nếp lớp học, phương pháp học tập, đạo đức, nhân
cách và các kĩ năng sống của học sinh phải được giáo viên chủ nhiệm chú ý xây
dựng, rèn giũa ngay từ lớp Một và phải được duy trì, phát huy xuyên suốt ở các
lớp trên.
Chương 2: Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.1. Đặc điểm tình hình
Hiện nay, hầu như ở lớp học nào trong trường cũng xuất hiện tình trạng
học sinh cá biệt. Học sinh ở lứa tuổi tiểu học các em rất nghịch, hiếu động, chưa
làm chủ được bản thân, chưa nhận thức được điều gì là đúng và điều gì là sai,
hay bắt chước và chịu tác động của mọi việc xảy ra xung quanh mình. Nếu
không uốn nắn, giáo dục các em kịp thời sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến các
học sinh khác trong lớp cũng như ảnh hưởng đến việc giảng dạy của giáo viên,
kết quả học tập của các em, kết quả thi đua của lớp. Chính vì thế, nếu môi
trường tác động tốt thì các em sẽ có những hành vi và đạo đức tốt, còn ngược lại
thì sẽ rất tồi tệ, có thể các em sẽ hư hỏng, dối trá, suy giảm đạo đức….
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
* Thuận lợi
Được sự quan tâm, giúp đỡ của lãnh đạo nhà trường cũng như chính
quyền địa phương thường xuyên quan tâm, chăm lo đến công tác giáo dục. Sự
giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm của các đồng nghiệp trong trường, trong tổ khối
cũng như sự phối hợp nhiệt tình của các giáo viên bộ môn giảng dạy ở lớp.
* Khó khăn
Là vùng nông thôn, các em ít có điều kiện tiếp xúc với môi trường bên
ngoài, nhiều học sinh trong lớp nhà ở vùng trũng, thấp và một số xa trường nên
ảnh hưởng đến việc đi lại học hành của các em.

