
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quan niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có được sự thống nhất chung đó là phát triển dựa
trên ba mục tiêu chính gồm phát triển bền vững về kinh tế; phát triển bền vững xã hội và phát triển bền vững về
môi trường. Tương ứng với ba mục tiêu vừa nêu, nội dung thông tin phát triển bền vững gồm thông tin kinh tế,
thông tin môi trường và thông tin xã hội. Cùng với các thông tin liên quan đến quản trị hoạt động kinh doanh và
quản trị tài chính doanh nghiệp, thì thông tin về phát triển bền vững ngày càng được các bên liên quan như nhà
đầu tư, khách hàng, cơ quan quản lý, … quan tâm, đòi hỏi các doanh nghiệp phải minh bạch, công khai, và công
bố để đánh giá hiệu quả và trách nhiệm xã hội, môi trường trong hoạt động của DN (Sumiani và cộng sự, 2007).
Các giá trị mà thông tin về phát triển bền vững mang lại cho doanh nghiệp đã góp phần thu hút sự chú ý
của các học giả tiến hành nghiên cứu về mảng đề tài này. Kết quả đã có nhiều nghiên cứu về công bố thông tin
phát triển bền vững được thực hiện, như nghiên cứu thực trạng công bố thông tin phát triển bền vững ((Fifka,
2013); (Châu Thị Lệ Duyên và Huỳnh Trường Thọ, 2015); (Doni và cộng sự, 2019); (Carmo và Ribeiro, 2022),
(Carnini Pulino và cộng sự, 2022)…), nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin phát triển bền
vững ((Adam, 2002); (Campbell, 2007); (Muthuri và Gilbert, 2011); (Akhtaruddin và cộng sự, 2009); (Platonova
và cộng sự, 2018); …), và nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin phát triển bền vững đến hiệu quả của
doanh nghiệp ((Reverte, 2012); (H. N. T. Trang và L. S. Yekini, 2014); (Usman và Amran, 2015); (Hà Thị Thủy,
2020), …). Kết quả các nghiên cứu cho thấy, phần lớn các nghiên cứu về phát triển bền vững, CBTT phát triển
bền vững tập trung ở các nước phát triển nhiều hơn là nước đang phát triển (Carnini Pulino và cộng sự, 2022).
Riêng tại Việt Nam, đối với các DN chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán, hiện chưa có hướng dẫn cụ thể,
và quy định về bắt buộc CBTT nói chung và thông tin phát triển bền vững nói riêng. Còn đối với các DN đã niêm
yết trên thị trường chứng khoán thì sự ra đời của Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06 tháng 10 năm 2015 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán và mới đây là thông tư
96/2020/TT-BTC về hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán thay thế thông tư 155/2015/TT-
BTC thì việc công bố thông tin kinh tế, xã hội, môi trường trong báo cáo thường niêm là bắt buộc đối với các công
ty này, tuy nhiên, thông tin phát triển bền vững công bố ra bên ngoài còn rải rác, chưa tập trung, chưa rõ ràng,
thiếu tính chuẩn hoá. Tiếp theo, kết quả của các nghiên cứu trước đã chia các nhân tố ảnh hưởng đến công bố
thông tin phát triển bền vững của doanh nghiệp thành ba nhóm chính gồm nhân tố thuộc về bối cảnh chung (như
quy định pháp lý, văn hóa quốc gia,…); các nhân tố thuộc về bối cảnh nội bộ của doanh nghiệp (phong cách lãnh
đạo, đặc điểm văn hóa tổ chức, sự nhận thức của nhà quản lý về phát triển bền vững, cam kết của nhà quản lý đối
với phát triển bền vững, chiến lược phát triển bền vững chủ động,…); và nhân tố thuộc về đặc điểm doanh nghiệp
(quy mô công ty, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, đặc điểm quản trị doanh nghiệp, số lượng thành viên hội
đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp,…) (Waris và
cộng sự, 2017). Trong quá trình nghiên cứu, các học giả sử dụng đa dạng các lý thuyết nền như lý thuyết áp lực
các bên liên quan ((Huang và Kung, 2010); (Michelon và Parbonetti, 2012); (Chiu và Wang, 2015); …), lý thuyết
hợp pháp ((Haniffa và cộng sự, 2005); (Sukhonos và Makarenko, 2017); …) nhằm giải thích lý do, động lực, hay
các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin của doanh nghiệp. Tuy nhiên, Aguinis và cộng sự (2012); Frynas
(2016) cho rằng nghiên cứu về các yếu tố bối cảnh nội bộ ảnh hưởng đến công bố thông tin phát triển bền vững
vẫn chưa được chú trọng, do đó, họ kêu gọi cần có nhiều nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào vấn đề này.