B GIO DC V ĐO TO
ĐI HC KINH T THNH PHỐ H CH MINH
-------------
NGUYỄN THỊ THANH TRẦM
TC ĐNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN PHT TRIỂN BỀN
VỮNG ĐN HIỆU QUẢ HOT ĐNG CỦA CC DOANH
NGHIỆP KHAI THC, CH BIN THỦY HẢI SẢN VÙNG
DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG - VIỆT NAM
LUẬN N TIN SĨ KINH T
Thành phố Hồ Chí Minh – m 2024
Công trình được hoàn thành tại:
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Võ Văn Nhị
Phản biện 1: .................................................................................................................
Phản biện 2: .................................................................................................................
Phản biện 3: .................................................................................................................
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại: ....................
......................................................................................................................................
Vào hồi…..giờ…..ny….. tháng…..năm 20...............................................................
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
DANH MC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CU CA TÁC GI
1. Pham Ngoc Toan, Vo Van Nhi, Nguyen Thi Thanh Tram (2019). Factors affecting the use of
management accounting at public health care units under the Ho Chi Minh department of health.
International Conference on Finance, Accounting and Auditing (ICFAA 2019), November 8, 2019,
Hanoi City, Vietnam
2. Nguyen Thi Thanh Tram, Pham Ngoc Toan (2019). Factors affecting the quality of accounting
information presented on the financial statements of public health service units in Ho Chi Minh
City. International Conference on Finance, Accounting and Auditing (ICFAA 2019), November 8,
2019, Hanoi City, Vietnam
3. Nguyen Thi Thanh Tram, Pham Ngoc Toan (2020). The Effect of Leadership Styles and
Organizational Culture on the Quality of Financial Statements of Enterprises: Empirical Evidence
from Vietnam. International Conference on Finance, Accounting and Auditing (ICFAA 2020).
December 19th, 2020 Hanoi City, Vietnam.
4. Nguyn Th Thanh Trầm (2021). Xác đnh các nhân t tác động đến vic công b thông tin kế toán
môi trường ti các doanh nghip khai thác, chế biến thy hi sản trên địa bàn tỉnh Bình Định. Tp
chí công thương. S 17 - Tháng 7/2021, 342 347. (Đề tài nghiên cu khoa hc cấp trường Trường
đại hc Nguyn Tt Thành).
5. Vo Van Nhi, Nguyen Thi Thanh Tram (2022). The disclosure of information on Sustainable
Development in the accounting reporting system and firm performance: Empirical evidence from
seafood exploitation and processing enterprises in the Central Coast provinces. The 5th International
Conference on Finance, Accounting and Auditing (ICFAA 2022), December 28th 29th, 2020 Hanoi
City, Vietnam.
6. Nguyen Thi Thanh Tram, Pham Ngoc Toan (2023). Determinant Factors of Corporate Sustainability
Information Disclosure: An Empirical Study of Vietnamese Listed Companies. Proceedings of the
6th International Conference on Digital Innovation Blockchain & Fintech, pp 262 - 272
7. Nguyen Thi Thanh Tram, Vo Van Nhi, Phm Ngc Toàn (2023). Stakeholder pressure, proactive
sustainability strategy and corporate sustainability performance of fishing and seafood processing
enterprises in Vietnam: The mediating effect of sustainability information disclosure. The 5th Asia
Conference on Business and Economic Studies (ACBES 2023).
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quan niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế được sự thống nhất chung đó là phát triển dựa
trên ba mục tiêu chính gồm phát triển bền vững về kinh tế; phát triển bền vững xã hội phát triển bền vững về
môi trường. Tương ứng với ba mục tiêu vừa nêu, nội dung thông tin phát triển bền vững gồm thông tin kinh tế,
thông tin môi trường và thông tin hội. Cùng với các thông tin liên quan đến quản trị hoạt động kinh doanh
quản trị tài chính doanh nghiệp, thì thông tin về phát triển bền vững ngày càng được các bên liên quan như nhà
đầu tư, khách hàng, cơ quan quản lý, … quan tâm, đòi hỏi các doanh nghiệp phải minh bạch, công khai, và công
bố để đánh giá hiệu quả và trách nhiệm xã hội, môi trường trong hoạt động của DN (Sumiani và cộng sự, 2007).
Các giá trị mà thông tin về phát triển bền vững mang lại cho doanh nghiệp đã góp phần thu hút sự chú ý
của các học giả tiến hành nghiên cứu về mảng đề tài này. Kết quả đã nhiều nghiên cứu về công bố thông tin
phát triển bền vững được thực hiện, như nghiên cứu thực trạng công bố thông tin phát triển bền vững ((Fifka,
2013); (Châu Thị Lệ Duyên Huỳnh Trường Thọ, 2015); (Doni cộng sự, 2019); (Carmo và Ribeiro, 2022),
(Carnini Pulino cộng sự, 2022)…), nghiên cứu các nhân tố ảnh ởng đến công bố thông tin phát triển bền
vững ((Adam, 2002); (Campbell, 2007); (Muthuri và Gilbert, 2011); (Akhtaruddin và cộng sự, 2009); (Platonova
cộng sự, 2018); …), nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin phát triển bền vững đến hiệu quả của
doanh nghiệp ((Reverte, 2012); (H. N. T. Trang và L. S. Yekini, 2014); (Usman và Amran, 2015); (Hà Thị Thủy,
2020), …). Kết quả các nghiên cứu cho thấy, phần lớn các nghiên cứu về phát triển bền vững, CBTT phát triển
bền vững tập trung các nước phát triển nhiều n nước đang phát triển (Carnini Pulino cộng sự, 2022).
Riêng tại Việt Nam, đối với các DN chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán, hiện chưa có hướng dẫn cụ thể,
và quy định về bắt buộc CBTT nói chung và thông tin phát triển bền vững nói riêng. Còn đối với các DN đã niêm
yết trên thị trường chứng khoán thì sự ra đời của Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06 tháng 10 năm 2015 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán mới đây thông
96/2020/TT-BTC về hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán thay thế thông 155/2015/TT-
BTC thì việc công bố thông tin kinh tế, hội, môi trường trong báo cáo thường niêm bắt buộc đối với các công
ty này, tuy nhiên, thông tin phát triển bền vững công bố ra bên ngoài còn rải rác, chưa tập trung, chưa ràng,
thiếu tính chuẩn hoá. Tiếp theo, kết quả của các nghiên cứu trước đã chia các nhân tảnh hưởng đến công bố
thông tin phát triển bền vững của doanh nghiệp thành ba nhóm chính gồm nhân tố thuộc về bối cảnh chung (như
quy định pháp lý, văn hóa quốc gia,…); các nhân tố thuộc về bối cảnh nội bộ của doanh nghiệp (phong cách lãnh
đạo, đặc điểm văn hóa tổ chức, sự nhận thức của nhà quản lý về phát triển bền vững, cam kết của nhà quản lý đối
với phát triển bền vững, chiến lược phát triển bền vững chủ động,…); và nhân tố thuộc về đặc điểm doanh nghiệp
(quy công ty, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, đặc điểm quản trị doanh nghiệp, số lượng thành viên hội
đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp,…) (Waris và
cộng sự, 2017). Trong quá trình nghiên cứu, các học giả sử dụng đa dạng các lý thuyết nền như lý thuyết áp lực
các bên liên quan ((Huang và Kung, 2010); (Michelon và Parbonetti, 2012); (Chiu và Wang, 2015); …), lý thuyết
hợp pháp ((Haniffa và cộng sự, 2005); (Sukhonos và Makarenko, 2017); …) nhằm giải thích lý do, động lực, hay
các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin của doanh nghiệp. Tuy nhiên, Aguinis cộng sự (2012); Frynas
(2016) cho rằng nghiên cứu về các yếu tố bối cảnh nội bộ ảnh hưởng đến công bố thông tin phát triển bền vững
vẫn chưa được chú trọng, do đó, họ kêu gọi cần nhiều nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào vấn đề này.
2
Kế đến, công bố thông tin phát triển bền vững bao gồm ba khía cạnh kinh tế, hội môi trường, nhưng theo
tìm hiểu của tác giả, phần lớn các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung nhiều hơn vào khía cạnh thông tin hội
mà nguyên nhân thể xuất phát từ việc báo cáo thông tin hội giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành
báo cáo phát triển bền vững.
Ngành thủy sản ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam (Hoang, 2021). Dịch Covid-19
ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế nói chung cũng như ngày thủy sản nói riêng, nhưng nhờ
những thành công lớn trong việc phòng chống dịch bệnh, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh mà tổng sản phẩm
trong nước (GDP) năm 2021 ước tính tăng 2,56% so với năm 2020. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế,
khu vực nông, lâm nghiệp thủy sản tăng 3,27%, đóng góp 15,7% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của
toàn nền kinh tế. Sản lượng thủy sản năm 2021 ước đạt 8.792,5 nghìn tấn, tăng 1,8% so năm 2020. Sản lượng thủy
sản nuôi trồng ước đạt 4.855,4 nghìn tấn, tăng 2,5%; trong đó sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.300 nghìn tấn,
tăng 1,1%; sản lượng tôm nuôi trồng ước đạt 996,3 nghìn tấn, tăng 5,5%. Sản lượng thủy sản khai thác biển năm
2021 ước nh đạt 3.740,2 nghìn tấn, tăng 1,1% (Niên giám thống kê, 2021). Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu
nêu trên, ngành thủy sản vẫn đang bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập như khai thác thủy sản biển đang giảm dần hoạt
động khai thác ven bờ, kém hiệu quả nhằm bảo vệ tái tạo nguồn lợi thủy sản biển, thiếu trách nhiệm với sản
phẩm, xử lý môi trường, áp lực của các vấn đề xã hội trong kinh doanh, …
Từ năm 2021 ngành thủy sản bước vào một giai đoạn mới, ngành đặt ra nhiều định hướng, mục tiêu phát
triển mới, đặc biệt là đề án phát triển ngành chế biến thủy sản giai đoạn 2021-2030 do Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt đã đặt rõ mục tiêu, phát triển chế biến thủy sản Việt Nam theo hướng hiện đại, hiệu quả bền vững, đáp
ứng được nhu cầu, quy định của thị trường tiêu thụ; nâng cao năng lực cạnh tranh tiếp tục hội nhập sâu rộng
vào chuỗi giá trị toàn cầu; phấn đấu đưa Việt Nam trở thành trung tâm chế biến thủy sản và đứng trong số 5 nước
hàng đầu thế giới vào năm 2030. Như vậy, với nhu cầu phát triển và đòi hỏi chất lượng ngày càng cao, hoạt động
của ngành thủy sản cần sự tham gia của nhiều bên liên quan, điều này đã làm mối quan hệ giữa các chủ thể
trong ngành ngày càng chặt chẽ hơn.
Công bố thông tin phát triển bền vững tại Việt Nam nói chung hay theo đặc thù nhóm ngành nói riêng là
một lĩnh vực còn khá mới mẻ (Lê Anh Tuấn, 2022). Hiện nay, tại Việt Nam, các DN đại chúng, DN niêm yết phải
bắt buộc công bố thông tin vphát triển bền vững bao gồm thông tin về tổng mức phát thải khí nhà kính (gián tiếp
và trực tiếp); và các sáng kiến và biện pháp giảm thiểu phát thải khí nhà kính, quản lý nguồn nguyên liệu, tiêu thụ
năng lượng, tiêu thụ nước, tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường, chính sách liên quan đến người lao động, báo
cáo liên quan đến trách nhiệm với cộng đồng địa phương, báo cáo liên quan đến thị trường vốn xanh theo thông
96/2020/TT-BTC của Bộ tài chính về hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên,
phần lớn các DN tại Việt Nam quy mô nhỏ vừa (Thống kê, 2022), do đó các DN này hiện chưa hướng
dẫn về công bố thông tin phát triển bền vững hay nói cách khác, nếu DN công bố thông tin tđó là công bố
thông tin tự nguyện. Nhiều DN chưa có đầy đủ các thông tin về kinh tế hội hoặc các hoạt động đảm bảo tính
bền vững để công bố thông tin. Việc thiếu các thông tin này có thể dẫn tới mất cơ hội thu hút nguồn vốn từ những
nhà đầu tư có chuẩn mực cao về trách nhiệm xã hội và môi trường (Lê Anh Tuấn, 2022).
Vùng duyên hải miền Trung là vùng trọng điểm trong khai thác, chế biến thủy hải sản của Việt Nam,
ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành sản xuất kinh doanh này. Với nhiều loại hình doanh nghiệp có quy