108
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Tác động của đa dạng kiến thức trong ban quản lý
cấp cao đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết
tại Việt Nam và vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước
Ngày nhận: 05/01/2025 Ngày nhận bản sửa: 13/06/2025 Ngày duyệt đăng: 18/06/2025
Tóm tắt: Nghiên cứu này phân tích tác động của sự đa dạng kiến thức trong
ban quản cấp cao đến hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết tại Việt
Nam, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước. Với số liệu từ
299 công ty từ 2018 đến 2022, kết quả cho thấy sự đa dạng về trình độ học vấn
ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tài chính, trong khi sự đa dạng nền tảng
giáo dục lại tác động tiêu cực. Sự đa dạng quốc tịch không được ghi nhận tác
động có ý nghĩa thống kê. Điểm mới nổi bật của nghiên cứu làm rõ vai trò
điều tiết của sở hữu nhà nước trong mối quan hệ giữa các đặc điểm đa dạng
The impact of top management knowledge diversity on the financial performance of listed
companies in Viet Nam: The moderating role of state ownership
Abstract: This study analyzes the impact of knowledge diversity within top management teams on the
financial performance of listed companies in Viet Nam, while also examining the moderating role of
state ownership. Using data from 299 companies during the period 2018- 2022, the results indicate that
diversity in educational level positively influences financial performance of listed firms, whereas diversity
in educational background exerts a negative effect. Nationality diversity does not show a statistically
significant impact. A key contribution of this study lies in clarifying the moderating role of state ownership
in the relationship between knowledge diversity characteristics and financial performance. Specifically,
state ownership weakens the positive effect of tenure diversity and amplifies the negative effect of
educational background diversity. Based on these findings, the study proposes several managerial
implications such as enhancing the professional qualifications of top management team members,
carefully considering the inclusion of individuals with different educational backgrounds, encouraging
diversity in tenure, and paying special attention to the role of state ownership in designing an appropriate
management structure to improve financial performance of listed firms on the stock market.
Keywords: Top management team (TMT), Knowledge diversity, Financial performance, Ownership structure
Doi: 10.59276/JELB.2025.11.2860
Ngo My Tran1, Nguyen Thi Hoai Phuong2, Nguyen Le Minh Huy3, Bui Thi Kim Thanh4
Email: nmtran@ctu.edu.vn1, hoaiphuongct109@gmail.com2, huym4523008@gstudent.ctu.edu.vn3, btkthanh
@ctu.edu.vn4
Organization of all: Can Tho University, Viet Nam
Ngô Mỹ Trân, Nguyễn Thị Hoài Phương, Nguyễn Lê Minh Huy, Bùi Thị Kim Thanh
Trường Đại học Cần Thơ, Việt Nam
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
NGÔ MỸ TN - NGUYỄN THỊ HI PHƯƠNG - NGUYỄN MINH HUY - BÙI THỊ KIM THANH
109
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
1. Giới thiệu
Năm 2021, đại dịch COVID-19 tiếp tục
diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến kinh tế Việt Nam. GDP chỉ tăng
2,58%- mức thấp nhất trong 30 năm. Đợt
dịch lần thứ cùng các biện pháp phong
tỏa kéo dài đã khiến 119.828 doanh nghiệp
tạm ngừng hoạt động hoặc giải thể, tăng
17,8% so với năm 2020. Hiệu quả tài
chính của các doanh nghiệp lớn cũng suy
giảm rệt, ROA ROS của các doanh
nghiệm thấp hơn so với mức trung bình
trong Bảng xếp hạng VNR500 năm 2020
(Quang Hưng, 2021). Trong bối cảnh đó,
vai trò của ban quản cấp cao (BQLCC)
trở nên đặc biệt quan trọng. thuyết cấp
trên của Hambrick Mason (1984) cho
rằng các nhà quản cấp cao đóng vai
trò then chốt trong việc hoạch định chiến
lược định hình hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu đã dành
sự quan tâm đáng kể đến việc khám phá
khía cạnh con người của các nhà quản
nằm trong ban giám đốc (top management
team- TMT), chẳng hạn như nền tảng
đặc điểm tâm lý của họ ảnh hưởng như thế
nào đến các quyết định mà họ đưa ra. Hiện
nay một số nghiên cứu trên thế giới chủ
yếu tập trung về đặc điểm nhân khẩu học
của BQLCC đối với hoạt động của công
ty, ảnh hưởng tích cực (Carpenter, 2002;
Jalbert và cộng sự, 2002). Tuy nhiên, cũng
nghiên cứu chưa tìm thấy bằng chứng
thống về mối quan hệ này (Ahmad
cộng sự, 2022; Mojambo cộng sự,
2020) hoặc tìm thấy sự ảnh hưởng tiêu
cực (Stuart & Abetti, 1990). thể thấy
một số lượng lớn các nghiên cứu về sự đa
dạng của BQLCC đã đưa ra những kết quả
không nhất quán. Nguyên nhân chính của
sự không nhất quán trong các nghiên cứu
do sự đa dạng được đo lường dựa trên
nhiều yếu tố như giới tính, tuổi, dân tộc,
quốc tịch, trình độ học vấn, kinh nghiệm
và thành viên tổ chức. Các yếu tố này chịu
ảnh hưởng khá lớn từ thể chế, văn hóa, đặc
điểm kinh tế của mỗi quốc gia (Campbell
& Mínguez-Vera, 2008). vậy, việc lựa
chọn nghiên cứu về BQLCC thể giúp
cho doanh nghiệp thêm sở lựa chọn
bổ nhiệm người quản lý.
Theo Barney (1991), sự đa dạng kiến thức
trong BQLCC xuất phát từ khác biệt về học
vấn, chuyên môn kinh nghiệm, giúp tổ
chức nâng cao năng lực ra quyết định
thích ứng hiệu quả với thay đổi (Wiersema
& Bantel, 1992). Tuy nhiên, tại Việt Nam,
nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các yếu
tố nhân khẩu học, trong khi vai trò điều
tiết của cấu trúc sở hữu trong mối quan hệ
giữa đa dạng kiến thức BQLCC hiệu
quả tài chính vẫn chưa được khai thác đầy
đủ. Phân tích vấn đề này trong bối cảnh sở
kiến thức và hiệu quả tài chính. Cụ thể, sở hữu nhà nước làm suy yếu tác động
tích cực của sự đa dạng nhiệm kỳ khuếch đại tác động tiêu cực của sự đa
dạng nền tảng giáo dục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị như
nâng cao trình độ chuyên môn, cân nhắc bổ sung thành viên nền tảng giáo
dục khác biệt, tăng cường sự tham gia của các thành viên với nhiệm kỳ khác
nhau, và đặc biệt lưu ý đến yếu tố sở hữu nhà nước trong việc thiết kế cơ cấu
ban quản cấp cao phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp.
Từ khóa: Ban quản lý cấp cao, Cấu trúc sở hữu, Hiệu quả tài chính, Sự đa dạng
kiến thức
Tác động của đa dạng kiến thức trong ban quản lý cấp cao đến hiệu quả tài chính
của công ty niêm yết tại Việt Nam và vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước
110
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
hữu nhà nước chi phối thể đóng góp vào
lý thuyết tổ chức, đồng thời cung cấp bằng
chứng thực nghiệm gợi ý thực tiễn cho
doanh nghiệp trong việc thiết kế cấu
lãnh đạo phù hợp.
Dữ liệu được thu thập từ 299 công ty niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
giai đoạn 2018- 2022. Các phương pháp
phân tích bao gồm: hình hiệu ứng cố
định (FEM), hiệu ứng ngẫu nhiên (REM),
bình phương tối thiểu tổng quát (GLS).
Nội dung nghiên cứu tiếp theo gồm các
phần: cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên
cứu, kết quả thảo luận, cuối cùng kết
luận và hàm ý quản trị.
2. sở thuyết thuyết tổng quan
nghiên cứu
2.1. Lý thuyết nền
Nghiên cứu này dựa trên ba thuyết nền
tảng, bao gồm thuyết cấp trên, thuyết
nguồn lực và Lý thuyết đại diện. Lý thuyết
cấp trên (Hambrick & Mason, 1984) cho
rằng đặc điểm nhân của lãnh đạo cấp cao
như kinh nghiệm, giá trị nhân khẩu học
ảnh hưởng đến cách ra quyết định chiến
lược, từ đó tác động đến hiệu quả doanh
nghiệp (Hambrick, 2007). Các yếu tố nhân
khẩu học thường được dùng làm đại diện
cho đặc điểm tâm (Wiersema & Bantel,
1992; Carpenter, 2002). thuyết nguồn
lực (Penrose, 1959; Barney, 1991) nhấn
mạnh rằng lợi thế cạnh tranh đến từ các
nguồn lực nội tại giá trị và khó sao chép,
trong đó vốn nhân lực cấp cao một tài
sản chiến lược quan trọng (Hitt cộng sự,
2001; Kor & Mahoney, 2005). Trong khi
đó, thuyết đại diện (Jensen & Meckling,
1976) phân tích xung đột lợi ích giữa cổ
đông nhà quản lý, cho rằng sự đa
dạng trong chuyên môn, kinh nghiệm lãnh
đạo giúp tăng kiểm soát nâng cao chất
lượng quyết định (Adams & Ferreira, 2009).
2.2. Sự đa dạng kiến thức của ban quản
cấp cao và hiệu quả tài chính
BQLCC nhóm những nhân nắm giữ
các vị trí quyền lực nhất trong tổ chức
chịu trách nhiệm chính trong việc ra các
quyết định chiến lược ảnh hưởng lớn
đến toàn công ty (Hambrick & Mason,
1984). Knight cộng sự (1999) xác định
BQLCC các nhà điều hành từ CEO
đến các phó chủ tịch cấp cao. Trong khi
đó, Cannella cộng sự (2008) cho rằng
BQLCC bao gồm những nhà điều hành cấp
cao báo cáo trực tiếp cho Giám đốc điều
hành (CEO), cùng phối hợp xây dựng
chiến lược tổ chức. Hay Nielsen (2010)
định nghĩa BQLCC tất cả các giám đốc
điều hành báo cáo cho Tổng Giám đốc điều
hành hoặc chính các Tổng Giám đốc điều
hành. thể thấy sự tương đồng giữa các
nghiên cứu, chủ yếu các cá nhân cấp cao
đóng vai trò then chốt trong việc đưa ra các
quyết định chiến lược của doanh nghiệp.
Do đó, trong nghiên cứu này BQLCC của
một công ty hay tổ chức thành viên giữ
chức danh tổng giám đốc điều hành, phó
tổng giám đốc và giám đốc.
Sự đa dạng kiến thức của BQLCC
Sự đa dạng kiến thức trong BQLCC thường
được đo lường thông qua sự khác biệt về
chuyên môn chức năng, như tài chính,
marketing, sản xuất hay R&D (Bantel &
Jackson, 1989). Việc kết hợp các thành
viên nền tảng chuyên môn khác nhau
giúp nâng cao chất lượng quyết định chiến
lược tăng tính linh hoạt trong môi trường
kinh doanh biến động.
Carpenter cộng sự (2004) mở rộng
khái niệm này bằng cách nhấn mạnh vai
trò của trình độ học vấn kinh nghiệm
nghề nghiệp. Sự khác biệt về học vị (cử
NGÔ MỸ TN - NGUYỄN THỊ HI PHƯƠNG - NGUYỄN MINH HUY - BÙI THỊ KIM THANH
111
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) kinh nghiệm công
tác đa ngành góp phần nâng cao khả năng
đổi mới và tư duy chiến lược. Ngoài ra, đa
dạng quốc tịch cũng được xem là yếu tố bổ
trợ quan trọng, khi các nhà quản từ các
nền văn hóa khác nhau mang đến góc nhìn
đa chiều hiểu biết thị trường rộng hơn
(Ponomareva & Shevchenko, 2022). Tổng
hợp từ các nghiên cứu trước, thể khái
quát rằng đa dạng kiến thức của BQLCC
bao gồm sự khác biệt về trình độ học vấn,
chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp
quốc tịch. Những khác biệt này tạo ra nền
tảng cho việc tiếp cận chiến lược đa dạng,
cải thiện hiệu quả ra quyết định khả
năng thích ứng. Do đó, việc nghiên cứu
xây dựng cấu ban quản dựa trên đa
dạng kiến thức nền tảng quan trọng cho
sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Sự đa dạng nền tảng giáo dục phản ánh mức
độ khác biệt về chuyên môn gốc của các
thành viên BQLCC- vốn là lĩnh vực mà họ
dành phần lớn sự nghiệp để phát triển. Khác
biệt này góp phần hình thành phong cách
lãnh đạo cách tiếp cận chiến lược riêng
biệt (Hambrick & Mason, 1984; Michel
& Hambrick, 1992). Carpenter (2002) sử
dụng chỉ số Herfindahl-Hirschman- HHI
(còn gọi chỉ số Blau) để đo lường sự đa
dạng nền tảng giáo dục, với công thức:
HHI =1- ∑{i=1}^{n}P{i}^{2}
Trong đó, Pi tỷ lệ thành viên thuộc nền tảng
giáo dục i, và n là tổng số nhóm nền tảng.
Theo phân loại ISCED97 của Schubert
Tavassoli (2019), nền tảng giáo dục được
chia thành 9 nhóm như: phạm, nhân văn,
kinh doanh, khoa học tự nhiên, công nghệ,
nông nghiệp, y tế, dịch vụ, các nhóm
khác. Chỉ số HHI càng cao cho thấy sự đa
dạng chuyên môn trong ban quản càng lớn.
Sự đa dạng nhiệm kỳ phản ánh chiều rộng
về kiến thức quan điểm của BQLCC
(Ngô Mỹ Trân cộng sự, 2019). Chỉ số
này được đo bằng hệ số biến thiên- là tỷ lệ
giữa độ lệch chuẩn nhiệm kỳ nhiệm kỳ
trung bình của các thành viên (Tanikawa &
Jung, 2016; Lee & cộng sự, 2021). Hệ số
càng lớn, mức độ đa dạng nhiệm kỳ càng cao,
thể hiện sự kết hợp giữa kinh nghiệm lâu năm
và tư duy đổi mới trong ban lãnh đạo.
Hiệu quả tài chính
Theo thuyết đại diện (Jensen & Meckling,
1976), hiệu quả tài chính phản ánh mức độ
nhà quản hành động lợi ích cổ đông,
trong khi thuyết nguồn lực (Barney,
1991) xem đó là kết quả của việc khai thác
hiệu quả các nguồn lực chiến lược. Hiệu
quả tài chính là thành phần cốt lõi của hiệu
quả tổ chức, đo lường bằng ROA, ROE,
lợi nhuận doanh thu (Venkatraman &
Ramanujam, 1986). Richard cộng sự
(2009) mở rộng khái niệm này, bao gồm
thêm phản ứng thị trường sự hài lòng của
cổ đông. Về đo lường, các chỉ số kế toán
(ROA, ROE) phản ánh hiệu quả ngắn hạn,
trong khi Tobin’s Q thể hiện kỳ vọng dài
hạn (Huselid, 1995; Rothenberg cộng
sự, 2017). Chỉ số Tobin’s Q ngày càng phổ
biến nhờ khả năng tích hợp cả hiệu suất
tài sản kỳ vọng thị trường (Singhal
cộng sự, 2016), phù hợp với nghiên cứu về
quản trị định giá doanh nghiệp (Singh
cộng sự, 2017). Ngoài ra, Tobin’s Q
còn được đánh giá khách quan hơn trong
bối cảnh thiếu minh bạch tài chính (Kyere
& Ausloos, 2020). Theo Chung Pruitt
(1994), công thức tính Tobin’s Q là:
Tobin’s Q = (Giá trị sổ sách của Nợ + Giá
trị thị trường của Vốn chủ sở hữu) / Tổng
tài sản theo sổ sách
2.3. Tổng quan các nghiên cứu giả
thuyết nghiên cứu
Kể từ khi được Hambrick Mason (1984)
đề xuất, thuyết cấp trên đã thu hút sự
quan tâm rộng rãi trong nghiên cứu quản
Tác động của đa dạng kiến thức trong ban quản lý cấp cao đến hiệu quả tài chính
của công ty niêm yết tại Việt Nam và vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước
112
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
trị chiến lược. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng
sự đa dạng trong BQLCC ảnh hưởng
thống kê đến quyết định chiến lược và hiệu
quả tài chính (Milliken & Martins, 1996;
Francoeur cộng sự, 2008). Tuy nhiên,
tại Việt Nam, các nghiên cứu vẫn còn hạn
chế, chủ yếu tập trung vào từng yếu tố riêng
lẻ như giới tính, trình độ hay kinh nghiệm,
chưa hình thành được khung lý thuyết toàn
diện về đa dạng kiến thức trong BQLCC.
Đáng chú ý, chưa nghiên cứu nào xem
xét vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước
trong mối quan hệ giữa đa dạng kiến thức
hiệu quả tài chính. Đây một khoảng
trống quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh
nhiều doanh nghiệp Việt Nam tỷ lệ sở
hữu nhà nước cao, ảnh hưởng đến cấu
quản trị. Việc tích hợp yếu tố này vào
hình nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện lý
thuyết mang lại hàm ý thực tiễn cho việc
thiết kế cơ cấu lãnh đạo phù hợp.
Ảnh hưởng sự đa dạng về quốc tịch của
BQLCC đến hiệu quả tài chính
Đa dạng quốc tịch một khía cạnh quan
trọng của sự đa dạng kiến thức trong
BQLCC, các nhà quản từ các quốc gia
khác nhau mang theo nền tảng văn hóa, kinh
nghiệm thị trường cách tiếp cận quản
đa dạng (Ponomareva & Shevchenko,
2022). Điều này giúp mở rộng góc nhìn,
nâng cao chất lượng quyết định chiến lược
khả năng giám sát tổ chức (Hambrick
& Mason, 1984; Nielsen & Nielsen, 2013).
Các giám đốc điều hành nước ngoài còn có
lợi thế về kinh nghiệm quốc tế, mạng lưới
quan hệ và hiểu biết toàn cầu, hỗ trợ doanh
nghiệp mở rộng thị trường nâng cao năng
lực cạnh tranh (Ibrahim & Ahmad, 2017).
Tại Việt Nam, theo P.Diệp (2021), hơn
70% lao động nước ngoài giữ vị trí chuyên
gia quản lý, phản ánh nhu cầu cao về
nhân lực quốc tế. Việc bổ sung các nhà
quản ngoại quốc không chỉ cải thiện
năng lực chiến lược còn nâng cao hình
ảnh doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập.
Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết đầu
tiên như sau:
H1: Sự đa dạng về quốc tịch của BQLCC
mối quan hệ thuận chiều với hiệu quả
tài chính của các công ty niêm yết.
Ảnh hưởng sự đa dạng về trình độ học
vấn của BQLCC đến hiệu quả tài chính
Sự khác biệt về trình độ học vấn giúp tăng
cường quá trình giải quyết vấn đề ra
quyết định trong môi trường kinh doanh
năng động. Herrmann Datta (2005)
phát hiện ra rằng các công ty BQLCC
với sự đa dạng trình độ học vấn cao hơn sẽ
mang lại hiệu quả hoạt động tốt hơn cho
công ty so với các công ty khác. Do đó, sự
đa dạng trình độ học vấn càng cao thì quan
điểm của BQLCC thể càng đa dạng
toàn diện (Shakil & Abdul-Wahab, 2023).
Một số nghiên cứu thực nghiệm đã lập luận
rằng các nhà quản lý cấp cao được đào tạo ở
cấp độ cao hơn khả năng tạo ra những ý
tưởng phong phú tác động tích cực lên
hiệu quả tài chính của các công ty (Jalbert
cộng sự, 2002; Prosvirkina & Wolfs, 2019).
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi
số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao ưu tiên chiến lược của Việt Nam.
Đặc biệt, đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp
cần chuyên môn vững, duy hiện đại
khả năng hội nhập quốc tế nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh. Chính phủ nhấn
mạnh vai trò của quản trị viên trình độ
học vấn năng lực công nghệ, xem đây
nền tảng giúp doanh nghiệp thích ứng
linh hoạt với biến động thị trường và vươn
ra khu vực, quốc tế. Từ đó, giả thuyết H2
được đề xuất:
H2: Sự đa dạng về trình độ học vấn của
BQLCC mối quan hệ thuận chiều với
hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết.