11
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
Tác động của phân cấp tài khoá theo Luật Ngân sách
Nhà nước 2015 đến nỗ lực thu thuế của chính quyền
địa phương: Bằng chứng thực nghiệm từ Việt Nam
Ngày nhận: 18/08/2025 Ngày nhận bản sửa: 29/09/2025 Ngày duyệt đăng: 08/10/2025
Tóm tắt: Nghiên cứu này lượng hóa tác động nhân quả của cải cách phân
cấp tài khoá theo Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) 2015 đối với nỗ lực thu
thuế của chính quyền địa phương tại Việt Nam. Sử dụng phương pháp Khác
biệt trong Khác biệt (Difference- in- Differences- DID) với dữ liệu bảng của 63
tỉnh, thành phố giai đoạn 2011- 2022, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực
nghiệm cho thấy cải cách đã tạo ra một tác động ròng tiêu cực lên nỗ lực thu
thuế. Phân tích sâu hơn chỉ ra rằng tác động này chủ yếu được dẫn dắt bởi sự
gia tăng phụ thuộc vào các khoản chuyển giao từ ngân sách trung ương.
chế này đã tạo ra một ràng buộc ngân sách mềm, làm suy yếu động lực thu
lấn át tác động tích cực (còn hạn chế) từ việc tăng quyền tự chủ chi. Trên cơ
sở đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách nhằm tái cân bằng hệ thống
The impact of fiscal decentralization in the 2015 State Budget Law on local tax effort:
Empirical evidence from Viet Nam
Abstract: This study quantifies the causal impact of the 2015 State Budget Law reform on fiscal
decentralization on the tax effort of local governments in Vietnam. Using the Difference-in-Differences
(DID) method with panel data from Vietnam's 63 provinces and cities for the period 2011- 2022, the
study provides empirical evidence that the reform has had a net negative impact on tax effort. Further
analysis indicates that this effect is primarily driven by an increased dependency on central government
transfers. This mechanism has created a soft budget constraint, weakening revenue collection incentives
and outweighing the limited positive effects of increased expenditure autonomy. Accordingly, the study
proposes policy implications aimed at rebalancing the fiscal decentralization system, including: (i) linking
intergovernmental transfers to performance; (ii) expanding local revenue autonomy; and (iii) strengthening
independent fiscal oversight mechanisms.
Keywords: Fiscal decentralization, Tax effort, Intergovernmental transfers, Soft budget constraint, 2015
State Budget Law
Doi: 10.59276/JELB.2025.11.3051
Tran Hoang Minh
Email: minhth@apd.edu.vn
Organization: Academy of Policy and Development, Viet Nam
Trần Hoàng Minh
Học viện Chính sách và Phát triển, Việt Nam
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Tác động của phân cấp tài khoá theo Luật Ngân sách Nhà nước 2015 đến nỗ lực thu thuế
của chính quyền địa phương: Bằng chứng thực nghiệm từ Việt Nam
12
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
phân cấp tài khóa, bao gồm: (i) gắn kết các khoản chuyển giao với kết quả thực
hiện; (ii) mở rộng không gian tự chủ về thu cho địa phương; và (iii) tăng cường
cơ chế giám sát tài khóa độc lập.
Từ khóa: Phân cấp tài khóa, Nỗ lực thu thuế, Chuyển giao liên ngân sách, Ràng buộc
ngân sách mềm, Luật Ngân sách Nhà nước 2015
1. Giới thiệu
Phân cấp tài khóa một cấu phần trọng
yếu của cải cách quản trị công hiện đại,
bao hàm việc chuyển giao quyền hạn
trách nhiệm tài chính từ chính quyền trung
ương xuống các cấp địa phương. Về mặt
thuyết, khái niệm này được phân biệt giữa
nghĩa rộng- bao hàm sự tự chủ thực chất
về nguồn thu; và nghĩa hẹp, vốn chủ yếu là
việc phân định các nhiệm vụ chi nguồn
lực đã được cấp trên ấn định. Trong bối
cảnh Việt Nam, thuật ngữ “phân cấp ngân
sách nhà nước” vận hành chủ yếu theo
nghĩa hẹp này. Về cấu trúc, một hệ thống
phân cấp tài khóa bao gồm ba trụ cột chính:
(i) phân cấp chi tiêu, (ii) phân cấp nguồn
thu, và (iii) hệ thống chuyển giao liên ngân
sách nhằm giải quyết các mất cân đối tài
khóa (Oates, 1972; Martinez-Vazquez
cộng sự, 2017). Nền tảng lý thuyết của nó,
định Oates (1972), cho rằng phân cấp
giúp nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực
nhờ vào ưu thế thông tin của chính quyền
địa phương. Tại các nước đang phát triển,
phân cấp tài khóa còn được kỳ vọng
công cụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
tăng cường trách nhiệm giải trình.
Theo xu hướng này, Việt Nam đã thực hiện
cải cách Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN)
2015, thay thế hình “lồng ghép” tập
trung quyền lực bằng một khuôn khổ được
kỳ vọng sẽ tăng cường tính tự chủ, ổn định
minh bạch cho các địa phương. Tuy
nhiên, việc thay đổi cấu nguồn lực
quyền tự chủ thể tạo ra những tác động
không chủ định đối với động lực tài khóa,
đặc biệt nỗ lực huy động nguồn thu tại
chỗ. Đánh giá tác động thực tế của cải cách
này, do đó, một yêu cầu cấp thiết cả về
mặt học thuật và chính sách.
Các bằng chứng thực nghiệm quốc tế về
tác động của phân cấp tài khóa không đồng
nhất, phản ánh sự khác biệt trong thiết kế
thể chế. Một mặt, thuyết về “ràng buộc
ngân sách mềm” cho rằng sự phụ thuộc
vào các khoản chuyển giao từ trung ương
sẽ làm suy giảm nỗ lực thu thuế của địa
phương (Rodden cộng sự, 2003; Jia
cộng sự, 2020). Mặt khác, các lý thuyết về
“phân cấp tài khóa thế hệ thứ hai” lại nhấn
mạnh rằng việc trao quyền tự chủ về nguồn
thu sẽ tạo ra “ràng buộc ngân sách cứng”,
qua đó khuyến khích kỷ luật tài khóa
nỗ lực thu thuế (Weingast, 2009; Foremny,
2014). Sự cân bằng giữa hai chế này
quyết định đến kết quả cuối cùng, tạo ra
một câu hỏi thực nghiệm quan trọng.
Các nghiên cứu về Luật NSNN 2015 tại
Việt Nam đến nay chủ yếu dừng lại ở phân
tích thể chế định tính (Vũ Sỹ Cường,
2019; World Bank, 2019). Do đó, việc
lượng hóa tác động nhân quả của cải cách
này lên các động lực tài khóa cốt lõi- đặc
biệt là nỗ lực thu thuế của chính quyền địa
phương- vẫn một khoảng trống nghiên
cứu quan trọng.
Nghiên cứu này giải quyết khoảng trống
đó bằng cách trả lời câu hỏi trung tâm: Cải
cách phân cấp ngân sách theo Luật NSNN
2015 đã tác động như thế nào đến nỗ lực
thu thuế của chính quyền cấp tỉnh? Để
TRẦN HOÀNG MINH
13
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
thực hiện, nghiên cứu đặt ra hai mục tiêu
cụ thể: i) Ước lượng tác động ròng của cải
cách. Tác động này là kết quả tổng hợp của
hai chế đối nghịch: một mặt, gia tăng
quyền tự chủ thể thúc đẩy trách nhiệm;
mặt khác, gia tăng phụ thuộc vào chuyển
giao có thể làm suy giảm động lực; ii) Phân
tích các chế truyền dẫn, cụ thể phân
tách và so sánh tầm quan trọng của kênh tự
chủ ngân sách kênh phụ thuộc vào các
khoản chuyển giao.
Nghiên cứu này có những đóng góp mới về
mặt học thuật thực tiễn chính sách. Về
mặt học thuật, đây nghiên cứu đầu tiên
đưa ra bằng chứng nhân quả về tác động
của Luật NSNN 2015 lên nỗ lực thu thuế,
đồng thời kiểm định các thuyết đối lập
về phân cấp tài khóa trong bối cảnh Việt
Nam. Về mặt chính sách, kết quả nghiên
cứu cung cấp những gợi ý quan trọng cho
việc thiết kế các cải cách trong tương lai,
nhằm cân bằng giữa việc hỗ trợ tài chính
cho địa phương tạo ra các động lực
khuyến khích kỷ luật tài khóa hiệu quả.
Cấu trúc của bài viết được tổ chức như sau:
Phần 2 trình bày tổng quan thuyết; phần 3
tả phương pháp nghiên cứu; phần 4 trình
bày kết quả thảo luận nghiên cứu. Phần
5 kết luận và đưa ra các hàm ý chính sách.
2. Tổng quan nghiên cứu
2.1. Tổng quan thuyết các bằng
chứng thực nghiệm
2.1.1. Các thuyết nền tảng về phân cấp
tài khóa
thuyết phân cấp tài khóa được định hình
bởi hai thế hệ phát triển chính. Thế hệ thứ
nhất tập trung vào hiệu quả phân bổ nguồn
lực. Nền tảng của nó là lý thuyết “bỏ phiếu
bằng chân” (Tiebout, 1956), cho rằng sự
cạnh tranh giữa các địa phương sẽ thúc đẩy
hiệu quả. Phát triển từ đó, “Định Phân
cấp” của Oates (1972) lập luận rằng việc
cung cấp dịch vụ công sẽ hiệu quả hơn khi
được giao cho cấp chính quyền ưu thế
về thông tin và gần gũi nhất với người dân.
Tuy nhiên, các thuyết này thường vận
hành dựa trên giả định về một “nhà hoạch
định chính sách nhân từ”, một giả định
không phải lúc nào cũng phản ánh thực tế.
Thế hệ thứ hai với các đóng góp của
Weingast (2009, 2014), chuyển trọng tâm
từ hiệu quả phân bổ sang phân tích các
động lực chính trị thiết kế thể chế. Lập
luận cốt lõi là tác động của phân cấp không
tự động tích cực, phụ thuộc hoàn toàn
vào cách các thể chế được thiết kế. Một hệ
thống được thiết kế tốt sẽ tạo ra các động
lực khuyến khích kỷ luật tài khóa, trong khi
một thiết kế yếu kém có thể dẫn đến rủi ro
đạo đức và lựa chọn đối nghịch.
2.1.2. Ràng buộc ngân sách động lực tài
khóa của chính quyền địa phương
Khái niệm “ràng buộc ngân sách”, vốn
trung tâm của lý thuyết phân cấp thế hệ thứ
hai, định hình trực tiếp động lực tài khóa
của chính quyền địa phương. Bản chất của
ràng buộc này quyết định mức độ kỷ luật
tài khóa và nỗ lực huy động nguồn thu.
Một ràng buộc ngân sách cứng tồn tại khi
chính quyền địa phương không kỳ vọng
vào các gói cứu trợ phải tự chịu trách
nhiệm hoàn toàn về tình hình tài chính của
mình (Rodden và cộng sự, 2003). Điều này
tạo ra áp lực mạnh mẽ, buộc họ phải duy
trì kỷ luật tài khóa và tối đa hóa nỗ lực thu
thuế để đáp ứng các nhiệm vụ chi.
Ngược lại, một ràng buộc ngân sách mềm
xuất hiện khi có kỳ vọng, dù là tường minh
hay ngầm định, rằng chính quyền trung
ương sẽ can thiệp để “giải cứu” khi địa
phương gặp khó khăn tài chính (Kornai,
1986). Ràng buộc mềm tạo ra rủi ro đạo
đức khuyến khích chi tiêu quá mức và làm
xói mòn nỗ lực huy động nguồn thu tại chỗ,
Tác động của phân cấp tài khoá theo Luật Ngân sách Nhà nước 2015 đến nỗ lực thu thuế
của chính quyền địa phương: Bằng chứng thực nghiệm từ Việt Nam
14
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
bởi các nhà lãnh đạo địa phương tin rằng
thâm hụt ngân sách cuối cùng sẽ được cấp
trên bù đắp (Rodden, 2003).
2.1.3. chế tác động của phân cấp tài
khóa đến nỗ lực thu thuế
Từ thuyết ràng buộc ngân sách, phân
cấp tài khóa tạo ra hai chế tác động
đối nghịch lên động lực thu thuế của địa
phương.
Một mặt, tự chủ về thu- trao quyền quyết
định thuế suất hoặc giữ lại tỷ lệ thu lớn hơn-
củng cố mối liên kết trực tiếp giữa nỗ lực
thành quả, qua đó tạo ra một ràng buộc
ngân sách cứng (hard budget constraint)
khuyến khích nỗ lực thu (Asatryan và cộng
sự, 2015).
Mặt khác, các khoản chuyển giao tài chính,
đặc biệt các khoản không điều kiện,
xu hướng làm suy yếu động lực này.
Chúng được xem như một nguồn thu nhập
không đòi hỏi nỗ lực, làm phát sinh cả hiệu
ứng thu nhập hiệu ứng thay thế. Điều
này cho phép chính quyền địa phương đánh
đổi việc thu thuế (vốn tốn kém về chính trị)
để lấy các lợi ích khác, hoặc coi nguồn vốn
từ trung ương là một sự thay thế cho nguồn
thu tại ch. Cả hai đều dẫn đến một ràng buộc
ngân sách mềm (soft budget constraint), làm
xói mòn kỷ luật tài khóa (Mogues & Benin,
2012; Baretti và cộng sự, 2002).
2.1.4. Tổng quan các bằng chứng thực
nghiệm
Bằng chứng thực nghiệm về tác động của
phân cấp tài khóa cho thấy sự phụ thuộc
chặt chẽ vào bối cảnh thể chế.
Một mặt, tại các quốc gia phát triển với
cấu trúc liên bang, thuyết về “phân cấp
tài khóa thế hệ thứ hai” (Weingast, 2009)
chỉ ra rằng quyền tự chủ về nguồn thu sẽ
tạo ra một “ràng buộc ngân sách cứng”,
buộc chính quyền địa phương phải có trách
nhiệm giải trình tăng cường kỷ luật tài
khóa. Các bằng chứng tại châu Âu xác
nhận điều này, cho thấy tự chủ về thuế
mối liên hệ chặt chẽ với kết quả tài khóa
tốt hơn (Foremny, 2014; Asatryan và cộng
sự, 2015). Tuy nhiên, ngay cả trong các hệ
thống này, thiết kế của cơ chế chuyển giao
vẫn yếu tố then chốt. Nghiên cứu kinh
điển tại Đức cho thấy hệ thống cân bằng
tài khóa thể làm suy giảm động lực thu
thuế của các bang nhận trợ cấp (Baretti
cộng sự, 2002).
Mặt khác, tại các quốc gia đang phát triển
và các nhà nước đơn nhất, nơi chính quyền
địa phương phụ thuộc lớn vào các khoản
chuyển giao, các nghiên cứu lại chỉ ra sự
tồn tại của “ràng buộc ngân sách mềm”
(Rodden cộng sự, 2003), làm suy yếu
nỗ lực thu thuế tại chỗ. Trung Quốc, với
hệ thống chính quyền đơn nhất tương đồng
Nguồn: Tổng hợp từ lý thuyết phân cấp tài ka thế hệ thứ hai (Weingast, 2009)
và lý thuyết ràng buộc ngân sách (Rodden, 2003)
Hình 1: Mô hình lý thuyết về tác động của phân cấp tài khóa đến nỗ lực thu thuế
PHÂN
CẤP
TÀI
KHÓA
NỖ
LỰC
THU
THUẾ
Tăng cường tự chủ
về Thu/Chi
Tăng nỗ lực
thu thuế
Thay đổi cơ chế
chuyển giao
Tài chính
Thay đổi cơ chế
chuyển giao
Tài chính
Giảm nỗ lực
thu thuế
Tăng cường tự chủ
về Thu/Chi
TRẦN HOÀNG MINH
15
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
Việt Nam, một dụ điển hình: một cải
cách phân cấp tại đây đã làm giảm nỗ lực
thu thuế do tác động tiêu cực từ các khoản
chuyển giao đã lấn át hoàn toàn các tác
động tích cực khác (Jia cộng sự, 2020).
Các bằng chứng tương tự về hiệu ứng “chèn
lấn” này cũng được ghi nhận tại nhiều quốc
gia khác như Ghana và Argentina (Porto &
Sanguinetti, 2001; Mogues & Benin, 2012).
2.2. Cải cách Luật Ngân sách Nhà nước
2015 tại Việt Nam
Hệ thống ngân sách Việt Nam trước năm
2017 mang tính trung ương hóa cao, đặc
trưng bởi nguyên tắc “lồng ghép”, qua đó
ngân sách cấp dưới một bộ phận của ngân
sách cấp trên. Cấu trúc này giới hạn đáng
kể quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của
chính quyền địa phương. Luật Ngân sách
Nhà nước 2015, hiệu lực từ năm 2017,
đã tạo ra một bước ngoặt, hướng tới tăng
cường phân cấp thực chất thông qua hai cơ
chế chính: mở rộng quyền tự chủ chi tiêu
cho cấp tỉnh cải cách toàn diện chế
bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương.
Trọng tâm của cải cách, cũng nền
tảng cho thiết kế của nghiên cứu này, nằm
ở việc áp dụng một công thức chuyển giao
mới, dựa trên các tiêu chí khách quan (dân
số, diện tích, tỷ lệ hộ nghèo) được giữ
ổn định trong chu kỳ 5 năm. Sự tái phân
bổ này đã tạo ra một sốc ngoại sinh
không đồng đều lên mức độ phụ thuộc vào
ngân sách trung ương của các tỉnh. Chính
sự biến thiên ngoại sinh này sở
tưởng cho việc áp dụng phương pháp DID
cho phép nhận diện một cách đáng tin cậy
tác động nhân quả của cải cách.
3. Phương pháp nghiên cứu
Việc xác định tác động nhân quả của
các cải cách chính sách đòi hỏi phải giải
quyết vấn đề nội sinh. Trong bối cảnh này,
phương pháp Khác biệt trong Khác biệt
(Difference- in- Differences - DID) đã trở
thành một công cụ tiêu chuẩn, đặc biệt
trong lĩnh vực tài chính công nơi các cải
cách thường tạo ra những thiết lập bán thực
nghiệm một cách tự nhiên. Tính hiệu quả
của phương pháp đã được khẳng định qua
nhiều nghiên cứu có ảnh hưởng lớn, chẳng
hạn như các công trình của Jia cộng sự
(2020) Salinas Solé-Ollé (2018) khi
đánh giá tác động của cải cách tài khóa tại
Trung Quốc và Tây Ban Nha.
Bối cảnh cải cách Luật NSNN 2015 tại Việt
Nam hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận
này. Cải cách đã tạo ra một sốc ngoại
sinh, làm thay đổi không đồng đều mức
độ phụ thuộc ngân sách của các tỉnh, qua
đó hình thành một thiết lập tưởng cho
hình DID với các nhóm chịu tác động
cường độ khác nhau. Để đảm bảo tính
vững của kết quả, nghiên cứu sẽ kiểm định
chặt chẽ giả định nền tảng về “xu hướng
song song” thông qua các kỹ thuật hiện đại
theo Goodman-Bacon (2021) Sun
Abraham (2021). Việc lựa chọn phương
pháp luận này không chỉ dựa trên sự phù
hợp lý thuyết mà còn kế thừa một thông lệ
đã được kiểm chứng trong các nghiên cứu
hàng đầu, đảm bảo độ tin cậy tính chặt
chẽ cho các kết quả ước lượng.
Nghiên cứu tính toán sự thay đổi trong mức
độ phụ thuộc vào ngân sách trung ương của
mỗi tỉnh. Biến số được sử dụng là tỷ lệ “Bổ
sung cân đối từ Ngân sách Trung ương trên
Tổng chi Ngân sách Địa phương”. Sự thay
đổi trong mức độ phụ thuộc được tính bằng
chênh lệch giữa giá trị trung bình của tỷ lệ
này trong giai đoạn 2017- 2019 (giai đoạn
ổn định sau cải cách) giai đoạn 2014-
2016 (ngay trước cải cách). Khung thời
gian này được lựa chọn cẩn trọng nhằm
loại bỏ tác động gây nhiễu của sốc ngoại
sinh từ đại dịch COVID-19 (từ năm 2020),