Tác gia Hoàng đế - Thiền sư
- Thi sĩ Trần Nhân tong
Vi Chi hậu BtChánh cng Phí Mộc Lạc cũng được Trần Nn ng q
trng i ng, được đổi họ tên tnh i Mộc Đạc và cho theo hu ngày đêm.
SáchĐại Việt s toàn thư cũng như Tam tthực lục(10) đều cp việc Trần Nn
ng tng mở hội Vô lượng pháp ở chùa Phổ Minh, bố tvàng bc tiền lụa để chẩn
cấp n nghèo trong nước và ging kinh Giới thí... Riêng ch Tam tthực lục ghi
chép kklưỡng cuộc đời Trần Nn Tông với ý nghĩa một tiểu truyện thiền sư, khởi
đầu tviệc Trúc m Đi sĩ (Trần Nn ng) sinh ra gắn với điềm lạ, cuộc đời hành
đạo nhiều công tích, để lại nhiều thơ n cuối cùng là cái chết thanh thản, "hóa
thân", "trvề" theo đúng cảm quan "sinh ký tqui" ca Phật giáo(11)... Trong tiu
truyn về thiền sư Trần Nhân ng cũng mang đặc tính hỗn dung thể loi, tàng trữ các
giá trthi ca, những lời đối thoi, hỏi đáp về Phật - Pp - Tăng, về qkhứ - hin ti -
vlai, về công án - giáo điển, về nn quả - hóa tn... Sách này cũng tả chi tiết
nhng skiện diễn ra trong suốt tháng cuối cùng, lp danh sách bốn tác phẩm của
Điu Ngự còn truyn lại. Đng thời sách tiếp tc giới thiệu việc Điều Ngự mở ba giới
đàn ở chùa Cn Giáo trong đại nội, chùa Báo Ân ở Siêu Loại, chùa PhMinh Thiên
Trường đi đến tổng kết qtrình đào tạo tăng ni: "Các đệ tnối dòng pháp đã lit
kê đy đi bản đồ trong TuTrung Tợng sĩ ngữ lục, n nhng ngưi được Điều
Ngự dẫn dắt, âm thầm khế hợp với tông chỉ thì kng khết"... Xác định vị thế thiền
Trần Nn Tông trong bi cảnh Phật giáo thời Trần, thầy Nguyễn Lang nhấn mnh
các phương diện "một ông vua xuất gia", nguyện y dựng một nền a bình Chiêm
- Vit u dài" nguyn ước "xây dng một giáo hội mới"(12)... Trên pơng diện
ng tác, Trn Nhân ng còn đlại nhiều tác phẩm in đm tư tưởng Phật giáo. Nhiều
i tkhơi nguồn cảm hứng tương tự như một hoàng đế, một nhà nho, một ông quan
đề vịnh cảnh chùa đất Phật: Đề Cổ Cu hương thôn tự (Đề chùa ng hương C
Châu), Động Thiên hthưng (Tn hồ Đng Thiên), ĐPhổ Minh tự thủy t nhà
thủy tạ chùa Phổ Minh), Thiên Trường phủ (PhThiên Trường), Đại Lãm Thần Quang
t (Chùa Thn Quang trên i Đi Lãm)...; thơ ngợi ca công tích bậc cao tăng
như Tán TuTrung Tợng sĩ (Ca ngi Thượng sĩ Tuệ Trung) và trực tiếp viết tiểu
truyn về sư thy vi Thượng hành trạng (nh trng của Thượng sĩ Tuệ Trung)...
Tuy nhn, nhng tác phẩm căn cốt thể hiện u sắc tư tưởng Phật giáo của Trần Nn
ng cnh nhng trang viết bày ttrực tiếp quan niệm của tác giả. Bàn vmối quan
hhữu - vô, Trn Nn Tông mở đầu cho chín khổ tđều bng câu Hữu
(Câu hu câu vô) đi đến đoạn kết với ý tưởng phá chấp, dứt trừ pn chia vọng
nim, đạt ti cảnh giới phân biệt:
Hữu cú vô cú,
Điêu điêu đát đát.
Tiệt đoạn cát đằng,
Bỉ thử khoái hoạt.
(Câu hữu câu vô,
Khiến người rầu rĩ.
Cắt đứt mọi duyên như dây leo,
Thì hữu và vô đều thông suốt)
Trần Nhân Tông cũng để lại những lời giảng giải dưới hình thức hỏi đáp có ý
nghĩa như những công án phân bit mê ngộ bằng thơ. Tùy theo cơ duyên, mỗi người sẽ
có được một cách hiểu, tìm đến một li giải, một lối thụ cảm riêng. Chẳng hạn, Trần
Nhân Tông đã trlời câu hỏi của môn đệ về gia phong ca tam thế Phật và của chính
Hòa thượng:
"Lại hỏi:
- Thế nào là gia phong của Phật quá khứ?
Đáp:
Rừng vườn vắng vẻ không người quản,
Mận trắng đào hồng riêng tự hoa.
Hỏi:
- Thế nào gia phong của Phật hiện tại?
Đáp:
ớc trắng mênh mông chim én lạc,
Vườn tiên đào thắm gió xuân say.
Lại hỏi:
- Thế nào là gia phong của Phật vị lai?
Đáp:
Đợi triều bên b trăng gần mọc,
Nghe sáo thuyền câu kch nhớ nhà.
Lại hỏi:
- Thế nào là gia phong của Hòa thượng?
Đáp:
Áo rách ôm mây, ban mai húp cháo,
Bình xưa dốc nguyệt, trời khuya nấu trà"...
(Băng Thanh dch)
Theo một chiều hướng khác, thy Thích Thanh Từ đi sâu phân tích những đóng
góp của Trần Nhân Tông giai đoạn từ khi làm Ti tng hoàng ri chính thức xuất gia
tu hành cho đến ngày qui tịch: "Quyển Hai quãng đời của Sơ Tổ Trúc Lâm do chúng tôi
giảng giải để i lên mt con người siêu việt ca dân tộc Việt Nam... Con người của Sơ
Tổ Trúc Lâm làm việc gì phải đến nơi đến chn, đạt kết quả viên mãn mi thôi. Đánh
giặc khi nào quân xâm lăng ra khỏi nước mới dừng. Nghiên cu Phật pháp đến chỗ uyên
thâm nht mới thỏa mãn. Tu hành đến ngđạo mi đi hoằng hóa. Thật là một tấm
gương sáng ngời để cho kẻ đời, người đạo học hỏi theo...đây nói hai quãng đời là k
từ khi Ngài làm Thái thượng hoàng, còn là cư sĩ mà học Phật rất uyên bác. Cụ thể là
bài trần lạc đạo phú đã nói lên chỗ thy hiểu của Ngài kng thua kém các Thin sư
Trung hoa. Đến khi xuất gia làm Tăng sĩ, Ngài quên thân tu khhạnh, miệt mài chốn núi
rừng đến ngộ đạo mới mãn nguyn. Qua bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, chúng ta
thấy rõ tinh thn này. Xuất gia vào núi sâu không phi để trốn đời mà cốt gia công luyện
lọc tâm mê lm để được trong sạch, giác ngộ tròn đầy. Đến đây Ngài mới hài lòng vào
cuộc đời để giáo hóa chúng sinh"(13). Có th nói đây chính là một cách nhận din chân
dung con người thiền sư Trần Nhân Tông đồng thời cũng mượn hai tác phẩm lớn để
lý giải thực chất những đóng góp ca Trúc Lâm Đại sĩ với cõi đời nói chung và vi Phật
giáo nói riêng. Điu cần cý là cả hai tác phẩm trường thiên đều bằng chữ Nôm, giữ
vai trò định giá tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông cũng như khơi mở cho bộ phn
thơ Nômn tộc phát triển. Với Cư trần lạc đạo phú, tác giả nhấn mạnh ni dung "phú
ở cõi trn vui đạo". Qua mười hội và ngay từ câu mở đầu mỗi hội cũng thy rõ nét nghĩa
của sự tỉnh thức, phát hiện, đúc kết với các từ ngữ: Biết vậy..., Tin xem..., Vậy mới hay...,
Vậy cho hay..., Thực thế..., Chưng ấy..., Tượng chúng ấy... Tác phẩm là một bản hòa ca
về con người biết vui với đạo khi đang sống giữa cõi đời và đi đến lời kệ có ý nghĩam
lược, tổng kết toàn bnội dung bài phú:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.
(Cõi trần vui đạo hãy tùy duyên,
Đói cứ ăn no mệt ngủ yên.
Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm,
Vô tâm trước cảnh hỏi chi Thiền)
(Huệ Chi dịch)
Đúng như kiến giải ca thầy Tch Thanh Từ, tác phm Đắc thú lâm tuyền thành
đạo ca lại nhấn mạnh sắc thái "được thú lâm tuyền thành đạo" và có ý nghĩa như một
đối ảnh so với Cư trần lạc đạo phú. Với hình thức thơ trường thiên bốn câu, Trần Nhân
Tông chỉ ra mối quan hệ giữa cái thân - chthể con người với cảnh giới tnhiên và cm
nhận:
Sinh có nhân thân,
Ấy là họa cả...
Yên bề phận khó,