
Lý luận chung về bảo hiểm xã hội và
công tác thu bảo hiểm xã hội
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

Sự cần thiết khách quan và vai trò của bảo
hiểm xã hội
Sự cần thiết khách quan của BHXH
Thời tiết có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mùa xuân cây cối tươi tốt, đâm chồi nảy lộc.
Qua hạ sang thu, đông lại về. Sống trong trời đất con người, ai cũng luôn mong muốn
được tồn tại, phát triển, trường tồn mãi mãi. Nhưng cũng như quy luật của tự nhiên, thực
tại luôn có sự thay đổi, biến hóa bởi ai cũng phải trải qua các giai đoạn phát triển của
đời người đó là sinh ra, lớn lên, trưởng thành và chết. Đó là vòng: sinh, lão, bệnh, tử và
ước muốn của con người là có được cuộc sống an sinh, hạnh phúc. Nhưng quy luật của
tạo hóa là sinh ra lớn lên và già yếu mà ai cũng phải trải qua. Đi theo cùng quy luật đó
là những rủi ro, ốm đau, bệnh tật, hoạn nạn có thể đến bất cứ lúc nào trong cuộc sống.
Hơn nữa, con người từ thời sơ khai là xã hội nguyên thuỷ cho đến nay không ai có thể
tồn tại độc lập, sống bên ngoài sự giúp đỡ, chia sẻ của cộng đồng, bè bạn và người thân
của mình. Bởi trong thực tế không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có
đầy đủ thu nhập ổn định và mọi điều kiện sinh sống đều diễn ra bình thường như mình
mong muốn mà trái lại có rất nhiều khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm
cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập như: bệnh tật, tuổi già, tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp… Khi rơi vào những hoàn cảnh, trường hợp này thì các nhu cầu cần thiết
trong cuộc sống không chỉ mất đi mà trái lại còn phát sinh thêm những làm cho người
lao động khó có thể đảm đương được. Chính xuất phát từ bản chất mong muốn tồn tại
và vượt qua những khó khăn trở ngại của cuộc sống khi rủi ro xảy ra đã đòi hỏi những
người lao động (NLĐ) và xã hội loài người phải tìm ra được biện pháp nào đó để giải
quyết những vấn đề trên và thực tế là họ đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như:
san sẻ rủi ro, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào
sự cứu trợ của nhà nước… Nhưng những cách này chỉ mang tính tạm thời, thụ động và
không chắc chắn.
Lịch sử cũng đã chứng minh từ khi nền kinh tế hàng hóa phát triển và việc thuê mướn
lao động cũng đã trở lên phổ biến thì đồng thời cũng là mẫu thuẫn chủ thợ trong xã hộ
cũng phát sinh. Nguyên nhân sâu sa và cũng là nguyên nhân chủ yếu của mâu thuẫn trên
là những thuê mướn lao động - chủ sử dụng lao động (NSDLĐ) không mong muốn bị
buộc phải đảm bảo thu nhập cho nhập cho người lao động mà mình thuê mướn (NLĐ)
trong trường hợp họ gặp phải những rủi ro. Không cam chịu với thái độ của các chủ sử
dụng lao động, những người lao động đã liên kết lại đấu tranh buộc người chủ sử dụng
lao động phải thực hiện cam kết trả công lao động và đảm bảo cho họ có một thu nhập
nhất định để họ có thể trang trải cho những nhu cầu thiết yếu khi gặp những biến cố làm
mất hoặc giảm thu nhập do mất hoặc giảm khả năng lao động, mất việc làm. Cuộc đấu
tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động lớn đến nhiều mặt của đời sống kinh
2/24

tế xã hội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can
thiệp này một mặt đã làm tăng được vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và
giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa
trên xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ
hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ
sung từ Ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động
khi họ gặp phải những biến cố bất lợi trong cuộc sống. Chính nhờ những mối quan hệ
ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải đều và chia nhỏ rủi ro
của một người cho nhiều người làm cho cuộc sống của NLĐ và gia đình họ ngày càng
được đảm bảo ổn định, đồng thời giới chủ cũng thấy mình có lợi trong nhiều mặt và đảm
bảo được tiến độ sản xuất nâng cao năng xuất lao động.
Xuất phát từ thực tế khách quan trên người ta hiểu ràng toàn bộ những hoạt động với
những mối quan hệ chặt chẽ đó được quan niệm là Bảo hiểm xã hội (BHXH) đối với
người lao động. Đây là một trong những phương thức đối phó hữu hiệu nhất trong hệ
thống An sinh xã hội của quốc gia, là một trong những phát kiến văn minh nhân loại về
khoa học xã hội kết hợp với khoa học tự nhiên để giữ gìn, bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ
cho con người.
Đối với Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước năm 1945 Chính phủ đã trú trọng đến vấn
đề phát triển chính sách BHXH và bảo trợ xã hội. Đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
sớm quan tâm ban hành và thực hiện ngay từ những ngày đầu thành lập nước và thường
xuyên được bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp yêu cầu phát triển thực tiễn của đất nước.
Hệ thống BHXH ngày càng được mở rộng đã góp phần to lớn vào việc ổn định cuộc
sống cho người lao động, góp phần ổn định kinh tế chính trị xã hội của đất nước.
Tất nhiên, BHXH vẫn chưa hoàn toàn khắc phục được những yếu điểm của nó mặc dù
là cho đến nay nó đã trải qua một thời gian dài. Song không thể phủ nhận sự tồn tại của
hệ thống BHXH là một sự cần thiết tất yếu khách quan cho mọi Quốc gia, cho toàn nhân
loại.
Vai trò của BHXH.
Có thể nói từ khi khái niệm BHXH được biết đến ở mọi Quốc gia thì chính sách BHXH
đều do Nhà nước quản lý một cách thống nhất. Trong mọi chế độ xã hội BHXH luôn
đóng vai trò quan trọng và thể hiện được những vai trò to lớn.
Đối với người lao động (NLĐ).
Có thể nói BHXH có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần đảm bảo cuộc sống ổn
định cho người lao động và gia đình họ khi mà họ gặp những rủi ro bất ngờ như: tai nạn
lao động, ốm đau, thai sản…làm giảm hoặc mất sức lao động gây ảnh hưởng đến thu
nhập của NLĐ. Bởi lẽ, khi NLĐ gặp những rủi ro ảnh hưởng đến thu nhập BHXH sẽ
3/24



