
Lý luận chung về bảo hiểm xã hội
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

Bảo hiểm xã hội và sự cần thiết khách quan
của bảo hiểm xã hội
Sự cần thiết
Con người muốn tồn tại và phát triển được trước hết phải ăn, mặc, ở và đi lại v..v...Để
thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để làm ra những sản phẩm
cần thiết. Khi sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy
đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Như vậy, việc thoả mãn những nhu
cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng lao động của
họ. Nhưng trong thực tế, con người không chỉ lúc nào cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thu
nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn
bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc
các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hoặc bị tai nạn trong lao
động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động hay khả năng tự phục vụ bị suy
giảm v..v...Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống
không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số
nhu cầu mới mhư: cần được khám và điều trị khi ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần
phải có người chăm sóc nuôi dưỡng v..v...Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống,
con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết
khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong một nội bộ cộng đồng; đi vay, đi mượn
hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước v..v... Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ
động và không chắc chắn.
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến. Lúc
đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam kết bảo đảm cho
người làm thuê có một số thu nhập nhất định đẻ họ trang trải những nhu cầu cần thiết
khi ốm đau, tai nạn, thai sản...Trong thực tế, nhiều khi các trưòng hợp trên không xảy ra
và người chủ không phải chi trả một đồng nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc
họ một lúc phải bỏ ra trong một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn.Vì thế mâu
thuẫn chủ- thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc chủ phải thực hiện cam kết.
Cuộc đấu tranh này diền ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống
kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự
can thiệp này một mặt làm tăng vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc các giới chủ và
giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa
trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê .Số tiền đóng góp của cả chủ và
thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Qũy này còn được bổ
sung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động
khi gặp phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi
ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình
2/26

họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ,
sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Vì
vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng. Khả năng
giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được thế giới
quan niệm là BHXH đối với người lao động. Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố
làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng
một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp
phần đảm an toàn xã hội .
Bản chất
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà
sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động
phát triển đến một mức độ nào đó . Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và
hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá
trạng thái kinh tế của mỗi nước .
- Mối quan hệ giữa cái bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn
ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXHvà bên được BHXH. Bên tham gia
BHXHchỉ có thể là nguười lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động.
Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXHthông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà
nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các
điều kiện ràng buộc cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có
thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn trái với chủ quan của con người như : ốm
đau, tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp...Hoặc cũng có thể lã trường hợp xảy ra không
hoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản v..v... Đồng thời những biến cố đó có thể
diễn ra cả trong và ngoài lao động.
- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố, rủi
ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tập trung được tồn tích lại. Nguồn
quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ
phía Nhà nước.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động
trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này đã được tổ
chức quốc tế ILO cụ thể hoá như sau:
3/26



