TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 14415:2025
ISO 10723:2012
KHÍ THIÊN NHIÊN - ĐÁNH GIÁ HIỆU NĂNG CỦA HỆ THỐNG PHÂN TÍCH
Natural gas - Performance evaluation for analytical systems
Lời nói đầu
TCVN 14415:2025 hoàn toàn tương đương với ISO 10723:2012.
TCVN 14415:2025 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 193 Sản phẩm khí biên soạn, Viện
Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm
định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Lời giới thiệu
Tiêu chuẩn này đưa ra phương pháp đánh giá hiệu năng của các hệ thống phân tích khí thiên nhiên.
Khí thiên nhiên được giả định bao gồm chủ yếu là metan, cùng với các hydrocacbon no khác và các
khí không cháy.
Tiêu chuẩn này không đưa ra bất kỳ giả định nào về thiết bị hoặc phương pháp phân tích, mà đưa ra
các phương pháp thử nghiệm có thể áp dụng cho hệ thống phân tích đã chọn, bao gồm phương
pháp, thiết bị và xử lý mẫu.
Phụ lục A trong tiêu chuẩn này trình bày ứng dụng của hệ thống sắc ký khí trực tuyến, như được mô
tả, được giả định là có đồ thị biểu thị sự phụ thuộc vào nồng độ của tất cả các cấu tử đại diện qua một
đường thẳng kẻ qua gốc tọa độ. Tiêu chuẩn này bao gồm một phụ lục tham khảo (Phụ lục B) đưa ra
lý do cơ bản cho cách tiếp cận được sử dụng để so chuẩn thiết bị.
KHÍ THIÊN NHIÊN - ĐÁNH GIÁ HIỆU NĂNG CỦA HỆ THỐNG PHÂN TÍCH
Natural gas - Performance evaluation for analytical systems
1 Phạm vi áp dụng
1.1 Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định xem hệ thống phân tích khí thiên nhiên có phù
hợp với mục đích hay không. Tiêu chuẩn này được sử dụng
a) để xác định dải thành phần khí mà phương pháp này có thể được áp dụng bằng cách sử dụng khí
hiệu chuẩn quy định, trong khi đã đáp ứng các tiêu chí được xác định trước đó vì các sai số tối đa và
độ không đảm bảo vệ thành phần hoặc tính chất hoặc cả hai, hoặc
b) để đánh giá phạm vi sai số và độ không đảm bảo về thành phần hoặc tính chất (có thể tính được từ
thành phần) hoặc cả hai khi phân tích chất khí trong dải thành phần xác định, sử dụng khí hiệu chuẩn
quy định.
1.2 Tiêu chuẩn được giả định rằng
a) đối với các đánh giá loại đầu tiên ở trên, yêu cầu phân tích đã được xác định rõ ràng, theo phạm vi
độ không đảm bảo có thể chấp nhận được về thành phần và, khi thích hợp, độ không đảm bảo vệ các
đặc tính vật lý được tính toán từ các phép đo này,
b) đối với các ứng dụng loại thứ hai ở trên, yêu cầu phân tích đã được xác định rõ ràng và không mơ
hồ, theo phạm vi thành phần cần đo và phạm vi các đặc tính có thể được tính toán từ các phép đo
này, nếu thích hợp,
c) các quy trình phân tích và hiệu chuẩn đã được mô tả đầy đủ và
d) hệ thống phân tích được dự định áp dụng cho các loại khí có thành phần thay đổi trong phạm vi
thường thấy trong các hệ thống truyền tải và phân phối khí.
1.3 Nếu đánh giá hiệu năng cho thấy hệ thống không đạt yêu cầu về độ không đảm bảo theo tỷ lệ
khối lượng thành phần hoặc tính chất, hoặc cho thấy những hạn chế trong dải giá trị thành phần hoặc
tính chất có thể đo được trong phạm vi độ không đảm bảo cần thiết, thì cần xem xét lại các thông số
vận hành, bao gồm
a) yêu cầu phân tích,
b) quy trình phân tích,
c) lựa chọn thiết bị,
d) lựa chọn hỗn hợp khí hiệu chuẩn và
e) quy trình tính toán,
để rà soát đánh giá những cải tiến có thể nhận được. Trong số các thông số này, lựa chọn thành
phần khí hiệu chuẩn có khả năng có ảnh hưởng đáng kể nhất.
1.4 Tiêu chuẩn này áp dụng cho các hệ thống phân tích đo các phần khối lượng cấu tử riêng lẻ. Đối
với một ứng dụng như xác định nhiệt trị, phương pháp thường là sắc ký khí, được thiết lập, tối thiểu,
để đo nitơ, cacbon dioxit, các hydrocacbon riêng lẻ từ C1 đến C5 và phép đo tổng hợp đại diện cho tất
cả các hydrocacbon cao hơn có số cacbon từ 6 trở lên. Điều này cho phép tính toán nhiệt trị và các
tính chất tương tự với độ chính xác chấp nhận được. Ngoài ra, các cấu tử như H2S có thể được đo
riêng lẻ bằng các phương pháp đo cụ thể mà cách tiếp cận đánh giá này cũng có thể được áp dụng.
1.5 Đánh giá hiệu năng của hệ thống phân tích được dự định thực hiện sau khi lắp đặt ban đầu để
đảm bảo rằng các lỗi liên quan đến các chức năng đáp ứng được cho là phù hợp với mục đích. Sau
đó, khuyến nghị đánh giá hiệu năng định kỳ hoặc bắt cứ khi nào bất kỳ thành phần quan trọng nào
của hệ thống phân tích được điều chỉnh hoặc thay thế. Khoảng thời gian thích hợp giữa các lần đánh
giá hiệu năng định kỳ sẽ phụ thuộc vào cả cách đáp ứng của thiết bị thay đổi theo thời gian và
ngưỡng chấp nhận của sai số. Xem xét đầu tiên này phụ thuộc vào thiết bị/vận hành; xem xét thứ hai
phụ thuộc vào ứng dụng. Do đó, tiêu chuẩn này không đưa ra các khuyến nghị cụ thể về khoảng thời
gian giữa các lần đánh giá hiệu năng.
2 Tài liệu viện dẫn
Các tài liệu viện dẫn sau đây là cần thiết để áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi
năm công bố thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì
áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung (nếu có).
TCVN 9595-3 (ISO/IEC Guide 98-3), Độ không đảm bảo đo - Phần 3: Hướng dẫn trình bày độ không
đảm bảo đo (GUM: 1995)]
TCVN 12047-1 (ISO 6974-2) Khí thiên nhiên - Xác định thành phần và độ không đảm bảo kèm theo
bằng phương pháp sắc ký khí - Phần 1: Hướng dẫn chung và tính toán thành phần
TCVN 12798 (ISO 6976) Khí thiên nhiên - Phương pháp tính nhiệt trí, khối lượng riêng, tỷ khối và chỉ
số Wobbe từ thành phần
3 Thuật ngữ và định nghĩa
Tiêu chuẩn này áp dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau:
3.1
Độ không đảm bảo (của phép đo) [uncertainty (of measurement)]
Thông số, gắn với kết quả đo, đặc trưng cho sự phân tán của các giá trị có thể được quy cho đại
lượng đo một cách hợp lý.
CHÚ THÍCH: Theo TCVN 9595-3 (ISO/IEC Guide 98-3), trong tiêu chuẩn này, độ không đảm bảo của
thành phần được thể hiện dưới dạng độ không đảm bảo chuẩn hoặc độ không đảm bảo mở rộng
được tính toán thông qua việc sử dụng hệ số bao phủ thích hợp.
3.2
Hỗn hợp khí chuẩn đã được chứng nhận (certificated reference gas mixture)
CRM
Hỗn hợp khí chuẩn, được đặc trưng bởi quy trình đo hợp lệ cho một hoặc nhiều đặc tính quy định, đi
kèm một chứng chỉ cung cấp giá trị của đặc tính quy định, độ không đảm bảo kèm theo và công bố
truy xuất nguồn gốc đo lường.
CHÚ THÍCH 1: Định nghĩa ở trên dựa trên định nghĩa của “vật liệu chuẩn đã được chứng nhận” trong
ISO Guide 35 [3]. “Vật liệu chuẩn đã được chứng nhận” là một thuật ngữ chung; “hỗn hợp khí chuẩn
đã được chứng nhận” là phù hợp hơn đối với ứng dụng này.
CHÚ THÍCH 3: Các quy trình đo lường hợp lệ đối với sản xuất và chứng nhận các vật liệu chuẩn (như
các hỗn hợp khí chuẩn đã được chứng nhận) được nêu trong TCVN 7366 (ISO Guide 34) ra và TCVN
8245 (ISO Guide 35) [3].
CHÚ THÍCH 3: TCVN 7962 (ISO Guide 31) [5] đưa ra hướng dẫn về các nội dung của chứng nhận.
3.3
Chuẩn công tác đo lường (working measurement standard)
WMS
Chuẩn phép đo được sử dụng thường xuyên để hiệu chuẩn hoặc kiểm tra xác nhận các thiết bị đo
hoặc hệ thống đo.
[ISO/IEC Guide 99:2007[6], 5.7]
CHÚ THÍCH: Chuẩn công tác đo lường được hiệu chuẩn thường xuyên theo CRM.
3.4
Hỗn hợp khí hiệu chuẩn (calibration gas mixture)
CGM
Hỗn hợp khí có thành phần được thiết lập tốt và ổn định đủ để sử dụng làm chuẩn công tác của phép
đo thành phần.
CHÚ THÍCH: Trong tiêu chuẩn này, CGM được sử dụng để hiệu chuẩn cấu tử thường xuyên (ví dụ:
hàng ngày) của máy phân tích. Nó độc lập với WMS được sử dụng để thực hiện đánh giá.
3.5
Đáp ứng (response)
Tín hiệu đầu ra của hệ thống đo đối với từng cấu tử xác định.
CHÚ THÍCH: Trong trường hợp sắc ký khí, đây sẽ là diện tích pic hoặc chiều cao pic, phụ thuộc vào
cấu hình thiết bị.
3.6
Hàm đáp ứng (response function)
Mối quan hệ hàm số giữa đáp ứng thiết bị và hàm lượng cấu tử.
CHÚ THÍCH 1: Hàm đáp ứng có thể được biểu thị theo hai cách khác nhau như là hàm hiệu chuẩn
hoặc hàm phân tích, phụ thuộc vào sự lựa chọn của biến độc lập và biến phụ thuộc.
CHÚ THÍCH 2: Hàm đáp ứng là khái niệm và không thể xác định chính xác. Nó được xác định gần
đúng thông qua hiệu chuẩn.
3.7
Hàm hiệu chuẩn (calibration function)
Mô tả mối quan hệ đáp ứng thiết bị là hàm số của hàm lượng cấu tử.
3.8
Hàm phân tích (analysis function)
Mô tả mối quan hệ hàm lượng cấu tử là hàm số của đáp ứng thiết bị.
4 Ký hiệu
az các tham số của hàm hiệu chuẩn (z = 0,1,2 hoặc 3)
bz các tham số của hàm phân tích (z = 0, 1, 2 hoặc 3)
xphần số lượng của cấu tử được xác định
phần số lượng được điều chỉnh (dự kiến) từ hàm đáp ứng
y’ đáp ứng thiết bị thô
yđáp ứng thiết bị đã hiệu chính
sđộ lệch chuẩn của đáp ứng
đáp ứng được điều chỉnh (dự kiến) từ hàm đáp ứng
Fhàm hiệu chuẩn
Ghàm phân tích
M(mẫu của) hỗn hợp khí chuẩn
Pđặc tính chung (tính chất vật lý)
páp suất (tính bằng kPa)
uđộ không đảm bảo chuẩn
Uđộ không đảm bảo mở rộng
khệ số bao phủ
Γsố đo lường độ phù hợp trong bình phương tối thiểu tổng quát
δsai số trong giá trị ước tính
5 Nguyên tắc
Các đặc tính hiệu năng của thiết bị được xác định khi sử dụng kết hợp với hỗn hợp khí hiệu chuẩn
được chỉ định. Do đó, quy trình đánh giá có thể được sử dụng để
- xác định sai số và độ không đảm bảo về thành phần và tính chất được đo trong phạm vi được xác
định trước đối với từng cấu tử được chỉ định và
- xác định phạm vi cho từng cấu tử được chỉ định mà sai số và độ không đảm bảo về thành phần và
tính chất được đo không vượt quá yêu cầu phép đo được xác định trước.
Trong mỗi trường hợp, các đặc tính hiệu năng được tính toán cho thiết bị khi sử dụng kết hợp với hỗn
hợp khí hiệu chuẩn được chỉ định có thành phần và độ không đảm bảo đã biết.
CHÚ THÍCH 1: Phương pháp này cũng có thể được sử dụng để thiết lập thành phần thích hợp nhất
của hỗn hợp khí hiệu chuẩn được sử dụng thường xuyên với thiết bị sao cho các sai số và độ không
đảm bảo được giảm thiểu trong phạm vi sử dụng được xác định trước.
Có thể thực hiện đánh giá đầy đủ các sai số và độ không đảm bảo phát sinh từ việc sử dụng thiết bị
bằng cách đo một loạt vô hạn các hỗn hợp khí chuẩn được xác định rõ có thành phần nằm trong dải
vận hành được chỉ định. Tuy nhiên, điều này thực tế là không thể. Thay vào đỏ, nguyên tắc được sử
dụng trong tiêu chuẩn này là đo một số lượng nhỏ hơn các khí chuẩn được xác định rõ và xác định
mô tả toán học của các hàm đáp ứng cho từng cấu tử được chỉ định trong dải hàm lượng được xác
định trước. Sau đó, hiệu năng của thiết bị có thể được mô hình hóa ngoại tuyến bằng các hàm đáp
ứng "thực" này, các hàm đáp ứng do hệ thống dữ liệu của thiết bị giả định và dữ liệu quy chiếu cho
hỗn hợp khí hiệu chuẩn được chỉ định cho thiết bị. Sau đó, có thể mô phỏng phép đo một số lượng
lớn hỗn hợp khí ngoại tuyến bằng các phương pháp số để xác định các chuẩn mực hiệu năng vốn có
trong hệ thống đo.
Quy trình chung để xác định các đặc điểm hiệu năng của thiết bị được tóm tắt dưới đây.
a) Chỉ định các cẩu tử cần được thiết bị đo và dải đối với từng cấu tử mà thiết bị sẽ được đánh giá.
b) Thiết lập các mô tả chức năng của các hàm đáp ứng do thiết bị (hoặc hệ thống dữ liệu của thiết bị)
giả định cho từng cấu tử được chỉ định.
CHÚ THÍCH 2: Các hàm này được gọi là các hàm đáp ứng giả định của hệ thống tại thời điểm hiệu
chuẩn/đánh giá. Đây thường là các hàm phân tích được thiết bị sử dụng để xác định lượng từ đáp
ứng được đo, X = Gasm( y).
c) Thiết lập thành phần và độ không đảm bảo của hỗn hợp khí hiệu chuẩn được chỉ định để hiệu
chuẩn định kỳ của thiết bị.
d) Thiết kế một bộ hỗn hợp khí quy chiếu có thành phần bao phủ tất cả các dải cho tất cả các cấu tử
được chỉ định trong a).
e) Thực hiện một thí nghiệm hiệu chuẩn đa điểm bằng cách thu thập dữ liệu đáp ứng của thiết bị đối
với các phép đo hỗn hợp khí quy chiếu được thiết kế và sản xuất theo d). Toàn bộ thí nghiệm phải
được tiến hành trong khoảng thời gian tương đương với khoảng thời gian giữa các lần hiệu chuẩn
định kỳ.
f) Tính toán các hàm hiệu chuẩn và hàm phân tích cho từng cấu tử được chỉ định bằng cách sử dụng
phân tích hồi quy và xác thực tính tương thích của các hàm với bộ dữ liệu hiệu chuẩn.
CHÚ THÍCH 3: Các hàm này được gọi là các hàm đáp ứng thực của hệ thống tại thời điểm hiệu
chuẩn/đánh giá, y = Ftrue(x) x = Gtrue(y).
g) Tính toán các sai số và độ không đảm bảo của thiết bị đối với từng cấu tử và tính chất trong dải
thành phần được chỉ định bằng cách sử dụng các hàm và dữ liệu quy chiếu được tập hợp trong d), e)
và f) ở trên.
h) Từ phân bố sai số và ước tính độ không đảm bảo không chệch được tính toán trong g) ở trên, xác
định sai số trung bình và độ không đảm bảo của sai số đó đối với từng đại lượng đo.
Sai số trung bình và độ không đảm bảo của chúng về hàm lượng cấu tử và tính chất phát sinh từ
bước h) có thể được so sánh với các yêu cầu về hiệu năng đối với hệ thống phân tích. Nếu các chuẩn
hiệu năng kém hơn các yêu cầu phân tích của phép đo, thì rõ ràng là phương pháp không cung cấp
hiệu năng mong muốn trong toàn dải được chỉ định. Phương pháp sẽ được sửa đổi cho phù hợp và
toàn bộ quy trình đánh giá được lặp lại. Ngoài ra, các phép tính ngoại tuyến sẽ được lặp lại trong dải
vận hành hạn chế để cải thiện hiệu năng hệ thống. Trong trường hợp này, thiết bị có thể được chứng
minh là hoạt động đầy đủ trong phạm vi hạn chế.
Có thể sửa đổi hệ thống dữ liệu trên thiết bị để cho phép có sự khác biệt giữa các hàm đáp ứng thực
và hàm phân tích mà thiết bị giả định. Trong trường hợp này, thiết bị nên được điều chỉnh sau khi
đánh giá để tính đến sự khác biệt này. Nếu dạng hàm của Gtrue và Gasm giống nhau, thì các tham s
của Gasm trong hệ thống dữ liệu của thiết bị có thể được cập nhật bằng các tham số đã xác định cho
Gtrue ở bước f) ở trên, do đó loại bỏ các sai số hệ thống do thiết bị gây ra. Tuy nhiên, điều quan trọng
cần nhớ là các tham số của Gtrue chỉ có giá trị đối với từng cấu tử trong dải hàm lượng được sử dụng
để thiết lập hàm phân tích. Nghĩa là, không nên sử dụng thiết bị bên ngoài các dải được xác định,
thiết kế và đánh giá trong các bước a), b) và c).
6 Quy trình chung
6.1 Các yêu cầu phân tích
6.1.1 Tổng quan
Người sử dụng tiêu chuẩn này trước tiên phải quyết định thành phần nào được đo bằng thiết bị sẽ
được sử dụng để đánh giá hiệu năng. Đây được gọi là các cấu tử được chỉ định. Đối với mỗi cấu tử
được chỉ định, sau đó sẽ quyết định dải các phần số lượng mà hàm đáp ứng sẽ được đánh giá.
6.1.2 Cấu tử được chỉ định
Đối với các hệ thống đo lường được thiết lập để xác định các cấu tử chính trong khí thiên nhiên, các
cấu tử thường được chỉ định là nitơ, cacbon dioxit, metan, etan, propan, 2-metylpropan (iso-butan), n-
butan, 2-metylbutan (iso-pentan) và n-pentan. Ngoài ra, một số yêu cầu phân tích bao gồm 2,2-
dimetylpropan (neo-pentan). Cấu tử này thường có trong khí thiên nhiên với lượng rất thấp và có thể
không được chỉ định trong nhiều hệ thống để đo lường. Trong phương pháp sắc ký thông thường, các
hydrocacbon cao hơn thường được chỉ định là cấu tử tổng hợp như hexan+ (C6+) trong đó tất cả các
hydrocacbon chứa sáu nguyên tử cacbon trở lên đều được bao gồm trong một cấu tử được chỉ định.
Phương pháp phù hợp với thiết bị có thể đo một cấu tử như một đỉnh sắc ký riêng lẻ thường được rửa
giải ngược qua hệ thống và tất cả các cấu tử được rửa giải cùng lúc qua detector. Ngoài ra, trong các
hệ thống không thể chuyển đổi van, các hydrocacbon nặng hơn được rửa giải theo cách thuận qua
các cột và thành phần chỉ được đo là tổng của các đỉnh riêng lẻ. Tuy nhiên, hệ thống có thể được thiết
lập để đo tất cả các hexan (C6) riêng lẻ và đỉnh tổng hợp C7+ có thể được chỉ định. Điều này thường
xảy ra nếu lượng C6+ đáng kể và cần phân tích chi tiết hơn về cẩu tử này để giảm thiểu sai số trong
phép đo. Nguyên tắc này có thể được mờ rộng sao cho hệ thống được thiết lập để đo ở chế độ C6+,
C7+, C8+, C9+ hoặc thậm chí là C10+. Người sử dụng tiêu chuẩn này sẽ quyết định cẩu tử nào trong số
các cấu tử này sẽ được đưa vào đánh giá hiệu năng của thiết bị dựa trên ý nghĩa của lượng của từng
cẩu tử được chỉ định trong thiết lập thiết bị.
6.1.3 Dải hàm lượng cấu tử
Khi đã rõ các cấu tử nào được đo sẽ được đưa vào đánh giá, người sử dụng phải xác định, đối với
từng cấu tử, trong dải phần số lượng mà thiết bị dự kiến sẽ sử dụng. Các dải đó thường sẽ lớn hơn
dải dự kiến được thiết bị đo trong nhiệm vụ thường xuyên. Nếu dữ liệu từ đánh giá hiệu năng được
sử dụng sau đỏ để cập nhật các hàm đáp ứng do thiết bị giả định, thì điều quan trọng là dải hàm
lượng cấu tử được sử dụng trong đánh giá phải vượt ra ngoài dải hoạt động đã chỉ định. Nếu không
phải như vậy, có thể xảy ra lỗi đo lường đáng kể do ngoại suy bên ngoài hàm đáp ứng đã xác định.
6.2 Các loại hàm đáp ứng
6.2.1 Mô tả chức năng được giả định
Hệ thống dữ liệu thiết bị sẽ giả định mối quan hệ giữa đáp ứng và hàm lượng của cấu tử trong khí.
Đây là hàm phân tích được giả định của thiết bị, x = Gasm( y).. Nhiều thiết bị giả định một hàm đa thức
bậc nhất đơn giản dưới dạng x = b1y, trong đó bi thường được gọi là hệ số đáp ứng (RF) cho cấu tử
đó. Trong trường hợp này, một hỗn hợp khí hiệu chuẩn duy nhất được sử dụng và một hàm đáp ứng
bậc nhất được giả định, đi qua gốc tọa độ. Ngoài ra, thiết bị có thể giả định một mô tả hàm đa thức
bậc cao hơn hoặc thậm chí là hàm mũ hoặc hàm lũy thừa.
Trong một số trường hợp, đáp ứng, đặc biệt là đối với một cấu tử phụ, có thể được tính toán tương
đối với cấu tử khác (quy chiếu). Hệ số đáp ứng tương đối như vậy phải có hàm đáp ứng tương tự
như hàm đáp ứng của cấu tử quy chiếu.
Hàm phân tích giả định cho mỗi cấu tử, x = Gasm(y), phải được ghi chú và sử dụng để tính toán tiếp
theo các đặc tính hiệu năng của thiết bị được mô tả trong 6.6.
Các loại hàm được xem xét để xử lý dữ liệu đánh giá hiệu năng phải khớp với các loại hàm được hệ
thống dữ liệu của thiết bị sử dụng.
CHÚ THÍCH: Thỉnh thoảng, các loại hàm khác với đa thức, chẳng hạn như các mối quan hệ mũ, được
hệ thống dữ liệu của thiết bị triển khai. Nếu thiết bị sử dụng các loại hàm khác với đa thức, thì việc sử
dụng các loại hàm này để xác định các hàm phân tích là phù hợp. Tuy nhiên, vì mục đích của Tiêu
chuẩn này, chỉ các hàm đa thức lên đến bậc ba mới được xem xét.
6.2.2 Lựa chọn các loại hàm
Loại hàm được sử dụng trong thực tế được lựa chọn theo các đặc tính đáp ứng của hệ thống đo
lường và đặc tính được giả định bởi hệ thống dữ liệu của thiết bị.
Các hàm đa thức mô tả mối quan hệ đáp ứng thực/phần số lượng có thể được suy ra trong cả hai
miền. Mô tả toán học về đáp ứng của thiết bị dưới dạng hàm của phần số lượng được gọi là hàm hiệu