
BÀI TẬP THẢO LUẬN LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
Vụ Đền Preah Vihear (Temple of Preah Vihear,
Cambodia v. Thailand) 1962

I – Nội dung vụ việc
1. Giới thiệu đền
Prasat Preah Vihear là một ngôi đền tọa lạc trên một chỏm núi thuộc núi Dangrek
ở Campuchia gần biên giới với Thái Lan. Ngôi đền này được lấy làm tên cho tỉnh Preah
Vihear, nơi nó toạ lạc. Preah Vihear được biết đến không chỉ bởi đây di sản thế giới đã
được UNESCO công nhận (2008) mà còn là điểm nóng tranh chấp giữa Campuchia và
Thái Lan.
Phần nửa đền nằm bên vườn quốc gia Khao Phra Viharn của huyện Kantharalak
thuộc tỉnh Sisaket của Thái Lan, một nửa đền thuộc tỉnh Preah Vihear của Campuchia.
Do ngôi đền được xây trên một mỏm đá thuộc lãnh thổ Campuchia (trước đây được cho
là lãnh thổ Thái Lan), nhưng lối dẫn vào ngôi đền Preah Vihear nằm trên một vách đá
dựng đứng cheo leo và không thể tiếp cận từ phía Campuchia. Điều này có nghĩa là, để
tham quan được di sản này bắt buộc du khách phải đi từ phía cổng của vườn quốc gia
Khao Phra Viharn của Thái Lan.
2. Lịch sử tranh chấp
Năm 1861, Pháp chiếm Đông Dương và trở thành nước bảo hộ của Campuchia.
Năm 1904, Vương quốc Xiêm (tên gọi chính thức của Thái Lan trước năm 1949) và Pháp
thành lập một Ủy ban chung (Franco-Siamese Mixed Commission) thực hiện công việc
phân định biên giới giữa hai nước. Đến ngày 13/2/1904, Pháp và Xiêm ký Hiệp định
phân định biên giới. Trong đó, Điều 3 của Hiệp định quy định rằng việc phân chia những
đường biên giới sẽ được thực hiện bởi Ủy ban chung.
Năm 1907, sau khi điều tra nghiên cứu, người Pháp đã đưa ra bản đồ, trong đó thể
hiện vị trí chính xác khu vực đền Preah Vihear và vùng lân cận. Căn cứ theo tấm bản đồ
này, Preah Vihear nằm bên Campuchia. Đường biên giới cuối cùng được Ủy ban chung
thông qua trong năm 1907 và được tán thành chính thức bởi nghị định thư đính kèm theo
Hiệp định 23/3/1907 giữa Pháp và Xiêm.
Vào 9/5/1941, dưới sự hòa giải của phát xít Nhật, Pháp và Xiêm đã ký Hiệp định
hòa bình. Hiệp định này áp đặt một đường biên giới mới với Campuchia, theo đó ngôi
đền Preah Vihear thuộc về Thái Lan.

Sau khi Nhật đầu hàng, Pháp và Xiêm ký Hiệp định 17/11/1946 bãi bỏ Hiệp định
năm 1941, thiết lập lại hiện trạng trước khi có sự hòa giải của Nhật, tức là công nhận đền
thuộc chủ quyền Campuchia. Theo đó, điều 3 của Hiệp định 1946 nêu ra sự thành lập Ủy
ban hòa giải và quy định nhiệm vụ của Ủy ban là kiểm tra lại những xác nhận của các
điều khoản của Hiệp định 1904 và Hiệp định 1907 được duy trì theo điều 22 của Hiệp
định 1937.
Năm 1954, Thái Lan chiếm giữ ngôi đền sau khi quân đội Pháp rút khỏi
Campuchia, Campuchia phản đối và yêu cầu Tòa án quốc tế phân xử. Tòa án xem xét vụ
việc không chỉ dựa trên những di sản văn hóa, mà còn cân nhắc những biện pháp chuyên
môn kỹ thuật phân định ranh giới. Ngày 15/6/1962, Tòa ra phán quyết phần thắng thuộc
về Campuchia và yêu cầu Thái Lan trả lại mọi di vật (kể cả những bức tượng thờ) đã đưa
ra khỏi ngôi đền.
Ngôi đền đã mở cửa trong một thời gian ngắn cho công chúng năm 1982 và năm
sau bị Khmer Đỏ chiếm đóng. Ngôi đền được mở cửa lại vào cuối năm 1998 và
Campuchia hoàn tất việc xây dựng năm 2003 sau một quãng thời gian dài. Năm 2007
Campuchia đề nghị công nhận Di sản văn hoá cho đền Preah Vihear nhưng đã bị
UNESCO bác bỏ do còn tồn tại những bất đồng với Thái Lan và vì một phần Thái Lan
bác bỏ và phản đối đề nghị này của Campuchia. Tuy nhiên, một năm sau, được Bộ Ngoại
giao Thái Lan ủng hộ, vào ngày 7 tháng 6 năm 2008, Ủy ban Di sản Thế giới họp tại
Canada đã công nhận đền Preah Vihear là Di sản Thế giới.
Sự tranh chấp khu vực đền Preah Vihear trở nên căng thẳng trở lại vào năm 2008,
sau khi ngôi đền được công nhận là Di sản thế giới. Đã có những đụng độ quân sự cũng
như các biện pháp ngoại giao được đưa ra, nhưng cho tới nay khu vực này vẫn đang là
một điểm nóng trong quan hệ giữa hai nước.
II – Tòa Án năm 1962 giải quyết tranh chấp đền Preah Vihear
1. Đệ trình của các bên
a. Đệ trình của Campuchia
Vào tháng 10/1959, Campuchia đã đệ đơn lên Toà án Công lý quốc tế để giải
quyết vấn đề chủ quyền đối với khu vực đền Preah Vihear. Trước đó, năm 1954, Thái
Lan đã tự ý đưa quân đội vào chiếm đóng ngôi đền, vi phạm chủ quyền lãnh thổ của

Campuchia. Nước này đã yêu cầu Toà án xét xử và tuyên bố với 5 luận điểm trong đơn
đệ trình như sau:
1. Xét xử và tuyên bố rằng bản đồ dãy Dangrek ( Bản đồ Annex 1) được vẽ và
xuất bản trên danh nghĩa của Ủy ban Chung - Ủy ban được thành lập dựa trên
Hiệp ước 1904.
2. Xét xử và tuyên bố rằng đường biên giới giữa Thái Lan và Campuchia tại khu
vực tranh chấp xung quanh đền Preah Vihear, được xác định theo bản đồ của
Ủy ban xác định biên giới Chung giữa Đông Dương và Xiêm.
3. Xét xử và tuyên bố Đền Preah Vihear nằm trong lãnh thổ của Vương quốc
Campuchia.
4. Xét xử và tuyên bố phía Thái Lan có nghĩa vụ rút toàn bộ lực lượng vũ trang
đóng tại khu vực Đền Preah Vihear, kể từ năm 1954.
5. Xét xử và tuyên bố phía Thái Lan có nghĩa vụ hoàn trả cho Campuchia mọi tác
phẩm điêu khắc, bia đá, những mảnh còn sót lại của các công trình kiến trúc,
các mô hình đá cát và những đồ gốm cổ đã bị lấy khỏi đền kể từ khi Thái Lan
chiếm giữ ngôi đền vào năm 1954.
b. Đệ trình của Thái Lan
Sau khi Campuchia đệ đơn lên Toà án Công lý quốc tế, Thái Lan đã đưa ra những
luận điểm của mình và yêu cầu Toà:
1. Những cáo buộc của Vương quốc Campuchia là không thể duy trì và nên bị
từ chối;
2. Thái Lan đưa ra những kết luận sau:
a. Bản đồ Annex 1 không được chứng minh là tài liệu có tính ràng buộc hiệu
lực với bản Hiệp ước năm 1904;
b. Trên thực tế, Thái Lan và Campuchia chưa từng coi đường biên giới được
vẽ ở Bản Đồ Annex 1 tại khu vực dãy Dangrek là đường biên giới thực sự
giữa 2 quốc gia này;

c. Vì những nguyên do trên, đường biên giới trên Bản đồ Annex 1 không
được cho là đường biên giới thực sự được 2 quốc gia tuân theo và công
nhận;
3. Thái Lan đưa ra các kết luận trả lời cho luận điểm 2 và 3 trong đơn đệ trình
từ phía Campuchia:
a. Có bằng chứng đầy đủ về khoảng thời gian Thái Lan thực hiện quyền chủ
quyền của mình tại khu vực ngôi đền. Bên cạnh đó, Campuchia không thể
hiện bất cứ chức năng quản lí nào tại khu vực, nếu có thì không thường
xuyên và không rõ ràng;
b. Đường phân nước trong khu vực thực chất tương ứng với đường rìa vách
núi chạy xung quanh đền Preah Vihear và được xác định trong Hiệp ước
năm 1904;
c. Phạm vi đường rìa vách núi có thể không hoàn toàn trùng khớp với đường
phân nước được thế hiện bởi hình thế địa hình khu vực trên thực tế, nhưng
sự sai lệch này là nhỏ và đáng được bỏ qua;
d. Theo địa hình tự nhiên của khu vực, lối vào ngôi đền chỉ có thể tiếp cận từ
phía Thái Lan, hầu như không thể tiếp cận từ phía đồng bằng Campuchia
do dốc núi cao;
e. Không có lý do nào trong trường hợp này mà phía Campuchia có thể áp
dụng các văn bản được hỗ trợ từ phía Luật sư Campuchia (counsel of
Campuchia) để mặc nhận, ngăn cản bào chữa hoặc đề nghị (whether
acquiescence, estopple, or prescription);
Luận điểm 2 và 3 của phía Campuchia trong đơn đệ trình cần thiết phải bị bác bỏ.
2. Lập luận của Thái Lan và Ý kiến của Tòa
a. Lập luận của Thái Lan
Thái Lan đưa ra những lập luận sau trong quá trình tham gia buổi điều trần
về tranh chấp lãnh thổ lại khu vực đền Preah Vihear.

