intTypePromotion=3

Tiểu luận môn Triết học Mác-Lênin: Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Chia sẻ: Nguyễn Quang | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:12

0
29
lượt xem
10
download

Tiểu luận môn Triết học Mác-Lênin: Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận tập trung nghiên cứu và làm rõ nội dung biện chứng giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, vận dụng mối quan hệ biện chứng đó vào công tác lãnh đạo quản lý và bản thân. Để đạt được mục tiêu nêu trên, tiểu luận tập trung làm rõ hệ thống khái niệm, những nội dung cơ bản và ý nghĩa phương pháp luận đối với công tác lãnh đạo quản lý và bản thân.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận môn Triết học Mác-Lênin: Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

  1. 1. MỞ ĐẦU Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nội dung quan  trọng và là một nguyên tắc cơ bản của triết học Mác ­ Lênin. Nhận thức đúng  đắn và sâu sắc nội dung biện chứng giữa lý luận và thực tiễn có ý nghĩa to   lớn đối với đời sống và sự phát triển của xã hội nói chung và đối với công tác   lãnh đạo quản lý của cán bộ, đảng viên nói riêng.  Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhờ  vận dụng sáng suốt  biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, Đảng ta đã căn cứ  vào thực tiễn đất  nước để  không ngừng hoàn thiện lý luận, đường lối, chủ  trương, lãnh đạo  Nhà nước xây dựng chiến lược phát triển kinh tế ­ xã hội, đưa đất nước vượt   qua khủng hoảng, đạt được những thành quả  quan trọng trong thời kỳ  đổi  mới, hội nhập. Sự lãnh đạo đúng đắn đó bắt nguồn từ việc quán triệt nguyên   tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn chủ nghĩa Mác ­ Lênin, tư tưởng Hồ  Chí Minh trên cơ sở điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Với nhận thức như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nhận thức biện chứng  giữa lý luận và thực hiện có ý nghĩa thời sự, cấp thiết. Do đó, tôi lựa chọn   vấn đề  biện  chứng giữa lý luận và thực tiễn  làm đề  tài tiểu luận kết thúc  môn học của mình.  Tiểu luận tập trung nghiên cứu và làm rõ nội dung biện chứng giữa lý  luận và thực tiễn của chủ  nghĩa Mác ­ Lênin và tư  tưởng Hồ  Chí Minh. Từ  đó, vận dụng mối quan hệ  biện chứng đó vào công tác lãnh đạo quản lý và   bản thân. Để đạt được mục tiêu nêu trên, tiểu luận tập trung làm rõ hệ thống   khái niệm, những nội dung cơ bản và ý nghĩa phương pháp luận đối với công  tác lãnh đạo quản lý và bản thân. Cơ  sở  lí luận của đề  tài tiểu luận là quan điểm của chủ  nghĩa Mác ­  Lênin, tư  tưởng Hồ  Chí Minh; quan điểm chỉ  đạo của Đảng và Nhà nước  trong nghiên cứu lý luận chính trị. Trong đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng và  duy vật lịch sử  là phương pháp luận của việc nghiên cứu, thực hiện đề  tài   luận án. Ngoài cơ  sở  lí luận và phương pháp luận nêu trên, tác giả  còn sử  dụng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, lịch sử, logic, quy nap, diên ̣ ̃  ̣ dich, thông kê, so sanh… nh ́ ́ ằm tìm kiếm, phân tích các kết quả nghiên cứu có   sẵn để miêu tả, khái quát hoá toàn cảnh về chủ đề nghiên cứu từ các góc độ  khác nhau. 1
  2. 2. NỘI DUNG  2.1. Một số khái niệm cơ bản ­ Khái niệm lý luận Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận là hệ  thống những tri thức,   được khái quát từ  kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ  bản   chất, những quy luật của các sự  vật hiện tượng trong thế giới và được biểu  đạt bằng hệ thống, nguyên lý, quy luật, phạm trù. Lý luận là kết quả của quá  trình phát triển cao của nhận thức, là trình độ cao của nhận thức. Lý luận có 3 đặc trưng: 1) Lý luận có tính hệ  thống, tính khái quát cao,   tính lô gic chặt chẽ; 2) Cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực   tiễn. Lý luận là những tri thức được khái quát từ những tri thức kinh nghiệm.   Không có trí thức kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát thành  lý luận; 3) Lý luận xét về  bản chất có thể  phản ánh được bản chất sự  vật   hiện tượng. Lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nhờ đó nó đem lại  sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của SVHT. ­ Khái niệm thực tiễn Theo quan điểm của chủ  nghĩa duy vật biện chứng, thực tiễn là một  phạm trù triết học chỉ toàn bộ hoạt động vật chất có tính lịch sử ­ xã hội của   con người nhằm mục đích cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người. Do  vậy,  thực tiễn có ba đặc trưng sau: + Một là, thực tiễn không phải là toàn bộ  hoạt động của con người mà   chỉ là những hoạt động vật chất, chứ không phải là hoạt động tinh thần (hay   còn gọi là hoạt động lý luận). Đó là những hoạt động mà con người phải sử  dụng công cụ  vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật  chất để  làm thay đổi chúng. Ví dụ  hoạt động sản xuất ra của cải vật chất   như xây nhà, đắp đê, trồng lúa,v.v… + Hai là, thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử  ­ xã hội. Nghĩa là  hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự  tham gia của đông đảo người, và trải qua những giai đoạn lịch sử  phát triển  nhất định. Trình độ  và hình thức của hoạt động thực tiễn có sự  thay đổi qua  các thời kỳ khác nhau của lịch sử xã hội. + Ba là, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm trực tiếp cải tạo  tự nhiên và xã hội phục vụ con người tiến bộ. Đặc trưng này nói lên tính mục  2
  3. đích, tính tự  giác của hoạt động thực tiễn. Trong hoạt động thực tiễn, con   người phải sử  dụng các phương tiện, công cụ  vật chất để  tác động và tự  nhiên, xã hội nhằm cải tạo, biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích, phục   vụ cho nhu cầu của mình. Thực tiễn có ba hình thức cơ bản gồm: + Thứ  nhất, hoạt động sản xuất vật chất. Đây là những hoạt động sản  xuất ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và trao đổi của con   người, là hoạt động quyết định sự  tồn tại và phát triển của XH loài người,   thông qua đó con người ngày càng hoàn thiện. + Thứ  hai, hoạt động chính trị  ­ xã hội, hoạt động cải tạo các quan hệ   chính trị ­ xã hội. Đây là hoạt động của con người trong các lĩnh vực chính trị  ­ xã hội nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ  xã hội, hoàn  thiện các thiết chế xã hội.  + Thứ ba, hoạt động thực nghiệm khoa học. Đây là hình thức hoạt động  thực tiễn đặc biệt vì trong thực nghiệm khoa học, con người chủ động tạo ra  những điều kiện nhân tạo để  vận dụng thành tựu KHCN vào nhận thức và  cải tạo thế giới. Vai trò của hình thức hoạt động này ngày càng quan trọng do   sự phát triển của KHCN. 2.2. Nội dung biện chứng giữa lý luận và thực tiễn Quan điểm của triết học Mác ­ Lênin về biện chứng giữa lí luận và thực  tiễn không chỉ ở chỗ vạch rõ vai trò quyết định của thực tiễn đối với lí luận,  coi thực tiễn là cơ  sở, là tiêu chuẩn, là mục đích quan trọng của lí luận với  thực tiễn, mà còn nêu rõ vai trò của lý luận đối với thực tiễn.  Lý luận không  phản ánh hiện thực một cách thụ  động mà có vai trò như  kim chỉ  nam vạch  phương pháp hành động có hiệu quả nhất để đạt mục đích của thực tiễn. Kế  thừa quan điểm của triết học Mác ­ Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:  “Thống nhất giữa lý  luận  và thực  tiễn  là một nguyên tắc căn bản của chủ  nghĩa Mác ­ Lênin. Lý luận mà không liên hệ  với thực tiễn là lý  luận suông.  Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng”.  Nội dung biện chứng giữa lý luận với thực tiễn trong triết học Mác ­   Lênin gồm những vấn đề cơ bản sau: 3
  4. 2.2.1. Thực tiễn là cơ  sở, động lực, mục đích và là tiêu chuẩn của lý   luận; lý luận hình thành, phát triển từ  thực tiễn, đáp  ứng yêu cầu thực   tiễn Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, trước hết, là khẳng định thực tiễn  là cơ sở, động lực, mục đích và là tiêu chuẩn của lý luận. ­ Một là, thực tiễn là cơ sở lý luận. Thông qua thực tiễn được thể hiện ở  hoạt động sản xuất vật chất, chính trị  ­ xã hội và thực nghiệm khoa học,  nhận thức của con người được hình thành và phát triển. Đó cũng là quá trình  con người tác động vào giới tự nhiên, xã hội làm giới tự nhiên, xã hội bộc lộ  những thuộc tính, những tính qui luật để  cho con người nhận thức. Lúc đầu  con người chỉ  thu nhận được những tài liệu cảm tính, sau đó tiến hành so  sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá… để phản ánh bản chất, qui luật của các  sự vật, hiện tượng, từ đó hình thành các khoa học, lý luận. Theo đó, thực tiễn   là cơ sở của nhận thức của lý luận. Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp, dù  ở  trình độ  kinh nghiệm hay lý luận xét đến cùng đều có nguồn gốc và bị  quyết định bởi thực tiễn. ­ Hai là, thực tiễn là động lực của lý luận.  Trong quá trình hoạt động  thực tiễn biến đổi thế giới con người còn biến đổi bản thân mình, phát triển  năng lực trí tuệ  của mình. Nhờ  đó, con người ngày càng có khả  năng nhận  thức, khám phá bí mật của thế  giới, làm phong phú, sâu sắc hơn tri thức của   mình về thế giới. Thực tiễn luôn đề  ra nhu cầu nhiệm vụ và phương hướng   phát triển của nhận thức. Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải  tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự  ra đời và phát triển   của các ngành khoa học. Các ngành khoa học ra đời chính vì chúng cần thiết  cho hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị ­ xã hội và thực nghiệm   khoa học của xã hội. ­ Ba là, thực tiễn là mục đích của lý luận. Nhận thức, lý luận không phải  là sự phản ánh thụ động, đơn giản là giải thích về thế giới về con người mà  phải phục vụ thực tiễn, chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Sự ra đời của các ngành  khoa học và hệ  thống lý luận của nó chỉ  có ý nghĩa thật sự  khi tri thức của   khoa học được vận dụng vào thực tiễn, biến đổi giới tự nhiên xã hội và bản  thân con người. ­ Bốn là, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý của lý luận.  Tính chân lý  của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan và được  4
  5. thực tiễn kiểm nghiệm. Do đó, mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm  nghiệm. Vì vậy, C.Mác đã khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con  người có thể đạt đến chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là  vân đề lý luận mà là vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người đã  chứng minh chân lý”. Thông qua thực tiễn, những lý luận đạt đến chân lý sẽ  được bổ  sung vào kho tàng tri thức của nhân loại; những những lý luận nào  chưa phù hợp thực tiễn sẽ tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại. Phân tích vai trò của thực tiễn đối với lý luận yêu cầu chúng ta phải quán   triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất  từ  thực tiễn, dựa trên cơ  sở  thực thực tiễn đáp ứng những yêu cầu của thực  tiễn. Quá trình hình thành và phát triển của nhận thức tất yếu dẫn đến sự  hình thành và phát triển của lý luận. Đó không chỉ là là sự tổng kết khái quát   lịch sử  nhận thức của con người mà còn từ  nhu cầu của thực tiễn. Nhu cầu  của thực tiễn xét cho cùng là nhu cầu những tri thức mới và sự  vận dụng nó   trong hoạt động sản xuất, hoạt động chính trị  ­ xã hội và hoạt động thực  nghiệm khoa học làm biến đổi hiện thực khách quan nhằm thoả mãn nhu cầu  nói chung của con người. 2.2.2.  Thực tiễn phải được chỉ  đạo bởi lý luận, lý luận phải được   vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục được bổ  sung và phát triển trong thực   tiễn Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn không chỉ  khẳng định vai trò của  thực tiễn đối với lý luận mà còn thấy được vai trò của lý luận có ý nghĩa chỉ  đạo hoạt động thực tiễn. ­ Một là, thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận Khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với sự vận   động phát triển của tồn tại xã hội, triết học Mác đồng thời thừa nhận rằng   trong những điều kiện khách quan nhất định, tư tưởng con người, đặc biệt là  tư  tưởng khoa học có thể  vượt trước tồn tại xã hội. Theo đó, lý luận không   chỉ  có khả  năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, biện pháp thực  hiện mà còn có khả  năng dự  báo xu hướng phát triển, những thành công,   những rủi ro, những hạn chế có thể xảy ra trong quá trình hoạt động của con   người. Như  vậy, lý luận có  tác dụng tổ  chức, chỉ  đạo hoạt động thực tiễn  của con người, hướng hoạt động đó vào việc giải quyết những nhiệm vụ do   sự phát triển chín muồi của đời sống vật chất của xã hội đặt ra. Chính vì vậy,  5
  6. C. Mác đã cho rằng: “Vũ khí phê phán cố  nhiên không thể  thay thế  được sự  phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ  có thể  đánh đổ  bằng lực lượng   vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó xâm  nhập vào quần chúng”1. Chủ  nghĩa Mác ­ Lênin là hệ  tư  tưởng của giai cấp công nhân đã chỉ  ra  những qui luật vận động tất yếu của xã hội loài người nói chung, của xã hội   tư bản nói riêng và tính tất yếu của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ  nghĩa cộng sản. Học thuyết đó trang bị cho giai cấp công nhân và chính đảng  cộng sản vũ khí lý luận sâu sắc để  xây dựng chủ  nghĩa xã hội và chủ  nghĩa  cộng sản. Học thuyết hình thái kinh tế ­ xã hội của Mác là cơ  sở  lý luận về  thế giới quan duy vật và phương pháp luận khoa học cho các ngành khoa học  xã hội nghiên cứu xã hội như là một quá trình lịch sử tự nhiên. Ngày nay, thực  tiễn của lịch sử  và tri thức về  lịch sử  của nhân loại đã có nhiều bổ  sung và  phát triển mới so với khi học thuyết hình thái kinh tế ­ xã hội ra đời. Tuy vậy,  những cơ  sở  khoa học mà họa thuyết hình thái kinh tế  ­ xã hội của Mác đã  đem đến khoa học xã hội thì vẫn có những giá trị đích thực. Giá trị của chân lý của lý luận không chỉ mang tính tuyệt đối, tính tương   đối mà còn có tính cụ thể. Do đó, khi vận dụng lý luận chúng ta cần phân tích   một cách cụ thể mỗi tình hình cụ thể. Nếu vận dụng máy móc, giáo điều kinh   viện chẳng những hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến kết  quả của hoạt động thực tiễn. ­ Hai là,  lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục được bổ   sung và phát triển trong thực tiễn Lý luận hình thành là kết quả  của quá trình nhận thức lâu dài và khó   khăn của con người trên cơ  sở  thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy có phong  phú, đa dạng nhưng không phải không có tính quy luật. Tính quy luật của  thực tiễn được khái quát dưới hình thức lý luận.  Mục đích của lý luận không  chỉ  là phương pháp, mà còn là định hướng mục tiêu, mô hình và biện pháp  giải quyết các mối quan hệ của hoạt động thực tiễn.  Lý luận mặc dù là logic của thực tiễn, tuy nhiên, lý luận có thể  lạc hậu  hơn so với thực tiễn. Do đó, vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta  bám sát diễn biến của thực tiễn và thông qua thực tiễn để tiếp tục bổ sung và  phát triển lý luận cho phù hợp với thực tiễn. Chính vì vậy, tính năng động và  1 C.Mác và Ph. Ăng­ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.580. 6
  7. sáng tạo của lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Về vấn   đề này, Lênin đã nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó  có ưu điểm không những ở tính phổ biến, mà cả ở tính hiện thực trực tiếp”. 3. Ý nghĩa phương pháp luận của biện chứng giữa lý luận và thực  tiễn đối với cách mạng Việt Nam và công tác lãnh đạo quản lý, bản thân 3.1. Ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn có ý nghĩa phương pháp luận to lớn  đối với cách mạng Việt Nam. Có thể rút ra ba ý nghĩa cơ bản sau: ­ Một là, lý luận phải bám sát thực tiễn, phản ánh được yêu cầu của   thực tiễn, khái quát được kinh nghiệm của thực tiễn. Thực tiễn là cái được phản ánh, lý luận là cái phản ánh. Thực tiễn luôn  luôn vận động, phát triển và biến đổi. Bám sát thực tiễn không chỉ  phản ánh  phù hợp thực tiễn, mà còn phải so sánh, đối chiếu, phân tích để  chọn lọc  những thực tiễn mang tính khách quan, tính quy luật làm cơ  sở  cho quá trình   hình thành lý luận. Kinh nghiệm hoạt động của con người là cơ sở hình thành  lý luận. Lý luận phải khái quát được kinh nghiệm của loài người thì lý luận  mới có tính khoa học và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Đối với cách mạng Việt Nam, Nghị quyết của Bộ Chính trị  về  công tác  lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 đánh giá: “công tác lý luận  còn có những hạn chế, khuyết điểm, lý luận còn lạc hậu, tính dự  báo thấp,  kết quả  nghiên cứu lý luận chưa đáp  ứng tốt yêu cầu của thực tiễn”2. Nghị  quyết cũng nêu rõ phương châm của công tác lý luận trong tình hình mới: “Lý  luận phải gắn chặt với thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng và phục vụ  yêu cầu phát triển đất nước. Kết hợp chặt chẽ nghiên cứu lý luận với tổng  kết thực tiễn; nâng cao năng lực và chất lượng dự  báo, định hướng nghiên   cứu trong từng thời kỳ. Kiên trì thế giới quan, phương pháp luận khoa học và   các giá trị  cốt lõi của chủ  nghĩa Mác ­ Lênin, tư  tưởng Hồ  Chí Minh, truyền   thống tốt đẹp của dân tộc; đồng thời, tiếp thu các thành tựu mới, tinh hoa của   nhân loại”3. 2 Xem Nghị quyết 37­NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030. 3 Xem Nghị quyết 37­NQ/TW 7
  8. ­ Hai là, hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận chỉ đạo, vận dụng lý luận   phải phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể. Sự phát triển của thực tiễn trong lịch sử luôn được lý luận khái quát, nhở  khả năng phản ánh thực tiễn dưới dạng quy luật mà lý luận có khả  năng trở  thành phương pháp luận cho thực tiễn.  Từ  khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra  đời cho đến nay, Đảng ta luôn   khẳng định chủ nghĩa Mác ­ Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư  tưởng và kim chỉ  nam cho mọi hành động cách mạng của mình. Trong điều  kiện nước ta hiện nay, coi trọng lý luận có nghĩa là phải vận dụng sáng tạo  các tri thức khoa học của nhân loại vào điều kiện thực tiễn của đất nước,  tránh giáo điều, dập khuôn, máy móc. Sự  phát triển của khoa học công nghệ  là thành quả  của loài người. Do đó, con đường phát triển ngắn nhất và bền  vững nhất hiện nay của các quốc gia, dân tộc là tranh thủ  thời cơ,  ứng dụng   khoa học công nghệ để phát triển đất nước.  Lý luận cách mạng của chủ  nghĩa Mác ­ Lênin khi được vận dụng vào  thực tiễn nước ta phải quán triệt quan điểm lịch sử, cụ thể, gắn với các mục   tiêu, nhiệm vụ và yêu cầu khách quan do thực tiễn đặt ra. Do đó, việc chúng  ta tiếp thu thành quả của tư  duy nhân loại trong xây dựng kinh tế thị trường   định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước; tiếp thu thành quả  xây dựng nhà nước pháp quyền, cơ chế quản lý khoa học công nghệ, văn hoá   xã hội… để  thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,  văn minh. ­ Ba là, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều Một trong những biểu hiện của sự vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa   lý luận và thực tiễn là bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Nếu bệnh kinh   nghiệm là sự  tuyệt đối hoá những kinh nghiệm thực tiễn trước đây và áp  dụng một cách máy móc vào hiện tại khi điều kiện đã thay đổi, thì bệnh giáo   điều lại tuyệt đối hoá lý luận, tuyệt đối hoá kiến thức sách vở, coi nhẹ kinh   nghiệm thực tiễn, vận dụng lý luận một cách máy móc, không tính toán được  điều kiện lịch sử ­ cụ thể.  Để khắc phục bệnh kinh nghiệm cần phải quán triệt sâu sắc nguyên tắc  thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tức là bám sát thực tiễn, tăng cường học   tập nâng cao trình độ lý luận, bổ sung và vận dụng lý luận phù hợp với thực  tiễn.   Trong   điều   kiện   của   nước   ta   hiện   nay,   phải   hoàn   thiện   cơ   chế   thị  8
  9. trường định hướng xã hội chủ  nghĩa, bởi vì sự  vận động và biến đổi của cơ  chế thị trường đòi hỏi mọi thành phần, mọi chủ thể kinh tế phải năng động,  sáng tạo, phải thường xuyên bám sát thị  trường để   ứng phó, điều chỉnh và  đưa ra những quyết sách kinh doanh phù hợp, khắc phục triệt để  bệnh kinh  nghiệm. Để  khắc phục bệnh giáo điều cần phải quán triệt sâu sắc nguyên tắc  thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Điều đó có nghĩa là lý lluận phải gắn   với thực tiễn, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, kiếm chứng trong thực tiễn  và không ngừng hoàn thiện, phát triển với thực tiễn. Chủ  tịch  Hồ  Chí Minh  viết:  “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ  bản của  chủ  nghĩa Mác­Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực   tiễn mù quáng. Lý luận mà không có thực tiễn thì thành lý luận suông”. 3.2. Ý nghĩa đối với công tác lãnh đạo quản lý, bản thân Bản thân tôi hiện đang công tác tại trường Đại học Sư  phạm, Đại học   Huế, vừa tham gia công tác lãnh đạo, quản lý với tư  cách là Bí thư  Đoàn  trường, Chủ  tịch Hội Sinh viên Đại học Huế  và các chức vụ  kiêm nhiệm  khác, vừa làm công tác chuyên môn là giảng dạy lý luận chính trị cho sinh viên  chuyên ngành Giáo dục Chính trị và sinh viên không chuyên các môn Tư tưởng  Hồ  Chí Minh và Lịch sử  Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, vấn đề  biện   chứng giữa lý luận và thực tiễn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bản  thân tôi trên cả hai cương vị là lãnh đạo quản lý và công tác giảng dạy. ­ Đối với công tác lãnh đạo quản lý Trong công tác lãnh đạo quản lý với tư cách là cán bộ Đoàn Thanh niên ­  Hội Sinh viên, việc nắm vững lý luận chính trị  nói chung, chủ  nghĩa Mác ­   Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về Đoàn Thanh niên ­ Hội Sinh viên   hết sức cần thiết trước những yêu cầu và sự  vận động, biến đổi của thực  tiễn công tác Đoàn ­ Hội. Do đó, để  hoàn thành tốt nhiệm vụ  công tác lãnh   đạo quản lý nêu trên cần phải quán triệt biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Trước hết, phải nắm vững lý luận chính trị  nói chung, chủ  nghĩa Mác ­  Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng cơ bản để tổ chức, thực hiện tốt  đường lối, chủ  trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Bên  cạnh đó, cần phải trang bị hệ thống tri thức lý luận về công tác quản lý nhằm  xây dựng tổ  chức đoàn thể  vững mạnh; nắm vững tri thức lý luận về  Đoàn  9
  10. Thanh niên ­ Hội Sinh viên để  điều hành công tác, hoạch định chương trình,   kế hoạch công tác Đoàn ­ Hội. Nhiệm vụ người cán bộ Đoàn ­ Hội nói chung là vận động, tổ chức thực  hiện Nghị  quyết, Điều lệ  của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên. Nhiệm vụ  người cán bộ  trong trường học gắn chặt với việc thực hiện nhiệm vụ chính  trị của Nhà trường (học tập, giảng dạy, phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa  học, rèn luyện nghiệp vụ  sư  phạm,...), nhiệm vụ chính trị  địa phương (tham  gia phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng) mà Nhà trường đóng trên địa  bàn. Do đó, người cán bộ Đoàn ­ Hội phải vững lý luận và bám sát thực tiễn,   thông qua thực tiễn công tác để hoàn thiện lý luận. ­ Đối với công tác giảng dạy lý luận chính trị  Bản thân tôi hiện đang tham gia công tác giảng dạy các học phần lý luận  chính trị của nhà trường. Do đó, tôi nhận thức được rằng, việc giảng dạy cần   quán triệt sâu sắc nguyên lý giáo dục: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp  với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. Trong giảng dạy lý luận chính trị, các vấn đề  lý luận và thực tiễn phải   được giảng viên trình bày một cách thống nhất, làm sao để  lý luận triết học  thường xuyên liên hệ chặt chẽ với thực tiễn xã hội, thực tiễn giáo dục, phản   ánh kịp thời sự  biến đổi của đời sống xã hội. Đất nước ta đang thời kỳ  đổi  mới với những thay đổi rất nhanh chóng trên tất cả  mọi lĩnh vực của đời   sống xã hội. Trong lĩnh vực giáo dục cũng đang có những chuyển biến tích  cực và mạnh mẽ. Những thay đổi trong đời sống thực tiễn phải được cập  nhật kịp thời và đưa vào trong nội dung bài giảng của mình. Tri thức chính trị  không phải là những vấn đề  xong xuôi, cứng nhắc, mà nó đầy tính sáng tạo  và luôn được bổ sung bằng những kết luận mới được rút ra từ thực tiễn sinh   động. Tuy nhiên, các kết luận nghiên cứu lý luận chính trị không phải là những  lời giải đáp trực tiếp cho từng vấn đề  cụ  thể  vô cùng phong phú, đang dạng   mà là cơ sở có giá trị định hướng về mặt phương pháp luận. Do đó, trong quá  trình giảng dạy, cần phân tích làm cho người học nắm được cơ  sở  lý luận,   khía cạnh phương pháp luận của các vấn đề cần truyền đạt, từ đó họ có thể  lý giải được những vấn đề thực tiễn. Khi trình bày các nội dung tri thức lý luận chính trị, cần lấy những ví dụ  minh họa mang tính thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn. Tuy nhiên, không  10
  11. nên trình bày theo kiểu minh họa, thuyết minh chủ trương, đường lối, chính  sách của Đảng và Nhà nước, mà phân tích một cách có căn cứ  lý luận; vận   dụng phương pháp luận biện chứng duy vật để  luận giải các vấn đề  thực  tiễn. Giảng dạy lý luận chính trị  là làm cho sinh viên hiểu được, nắm được  cơ sở lý luận, khía cạnh phương pháp luận của đường lối, chủ trương, chính  sách đang thực thi trong đời sống, từ  đó có thể  tự  phân tích, nhận định, đánh   giá những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Đối với sinh viên sư  phạm, cần chú trọng liên hệ, đối chiếu lý luận   chính trị  với thực tiễn giáo dục, với quá trình đổi mới giáo dục ­ đào tạo  ở  nước ta. Trong giảng dạy lý luận chính trị, cần định hướng cho sinh viên vận  dụng phương pháp luận biện chứng duy vật để luận giải mục tiêu, tính chất,  nguyên lý giáo dục. Chẳng hạn, trên cơ sở trình bày nguyên lý về mối liên hệ  phổ  biến, giảng viên cần chỉ ra quan điểm giáo dục toàn diện (nội dung giáo  dục phải bảo đảm tính toàn diện); trên cơ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận   và thực tiễn cần làm sảng tỏ nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp  với lao động sản xuất, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và   giáo dục xã hội; hoặc khi trình bày tư  tưởng Hồ  Chí Minh về  văn hoá, đạo  đức và con người cần làm rõ những tính chất, chức năng của văn hoá, những   giá trị của các chuẩn mực đạo đức cách mạng và yêu cầu của con người mới   xã hội chủ  nghĩa để  sinh viên phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện... Nội dung tự  học, tự  nghiên cứu, thảo luận nhằm vào mục đích rèn luyện năng lực vận  dụng kiến thức lý luận chính trị vào nghiên cứu các khoa học chuyên ngành và  phân tích các vấn đề thực tiễn. Có như  vậy, giảng dạy lý luận chính trị  mới   trở nên thiết thực, bổ ích đối với sinh viên; trang bị cho họ lý luận và phương   pháp luận biện chứng duy vật để  phân tích các vấn đề  nảy sinh trong thực   tiễn xã hội, thực tiễn giáo dục của đất nước. III. KẾT LUẬN Biện  chứng giữa lý luận và thực tiễn là một trọng những nội dung cơ  bản của chủ nghĩa Mác ­ Lênin nói chung và triết học Mác ­ Lênin nói riêng.  Đây không chỉ là nguyên tắc được đề xuất trong nhận thức luận, mà còn là lý  luận của chủ nghĩa Mác ­ Lênin cho quá trình hình thành tri thức khoa học, tri  thức lý luận và phương pháp luận cho hoạt động cải tạo hiện thực khách   quan vì mục đích tiến bộ xã hội.  11
  12. Quán triệt quan điểm Mácxit về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và   thực tiễn không chỉ  có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức khoa học và hoạt  động thực tiễn nói chung mà còn là yêu cầu khách quan đối với việc cải tạo  xã hội, đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Thành quả của hơn  30 năm đổi mới đất nước từ  Đại hội VI (1986) đã chứng minh sự  quán triệt   về mặt nhận thức và hành động của Đảng ta về  biện chứng giữa lý luận và   thực tiễn.  Đối với cán bộ, đảng viên nói chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý,  cán bộ  làm công tác chính trị, tư  tưởng, tuyên giáo, việc nắm vững biện   chứng lý luận và thực tiễn càng có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao   năng lực tổ  chức, lãnh đạo, quản lý và hoàn thành tốt nhiệm vụ  trước Đảng  và nhân dân giao phó. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Bộ  Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo trình Triết học Mác ­ Lênin,  Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. [2]. Học viện Chính trị  quốc gia Hồ  Chí Minh (2018),   Giáo trình Cao   cấp lý luận chính trị, Triết học Mác ­ Lênin, Nxb. Lý luận chính trị,  Hà Nội [3]. Hội đồng trung  ương chỉ  đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ  môn khoa học Mác ­ Lênin, Tư  tưởng Hồ  Chí Minh (2014), Giáo  trình Triết học Mác ­ Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản