intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Tiểu luận Triết học số 9 - Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Chia sẻ: Phuc Nguyen | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:33

0
113
lượt xem
23
download

Tiểu luận Triết học số 9 - Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận cung cấp cho người học các kiến thức: Tiểu luận triết học, triết học Mac Lenin, mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,... Hi vọng đây sẽ là một tài liệu hữu ích dành cho các bạn sinh viên đang theo học môn dùng làm tài liệu học tập và nghiên cứu. Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết nội dung tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Triết học số 9 - Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

  1. LỜI NÓI ĐẦU Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và   tư  duy con người, đặc biệt trong hoạt động kinh tế,chẳn hạn như  cung   cầu , tích luỹ  và tiêu dùng, tính kế  hoạch hoá của từng xí nghiệp, từng  công ty và tính tự  phát vô chính phủ  của nền sản xuất hàng hoá….Mâu  thuẫn tồ  tại khi sự vật xuất hiện đến khi sự  vật kết thúc. Trong mỗi sự  vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ là một mà là nhiều mâu thuẫn,  và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập thì mâu thuẫn nay mất  đi thì mâu thuẫn khác lại hình thanh…. Trong sự nghiệp đổi mới ở  nước ta do đảng khởi xướng và lãnh đạo đã  dành được nhiều thắng lợi bước đầu mang tính quyết định, quan trọng  trong việc chuyển nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị  trường có sự  quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ  nghĩa.  Trong những chuyển biến đó đã đạt nhiều thành công to lớn nhưng trong   những thành công đó luôn luôn tồn tại những mâu thuẫn kìm hãm sự phát   triển của công cuộc đổi mới. đỏi hỏi phải được giải quyết và nếu  được   giải quyết sẽ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế, quan điểm   lý luận cũng những vướng mắc trong giải pháp, quy trình xử  lý các vấn   đề  chính trị  – xã hội có liên quan đến quá trình tiến hành cải cách trong  việc chuyển nền kinh tế  tôi chọn  “Mâu thuẫn biện chứng trong quá  trình xây dựng nền kinh tế  thị  trường theo định hướng xã hội chủ  nghĩa ở  việt nam” làm đề tài cho tiểu luận triết học Mác – Lê nin  1
  2. LÝ LUẬN CHUNG Tất cả các sự vật , hiện tượng trên thế  giới đều chứa đựng những  mặt trái ngược nhau. Trong  nguyên tử có điện tử và hạt nhân, trong sinh   vật có đồng hoá và dị hoá, trong kinh tế thị trường có cung và cầuhàng và   tiền… những mặt trái ngược nhau đó trong phép biện chứng duy vật gọi   là mặt đối lập: ở đây tôi chia làm 4 phần.  +Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến. +Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. +Sự chuyển hoá của các mặt đối lập. +Các mặt mâu thuẫn. 1. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến. Đối lập với các quan điểm của triết học cũ , phép biện chứng duy   vật khẳng định rằng tất cả  các sự  vật, hiện tượng tồn tại trong thực tại  khách quan đều chứa đựng trong nó mâu thuẫn .sự hình thành và phát triển  của mâu thuẫn là do cấu  trúc tự  thân vốn có bên trong của sự  vật ,hiện  tượng quy định. Mâu thuẫn tồn tại không phụ  thuộc vào bất cứ  hiện  tượng siêu nhiên nào, kể cả ý chí của con người. Mỗi sự vật, hiện tượng   đang tồn tại đều là một thể thống nhất các khuynh hướng, các thuộc tính   phát triển ngược chiều nhau, đối lập nhau. Sự  liên hệ, tác động qua lại,  đấu tranh chuyển hoá, bài trừ và phủ địn lẫn nhau, tạo thành động lực bên  trong của mọi quá trình vận động và phát triển khách quan của chính bản  thân các sự vật hiện tượng. Mâu thuẫn là một hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên,  xã hội và tư duy của con người. Khoa học tự nhiên hiện đại chứng minh  rằng thế giới vi mô là sự thống nhất giữa những thực thể có điện tích trái   dấu, hạt và trường, hạt và phản hạt. Trong sinh học có hấp thụ  và bài  tiết, di truyền và biến dị. Xã hội loài người có những mâu thuẫn phức tạp  2
  3. hơn, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở  hạ  tầng và kiến trúc thượng tầng; giữa các giai cấp đối kháng giữa chủ  nô và nô lệ, nông dân và địa chủ, tư sản và vô sản. Hoạt động kinh tế mâu  thuẫn cũng mang tính phổ  biến, chẳng hạn như cung và cầu , tích luỹ  và   tiêu dùng, tính kế hoạch hoá của từng xí nghiệp, Công ty với tính vô chính  phủ  của nền kinh tế  hàng hoá,…Trong tư  duy của con người cũng có  những mâu thuẫn như chân lý và sai lầm,… Mâu thuẫn tồn tại từ  khi sự  vật mới xuất hiện cho tới khi sự vật   kết thúc. Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ  có một  mà có thể có nhiều mâu thuẫn, vì sự  vật trong cùng một lúc có rất nhiều  mặt   đối   lập.   Mâu   thuẫn   này   mất   đi   thì   mâu   thuẫn   khác   hình   thành.  Ăngghen chính sự vận động đơn giản nhất của vật chất cũng là một mâu   thuẫn. Vật chất tồn tại ở hình thức vận động cao hơn, mâu thuẫn càng rõ  nét hơn. Nó gắn liền với sự vật, xuyên suốt quá trình phát sinh phát triển  và diệt vong của sự vật. Đó chính là những thuộc tính quy định tính khách   quan và phổ biến của mâu thuẫn. 2.  Sự đấu tranh của các mặt đối lập trong một thể thống nhất: Trong phép biện chứng duy vật, khái niêmk mặt đối lập là sự  khái  quát những thuộc tính, những khuynh hướng ngược chiều nhau cùng tồn  tại  trong cùng một sự vật hiện tượng, tạo nên sự vật, hiện tượng đó. Do  đó cần phân biệt rằng không phải bất kỳ hai mặt đối lập nào cũng thành  mâu thuẫn. Bởi vì trong cùng một sự  vật hiện tượng khách quan không  chỉ tồn tại hai mặt đối lập. Trong cùng một thời điểm cùng tồn tại nhiều  mặt đỗi lập. Chỉ có mặt đối lập là cùng tồn tại thống nhất trong cùng một  sự   vật   như  một  chỉnh  thể,  nhưng  có  khuynh  hướng  phát  triển  ngược  chiều nhau, phủ định và chuyển hoá lẫn nhau(sự chuỷen hoá này trở thành   nguồn gốc động lực, đồng thời quy định bản chất khuynh hướng phát   3
  4. triển của sự  vật) thì có hai mặt đối lập như  vậy mới gọi là hai mặt đối  lập mâu thuẫn. “ Thống nhất” của hai mặt đối lập được hiểu không phải  chúng đứng cạnh nhau mà nương tựa vào nhau, tạo ra sự  phù hợp cân   bằng như liên hệ phụ thuộc, quy định và ràng buộc lẫn nhau. Mặt đối lập   này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của mình và ngược lại.  Nếu thiếu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thị nhất định  không có sự  tồn tại của sự  vật. Bởi vậy sự  thống nhất của các mặt đối  lập là điều kiện không thể  thiếu được cho sự  tồn tại của bất kỳ  sự  vật   hiện tượng nào. Sự thống nhất này là do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật tạo  nên. Ví dụ: Lực lượng sản xuất­ quan hệ  sản xuất trong phương thức   sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển thì quan hệ  sản xuất cũng  phát triển. Hai điểu kiện này chính là điểu kiện tiền đề cho sự phát triển   của phương thức sản xuất. Nhưng trong quan hệ của lực lượng sản xu ất   và quan hệ sản xuất phải thoả mãn một số yêu cầu  sau. ­ Thứ nhất: Đó phải là một khái niệm chung nhất được khái quát từ  các mặt phù hợp khác nhau phản ánh được bản chất của sự phù hợp của  lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.   ­ Thứ hai: Đó phải là một khái niệm “ động” phản ánh được trạng  thái biến đổi thường xuyên của sự vận động, phát triển trong quan hệ của   quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. ­ Thứ  ba: Đó phải là một khái niệm có ý nghĩa thực tiễn. Ngoài ý  nghĩa nhận thực, khái niệm về  sự  phù hợp của quan hệ  sản xuất và lực   lượng sản xuất được coi là thoả  đáng phải có tác dụng định hướng, chỉ  đạo cho việc xây dựng quan hệ  sản xuất, sao cho những quan hệ  sản   xuất có khả năng phù hợp cao nhất với lực lượng sản xuất. 4
  5. Tuy nhiên, khái niệm thống nhất này chỉ mang tính tượng đối. Bản  thân nội dung khái niệm đã nói lên tính chất tương đối của nó: thống nhất   của các đối lập, trong thống nhất đã bao hàm và chứa đựng trong nó sự  đối lập. Đấu tranh các mặt đối lập: Sự  thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự  vật hiện  tượng không tách rời đấu tranh chuyển hoá giữa chúng. Bởi vì các mặt  đối lập cùng tồn tại trong một sự vật thống nhất như một chỉnh thể tr ọn   vẹn nhưng không nằm yên bên nhau mà điểu chỉnh chuyển hoá, bài trừ,   phủ định lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của bản thân sự  vật. Sự  đấu tranh chuyển hoá, bài trừ, phủ  định lẫn nhau giữa các mặt trong thế  giới khách quan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ  sản xuất trong giai cấp có  đối kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ  sản   xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra quyết liệt và gay gắt. Chỉ thông qua các   cuộc cách mạng xã hội bằng rất nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới giải  quyết nó một cách căn bản. Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia thành nhiểu giai đoạn.   Thông thường, khi nó mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể  hiện rõ  xung khắc gay gắt người ta gọi  đó là giai đoạn khác nhau. Tất nhiên  không phải bất kỳ  sự  khác nhau nào cũng được coi là mâu thuẫn, chỉ  có  những khác nhau cùng tồn tại trong cùng một sự  vật nhưng liên hệ  hữu   cơ  với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong  của sự  phát triển thì hai mặt đối lập  ấy mới hình thành bước đầu của   mâu thuẫn. Khi hai mặt đối lập của một mâu thuẫn phát triển đến giai  đoạn xung đột gay gắt, nó biến thành độc lập, sự  vật cũ mất đi sự  vật  mới hình thành. Sau khi giải quyết được mâu thuẫn sự thống nhất của hai  5
  6. mặt đối lập mới, hai mặt đối lập mới đấu tranh chuyển hoá thành mâu  thuẫn. Mâu thuẫn được giải quyết, sự  vật mới xuất hiện. Cứ  như  thế,   đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự  vật biến đổi không ngừng từ  thấp lên cao. Chính vì vậy, Lênin khẳng định “sự  phát triển là một cuộc   đấu tranh giữa các mặt đối lập”. Khi bàn về  mối quan hệ  giữa sự  thống nhất và đấu tranh của các   mặt đối lập, Lênin chỉ  ra rằng: “ mặc dù thống nhất chỉ  là điều kiện để  sự vật tồn tại với ý nghĩa là chính nó­ nhờ có sự  thống nhất của các mặt   đối lập mà chúng ta nhận biết được sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế  giới khách quan. Song bản thân của sự thống nhất chỉ là tương đối và tạm   thời. Đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là tuyệt đối. Nó diễn ra thường   xuyên, liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Kể cả trong trạng   thái sự vật ổn định , cũng như chuyển hoá nhảy vọt về chất. Lênin viết “   sự  thống nhất ( phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt   đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua trong tương đối. Sự  đấu  tranh của các mặt đối lập bài trừ  lẫn nhau là tuyệt đối cũng như  sự  phát   triển, sự vận động tuyệt đối”. 3.  Chuyển hoá của các mặt đối lập: Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn đến   sự  chuyển hoá giữa chúng. Chỉ  có sự  đấu tranh của các mặt đối lập phát   triển đến một trình độ nhất định, hội đủ các điểu kiện cần thiết mới dẫn   đến chuyển hoá giữa chúng, bài trừ  và phủ  định lẫn nhau. Trong giới tự  nhiên, chuyển hoá của các mặt đối lập thường diễn ra một cách tự  phát,  còn trong xã hội, chuyển hoá của các mặt đối lập nhất thiết phải thông  qua hoạt động có ý thức của con người. 6
  7. Do đó, không nên hiểu sự  chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối  lập chỉ là sự hoán đổi vị trí một cách dơn giản máy móc. Thông thường thì  mâu thuẫn chuyển hoá theo hai phương thức:   + Phương thức thứ  nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt  đối lập kia nhưng ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật. Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến  đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau để  hình thành quan hệ  sản xuất mới là  quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới ở trình độ  cao hơn. + Phương thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để  thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn. Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá  tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà  nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ những mâu thuẫn trên cho ta thấy trong thế giới hiện thực, bất  kỳ sự vật hiện tượng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt,  những thuộc tính có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau. Sự đấu  tranh chuyển hoá của các mặt đối lập trong điều kiện cụ  thể  tạo thành  mâu thuẫn. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, phổ  biến trên thế  giới.  Mâu thuẫn được giải quyết, sự  vật cũng  mất đi sự  vật mới hình thành.   Sự vật mới lại nảy sinh các mặt đối lập và mâu thuẫn mới. Các mặt đối lập này lại đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn nhau   để tạo thành sự vật mới hơn. cứ như vậy mà các sự vật, hiện tượng trong   thế giới khách quan thường xuyên và biến đổi không ngừng. Vì vậy, mâu  thuẫn là nguồn gốc và động lực của mọi quá trình phát triển. II.   TÍNH   TẤT   YẾU   CỦA   QUÁ   TRÌNH   XÂY   DỰNG   NỀN   KINH   TẾ   THỊ  TRƯỜNG Ở VIỆT NAM . 7
  8. 1.Kinh tế thị trường và những đặc điểm : *Khái niệm “kinh tế thị trường”    Có hai ý kiến khác nhau về kinh   tế thị trường :   Một là xem “kinh tế  thị  trường “ là phương thức vận hành kinh tế  lấy thị  trường hình thành do trao đổi và lưu thông hàng hoá làm người   phân phối các nguồn lực chủ yếu ;lấy lợi ích ,cung cầu  thị trường và mua  bán giữa  hai bên làm  cơ  chế  khuyến khích hoạt  động kinh tế. nó    là  phương thức tổ  chức vận hành kinh tế  –xã hội .kinh tế  thị  trường là   phương thức ,phương tiện ,công cụ vận hành nền kinh tế có hiệu quả .tự  nó không mang tính giai cấp –xã hội , không tốt mà cũng không xấu .tốt  hay xấu là do người sử dụng nó. Quan niệm này kinh tế thị trường là vật  “trung tính “;là công nghệ sản xuất ai sử dụng cũ được . Hai là xem “kinh tế thị trường “là một quan hệ kinh tế­ xã hội­chính  trị ,nó in đậm dấu ấn của lực lượng xã hội làm chủ trị trường .kinh tế thị  trường là một phạm trù kinh tế hoạt động ,có chủ thể của quá trình hoạt   động đó ,có sự tác động lẫn nhau của các chủ thể hoạt động .trong xã hội   có giai cấp ,chủ thể hoạt động trong kinh tế thị trường không phải  là cái  nhân riêng lẻ  ,đó còn là những tập đoàn xã hội, những giai cấp. Sự  tác   động qua lại của các chủ  thể hoạt động đó có thể  có lợi cho người này,  tầng lớp hay giai cấp này; có hại cho tầng lớp hay giai cấp khác. Cho nên,   kinh tế  thị trường có mặt tích cực, có mặt tiêu cực nhất định. Không thể  nhấn mạnh chỉ một mặt trong hai mặt đó.   Kinh tế  thị  trường  có sự  phát triển từ  thấp lên cao, đỉnh cao nhất  trong sự phát triển của nó ở  giai đoạn đã qua đạt được trong chủ nghĩa tư  bản, được xã hội đó sử  dụng triệt để. Đó là cơ  sở  để  trước đây nhiều  người đồng nhất nền kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản. Quan điểm  đó được củng cố thêm còn do quáư trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trước  8
  9. đây, hầu hết các nước Xã hội chủ nghĩa đều kỳ thị với kinh tế thị trường,   tuyệt đối hoá nền kinh tế kế hoạch mang tính tập trung quan liêu. Do vậy   có sự  đối lập giữa kinh tế  thị  trường với chủ  nghĩa xã hội. Kết quả  nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn trong những năm gần đây đã  cho phép khẳng định rằng, nền kinh tế của thời kỳ quá độ  lên chủ  nghĩa   xã hội phải là nền kinh tế thị trường. Sự ra đời và tồn tại của nền kinh tế  thị trường trong thời kỳ quá độ trước hết và chủ yếu do trong thời kỳ này  còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, do có sự tách rời giữa quyền sở hữu   và quyền kinh doanh ngay trong một thành phần kinh tế, do còn có sự  phân công lao động… làm cho các đơn vị  kinh tế  trở  thành những người  sản xuất hàng hoá và những người kinh doanh hàng hoá độc lập( hoặc  tương đối độc lập). Vì th, trong nền kinh tế nhất định sẽ hình thành quan  hệ hàng hoá và trao đổi hàng hoá, làm cho nền kinh tế đó vận hành trong   môi trường kinh tế thị trường. 2. Chuyển sang nền kinh tế  thị  trường là một tất yếu khách   quan trong quá trình phát triển của nền kinh tế đất nước. Thực tiễn vận động của nền kinh tế  thế  giới những năm gần đây  cho thấy, mô hình phát triển nền kinh tế thị trường có sự  điều tiết vĩ mô   từ trung tâm, trong  bối cảnh ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả. Mô hình  này, về đại thể có thể đáp ứng những thách thức của sự phát triển. Nước ta, việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là  nội  dụng của công cuộc  đổi mới  mà hơn thế  nưa  còn là  công cụ, là  phương thức để nước ta đi tới mục tiêu xây dựng CNXH. Nền kinh tế nước ta hiện nay chỉ có thể nó đang trong giai đoạn quá  đô, chuyển tiếp từ  nền kinh tế  tập trung, hành chính, bao cấp sang nền   kinh tế  thị  trường có sự  quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng   XHCN. Do vậy, những đặc điểm của giai đoạn quá độ  trong nền kinh tế  9
  10. nước ta, đương nhiên là một vấn đề  rất có ý nghĩa, rất cần được nghiên   cứu, xem xét. Nhận thức được những đặc điểm phức tạp của giai đoạn   quá độ, chi phối những đặc điểm đó, chúng ta sẽ  tránh được những sai   lầm chủ  quan nóng vội, duy ý chí hoặc những khuynh hướng cực đoan,  máy móc,sao chép, chấp nhận nguyên bản kinh tế thị trường từ bên ngoài  vào.  Như  chúng ta đã biết, trong nền kinh tế  tập trung , bao cấp, mọi  chức năng kinh tế­ xã hội của nền kinh tế đều được triển khai trong quá  trình kế  hoạch hoá  ở   cấp độ  quốc gia. Tính bao cấp của nhà nước đối   với các hoạt động của sản xuất lưu thông, phân phối… khá nặng nề,  ở  nước ta trước đây, chế độ hạch toán, trên thực tế còn nặng về hình thức.   Lợi ích kinh tế, đặc biệt là lợi ích cá nhân người lao động, một động lực   trực tiếp của hoạt động xã hội chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, sự  vận động của nền kinh tế nhìn chung là chậm chạp, kém năng động.   Kể  từ đại hội Đảng lần thú VI (12/1986) đến nay, theo đường lối  đổi mới, đất nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế  thị  trường   với định hướng Xã hội chủ nghĩa. Và điều đó có ý nghĩa là chúng ta đã đạt  được  những thành tựu hết sức  quan trọng, những thành tựu cho phép  chúng ta “ điều chỉnh và bổ  sung nhận thức, làm cho quan nịêm về  chủ  nghĩa xã hội ngày càng cụ  thể: đường lối chủ  trương, chính sách ngày   càng đồng bộ, có căn cứ  khoa học và thực tiễn”. Những thành tựu đó,  trong một chừng mực nhất định cũng gián tiếp khả năng của nền kinh tế  thị trường  trong việc năng động hoá nền kinh tế đất nước. Kinh tế thị trường, như chúng ta đã biết là một quan hệ kinh tế – xã  hội mà trong đó sản xuất và tái sản xuất gắn liền với thị  trường, tức là   gắn chặt với quan hệ hàng hoá­ tiền tệ, với quan hệ cung­ cầu … Trong   10
  11. nền kinh tế thị trường , nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xã  hội quan hệ hàng hoá. Nếu  như  trước đây, nền kinh tế  nước ta chỉ  có một kiểu sở  hữu   tương đối thuần nhất với hai thành phần tập thể  và quốc doanh, thì nay,  cùng với thành phần sở  hữu chủ  đạo là sở  hữu Nhà nước, còn tồn tại   nhiều hình thức sở  hữu khác. Những hình thức sở  hữu đó, trong thực tế  vận hành của nền kinh tế, không hẳn đã đồng bộ với nhau, đôi khi chúng  còn có mâu thuẫn với nhau. Song về  tổng thể, chúng là những bộ  phận  khách quan của nền kinh tế, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng  và năng động của nền kinh tế thị trường. Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc chúng ta bước   đầu sử dụng thị trường như là một công cụ, phương thức, trên thực tế đã  đem lại những kết quả  tích cực cả  về  phượng thức, trên thực tế  đã đem  lại những kết quả tích cực cả về phương diện thực tiễn và phương diện   nhận thức. Mỗi hành trang có ý nghĩa mà công cuộc đổi mới trang bị cho chúng  ta sản xuất hàng hoá cùng với nền kinh tế  nhiều thành phần vận hành  theo cơ  chế  thị  trường, hiện đã được chúng ta hiểu là không đối lập với   CNXH. Với tính cách là sản phẩm của văn minh nhân loại, một cơ hội để  các cộng đồng mở cửa, tiếp xúc với bên ngoài, kinh tế thị trường rõ ràng  là cái khách quan và tất yếu đối với công cuộc xây dựng CNXH ở  nước   ta. Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở  nước ta, thị trường là căn  cứ, vừa là đối tượng của công tác kế hoạch hoá. Việc điều tiết vĩ mô đối   với thị  thường, một mặt làm cho nền kinh tế  nước ta thực sự  trở  thành  một thị  trường thống nhất­ thống nhất trong cả nước và thống nhất với  11
  12. thị trường thế giới­ mặt khác còn có tác dụng làm cho mỗi đơn vị kinh tế  phải tự khẳng định khả năng và vai trò của mình trong thị trường. Tuy nhiên, nhận ra sức  mạnh của cơ  chế  thị  trường  bao nhiêu,  chúng ta lại cũng hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự  vận  động của đởi sống xã hội. Sự  tăng trưởng kinh tế  đương nhiên là một  mục tiêu của phát triển xã hội; nó có khả  năng tạo ra điều kiện để  giải  quyết các vấn đề  xã hội. Nhưng tăng trưởng kinh tế  không nhất thiết đi  liền với xã hội. Do vây, những quan niệm của Đảng ta, để  thực hiện sự  nghiệp xây dựng CNXH với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công  bằng văn minh, nền kinh tế thị trường nhất thiết phải có sự  quản lý của   nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. 3.     Định hướng xây dựng nền kinh tế  thị  trường  ở    nước ta   hiện nay. Chúng ta đang phấn đấu xây dựng một nền kinh tế thị trường định  hướng xã hội chủ nghĩa đạt trình độ kinh tế thị trường phát triển với đặc  trưng: ­  Hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ :thị trường hàng hoá   và dịch vụ ;thị trường công nghệ , các dịch vụ thông tin ,tư vấn ,tiếp thị ,   pháp lý, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, bảo lãnh; thị  trường   sức lao động; thị  trường lao động, thị  trường khoa học, kỹ  thuật, công  nghệ, thị trường bất động sản, thị trường vốn, thị trường chứng khoán ….   Tất cả  các loại thị  trường đó liên kết chặt chẽ  với nhau tạo thành một   chỉnh thể  hữu cơ. Hệ thống này trở  thành đầu mối mọi tác động qua lại  của hoạt động kinh tế­xã hội. ­   Mỗi thực thể  kinh tế  có lợi ích riêng (bao gồm xí nghiệp, tập  đoàn xã hội và cá  nhân) và là chủ thể của thị trường, tham gia hoạt động   của thị trường và cạnh tranh với nhau. 12
  13. ­   Việc vận hành kinh tế­xã hội được thực hiên trong sự  kết hợp  giữa đường lối chủ  trương, chính sách, kế  hoạch …. Với việc sử  dụng   các loại    tín hiệu kinh tế  mà thị  trường  cung cấp, việc lưu thông tài   nguyên được điều tiết bởi thông tin thị  trường và kế  hoạch cân đối sản  xuất. ­  Dựa trên quy luật thị trường thống nhất mà hình thành một trật tự  thị trường, sản xuất xã hội lưu thông, phân phối và tiêu dùng với sự  liên   hệ và điều tiết của đầu mối thị trường, hình thành mạng lưới sản xuất xã  hội có trật tự. ­   Dựa vào đường lối, hiến pháp, pháp luật và quy luật vận hành   của kinh tế thị trường, chính phủ thực hiện việc điều chỉnh và khống chế  vĩ mô cần thiết, hữu hiệu; vận hành chính sách kinh tế, pháp luật kinh   tế,chỉ đạo kế hoạch và phương pháp hành chính cần thiết để hướng dẫn   sự phát triển của kinh tế thị trường.     Kinh tế  thị  trường có vai trò to lớn trong sự  phát triển kinh tế  –xã  hội ,không vì thế  mà “kinh tế  thị  trường” là tất cả. thực tế  đổi mới 12   năm qua cho thấy ,bên cạnh tác động tích cực là cơ  bản,những tác động  tiêu cực do mặt trái của kinh tế  thị  trường gây ra cũng hết sức nghiêm  trọng, đặc biệt trên phương diện tư tưởng, đạo đức, lối sống. Không xem  trọng cuộc đấu tranh nhằm hạn chế; khắc phục những tác động tiêu cực   của kinh tế thị trường, không làm rõ giới hạn cần có của lĩnh vực có thể  “thị trường hoá” cũng là chệch hướng xã hội chủ nghĩa.       *Về  nội dung dữ  vững định hướng xã hội chủ  nghĩa trên lĩnh vực  kinh tế và nội dung khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ  nghĩa  ở   nước ta hiện nay,có thể  suy ra đặc điểm của kinh tế  thị  trường   định hướng xã hội chủ  nghĩa  ở   nước ta là: mọi thành phần kinh tế  đều   bình đẳng trước pháp luật; nền kinh tế ấy lấy các thành phần kinh tế dựa   13
  14. trên sở hữu xã hội và sở hữu tập thể làm nền tảng, lấy kinh tế nhà nước  làm chủ  đạo; lấy việc thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội   công bằng và văn minh làm mục tiêu. Muốn vậy nền kinh tế ấy phải đảm bảo: ­ Có tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, ổn định  ­ Giải quyết vấn đề  công bằng xã hội phù hợp từng bước với sự  tăng trưởng kinh  tế;. ­ Đặt giơi sự lãnh đạo của đảng cộng sản giơi sự quản lý của một   nhà nước thực sự của dân; ­ Lấy việc giải phóng sức sản xuất làm căn cứ  chủ  yếu để  hoạch  định cơ cấu thành phần kinh tế, hình thức sở hữu; ­ Làm cho kinh tế nhà nước phát triển trước hết là về chất để đóng  vai trò chủ  đạo, kinh tế  nhà nước cùng với kinh tế  hợp tác dần dần trở  thành nền tảng; ­ Xác lập, củng cố  và nâng cao địa vị  làm chủ  của người lao động   trong nền kinh tế  thị  trường, thực hiện công bằng xã hội ngày càng tốt  hơn. trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, điều chủ  yếu là tạo điều kiện công bằng trong phát triển con người; vừa không  bình quân, vừa phải chú trọng đến tầng lớp dễ  tổn thương, những vùng   khó khăn; ­Thực hiện nhiều hình thức phân phối,lấy phân phối theo kết quả  lao động và hiệu quả kinh tế làm chủ yếu.     Hơn nữa nền kinh tế  đó phải góp phần phát huy mọi tiềm năng,  mọi sức lực xã hội; tạo điều kiện cho mỗi cá nhân làm giàu cho mình và   cho toàn xã hội; chấp hành mọi pháp luật,kinh doanh có văn hoá; cạnh  tranh và hợp tác một cách văn minh… 14
  15.     Qua nội dung trên cho thấy,tính định hướng xã hội chủ  nghĩa trong  sự phát triển kinh tế ở  nước ta liên quan tới cả kiến trúc thượng tầng lẫn   cơ  sở  hạ  tầng,liên qua tới cả  quan hệ  sản xuất lẫn lực lượng sản xuất   …..     Để dữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển   kinh tế thị trường  ở  nước ta, nhân tố  nào có ý nghĩa quyết định ? trả lời  vấn đề này có người cho rằng nhà nước là yếu tố chủ đạo trong sự  phát   triển của kinh tế  thị  trường. Bởi vì không thể  lấy cái bộ  phận (kinh tế  nhà nước) của cái toàn thể  (nền kinh tế thị trường nhiều thành phần) để  định hướng sự  phát triển của cái toàn thể  đó. Bằng hệ  thống pháp luật,  chính sách, hệ  thống động lực kích thích mà nhà nước thực hiện vai trò   chủ đạo đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Trong hệ thống   công cụ để nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo đối với sự vận động của   kinh tế, kinh tế nhà nước chỉ là một công cụ, dù có thể được xem là công  cụ qua trọng nhất. Do vậy không nên xem kinh tế nhà nước là chủ đạo.     Trong giai đoạn ngày nay của thời đại, mọi nhà nước đều tham gia   quản lý kinh tế, định hướng phát triển kinh tế,cho nên nói vai trò chủ đạo   của nhà nước là xoá nhoà ranh giới giữa kinh tế thị trường định hướng xã  hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.         Thiết nghĩ, phải tìm yếu tố chủ  đạo trong sự  phát triển chung của  nền kinh tế  (có vai trò dẫn dắt sự phát triển của các thành phần kinh tế,   định hướng sự phát triển của chúng…) ngay trên lĩnh vực kinh tế. Bởi vì,  trong khi không phủ  nhận vai trò tác động mạnh mẽ  của nhà nước tơi   kinh tế, nhưng suy cho cùng sức mạnh nhà nước cũng do sức mạnh của  kinh tế quyết định. Trong điều kiện cụ thể ở  nước ta, bộ phận chủ đạo   đó là kinh tế nhà nước, Vấn đề căn bản nhất, chủ chốt nhất và khó khăn  nhất là làm sao kinh tế  nhà nước vươn lên năm được vai trò chủ  đạo ?  15
  16. điều đó được đặt ra trong khi kinh tế nhà nước hiện nay vẫn còn yếu kém   ngay cả  trên những phương diện chủ  yếu nhất cuả  nó: năng suất, chất   lượng, hiệu quả. Để góp phần khắc phục tình hình đó, kinh tế  nhà nước  phải làm sao kết hợp được trong bản thân mình cái mạnh của tập thể,   của cộng đồng và cái mạnh của cá nhân xét cả  với tư  cách động lực lợi   ích kinh tế, cả với tư cách thực thể­con người kinh tế. then chốt của vấn   đề này là tìm một cơ chế thích hợp vơi nền kinh tế thị trường định hướng   xã hội chủ nghĩa và có một đội ngũ cán bộ có đủ đức đủ tài. “vai trò chủ  đạo của kinh tế  nhà nước” được hiểu là : làm đòn bẩy đẩy  nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội ;mở đường,  hướng dẫn,hỗ  trợ  các thành phần kinh tế  khác cùng phát triển; làm lực  lượng vật chất để  nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quả  lý vĩ  mô;tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới. 4. Thực trạng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở   nước ta hiện nay Chúng ta  đã chuyển  một bước  quan trọng sang  kinh tế  thị  trường,   nhưng chưa kết thúc bước chuyển đó. Do vậy còn đan xen những yếu tố  của nền kinh tế  chuyển đổi. Những yếu tố  của nền kinh tế  thị  trường   văn minh còn ít hơn là yếu tố sơ khai. Mặt khác trong xã hội chủ đã xuất  hiện một số  yếu tố  đi quá xa(vượt khỏi giới hạn )khuôn khổ  của nền   kinh tế  thị trường định hướng xã hội chủ  nghĩa. Những nhân tố  của nền  kinh tế  maphia, tính trạng thương mại hoá giáo dục, nhân phẩm …là   những thí dụ cho sự quá đà như vậy.      Trình độ thấp kém, chưa đạt tới trình độ hoàn chỉnh của kinh tế thị  trường ở  nước ta hiện nay biểu hiện  ở  chỗ : giá cả hàng hoá dịch vụ bị  bóp méo, độc quyền còn quá lớn, tỷ giá chưa phải do trị thường quy định;  tiền lương chưa có tính thị trường …quyền kinh doanh trên thị trường còn  16
  17. hạn chế  nhiều nên mất khả  năng cạnh tranh. Các loại thị  trường còn  thiếu và chưa đồng bộ, trước hết là thiếu thị trường lao động, thị trường   tiền tệ  theo đúng nghĩa của nó. Các thể  chế  cho thị  trường quá thiếu ;  không it những thể  chế  đã có chưa phù hợp, thậm chí trái với yêu cầu  của thị  trường, sự  can thiệp của nhà nước vào thị  trường chưa thật phù  hợp thậm chí trái với yêu cầu của thị  trường, có tình trạng liên kết giữa  bộ phận thoái hoá trong bộ máy nhà nước với những yếu tố tiêu cực của  thị trường gây ra tham nhũng, nợ nần chồng chất.    III.NHỮNG MÂU THUẪN PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN  KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XàHỘI CHỦ NGHĨA Ở   NƯỚC TA : 1.một số vấn đề lý luận chung của chủ nghĩa Mác­ Lênin về quan hệ  giữa kinh tế với chính trị: Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác­ Lênin thì kinh tế quyết định chính  trị: “ chínhtrị  là sự  biểu hiện tập trung của kinh tế”. Trong lịch sử  phát   triển xã hội loài người không phải bao giờ  cũng có vấn đề  về  chính trị.  Xã hội nguyên thuỷ chưa có giai cấp, chưa có vấn đề  chính trị. Từ khi xã   hội xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp và Nhà nước thì vấn đề chính  trị mới hình thành. Vấn đề chính trị là vấn đề thuộc đấu tranh giai cấp và  đấu tranh giai cấp. Trung tâm của chính trị là đấu tranh giai cấp giữa các   giai cấp, các lức lượng xã hội nhằm giành và giữ  chính quyền nhà nước   và sử dụng công cụ đó làm công cụ để xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội  phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền. Bản thân vấn đề chính trị ra   đời hoàn toàn là do kinh tế  quyết định. Chính trị  không phải là mục đích,  mà chỉ là phương tiện để thực hiện mục đích kinh tế, F.Engen  Đã khẳng định “bạo lực chỉ  là phương tiện, còn lợi ích kinh tế  là mục  đích”. Trong tác phẩm “Lútvích Phoibăc và báo cáo chung của triết học cổ  17
  18. điển Đức”, F.Engen đã chỉ rõ “để thoả thuận lợi ích kinh tế thì quyền lực   chính trị chỉ được sử dụng là một phương tiện đơn thuần. Quyền lực chính trị  là công cụ  mạnh mẽ nhất để  bảo vệ  chế  độ  xã hội.   Sự thốngtrị về chính trị của một giai cấp nhất định là điều kiện đảm bảo   cho giai cấp đó thực hiện được sự  thống trị  về  kinh tế. Đấu tranh giai   cấp, về thực chất là đấu tranh vì lợi ích kinh tế, được thông qua đấu tranh   chính trị. Theo F.Engen, “ bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng đều là   đấu tranh chính trị, xét đến cùng, đều xoay quanh vấn đề  giải phóng về  kinh tế”. Để  nhấn mạnh vai trò của chính trị  V.I.Lênin đã khẳng định “   chính trị không thể chiếm vị trí  hàng đầu so với kinh tế”. Khẳng định đó   của Lênin không có nghĩa là phủ  nhân hoàn toàn vai trò quyết định của  kinh tế đối với chính trị, mà muốn nhấn mạnh tác động tích cực của chính  trị đối với kinh tế. Vấn đề kinh tế không thể tách rời với chính trị mà nó  được xem xét giải quyết theo một lập trường chính trị nhất định. Giai cấp   nào cầm quyền cũng hướng kinh tế  phát triển theo lập trường chính trị  riêng của giai cấp đó nhằm phục vụ  cho mục tiêu kinh tế  xã hội nhất  định. Và lập trường chính trị  đúng hay sai sẽ  thúc đẩy hoặc kìm hãm sự  phát triển của nền kinh tế, V.I.Lênin còn khẳng định “ không có một lập   trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể nào giữ  vững được sự  thống trị  của mình và do đó cũng không thể  nào giữ  vững   được sự  thống trị  của mình và do đó cũng không thể  hoàn thành được  nhiệm vụ cuả mình trong lĩnh vực sản xuất”. Khi  thể chế chính trị không  phù hợp với yêu cầu  phát triển kinh tế  thì kinh tế  tất yếu sẽ  mở đường  đi. Khi đó việc thay đổi thể  chế  chính trị  cho phù hợp với yêu cầu  phát   triển của kinh tế là điều kiện quyết định để  thúc đẩy kinh tế  phát triển.   Như  vậy, chúng ta có thể  khẳng định rằng kinh tế  và chính trị  là thống  nhất và biện chứng với nhau trên nền tảng quyết định là kinh tế. Đây là  18
  19. cơ   sở   phương  pháp  luận  quan  trọng  trong  việc  nhận  thức   xã  hội  nói  chung, nhận thức công cuộc đổi mới ở  Việt Nam nói riêng. Từ  Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  VII( tháng 6 năm 1991). Đảng ta   đã khẳng định: “ về  quan hệ  giữa đổi mới kinh tế  và đổi mới chính trị,  phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp  ứng những đòi hỏi cấp  bách của nhân dân về  đời sống, việc làm và nhu cầu   xã hội khác, xây  dựng cơ sở vật chất kỹ thuận của CNXH, coi đó là điều kiện quan trọng   để  tiến hành đổi mới tổ  chứcvà phương thức hoạt động của hệ  thống   chính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ  và năng lực sáng tạo của  nhân dân trên các lĩnh vực chính trị  kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì chính trị  đụng chạm đến tất cả  các mối quan hệ  đặc biệt nhạy cảm và phức tạp   trong xã hội, nên việc đổi mới hệ  thống chính trị  nhất thiết phải trên cơ  sở  nghiên cứu và chuẩn bị  rất nghiêm túc, không cho phép gây mất  ổn   định chính trị  dẫn đến rối loạn. Nhưng không vì thế  mà tiến hành chậm  trễ đổi mới chính trị, nhất là về  tổ chức bộ máy và các bộ, các mối quan   hệ giữa Đảng và Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, bởi đó là điều kiện  thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và thực hiện dân chủ”. Điều đó cho  thấy Đảng ta đã không tách rời đổi mới kinh tế  và đồng thời đổi mới   chính trị. Đảng ra khẳng định rằng phải tập trung sức làm tốt đổi mới   kinh tế  và đồng thời với đổi kinh tế  phải tiến hành từng bứơc đổi mới  chính trị, những phải thận trọng không gây mất ổn định về chính trị. Tư tưởng đã được tiếp tục phát triển một cách rõ ràng hơn ở  Đại hội đại  biểu của toàn quốc lần thứ  VIII( tháng 7 năm 1996) của Đảng ta. Khi  tổng kết các bài học của 10 năm đổi mới, Đảng ta khẳng định phải kết  hợp chặt chẽ  ngay từ  đầu đổi mới kinh tế  với đổi mới chính trị. Đây là  một bải học khái quát mới, hoàn toàn khoa học. Nó vừa phù hợp với lý  19
  20. luận của chủ nghĩa Mác­ Lênin vừa phù hợp với thực tiễn công cuộc đổi  mới ở  nước ta. Trong khi đề  ra đổi mới chính trị, Đảng ta luôn nhấn mạnh phải ổn định  chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Điều này tưởng  như một nghịch lý nhưng hoàn toàn có lý và khoa học. ôn định về  chính trị, nói cách khái quát là giai cấp cầm quyền phải tăng   cường  quyền lực chính trị  của mình; Nhà nước  của giai cấp  đó phải  mạnh và có hiệu lực, luật pháp phải nghiêm minh; chế  độ  xã hội đã xác  lập phải được giữ  vững. Đối với nước ta hiện nay,  ổn định về  chính trị  thực chất là giữ  vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng , tăng  cường   vai   trò   củ   Nhà   nước   XHCN,   bảo   vệ   và   xây   dựng   thành   công  CNXH. Thực tiễn thế giới cho thấy, ổn định chính trị là điều kiện hết sức cơ bản  để phát triển kinh tế. Nó tạo ra môi trường để thu hút nguồn đầu tư trong  nước   và   trên   thế   giới,   tạo   điều  kiện   phát  triển  sản   xuất  kinh   doanh.  Những thành tựu trong 10 năm đổi mới vừa qua  ở   nước ta cũng khẳng   định điều đó. Những thành tựu đó không thể  tách rời việc chúng ta giữ  được ổn định về chính trị. Ổn định về  chính trị  lại không thể  tách rời đổi mới về  chính trị. Nhưng  đổi mới chính trị không phải đổi mới vô nguyên tác, mà đổi mới là để giữ  vững  ổn định về  chính trị, giữ  vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của   Đảng, vai trò tổ  chức quản lý của Nhà nước XHCN. Đổi mới chính trị  phải gắn liền với đổi mới về kinh tế, phù hợp với yêu cầu  về phát triển   kinh tế thì mới có thể tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò tổ  chức quản lý của Nhà nước XHCN, và nhờ  đó mới giữ  vững ổn định về  chính trị. Song đổi mới về  kinh tế  cũng không phải là đổi mới một cách  tuỳ tiện mà phải theo một định hướng nhất định. Đó là chuyển nền kinh   20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản